Đặc biệt, rất dễ bắt gặp trong văn xuôi Đoàn Lê những nhân vật mang dáng dấp của chính nhà văn, hay nói cách khác, Đoàn Lê đã lấy người thật việc thật quanh mình để làm nên một thế giới
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THỊ CẨM VÂN
THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG VĂN XUÔI ĐOÀN LÊ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS NGÔ MINH HIỀN
Đà Nẵng, năm 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
NGUYỄN THỊ CẨM VÂN
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Bố cục luận văn 7
CHƯƠNG 1 VĂN XUÔI ĐOÀN LÊ TRONG DÕNG CHẢY VĂN XUÔI NỮ VIỆT NAM SAU 1986 8
1.1 NHỮNG ĐIỂM NỔI BẬT CỦA VĂN XUÔI NỮ VIỆT NAM SAU 1986 8
1.1.1 Sự chiếm lĩnh của yếu tố tự thuật 8
1.1.2 Đổi mới trong hệ đề tài 12
1.1.3 Những thể nghiệm mới về cốt truyện, ngôn ngữ, giọng điệu 18
1.2 HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA ĐOÀN LÊ 24
1.2.1 Hành trình sáng tạo nghệ thuật của Đoàn Lê 24
1.2.2 Quan niệm nghệ thuật của Đoàn Lê 28
CHƯƠNG 2 CHÂN DUNG CUỘC SỐNG CON NGƯỜI TỪ THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG VĂN XUÔI ĐOÀN LÊ 36
2.1 THẾ GIỚI CỦA NHỮNG CON NGƯỜI TÀI NĂNG VÀ KHÁT VỌNG SỐNG CAO ĐẸP 36
2.1.1 Con người - hiện thân của tài năng 36
2.1.2 Con người khát vọng sống cao đẹp 39
2.2 THẾ GIỚI CỦA NHỮNG PHẬN NGƯỜI ĐA ĐOAN 43
2.2.1 Con người trong “vòng xoáy” yêu đương 43
Trang 42.2.2 Con người bất hạnh trong tình yêu – hôn nhân 48
2.3 THẾ GIỚI CỦA NHỮNG KIẾP NGƯỜI LẠC LỐI 54
2.3.1 Con người đổ vỡ niềm tin 54
2.3.2 Con người tha hóa 59
CHƯƠNG 3 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG VĂN XUÔI ĐOÀN LÊ 67
3.1 XÂY DỰNG NHÂN VẬT BẰNG NGHỆ THUẬT TỰ THUẬT 67
3.1.1 Tự thuật theo hình thức “cắt dán” (collage) 67
3.1.2 Tự thuật dưới dạng mờ nhòe, pha loãng 71
3.2 ĐẶT NHÂN VẬT TRONG THẾ GIỚI CÕI ÂM, GIẤC MƠ HAY SỰ “VẬT HÓA” 74
3.2.1 Cõi âm – sự đối sánh với thế giới hiện thực 74
3.2.2 Thế giới giấc mơ – nơi thỏa mãn những nguyện ước chưa thành 77
3.2.3 “Vật hóa” – một cách nhận thức lại cuộc sống 79
3.3 KHẮC HỌA TÍNH CÁCH NHÂN VẬT QUA NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU 82
3.3.1 Đan xen nhiều lớp ngôn ngữ 82
3.3.2 Kết hợp hài hòa nhiều giọng điệu 91
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn học Việt Nam sau 1986 được xem là giai đoạn văn học có nhiều chuyển biến mạnh mẽ về nghệ thuật Bên cạnh những nhà văn bước ra từ cuộc chiến, còn có sự xuất hiện của những cây viết mới sung sức với lối viết sáng tạo táo bạo, đầy thu hút Trong đó ấn tượng hơn cả là sự góp mặt của hàng loạt cây bút nữ như Đoàn Lê, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Lê Minh Khuê, Lý Lan… với một phong cách viết rất riêng, đem đến cho văn xuôi sau 1986 những sắc thái mới mẻ
Đoàn Lê xuất hiện trên văn đàn không phải là hiện tượng lạ nhất song lại mang những dấu ấn riêng khó nhầm lẫn Người phụ nữ đất Cảng thể hiện sự
đa tài của mình trên nhiều lĩnh vực như hội họa, diễn viên, đạo diễn, văn chương… mà theo như nhà văn Hồ Anh Thái thì “không biết gọi Đoàn Lê là
“nhà” gì cho đúng?” [44] Với tư cách là nhà văn, Đoàn Lê đã gặt hái cho mình những thành tựu nhất định, minh chứng bằng những giải thưởng tên
tuổi: tiểu thuyết Cuốn gia phả để lại được giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam, tiểu thuyết Tiền định được lọt vào vòng chung khảo của giải thưởng
Bách Việt, hai tập truyện ngắn được dịch ra tiếng Anh để giới thiệu với bạn
đọc Mỹ là Trinh tiết xóm chùa và Nghĩa địa xóm chùa Ngoài ra còn có thể kể
đến một số truyện ngắn đem lại cho Đoàn Lê những giải thưởng của các báo,
các tạp chí (Đêm ngâu vào - Giải A Tạp chí Sông Hương, Hạt vừng - Giải thưởng Tạp chí tác phẩm Văn học, Trinh tiết xóm Chùa - Giải thưởng báo
Văn nghệ)… Những giải thưởng trên đã phần nào tạo nên tiếng vang và khẳng
định vị trí tài năng của Đoàn Lê trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam
Trên hành trình sáng tạo nghệ thuật không mệt mỏi, Đoàn Lê đã khá thành công khi tạo dựng được một hệ thống thế giới nhân vật với đủ mọi tính cách, diện mạo, lứa tuổi, đem đến cho người đọc những cái nhìn đa chiều về cuộc
Trang 6sống và con người trong thời kì Đổi mới Đặc biệt, rất dễ bắt gặp trong văn xuôi Đoàn Lê những nhân vật mang dáng dấp của chính nhà văn, hay nói cách khác, Đoàn Lê đã lấy người thật việc thật quanh mình để làm nên một thế giới nhân vật độc đáo, khó nhầm lẫn Đồng thời, qua hệ thống thế giới nhân vật rất riêng đó, bên cạnh việc gửi gắm những tâm tư, trăn trở, tình cảm của mình, Đoàn Lê còn chứng tỏ một bản lĩnh, tài năng viết văn đáng nể phục
Văn học là món quà tinh thần không thể thiếu trong đời sống con người hiện đại Vì vậy đi sâu tìm hiểu thế giới nhân vật trong văn xuôi Đoàn Lê là cách để có cái nhìn cặn kẽ, chân thực hơn tâm hồn văn chương của người phụ
nữ đa tài này, góp phần khám phá ý thức thẩm mỹ mới cũng như tài năng sáng tạo của nhà văn
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong sự nghiệp sáng tạo văn chương, Đoàn Lê đã cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị Chính vì thế, tác phẩm của bà nhận được khá nhiều sự quan tâm của độc giả cũng như các nhà nghiên cứu phê bình
Viết lời bạt cho tập truyện Tác phẩm chọn lọc – Đoàn Lê, Nguyễn Xuân
Khánh cho rằng: “Sự tưởng tượng tổng hợp cho phép kết nối những không gian rất xa cách nhau, những liên tưởng bất ngờ, kỳ thú, cho phép động tới những vấn đề mà người ta ngại ngần nói tới… Có lẽ đó là một trong những cách lý giải tại sao giới trẻ lại thích đọc văn Đoàn Lê Và nó cũng lý giải tại
sao nhà văn Hồ Anh Thái lại nói Đoàn Lê U70 lại viết như U30” [16, tr.11]
Tác giả Dương Tường với lời tựa đề cho tập truyện ngắn Và Sex nhận
định: “Đọc Đoàn Lê, cái đọng lại là một dư vị ngấm nghía đến làm ta mất ngủ Sự chân thành của nhà văn là phép màu biến cái riêng tư thành chân lí phổ quát để người đọc có thể soi mình vào đó” [15, tr.8]
Tác giả Hồ Anh Thái qua Người đàn bà đa đoan cho rằng: “Đoàn Lê đã
có những thành tựu thật sự với văn chương Một giọng văn được nhớ, nền nã
Trang 7dung dị nhưng bao giờ cũng kèm theo chất hài hước ngầm” [36] Trong lời
bạt in trong tập truyện Và Sex, một lần nữa Hồ Anh Thái khẳng định: “Giọng
văn nền nã thỉnh thoảng lại lóe lên chút hài hước, hóm hĩnh Có khi mạnh bạo không né tránh, khi chạm đến đề tài cập thời Cũng có khi trầm lặng, xót xa Đoàn Lê khéo lấy được sự chia sẻ của người đọc, rồi dần dần sự đồng cảm dẫn người ta hòa nhập vào thế giới tưởng tượng của nhà văn từ lúc nào không biết” [15]
Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Học trong Vẽ lại Đoàn Lê đánh giá :
“Đoàn Lê còn là một người đàn bà viết đầy cá tính, một nhà văn hăng hái viết
và ra sách thường xuyên” [49] Trong những tác phẩm của mình, Đoàn Lê
“đều bộc lộ sự hóm hỉnh tinh nghịch cố hữu, nhưng vẫn giữ một giọng văn nền nã (…) đôi lúc cũng thích làm cho không khí hiện thực trở nên đa diện và hấp dẫn hơn bằng cách sử dụng yếu tố huyền ảo” [49]
Bài viết Đoàn Lê – Xóm núi Đồ Sơn của tác giả Bảo Ngọc cho rằng:
“Không hiểu nguồn năng lượng từ đâu khiến chị có nội lực “thâm hậu” đến thế Những đứa con tinh thần của người đàn bà mảnh mai và có vẻ yếu đuối này lại có một sức sống mãnh liệt, hấp dẫn, cuốn hút độc giả và giành được những giải thưởng danh giá như thế ?” [51]
Tiến sĩ Nguyễn Lân Dũng với bài viết Ai cứu xóm Chùa đã nhận xét về
hình tượng xóm Chùa trong hàng loạt những sáng tác của Đoàn Lê như sau:
“với cái nhìn sắc sảo và nhân ái của tác giả, tôi tin là những câu chuyện xảy ra liên quan đến cái Xóm Chùa này đều là những chuyện có thật tại nông thôn nước ta từ ngày Mở cửa” [43] Người viết còn bày tỏ sự khâm phục dành cho Đoàn Lê khi bà có thể “làm cho người đọc không thể không khắc khoải suy nghĩ và lo âu cho tương lai của nông thôn nước ta trước những diễn biến đi ngược lại với truyền thống nhân văn, nhân ái qua hàng nghìn năm qua” [43]
Trang 8Tiến sĩ Bùi Thanh Truyền khi nghiên cứu Tự truyện trong văn xuôi Đoàn
Lê đăng trên tạp chí Khoa học và Giáo dục, số 1, có viết: “Tác phẩm của Đoàn
Lê không làm người đọc “choáng” vì không gian ngột ngạt, chật hẹp và triền miên trong tâm tưởng như Phạm Thị Hoài, không tạo sự hấp dẫn ở tình huống
lạ qua giọng điệu “tưng tửng” như Phan Thị Vàng Anh Trên những trang viết, tác giả đã thể hiện chân thực cái tôi cảm xúc của chính mình Những hệ lụy đời riêng đã được bà vận dụng một cách khéo léo trong văn chương và đằng sau đó
là cả những nỗi đau âm ỉ của người phụ nữ” [39, tr.21]
Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm đến nhân vật trong sáng tác của Đoàn Lê:
Trịnh Minh Hiếu khi bàn luận về tiểu thuyết Tiền định của Đoàn Lê đã
chỉ ra được “một thế giới nhân vật phong phú, đủ mọi tầng lớp, thành phần, lứa tuổi, lớp này tiếp lớp khác nhưng mỗi người đều có một số phận khác nhau và đều bị chi phối bởi tư tưởng tiền định” [47] Đi sâu phân tích tác phẩm, tác giả càng nhận ra được một thế giới tâm hồn phụ nữ tinh tế, đa chiều mặc cho “cuộc đời đầy truân chuyên, sóng gió song người phụ nữ ấy đã vượt lên để sống Sống một cuộc sống có ý nghĩa, đích thực” [47]
Nhà văn Lê Minh Khuê khi đưa ra lời đánh giá cho cuốn tiểu thuyết Tiền
định của nữ sĩ Đoàn Lê đã khái quát khá rõ nét cuộc đời, số phận truân
chuyên của các nhân vật; từ đó tác giả cho rằng thế giới nhân vật trong tác phẩm hiện lên bằng chính “cách nghĩ cách sống của từng gia đình từng con người” [14, tr.314] trong tác phẩm Không sử dụng cách viết gây sốc, không
“làm rối câu chuyện bằng cách tung hỏa mù” [14, tr.315], Đoàn Lê đem đến cho người đọc cảm giác rất nhẹ nhàng, giản dị nhưng “lại thổi vào đó trí tưởng tượng, để câu chuyện như thực, lại như giấc mơ về cuộc đời đa truân của người đàn bà” [14, tr.315]
Trang 9Bài viết Nhà văn Đoàn Lê và Huyền thoại xóm chùa của Đông Dương đã
nhìn nhận các nhân vật trong tác phẩm “như là nguyên bản của người thật việc thật, đều xuất phát từ không gian sống, sự quan sát thực tế của nhà văn” [44] Chính vì luôn lấy cảm hứng sáng tạo từ những điều chân thực, bình dị nhất quanh mình mà không khó khi bắt gặp trong tác phẩm của Đoàn Lê những vấn đề đang diễn ra hàng ngày trong xã hội: “Đó là chuyện "hiện thực" như đất làng bị giải tỏa, cơn sốt lấy chồng ngoại, lập làng du lịch kiếm tiền cho đến chuyện "huyền ảo" như người âm trở về, ma cũ bắt nạt ma mới, kiếm tiền từ cõi âm ” [44]
Trong Đoàn Lê – Chị tôi, một bài viết được Hồ Anh Thái đưa vào cuốn sách Họ đã trở thành nhân vật của tôi như thế - tác giả cho rằng: “Cuốn sách
chứng tỏ một tay nghề tiểu thuyết chững chạc Tổ chức ngăn nắp các đường dây nhân vật, khéo léo lách qua cái mê cung nhân vật chằng chịt ấy để tới được cái đích của mình Nhân vật của chị không chỉ là những số phận cá thể sinh động, mà là cả một dòng họ Chẳng dễ dàng gì mà làm cho cái nhân vật – tập thể này ra hồn ra vía một nhân vật, gây được ấn tượng là nhân vật có số phận và khúc quanh phát triển số phận khá phức tạp” [36, tr.39] Đó là những
nhận định vô cùng ưu ái của Hồ Anh Thái cho tiểu thuyết Cuốn gia phả để lại
– tác phẩm đạt giải A của nữ sĩ Đoàn Lê do Hội nhà văn Việt Nam trao tặng Nhận ra một thế giới nhân vật mang dáng dấp nhà văn trong những tác phẩm của Đoàn Lê, Dương Tường đã thẳng thắn cho rằng: “Châm biếm sâu
sắc bức tranh xã hội, huyền hoặc trong những phóng dụ giàu tưởng tượng (Cổ
tích Manơcanh, Cô Khịt), tinh tế trong khảo sát tâm lí, ngòi bút đa dạng của
Đoàn Lê đặc biệt đằm thắm khi đi vào mảnh đời riêng Người đọc có thể cảm nhận những nỗi đau sâu kín, những trải nghiệm cá nhân của chính tác giả gửi gắm vào những câu chuyện tình xót xa, không toại, bất hạnh (…) hay ít nhiều lồng vào những nét riêng tư của đời mình…” [15, tr.7]
Trang 10Tập truyện ngắn Nghĩa địa xóm chùa của Đoàn Lê khi được dịch ra tiếng Anh và xuất bản tại Mỹ đã được tạp chí Nghiệp đoàn xuất bản dành tặng
những lời bình vô cùng ưu ái Bằng một phong cách viết vô cùng sáng tạo, tươi mới, những truyện ngắn của Đoàn Lê là “một cái nhìn vào bên trong văn hóa Việt Nam sau Đổi mới” [16] Thế giới nhân vật trong tác phẩm tạo sức
ám ảnh khi đề cập đến những vấn đề “về quyền con người, khảo sát tất cả những gì bí ẩn, tinh tế của trái tim con người” [16]
Trong công trình nghiên cứu khoa học Đặc sắc truyện ngắn Đoàn Lê – tác giả Nguyễn Thị Lộc đã có những nhận định về nhân vật tha hóa trong sáng tác
của Đoàn Lê: một thế giới mà ở đó “những đảo lộn từ cuộc sống khiến nhiều người trở nên vô cảm, thơ ơ với con người, chạy theo những dục vọng cá nhân” [20] Luận văn cũng phản ánh một thế giới nhân vật phụ nữ trong đời sống hiện đại, đó là “cái nhìn chân thực về người phụ nữ với vẻ đẹp, tài năng và sức mạnh của chính họ” [20]
Trên đây là những ý kiến, nhận xét, đánh giá tiêu biểu về văn xuôi Đoàn
Lê nói chung và thế giới nhân vật trong sáng tác của nữ sĩ Đoàn Lê nói riêng Tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về thế giới nhân vật trong văn xuôi Đoàn Lê Do đó, việc nghiên cứu thế giới nhân vật trong văn xuôi Đoàn Lê là một việc làm cần thiết góp phần làm nổi bật quan niệm nghệ thuật của nhà văn cũng như những đóng góp của bà trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam sau 1986
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung tìm hiểu thế giới nhân vật và nghệ thuật xây dựng thế giới nhân vật trong văn xuôi của Đoàn Lê Thông qua việc khảo sát, nghiên cứu về thế giới nhân vật trong văn xuôi Đoàn Lê, luận văn muốn làm nổi bật bức chân dung cuộc sống con người trong văn xuôi của nhà văn
Trang 113.2 Phạm vi nghiên cứu
Các tác phẩm văn xuôi của Đoàn Lê: Trinh tiết xóm Chùa (Nhà xuất bản Hội nhà văn, 2005), Cuốn gia phả để lại (Nhà xuất bản Văn học, 2009), Tiền
định (Nhà xuất bản Hội nhà văn, 2010), Và Sex (Nhà xuất bản Thanh niên,
2010), Đoàn Lê – Tác phẩm chọn lọc (Nhà xuất bản Phụ nữ, 2011)
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
4.1 Phương pháp hệ thống – cấu trúc
Cấu trúc toàn bộ tác phẩm của nữ sĩ Đoàn Lê thành hệ thống, xem xét hệ thống đó để làm nổi bật lên chân dung cuộc sống con người từ thế giới nhân vật trong văn xuôi Đoàn Lê và nghệ thuật xây dựng thế giới nhân vật đó
4.2 Phương pháp phân tích – tổng hợp
Tập trung xem xét, đánh giá, lý giải các kiểu nhân vật, đặc điểm tính cách của nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật nhằm làm nổi bật chân dung cuộc sống con người từ thế giới nhân vật trong văn xuôi Đoàn Lê
Chương 2: Chân dung cuộc sống con người từ thế giới nhân vật trong
văn xuôi Đoàn Lê
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng thế giới nhân vật trong văn xuôi Đoàn Lê
Trang 12CHƯƠNG 1
VĂN XUÔI ĐOÀN LÊ TRONG DÕNG CHẢY
VĂN XUÔI NỮ VIỆT NAM SAU 1986
1.1 NHỮNG ĐIỂM NỔI BẬT CỦA VĂN XUÔI NỮ VIỆT NAM SAU
1986
1.1.1 Sự chiếm lĩnh của yếu tố tự thuật
Tự thuật hay còn gọi là tự truyện (tiếng Anh: autubiographi, tiếng Pháp:
autubiographie) ra đời từ văn hóa Tây Âu cận đại mang tinh thần tự phân tích
và cảm quan cá nhân chủ nghĩa Khác với những dạng thức của tiểu sử nhà văn như sơ yếu lý lịch, các bản tự thuật trả lời phỏng vấn báo chí hay gửi kèm theo khi công bố tác phẩm của mình, tự thuật là thể loại giáp ranh mong manh giữa hồi ký, nhật ký và tiểu sử, hàm chứa những yếu tố nội tại riêng cho phép sắp xếp, tái cấu trúc những sự kiện rời rạc bằng yếu tố giả tưởng, hư cấu và bằng trí nhớ của tác giả Để có cơ sở nghiên cứu, người viết dựa trên định nghĩa của Hồ Khánh Vân, xem “tự thuật vừa là điểm nhìn, là vị trí mà từ đấy, các cây bút nữ khái quát hóa và tái hiện đời sống hiện thực, là cảm hứng sáng tác hình thành nên thế giới của tác phẩm từ khuynh hướng tư tưởng, nội dung phản ánh cho đến bút pháp nghệ thuật, là hệ sinh thể hình tượng hiện hữu trên
bề mặt tác phẩm” [59]
Văn học sau 1986 đã thúc đẩy sự cầm bút của hàng loạt cây bút nữ như Đoàn Lê, Lê Minh Khuê, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Dạ Ngân, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Ngọc Tư, Phan Thị Vàng Anh, Lý Lan, Võ Thị Hảo Với lối viết vừa bộc lộ, vừa thể hiện mình các nhà văn nữ đã tái sinh chính họ thông qua những đứa con tinh thần Từ đó yếu tố tự thuật trở thành phương thức sáng tạo khá phổ biến trong sáng tác của nữ giới Những tác phẩm mang yếu
tố tự thuật được ví như những cuốn phim tài liệu cũ mà nhân vật chính là nhà văn, cuộc đời của họ nay được làm mới bằng những con chữ Ở đó nó mổ xẻ,
Trang 13lý giải, chiêm nghiệm những gì đã qua trong cuộc đời con người Bên cạnh
đó, yếu tố hư cấu, tưởng tượng có dụng ý cũng đươc tác giả sử dụng để làm cho tác phẩm thêm phần sinh động và hấp dẫn người đọc Trong sáng tác của nhiều nhà văn nam, yếu tố tự thuật được tạo ra theo khái niệm tự thuật đúng nghĩa, tức họ khám phá và khẳng định bản thể của mình thông qua khách thể bằng cách khái quát hóa Đối với tự thuật trong sáng tác của các nhà văn nữ lại xuất phát từ cá nhân tác giả nhằm phục vụ cho nhu cầu, mục đích chung của phái mình Dễ hiểu vì sao chúng ta thường bắt gặp hay nhận thấy phảng phất bóng dáng của nhà văn trong những tác phẩm
Hiện tượng chiếm lĩnh của yếu tố tự thuật trong dòng chảy văn xuôi nữ giai đoạn sau 1986 bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân Thứ nhất, tự thuật gắn liền với mục đích viết của nhà văn như là một nhu cầu của cá nhân đối với cộng đồng Từ đó họ sử dụng tự thuật làm phương thức sáng tác cơ bản để khắc họa chân dung của chính mình Thứ hai, xuất phát từ đặc trưng sinh học
và đặc trưng bản thể trong mối quan hệ liên kết với nhau hình thành nên khuynh hướng tự thuật ở nữ giới Vốn dĩ phụ nữ là những người có cảm xúc
và tri giác về bản thân rất sâu sắc, nhạy bén, họ thiên về đời sống tình cảm, là
“những ăng ten bắt sóng tần số phát ra từ bản thân và hấp thụ chúng một cách mãnh liệt rồi sau đó tự tỏa ra những băng tần số tái hiện thế giới đã được cảm thụ, tri giác, chuyển hóa” [59] Thứ ba, xuất phát từ khuynh hướng yêu bản thân và sống hướng nội Những mối quan hệ chính yếu và quan trọng nhất của
họ xoay quanh và bó hẹp trong phạm vi của gia đình Các quan hệ bên ngoài
xã hội bị hạn chế, bị cản trở từ nhiều quan niệm sai lầm về vai trò và chức năng của người phụ nữ trong gia đình Trong sự thụ động tĩnh tại ấy, người phụ nữ lấy mình làm đối tượng cảm nhận, khám phá chính và khát khao sự đồng cảm Thứ tư, bắt nguồn từ nguyên nhân cấu trúc nội tại trong nền văn học Bằng những trang văn thiên về miêu tả cảm xúc, ý thức về không gian,
Trang 14thời gian tâm lý, điểm nhìn trần thuật thường là điểm nhìn nội quan, nhân vật trung tâm được xây dựng chiếm số lượng lớn là nữ đã dần xóa nhòa biên giới giữa tác giả và nhân vật Sự cộng hưởng của nhiều nguyên nhân trên dẫn đến
sự chiếm lĩnh của khuynh hướng tự thuật trong những sáng tác của các nhà văn nữ, đem đến cho văn học Việt Nam những sắc thái mới mẻ và đầy ấn tượng
Từ những căn nguyên hình thành nên yếu tố tự thuật khi đem soi chiếu vào tác phẩm của những cây viết nữ, chúng ta có thể nhận thấy mỗi nhà văn, mỗi tác phẩm của họ đã sử dụng yếu tố tự thuật theo những cấp độ khác nhau
Ở cấp độ thứ nhất, hơi hướng tự thuật trong sáng tác của các nhà văn nữ bộc
lộ ở phạm vi tự thuật của giới Họ sử dụng ngòi bút của mình để bàn bạc, mổ
xẻ vấn đề nhằm bộc lộ quan điểm, tư tưởng, đặc biệt là những vấn đề về quyền con người, thân phận nữ giới; ở đây tự thuật đã được mở rộng ra ngoài biên độ đời tư cá nhân tác giả Ở cấp độ thứ hai, yếu tố tự thuật có thể nhận biết là sự xuất hiện dàn trải trong một tác phẩm hoặc nhiều tác phẩm của một tác giả, người ta gọi đây là hiện tượng “tự ăn mình” Ở kiểu tự thuật này, người đọc phải nắm bắt khá rõ tiểu sử cuộc đời tác giả, đôi khi cần kết nối nhiều tác phẩm đề tìm ra bức chân dung nhà văn Qua đó nhận biết được đâu
là hiện thực, đâu là các yếu tố hư cấu mà nhà văn đã lồng ghép vào nhằm tạo
sự hấp dẫn, sinh động cho tác phẩm Trong cấp độ thứ ba, yếu tố tự thuật bao trùm, xuyên suốt toàn bộ tác phẩm của một tác giả Dường như họ đã vẽ lại đời mình bằng những con chữ và những trang văn với những tình tiết, nhân vật, sự kiện… dập khuôn theo những gì cuộc đời thăng trầm, sóng gió mà bản thân nhà văn đã từng nếm trải
Với các biểu hiện khác nhau của khuynh hướng tự thuật, ta có thể nhận thấy dù biểu hiện ở cấp độ nào, dù xuất hiện nhiều hay ít thì yếu tố tự thuật là một thuộc tính của phương thức sáng tác văn học nữ Tự thuật xuất hiện vừa
Trang 15vô thức vừa có ý thức ở hầu khắp các tác giả nữ, chiếm số lớn diện tích trang viết ở những mức độ khác nhau, trong nhiều hình thức biểu hiện đa dạng,
phong phú Trong sáng tác của Đoàn Lê (Tiền định, Mẹ, con và thánh thần,
Giường đôi xóm chùa…) nhà văn tập trung thể hiện chân thực cái tôi cảm xúc
của chính mình, làm nổi bật cuộc đời của những người phụ nữ với những số phận, cảnh đời éo le, nghiệt ngã Nếu như bạn đọc quan tâm đến cuộc đời cũng như những tác phẩm của bà, sẽ dễ dàng nhận thấy Đoàn Lê đã vận dụng rất khéo léo những hệ lụy trong cuộc đời riêng của chính mình để viết lên những trang văn chất chứa nhiều nỗi đau âm ỉ Trong những trang văn của Dạ
Ngân (Gia đình bé mọn, Con chó và vụ ly hôn, Trinh nữ muộn, Nhà không có
đàn ông, Quãng đời ấm áp…) các tác phẩm như kết dính lại với nhau, giới
thiệu với người đọc cuộc đời của tác giả Dạ Ngân không ngại phô trương thân thế và sự nghiệp của mình Bằng ngòi bút sắc sảo đã giúp Dạ Ngân soi rọi những góc khuất tăm tối của con người cũng như xã hội Tác giả viết như
để tự vấn, sám hối về những gì đã xảy ra trong quá khứ, giúp bà như sống lại
một lần nữa, sống với một cuộc đời khác Trong Phố Tàu, Thuận cũng tái
hiện chính mình trong phiên bản mang số phận của những kẻ tha hương, suốt
ba mươi năm dịch chuyển từ Hà Nội đến Nga rồi sau đó dừng lại ở nước Pháp Với Võ Thị Xuân Hà, không dưới một lần nhà văn đặt mình trên trang
giấy Qua nhân vật mang tên bút danh của chính mình – Cầm Kỳ (Trường
thành), nhà văn muốn người đọc thấy được sự thật về những đắng cay trong
cuộc sống và trong nghiệp văn chương Tương tự như vậy, Nguyễn Thị Thu
Huệ trong Tân Cảng đã tái hiện lại nỗi đau của chính mình khi viết về gia
đình, về những đổ vỡ, mất mát Những trang văn của Phan Thị Vàng Anh lại như một cuộc tạt ngang trong khoảnh khắc ngắn, bất chợt của tuổi trẻ đầy tinh nghịch, cá tính Đôi chỗ người đọc nhận ra lý lịch của tác giả qua nguồn gốc
gia đình với người cha là một nhà văn miệt mài với con chữ (Cha tôi), qua
Trang 16những câu chuyện nơi khuôn viên ngôi trường nhà văn đang theo học (Nghỉ
hè) Nhà văn Lý Lan tái hiện hình ảnh cô giáo với những tâm trạng hụt hẫng
và vỡ mộng từ chuyến xe có thật đi Cần Giờ, một địa danh nhà văn từng công tác gần bốn năm Thấp thoáng trong nhiều tác phẩm, nhân vật cô giáo vẫn thường trở đi trở lại như bóng dáng của nhà văn trong từng câu chuyện
(Chuyện kinh dị, Suối Sim, Hai mươi mốt năm sau, Quá chén, Chim nhạn…)
Từ một số dẫn chứng trên đây có thể nhận thấy, khuynh hướng tự thuật được bộc lộ một cách khá rõ rệt trong sáng tác của nhiều nhà văn nữ Bằng ngòi bút tinh tế và khéo léo, họ đã gián tiếp thể hiện mình một cách rất riêng và hệ thống, sắp xếp vấn đề một cách hoàn chỉnh, tạo hiệu quả nghệ thuật ngoài mong đợi
Nhìn chung, những sáng tác của các tác giả nữ Việt Nam giai đoạn từ
1986 đến nay đều phần lớn mang hơi hướng tự thuật Bằng những chất liệu chính từ con người, cuộc sống được nhào nặn qua đôi bàn tay của trí tưởng tượng, trang văn của họ luôn tạo nên cho người đọc cảm giác rất thật và rất đời Vì vậy, tự thuật không chỉ hiện diện trong tác phẩm như một nội dung đặc thù, mà còn là phương thức tư duy nghệ thuật, phương thức sáng tác đặc trưng của các nhà văn nữ Với khuynh hướng sáng tạo này, chưa bao giờ trong dòng chảy văn học Việt Nam, đội ngũ sáng tạo mang giới tính nữ lại nở
rộ và có chỗ đứng vững chắc đến như vậy
1.1.2 Đổi mới trong hệ đề tài
Văn xuôi Việt Nam sau 1986 đứng trước những nhu cầu đổi mới tư duy Điều này chứng tỏ sự nghiêm khắc trong sáng tạo của những nhà văn đương đại Trên phương diện đề tài, văn xuôi đã tiếp cận và khai thác sâu hơn những hiện thực hàng ngày, cái đời thường của cuộc sống cá nhân Các nhà văn đã dám nhìn thẳng vào những mảnh vỡ, những bi kịch nhân sinh, mổ xẻ, phơi bày nó bằng cái nhìn trung thực, táo bạo Hơn lúc nào hết, người đọc có nhu
Trang 17cầu hứng thú đi tìm những tác phẩm hay, những tác phẩm trở về với chức năng thẩm mỹ và giải trí, tôn trọng vai trò của người đọc, khêu gợi ở họ những suy ngẫm, liên tưởng và đồng sáng tạo Hiểu được điều này, chưa bao giờ các nhà văn nữ lại có ý thức, nhu cầu cần phải làm mới hệ đề tài đến như vậy Họ đã thổi một luồng gió mới vào văn chương, khơi gợi nhiều nguồn cảm hứng sáng tạo vượt thoát mọi chuẩn mực Các đề tài truyền thống hay hiện đại đều được đưa vào trường nhìn mới, hướng tới những gấp khúc trong đường đời và thân phận con người, thấm đẫm cảm hứng nhân văn
Thứ nhất, tiếp nối những thành công đã gặt hái được trong giai đoạn kháng chiến, sau 1986 các nhà văn nữ viết về chiến tranh như một đề tài chưa bao giờ quá khứ đối với họ Khác với nam giới, các nhà văn nữ viết về chiến tranh bằng chính những nỗi đau, mất mát mà họ đã trải qua, đã chứng kiến Bằng ngòi bút thấm đẫm nữ tính nhưng không kém phần quyết liệt, các nhà văn nữ đã có ý thức đưa các nhân vật của mình vào những mối quan hệ đa chiều để từ đó làm nổi bật những nỗi đau, vết thương âm ỉ của những người lính, những cô gái thanh niên xung phong khi quay về cuộc sống thời bình
Truyện ngắn Người sót lại ở rừng cười của Võ Thị Hảo là một ví dụ: Thảo –
nhân vật chính trong tác phẩm, thời chiến đã hy sinh niềm hạnh phúc của mình cho Tổ quốc, trở về thời bình lại hy sinh chính tình yêu của mình Viết
về đề tài chiến tranh, Võ Thị Hảo đã gửi cho bạn đọc những thông điệp mới,
tố cáo lên án chiến tranh, khẳng định quyền sống, quyền hạnh phúc của con người cũng như tỏ lòng cảm thông đến những ai đã từng đi qua, nếm trải những mất mát đau thương của cuộc chiến Trong những sáng tác về đề tài chiến tranh của Nguyễn Thị Thu Huệ, Lê Minh Khuê, Ý Nhi cũng không ngần ngại bám sát vào những ngõ ngách hiện thực thời hậu chiến Hiện diện trong các trang viết của các nhà văn nữ là sự đảo lộn gay gắt các thang bậc giá trị, sự áp đảo kinh hoàng của cái xấu, cái ác cũng như sự lép vế của những giá
Trang 18trị tinh thần - đạo đức giữa một xã hội thực dụng, cằn cỗi nhân tính Họ - những người lính trở về từ cuộc chiến chưa hưởng hết cảm giác ngất ngây hạnh phúc trong niềm vui đoàn tụ đã lập tức rơi vào những bi kịch, xung đột mới không kém phần nghiệt ngã Những xung đột này không chỉ diễn ra ở phạm vi xã hội mà ở ngay trong một gia đình, ngay giữa những người ruột thịt Đời sống cơm áo gạo tiền khi chiến tranh đi qua, con người không còn liêm sỉ, lòng tự trọng, và nếu có, nó chỉ khiến người ta chua xót hơn vì sự bất lực và thảm hại của chính mình Viết về đề tài chiến tranh, các cây bút nữ đã
mô tả từ góc nhìn thế sự, đời tư chứ không phải từ góc nhìn sử thi và việc đặt quá khứ ấy trong tương quan đối lập với hiện tại là nhằm để rút ra những bài học nhận thức tỉnh táo, cần thiết cho hiện tại Cũng chính ở đây, cảm hứng thế
sự đã gắn liền với một cảm hứng mới: nhìn thẳng vào sự thật, nhận chân lại các giá trị; đó là một trong những đóng góp quý giá của các nhà văn nữ trong công cuộc làm mới văn chương
Thứ hai, trên phương diện làm mới đề tài viết về tình yêu, hạnh phúc; một đề tài chiếm số lượng khá lớn trong mạch sáng tác của các cây viết nữ Những trang văn của họ thể hiện những khát vọng yêu và được yêu bổng cháy
nhưng chưa bao giờ thực hiện được và chẳng thể vẹn toàn (Hoa muộn, Khi ta
trẻ – Phan Thị Vàng Anh; Chín bỏ làm mười, Trong cơn mưa – Phạm Thị
Hoài; Hậu thiên đường – Nguyễn Thị Thu Huệ; Tiền định, Làm đẹp – Đoàn Lê; Bức thư gửi mẹ Âu Cơ – Y Ban…) Bằng ngòi bút xoáy sâu vào mọi
phương diện, mọi cảm xúc khiến người đọc nhận thấy nhiều cung bậc của tình yêu; đó là sự ngọt ngào, say đắm nhưng cũng có lúc đắng chát, xót xa Nhân vật nữ trong sáng tác của Y Ban mạnh dạn lên tiếng: “Đất nước anh hùng ngoại xâm, thiên tai liên miên nên mẹ quan tâm đến những anh hùng, thi sĩ
Mẹ đã không chú ý đến những cô gái vốn dịu dàng, nhu mì không màng đòi hỏi của mẹ Nhưng bây giờ con đòi hỏi Mẹ ơi, mẹ hãy quan tâm đến chúng
Trang 19con, đến nỗi đau của những cô gái, những bà mẹ” [30, tr.343] Nhân vật nữ của Nguyễn Thị Thu Huệ cũng bày tỏ nỗi đau, mất mát, bi kịch mà người phụ
nữ phải gánh chịu Mơ mộng một chốn thiên đường giữa đời thật, họ dâng hiến hết mình cho tình yêu, nhưng sau những đỉnh điểm của đam mê, dục vọng, mãn nguyện tràn trề họ lại nhận về một tâm hồn, một thể xác rách nát, một chốn địa ngục ở trần gian Tình yêu đến lấy đi của họ tất cả, nhưng rồi những người phụ nữ vẫn hy vọng và đợi chờ: “Tình yêu ơi? Ở đâu Tại sao đến giờ này nàng vẫn cô đơn, khi mà nàng xinh đẹp, có học, không tật nguyền” [11, tr.42] Chưa bao giờ trong dòng văn học nữ, gương mặt tình yêu, hạnh phúc lại được miêu tả muôn màu muôn vẻ đến như vậy; cũng như chưa bao giờ bi kịch tình yêu lại được đề cập nhiều và riết róng đến như thế Phải chăng! Đề cập đến đề tài tình yêu, hạnh phúc các nhà văn nữ thể hiện khát khao được giải phóng chính bản thân mình, mong ước được đón nhận, được nâng niu; họ kêu gọi mọi người hãy quan tâm hơn đến số phận, nỗi đau của những người phụ nữ Bằng ngòi bút nữ tính và thấm đượm nhân văn các nhà văn nữ đã đưa người đọc đến gần hơn với tác phẩm thông qua thông điệp cao đẹp mà họ gửi gắm
Thứ ba, đề tài về những tầng bậc cuộc sống gia đình cũng được nhiều nhà văn nữ làm mới và đưa vào trong tác phẩm của mình Trong những trang văn của họ ẩn chứa mọi “hỉ - nộ - ái - ố” của cuộc sống đời thường, những
xung đột tưởng như không có lối thoát, không thể giải tỏa được (Thiên sứ,
Năm ngày – Phạm Thị Hoài; Vòng tròn im lặng, Gia đình bé mọn – Dạ Ngân; Các vĩ nhân tỉnh lẻ, Bên kia bờ ảo vọng – Dương Thu Hương; Cuốn gia phả
để lại, Giường đôi xóm Chùa – Đoàn Lê, Kịch câm – Phan Thị Vàng Anh)
Những người phụ nữ là vợ, là mẹ trong tác phẩm không ngừng trăn trở, day dứt làm sao giữ được tình yêu, hạnh phúc, hàn gắn những mảnh vỡ trong cuộc sống gia đình, bởi họ biết chỉ hy sinh thôi là chưa đủ Trong nhiều tác phẩm
Trang 20của Đoàn Lê, người phụ nữ luôn phải cam chịu, nhẫn nhục chỉ vì mong muốn gia đình được yên ổn nhưng hạnh phúc không mỉm cười với họ Sau mấy chục năm vì chồng con, người đàn bà ấy buộc phải dứt áo ra đi, rời bỏ tổ ấm
nhiều năm gây dựng (Giường đôi xóm Chùa) Truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh cũng đề cập đến những rạn nứt gia đình trong thời đại Kịch câm
mới Không phản ánh cuộc sống vợ chồng như Đoàn Lê, tác phẩm của Phan Thị Vàng Anh viết về sự rạn nứt trong tình cảm cha con Người bố – muốn cất tiếng dạy con nhưng lại mắc kẹt trong mớ bòng bong tội lỗi mà đứa con đang nắm giữ, nó coi đó là “tờ giấy thông hành” Đứa con – vẫn thèm khát một gia đình lành lặn và mong ước hàn gắn hạnh phúc gia đình mà những người lớn đã đánh rơi nhưng đành bất lực Cứ thế, ngòi bút của Phan Thị Vàng Anh len lỏi vào bi kịch trong cuộc sống gia đình, thức tỉnh họ hiểu hơn giá trị của hai tiếng gia đình mà những người làm cha, làm mẹ vì cơm áo gạo tiền, vì quyền lực đã vô tình đẩy cuộc sống của chính họ, của cả gia đình vào
bi kịch Viết về đề tài cuộc sống gia đình, những nhà văn nữ đã dùng bản năng của một người phụ nữ, của những người vợ, người mẹ để giác ngộ, thức tỉnh mọi người hãy giữ gìn hạnh phúc của mình khi chưa quá muộn Bởi nhiều nhà văn nữ, hơn ai hết đã trải qua đau thương, mất mát để viết nên được những trang sách rất “đời”, họ hiểu giá trị của gia đình, của hạnh phúc và biết
rõ hạnh phúc gia đình là thứ rất dễ đánh mất
Thứ tư, nhiều nhà văn nữ bên cạnh đi sâu tìm hiểu và làm mới những đề tài về hậu chiến tranh, tình yêu, hôn nhân hay cuộc sống gia đình họ còn khai thác con người ở nhiều mối quan hệ, nhiều khía cạnh khác nhau Ở đó ta bắt gặp con người cá nhân gắn với con người xã hội, con người trước sự nghiệp chung và hạnh phúc riêng Đặc biệt nhiều nhà văn nữ đã mạnh dạn đề cập thẳng đến những vấn đề nhạy cảm như tình yêu nhục thể, bản năng con người
ở những khía cạnh nhân bản nhất của nó (I am đàn bà, Xuân Từ Chiều – Y
Trang 21Ban; Bóng đè – Đỗ Hoàng Diệu; Cánh đồng bất tận – Nguyễn Ngọc Tư; Vân
Vy – Thuận; Năm ngày – Phạm Thị Hoài) Viết về vấn đề bản năng và tính
dục, trước đó ta đã từng bắt gặp hình ảnh Hồ Xuân Hương gay gắt, dồn nén, đòi bình đẳng: “ Chém cha cái kiếp chồng chung/ Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh
lùng” (Làm lẽ) Những năm gần đây, do không bị giới hạn, gò bó trong cách
viết, các nhà văn nữ đã mạnh dạn, thoải mái hơn khi viết về tình dục với nhiều cách thể hiện khác nhau Nhân vật nữ trong sáng tác của Y Ban tự khám
phá thân thể để đi vào tận cùng bản chất đàn bà (Xuân Từ Chiều) Tác phẩm
Trong nước giá lạnh của Võ Thị Xuân Hà lại cười nhạo sự thánh thiện của
con người bằng việc chủ động khỏa thân, tắm mình trong mưa hòa cùng thiên
nhiên, đất trời để trêu ngươi và như để khẳng định mình Thiên sứ của Phạm
Thị Hoài đã mạnh dạn đi vào thế giới nội tâm để khám phá chiều sâu tâm linh, giấc mơ vô thức nhằm nhận diện con người một cách đích thực, nhân bản nhất Mỗi nhà văn nữ có cách viết về tình yêu, tình dục, hạnh phúc khác nhau Song, những tác phẩm của họ đã đồng nhất trở thành tiếng nói nữ quyền trong văn học sau Đổi mới buộc mọi người phải lắng nghe và nhìn nhận lại Bằng việc sáng tạo nghệ thuật nghiêm túc và không ngừng làm mới trang văn của mình, những nhà văn nữ đã chứng minh cho mọi người thấy rằng, trong văn chương không có sự phân biệt giới tính Với lối viết đụng chạm đến những điều riêng tư, cấm kỵ họ đã tự cởi trói cho chính bản thân mình; bởi hơn ai hết phụ nữ hiểu mình cần gì và muốn gì để giãi bày, tâm sự, tránh không rơi vào tình trạng bị áp đặt như trước đây
Mặc dù không phải đến bây giờ những đề tài về hậu chiến tranh, tình yêu, hạnh phúc, hôn nhân gia đình hay tính dục mới được đề cập đến nhưng chính bằng con mắt nữ tính và ngòi bút nhân sinh quan mới mẻ họ đã thổi vào văn chương một luồng gió mới Có thể nói, các nhà văn nữ đang không ngừng tìm kiếm con đường mới cho những tác phẩm của mình, đó là những nỗ lực
Trang 22đáng trân trọng và ghi nhận Hơn tất cả, không thể phủ nhận đóng góp của họ trong việc tìm kiếm sự khác lạ ở phương diện đề tài
Sau 1975, đặc biệt từ sau 1986 thực trạng văn học dần chuyển biến theo
sự chi phối chung của quy luật thời bình Trong dòng chảy chung đó, văn học
nữ cũng nhanh chóng bắt kịp nhịp thở chung của thời đại nên không ngừng tìm tòi, cách tân thể loại ở một số phương diện: cốt truyện, ngôn ngữ, giọng điệu
Trước tiên là những thể nghiệm mới trên phương diện cốt truyện Trong không khí của thời bình, con người có nhu cầu quan tâm đến bản thân nhiều hơn, đời sống riêng tư với nhiều khía cạnh cung bậc cảm xúc, ham muốn, khát vọng đã đi vào văn học tạo nên nét chuyển biến rõ rệt Từ sự thay đổi trong nội dung, việc tổ chức cốt truyện cũng có nhiều nét thay đổi Có tổ chức cốt truyện sự kiện, cốt truyện tâm lý, cốt truyện kỳ ảo, cốt truyện phi kết cấu… Các nhà văn nữ với sự mềm mại, dịu dàng, cá tính đã mang đến cho văn học sau 1986 một không khí mới mẻ, hấp dẫn Đặc biệt khảo sát sáng tác của nhiều nhà văn nữ nổi bật lên dạng cốt truyện tâm lý, cốt truyện phi lý và cốt truyện kỳ ảo Với cốt truyện tâm lý, các nhà văn nữ tổ chức phần nhiều trên bình diện ý thức Các sự kiện trong tác phẩm được dàn trải, không có điểm nhấn Được viết theo cách tổ chức cốt truyện tâm lý nên những dòng tâm sự, những nỗi niềm trăn trở suy tư của nhân vật đã góp phần làm mờ đi ranh giới của các chi tiết, sự kiện Lẽ dĩ nhiên, ấn tượng động lại sâu sắc nơi người đọc là những giây phút xao động của tâm hồn và trái tim người phụ nữ Bắt đầu, kết thúc tác phẩm đều là những dòng tâm trạng, những suy tư, trải nghiệm sâu sắc về con người, cuộc sống bản thân Với cốt truyện này, có thể bắt gặp khá nhiều trong sáng tác của các nhà văn nữ như Lê Minh Khuê, Đoàn Lê, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Võ Thị Hảo Sử dụng cốt
Trang 23truyện phi lý cũng là một trong những cách tân đáng chú ý trong sáng tác của nhiều nhà văn nữ Rời rạc, hỗn độn, chắp vá… là những đặc tính của loại cốt truyện phi lý Nói đúng hơn, đây là tình trạng phân rã cốt truyện một cách triệt để Phạm Thị Hoài là nhà văn nữ được xem thành công nhất khi sử dụng
dạng cốt truyện này Tác phẩm Thiên sứ được xây dựng như một ma trận với
cốt truyện lỏng lẻo tạo cảm hứng tự do sáng tạo ở người đọc Đập vỡ mọi quy phạm truyền thống, tác phẩm mang đến cho người đọc cảm giác phi logic trong mọi tình huống Nhà văn Thuận cũng tổ chức tác phẩm trên cơ sở cốt
truyện phân rã Trong Chinatown, Thuận chia làm ba chương hồi nhưng lại gồm có năm phần do sự chen ngang có dụng ý của tiểu thuyết I’m Yellow Hai
tác phẩm tồn tại độc lập tương đối bên cạnh nhau mà không hề ảnh hưởng đến nội dung mỗi câu chuyện Có thể nói, đây là dạng cốt truyện thử thách tài năng sáng tạo và năng lực của người cầm bút Qua dạng cốt truyện này, nhà văn đã biến những tác phẩm của mình thành cấu trúc mở, buộc người đọc tiếp nhận nó bằng kinh nghiệm và tầm đón nhận của riêng mình Việc sử dụng cốt truyện phi lý được đánh giá như sự sáng tạo đáng ghi nhận của cây bút nữ trên hành trình cách tân cốt truyện Ở dạng cốt truyện tâm linh, các nhà văn nữ đã vận dụng linh hoạt trí tưởng tượng phong phú của mình để tạo nên những đứa con tinh thần Viết về thế giới tâm linh bí ẩn, các nữ nhà văn muốn bày tỏ niềm tin vào sự tồn tại của một thế giới khác Trong sáng tác của Võ Thị Hảo, thế giới tâm linh được xác định như chiều thứ tư của tâm trạng Ở đó con
người được tái hiện với nhiều băn khoăn, trăn trở về lỗi lầm quá khứ (Góa
phụ đen) Cũng có khi con người xuất hiện với những dự cảm không lành về
tương lai (Vườn yêu) Trong nhiều tác phẩm của Y Ban (Chợ rằm dưới gốc
dâu cổ thụ, Chuyến xe đêm, Tay thiêng), Đoàn Lê (Nghĩa địa xóm Chùa, Nhân bản, Cổ tích Manơcanh)… cũng được ghi nhận ở dạng cốt truyện này
Với việc sử dụng cốt truyện kỳ ảo đã giúp các nhà văn nữ tạo nên được độ
Trang 24căng nhất định cho tác phẩm, đồng thời phản ánh quan niệm nhân sinh của người phụ nữ từ những câu chuyện khó lí giải bằng hiện thực cuộc sống, các yếu tố kỳ ảo được vận dụng làm cho tác phẩm trở nên kỳ bí, khó hiểu, nhân vật cũng có dáng vẻ hư ảo, lạ lùng mang tính huyền thoại Những thể nghiệm trên phương diện cốt truyện của các nhà văn nữ tuy không nhiều nhưng từ đó
đã phần nào khẳng định sự nghiêm túc sáng tạo nghệ thuật của họ Chung quy việc sử dụng cốt truyện hợp lý đã giúp các cây bút nữ thể hiện được ý đồ nghệ thuật một cách có hiệu quả
Trên những thể nghiệm mới về bình diện ngôn ngữ Các nhà văn nữ cũng mạnh dạn tìm kiếm, thể nghiệm những hướng đi mới Đó là việc đưa vào văn chương của mình những thứ ngôn ngữ gần gũi, chân thực với đời sống; đồng thời thể hiện được cá tính sáng tạo, tài năng trong cách diễn đạt một tác phẩm Không còn lối văn đạo mạo của người rao giảng đạo đức, ngôn ngữ văn xuôi đầy hứng thú với ngôn ngữ đậm chất sinh hoạt – thế sự Nhiều cây viết nữ không ngần ngại đưa vào tác phẩm của mình một thứ ngôn ngữ mới nhằm rút ngắn khoảng cách giữa nghệ thuật và dòng chảy xô bồ của đời
sống Trong Tình yêu ơi ở đâu?, Nguyễn Thị Thu Huệ không ngần ngại sử
dụng kiểu ngôn ngữ này: “…Mặt như sườn mậu dịch thời bao cấp”, chàng cười, khuôn mặt méo xệch, vẹo vọ như cái oản bẹp” [11, tr.33] Cũng sử dụng dạng ngôn ngữ đó, Phan Thị Vàng Anh tạo cảm giác thoải mái, tự nhiên:
“Chức cách đây mấy hôm thấy chạy vèo vèo ngoài ngã ba chở một đứa con gái bé như cái kẹo, không ôm iếc gì cả nhưng nhìn thì biết ngay là bồ bịch” [31, tr.305] Đây quả là một thứ ngôn ngữ tưởng như nhẹ nhàng nhưng cũng không kém phần táo bạo mang đậm âm hưởng nữ quyền Nhờ thứ ngôn ngữ chân thực, sinh động, đầy ma lực đã giúp cho những thể nghiệm mới của các nhà văn nữ trở nên đắt giá và chạm đến hiệu quả nghệ thuật cao Chống lại lối văn hành chính khô khan, thứ ngôn ngữ sáo rỗng, phi cá tính là một thể
Trang 25nghiệm mới khi dung nạp thoải mái thành phần khẩu ngữ, cố tình xô lệch cú pháp, nhất là công khai nhại tất cả mọi ngôn ngữ kiểu cách vô hồn Việc áp dụng ngôn ngữ nhại trong tác phẩm góp phần giúp các nhà văn nữ biểu đạt các trạng thái khác nhau hết sức sống động Nó khiến cho ngôn ngữ văn xuôi không quá trong suốt mà trở nên mờ đục hơn, thông tục hơn và có khả năng gây sự hơn Bên cạnh đó, nhiều nhà văn nữ còn sử dụng lối ngôn ngữ tạo tốc
độ bằng cách loại bỏ dấu câu, liệt kê một loạt các sự vật, hiện tượng, khái niệm, cảm giác không cùng một hệ thống để tạo tốc độ Không có sự thách đố nào đối với người đọc, không cần phải giải mã những ám dụ, hay biểu tượng ngôn từ, nhiều nhà văn nữ đã giản lược tối đa các thành phần phụ miêu tả, những mỹ từ, tính từ, thán từ, để có thể tránh những đoạn sa đà phân tích, giãi bày nội tâm nhân vật Chỉ còn lại nồng cốt câu để nêu bật thông tin Chính vì vậy mà câu văn hàm chứa một dung lượng thông tin lớn, một tốc độ thông tin nhiều khi đến chóng mặt Như Kristjana Gunnar từng khẳng định: “Chân lý luôn nằm bên ngoài chúng ta, và thay vì lèn chặt đời mình bằng những ngôn
từ, chúng ta có thể rút lại, nói ít đi, nhưng hãy làm sao gia tăng trọng lượng cho mỗi từ, hãy làm cho mỗi từ chứa đầy sự bí ẩn và niềm kính sợ, ngôn ngữ xứng đáng được như vậy” [52] Với ý thức xóa dần tính khu biệt, mở rộng khả năng diễn đạt, sử dụng các điển cổ văn học trên cơ sở tiền giả định đúng đắn về nhu cầu, trình độ bạn đọc để từ đó đưa vào tác phẩm của mình những tri thức, những thứ ngôn ngữ nước ngoài, ngôn ngữ chuyên ngành… Tiêu biểu cho việc lạ hóa ngôn ngữ này có thể kể đến tác giả Phạm Thị Hoài trong
Thiên sứ Bằng việc sử dụng một loạt ngôn ngữ thuộc kiến thức văn hóa,
ngoại ngữ, khoa học: “đột biến”, “bức xạ nhiệt”, “lễ rửa tội”, “thiên sứ”, “đồ thị hyperbol”, “overture”, “drape”, “comme il faut”… mà không có lời chú thích đã giúp tác phẩm sàng lọc, lựa chọn độc giả phù hợp với dụng ý tác giả
Võ Thị Hảo lại linh hoạt đưa vào tác phẩm của mình nhiều thông tin, ngôn
Trang 26ngữ mang điển tích Phật giáo… Việc sử dụng nhiều kênh ngôn ngữ cũng là cách thể hiện sự đa dạng hóa điểm nhìn và sự phong phú về sắc điệu thẩm mỹ của các nhà văn nữ Qua đó, nhiều tác giả đã giúp cải thiện tình trạng nhàm chán, nhạt nhẽo khi tiếp xúc với văn chương của đại đa số bạn đọc trẻ hiện đại Có thể nói, ngôn ngữ là một phần quan trọng của tác phẩm văn chương vì vậy việc tìm kiếm, thể nghiệm một lối tư duy, cách cảm, cách nghĩ mới mang đậm màu sắc nữ giới của những cây bút nữ đã góp phần tạo nên sự đa diện trong giai đoạn văn chương hiện đại Việt Nam sau 1986
Thứ ba, về những cách tân trên bình diện giọng điệu; vốn được xem là
“một phạm trù thẩm mỹ” [9, tr.113] có vai trò rất lớn trong việc xác lập phong cách nhà văn Nếu như văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 luôn mang giọng điệu ngợi ca, khẳng định ý chí và tinh thần lạc quan nhằm cổ vũ tinh thần chiến đấu; thì văn học sau 1975, đặc biệt sau 1986 với tinh thần dân chủ, văn chương lại mang giọng điệu chân thực, gần gũi hơn với cuộc sống đời tư thế sự Bắt tay vào thực hiện những thể nghiệm mới trên bình diện đổi mới giọng điệu, nhiều nhà văn nữ không ngần ngại sử dụng nhiều lớp giọng điệu rất riêng mang dấu ấn cá nhân của mình Bằng trái tim và ngòi bút nhạy cảm, hơn ai hết những cây viết nữ sớm nhận thức được những thứ đã lỗi thời, không còn phù hợp Từ đó họ mạnh dạn lên án thói đạo đức giả, giáo huấn, hủ tục… bằng giọng điệu giễu nhại đánh trúng tâm lý người đọc Nhà văn Phạm Thị Hoài là một trong những cây bút nữ đầu tiên sử dụng giọng điệu giễu nhại một cách thành công Thậm chí bà còn giễu nhại như một thế nhìn về đời sống tâm linh Tự nhận mình là nhà văn bên lề, nhưng thật ra Thuận khá riết róng trong nhận thức lại quá khứ Trong nhiều trường hợp, bà sử dụng giọng điệu giễu nhại để tăng chiều sâu nhận thức và giễu cả những kìm nén dục tình
một cách vô lý (Chinatown) Phan Thị Vàng Anh cũng nhại những thứ vô lý nhưng rất thật của con người (Mười ngày )… Có thể nói, rất dễ bắt gặp trong
Trang 27những sáng tác của nhà văn nữ như Dạ Ngân, Phạm Thị Hoài, Lê Minh Khuê, Đoàn Lê, Nguyễn Thị Thu Huệ… giọng điệu này Bên cạnh giọng điệu trên, các nhà văn nữ còn thể nghiệm giọng điệu nửa nghiêm túc nửa mỉa mai trong những sáng tác của mình Bằng cách so sánh những thứ có giá trị thật với những thứ mang giá trị ảo, giữa điều tốt đẹp và xấu xa, cái bi hay cái hài… các cây viết nữ đã dần làm nổi bật căn nguyên vấn đề Loạt truyện ngắn viết
về xóm Chùa của nhà văn Đoàn Lê là một minh chứng tiêu biểu cho giọng điệu này Với cách liên tưởng tạo hiệu quả cao đã phản ánh rõ nét hiện thực cuộc sống mới với những điều còn đang tồn tại bất công: “Gạo vẫn đang lên đấy Hai tháng nay gạo lên chót vót ở cỡ hai ngàn hai Sờ lên gáy khắc biết xóm Chùa chưa hết thời quy ra gạo” [16, tr.160] Phần nhiều trong sáng tác của những cây bút nữ, tiêu biểu như: Dạ Ngân, Phạm Thị Hoài, Lê Minh Khuê, Đoàn Lê, Lê Thị Thu Thủy, Y Ban, Di Li, Thuận, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Thị Thu Huệ… luôn có sự lồng ghép sự trải nghiệm cuộc sống của chính bản thân họ Điều này đã tạo nên một thứ giọng điệu mới, đó chính là giọng điệu từng trải, lọc lõi được các nhà văn đúc rút kinh nghiệm để đưa vào những đứa con tinh thần của mình Chính sự cách tân, tìm tòi thể hiện giọng điệu đã giúp cho những nhà văn truyền tải được dụng ý mà họ muốn gửi gắm; đồng thời tạo nên hiệu quả nghệ thuật nhất định trong lòng bạn đọc
Tóm lại, nhờ những nỗ lực đổi mới trong nhiều bình diện ngôn ngữ, giọng điệu, cốt truyện đã giúp cho văn học Việt Nam nói chung và văn học nữ quyền nói riêng những sắc thái mới mẻ, góp phần làm nên diện mạo mới cho văn xuôi giai đoạn sau 1986 Không sai khi cho rằng văn học đang mang trên mình gương mặt nữ giới, ngày càng tinh tế, đằm thắm và bao dung
Trang 281.2 HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA ĐOÀN LÊ
1.2.1 Hành trình sáng tạo nghệ thuật của Đoàn Lê
Đoàn Lê tên thật là Đoàn Thị Lê, bút danh khác là Hạ Thảo, sinh ngày
15 tháng 4 năm 1943 tại thành phố Hải Phòng Bà sinh trưởng trong một gia đình nhà nho có nghề thuốc gia truyền Ngày từ khi ngồi trên ghế giảng đường, Đoàn Lê đã thể hiện tài năng văn chương của mình khi thường xuyên
có nhiều bài thơ đăng báo Tiêu biểu bài thơ Bói hoa của Đoàn Lê được rất nhiều bạn bè thời ấy yêu thích và truyền tay nhau: “Ngày xưa em ngây thơ/
Ngồi bói hoa hồng nở/ Đoán tình yêu sau này/ Vẹn tròn hay dang dở…”
Trong sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật, Đoàn Lê tham gia nhiều lĩnh vực như diễn viên, thiết kế mỹ thuật, biên kịch, đạo diễn, nhà văn Ở phương diện sáng tạo nào, Đoàn Lê cũng tạo được cho mình nét đặc sắc riêng khó nhầm lẫn Đến và sống với điện ảnh suốt cả cuộc đời, Đoàn Lê ghi lại dấu ấn trong
lòng người yêu điện ảnh bằng vai diễn cô giáo Hồng Vân trong phim Quyển
vở sang trang của đạo diễn Nguyễn Ngọc Chung Sau đó Đoàn Lê lui về hậu
trường làm biên kịch và đạo diễn phim Những tác phẩm của bà như: Bình
minh xôn xao, Song nữ, Nước mắt của biển, Niết bàn rực cháy, Cái chết của
Hồ Xuân Hương, Giọt nước mắt thiêng, Người cầu may… đều là những tác
phẩm văn học chuyển thể thành công sang điện ảnh Không những vậy, với
tác phẩm Làng vũ đại ngày ấy, Đoàn Lê còn là một trong những số ít đạo diễn
chuyển thể thành công tác phẩm của Nam Cao sang điện ảnh Niềm đam mê
và thái độ sáng tạo nghệ thuật nghiêm túc, Đoàn Lê đã nhận được những giải
thưởng xứng đáng: Con Vá giải Bông sen Bạc tại Liên hoan phim toàn quốc,
Chim bìm bịp đạt Huy chương bạc trong Liên hoan phim truyền hình toàn
quốc Hội họa cũng được xem là lĩnh vực đem lại danh tiếng cho Đoàn Lê Tranh của bà người ta thấy được sự thanh thoát, trong trẻo toát lên từ niềm
Trang 29đam mê và tôn sùng cái đẹp, mặc nhiên không thấy sự vẩn đục dù Đoàn Lê phần lớn vẽ tranh “nude” về phụ nữ Có thể nói, hội họa là mảnh đất mà Đoàn
Lê dạo chơi nhưng lại trở thành cái duyên lớn gắn với cả cuộc đời nghệ thuật của bà
Thử sức trên nhiều hoạt động nghệ thuật như diễn viên, thiết kế mỹ thuật, biên kịch, đạo diễn, hội họa nhưng rồi với văn chương mới thật sự là sở trường của người phụ nữ đa tài đất Cảng Khi đến với văn chương, Đoàn Lê mới thật sự được nhiều người biết tới Lắng mình sau những ồn ào, xô bồ của cuộc sống cùng với những kinh nghiệm có được từ điện ảnh, hội họa hay kiến thức chữ Hán mà bà từng tự học đã trở thành nguồn tư liệu quý báu, cảm hứng nghệ thuật vô tận cho nhà văn Đoàn Lê Trong những tác phẩm của mình, Đoàn Lê luôn nỗ lực dành sự sáng tạo không ngừng cho từng trang văn
với những tác phẩm tiêu biểu: Cuốn gia phả để lại (tiểu thuyết - 1990), Người
đẹp và đức vua (Tiểu thuyết - 1991), Thành hoàng làng xổ số (Tập truyện
ngắn - 1992), Lão già tâm thần (Tiểu thuyết -1993), Trinh tiết xóm Chùa (tập truyện ngắn - 2005), Tiền định (Tiểu thuyết - 2010), Và Sex (tập truyện ngắn – 2010), Đoàn Lê – Tác phẩm chọn lọc (tập truyện ngắn, 2011)… Ngay từ khi
mới ra mắt, những tác phẩm trên đã tạo được hiệu ứng nhất định trong lòng
bạn đọc; tiêu biểu nhất là tiểu thuyết Cuốn gia phả để lại đã đạt được giải
thưởng của Hội nhà văn Việt Nam Cùng với đó là những giải thưởng văn
xuôi cho truyện ngắn Đêm ngâu vào của Tạp chí Sông Hương; Tạp chí Tác
phẩm mới trao tặng giải nhất cho tác phẩm Hạt vừng của nhà văn Đoàn Lê
Gần đây nhất tiểu thuyết Tiền định của bà lọt vào chung khảo giải thưởng văn
Bách Việt năm 2009 Một số tập truyện ngắn của Đoàn Lê như Nghĩa địa xóm Chùa (1999), Trinh tiết xóm Chùa (2005) cũng được dịch ra tiếng Anh và
xuất bản ở nước ngoài Đây quả là những thành công mà không phải nhà văn
Trang 30nào cũng gặt hái được Đó cũng là phần thưởng vô cùng quý giá trong cuộc đời hoạt động và sáng tạo văn chương của Đoàn Lê
Trong những tác phẩm đã cho ra mắt của Đoàn Lê, tiểu thuyết Cuốn gia
phả để lại được xem là tác phẩm giúp Đoàn Lê “phát hiện lại mình” [44] Tác
phẩm viết về xung đột của cả dòng họ Trần Văn, khi dòng họ này may mắn (hay là bất hạnh) có một ông tổ là danh nhân Nỗi khổ của vợ chồng anh con trưởng Tự - Mỗ, người tạm thời trong coi miếu thờ khi chống chọi lại cả một dòng họ, làng xã Câu chuyện khép lại dù vấn đề vẫn còn bỏ ngỏ song qua đó Đoàn Lê đã gửi gắm đến thông điệp: “Giữ lòng thờ kính, tổ tiên, gia tộc, nhưng chớ lợi dụng chia bôi danh tiếng, chớ nấp bóng quá khứ để vụ lợi, vì
vụ lợi mà đi đến cảnh nồi da xáo thịt…” [24, tr.175] Với những ý nghĩa nhân văn đó, tác phẩm đánh dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp văn chương của Đoàn Lê, giúp bà gia nhập vào Hội Nhà văn Việt Nam
Bên cạnh đó, Đoàn Lê còn có một loạt truyện ngắn viết về xóm Chùa rất đặc sắc Những câu chuyện bình dị, đơn giản trong cuộc sống và rất người
thật, đời thật có thể kể đến như: Xóm Chùa Ông, A tourisne xóm Chùa, Trinh
tiết xóm Chùa, Nghĩa địa xóm Chùa, Xóm Chùa thời ung thư, Giường đôi xóm Chùa, Đất xóm Chùa, Người đẹp xóm Chùa… Trong những tác phẩm đó,
Đoàn Lê đã đề cập đến một làng quê Việt Nam yên bình ngày nào giờ phải đối mặt với biết bao tệ nạn mại dâm, ma túy, tình nghĩa anh em làng xóm mất
đi từ các cơn sốt đất, sự tha hóa lòng tham của bộ phận cán bộ biến chất… Thông qua loạt truyện ngắn viết về xóm Chùa, Đoàn Lê đã đưa đến cho người đọc sự thức tỉnh và những trăn trở, suy nghĩ về xã hội nông thôn Việt Nam Đây quả là những tác phẩm ghi dấu ấn khi đề cập đến “quyền con người, khảo sát những bí ẩn tinh tế của trái tim con người” [44]
Gần đây nhất, Đoàn Lê cho ra mắt cuốn tiểu thuyết mang hơi hướng tự
truyện có tên Tiền định Ở từng trang văn Đoàn Lê dường như gửi mọi truân
Trang 31chuyên của mình vào đó và dùng ngòi bút nghệ thuật tinh tế giải mã, khám phá những bí ẩn, tầng sâu khuất trong tâm hồn Tác phẩm đưa người đọc đến những trăn trở về số phận, cuộc đời “Phải chăng? Mỗi con người sống đều có
số phận riêng, có sự can thiệp, quyết định của một thế giới tâm linh nào đó, vì
vậy mà những gì con người làm, cố gắng đều không thể tránh khỏi Tiền định”
[47]
Có thể nói, văn xuôi Đoàn Lê đem đến cho người đọc cái nhìn khá sâu sắc những khía cạnh sâu thẳm của đời sống giai đoạn đầu Đổi mới Với việc dẫn dắt từng câu chữ nhằm khơi gợi mọi hỉ - nộ - ái - ố của cuộc đời, cùng với những giá trị nội dung và nghệ thuật sâu sắc gửi gắm qua từng tác phẩm, Đoàn Lê đã dần chứng tỏ được tài năng cũng như cá tính sáng tạo độc đáo của mình Trải qua nỗi truân chuyên của cuộc đời, giờ đây Đoàn Lê bỏ lại sau lưng mọi thứ và quay trở về đất xưa Hải Phòng chọn cho mình một nơi thanh bình yên tĩnh bên cạnh em gái, nhà thơ Đoàn Thị Tảo Bà vẫn vẽ tranh, vẫn ra sách thường xuyên cứ như càng có tuổi, đã chiêm nghiêm đủ mất mát, đau thương của cuộc đời bà càng có nhiều năng lượng để sáng tác, cống hiến cho nghệ thuật Tổng kết cuộc đời đa tài, đa đoan của Đoàn Lê, em gái bà - nhà thơ Đoàn Thị Tảo đã viết nên những câu thơ bao quát được gần như trọn vẹn
số phận truân chuyên của bà:
Hoàng hôn giật mình Quỹ đời tiêu gần hết Chút thời gian còn loay hoay tổng kết Thừa: mồ hôi nước mắt
Thiếu: Hạnh phúc nụ cười
(Chặng cuối)
Trang 321.2.2 Quan niệm nghệ thuật của Đoàn Lê
Theo Từ điển Thuật ngữ văn học: “Quan niệm nghệ thuật là sự lý giải,
cắt nghĩa, sự cảm thấy con người được hóa thân thành các nguyên tắc, biện pháp thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật trong đó” [10, tr.273] Văn học từ ngàn xưa luôn coi nhiệm vụ và mục đích cơ bản của mình là khám phá, phát hiện, nhận thức
và bảo vệ con người “Văn học là nhân học” (M.Gorki), con người luôn là trung tâm trong cái nhìn nghệ thuật của nhà văn về thế giới Đối với văn học, quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn được coi là tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá giá trị nhân văn của văn học, là cơ sở chắc chắn nhất để nghiên cứu tính độc đáo của các tác phẩm nghệ thuật Nhà văn với tư cách là chủ thể sáng tạo thường bộc lộ cá tính rõ nét nhất nhằm mang lại dấu ấn riêng cho đứa con tinh thần của mình để chúng trở thành một sinh thể sống trong lòng bạn đọc Chính vì vậy, khám phá quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn chính là cách đánh giá và khẳng định đúng đắn những giá trị và thành tựu của họ Nếu như trong văn học trung đại, quan niệm nghệ thuật về con người xoay quanh con người vũ trụ, con người đạo đức ; văn học trước 1986 xoay quanh con người của cộng đồng, của lịch sử thì văn học Việt Nam sau
1986 lại đào sâu vào quan niệm con người cá nhân phức tạp, đầy bí ẩn Văn học bắt đầu tìm hiểu con người ở nhiều phương diện: Con người trong mối
quan hệ quy chiếu của lịch sử (Cơn giông – Nguyễn Minh Châu, Gặp gỡ cuối
năm – Nguyễn Khải, Đất trắng – Nguyễn Trọng Oánh, Họ cùng thời với những ai – Thái Bá Lợi)… Nhiều tác giả đặc biệt quan tâm đến con người
lưỡng diện (Tướng về hưu – Nguyễn Huy Thiệp, Mùa đông ấm áp – Nguyễn Thị Thu Huệ, Anh thợ chữa khóa – Ma Văn Kháng)… hay con người phàm tục, đời thường (Không có vua – Nguyễn Huy Thiệp, Đồng đô la vĩ đại – Lê Minh Khuê, Đất xóm Chùa – Đoàn Lê, Bến không chồng – Dương Hướng,
Trang 33Thiên sứ – Phạm Thị Hoài)… Cũng chính từ sự rộng mở trong quan niệm về
con người trong văn học sau 1986, văn học dần lóe lên những cây bút tài năng mới cùng nhiều tác phẩm tạo tiếng vang
Quan sát những tác phẩm của Đoàn Lê, ta bắt gặp quan niệm nghệ thuật mới mẻ của bà trên một số phương diện: quan niệm con người gắn với đời sống tâm linh, con người tự nhận thức và quan niệm con người song hành cùng cái đẹp
Theo Từ điển tiếng Việt: “Tâm linh là khả năng đoán trước những điều
sắp xảy ra theo quan niệm duy tâm” [40, tr.264] Có thể nói, yếu tố tâm linh thuộc về những quan niệm đa chiều, phức tạp và mục đích chính là nhìn nhận
ở chiều sâu nhằm làm nổi bật bản chất con người Ở đó, nhà văn đã hướng con người đến những sức mạnh bí ẩn, những đối tượng siêu thực và hành động của nó khó giải thích được Đôi khi, nhà văn bộc lộ niềm tin của mình
vào các thế lực siêu phàm Trong truyện ngắn Giao cảm cuối cùng, sau cái
chết của người chị gái và những bất ngờ dần hé lộ, nhân vật chính tin rằng giữa con người có những linh cảm tâm linh khó lý giải: “Khi người ta thật sự
là một nửa của nhau, có nghĩa bao gồm cả phần tâm linh như thế cơ…” [15,
tr.232] Hay như trong tiểu thuyết Tiền định, nhân vật Chín luôn tin rằng
những điều xảy ra trong cuộc sống đều có sự sắp đặt của bàn tay thượng đế, tất cả không thể thoát được tiền định Ngay từ khi bắt đầu câu chuyện cuộc đời mình cô Chín đã tin vào một sức mạnh mà cô không hiểu nổi: “Khởi đầu
là do sự tình cờ hay sự sắp đặt của định mệnh, đến giờ này cô cũng không thể
lý giải được” [14, tr.11] Đến phút cuối của cuộc đời, nhân vật cũng thốt lên:
“Sự lỡ này có phải cũng nằm trong tiền định?” [14, tr.312] Đối với tâm linh,
có lẽ Đoàn Lê vừa thật sự có niềm tin vào đó, vừa là sự mơ hồ, khó lý giải giữa các cảm giác Đôi khi xuất hiện trong tác phẩm của bà còn là sự thông linh giữa người sống và người chết, giữa cõi âm và cõi dương Trong truyện
Trang 34ngắn Mẹ, con và thánh thần, nhà văn đã thể hiện sự giao thoa bằng cuộc trò
chuyện của người mẹ và đứa con trai đã mất Hai con người ở hai thế giới
cùng tâm tình về những mất mát đã trải qua và người mẹ tin rằng đó là một
cuộc đối thoại hiện hữu thực sự: “Thánh thần chứng cho mẹ, rõ ràng mẹ mơ
hồ nghe thấy tiếng con cười” [15, tr.305] Trong truyện ngắn Chờ nhật thực,
nhà văn cũng thể hiện quan niệm con người gắn với đời sống tâm linh thông
qua giấc mộng: “Tôi tin rằng nhất định em sẽ về, sẽ báo hiệu cho tôi biết sự
có mặt của em bên tôi…Tôi giật mình khi bóng dáng em lùi ra cửa ban công
tan biến dưới lớp bụi mờ” [15, tr.34-39] Trong tiểu thuyết Tiền định, Chín
giật mình giữa đêm, nghe tiếng cười nói văng vẳng: “Con kéo hết, con chơi
nhé! Con kéo hết, con chơi nhé!” [14, tr.96] Tiếng nói nghe quen thuộc vang
lên trong đêm và nhân vật tin rằng đó “rõ ràng không phải là người” [14, tr.96] Trong sáng tác của Đoàn Lê, quan niệm con người gắn với đời
sống tâm linh như là phương thức nghệ thuật để nhân vật tìm kiếm sự bình
yên sau những lo âu, vấp ngã và từ đó tìm kiếm đường đi đúng đắn sau những
lần lạc lối
Cùng với sự thay đổi trong nhận thức của nhà văn về cuộc sống, là sự đi
kèm với quan niệm con người tự nhận thức thể hiện qua nhiều tác phẩm Với
quan niệm “con người không trùng khít với chính nó”, các nhân vật thể hiện
sự mâu thuẫn khó lý giải ngay trong chính bản thân con người Ở đó, ta bắt
gặp chân dung những nhân vật tự nhận thức cuộc sống, thời cuộc và hơn cả là
nhận thức lại chính bản thân họ Nhân vật nữ trong Cổ tích Manơcanh nhận
thức bản chất xã hội mà nhiều người vẫn nhận thấy hiện hữu trong cuộc sống
Là sự dối trá, lừa lọc nhau của con người, đó là cái xã hội mà ai cũng như
những con manơcanh vô hồn và tự đeo mặt nạ cho mình: “Có những con
người thích giấu mặt như mấy ông thầy dùi chính trị, lại có những ông giấu
mặt theo dõi hành vi những ông thầy dùi ấy, lại có những ông giấu mặt mưu
Trang 35toan hất thủ trưởng, thủ phó cơ quan, lại có những anh tình nhân giấu mặt diệt
tình địch” [15, tr.21]… Ở tiểu thuyết Tiền định, Đoàn Lê lại để nhân vật của
mình tự nhận thức về xã hội thời kỳ cách mạng ruộng đất “Hiện bên ngoài đang thuộc chính thế nào? Là ta hay địch? Không lẽ vừa giành độc lập, cụ Hồ lại cho phép bắt bỏ tù toàn những đảng viên Cộng sản trung kiên như mình, kết tội Quốc dân đảng ư? Vậy đảng cầm quyền hiện thời có lẽ là một Đảng nào khác chăng?” [15, tr.286] Biết bao nhiêu cái chết oan ức do thời kỳ cải cách ruộng đất ở miền Bắc diễn ra, Đoàn Lê đã mạnh dạn tái hiện lại một
cách chân thực những sai lầm của đất nước sau Đổi mới Tiểu thuyết Cuốn
gia phả để lại lại thể hiện sự nhận thức của nhân vật về cuộc sống mới muôn
màu sau khi Đảng và nhà nước kịp thời khắc phục những sai phạm trong cải cách ruộng đất Giờ đây hiện thực lại bày ra trước mắt những mối quan hệ phức tạp trong gia đình, làng xóm, họ hàng Dường như xã hội đang bị đảo lộn khi mọi giá trị tinh thần đều bị xem nhẹ, thay vào đó là sức mạnh của đồng tiền, danh vọng khiến con người không từ bất cứ thủ đoạn nào “Thời kỳ
ấy vợ chồng ông cháu đang lục đục mạnh Chị vợ từng nện vào mặt chồng cái gáo sắt khiến máu me chảy đầm đìa” [14, tr.57] hay cao điểm hơn “vụ anh trai nửa đem khóa trái cửa, tưới xăng đốt chết cả gia đình mình lẫn gia đình em ruột, vì tranh chấp hai mét vuông nhà” [14, tr.58] Bằng ngòi bút miêu tả quyết liệt và mạnh mẽ, nhân vật tự nhận thức trong sáng tác của Đoàn Lê đã phơi bày những góc khuất trong xã hội, từ đó đem đến cho người đọc những cái nhìn đa chiều
Ngoài ra, trong văn xuôi Đoàn Lê, có thể thấy rõ quan niệm nghệ thuật
về con người luôn được nhìn nhận bằng sự song hành của con người với cái đẹp “Sáng tạo nghệ thuật vốn là lĩnh vực đặc thù của sự tìm tòi và thể hiện cái đẹp, là lĩnh vực biểu hiện sự phát triển phong phú về tinh thần của cá nhân con người” [4, tr.30] Với quan niệm “cái đẹp cứu rỗi thế giới”, mảnh đất văn
Trang 36học nghệ thuật trở thành nơi màu mở chắp cánh cho các nhà văn bay cao, bay
xa và tự do sáng tạo, thể hiện quan niệm hay cá tính nghệ thuật của mình Đoàn Lê có một tình yêu và niềm đam mê với cái đẹp, đặc biệt là cái đẹp toát lên từ người phụ nữ Bắt nhịp xu thế thời đại, người phụ nữ ngày nay không phải chỉ đẹp về nhan sắc mà còn toát lên từ trí tuệ, đạo đức, cách đối nhân xử thế trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày Ta có thể thấy những hình tượng dung dị, gần gũi nhưng đầy sức hút trong sáng tác của nhiều tác giả nữ như: Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Di Li, Võ Thị Hảo, Dạ Ngân, Lê Minh Khuê… Đối với Đoàn Lê, như bà đã từng tâm sự: “Phụ nữ và hoa là hai thứ đẹp nhất trên đời” [56] Đoàn Lê thường dùng những từ ngữ đẹp nhất dành cho những người phụ nữ trong tác phẩm của mình: “Cô gái nằm bên bờ dầm chỉ một mảnh lụa trắng che sơ sài qua người, gương mặt thật ngây thơ thánh thiện một màu xanh cây lá chủ đạo Đóa hoa cô gái cầm trên tay, nàng
vẽ chìm đi như khiêm nhường trước vẻ đẹp thân tân thiếu nữ (…) ta muốn giữ lại bức tranh này để kỷ niệm cho một lần tạo hóa đã sinh ra một vẻ đẹp đến
thế” [14, tr.296] Không dưới một lần, Đoàn Lê bày tỏ quan điểm của mình về
cái đẹp dành cho phụ nữ trong nhiều tác phẩm Có khi bà vận dụng câu châm ngôn nổi tiếng để bộc lộ quan điểm của mình: “Không có người phụ nữ xấu, chỉ có phụ nữ không biết cách làm đẹp mà thôi” [15, tr.101] Đôi khi lại thể hiện sự xót xa, nỗi lo sợ vẻ đẹp thiếu nữ trước quy luật của thời gian: “Hình như nàng tiếc thương những vẻ đẹp tuyệt mĩ, những vẻ đẹp chả bao lâu rồi sẽ bảy nổi ba chìm cho đến lúc tàn héo” [14, tr.292] Điều này cũng được Đoàn
Lê thổ lộ trong một bài phỏng vấn: “Mỗi khi ngắm nhìn những cô gái đẹp khoả thân tôi như bị hút hồn, người tôi run lên vì sợ một ngày nào đó thời gian sẽ tàn phá mất những nét đẹp thiên phú này Vì thế nên tôi phải vẽ lại để gìn giữ sự quý giá ấy cho thế hệ mai sau” [56] Chính vì tình yêu dành cho cái đẹp, Đoàn Lê luôn tỏ ra bênh vực, cảm thông những vẻ đẹp bị dòng đời đẩy
Trang 37vào kiếp buôn phấn bán hương: “Sao trời bắt tội những vẻ đẹp cứ phải lầm cát bụi? Nếu là nghiệp chướng, là nhân quả, những cô gái kia đã làm gì kiếp trước để bị trừng phạt khốn khổ đến vậy ở kiếp này” [14, tr.295] Trong mắt nhìn của Đoàn Lê, không có người phụ nữ nào xấu mà họ chỉ bị dòng đời nghiệt ngã xô đẩy buộc phải làm những điều đáng chê trách Cũng là một kiếp hồng nhan, Đoàn Lê hiểu hơn ai hết về nỗi khó khăn, vất vả mà họ phải gánh chịu, từ đó bà đưa họ vào tác phẩm một cách chân thực nhất “Tôi cũng là phụ
nữ nên tôi biết rất rõ những nét đẹp của người phụ nữ và toàn tâm toàn ý mô
tả lại cho mọi người chiêm ngưỡng” [56] Quan niệm về cái đẹp như đã ngấm vào con người và sáng tác của Đoàn Lê, giúp bà đôi khi xoa dịu được những điều mất mát mà mình phải gánh chịu, bởi như có người đã nói: “Một phụ nữ
đa đoan, đa tình như bà, làm sao tránh khỏi những vết thương… Có điều, bà ít tâm sự về những nỗi đau, chỉ hay nhắc đến những điều đẹp đẽ” [49]
Có thể nói, quan niệm nghệ thuật về con người đã chi phối mạnh mẽ đến quá trình sáng tạo nghệ thuật của Đoàn Lê Thông qua những biểu hiện về quan niệm nghệ thuật trong sáng tác của Đoàn Lê, ta nhận thấy sự tinh tế, nhạy cảm, bao quát của nhà văn về con người và đời sống xã hội Hơn tất cả, Đoàn Lê đã có nhiều tìm tòi nhằm tạo sự phù hợp hiệu quả trong cách thể hiện con người theo quan điểm của mình Phải chăng chính vì vậy, những sáng tác của Đoàn Lê đã ít nhiều để lại ấn tượng khó phai trong lòng người đọc
Bên cạnh đó, quan niệm của mỗi nhà văn về văn chương, về nghề nghiệp chính là kim chỉ nam định hướng cho sáng tác của họ Những thành công hôm nay của Đoàn Lê có thể được lý giải ngay từ trong suy nghĩ nghiêm túc và tinh thần nỗ lực sáng tạo không ngừng của nhà văn Đoàn Lê quan niệm: “Tôi chưa bao giờ nghĩ và cho rằng mình là thế này, thế kia Vận động là quy luật của cuộc sống, mình cũng không ra khỏi quy luật nghiệt ngã của cuộc sống,
Trang 38chỉ có điều ở mỗi người, mỗi số phận phải bươn chải ra sao để tồn tại mà thôi Tôi là một phụ nữ, như nhiều người hay nói, đa đoan Viết văn cũng là lẽ tự nhiên trong con người tôi, còn thành công đến đâu là do cuộc đời phán xét Tôi thường viết những gì mình đã trải qua, trải nghiệm, may nhận được sự ủng hộ của các nhà văn và công chúng” [50] Như vậy, trước và sau khi cầm bút, Đoàn Lê đã xác định muốn đưa văn chương của mình đến với độc giả thì phải viết bằng chính tâm hồn, trải nghiệm của chính mình Rõ ràng trong những sáng tác của Đoàn Lê, thể hiện khá rõ cái đích nghệ thuật nhà văn chân chính muốn hướng tới Tuy nhiên, Đoàn Lê cũng hiểu được để viết nên những trang văn từ chính con người, cuộc đời của mình là điều không phải dễ Đó là
cả một quá trình tự vấn, chiêm nghiệm của bản thân, như nhà văn đã từng chia sẻ: “Viết văn xuôi nó day dứt đau đớn lắm” [36, tr.41] Đoàn Lê luôn mong muốn tác phẩm của mình mang những tình cảm chân thật, dung dị nhất
có thể và điều đó thể hiện khá rõ trong sáng tác của bà (Tiền định, Cuốn gia
phả để lại, Mẹ, con và thánh thần, Giường đôi xóm Chùa… ) Xuất phát từ
quan niệm văn chương phải từ những kinh nghiệm đã trải qua, Đoàn Lê sử dụng văn chương như vũ khí trên mặt trận chống lại cái ác, cái xấu xa mà nhà văn nhận thấy đang từng ngày tung hoành trong xã hội Quan niệm này được minh chứng qua loạt truyện viết về xóm Chùa của Đoàn Lê, như Tiến sĩ Nguyễn Lân Dũng từng nói: “Nữ sĩ Đoàn Lê đã làm cho người đọc không thể không khắc khoải suy nghĩ và lo âu cho nông thôn nước ta trước những diễn biến đi ngược lại với truyền thống nhân văn, nhân ái qua hàng nghìn năm qua” [43]
Đoàn Lê tham gia khá nhiều lĩnh vực nghệ thuật, trong đó văn chương đem lại cho bà danh tiếng tài hoa nhất Không phủ nhận điều này, Đoàn Lê thừa nhận: “Văn chương mở ra những con đường cho ta đi vào những lĩnh vực khác nữa” [46] Để chứng minh cho điều mình nói, trong khá nhiều sáng
Trang 39tác của Đoàn Lê, nhà văn lồng vào đó tình yêu dành cho các lĩnh vực như hội
họa, điện ảnh (Cuốn gia phả để lại, Tiền định, Ngôi sao đỏng đảnh, Và Sex,
Chốn sơn khê…) Có thể nói, với Đoàn Lê sáng tạo văn chương là mảnh đất
màu mỡ để con người tự khám phá chính mình trên nhiều phương diện
Trong lĩnh vực văn chương, Đoàn Lê đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực truyện ngắn Với bà: “Truyện ngắn là sự tinh lọc của ngôn ngữ nên đòi hỏi phải công phu, không thể đùa được Khi viết tôi quan tâm đến số phận con người… Cái kết trong truyện ngắn là cực kỳ quan trọng, nếu bỏ nó đi coi như truyện không còn nữa Còn như đón nhận của người đọc với tác phẩm thì bao giờ cũng là điều bí ẩn, ít ra là đối với tôi” [58] Quan niệm này được đưa vào trong hầu khắp những truyện ngắn của Đoàn Lê Tác phẩm của bà luôn đặc biệt chú ý đến thân phận con người, những gì thuộc “về quyền con người, khảo sát tất cả những gì bí ẩn, tinh tế của trái tim con người” [16, tr.18]
Văn chương tuy rộng, nhưng chật cứng nhân tài, cầm bút lên là thấy bao nhiều ngòi bút sừng sững trước mặt Vì thế cần người viết phải suy ngẫm, phải học hỏi, tìm tòi, đổi mới không ngừng Nói như Nguyễn Hưng Quốc: “Đức tính lớn nhất của người cầm bút chính là sự táo bạo Không có sự táo bạo nào là không cần thiết Không táo bạo không thể sáng tạo Trong lĩnh vực văn học người giỏi xông thẳng vào bụi rậm và gai góc để lần mò một lối đi riêng bao giờ cũng có triển vọng đi xa hơn những kẻ khôn ngoan phúng mỡ theo những lối mòn có sẵn Ở đây người ta chỉ ghi nhận thành tích của những người trèo lên đỉnh núi cao, dẫu trèo một cách chậm chạp, ì ạch, khổ sở, thậm chí có khi còn thất bại” [55] Tinh thần cầu thị và duy lí trong quan niệm về nghề này, đã tạo nên một gương mặt dung dị nhưng không kém phần cá tính: Đoàn Lê
Trang 40CHƯƠNG 2
CHÂN DUNG CUỘC SỐNG CON NGƯỜI
TỪ THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG VĂN XUÔI ĐOÀN LÊ
2.1 THẾ GIỚI CỦA NHỮNG CON NGƯỜI TÀI NĂNG VÀ KHÁT VỌNG SỐNG CAO ĐẸP
2.1.1 Con người - hiện thân của tài năng
Nhân vật trong tác phẩm văn học là một hình tượng nghệ thuật gắn với quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người, có khi “vừa mang dáng vẻ của con người thực lại vừa là sự “suy tư”, “nghiền ngẫm” về con người của nhà văn” [25, tr.41] Với trình độ, phong cách sáng tác khác nhau mỗi người
sẽ tạo nên những quan niệm nghệ thuật riêng mang dấu ấn của cá nhân họ Trong văn xuôi Đoàn Lê, hình tượng nhân vật được miêu tả trên nhiều bình diện và góc độ; trong đó hình ảnh những nhân vật là hiện thân của tài năng tiềm ẩn luôn chiếm một vị trí nhất định Nếu Nguyễn Tuân xây dựng nên kiểu nhân vật tài năng theo hướng tài hoa, tài tử - “những con người sinh ra dường như chỉ để ngắm đời, ngoạn cảnh cho giác quan được no nê thanh sắc” [22, tr.26] thì Đoàn Lê xây dựng tuyến nhân vật tài năng dựa trên những chuẩn mực của xã hội hiện đại
Thứ nhất, theo Đoàn Lê nhân vật phải là những người thể hiện được tài năng trên nhiều lĩnh vực Xuất phát từ bản thân nhà văn vốn có khả năng làm khá nhiều công việc (nhà văn, nhà thơ, hội họa, điện ảnh, biên kịch…) đã là nguồn tư liệu quý giá cho mỗi tác phẩm nghệ thuật ra đời và cũng lý giải một phần tại sao những nhân vật hiện thân cho tài năng trong văn xuôi Đoàn Lê
đều ít nhiều liên quan tới nghệ thuật (Tiền định, Chốn sơn khê, Ngôi sao đỏng
đảnh, Giường đôi xóm chùa…) Ở những tác phẩm của bà, người đọc sẽ dễ
bắt gặp những nhân vật chính đảm đương được rất nhiều công việc; bởi khi cuộc sống thử thách họ, thì các nhân vật lại càng thể hiện sự linh hoạt, thiên