1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh đến sinh trưởng của keo lai tại huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế

91 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 2,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn của công tác trồng rừng sản xuất nói chung và trồng rừng thâm canh nói riêng trong những năm qua cho thấy nâng cao năng suất, chất lượng rừ

Trang 1

====  ====

PHAN MINH QUANG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT LÂM SINH ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA KEO LAI TẠI HUYỆN HƯƠNG

TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Chuyên ngành: LÂM HỌC

Mã số: 60.62.02.01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐỖ ANH TUÂN

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn

toàn trung thực và chưa sử dụng cho bảo vệ một học vị nào Các thông tin, tài

liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 20 tháng 3 năm 2013

Tác giả

Phan Minh Quang

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được

sự quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ của Lãnh đạo và toàn thể cán bộ Viện

Nghiên cứu Lâm sinh; Ban giám hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp; Khoa Sau

đại học, Khoa Lâm học- Trường Đại học Lâm nghiệp

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Đỗ Anh Tuân người trực

tiếp hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ và có những đóng góp quí báu

cho luận văn

Nhân dịp này, tác giả xin được gửi lời cảm ơn tới bạn bè và người thân

trong gia đình đã động viên, khích lệ và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả

trong cả quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành đề tài này Xin chân

Trang 4

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH ix

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2

1.1 Lược sử về trồng rừng thâm canh 2

1.1.1 Trên thế giới 2

1.1.2 Trong nước 3

1.2 Tổng quan về trồng rừng thâm canh Keo lai 7

1.2.1 Thông tin chung 7

1.2.2 Những nghiên cứu về Keo lai 9

1.3 Thảo luận 19

Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, GIỚI HẠN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 20

2.1.1 Về lý luận 20

2.1.2 Về thực tiễn 20

2.2 Nội dung nghiên cứu 20

2.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống, sinh trưởng và trữ lượng của Keo lai 20

Trang 5

2.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp bón phân đến tỷ lệ sống,

sinh trưởng và trữ lượng của Keo lai của Keo lai 20

2.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp tỉa thân, tỉa cành đến sinh trưởng của Keo lai 20

2.3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 21

2.3.1 Về đối tượng nghiên cứu 21

2.3.2 Về địa điểm nghiên cứu 21

2.3.3 Phạm vi nghiên cứu 21

2.4 Phương pháp nghiên cứu 22

2.4.1 Phương pháp tổng quát 22

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 24

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊM CỨU 30

3.1 Điều kiện tự nhiên 30

3.1.1 Vị trí địa lý 30

3.1.2 Địa hình 30

3.1.3 Khí hậu, thủy văn 31

3.1.4 Đất đai 31

3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 32

3.2.1 Kinh tế 32

3.2.2 Về xã hội 32

3.3 Đặc điểm điều kiện tự nhiên khu vực bố trí thí nghiệm 33

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35

4.1 Ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của rừng trồng Keo lai 35

4.1.1 Ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống của Keo lai 36

Trang 6

4.1.2 Ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng đường kính và chiều cao của rừng trồng Keo lai 37 4.1.3 Ảnh hưởng của mật độ đến trữ lượng rừng trồng Keo lai 42

4.2 Ảnh hưởng của bón phân đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của rừng trồng Keo lai 45

4.2.1 Ảnh hưởng của bón phân đến tỷ lệ sống của Keo lai 46 4.2.3 Ảnh hưởng của bón phân đến trữ lượng rừng trồng Keo lai 50

4.3 Ảnh hưởng của biện pháp tỉa thân, tỉa cành đến sinh trưởng của Keo lai 52

4.3.1 Ảnh hưởng của biện pháp tỉa thân, tỉa cành đến sinh trưởng D1.3 (cm) của Keo lai 53 4.3.2 Ảnh hưởng của biện pháp tỉa thân, tỉa cành đến sinh trưởng Hvn của Keo lai tại huyện Hương Trà 55 4.3.3 Ảnh hưởng của biện pháp tỉa thân tỉa cành đến sinh trưởng của

Dt (cm) của Keo lai 57

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 61 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤC LỤC

Trang 7

Sig Xác suất (mức ý nghĩa) của tiêu chuẩn kiểm tra

[1] Số hiệu tài liệu trích dẫn trong danh sách tài liệu tham khảo

M (m3/ha) Trữ lượng trên ha

S% Hệ số biến động

S% (D1.3) Hệ số biến động của đường kính 1.3m

S% (Hvn) Hệ số biến động của chiều cao vút ngọn

S% (Dt) Hệ số biến động của đường kính tán

VS Phân vi sinh

G Tiết diện ngang của cây

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

3.1 Kết quả phân tích đất tại khu vực bố trí thí nghiệm trước khi

trồng rừng tại huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế 34 4.1 Tỷ lệ sống của Keo lai tuổi 2, tuổi 5 trong các công thức mật độ 36 4.2 Ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng và trữ lượng của rừng

Keo lai tại huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế 38 4.3 Phân tích phương sai ảnh hưởng của công thức mật độ đến sinh

4.4 Kết quả phân tích phương sai một nhân tố ảnh hưởng của mật

độ đến sinh trưởng D1.3 (cm) và Hvn (m) Keo lai tuổi 5 40 4.5 Ảnh hưởng của các công thức mật độ về sinh trưởng D1.3(cm)

theo tiêu chuẩn Duncan của Keo lai 5 tuổi tại Hương Trà 41 4.6 Ảnh hưởng của các công thức mật độ về sinh trưởng chiều cao

vút ngọn theo tiêu chuẩn Duncan của Keo lai 5 tuổi tại Hương

4.7 Ảnh hưởng của mật độ đến trữ lượng rừng trồng Keo lai 42 4.8 Ảnh hưởng của phân bón đến tỷ lệ sống, sinh trưởng của Keo

4.9 Kết quả phân tích phương sai 1 nhân tố ảnh hưởng của phân

4.10 Ảnh hưởng của phân bón trong các công thức về sinh trưởng

D1.3(cm) theo tiêu chuẩn Duncan của Keo lai 4 tuổi tại Hương

4.11 Ảnh hưởng của phân bón trong các công thức đến sinh trưởng

Hvn theo tiêu chuẩn Duncan của Keo lai 4 tuổi tại Huyện

Trang 9

4.12 So sánh sinh trưởng D1.3 (cm) trên các ô có áp dụng biện pháp

tỉa thân tỉa cành và ô không tỉa thân, tỉa cành 54 4.13 Sinh trưởng Hvn (m) của Keo lai trong ô áp dụng biện pháp tỉa

thân tỉa cành và ô đối chứng không áp dụng biện pháp tỉa thân

4.14 Sinh trưởng Dt (m) của Keo lai trong ô áp dụng biện pháp tỉa

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

3.1 Phẫu diện đất tại khu vực nghiên cứu trước khi trồng rừng 34 4.1 Biểu đồ ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống của Keo lai tuổi

2 và tuổi 5 tại huyện Hương trà

4.4 Biểu đồ tăng trưởng về trữ lượng M (m3/ha) của Keo lai ở

tuổi 5 trong các công thức mật độ

43

4.5 Keo lai 2 tuổi mật độ 2000 cây/ha tại huyện Hương trà 44 4.6 Keo lai 2 tuổi mật độ 1660 cây/ha tại huyện Hương Trà 44 4.7 Keo lai 5 tuổi mật độ 2500 cây/ha tại huyện Hương trà 45 4.8 Biểu đồ ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng đường kính

(D1.3) của Keo lai tuổi 4 trong công thức bón phân

50

4.9 Biểu đồ ảnh hưởng của bón phân đến sinh trưởng chiều cao

Hvn (m) của Keo lai tuổi 4 trong các công thức bón phân

50

4.10 Biểu đồ ảnh hưởng của bón phân đến trữ lượng rừng trồng

Keo lai 4 tuổi trong các công thức bón phân

51

4.11 Keo lai 2 tuổi trong công thức bón phân (công thức 3) 52

Trang 11

4.12 Keo lai tuổi 2 trong công thức bón phân (công thức 2) 52 4.13 Biểu đồ Sinh trưởng D1.3 của Keo lai trên ô tỉa thân, tỉa cành

và không tỉa tại huyện Hương Trà

55

4.14 Biểu đồ Sinh trưởng Hvn của Keo lai trên ô áp dụng biện

pháp tỉa thân tỉa cành và ô đối chứng không tia thân tỉa cành

57

4.15 Keo lai 2 tuổi trong ô đối chứng không tỉa thân, tỉa cành 60 4.16 Keo lai 2 tuổi trong ô tỉa cành, tỉa thân 60

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu

Trong các loài cây trồng rừng chủ yếu ở nước ta hiện nay giống lai tự

nhiên giữa Keo tai tượng (Acacia mangium) và Keo lá tràm (Acacia

auriculiformis) gọi tắt là Keo lai tự nhiên đã tỏ ra có nhiều triển vọng Tuy

mới được phát hiện từ những năm đầu thập kỷ 90 nhưng diện tích rừng trồng Keo lai tăng rất nhanh do nó có các đặc điểm ưu việt về khả năng sinh trưởng, tính chất gỗ phù hợp trong công nghiệp chế biến, cũng như cải thiện độ phì của đất Qua tuyển chọn đã có một số dòng được công nhận là giống quốc gia

và nhiều dòng được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật Đến nay Keo lai đã được trồng phổ biến ở nhiều vùng trong cả nước và trở thành một trong các giống cây trồng rừng kinh tế chủ lực

Để phát huy vai trò, tác dụng của Keo lai góp phần đáp ứng nhu cầu sử dụng gỗ ngày càng tăng và đa dạng hiện nay của xã hội, vấn đề đặt ra là phải trồng rừng thâm canh tăng năng suất cây trồng với mục tiêu kinh tế rõ ràng Song từ thực tiễn của công tác trồng rừng những năm qua cho thấy thành quả đạt được trên cả ba phương diện năng suất, chất lượng và hiệu quả vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được các yêu cầu thực tiễn đang đòi hỏi Nguyên nhân chính là do chưa hiểu biết một cách toàn diện về các biện pháp kỹ thuật lâm sinh thích hợp, vì vậy chưa phát huy được tiềm năng đất đai, ưu thế của cây trồng

Nhằm tham gia giải quyết vấn đề nêu trên, đáp ứng yêu cầu trồng rừng

nguyên liệu hiện nay, tôi tiến hành lựa chọn đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh đến sinh trưởng của Keo lai (Acacia mangium x A auriculiformis) tại huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế”

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Lược sử về trồng rừng thâm canh

1.1.1 Trên thế giới

Từ trước năm 1900, trên thế giới chưa có nhu cầu trồng rừng thâm canh cho mục đích công nghiệp, mặc dù đã có một số nước quan tâm đến do việc thiếu gỗ từ rừng tự nhiên Trong giai đoạn này biện pháp kỹ thuật lâm sinh đáng được chú ý và có đóng góp quan trọng cho đến nay là việc trồng thử

nghiệm các loại cây ngoại lai như Tếch (Tectona grandis) và một số loài Bạch đàn E tereticornis, E robusta (Jacobs 1981); ứng dụng trồng thử nghiệm hệ

thống trồng rừng “Taungya” (dẫn theo Đoàn Hoài Nam, 2006) [20]

Giai đoạn 1900- 1945, việc trồng rừng đã được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới với nhiều loài cây trồng và có xu hướng trồng rừng bán thâm canh như ở Brazil vào những năm 20 và 30 thế kỷ trước đã trồng hàng trăm

ngàn ha rừng Bạch đàn E saligna; E camaldulensis; E tereticornis Nhiều

tiến bộ về kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho trồng rừng trong thời kỳ này, như nghiên cứu của Craib ở Nam Phi vào những năm 1930 về tỉa thưa và tỉa cành;

hệ thống trồng rừng “Taungya” được sử dụng rộng rãi ở Kenya vào năm

1910, ở Trinidad là phương pháp chính để trồng rừng Tếch (dẫn theo Đoàn Hoài Nam, 2006) [20]

Giai đoạn (1945- 1965), trồng rừng thâm canh bắt đầu được quan tâm, việc sử dụng giống cây ngoại lai trồng ở các nước nhiệt đới được đề xuất (Hội nghị lâm nghiệp thế giới 1954) các chương trình trồng rừng thương mại ở FiJi, Papua New Guinea đã được thực hiện Đến giai đoạn (1966- 1980) các diện tích rừng trồng thâm canh được mở rộng nhanh chóng để phục vụ cho công nghiệp chế biến và các nhu cầu khác, các kỹ thuật lâm sinh đã được áp dụng và

Trang 14

đặc biệt là công tác chọn, nhân giống áp dụng vào sản xuất được quan tâm, như

ở Brazil có nơi đã chuyển đổi hơn 400.000ha rừng kém chất lượng thành rừng

trồng các loài cây Thông (Pinus caribaea) và Bạch đàn (E saligna)[32]

Từ sau năm 1980, diện tích rừng trồng công nghiệp ngày càng được mở rộng, hơn 14 triệu ha rừng đã được trồng trong 15 năm, Sedio (1987) ước lượng diện tích rừng trồng ở Châu Mỹ la tinh giữa 1980 - 1990 tăng gấp 3 lần

và trữ lượng gỗ công nghiệp tăng gấp 4 lần từ rừng trồng và có thể thoả mãn 50% tổng yêu cầu của khu vực; Touzet (1985) khẳng định rằng “rừng trồng cần được phát triển và sẽ là nguồn gỗ chủ yếu cho tất cả các ngành công nghiệp sử dụng gỗ” Tầm quan trọng đặc biệt và là bước đột phá trồng rừng trong giai đoạn này là việc nghiên cứu và thử nghiệm thành công kỹ thuật nhân giống bằng con đường nuôi cấy mô và giâm hom

Như vậy, lịch sử phát triển rừng trồng theo hướng trồng rừng thâm canh

đã được quan tâm từ lâu, đặc biệt trong vài thập kỷ trở lại đây, nhiều quốc gia đã tập trung vào lĩnh vực nghiên cứu cải thiện giống và nhân giống cây rừng, vì vậy năng suất rừng trồng bằng một số loài cây mọc nhanh như keo, bạch đàn và một

số cây trồng rừng khác đã đạt được những thành tựu đáng kể Điển hình như ở Công Gô, Trung Quốc đã chọn được giống bạch đàn có năng suất từ 40 - 50m3/ha/năm; Cộng hoà Nam Phi cũng đã tuyển chọn được dòng E grandis

năng suất đạt trên 40m3/ha/năm; ở các nước Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Brazil thông qua con đường lai tạo giữa các loài bạch đàn, đã lựa chọn được một số tổ hợp lai cho năng suất từ 40 - 60m3/ha/năm [33]

1.1.2 Trong nước

Ở Việt Nam, trồng rừng đã xuất hiện từ thời Pháp thuộc nhưng đến giai đoạn trước năm 1986, mới bắt đầu thực hiện các chương trình trồng rừng gắn mục tiêu kinh tế với phòng hộ và bảo vệ môi trường Trồng rừng cung cấp nguyên liệu công nghiệp (chủ yếu là nguyên liệu giấy) được ưu tiên phát

Trang 15

triển, tập trung ở hai khu vực Trung tâm Bắc Bộ và Đông Nam Bộ, một số loài cây ưa sáng, mọc nhanh đã được đưa ra gây trồng như Bồ đề, Mỡ, Nhưng tỷ lệ thành rừng thấp chỉ đạt từ 40% - 60% theo diện tích trồng, năng suất bình quân chỉ đạt từ 4 - 6 m3/ha/năm với trữ lượng bình quân đạt được từ 40- 60 m3/ha trong một chu kỳ kinh doanh [22] Nguyên nhân chính là do đầu

tư cho trồng rừng hạn chế; công tác chọn giống và khảo nghiệm giống còn ít; chọn đất trồng rừng không phù hợp với loài cây trồng; kỹ thuật trồng rừng yếu kém, chủ yếu vẫn là trồng rừng mang tính chất quảng canh,

Giai đoạn từ năm 1986 đến 1990, các mục tiêu trồng rừng công nghiệp

về đầu tư và thâm canh bắt đầu được thực hiện, song hiệu quả của trồng rừng còn thấp Trong giai đoạn này đã xác định được 92 loài cây trồng theo các mục tiêu khác nhau cho 9 vùng sinh thái Phương thức trồng rừng thâm canh được thực hiện thông qua chương trình hợp tác Việt Nam- Thuỵ Điển; các cây

gỗ mọc nhanh có năng suất cao được chú ý gây trồng, tỷ lệ thành rừng đạt khoảng 60%, năng suất rừng trồng vào cuối giai đoạn này đã tăng lên, bình quân đạt từ 7 m3/ha/năm[22]

Từ năm 1991 đến nay, vấn đề trồng rừng và kinh doanh rừng trồng ngày càng được quan tâm, đã chú trọng đẩy mạnh trồng rừng sản xuất theo hướng thâm canh và đa mục đích, tập đoàn cây trồng cũng phong phú và đa dạng hơn, vì vậy năng suất rừng trồng cũng đã được cải thiện một bước Tuy

nhiên, phần lớn rừng trồng ở nước ta hiệu quả còn thấp chưa phát huy hết

tiềm năng của đất đai, khí hậu nhiệt đới và chưa đáp ứng được yêu cầu cung cấp gỗ nguyên liệu nói chung và nguyên liệu cho công nghiệp nói riêng

Theo báo cáo đánh giá làm căn cứ xây dựng kế hoạch trồng mới 5 triệu

ha rừng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 1997 về thống kê năng suất rừng trồng sản xuất cho thấy rất thấp, cụ thể như sau:

Trang 16

- Cây mọc nhanh cung cấp gỗ nguyên liệu cho công nghiệp như Bồ đề,

Mỡ, Thông đuôi ngựa, bạch đàn và keo các loại, năng suất đạt bình quân 7,5

m3/ha/năm với chu kỳ bình quân 10 năm;

- Cây mọc nhanh cung cấp gỗ lớn như Sao đen, Dầu rái, Tếch năng suất bình quân đạt 6 m3/ha/năm với chu kỳ bình quân 40 năm

Mặc dù vậy, trong gần thập kỷ trở lại đây việc phát triển trồng rừng theo hướng trồng rừng thâm canh để đáp ứng nhu cầu gỗ nguyên liệu cho xã hội không ngừng được cải thiện, bên cạnh những loài cây bản địa được gây trồng thành công như Bồ đề, Mỡ, Tre, Luồng, Thì một số loài cây mọc nhanh như các loài bạch đàn và keo, với rất nhiều xuất xứ cũng đã khẳng định được vai trò và vị trí của chúng tham gia vào cơ cấu cây trồng chính trong lâm nghiệp Khoảng 70% giống cho trồng rừng sản xuất đã có chất lượng tốt, tỉ lệ thành rừng đạt trên 80% và năng suất rừng trồng đạt 15- 20

m3/ha/năm[5]

Trong những năm qua, các nghiên cứu tập trung vào khâu kỹ thuật nhằm tạo nên các bước đột phá về năng suất và đã đạt được kết quả nhất định,

cụ thể:

- Công tác cải thiện giống đã có nhiều giống được công nhận là giống

quốc gia như một số dòng Keo lai (BV10, BV16, BV32), Bạch đàn urophylla (PN2, PN14, U6); các dòng Bạch đàn urophylla và nhiều xuất xứ Bạch đàn

camaldulensis, Keo lá tràm, Thông caribaea, Phi lao và hàng chục dòng Keo

lai, cũng đã được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật

- Các biện pháp kỹ thuật thâm canh cũng được tăng cường nghiên cứu, như các biện pháp làm đất, bón phân, vì vậy, năng suất rừng trồng cũng được nâng cao Trong một số khảo nghiệm về Keo lai năng suất đạt được trên

25 m3/ha/năm; Bạch đàn urophylla trồng thâm canh cũng cho năng suất từ 18-

25 m3/ha/năm; một số dòng Bạch đàn PN2 và PN14 sau 8 năm trồng ở Tây

Trang 17

Nguyên bình quân đạt 21 m3/ha/năm [14] Đây chính là những cơ sở, tiền

đề cho việc nghiên cứu chọn giống và áp dụng các biện pháp trồng rừng thâm canh

Như vậy, việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh đã có tác dụng căn bản đến trữ lượng và năng suất rừng trồng Năng suất rừng trồng được cải thiện

và tăng gấp 2- 3 lần so với cùng một số loài cây trồng trước đây Qua kết quả đánh giá cho thấy, tiềm năng để nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế của rừng trồng theo hướng áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh còn đang rộng mở

Cùng với những tiến bộ đó, quan niệm về trồng rừng thâm canh cũng được hoàn thiện hơn Từ phương thức canh tác truyền thống, trồng rừng với các biện pháp kỹ thuật thông thường, đầu tư thấp (trồng rừng quảng canh), chuyển sang đầu tư áp dụng một số biện pháp kỹ thuật để cải thiện năng suất rừng trồng (trồng rừng bán thâm canh) và đến thời gian gần đây đã quan tâm đầu tư trồng rừng theo hướng thâm canh để nâng cao năng suất cây trồng Theo Nguyễn Xuân Quát (1999) [22] “trồng rừng thâm canh là một phương thức canh tác dựa trên cơ sở được đầu tư cao, bằng việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp liên hoàn Các biện pháp đó phải tận dụng cải tạo, phát huy được mọi tiềm năng của tự nhiên cũng như của con người nhằm thúc đẩy mạnh mẽ sinh trưởng của rừng trồng để thu được năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt với giá thành hạ để cho hiệu quả lớn, đồng thời cũng phải duy trì và cải thiện được tiềm năng đất đai và môi trường đảm bảo an toàn sinh thái đáp ứng yêu cầu phát triển trồng rừng ổn định, lâu dài và bền vững”

Từ những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn của công tác trồng rừng sản xuất nói chung và trồng rừng thâm canh nói riêng trong những năm qua cho thấy nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng bằng giống đã được cải thiện, chọn lập địa phù hợp và áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tiên

Trang 18

tiến đang là đòi hỏi cấp bách, đặc biệt là trồng rừng thâm canh để cung cấp gỗ nguyên liệu cho công nghiệp giấy, ván thanh, ván dăm và gỗ gia dụng

Ở Việt Nam các nghiên cứu về trồng rừng thâm canh đã đạt được một

số thành tựu đáng kể, nhưng cũng mới chỉ dừng ở việc áp dụng các biện pháp

kỹ thuật đơn lẻ Nhìn chung, chưa có những căn cứ khoa học đầy đủ, chắc chắn và chưa áp dụng hệ thống các biện pháp liên hoàn, tổng hợp trong thâm canh rừng trồng

Tham gia góp phần giải quyết các vấn đề trên chính là hướng nghiên cứu của đề tài

1.2 Tổng quan về trồng rừng thâm canh Keo lai

1.2.1 Thông tin chung

Keo lai là giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng (Acacia mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis)

Keo lai tự nhiên được Messrs Herburn và Shim phát hiện lần đầu vào năm 1972 thuộc bang Sabah- Malaysia, đến năm 1978 mới được Sedgley xác định là giống lai [37] Nghiên cứu 1987 của Rufelds [35] thấy rằng tại miền Bắc Sabah Keo lai đã xuất hiện tại rừng Keo lá tràm với mật độ từ 3- 4 cây/ha, còn Wrong thì thấy Keo lai có thể xuất hiện ở tỉ lệ 1/500, Keo lai tự nhiên cũng được phát hiện ở vùng Balamuk và Old Tonda của Papua New Guinea và sau đó cũng được phát hiện ở Thailand (Kijkar 1992), tại trụ sở

Trang 19

của Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng ASEAN Canada ở Muak-Lek, Saraburi -Thailand, Keo lai tự nhiên cũng được tìm thấy ở Đài Loan và Quảng Châu- Trung Quốc, tuy nhiên cả 2 đều được phát hiện trên những diện tích gây trồng rất ít

Ở Việt Nam, Keo lai được Trung tâm Nghiên cứu Giống cây rừng thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam phát hiện lần đầu tiên tại Hà Tây, tiếp sau là ở Đồng Nai [12]

Theo Lê Đình Khả và cộng sự 1993[9], các cây lai này đã xuất hiện trong rừng trồng Keo tai tượng được lấy giống từ các khảo nghiệm Keo tai tượng trồng cạnh rừng trồng Keo lá tràm, vì thế có thể biết mẹ của chúng là

Keo tai tượng (A mangium) và bố của chúng là Keo lá tràm (A

Keo lai còn có tác dụng cải tạo đất thông qua khả năng cố định đạm trong đất và lượng cành khô lá rụng hàng năm khoảng 4- 5 tấn/ha theo Vũ Tấn Phương 2001[21] sẽ nhanh chóng trả lại cho đất lượng chất hữu cơ đáng kể

Keo lai có khả năng nhân nhanh giống bằng con đường vô tính cho phép tạo ra vùng trồng rừng nguyên liệu lớn tập trung cho công nghiệp

Keo lai cũng được đánh giá là cây trồng rừng mang lại hiệu quả kinh tế cao Kết quả nghiên cứu của Đoàn Hoài Nam 2003[18] cho thấy trong điều kiện kinh doanh thông thường, năng suất rừng trồng Keo lai bình quân đạt từ

Trang 20

20- 25m3/ha/năm thì hiệu quả kinh tế được tính toán qua chỉ tiêu tỉ suất thu hồi nội bộ (IRR) đạt từ 0,18 đến 0,25, đây là tỉ suất lãi tương đối cao đối với sản xuất lâm nghiệp

Chính từ đặc điểm và công dụng nêu trên mà Keo lai đã được trồng phổ biến ở nhiều vùng trong cả nước và được đánh giá là cây đa tác dụng, có vị trí quan trọng trong danh mục cây trồng lâm nghiệp chủ lực, cần được phát triển

để góp phần nâng cao hiệu quả trồng rừng, nhất là rừng kinh tế

1.2.2 Những nghiên cứu về Keo lai

1.2.2.1 Trên thế giới

Keo lai có đặc điểm như nhận xét của Zobel và Talbert (1984) là những tính trạng tốt nhất và mong muốn nhất của bố mẹ được thể hiện trong cây lai, nhưng những tính trạng xấu nhất của bố mẹ cũng có thể xuất hiện trong cây lai Với Keo lai phần lớn các cá thể ở đời F1 có ưu thế lai rõ rệt về sinh trưởng (dẫn theo Lê Đình Khả ,1999) [12]

Pinso và Nasi (1991)[34], khi nghiên cứu về đặc điểm hình thái cũng cho rằng Keo lai có những đặc điểm tốt hơn hẳn đặc điểm của bố mẹ như độ thẳng thân cây, chiều cao dưới cành, độ tròn đều của thân, và có ưu điểm là đỉnh ngọn phát triển tốt, thân cây đơn trục, vì vậy Keo lai rất phù hợp với các chương trình trồng rừng thương mại Tác giả cũng cho rằng trong nhiều trường hợp cây Keo lai có xuất xứ ở Sabah vẫn giữ được hình dáng đẹp của Keo tai tượng Về ưu thế lai thì có thể có nhưng không bắt buộc vì có thể bị ảnh hưởng của cả 02 yếu tố di truyền lẫn điều kiện lập địa Nghiên cứu cũng cho thấy rằng sinh trưởng của Keo lai tự nhiên đời F1 là tốt hơn, còn từ đời F2 trở đi cây sinh trưởng không đồng đều và trị số trung bình còn kém hơn cả Keo tai tượng

Cho đến nay, thông tin cập nhật được về các nghiên cứu biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh Keo lai cũng như hiệu quả kinh tế của trồng rừng

Trang 21

thâm canh Keo lai là rất hạn chế và như đánh giá của Lê Đình Khả 1999 [12]

có thể đưa ra nhận xét là: trên thế giới Keo lai dù được phát hiện khá sớm và bước đầu đã được nghiên cứu phát triển trong trồng rừng, nhưng các công trình nghiên cứu về Keo lai chưa nhiều, đặc biệt là về kỹ thuật thâm canh trồng rừng công nghiệp Vì vậy, chưa thể xem xét, đánh giá được hết hiệu quả của rừng trồng thâm canh Keo lai mang lại

1.2.2.2 Trong nước

a) Về điều kiện gây trồng Keo lai

Nghiên cứu về vùng phân bố Keo lai, Lê Đình Khả (1999) [12] đã có đánh giá “các giống lai ở nước ta dù phát hiện hoặc được lấy giống ở miền Bắc hay miền Nam về cơ bản đều có cây mẹ thuộc cùng những vùng sinh thái giống nhau, do đó có khả năng phát triển như nhau trên các vùng sinh thái chính của đất nước”

Khảo nghiệm về chọn tạo giống và nhân giống Keo lai, Lê Đình Khả cùng các cộng sự (2003) [14] đã tuyển chọn được 06 dòng Keo lai tự nhiên có sinh trưởng tốt nhất để đưa vào khảo nghiệm ở các vùng sinh thái, kết quả ở tất cả các nơi được gây trồng Keo lai đều có sinh trưởng nhanh gấp 1,5- 4 lần

so với Keo lá tràm và Keo tai tượng

Lê Đình Khả và cộng sự (1999) [12] Khi nghiên cứu về khả năng chịu hạn của một số dòng Keo lai ở giai đoạn tuổi non và đối chứng với Keo tai tượng và Keo lá tràm cho thấy trong các dòng nghiên cứu, có 2 dòng BV10 và BV32 có khả năng chịu hạn tốt nhất; tuy nhiên khả năng chịu hạn của Keo lai trung gian giữa hai loài bố và mẹ Các tác giả đánh giá Keo lai và Keo lá tràm

có khả năng chịu hạn tốt hơn Keo tai tượng

Phạm Văn Tuấn và cộng sự (2001) [21] khi khảo nghiệm 16 dòng Keo lai được tuyển chọn để trồng rừng tại khu vực Đông Nam Bộ cho thấy sinh trưởng của một số dòng Keo lai (đặc biệt là TB03, TB05, TB06, TB12) qua

Trang 22

các năm (1995- 1998) về D1,3 và Hvn bình quân hàng năm đều cao hơn Keo tai tượng đối chứng Từ kết quả khảo nghiệm, tác giả đã lựa chọn được những dòng Keo lai tốt nhất có thể nhân giống đại trà cho trồng rừng ở Đông Nam

Bộ và các địa phương có điều kiện lập địa tương tự

Phạm Thế Dũng và cộng sự (2004)4 khi nghiên cứu trồng rừng Keo lai trên hai loại đất khác nhau ở vùng Đông Nam Bộ, đã chỉ ra rằng loại đất khác nhau thì khả năng sinh trưởng của chúng cũng khác nhau, mặc dù được

áp dụng cùng các biện pháp kỹ thuật, nhưng trên đất nâu đỏ Keo lai sinh trưởng tốt hơn trên đất xám phù sa cổ

Đỗ Đình Sâm (2001) [23] khi nghiên cứu quan hệ giữa năng suất rừng trồng công nghiệp với điều kiện lập địa trong vùng nhất định đã được đã kết luận năng suất rừng trồng và lập địa gây trồng có mối quan hệ mật thiết với nhau

Như vậy, xác định điều kiện gây trồng thích hợp là một trong những yêu cầu kỹ thuật và cơ sở quan trọng để áp dụng các biện pháp nâng cao năng suất rừng trồng Tuy nhiên, các nghiên cứu mới quan tâm chủ yếu vào khâu tuyển chọn các dòng Keo lai cho trồng rừng trên một số khu vực mà chưa tập trung giải quyết vấn đề mang tính toàn diện là xác định điều kiện gây trồng thích hợp cho Keo lai để từ đó lựa chọn nơi trồng phù hợp mang lại hiệu quả cao

b) Về đặc điểm sinh trưởng của Keo lai

Lê Đình Khả (1997)[10], khi nghiên cứu về đặc điểm chính của cây Keo lai đời thứ nhất (F1) và tính phân ly, thoái hoá của chúng trong đời thứ hai (F2) đã đánh giá cây lai đời F1 có hình thái trung gian giữa bố, mẹ và có

ưu điểm nổi bật là có ưu thế lai hết sức rõ rệt về sinh trưởng; cây lai đời F2 có biểu hiện thoái hoá và phân ly khá rõ rệt, có sinh trưởng kém hơn cây lai đời

F1 và có biến động lớn về đường kính Tác giả khuyến cáo để phát triển giống Keo lai vào sản xuất phải dùng phương pháp nhân giống bằng hom hoặc nuôi

Trang 23

cấy mô phân sinh cho những dòng Keo lai đã được chọn lọc và khảo nghiệm, không dùng hạt của cây Keo lai để gây trồng rừng mới

Đoàn Hoài Nam (2003) [18] khi điều tra rừng trồng sản xuất tại các tỉnh Thái Nguyên, Quảng Trị, Gia Lai và Bình Dương kết quả cho thấy chất lượng và sinh trưởng của rừng trồng Keo lai sau 5 và 15 tháng tuổi có tỉ lệ sống cao, bình quân đạt 89%; chất lượng cây trồng về sinh trưởng thể hiện rõ nét và cao, tỉ lệ cây tốt bình quân đạt 88,5%, trong khi tỉ lệ cây xấu chỉ bình quân là 4,5%; tốc độ sinh trưởng nhanh và có thể trồng rừng Keo lai được ở nhiều vùng trong cả nước

Nguyễn Trọng Bình (2003, 2004) [1] [2] đã tiến hành lập biểu sinh trưởng

và trữ lượng tạm thời cho rừng Keo lai trồng thuần loài ở một số vùng trong cả nước Kết quả cho thấy, tại các cấp đất Keo lai đều có tăng trưởng bình quân đạt cực đại ở tuổi 7 và 8, so với bố, mẹ Keo lai có tăng trưởng bình quân cao hơn từ 1,2- 2lần

Đoàn Hoài Nam (2003)[19] khi điều tra về sinh trưởng, dự đoán trữ lượng Keo lai tại Đông Nam Bộ cho thấy tăng trưởng bình quân về trữ lượng lớn hơn 27m3/ha/năm Tác giả cũng đã xây dựng được quan hệ của một số chỉ tiêu sinh trưởng cơ bản của rừng trồng Keo lai tại Đông Nam Bộ góp phần làm

cơ sở cho việc lập biểu cấp đất, trữ lượng và chặt nuôi dưỡng phục vụ kinh doanh rừng trồng Keo lai

Nguyễn Huy Sơn và cộng sự (2005) [25] khi nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng của Keo lai và tuổi thành thục công nghệ của rừng trồng Keo lai ở vùng Đông Nam Bộ kết quả cho thấy sau 5 năm tuổi, Keo lai sinh trưởng nhanh, tăng trưởng bình quân về đường kính đạt từ 2,38- 2,52 cm/năm và về chiều cao đạt từ 3,14- 3,56 m/năm Năng suất bình quân đạt từ 27- 36 m3/ha/năm Số lượng cây có hai thân ở một số dòng xuất hiện nhiều trên một đơn vị diện tích có

ý nghĩa lớn trong việc nâng cao năng suất rừng trồng công nghiệp

Trang 24

Triệu Văn Hùng và các cộng sự (2005)[7] đánh giá về khả năng sinh trưởng của một số loài keo và bạch đàn, các biện pháp tác động theo hướng thâm canh năng suất cao và ổn định ở Tây Nguyên cho thấy điều kiện lập địa vùng Tây Nguyên thích hợp cho việc trồng các loài cây nguyên liệu giấy, ván dăm, ván lạng, tuy nhiên các tác giả khuyến nghị cần có những khảo nghiệm loài và xuất xứ trên diện rộng ở các lập địa khác nhau và cần chú trọng giải quyết các giải pháp kỹ thuật lâm sinh như xử lý thực bì, công thức bón phân

để tăng năng suất cây trồng

c) Về các biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh Keo lai

Lê Đình Khả, Hồ Quang Vinh (1998) [11], nghiên cứu về cải thiện giống và các biện pháp thâm canh rừng trồng bằng cách chọn giống Keo lai

và giống keo bố, mẹ là giống tốt trồng theo công thức quảng canh và thâm canh với các biện pháp làm đất, bón phân khác nhau đã đưa ra kết luận giống Keo lai có năng suất cao hơn nhiều so với các loài bố, mẹ khi cùng áp dụng biện pháp tác động giống nhau

Luận án tiến sỹ của Đoàn Hoài Nam [20] đã nghiên cứu về một số cơ

sở khoa học về trồng rừng Keo lai có hiệu quả cao ở một số vùng trọng điểm của nước ta Tác giả đã nghiên cứu về điều kiện, kỹ thuật trồng, sinh trưởng, tính chất gỗ của Keo lai ở một số vùng sinh thái ở Việt Nam Tác giả đã nghiên cứu biện pháp tỉa cành của mô hình trồng Keo lai ở Đồng Hỷ - Thái Nguyên và ở Đông Hà - Quảng Trị Kết quả cho thấy tỉa cành ở độ cao 2/3 thân cây không hợp lý, sinh trưởng của những cây này kém hơn tỉa cành ở độ cao ½ thân cây keo lai 18 tháng tuổi Tác giả kết luận là tỉa cành ở độ cao 2/3 thân cây của Keo lai ảnh hưởng tiêu cực đến sinh trưởng của Keo lai Mặt khác tác giả cũng đưa ra tỉa cành sát thân cây không có biểu hiện ảnh hưởng đến thân cây cũng như khả năng sinh trưởng của cây

Trang 25

Theo tác giả, việc áp dụng biện pháp tỉa cành khi cây ở giai đoạn non mới trồng < 1 tuổi có ảnh hưởng tiêu cực đến sinh trưởng của Keo lai tại Đồng Hỷ - Thái Nguyên và Đông Hà – Quảng Trị, qua nghiên cứu hầu hết công thức tỉa cành có sinh trưởng về đường kính và chiều cao không cao hơn không tỉa cành hoặc tương đương

Nguyễn Huy Sơn, Hoàng Minh Tâm (2012) [26] khi nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng của Keo lai tại Quảng Trị cho thấy sau 9,5 năm trồng tỷ lệ sống ở tất cả các công thức mật độ đều giảm đáng kể, chỉ còn

từ 49 – 56%, giảm mạnh nhất ở công thức mật độ 2500 cây/ha Tác giả cũng cho thấy ở tuổi 9,5 sinh trưởng đường kính ở các công thức mật độ (1330 cây/ha, 1660 cây/ha, 2500 cây/ha) có sự khác biệt rõ ràng, trong khi đó sinh trưởng Hvn ở các công thức mật độ chưa có sự khác biệt rõ Ngoài ra, hệ số biến động cả đường kính và chiều cao cây ở giai đoạn này đều có xu hướng tăng dần theo chiều tăng của mật độ Ở tuổi 9,5 năng suất của rừng đạt từ 160,3m3/ha đến 214,8m3/ha, nhưng năng suất cao nhất là công thức mật độ

2500 cây/ha và giảm dần theo chiều giảm của mật độ

Bùi Thanh Hằng (2005) [6], thực hiện đề tài “Bước đầu nghiên cứu một

số biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh Keo lai ở vùng Đông Nam Bộ”, tác giả đã đưa ra một số kết luận rằng:

Keo lai phù hợp điều kiện sinh thái ở vùng Đông Nam Bộ, rừng trồng hỗn hợp các dòng TB3; TB5; TB6; TB12 với mật độ 1660 cây/ha sau 5 năm tuổi có thể đạt từ 28 – 36m3/năm/ha Rừng trồng kinh doanh gỗ dăm giấy dự đoán chu kỳ từ 7 – 8 năm trồng là thích hợp, rừng trồng kinh doanh gỗ lớn thì

14 – 15 năm là hiệu quả tốt nhất

Tác giả đưa ra khuyến cáo, trồng rừng Keo lai ở vùng Đông Nam Bộ phục vụ cho nguyên liệu giấy với mật độ 1660 cây/ha là thích hợp, nếu trồng

gỗ lớn thì nên trồng mật độ 1100 cây/ha

Trang 26

Trồng Keo lai sau 2 năm tỉa thưa với các công thức mật độ khác nhau thì cho năng suất khác nhau, ở nghiên cứu này tác giả đưa ra kết luận keo lai trồng sau tỉa thưa để mật độ 725 – 875 cây/ha là đạt tăng trưởng về trữ lượng

là lớn nhất

Đỗ Đình Sâm và các cộng sự (2001)[23], đã nghiên cứu xây dựng mô hình áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh vào trồng rừng công nghiệp tại các vùng Trung tâm, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên Kết quả cho thấy thử nghiệm 14 công thức bón phân cho rừng trồng Keo lai đã rút ra được một số công thức có hiệu quả cao nên áp dụng vào sản xuất như công thức: 150g NPK + 100g vi sinh Các diện tích rừng trồng thực nghiệm với một số dòng Keo lai với chu kỳ kinh doanh 7-8 năm có thể đạt năng suất bình quân là 25m3/ha/năm cho vùng Đông Nam Bộ và đạt 18- 22m3/ha/năm cho vùng Tây Nguyên và Trung tâm

Trong một thí nghiệm khác với loài Keo lai trồng trên đất feralit vàng xám ở Tân Lập (Bình Phước), Phạm Thế Dũng và cộng sự (2004) 4 cũng cho thấy Keo lai sinh trưởng tốt ở công thức bón lót kết hợp giữa 100g NPK với 500g vi sinh Sông Gianh/cây

Theo báo cáo tổng kết đề tài khoa học giai đoạn 2000- 2003, kết quả khảo sát 14 ô tiêu chuẩn của rừng trồng Keo lai từ 1,5- 5,5 năm tuổi ở 5 tỉnh khác nhau của Nguyễn Đức Minh và cộng sự (2004)[17] cho thấy rừng trồng được bón phân tốt hơn không được bón phân Ngoài ra, tác giả còn cho thấy rừng trồng Keo lai được bón lót 100g NPK/cây và bón thúc 100g NPK/cây vào năm thứ hai cho lượng tăng trưởng cao hơn rừng chỉ bón lót khi trồng

Lê Quốc Huy và Nguyễn Minh Châu (2002)[8] nghiên cứu ứng dụng nấm rễ cho Keo lai, Keo tai tượng ở vườn ươm và rừng trồng tại Hà Tây, Hoà

Bình và Quảng Trị cho thấy áp dụng chế phẩm rhizobium đa chủng cho Keo lai

ở vườn ươm (10g/bầu) đã có tác dụng tăng tất cả chỉ tiêu sinh trưởng (Hn, Do

Trang 27

và P) bình quân đạt 180%- 200% so đối chứng; đối với rừng trồng (20g/cây) đã

có tác dụng tăng sinh trưởng Hn và Do bình quân từ 128%- 130% sau 10 tháng trồng và 118%- 120% sau 24 tháng

Lê Đình Khả và Đoàn Ngọc Giao (2004)[15] khi nghiên cứu về khả năng sinh trưởng của rừng trồng Keo lai các dòng (BV10, BV15, BV16, TB5, TB12) và dòng đối chứng Keo tai tượng, Keo lá tràm ở giai đoạn từ 5- 7 tuổi được trồng khảo nghiệm tại Đồng Nai, Tuyên Quang, Hòa Bình, Hà Tây và Vĩnh Phúc với mật độ trồng ban đầu là 1650 cây/ha cho thấy ở những lập địa tốt sau 6- 7 năm, với mật độ hiện còn là 800- 1200 cây/ha Keo lai có thể đạt năng suất 40- 45 m3/ha/năm, trong khi đó Keo tai tượng đạt 14- 20 m3/ha/năm

và Keo lá tràm chỉ đạt khoảng 10 m3/ha/năm Những nơi đất xấu năng suất rừng trồng của các loài đều thấp, Keo lai đạt 15- 18 m3/ha/năm, Keo tai tượng

và Keo lá tràm năng suất dưới 10 m3/ha/năm

Nguyễn Huy Sơn và cộng sự (2004)[24] khi nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ, biện pháp tỉa cành và bón phân đến sinh trưởng của Keo lai trồng sau

1 năm tuổi ở Quảng Trị cho thấy ở các công thức mật độ khác nhau Keo lai có khả năng sinh trưởng khác nhau và ở mật độ trồng 1.660 cây/ha sinh trưởng

về chiều cao của Keo lai vượt trội hơn hẳn so với mật độ 1.330 cây/ha và 2.500 cây/ha; qua 9 công thức bón phân đã xác định được công thức bón 200g NPK kết hợp với 100g hữu cơ vi sinh cho khả năng sinh trưởng tốt nhất Việc tỉa cành đã giảm diện tích quang hợp của cây dẫn đến hạn chế khả năng sinh trưởng, tuy nhiên mức độ biểu hiện chưa thật sự rõ ràng

Khi đánh giá năng suất rừng trồng Keo lai ở vùng Đông Nam Bộ, Phạm Thế Dũng và cộng sự (2004) 3 đã khảo sát trên 4 mô hình có mật độ trồng ban đầu khác nhau là 952, 1111, 1142 và 1666 cây/ha Kết quả cho thấy sau 3 năm trồng năng suất cao nhất ở rừng có mật độ 1666 cây/ha (21m3/ha/năm), năng suất thấp nhất ở rừng có mật độ 952 cây/ha (9,7 m3/ha/năm) Tác giả đã

Trang 28

khuyến cáo rằng đối với Keo lai ở khu vực Đông Nam Bộ nên trồng trong khoảng mật độ từ 1111-1666 cây/ha là thích hợp nhất

Hoàng Văn Thắng, Phan Minh Quang (2010)[28] khi đánh giá tình hình sinh trưởng của Keo lai 2 tuổi trong mô hình dự án WB3 đã chỉ ra rằng các biện pháp tỉa thân, tỉa cành không có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng của Keo lai tại tỉnh Thừa Thiên Huế

Tóm lại: Nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh

Keo lai cũng đã có một số công trình đề cập đến ở các mức độ khác nhau Tuy nhiên, còn một số nội dung chưa được đề cập đến hoặc có đề cập đến nhưng còn rất hạn chế và chưa được làm rõ đặc biệt ở huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế Như việc xác định được mật độ trồng rừng Keo lai bao nhiêu cây/ha là phù hợp; bón phân cho rừng trồng Keo lai với liều lượng ra sao? bón như thế nào? biện pháp tỉa thân, tỉa cành có ảnh hưởng như thế nào đến sinh trưởng của Keo lai thì chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu

d) Hiệu quả rừng trồng Keo lai

* Hiệu quả kinh tế

Đỗ Đình Sâm và các cộng sự (2001)[23] đã nghiên cứu áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh vào trồng rừng công nghiệp tại các vùng Trung Tâm, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, đồng thời tính toán hiệu quả kinh tế của rừng trồng Keo lai Kết quả cho thấy ở vùng Trung tâm các chỉ tiêu NPV và IRR (9%) đều thể hiện kinh doanh có lãi; ở các tỉnh Đông Nam Bộ chỉ tiêu IRR đạt khá cao khoảng từ 17%- 19% Tác giả nhận định, với chi phí trồng rừng như thời điểm nghiên cứu, nếu năng suất rừng trồng bình quân không đạt được trên 15 m3/ha/năm thì tỉ suất nội tại của vốn đầu tư sẽ không đạt được các mức như đã tính toán

Kết quả nghiên cứu của Đoàn Hoài Nam (2004)[18] ở vùng Đông Bắc; Bắc Trung Bộ; Tây Nguyên và Đông Nam Bộ cho thấy việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh (chọn giống, làm đất, bón phân, chăm sóc và mật độ

Trang 29

trồng) đã cho năng suất rừng trồng Keo lai bình quân đạt trên 20 m3/ha/năm Kết quả tính toán hiệu quả kinh tế cho thấy, tỷ lệ lãi suất nội tại (IRR= 16%), đây là hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất lâm nghiệp, tác giả khẳng định năng suất cây trồng là yếu tố quan trọng quyết định đến hiệu quả kinh tế của quá trình đầu tư

Đánh giá hiệu quả kinh tế của rừng trồng Keo lai ở Bình Định, Trần Duy Rương (2005)[27] đã điều tra, khảo sát trực tiếp các diện tích rừng trồng Keo lai và tập hợp các số liệu về chi phí và thu nhập để tính toán hiệu quả kinh tế Kết quả cho thấy, năng suất của rừng trồng Keo lai bình quân đạt 20m3/ha/năm và lợi nhuận thu được cao, trong 7 năm bình quân mỗi năm lãi được hơn 2 triệu đồng/năm, tỷ suất thu hồi nội tại (IRR= 24%),

* Hiệu quả môi trường

Lê Đình Khả và các tác giả (2000) [13] khi nghiên cứu về khả năng cải tạo đất của Keo lai từ giai đoạn vườn ươm đến rừng trồng 5 tuổi, thông qua đánh giá nốt sần, kết quả cho thấy ở giai đoạn 3 tháng tuổi số lượng và khối lượng nốt sần trên rễ của Keo lai nhiều gấp 3 đến 10 lần các loài keo bố mẹ;

số tế bào vi sinh vật và vi khuẩn cố định đạm trong 01g đất dưới tán rừng Keo lai cao hơn rõ rệt so với Keo tai tượng và Keo lá tràm, đất được cải thiện tốt hơn cả về hoá lý tính và vi sinh vật đất

Nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh trưởng của Keo lai với một số tính chất đất ở Ba Vì, Vũ Tấn Phương (2001)[21] đánh giá diễn biến độ phì của đất ở dưới rừng Keo lai từ 2- 6 tuổi đã có sự cải thiện rõ rệt, độ phì của đất tăng lên cùng với sự tăng lên của tuổi cây rừng; mối quan hệ giữa sinh trưởng của Keo lai với một số tính chất đất đơn lẻ là không chặt chẽ, tuy nhiên nó có quan hệ chặt chẽ với tổng hợp một số tính chất của đất

Khi đánh giá phương thức luân canh bạch đàn- keo nhằm cải tạo đất và nâng cao năng suất rừng trồng thuộc đề tài nghiên cứu cấp Bộ của Hoàng Minh Giám (2000- 2002) và Phạm Đức Chiến (2002- 2004) và các cộng sự

Trang 30

(2005) đã kết luận các loại rừng keo (đặc biệt là Keo tai tượng và Keo lai) hàng năm trả lại cho đất một lượng cành khô, lá rụng khá lớn, lớn hơn từ 1,3-

2 lần so với các loài bạch đàn Tốc độ phân huỷ cành khô, lá rụng của rừng keo cũng nhanh hơn so với rừng bạch đàn

1.3 Thảo luận

Về căn bản các nghiên cứu trên thế giới đã đạt được những thành tựu quan trọng trong trồng rừng thâm canh cho năng suất cao, nhưng các nghiên cứu về trồng rừng thâm canh Keo lai nói riêng còn rất hạn chế

Ở Việt Nam, các nghiên cứu trên đã có những đóng góp nhất định trong việc phát triển trồng rừng Keo lai và tăng năng suất cho loài cây này Đặc biệt, công tác chọn giống và khảo nghiệm các dòng Keo lai có năng suất cao

để trồng rừng tại một số vùng sinh thái, đồng thời qua nghiên cứu thực nghiệm, các tác giả cũng đã chỉ ra được một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng trồng rừng Keo lai cho năng suất cao, như mật độ trồng, bón phân; những ưu thế về hiệu quả kinh tế và cải thiện môi trường của rừng trồng Keo lai mang lại, Những kết quả nghiên cứu trên đây làm cơ sở cho những dẫn liệu và định hướng quan trọng của đề tài

Tuy đã đạt được những kết quả nhất định, song các nghiên cứu vẫn còn nhiều hạn chế, như các nghiên cứu về cơ sở khoa học của các biện pháp kỹ thuật trồng rừng; các biện pháp kỹ thuật lâm sinh còn thiếu tính hệ thống và chưa đồng bộ Vì vậy, việc nghiên cứu sâu việc ảnh hưởng của các biện pháp

kỹ thuật lâm sinh (mật độ trồng, bón phân, tỉa thân và tỉa cành) đến sinh trưởng của Keo lai được đặt ra nghiên cứu trong vấn đề này

Trang 31

Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, GIỚI HẠN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Về lý luận

Góp phần bổ sung cơ sở khoa học về ảnh hưởng của các biện pháp kỹ

thuật lâm sinh đến sinh trưởng của Keo lai để xây dựng một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh Keo lai đạt hiệu quả cao

2.1.2 Về thực tiễn

- Xác định được ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng của Keo lai

- Xác định được ảnh hưởng của bón phân đến sinh trưởng của Keo lai

- Xác định được ảnh hưởng của một số biện pháp tỉa thân, tỉa cành đến sinh trưởng đường kính ngang ngực, chiều cao vút ngọn và đường kính tán của Keo lai

2.2 Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống, sinh trưởng và trữ lượng của Keo lai

- Ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống của Keo lai

- Ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng của rừng rồng Keo lai

- Ảnh hưởng của mật độ đến trữ lượng rừng trồng Keo lai

2.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp bón phân đến tỷ lệ sống, sinh trưởng và trữ lượng của Keo lai của Keo lai

- Ảnh hưởng của bón phân đến tỷ lệ sống của Keo lai

- Ảnh hưởng của bón phân đến sinh trưởng của rừng trồng Keo lai

- Ảnh hưởng của bón phân đến trữ lượng của rừng trồng Keo lai

2.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp tỉa thân, tỉa cành đến sinh trưởng của Keo lai

- Ảnh hưởng của tỉa cành, tỉa thân đến sinh trưởng D1.3 (cm)

Trang 32

- Ảnh hưởng của tỉa cành, tỉa thân đến sinh trưởng chiều cao vút ngọn (Hvn) của Keo lai

- Ảnh hưởng của tỉa cành, tỉa thân đến sinh trưởng đường kính tán (Dt) của Keo lai

2.3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

2.3.1 Về đối tượng nghiên cứu

- Keo lai tự nhiên (Acacia hybrids) giữa Keo tai tượng (A.magium) và Keo lá tràm (A auriculiformis) đã được tuyển chọn và công nhận là giống

quốc gia, hay giống tiến bộ kỹ thuật theo quyết định số 4260/QĐ-BNN ngày 12/10/2000 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Dòng Keo lai nghiên cứu là dòng BV32

- Loại đất: Đất Feralit phát triển trên phiến thạch sét

- Loại địa hình: gò đồi, độ dốc < 25 độ

2.3.2 Về địa điểm nghiên cứu

Đề tài tiến hành nghiên cứu tại xã Bình Thành, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, với tổng diện tích mô hình thí nghiệm 10ha

2.3.3 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung: chỉ tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của một biện pháp kỹ thuật lâm sinh gồm mật độ, bón phân, tỉa thân và tỉa cành đến sinh trưởng cuả Keo lai, trong đó:

+ Mật độ: chỉ nghiên cứu 3 mật độ 1660 cây/ha; 2000 cây/ha, 2500 cây/ha

Trang 33

Công thức 1: 300g NPK

Công thức 2: 100g NPK + 400g VS Sông Gianh

Công thức 3: 500g VS sông gianh

Công thức 4: 200g NPK + 200g VS Sông Gianh

Công thức 5: Đối chứng không bón phân

(NPK tỷ lệ 5:10:3)

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp tổng quát

2.4.1.1 Quan điểm và phương pháp luận

Trong trồng rừng, để có thể nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả cần quán triệt quan điểm cây rừng và hoàn cảnh là một thể thống nhất, quan hệ mật thiết với nhau Khi điều kiện gây trồng phù hợp với đặc điểm của loài hay một giống cây cụ thể nào đó, thì loài hay giống cây đó sẽ phát huy tốt nhất khả năng sinh trưởng và phát triển của nó Ngoài các yếu tố có tính chất tự nhiên, sinh vật học, cần chú ý khả năng tác động của con người thông qua việc chủ động điều chỉnh các yếu tố hoàn cảnh, để giải quyết mối quan hệ giữa cây trồng với hoàn cảnh và quan hệ giữa cây trồng với nhau tạo điều kiện thuận lợi thêm cho sinh trưởng của từng cá thể cây trồng cũng như toàn lâm phần

Theo cách tiếp cận hiện nay, để nâng cao năng suất rừng trồng có 3 cách là cải thiện giống, cải thiện điều kiện gây trồng và vừa cải thiện giống vừa cải thiện điều kiện gây trồng Một giống tốt được trồng quảng canh trong điều kiện lập địa không phù hợp thì không hy vọng đạt năng suất cao Ngược lại, một giống bình thường được trồng trong điều kiện phù hợp và được áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh thì chưa chắc đã đạt được năng suất như mong muốn Như vậy, một giống được cải thiện có năng suất cao chỉ phát huy hiệu quả tối đa khi chúng được tiến hành gây trồng đồng bộ và liên hoàn

Trang 34

Từ nguyên tắc trên, để trồng rừng Keo lai đạt năng suất- chất lượng- hiệu quả, vấn đề cần giải quyết là chọn điều kiện gây trồng thích hợp, chọn giống tốt và chọn biện pháp tác động hợp lý Trong khuôn khổ luận án vấn đề giống sẽ không được xem xét, vì các giống nghiên cứu đã được tuyển chọn và công nhận; về điều kiện gây trồng đề tài chỉ nghiên cứu tại huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế;

về các biện pháp lâm sinh tác động sẽ giới hạn ở một số biện pháp mũi nhọn có tính quyết định đến năng suất rừng trồng

2.4.1.2 Một số nguyên tắc chung và cách tiếp cận trong nghiên cứu

- Lấy không gian thay thế thời gian, kế thừa một số mô hình đã xây dựng phù hợp với nội dung nghiên cứu để bổ sung các thông tin cần thiết phục vụ cho nghiên cứu của luận văn

- Nghiên cứu sinh thái thực nghiệm, bố trí một số công thức thí nghiệm với các biện pháp tác động khác nhau, để rút ra biện pháp thích hợp nhất Các công thức thí nghiệm bố trí theo nguyên tắc một sai khác và lặp lại từ 3 lần

- Sử dụng phương pháp điều tra khảo sát, bố trí thí nghiệm định vị ngoài hiện trường kết hợp với phân tích trong phòng để định lượng các chỉ tiêu cần thiết

- Xử lý số liệu theo phương pháp toán thống kê trong lâm nghiệp và chương trình phần mềm ứng dụng thông dụng (SPSS, Excel 7.0 và Mapinfo)

Để giải quyết vấn đề đặt ra, các bước đi của quá trình nghiên cứu được

hệ thống hoá (hình 2.1) như sau:

Trang 35

Hình 2.1 các bước thực hiện đề tài

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

2.4.2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm

a, Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng của Keo lai

Để xác định ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng của Keo lai, đề tài tiến hành lập các ô tiêu chuẩn tạm thời có diện tích từ 200- 400m2 (tùy thuộc vào mật độ, đảm bảo số cây trong ô tiêu chuẩn lớn hơn 30 cây) trên các công

Mục tiêu nghiên cứu

Ảnh hưởng của tỉa cành, tỉa thân

Ảnh hưởng của

mật độ

Nội dung nghiên cứu

Ảnh hưởng của bón phân

Phân tích và xử lý số liệu

Đề xuất các biện pháp phù hợp

Trang 36

thức mật độ Căn cứ vào mật độ đã trồng trong sản xuất trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, thí nghiệm được bố trí theo 3 công thức mật độ sau:

 Công thức 1: Mật độ trồng ban đầu 1660 cây/ha (3mx2m)

 Công thức 2: Mật độ trồng ban đầu 2000 cây/ha (2mx2,5m)

 Công thức 2: Mật độ trồng ban đầu 2500 cây/ha (2mx2m)

Với các chỉ tiêu kỹ thuật áp dụng như sau: Nguồn giống Keo lai hom dòng BV32 xử lý thực bì toàn diện (không đốt), cuốc hố theo hình nanh sấu với kích thước hố 40x40x40cm, 1 năm chăm sóc 2 lần, phát sạch thực bì, cỏ dại cạnh tranh, xới vun gốc với bán kính 0,8m – 1m, không tỉa cành và tỉa thân

b, Nghiên cứu ảnh hưởng của bón phân đến sinh trưởng của Keo lai

Căn cứu vào điều kiện đất đai, địa hình thí nghiệm bón phân được bố trí theo 5 công thức như sau:

 Công thức 1: 300g NPK

 Công thức 2: 100g NPK + 400g VS Sông Gianh

 Công thức 3: 500g VS Sông Gianh

 Công thức 4: 200g NPK + 200g VS Sông Gianh

 Công thức 5: đối chứng không bón phân

(NPK tỷ lệ 5:10:3)

Với các chỉ tiêu kỹ thuật áp dụng như sau: Nguồn giống Keo lai hom dòng BV32 xử lý thực bì toàn diện (không đốt), cuốc hố theo hình nanh sấu với kích thước hố 40x40x40cm, bón phân trước khi trồng rừng 15 ngày, chộn phân đều với đất mỗi năm chăm sóc 2 lần, phát sạch thực bì, xới cỏ vun gốc với bán kính từ 0,8 – 1m Mỗi công thức bón phân đề tài tiến hành lập 3 ô tiêu chuẩn ở vị trí chân, sườn đỉnh với diện tích 200m2

Trang 37

c, Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thân, tỉa cành đến sinh trưởng của Keo lai

Để xác định ảnh hưởng của tỉa thân, tỉa cành đến sinh trưởng của Keo lai đề tài tiến hành lập các ô tiêu chuẩn tạm thời với diện tích 200m2 trên hai công thức thí nghiệm sau:

 Công thức 1: có tỉa cành và tỉa thân ( tỉa cành cao tới 1/3 chiều cao của thân cây; các cây nhiều thân tỉa các thân phụ chỉ để lại 1 thân chính)

 Công thức 2: đối chứng (không áp dụng biện pháp tỉa thân và tỉa cành)

Với dòng keo được sử dụng trồng rừng là BV32, xử lý thực bì toàn diện, cuốc hố theo hình nanh sấu với kích thước 40x40x40cm, chăm sóc 1 năm 2 lần , xới cỏ vun gốc với đường kính 1m, lập địa bố trí thí nghiệm đồng nhất với nhau Kỹ thuật tỉa thân, tỉa cành: tỉa cành sau khi Keo lai trồng được 4-6 tháng tuổi, tỉa cành sát thân và tỉa cao đến 1/3 chiều cao của cây; các cây

đa thân chọn một thân chính to khỏe, sinh trưởng tốt và tỉa bỏ tất cả các thân phụ khác Tiếp tục tỉa cành vào các đợt chăm sóc đảm bảo chiều tỉa cành cao bằng 1/3 chiều cao cây

2.4.2.2 Phương pháp thu thập số liệu

 Số liệu về điều kiện tự nhiên: kế thừa số liệu sẵn có đã được công bố

 Số liệu đất:

Tại mỗi khu vực nghiên cứu tiến hành lấy mẫu đất ở tầng đất từ 0 – 20cm theo phương pháp lấy mẫu riêng biệt, trộn mẫu và lấy mẫu hỗn hợp như sau: sau khi lấy các mẫu riêng biệt được băm nhỏ và trộn đều trên giấy hoặc nilon (trộn càng đều càng tốt) Sau đó dàn mỏng rồi chia làm 4 phần theo đường chéo, lấy 2 phần đối diện nhau trộn lại được mẫu hỗn hợp Lượng đất của mẫu hỗn hợp lấy khoảng 0.5 đến 1kg, cho vào túi, ghi phiếu mẫu Lấy phần 1 và 3, bỏ 2 và 4 hoặc lấy 2 và 4, bỏ 1 và 3

 Thu thập số liệu sinh trưởng rừng trồng:

Trang 38

- Đo đếm toàn bộ số cây trong ô tiêu chuẩn với các chỉ tiêu sau:

- Thống kê số cây sống và cây chết, làm cơ sở để tính tỷ lệ sống của từng loài

- Đo đường kính ở vị trí 1,3m bằng thước kẹp kính có độ chính xác đến 0,1 cm, đơn vị tính là cm, đo theo hai hướng Đông Tây, Nam Bắc của tất cả các cây trong OTC

- Đo chiều cao vút ngọn (Hvn) bằng thước sào có khắc vạch đến cm, đơn vị tính là m

- Đo đường kính tán (Dt) bằng thước dây có độ chính xác 0,1m, đơn vị tính

là m, đo theo hai chiều Đông Tây, Nam Bắc của tất cả các cây trong OTC

Trong đó: X là giá trị trung bình của chỉ tiêu tính toán (D1.3, Hvn, Dt )

Xi là các giá trị của từng cây đo được trong từng ô

n là số lượng cây đo được trong mỗi ô tiêu chuẩn

Phương sai được tính theo công thức:

Trang 39

 2 1

S ( 3 ) và sai tiêu chuẩn tính theo công thức 2

+ Thể tích thân cây cả vỏ (V): V D H vn.f

4

).( 1.3 2

Để so sánh sinh trưởng đường kính, chiều cao vút ngọn và đường kính tán đề tài sử dụng tiêu chuẩn U của Mann - Whitney để kiểm tra sự thuần nhất cho 2 OTC và sử dụng tiêu chuẩn U để so sánh sinh trưởng giữa ô tỉa thân, tỉa cành

và ô không tỉa Sử dụng công thức sau

2

2 2 1

2

1

2 1

n

S n

S

X X

X , X2: Là số trung bình của các mẫu đem so sánh

S1, S2: Là sai tiêu chuẩn của các mẫu 1 và 2

n1, n2: Dung lượng quan sát của các mẫu 1 và 2

Trang 40

+ Nếu |U| >1,96 (Hoặc xác suất của Z < 0,05): Kết luận hai mẫu không thuần nhất với nhau

+ Nếu |U| <1,96 ( Hoặc xác suất của Z > 0,05): Kết luận hai mẫu thuần nhất với nhau

Ngày đăng: 16/05/2021, 21:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w