Trong quyển Nhà văn hiện đại, khi viết về Khái Hưng, Vũ Ngọc Phan cũng phân tích một số nhân vật tiêu biểu trong các tác phẩm của nhà văn, trong đó có tiểu thuyết, nhưng chủ yếu là để l
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
TRẦN THÚY NGÂN
MSSV: 6106409
THẾ GIỚI NHÂN VẬT
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA KHÁI HƯNG
Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành Ngữ Văn
Cán bộ hướng dẫn: ThS NGUYỄN THỊ KIỀU OANH
Cần Thơ, năm 2013
Trang 21.3.2 Chức năng của nhân vật trong tác phẩm văn học
1.3.3 Phân loại nhân vật văn học
1.3.3.1 Xét từ góc độ nội dung tư tưởng hay phẩm chất nhân vật
2.2 Nhân vật đại diện cho quan trường hủ bại
2.3 Nhân vật đại diện cho những tư tưởng mới tiến bộ
Trang 32.3.1 Nhân vật có tư tưởng tiến bộ, phản kháng lại những hủ tục và đại gia đình phong kiến
2.3.2 Nhân vật có lí tưởng phục vụ xã hội, cải cách nông thôn
2.4 Nhân vật có lối sống buông thả, tự do phóng túng, hưởng lạc
CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG TIỂU
THUYẾT KHÁI HƯNG
3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật thông qua các chi tiết nghệ thuật
3.1.1 Miêu tả nhân vật qua ngoại hình:
3.1.2 Miêu tả nhân vật qua biểu hiện nội tâm
3.1.3 Miêu tả nhân vật qua ngôn ngữ nhân vật
3.1.4 Miêu tả nhân vật qua hành động
3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong thế đối lập
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỤC LỤC
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Vào những năm đầu của thế kỉ XX, với sự ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, nền văn học nước nhà đã có nhiều chuyển biến và đạt được nhiều thành tựu đáng kể Nếu như ở thể loại trữ tình, sự ra đời của phong trào Thơ mới đã mở ra “một thời đại trong thi ca” thì ở thể loại văn xuôi tự sự, tiểu thuyết cũng có những cách tân trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật Sự ra đời và phát triển của tiểu thuyết hiện đại đã thu hút và đáp ứng thị hiếu của số đông độc giả thời bấy giờ Đồng thời nó cũng tạo được những dấu ấn mạnh mẽ trên văn đàn Trong quá trình hình thành và phát triển tiểu thuyết hiện đại, có thể thấy rằng Tự lực văn đoàn đã có nhiều đóng góp nổi bật vào tiến trình hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam Trong đó, Khái Hưng, thành viên của nhóm đã có những đóng góp không nhỏ, góp phần hoàn thiện tiểu thuyết hiện đại Với những quan niệm mới về con người, nhà văn đã nhận ra rằng con người cá nhân cần có những quyền tự do chính đáng như tự do kết hôn, tự do định đoạt tương lai hạnh phúc của cuộc đời mình Những lễ nghi Nho giáo với những thành kiến, hủ tục hẹp hòi đã bóp nghẹt mọi quyền tự do cá nhân của con người Vì vậy với tư cách là một thanh niên trí thức mới có điều kiện tiếp xúc với văn minh phương Tây, hiểu được tâm tư nguyện vọng của phần lớn thanh niên trong thời buổi hiện tại, Khái Hưng đã chuyển
nó thành nguồn cảm hứng để sáng tác Trong hầu hết các tác phẩm, nhà văn luôn thể hiện các mối mâu thuẫn thế hệ, vấn đề xung đột mới – cũ, từ đó nhằm khẳng định quan niệm sống mới, giải phóng cá nhân ra khỏi những trói buộc của luân lý, lễ giáo phong kiến, trước hết là trong hôn nhân và đời sống gia đình
Đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, luận án, bài viết về cuộc đời và
sự nghiệp văn học của nhà văn Khái Hưng trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật Nhưng chúng tôi nhận thấy vẫn còn có nhiều vấn đề trong tác phẩm của Khái Hưng chưa được khai thác tìm hiểu, trong đó có vấn đề về hệ thống nhân vật trong tiểu thuyết của nhà văn Đối với các tác phẩm tự sự nói chung, thể loại tiểu thuyết nói riêng, nhân vật có một vị trí hết sức quan trọng Nhân vật là đối tượng trung tâm, là linh hồn của tác phẩm văn học Qua nhân vật, nhà văn bày tỏ quan điểm, tư tưởng, nhận thức,… trước cuộc đời và con người, đồng thời gửi gắm những tình cảm, suy tư,
Trang 5trải nghiệm của đời mình Mặt khác qua hình tượng các nhân vật được xây dựng trong tác phẩm cũng thể hiện được tài năng, cá tính và phong cách của nhà văn Thế nên việc tiếp cận, phân tích hệ thống nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật có ý nghĩa quyết định đối với việc đánh giá chủ đề, tư tưởng của tác phẩm Các nhân vật trong tổng thể tạo thành hệ thống của chúng là một mặt của hình thức nghệ thuật văn học, gắn liền với nội dung bằng những mối liên hệ khắng khít nhất Vì vậy khi thuyết minh
tư tưởng của tác phẩm tự sự, trước hết chúng ta cần phải hiểu chức năng của hệ thống nhân vật và nội dung ý nghĩa của nó Có thể nói không thể hiểu tư tưởng của nhà văn
nếu không hiểu về thế giới nhân vật mà nhà văn đã xây dựng nên
Xuất phát từ những lí do trên, người viết chọn đề tài nghiên cứu về “Thế giới
nhân vật trong tiểu thuyết của Khái Hưng” Đây là hướng nghiên cứu cần thiết, có thể
bổ sung những tìm tòi mới, đóng góp mới về tiểu thuyết của nhà văn trong khả năng hiểu biết của người viết Qua đó, cũng giúp người viết có thể tìm hiểu một cách hệ thống khi đi sâu khám phá những đổi mới về nội dung tư tưởng trong toàn bộ tiểu thuyết của Khái Hưng Đồng thời, giúp người viết nhận thấy được sự cách tân và phát triển về nghệ thuật trong sáng tác của nhà văn này Từ đó có thể thấy được những đóng góp đáng kể của ông trong việc mở đường cho tiểu thuyết hiện đại Việt Nam phát triển và hoàn thiện
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Khái Hưng là một trong những cây bút tiêu biểu của nhóm Tự lực văn đoàn, đồng thời cũng là một trong những nhà văn có công trong việc cách tân nền văn học Việt Nam trong thế kỉ XX trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật Chính vì sự đổi mới tư duy nghệ thuật mà tác phẩm của nhà văn đã có nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu, phê bình, đánh giá Theo thống kê, có rất nhiều bài nghiên cứu hay bài viết nói
về cuộc đời Khái Hưng, trong đó có cả những bài viết về nội dung và nghệ thuật
Trong quyển Nhà văn hiện đại, khi viết về Khái Hưng, Vũ Ngọc Phan cũng
phân tích một số nhân vật tiêu biểu trong các tác phẩm của nhà văn, trong đó có tiểu thuyết, nhưng chủ yếu là để làm cơ sở đánh giá về những mặt tích cực và hạn chế trên bình diện nội dung tư tưởng của tác phẩm Đồng thời qua đó, nhà phê bình nhận định:
“cái đặc sắc mà người ta thường thấy trong các văn phẩm của Khái hưng là sự nhận
xét rất đúng về tâm hồn nam nữ thanh niên Việt Nam” [15; tr.301] Khái Hưng là nhà
văn hiểu rõ tâm lí con người rất tinh tế, nội tâm nhân vật trong sáng tác của nhà văn
Trang 6được khai thác rất kĩ lưỡng Chính vì thế mà những “đứa con tinh thần” của ông khi vừa ra đời luôn nhận được chào đón nồng nhiệt từ phía độc giả
Đánh giá về ngòi bút tài hoa của Khái Hưng, trong Lược khảo lịch sử văn học
Việt Nam (1975), Trương Chính nhận định: “Nửa chừng xuân, Trống mái và nhất là Trống mái, nghệ thuật Khái Hưng đã chắc chắn và điêu luyện lắm Nhưng Hồn bướm
mơ tiên vẫn giữ mãi hương vị êm dịu và ngọt ngào của bông hoa đầu mùa”, “Nghệ
thuật của Khái Hưng ngày một lão luyện trong thấy Gia đình có thể xem là một tuyệt phẩm không tì vết” [1; tr.321] Trong cuốn Văn học Việt Nam sử yếu, nhà nghiên cứu
Dương Quảng Hàm đã nhận xét về Khái Hưng như sau: “Tuy vẫn có khuynh hướng xã
hội nhưng lại thiên về mặt lý tưởng và có thi vị riêng… Khái Hưng có một cách tả người và tả cảnh xác thực mà có một vẻ nhẹ nhàng thanh tú khiến cho người độc thấy cảm” [7; tr.455], khi đã xem xét, phân tích nhân vật trong tiểu thuyết của nhà văn Có
thể nói, trong tiểu thuyết của Khái Hưng, hình ảnh những thế hệ thanh niên trí thức luôn được nhà văn miêu tả với những tính cách khác nhau Đó có thể là những con người cam chịu, nhẫn nhục hay con người dám đương đầu, bức phá vượt lên số phận
để theo đuổi đam mê lý tưởng của mình… đều được nhà văn xây dựng và miêu tả hết sức thành công Vì vậy, tiểu thuyết của Khái Hưng trong thời kì này được đánh giá cao
về mặt nội dung tư tưởng: chống chế độ đại gia đình, giải phóng cá nhân, giải phóng người phụ nữ thoát khỏi cánh cửa ngục thất của chế độ đại gia đình phong kiến Vấn
đề này được Trương Chính nhận định qua tính cách, ngôn ngữ và hành động các hình
tượng nhân vật chính trong tiểu thuyết Nửa chừng xuân: “Nửa chừng xuân là cuốn
truyện ghi dấu sự phấn đấu giữa cá nhân và chế độ ấy Tác giả biện luận cho quan hệ nhân sinh mới và công bố sự bất hợp thời của những tập quán do nhiều nền luân lý cổ truyền tạo ra” [1, tr.208 - 209] Các công trình trên bước đầu mới chỉ nêu lên một số
đóng góp của tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn về tư tưởng và nghệ thuật như đấu tranh giải phóng cá nhân, nghệ thuật tả cảnh và miêu tả tâm lí nhân vật Tuy nhiên, những luận điểm nêu ra có phần đánh giá chưa tập trung đi sâu vào thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Khái Hưng
Cùng với Tự lực văn đoàn, Khái Hưng là một trong những nhà văn chịu nhiều
áp lực trước dư luận xã hội Nhiều nhà nghiên cứu đã đánh giá Khái Hưng ở nhiều góc
độ khác nhau Thậm chí giữa hai miền Nam – Bắc cũng có những quan niệm lệch nhau Những năm 1945 – 1975, do điều kiện đất nước đang trong thời kì chiến tranh,
Trang 7công việc nghiên cứu văn học tạm lắng xuống để nhường chỗ cho hoạt động tuyên truyền chính trị Tuy nhiên không vì thế mà vấn đề về Tự Lực văn đoàn, Thơ Mới ít được chú ý
Văn chương Tự Lực văn đoàn nói chung, Khái Hưng nói riêng đều được nghiên cứu ở cả hai miền với những góc độ khác nhau, nhưng chủ yếu là được đánh giá dưới góc nhìn chính trị, các tiêu chí đánh giá tác phẩm đều xuất phát từ lập trường và quan điểm giai cấp Nhìn chung, các công trình chủ yếu tập trung phê bình nội dung xã hội của tác phẩm trên phương diện chính trị, đạo đức, tư tưởng Họ có cái nhìn khắt khe đối với Tự Lực văn đoàn, cho những tác phẩm này “căn bản là bạc nhược, suy đồi” vì không cổ vũ con người hành động trong cảnh nước mất nhà tan mà “ru ngủ thanh niên” trong những chuyện tình cảm lãng mạn Trong khi hàng nghìn người đang sống chết cho một lí tưởng cao đẹp là độc lập dân tộc, giải phóng con người thì Tự Lực văn đoàn lại để cho các nhân vật của mình chìm đắm trong giấc mộng tình yêu, hạnh phúc
cá nhân Vì thế nên Tự Lực văn đoàn được xem như là “cơ hội chủ nghĩa”, “tư tưởng tiểu tư sản”, “lãng mạn thoát ly”…
Ở miền Bắc, một số công trình nghiên cứu như: Văn học Việt Nam 1930 –
1945 (1961) của Bạch Năng Thi, Phan Cự Đệ; Sơ thảo văn học Việt Nam (1964) của
Viện văn học; Tiểu thuyết Việt Nam của Phan Cự Đệ… đều nhắc đến Tự lực văn đoàn
và tiểu thuyết của Khái Hưng Tuy nhiên, sau khi nhìn nhận, phân tích về những hành
động của lí tưởng cải cách xã hội, cải cách nông thôn của các nhân vật Ngọc (Hồn
bướm mơ tiên ), Lộc (Nửa chừng xuân), Hạc và Bảo (Gia đình),… Các nhà phê bình
đều cho rằng lí tưởng đó mang màu sắc cải lương tư sản, không có tinh thần đấu tranh
giai cấp Như trong bài viết về tiểu thuyết Gia Đình, Bạch Năng Thi đã phân tích việc
làm của Hạc, Bảo mà nhận định rằng: “Cái phần không tưởng, cái phần cải lương chủ
nghĩa của tác phẩm là ở cái lý tưởng về người điền chủ “nhân đạo” ấy Cũng như Doãn, như Duy, An – nhân vật chính của “Gia đình” cảm thấy đời mình trống rỗng và
vô vị” [16; tr.259] Nhìn chung, các bài nghiên cứu này đều tỏ ra hết sức khắt khe với
những đóng góp của Khái Hưng, họ cho rằng tiểu thuyết của Khái Hưng mang nhiều màu sắc lãng mạn, đề cao cái tôi cá nhân, không có dụng dụng tích cực trong thời đại lúc bấy giờ Nhưng theo chúng tôi, những đánh giá đó quá phiến diện, phủ nhận những đóng góp của Khái Hưng trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam Bởi vì, các nhà nghiên cứu xem trọng quá vấn đề phản ánh hiện thực của tác phẩm nghệ thuật mà
Trang 8quên mất văn học lãng mạn cũng có những đặc trưng của nó Ngoài việc phản ánh những vấn đề như sự khổ cực của nhân dân, thực dân áp bức, bóc lột thì tiểu thuyết lãng mạn còn đi sâu tìm hiểu nội tâm của con người với bao dằn vặt, day dứt của thế
hệ thanh niên trí thức Và đó cũng là đội ngũ con người đáng được quan tâm trong xã hội lúc bấy giờ
Sau Đại hội Đảng lần thứ VI, sáng tác của Tự lực văn đoàn mới thực sự được độc giả và các nhà nghiên cứu tiếp nhận, nhiều công trình nghiên cứu ra đời đánh giá cao giá trị sáng tác của họ Đi sâu tìm hiểu nội dung tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, Phan
Cự Đệ trong Tự lực văn đoàn – Con người và văn chương nhận định: “So với tiểu
thuyết trước 1930, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đã đi sâu nhiều hơn vào thế giới nội tâm phong phú của con người” Tuy nhiên, ông cũng chỉ ra những hạn chế còn mắc
phải ở Tự lực văn đoàn: “Tuy nhiên, ở những tác phẩm thời kì cuối Khái Hưng, Nhất
Linh không những không đấu tranh đòi giải phóng cá nhân, mà còn có xu hướng đẩy con người vào chủ nghĩa duy tâm và định mệnh” [3; tr.380] Thời kì này chúng ta còn
ghi nhận công trình của Giáo sư Hà Minh Đức, trong lời giới thiệu Nửa chừng xuân
ông viết: “Nửa chừng xuân là cuộc tiến công vào lễ giáo phong kiến đã khẳng định
quyền tự do hôn nhân của lớp thanh niên tri thức đang được phát triển về quyền sống
và ý thức cá nhân” [5; tr.10] Tóm lại thời kì này các nhà nghiên cứu phê bình đã khai
thác giá trị văn chương của Tự lực văn đoàn cũng như Khái Hưng khá hợp lý với thái
độ công bằng và khách quan
Xét riêng về vấn đề liên quan đến thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Khái Hưng, tác giả của các công trình nghiên cứu hay bài viết bình luận đánh giá cũng chỉ phân tích các hình tượng nhân vật trong tác phẩm của ông để làm rõ một vài luận
điểm nào đó Chẳng hạn như Vu Gia với bài nghiên cứu về Khái Hưng người góp
phần xây dựng nền tiểu thuyết hiện đại, ông có phân tích nhân vật tiểu thuyết trong Nửa chừng xuân, Thừa tự, Gia đình, Đẹp nhưng chủ yếu là để khẳng định được nghệ
thuật xây dựng nhân vật của Khái Hưng, “với Khái Hưng, nhân vật tiểu thuyết là
những người của đời thường”, “Khái Hưng hiểu thế nào là nhân vật tiểu thuyết” [16;
tr.152] Hay công trình nghiên cứu của Lê Thị Dục Tú về Quan niệm về con người
trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn có đề cập đến hình tượng người phụ nữ, đặc biệt là
ở chương 2, 3 nói về “Thế giới nội tâm và Vẻ đẹp thể chất” của nhân vật Nhưng nhìn chung tác giả chủ yếu khai thác nhân vật để thấy sự đổi mới về quan niệm, tư tưởng
Trang 9của các tác giả trong nhóm Tự lực văn đoàn so với đương thời Ngoài ra thì còn có
luận án tiến sĩ của Ngô Gia Thư Bàn về tiểu thuyết của Khái Hưng, tác giả có phân
tích và phân loại thế giới nhân vật trong tác phẩm của nhà văn Nhưng dụng ý của việc phân tích này, Ngô Gia Thư nhằm muốn khẳng định những đóng góp đáng kể của nhà văn trong tiến trình hiện đại hóa văn học hiện đại Việt Nam, nên nó chỉ là một luận cứ nhỏ để củng cố cho luận điểm về những quan niệm đổi mới về con người và những
cách tân trong nghệ thuật xây dựng nhân vật
Ở trên là những công trình nghiên cứu hay bài viết có liên quan đến Khái Hưng, trong đó có những công trình khai thác đúng giá trị của tiểu thuyết của Khái Hưng và cũng không ít bài viết phản bác lại Khái Hưng Tuy số lượng bài nghiên cứu rất nhiều
và đề tài nghiên cứu cũng đa dạng nhưng chuỗi nhân vật trong tiểu thuyết của Khái Hưng vẫn chưa được khai thác và nghiên cứu rõ ràng Chính vì thế, trong đề tài này
chúng tôi sẽ cố gắng tiếp bước các thế hệ đi trước tìm hiểu “Thế giới nhân vật trong
tiểu thuyết của Khái Hưng” nhằm góp phần đáp ứng nhu cầu học hỏi của người viết,
đồng thời cũng giúp cho độc giả nhìn nhận, đánh giá Khái Hưng ở góc độ mới
3 Mục đích nghiên cứu
Với đề tài “Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Khái Hưng”, chúng tôi
muốn hệ thống hóa và phân chia các kiểu nhân vật được thể hiện trong tiểu thuyết của nhà văn Từ đó có thể hiểu được những quan điểm, lập trường của nhà văn về con người và hiện thực của thời đại mà nhà văn đang sống Đồng thời qua đó, có thể thấy được những cách tân trong việc thể hiện đề tài và các biện pháp nghệ thuật xây dựng các nhân vật trong tiểu thuyết, cũng như góp phần khẳng định những đóng góp của nhà văn trong công cuộc hoàn thiện khuôn mặt tiểu thuyết hiện đại Việt Nam
4 Phạm vi nghiên cứu
Do đề tài mà người viết chọn lựa là tìm hiểu “thế giới nhân vật trong tiểu thuyết
của Khái Hưng” nên phạm vi khảo sát sẽ giới hạn trong 12 quyển tiểu thuyết của nhà
văn, chủ yếu được in trong các tập Văn chương Tự lực văn đoàn, Văn xuôi lãng mạn
Việt Nam 1930 – 1945
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình tìm hiểu về đề tài này, chúng tôi đã vận dụng một số phương pháp sau:
Trang 10
Phương pháp phân tích tổng hợp:
Trong luận văn, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích là chủ yếu để khám phá những nét tính cách đặc trưng của từng nhân vật cụ thể, từ đó có những đánh giá khái quát đối với từng loại hình nhân vật trong hệ thống các nhân vật trong tiểu thuyết của Khái Hưng
Phương pháp loại hình:
Phương pháp này là công cụ để chúng tôi phân chia các nhân vật có những đặc điểm giống nhau vào cùng một loại Từ đó, chúng tôi xác định được vị trí và ý nghĩa của nhân vật khi đặt chính nhân vật đó trong hệ thống cùng loại hình
Phương pháp hệ thống:
Mỗi tác phẩm văn học là một chỉnh thể thống nhất về nội dung và nghệ thuật Ở mỗi nhân vật cũng có sự thống nhất giữa đặc điểm tính cách của nhân vật và nghệ thuật nhà văn xây dựng nhân vật Việc đặt nhân vật trong hệ thống chỉnh thể của tác phẩm, trong mối quan hệ hài hòa của chỉnh thể nội dung và hình thức, trong hệ thống các nhân vật cùng loại hình, trong mối quan hệ giữa nhân vật với các nhân vật khác sẽ giúp chúng tôi có được sự đánh giá chính xác hơn về giá trị tác phẩm và tư tưởng, tài năng của nhà văn
Phương pháp so sánh:
Chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh để đối chiếu giữa thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Khái Hưng với những nhân vật của các tác giả khác trong Tự lực văn đoàn để từ đó thấy được sự giống nhau và những nét riêng, độc đáo trong việc xây dựng các hình tượng nhân vật thể hiện mục tiêu, tôn chỉ của nhóm Đồng thời thấy được sự sáng tạo của nhà văn qua việc thể hiện các nhân vật
Trang 11PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Vài nét về tác giả và tác phẩm
Khái Hưng (1896 – 1947) tên thật là Trần Dư, nhưng ông thêm chữ Khánh
thành Trần Khánh Dư để giống vị tướng Trần Khánh Dư đời Trần Bút danh Khái Hưng của ông là được ghép từ các chữ cái của tên Khánh Dư mà có Ngoài ra, tác giả còn có bút danh khác là Nhị Linh
Khái Hưng xuất thân trong một gia đình quan lại ở xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, Hải Dương, nay thuộc tỉnh Hải Phòng Thân phụ của ông là Trần Mỹ, đỗ cử nhân
Hán Học, giữ chức Tuần phủ Thái Bình Cụ có tập thơ Cổ phần lai khúc, đăng báo
Nam Phong năm 1919 Cụ Trần Mỹ có tới năm người vợ, nên rất đông con Khái
Hưng là con bà vợ cả và là anh trai cùng cha khác mẹ của nhà văn Trần Tiêu, tác giả
của các tác phẩm Con trâu, Chồng con, Năm hạn, Sau lũy tre vào thập niên 1940
Nhạc phụ của Khái Hưng là cụ Lê Văn Đính (nguyên mẫu nhân vật cụ án Báo trong
tiểu thuyết Gia đình) Cụ cũng xuất thân trong gia đình khoa bảng, cũng là cử nhân
Hán học và từng làm Tuần phủ, Tổng đốc, rồi Thượng thư Như vậy, cả thân phụ và nhạc phụ của Khái Hưng đều là đại quan, đều làm công chức cho Pháp, nhưng có gốc văn hoá cũ Với xuất thân như thế, Khái Hưng vừa có điều kiện được tiếp thu những văn hóa truyền thống của Nho giáo, vừa có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với tư tưởng, ý thức, nếp sống và văn hoá phương Tây Đồng thời nhà văn cũng đã trải nghiệm cuộc sống đại gia đình với biết bao hủ tục, luật lệ phiền toái, lạc hậu Nhưng mặt khác trong hai đại gia đình Trần - Lê của ông cũng còn phảng phất dấu ấn đẹp của văn hoá cổ truyền Việt Nam Điều đó khiến ông không thể dễ dàng phủ nhận sạch trơn những giá trị tốt đẹp của nền văn hóa Hán học xưa cũ
Thuở nhỏ, Khái Hưng học chữ Nho, 12 tuổi mới theo Tây học nhưng rất giỏi Pháp văn Ông đã được Hội Trí tri Nam Định trao tặng giải nhất cho bản dịch vở hài
kịch Les Pleideurs của Racine (1923) Năm 1927, sau khi đậu tú tài Pháp phần một
(ban triết học), Khái Hưng không tiếp tục học để ra làm quan như đa số bạn học cùng thời hay như gia đình ông Tác giả đi Ninh Giang buôn dầu, nhưng không thành công Sau đó, ông lên Hà Nội dạy học tại trường tư thục Thăng Long, một trường nổi tiếng
Trang 12lúc bấy giờ Và trong thời gian dạy học ở đây, Khái Hưng đã gặp Nhất Linh và tham gia Tự Lực văn đoàn do Nhất Linh thành lập Đây cũng là bước ngoặt quan trọng trong
sự nghiệp văn chương của tác giả
Khái Hưng bắt đầu sự nghiệp viết văn khá muộn Nhưng chỉ trong khoảng 10 năm, ông đã sáng tác một số lượng tác phẩm đa dạng về thể loại, với 12 quyển tiểu thuyết, 8 truyện ngắn, phê bình, kịch vui,…
Tiểu thuyết: Hồn bướm mơ tiên (1933), Gánh Hàng hoa (1934) viết chung với Nhất Linh), Nửa chừng xuân (1934), Tiêu sơn tráng sĩ (1934), Đời mưa gió (1934, viết chung với Nhất Linh), Trống mái (1935), Gia đình (1936), Thoát ly (1937), Thừa
tự (1938), Đẹp (1939), Hạnh (1939), Băn khoăn (Thanh đức) (1943)
Truyện ngắn có các tác phẩm: Tiếng suối reo (1935), Dọc đường gió bụi (1936), Đợi chờ (1938), Hạnh (1938), Cái ấm đất (1940), Đội mũ lệch (1941), Anh
phải sống (1943, viết chung với Nhất Linh), Cái ve (1944),
Kịch: Tục lụy (1937), Cóc tía (1940), Đồng bệnh (1942)
Ngoài ra, nhà văn còn viết truyện ngắn cho thiếu nhi và còn là một dịch giả có tài Tuy nhiên, thành công nhất của Khái Hưng là ở lĩnh vực tiểu thuyết Mở đầu cho
văn nghiệp của ông là tiểu thuyết tình yêu lí tưởng với các tác phẩm như: Hồn bướm
mơ tiên, Gánh Hàng hoa, Nửa chừng xuân Sau đó nhà văn viết một số tiểu thuyết
phong tục với nội dung nghiêng về phản ánh hiện thực như: Gia đình, Thoát ly, Thừa
tự Thời kỳ cuối, Khái Hưng viết một số tiểu thuyết tâm lí như: Hạnh, Đẹp, Băn khoăn,… Nhận xét về chặng đường tiểu thuyết của Khái Hưng, Hà Minh Đức nhận
xét: “Giàu chất lãng mạn ở thời kì đầu, giá trị hiện thực tăng nhiều ở chặng giữa, và ở
giai đoạn cuối thì pha tạp với chủ nghĩa hiện đại” [5; tr.5] Như vậy, Khái Hưng xứng
đáng là một trong hai trụ đồng của Tự lực văn đoàn Bởi hầu hết các tác phẩm của ông đều cổ vũ cho cái tôi cá nhân tự do đấu tranh chống lại những luật lệ cổ hủ của lễ giáo phong kiến Ông rất gương mẫu trong việc thực hiện tôn chỉ của nhóm Đồng thời cũng ý thức mở rộng đề tài làm phong phú hơn nền văn học nước nhà Những đóng góp của Khái Hưng đã góp phần tạo ra bước ngoặt lớn cho văn học Việt Nam hiện đại
Trang 131.2 Đóng góp của Khái Hưng vào tiến trình hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam
Những năm đầu thế kỉ XX, sự du nhập của văn hóa phương Tây đã làm nền văn học nước nhà có nhiều chuyển biến từ thể loại truyền thống sang thể loại hiện đại với những đổi mới về phương diện nội dung và nghệ thuật, đặc biệt là tiểu thuyết Tiểu
thuyết văn xuôi xuất hiện đầu tiên ở Nam Bộ với những tác phẩm như Hoàng Tố Anh
hàm oan (1910, Trần Thiên Trung), Phan Yên ngoại sử Tiết phụ gian truân (1910,
Trương Duy Toản), Ai làm được (1912, Hồ Biểu Chánh),… Trong các quyển tiểu
thuyết, ta có thể thấy các tác giả miền Nam đã có ít nhiều ảnh hưởng tiểu thuyết phiêu lưu phương Tây, các nhân vật trong các tác phẩm được đi nhiều nơi khác nhau Ví dụ
như trong Phan Yên ngoại sử, nhân vật chính bị chìm thuyền được một tàu Anh cứu
vớt và đưa sang Ma Cao Tuy nhiên, các sáng tác này vẫn còn chịu ảnh hưởng mạnh
mẽ của thi pháp tiểu thuyết Trung Hoa Phần lớn, chúng được bố cục theo kiểu chương hồi và kết thúc câu chuyện đều là những cái kết có hậu, thế nhưng chúng cũng tạo được cơ sở cho sự ra đời của tiểu thuyết hiện đại Ở miền Bắc, tiểu thuyết ra đời muộn hơn Đầu những năm 20, tiểu thuyết mới dần được hình thành với một số cây bút tên tuổi như: Phạm Duy Tốn, Đặng Trần Phất, Nguyễn Trọng Thuật,… Đến năm 1925,
tiểu thuyết Tố Tâm (Song An Hoàng Ngọc Phách), tiểu thuyết chữ quốc ngữ đầu tiên
ở miền Bắc ra đời với những cách tân mới về phương diện nội dung và nghệ thuật Nó
đã tạo bước ngoặt quan trọng, cắm mốc cho sự ra đời của tiểu thuyết hiện đại Sự ra đời của nó đã đẩy lùi tiểu thuyết truyền thống (tiểu thuyết kiếm hiệp, chương hồi), nhường chỗ cho tiểu thuyết hiện đại (tiểu thuyết tâm lí) Có thể thấy rằng, câu chuyện tình buồn của Tố Tâm và Đạm Thủy đã bước đầu khẳng định vị trí của cái tôi cá nhân trước những hủ tục hẹp hòi, khắt khe của Nho giáo Con người cá nhân muốn vùng vẫy để thoát khỏi lễ giáo phong kiến, tìm đến một tình yêu tự do Tuy nhiên, nó vẫn còn non yếu không dám hành động kháng cự, để rồi cuối cùng Tố Tâm phải nhận lấy cái chết còn Đạm Thủy thì sống tiếp trong những chuỗi ngày dằn vặt và đau đớn
Đồng thời trong Tố Tâm, Hoàng Ngọc Phách đã giảm bớt những yếu tố li kì và đi sâu
miêu tả thế giới nội tâm của nhân vật Tuy nhiên, tiểu thuyết này cũng còn chịu ảnh hưởng lối văn xuôi biền ngẫu, nhưng câu văn đã gọn gàng và trong sáng hơn Như vậy, có thể nói Song An đã góp phần khai sinh ra tiểu thuyết hiện đại Nhưng phải đến khi phong trào Thơ mới và tiểu thuyết Tự lực văn đoàn ra đời thì tiểu thuyết hiện đại
Trang 14mới thực sự phát triển, cái tôi cá nhân mới thực sự có bước tiến Cùng với Nhất Linh, Khái Hưng đã có công rất đáng kể vào quá trình hiện đại hoá tiểu thuyết Việt Nam nửa
đầu thế kỷ XX Với sự ra đời của Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt tác giả đã mở toan cánh của mà Tố Tâm chỉ mới hé mở
Những sáng tác của Tự lực văn đoàn đã gây được sự chú ý và cuốn hút độc giả đương thời Trong đó, có thể thấy tiểu thuyết của Khái Hưng đã thật sự cuốn hút thanh niên thành thị và thanh niên có học ở nông thôn Bởi nội dung của nó phù hợp với tâm
tư, nguyện vọng của đông đảo những con người mới Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan,
trong Nhà văn hiện đại cũng đề cao không tiếc lời: “Hiện nay, nhà văn mà được nam
nữ thanh niên yêu chuộng, được họ coi là người hiểu biết tâm hồn họ hơn cả, có lẽ chỉ
có Khái Hưng” “Khái Hưng là nhà văn rất hiểu tâm lý phụ nữ” [15; tr.778] Thế nên,
tiểu thuyết của ông đã tạo được sự hưởng ứng mạnh mẽ cho cuộc đấu tranh giữa hai ý thức hệ cũ và mới, đấu tranh đả phá những hủ tục lỗi thời đã ràng buộc cái tôi cá nhân
vào những lễ giáo, định kiến phi lí Các tác phẩm Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng
xuân, Thoát li, Thừa tự, Gia đình là lời tuyên chiến khá mạnh mẽ vào những hủ tục
lạc hậu, chế độ đại gia đình xưa cũ đã không còn hợp thời Có thể nói những sáng tác của Khái Hưng là một đỉnh cao của hành trình tự ý thức của con người cá nhân trong
xã hội Việt Nam hiện đại, đã lên tiếng đấu tranh đòi quyền tự do chính đáng mà họ xứng đáng được có Đây được xem như là những đổi mới về đề tài, chủ đề của tác phẩm, một cách nhìn nhận mới về con người cá nhân trong xã hội của nhà văn
Thật sự, vấn đề chống lễ giáo phong kiến, đòi giải phóng con người cá nhân đã được đặt ra trong văn học Việt Nam trung đại, nhưng tất cả đều bế tắc và bất lực trước những quy phạm nghiệt ngã của xã hội phong kiến vốn đã tồn tại cả ngàn năm Nhưng dẫu sao, các tác giả giai đoạn này như Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã góp chung tiếng nói vạch trần và tố cáo sự bất công, tàn nhẫn của chế độ phong kiến Chỉ đến khi tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn nói chung, Khái Hưng nói riêng ra đời, vấn đề chống lễ giáo phong kiến mới thực sự bùng nổ và công khai trên nhiều phương diện của đời sống Họ chủ trương chống lại những hủ tục, đả phá chế độ đại gia đình phong kiến, giải phóng cái tôi cá nhân tự do ra khỏi xiềng xích của lễ giáo, đặc biệt là giải phóng người phụ nữ ra khỏi những ràng buộc bất công, vô lí của chế độ cũ
Trang 15Khảo sát tiểu thuyết của Khái Hưng, chúng tôi thấy rằng nhà văn xây dựng những cốt truyện xoay quanh các vấn đề của đại gia đình phong kiến Chọn cho mình
đề tài về tình yêu, hôn nhân và gia đình để làm cảm hứng sáng tác, Khái Hưng đã tái hiện sinh động những điều “mắt thấy tai nghe”, thậm chí là bằng cả sự trải nghiệm của bản thân trong cuộc sống của gia đình Việt Nam phong kiến Qua những tiểu thuyết
Nửa chừng xuân, Thoát li, Gia đình, Thừa tự, tác giả đã phê phán những truyền
thống cũ, những quan niệm cổ hủ như tư tưởng môn đăng hộ đối, tam thê tứ thiếp, thừa tự,… Chính những hủ tục nghiệt ngã này đã đẩy những mơ ước, những hạnh phúc
của con người cá nhân rơi vào ngõ cụt của bi kịch và bế tắc Như trong Nửa chừng
xuân, chỉ vì định kiến hôn nhân phải môn đăng hộ đối mà bà Án đã nhẫn tâm cắt đứt
hạnh phúc gia đình nhỏ bé của con trai bà, từ bỏ cả đứa cháu nội vẫn còn nằm trong bụng mẹ Hay định kiến “áo mặc sao qua khỏi đầu”, “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” đã
gián tiếp đẩy Tuyết (Đời mưa gió) đi vào con đường mưa gió của một cô gái giang hồ
Rồi cái quyền “trai năm thê bảy thiếp” là chuyện thường tình đã đem đến trong gia đình bao nhiêu là bi kịch, những xung đột khó có thể tránh khỏi của cảnh mẹ ghẻ con
chồng, giữa vợ lớn vợ bé như trong Thoát li, Gia đình, Thừa tự Chẳng có một gia
đình nào với hoàn cảnh một chồng nhiều vợ mà được hạnh phúc, bởi mâu thuẫn, xung đột luôn luôn xảy ra Những bà mẹ ghẻ độc ác, cay nghiệt, tham lam đã đẩy những đứa con chồng phải sống một cuộc sống cơ cực như Lương, hay rơi vào cuộc sống của gái giang hồ như Yến và áp bức đến nỗi muốn thoát li khỏi một gia đình không có người
dì ghẻ mà Hồng chỉ khi chết mới thoát được (Thoát li) Do đó, Khái Hưng đã để nhân vật Mai (Nửa chừng xuân) nói lên suy nghĩ của mình về tình yêu, hôn nhân và gia
đình Những tư tưởng mới của một cô gái trẻ tiếp thu cả những truyền thống tốt đẹp của Nho giáo và những tư tưởng mới của thời đại về sự tự do quyết định hôn nhân của mỗi cá nhân Hôn nhân là sự mưu cầu hạnh phúc không phải dùng để đổi lấy vinh hoa phú quý Hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở của sự tự nguyện gắn kết giữa hai con người, không phải là sự ép buộc, có như vậy thì gia đình mới vững bền Cuộc sống gia đình chỉ thật sự có được hạnh phúc là gia đình một vợ một chồng, vợ chồng yêu thương, tôn trọng lẫn nhau Đây chính là những tư tưởng tiến bộ của nhà văn mà xã hội của chúng ta ngày nay đang thực hiện và được pháp luật công nhận
Tiểu thuyết của Khái Hưng đã vẽ nên bộ mặt khả ố và đáng thương của xã hội
trưởng giả Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Nửa chừng xuân mở cửa vào những danh
Trang 16gia, cho biết thủ đoạn gả bán con cái, tiêu diệt hạnh phúc để kiếm danh giá trong các
mối quan hệ môn đăng hộ đối Còn các tiểu thuyết Thoát ly, Gia đình, Thừa tự của
Khái Hưng đi sâu vào cảnh ngộ của những gia đình giàu có, phát hiện những mâu thuẫn, những rạn nứt khó hàn gắn do tính chất lỗi thời của lễ giáo phong kiến và quyền
lực của đồng tiền gây ra Thoát ly, Thừa tự trình bày những xâu xé trong cảnh đa thê,
dì ghẻ con chồng, Đối với tiểu thuyết Gia đình, nhà văn đi sâu vào miêu tả những cái xấu xa, đê tiện, bỉ ổi, đáng ghét trong gia đình phong kiến Gia đình phơi bày nỗi
đắng cay của những người đàn bà như Nga, cả đời chỉ đeo đuổi một mục đích: Làm sao nên danh bà Huyện, nhưng cuối cùng chỉ đổi lấy sự bất ổn trong cuộc sống gia đình Phải chứng kiến và chịu cảnh “vào luồn ra cúi” mua chuộc công sứ, tuần phủ, bà
lớn, bà bé cô ngán ngẩm và thầm ao ước cuộc sống của gia đình em mình: “Mỗi lần
gặp sự buồn phiền, hoặc sự bất hoà trong gia đình hay sự bất mãn trong công việc làm quan của chồng, Nga lại thốt nhiên nghĩ tới Hạc và Bảo, nghĩ tới cái đời bình dị, tới hạnh phúc im lặng, chắc chắn của họ Và bùi ngùi, nàng tự nhủ thầm: “Chúng nó sung sướng thực!”[14; tr.216] Mặt khác sự rạn nứt, tan vỡ của mô hình gia đình
phong kiến cũ cũng kéo theo sự lủng củng, xấu xa trong các gia đình phong kiến quan
lại Ông án Báo lợi dụng ngày giỗ để “đem cả cha mẹ ra làm tiền” [14; tr.17] Hai chị
em gái Phụng - Nga coi nhau chẳng khác gì kẻ thù Phụng lấy được chồng làm quan, trở thành bà huyện thì coi em như rơm rác Nga thì ganh tị vì chị được bố mẹ cưng
chiều còn mình thì bị ghẻ lạnh Do đó, tiểu thuyết Gia đình xứng đáng là nhát búa cuối
cùng vào bức tượng khổng lồ nhưng đã mục nát của thế hệ trước: chế độ đại gia đình Tuy nhiên trong cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, không phải bao giờ cái mới cũng chiến thắng cái cũ, không phải bao giờ những cô gái mới cũng chiến thắng những bà án, bà nghè phong kiến, nhưng tác giả bao giờ cũng đứng về phía họ Nhà văn không chỉ trực tiếp bênh vực, bảo vệ họ mà còn phê phán, chỉ trích những thế lực thủ cựu, những luật lệ khắt khe, làm cho độc giả yêu mến, cảm thương cho số phận những nàng dâu bị áp bức, những cô gái mồ côi bị hắt hủi, đoạ đày và căm ghét những
bà mẹ chồng khắc nghiệt, những dì ghẻ xảo quyệt, nhẫn được thể hiện qua hình tượng các nhân vật được xây dựng trong tác phẩm Qua đó, Khái Hưng cũng đã nêu lên những quan niệm tích cực, chủ trương xây dựng một mô hình gia đình mới, giải phóng con người cá nhân, đặc biệt là người phụ nữ khỏi những hẹp hòi bất công của lễ giáo
Trang 17Về phương diện nghệ thuật, Khái Hưng cũng đã có những đóng góp đáng kể vào tiến trình hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam Ở thể loại tiểu thuyết truyền thống được sáng tác bằng thể văn vần chữ Hán, hoặc chữ Nôm, bị chi phối bởi những quan niệm đạo đức Nho giáo nên thường tập trung vào các đề tài như “trung hiếu tiết nghĩa”, mang tính chất ước lệ Các tiểu thuyết truyền thống có cốt truyện thường vay mượn những câu chuyện có sẵn trong dân gian hoặc rút ra từ trong sử sách với lối kể chuyện theo trình tự thời gian tự nhiên Truyện có kết cấu theo kiểu chương hồi thường theo công thức: gặp gỡ, biệt li và đoàn tụ Và các câu chuyện luôn là kết thúc
có hậu Đến tiểu thuyết của Khái Hưng, ông đã góp phần làm mới diện mạo của thể loại tiểu thuyết trên cả hai phương diện Nếu như Hồ Biểu Chánh đi trước khai phá và
mở rộng tiếng Việt miền Nam, là người đầu tiên đã đưa “hư cấu” vào tiểu thuyết, bỏ
lối truyện chương hồi theo kiểu Tàu, thay lối văn biền ngẫu bằng tiếng Việt bình dân thì ở miền Bắc, Khái Hưng sử dụng chữ Quốc ngữ để hoàn chỉnh lộ trình hiện đại hoá tiểu thuyết, đồng thời cũng có những cánh tân đổi mới trên phương diện nghệ thuật như cốt truyện, nhân vật, phương thức trần thuật,…
Từ cốt truyện vay mượn theo lối chương hồi với những tình tiết mang đậm tính chất li kì, ngoắt ngoéo và kết thúc có hậu, nhà văn đã xây dựng một cốt truyện mới
theo kết cấu đa tuyến có kết thúc mở, không có hậu Chẳng hạn như tiểu thuyết Nửa
chừng xuân là xung đột giữa cha mẹ và con cái, giữa tư tưởng của hai thế hệ mới – cũ
về quan niệm hôn nhân và gia đình Tác giả đã khéo xây dựng những tuyến nhân vật phụ để vừa mở rộng dung lượng phản ánh hiện thực vừa thể hiện cách lý giải, cảm
nhận cuộc sống của chính mình Trong Nửa chừng xuân, song song với chuyện tình
yêu giữa Lộc và Mai bị cấm cản bởi tư tưởng “môn đăng hộ đối” của bà Án, nhà văn còn miêu tả cuộc tán tỉnh, gạ gẫm của Hàn Thanh, tình yêu đơn phương của Minh và Bạch Hải đối với Mai nhằm mục đích thể hiện phẩm hạnh của người con gái này Qua
đó, tố cáo những lễ nghi áp đặt hẹp hòi, bóp nghẹt tự do hạnh phúc cá nhân, bên cạnh
đó tác giả còn vạch trần những việc làm nhơ nhuốc của một bộ phận quan lại phong kiến đương thời Tuy nhiên, do câu chuyện phát triển theo logic nội tại của nó nên kết thúc tác phẩm không phải là việc Lộc thôi vợ và Lộc sẽ đón mẹ con Mai về chung sống với anh Kết thúc câu chuyện là hành động Mai từ chối về làm vợ của Lộc Cô chỉ có thể làm một người bạn tri âm của Lộc, ủng hộ Lộc về mặt tinh thần Bởi đối với Mai, hôn nhân chỉ nên xây dựng từ tình yêu tự nguyện và gia đình chỉ nên là gia đình
Trang 18một vợ một chồng mà thôi Mai không chấp nhận làm lẽ, chia sẻ ái tình của mình với bất kì một ai Cô càng không muốn làm người thứ ba phá hoại gia đình của người khác Vì khi chấp nhận làm vợ lẽ Lộc, Mai tránh sao khỏi cái kết cục luôn luôn xảy ra,
xung đột của vợ lớn vợ bé, của cảnh dì ghẻ con chồng Các cuốn tiểu thuyết khác như
Tiêu sơn tráng sĩ, Trống mái, Gia đình, Thừa tự, Thoát ly, Hạnh, Đẹp, Băn khoăn,
cũng đều có cốt truyện đa tuyến, kết thúc mở, không có hậu
Ngoài ra, Khái Hưng có những thành công đáng kể trong việc xây dựng nhân vật Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của ông rất đa dạng Với lập trường duy tân cấp tiến cùng sự trải nghiệm cuộc sống trưởng giả, nhà văn đã khám phá, miêu tả được
nhiều hình tượng khá tiêu biểu và sinh động về con người cũ đại diện cho lễ giáo và
đại gia đình phong kiến trong hàng loạt tác phẩm của ông Đó là những hình tượng có
giá trị hiện thực, giá trị phê phán khá sâu sắc, như nhân vật bà Án trong Nửa chừng
xuân, bà Án Báo trong Gia đình, bà Ba trong Thừa tự, bà Phán Trinh trong Thoát ly,
v.v Họ là những người phụ nữ ích kỉ, tham lam, mang nặng những lễ nghi, hủ tục lỗi thời, sẵn sàng trao đổi quyền tự do, hạnh phúc của con mình để đổi lấy tiền tài, danh vọng
Trong các quyển tiểu thuyết của Khái Hưng còn có những nhân vật đại diện cho bọn cường hào, địa chủ, quan lại Bằng khả năng của mình, Khái Hưng đã bộc lộ những tên quan lại chuyên cậy quyền ỷ thế hà hiếp dân lành Những tên quan tham lam, bất lương sẵn sàng làm bất cứ những việc bất nhân, phi nghĩa để thỏa mãn những
ham muốn của bản thân Nhân vật Hàn Thanh trong tiểu thuyết Nửa chừng xuân là
một ví dụ Hắn là người “giàu nhất trong hàng huyện và thứ nhì, thứ ba trong hàng
tỉnh” [9; tr.160] Hắn chuyên cậy quyền cậy thế hà hiếp người dân lương thiện, là một
con cáo già không “bao giờ kém cạnh nước gì” Nhân vật Viết (Gia đình) là một quan
Huyện mưu mô, xảo trá luôn tìm cách tiến thân trên quan trường bằng mọi thủ đoạn
Hơn thế, là nhà văn có điều kiện tiếp xúc với nền văn hóa mới, Khái Hưng đã xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết không còn theo những ước lệ, công thức mà tập trung khám phá, mô tả, khẳng định hình mẫu nhân vật mới, những con người có khát vọng về cuộc sống tự do, có những quyền sống của cá nhân, nếp sống Âu hoá Trước hết, đó là hình tượng những thanh niên trí thức, những người có quan niệm mới về hôn nhân – gia đình Đặc biệt nhà văn đã rất thành công trong miêu tả tính cách, quan điểm của những cô gái mới Các thiếu nữ tân thời của Khái Hưng vừa có những tư tưởng
Trang 19mới về tình yêu, hôn nhân và gia đình, vừa không đánh mất những vẻ đẹp của người phụ nữ truyền thống Họ tôn trọng tự do yêu đương, tự do kết hôn, khao khát hạnh phúc gia đình một vợ một chồng, có lý tưởng, có chí phấn đấu và muốn trở thành
những người vợ hiền, mẹ thảo như nhân vật Liên (Gánh Hàng Hoa), Mai (Nửa
chừng xuân), Lan Hương (Băn khoăn), Bảo (Gia đình),…
Thành công nổi bật trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của Khái Hưng là miêu
tả tâm lý Khái Hưng miêu tả tâm lý nhân vật qua những suy nghĩ, lời tự chất vấn, qua
cử chỉ, hành động, hay những lời đối thoại, độc thoại ở những thời điểm, hoàn cảnh
khác nhau Trong Dưới mắt tôi nhà nghiên cứu Trương Chính viết: “Ông chú ý đến
những ý nghĩ, cử chỉ, và sự biến đổi bên trong của nhân vật hơn là hình thức bề ngoài Ông phân biệt rõ được các động cơ khác nhau, có khi mâu thuẫn nhau của một hành động, và làm cho ta thấy rõ được sự mâu thuẫn đó Ông là một nhà văn quan sát kỹ và
có một hiểu biết sâu sắc về tâm lý con người [16; tr.43]
Quả thật khi đọc tiểu thuyết Nửa chừng xuân, người đọc rất dễ nhận ra một
nhân vật Mai trẻ trung, trong sáng, nhạy cảm từ những dòng miêu tả nhân vật ở phần
đầu tác phẩm: “Mai ngước mắt nhìn lên, búp xuân non mơn man đầu cành Cái cảm
tưởng về xuân dịu dàng êm ái, khiến Mai hé cặp môi tươi thắm, mỉm cười với xuân, trong lòng chứa chan hy vọng [9; tr.124] Những diễn biến tâm lý phức tạp, tinh tế
trong lòng người phụ nữ lỡ dở tình duyên ở độ tuổi nửa chừng xuân qua những cử chỉ, giọng nói, nụ cười: “Tay Mai cầm bức thư run lấy bẩy Mặt Mai dần đỏ, rồi tái đi Rồi
cái giọng khàn khàn, ướt những nước mắt ( ) Mai gượng cười cúi xuống bế con lên hôn rất nồng nàn Nàng có ngờ đâu rằng tình xưa còn ẩn trong tình mẫu tử và cái hôn kia chỉ là hôn tiếc rẻ một quãng đời đã mất [9; tr.317 - 318]
Ngoài ra, nhà văn cũng hay lựa chọn, miêu tả những nhân vật phụ, những nhân vật có khi tương đồng, có khi đối lập nhau để mở rộng phạm vi lí giải, đánh giá và phản ánh cuộc sống để chủ đề tác phẩm, hay tính cách nhân vật chính được thể hiện sâu sắc, rõ ràng hơn Như khi miêu tả lòng chung thủy, lý tưởng tình yêu của Mai
(Nửa chừng xuân) nhà văn còn xây dựng các nhân vật phụ như Minh và Bạch Hải Trong tác phẩm Thoát ly, Khái Hưng cũng miêu tả các thái độ, cảm nhận khác nhau về
đời sống mới với sự Âu hóa, “trong ngày hội sinh viên, có kẻ reo cười ầm ĩ, có người
vươn cổ thét gào, có người cho là “hơn kém nhau chỉ ở chỗ trẻ trung và biết vui đùa”,
Trang 20có người cho là “thô bỉ quá”, “lõa lồ đĩ thõa quá”, “người Bắc kỳ tiến, tiến đến chỗ suy đồi” mau chóng quá” [14; tr.248]
Khái Hưng còn miêu tả nhân vật trong cái nhìn liên tục kéo dài tới mấy đời người Đây là một cách miêu tả khá mới, lạ trong tiểu thuyết Việt Nam Trong tiểu
thuyết Băn khoăn, lối sống xa hoa, trụy lạc, phóng đãng của Cảnh được tác giả hình
dung, giải thích là do những ảnh hưởng từ đời ông, đời cha chàng, “Cảnh xuất thân ở
một gia đình đã hai đời cự phú Ông nội chàng bắt đầu là một nông phu cần cù và thông minh, thứ thông minh khôn ngoan, lừa lọc trời phú cho đám dân quê để họ có thể sống, hay, hơn thế, trở nên giầu có” [11; tr.4] Cha Cảnh là một người biết làm
giàu và là một người phóng đãng Chính Cảnh đã tự giải thích bản năng của chàng như
sau: “Cảnh rùng mình tưởng tới các di sản tinh thần của nhà chàng Ông chàng thuở
xưa lấy tới sáu vợ và ngoài sáu mươi tuổi còn say mê một cô gái quê mười tám Cha chàng thì có một vợ thôi, và tuy góa lúc còn trẻ mà vẫn không tục quyền nhưng đó là chứng cớ của một đời sống khoái lạc Không tục quyền không phải là không đi sâu vào con đường tình dục Trái lại thế; vậy thì luồng máu phóng lãng đương cháy, đương bồng bột cháy trong huyết quản của mình, ngừng lại làm gì, và ngừng lại sao được”
[11; tr.94] Đó là cách giải thích cho tính cách và bản năng của nhân vật trên cơ sở di truyền của huyết thống Đây là một điều ít gặp trong văn chương, trong tiểu thuyết Việt Nam
Những đổi mới của Khái Hưng trong nghệ thuật tự sự còn thể hiện ở phương thức trần thuật Mặc dù lời kể trong tiểu thuyết của nhà văn chưa đạt tới tầm cao của nghệ thuật tự sự như những sáng tác của các nhà văn hiện thực, nhưng so với những cuốn tiểu thuyết ở giai đoạn giao thời và nhất là những truyện thời trung đại thì nó đã
có những bước tiến vượt bậc Trong các tác phẩm của mình, Khái Hưng đã sử dụng nhiều thể thức tự sự khác nhau Chẳng hạn như cách trần thuật theo quan điểm của
tác giả như: “Vọi sinh trưởng trong đám dân quê, hơn nữa trong đám dân quê chài
lưới, nghĩa là những người chỉ có đức tính giản dị, chất phác, thật thà ” [13; tr.36]
Cách trần thuật ở ngôi thứ ba với cái nhìn biết hết mọi chuyện của nhân vật của người kể chuyện Người kể chuyện như là một người thợ quay phim đang đứng gần, quay lại toàn bộ diễn biến của câu chuyện Hơn hết người kể như biết rõ mọi suy nghĩ, cảm nhận của nhân vật trong câu chuyện và kể lại những chuyện đã xảy
ra với giọng điệu khách quan
Trang 21Khái Hưng đã sử dụng thể thức trần thuật ở nhiều điểm nhìn với nhiều giọng
điệu khác nhau Tiểu thuyết Thoát ly, Băn khoăn, Thừa tự,… sử dụng phương thức trần thuật như thế Như ở tiểu thuyết Thoát ly, lối sống Âu hóa ở Hà Nội đã được thuật
kể theo nhiều điểm nhìn: người thích thú ngưỡng mộ, người cho là trụy lạc, sa đọa
Như vậy, Khái Hưng đã có những cách tân đáng kể trong nghệ thuật tự sự Ông
đã xây dựng những cốt truyện theo lối mới: đa tuyến, mở, không có hậu Nhà văn đã đặt trọng tâm sáng tạo vào việc xây dựng nhân vật, đi sâu miêu tả đời sống tâm lý với những khám phá, phát hiện sâu sắc, những phương thức biểu hiện mới mẻ, tinh tế Ông cũng có đóng góp không nhỏ trong xây dựng một lối kể chuyện mới linh hoạt, không đơn điệu, giàu sức diễn tả đời sống và tâm hồn con người
1.3 Nhân vật văn học
1.3.1 Khái niệm:
Từ điển văn học định nghĩa: “nhân vật văn học là con người được nhà văn
miêu tả trong tác phẩm bằng phương tiện văn học” Những con người này có thể được
miêu tả kĩ hay sơ lược, sinh động hay không rõ nét, xuất hiện một hay nhiều lần, thường xuyên hay từng lúc, giữ vai trò quan trọng nhiều, ít hoặc không ảnh hưởng nhiều lắm đối với tác phẩm
Nhân vật văn học có thể là những con người có tên (Lan, Tuyết, Thúy Kiều, Chí Phèo, Thị Nở,…) có thể là những nhân vật không có tên như anh thanh niên trong
tác phẩm Lặng lẽ Sapa của Nguyễn Thành Long, nhân vật người đàn bà trong Chiếc
thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, thị trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim
Lân,… Đôi khi cũng có thể là một đại từ nhân xưng nào đó Chẳng hạn như nhân vật xưng “tôi” trong các truyện ngắn, tiểu thuyết hiện đại, trong thơ trữ tình, đại từ “mình – ta” trong ca dao, Tuy nhiên khái niệm nhân vật văn học cần phải được hiểu theo nghĩa rộng Bởi trong nhiều trường hợp, khái niệm nhân vật được sử dụng một cách ẩn
dụ nhằm chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm Người ta thường nói đến
“nhân dân” như là một nhân vật trung tâm trong Chiến tranh và hòa bình của L Tônxtôi, “ca cao” là nhân vật chính trong Ðất dữ của G Amađô, hay “chiếc quan tài”
cũng là nhân vật trong tác phẩm cùng tên của Nguyễn Công Hoan Nhân vật có thể là các con vật như: thỏ và rùa, con cáo và chùm nho trong các truyện ngụ ngôn, Dế mèn
trong Dế mèn phiêu lưu kí – Tô Hoài, là chị chổi, bác nồi đồng trong truyện thiếu nhi
Cái tết của mèo con, là cây Thì là trong truyện dân gian Sự tích cây Thì là,… Nhưng
Trang 22dù tác giả viết về đồ vật, con vật hay cỏ cây hoa lá thì cũng không ngoài mục đích là nói về con người và tất cả đều được “người hóa”, nghĩa là chúng mang những đặc
điểm, cốt cách như con người Tóm lại, nhân vật trong tác phẩm văn học “là những
con người hay những sự vật mang cốt cách con người được xây dựng bằng các phương tiện nghệ thuật ngôn từ” [2; tr.77]
Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật có tính ước lệ Thế nên, chúng
có những dấu hiệu riêng để nhận biết như tên gọi, tiểu sử, nghề nghiệp, những đặc điểm riêng Những dấu hiệu đó thường được giới thiệu ngay từ đầu và sự phát triển
về sau của nhân vật thường gắn bó mật thiết với những chi tiết được giới thiệu ban
đầu Việc giới thiệu nhân vật Thai (Cỏ Lau - Nguyễn Minh Châu) xuất hiện đầu tiên ở
vùng núi có cái tên là Núi Đợi, chung quanh là những hòn vọng phu, nhà văn như ngầm báo trước về số phận của nhân vật rồi cũng sẽ sống trong khắc khoải chờ đợi
Nhân vật văn học không giống với các nhân vật thuộc các loại hình nghệ thuật khác Vì nhân vật văn học được thể hiện bằng chất liệu duy nhất là ngôn từ cho nên nó không thể hữu hình như nhân vật trong nghệ thuật hội họa, điêu khắc hay sân khấu điện ảnh Người đọc chỉ có thể hình dung diện mạo của nhân vật qua ngôn từ Như qua
những lời văn miêu tả về ngoại hình Chí Phèo, “cái đầu thì trọc lóc, cái mặt thì đen
mà lại rất cơng cơng, hai con mắt gờm gờm”, Nam Cao đã giúp người đọc có thể hình
dung về nhân vật mới Như vậy, nhân vật văn học chỉ có thể hữu hình trong trí tưởng tượng của độc giả Nó đòi hỏi người đọc phải vận dụng trí tưởng tượng, liên tưởng để dựng lại một con người hoàn chỉnh trong tất cả các mối quan hệ của nó Tuy nhiên, khả năng liên tưởng của mỗi cá nhân không giống nhau Thành ra, mỗi người sẽ có một “gương mặt” nhân vật riêng của mình
Sau khi đọc xong một tác phẩm văn học, điều đọng lại sâu sắc nhất trong lòng của độc giả là số phận, tính cách của nhân vật được thể hiện trong tác phẩm Do đó,
nhà văn Tô hoài đã nhận định rằng “nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải
quyết hết thảy trong một sáng tác” [9; tr.127] Các nhân vật trong một tác phẩm
thường gắn kết với nhau để tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh Chúng đều có mối liên
hệ với nhau, liên kết với nhau bằng tiến trình của sự kiện và bằng lô gich tư duy nghệ thuật của nhà văn Cho nên, nhân vật văn học không chỉ bộc lộ nội dung tư tưởng của tác phẩm mà còn là một phương diện kết cấu không thể thiếu trong tác phẩm
Trang 231.3.2 Chức năng của nhân vật trong tác phẩm văn học
Nhà văn xây dựng nhân vật như là một phương tiện để phản ánh đời sống, khái quát hiện thực Như vậy, chức năng của nhân vật là khái quát những quy luật của cuộc sống và con người, đồng thời qua đó cũng thể hiện những hiểu biết, những ước mơ kì
vọng về cuộc sống của con người Truyền thuyết Con rồng cháu tiên thể hiện niềm tự
hào của Dân tộc Việt Nam về nòi giống của mình Các vị thần như thần Trụ Trời, thần Gió, thần Mưa trong các câu chuyện thần thoại thể hiện những nhận thức về sức mạnh của tự nhiên mà con người nguyên thủy chưa giải thích được Hay nhân vật anh hùng Hecralet với mười hai kì công trong thần thoại Hi Lạp chính là những mong ước có được sức mạnh để chinh phục thiên nhiên, bảo vệ cuộc sống Nhân vật Thánh Gióng trong truyền thuyết Thánh Gióng là niềm tin và hi vọng có được sức mạnh để chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước của Dân tộc Việt
Nhân vật văn học có chức năng khái quát những tính cách, số phận và thể hiện quan niệm của nhà văn về con người Nhà văn sáng tạo nên nhân vật còn là để thể hiện những cá nhân xã hội nhất định và những quan niệm về cá nhân đó Vì vậy, khi xây dựng nhân vật, nhà văn thường gắn liền với nó những vấn đề mà nhà văn muốn đề cập
Chẳng hạn như nhân vật bà Tú (Thương vợ - Trần Tế Xương) là biểu hiện cho những
đức tính của người phụ nữ Việt Nam về sự hi sinh, cần cù nhẫn nại, chịu thương chịu
khó, suốt một đời chỉ vì chồng vì con Nhân vật lão Hạc (Lão Hạc – Nam Cao) là nhân
vật đại diện cho tầng lớp nông dân nghèo khổ trước cách mạng tháng tám Vì vậy, khi tìm hiểu nhân vật trong tác phẩm, bên cạnh việc xác định những nét tính cách của nhân vật, chúng ta cần nhận ra những vấn đề của hiện thực và quan niệm của tác giả được thể hiện qua nhân vật Vì khi nhắc đến một nhân vật, nhất là các nhân vật chính, người
ta thường nghĩ đến các vấn đề gắn liền với nhân vật đó
Ngoài ra, nhân vật văn học còn là phương tiện để thể hiện tư tưởng, tình cảm của nhà văn đối với từng loại người trong xã hội Thông qua nhân vật bà Phán Lợi
trong tiểu thuyết Đoạn tuyệt, Nhất Linh đã thể hiện thái độ căm tức đối với những
người đại diện cho những hủ tục phong kiến lạc hậu, kìm hãm tự do hạnh phúc của
con người cá nhân Qua việc miêu tả các nhân vật trong tiểu thuyết Số đỏ như cậu con
cầu tự “em chã”, mụ phó Đoan, vợ chồng Văn Minh, cụ cố Hồng, Vũ Trọng Phụng đã bộc lộ niềm căm ghét lối sống Âu hóa, trưởng giả suy thoái về mặt đạo đức của giới thượng lưu trong xã hội thực dân phong kiến
Trang 24Như vậy, nhân vật có chức năng khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống
và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời Do đó, trong quá trình xây dựng nhân vật, nhà văn có quyền lựa chọn những chi tiết, yếu tố mà họ cho là cần thiết bộc lộ được quan niệm của mình về con người và cuộc sống Chính vì vậy, không nên đồng nhất nhân vật văn học với con người trong cuộc đời thực Khi phân tích, nghiên cứu nhân vật, việc đối chiếu, so sánh là cần thiết để hiểu rõ thêm về nhân vật, nhất là những nhân vật được xây dựng từ những nguyên mẫu có thật trong cuộc sống của
chúng ta như: anh hùng Núp trong Ðất nước đứng lên – Nguyên Ngọc; Chị Sứ trong
Hòn Ðất – Anh Đức, Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhớ rằng nhân vật văn học là
một sáng tạo nghệ thuật độc đáo gắn liền với mục đích của nhà văn trong việc nêu lên
những vấn đề của hiện thực cuộc sống Betông Brecht cho rằng: “Các nhân vật của tác
phẩm nghệ thuật không phải giản đơn là những bản dập của những con người sống
mà là những hình tượng được khắc họa phù hợp với ý đồ tư tưởng của tác giả” [2;
tr.78]
Nhân vật văn học do nhà văn sáng tạo nên, trên cơ sở quan sát những con người trong cuộc sống xã hội Thế nên, nhân vật văn học có ý nghĩa quan trọng đối với nhà văn Một trong những căn cứ để đánh giá tài năng nghệ thuật của nhà văn chính là nhân vật mà họ đã xây dựng trong tác phẩm Một nhân vật thành công không chỉ khái quát được hiện thực cuộc sống, những tính cách, những quy luật mà còn phải hấp dẫn được độc giả Có những nhân vật có sức sống bất tử với thời gian như: Tấm, Thúy Kiều, Hoạn Thư, Chí Phèo, AQ, Rômêô, Juliet, Tào Tháo, Trương Phi,… Sức hấp dẫn của nhân vật có nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những nguyên nhân cơ bản là họ rất độc đáo Ví như Chí Phèo trong trí nhớ của người đọc là hình ảnh của một con quỷ
dữ làng Vũ Đại, triền miên trong những cơn say, cách đến nhà Bá Kiến xin được đi ở
tù lại, cách đập đầu ăn vạ, cách trêu ghẹo Thị Nở: thấy Thị Nở kêu, Chí kêu to hơn, là khát vọng làm người lương thiện,… Như vậy, nhân vật văn học giữ vai trò quyết định nội dung tư tưởng trong tác phẩm, vì vậy nhà văn luôn dồn tâm huyết và tài năng của mình vào việc khắc họa nhân vật Chính vì thế mà chúng ta thấy có nhiều người không nhớ tên tác giả nhưng lại rất nhớ tên các nhân vật do tác giả ấy tạo dựng nên
Trang 251.3.3 Phân loại nhân vật văn học
1.3.3.1 Xét từ góc độ nội dung tư tưởng hay phẩm chất nhân vật
Xét từ góc độ nội dung tư tưởng hay phẩm chất nhân vật là cách phân loại dựa trên bình diện tư tưởng, ý thức hệ trong quan hệ với lí tưởng xã hội - thẩm mĩ của nhà văn Do đó có thể có các loại nhân vật gồm nhân vật chính diện (nhân vật tích cực), nhân vật phản diện (nhân vật tiêu cực) Nhân vật chính diện là loại nhân vật được xây dựng nhằm mục đích khẳng định, đề cao như những tấm gương phẩm chất tốt đẹp của con người theo một quan điểm tư tưởng, một lí tưởng xã hội - thẩm mĩ nhất định Đó
là những nhân vật thể hiện cho những giá trị tinh thần, hành vi cao thượng, phẩm chất tốt đẹp của con người trong các mối quan hệ ứng xử, đồng thời góp phần phát triển và hoàn thiện nhân cách con người và tiến bộ xã hội Ngược lại với nhân vật chính diện, nhân vật phản diện mang những phẩm chất trái với lí tưởng xã hội - thẩm mĩ tốt đẹp, tiến bộ của thời đại Đó là những nhân vật xấu xa, độc ác, giả dối, tham lam, bất tài hay ganh tị, hống hách, là loại người bất hiếu, bất nghĩa, sẵn sàng chà đạp lương tâm, nhân phẩm vì tiền tài, danh lợi Nhân vật phản diện thường xuất hiện trong truyện cổ tích, truyện cười, hài kịch hoặc thơ văn châm biếm Nhân vật chính diện thường xuất hiện trong các thể loại tụng ca, anh hùng ca, bi kịch Nó là một phạm trù có tính lịch
sử, không chỉ phụ thuộc vào thế giới quan, lí tưởng xã hội của người sáng tạo mà còn phụ thuộc vào thế giới quan lí tưởng xã hội của người tiếp nhận và thời đại tiếp nhận
Ở mỗi thời kì lịch sử khác nhau, văn học luôn có những nhân vật chính diện và phản diện khác nhau Trong văn học cổ và trung đại, nhân vật chính diện và phản diện rất dễ dàng xác định Chẳng hạn như trong văn học dân gian Việt Nam, nhân vật chính diện là những nhân vật mang những phẩm chất đạo đức tốt đẹp như: Thánh Gióng, Thạch Sanh, Tiên Dung, Chử Đồng Tử, An Tiêm, Tấm,… Ngược lại nhân vật phản
diện sẽ là mẹ con Lí Thông, mẹ con Cám, người anh trai trong truyện kể Cây khế, cô chị trong Người chồng dê Trong văn học trung đại, nhân vật chính diện là các bậc anh hùng, các nhà nho như: Lục Vân Tiên, ông quán, Hớn Minh, Tử Trực (Lục Vân
Tiên – Nguyễn Đình Chiểu), Lê Lợi (Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi),… đối nghịch
lại với họ sẽ là Bùi Kiệm, Trịnh Hâm (Lục Vân Tiên), là bọn giặc Minh hung tàn,…
Nhân vật chính diện trong văn học hiện thực phê phán 1930 - 1945 thường là những người lao động nghèo khổ bị xã hội chà đạp, áp bức nhưng vẫn mang những phẩm
chất lương thiện tốt đẹp như chị Dậu (Tắt đèn ), lão Hạc (Lão Hạc), anh giáo Thứ
Trang 26(Sống mòn),… còn nhân vật phản diện sẽ là những nhân vật đại diện cho chế độ quan
lại trong xã hội thực dân phong kiến Những nhân vật tham lam, xấu xa, độc ác, đê hèn
như Nghị Hách (Giông tố - Vũ Trọng Phụng), Nghị Quế (Tắt đèn - Ngô Tất Tố), Nghị Lại (Bước đường cùng – Nguyễn Công Hoan), Bá Kiến (Chí Phèo – Nam Cao),… Trong văn học lãng mạn thì đó là Mai (Nửa chừng xuân – Khái Hưng), Loan (Đoạn
tuyệt – Nhất Linh), Lan Hương (Băn khoăn – Khái Hưng),… Họ là những nhân vật
đại diện cho những tư tưởng tiến bộ về tự do cá nhân của thanh niên trí thức, phản kháng lại những hủ tục phong kiến lỗi thời đã ăn sâu vào máu, vào trong suy nghĩ của
những con người của thế hệ cũ như: bà Án (Nửa chừng xuân), bà Phán Lợi (Đoạn
Tuyệt), Như vậy nhân vật chính diện là nhân vật đại diện cho lực lượng chính nghĩa
trong xã hội, cho cái thiện, cái tiến bộ Khi nhân vật chính diện được xây dựng với những phẩm chất hoàn hảo, có tính chất tiêu biểu cho tinh hoa của một giai cấp, một dân tộc, một thời đại, có lí tưởng trong cuộc sống có thể được coi là nhân vật lí tưởng Nhân vật phản diện là nhân vật đại diện cho lực lượng phi nghĩa, cho cái ác, cái lạc hậu, phản động, luôn tìm cách cản trở những điều thiện, những tư tưởng tiến bộ
Trong quá trình phát triển của văn học, trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, việc xây dựng các loại nhân vật trên cũng khác nhau Nếu như trong thần thoại chưa có
sự phân biệt rạch ròi giữa nhân vật chính diện và nhân vật phản diện thì trong truyện
cổ tích, các truyện thơ Nôm, các nhân vật thường được xây dựng thành hai tuyến rõ rệt
có tính chất đối kháng quyết liệt Tuy nhiên, trong văn học hiện đại, việc phân chia nhân vật phản diện và chính diện là không cần thiết và cũng không dễ dàng Chúng ta
không thể xem Chí Phèo (Chí phèo – Nam Cao) là một nhân vật phản diện Bởi căn
bản thì Chí Phèo trước khi đi tù là một anh nông dân “hiền như đất”, cũng biết nhục
với những điều người ta khinh Và sau này, Chí Phèo cũng thức tỉnh, muốn quay trở lại làm người lương thiện Có thể thấy rằng cấu trúc nhân vật văn học ngày càng phức tạp, tương tự như con người trong đời sống vậy, không có con người nào hoàn toàn xấu, và cũng không có con người nào hoàn toàn cao cả Trong một con người luôn có
sự đan xen giữa cái xấu lẫn cái tốt, cái tầm thường với cái cao cả Do đó, việc phân biệt này cũng chỉ mang ý nghĩa tương đối
1.3.3.2 Xét từ góc độ kết cấu
Cách phân loại này thường xuất hiện trong các tác phẩm tự sự bao gồm truyện
và kịch, dựa trên cơ sở vai trò và mỗi quan hệ của các nhân vật trong một tác phẩm cụ
Trang 27thể Do đó xét từ vị trí và chức năng của nhân vật, ta có thể có các loại nhân vật như nhân vật chính, nhân vật trung tâm và nhân vật phụ
Nhân vật chính là các nhân vật giữ vai trò quan trọng của cốt truyện, trong việc
tổ chức và triển khai đề tài, chủ đề của tác phẩm Qua nhân vật chính, nhà văn thường nêu lên những vấn đề và những mâu thuẫn xung đột trong tác phẩm, từ đó đưa ra cách giải quyết vấn đề, đồng thời bộc lộ cảm hứng tư tưởng và tình điệu thẩm mĩ của nhà văn Các nhân vật này được tác giả miêu tả tỉ mỉ, có lai lịch nguồn gốc, có mối quan hệ với các sự kiện chính trong cốt truyện và các nhân vật khác Ví dụ như nhân vật Mai,
Lộc, bà Án (Nửa chừng xuân của Khái Hưng), Hộ (Đời thừa – Nam Cao), anh Pha, Nghị Lại (Bước đường cùng – Nguyễn Công Hoan), Lãm và Nguyệt (Mảnh trăng
cuối rừng – Nguyễn Minh Châu),… là nhân vật chính
Nhân vật chính có thể có nhiều hoặc ít tùy theo dung lượng những vấn đề được thể hiện trong tác phẩm Nếu trong một tác phẩm xuất hiện nhiều nhân vật chính thì nhân vật xuất hiện từ đầu tới cuối gắn liền với nội dung của cốt truyện và có liên quan với hầu hết các nhân vật chính là nhân vật trung tâm Ở nhân vật này thường quy tụ các vấn đề, những mối mâu thuẫn và tư tưởng chủ đề của tác phẩm Chẳng hạn như
nhân vật Thúy Kiều (Truyện Kiều - Nguyễn Du), Chí Phèo (Chí Phèo - Nam Cao), chị Dậu (Tắt đèn - Ngô Tất Tố), Tnú (Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành), Tào Tháo, Lưu Bị, Khổng Minh, Tôn Quyền,… (Tam quốc diễn nghĩa - La Quán Trung), là
nhân vật trung tâm Trong không ít trường hợp, nhà văn dùng tên nhân vật trung tâm
để đặt tên cho tác phẩm Ví dụ: Ðôn Kihôtê của Cervantes, Anna Karênina của L Tônxtôi, A.Q chính truyện của Lỗ Tấn, Truyện Kiều của Nguyễn Du, Chí Phèo, Lão
Hạc của Nam Cao,
Ngoài những nhân vật chính, những nhân vật còn lại trong tác phẩm đều là những nhân vật phụ ở các cấp độ khác nhau Ðó là những nhân vật giữ vị trí thứ yếu so với nhân vật chính Nhân vật phụ là nhân vật góp phần hỗ trợ, bổ sung cho nhân vật chính nhưng không được làm mờ nhạt nhân vật chính Chẳng hạn, nhân vật bà Ba, vợ
lẽ Bá Kiến (Chí Phèo – Nam Cao) là nguyên nhân để cụ Bá đẩy Chí vào tù và sau đó
là bi kịch tha hóa của người nông dân hiền lành chân chất bị biến đổi nhân hình và mất
đi nhân tính Tuy giữ tính chất phụ trợ nhưng không thể xem nhẹ nhân vật phụ, vì nó
là một bộ phận không thể thiếu trong toàn bộ tác phẩm Đôi khi nhân vật phụ lại thể hiện những quan niệm quan trọng của nhà văn được thể hiện trong tác phẩm Như
Trang 28Đạm Tiên (Truyện Kiều) là nhân vật phụ thể hiện cho quan niệm về mệnh, nghiệp, kiếp tiền định của Nguyễn Du Nhân vật Huy trong tiểu thuyết Nửa chừng xuân của
Khái Hưng đã thay nhà văn nói lên sự bất đồng giữa hai quan điểm cũ và mới
1.3.3.3 Xét từ góc độ cấu trúc
Nếu căn cứ vào các phương thức cấu trúc của nhân vật, ta có các loại hình nhân vật sau đây:
Nhân vật chức năng còn được gọi là nhân vật mặt nạ Giống như tên gọi, nhân
vật chức năng chỉ tồn tại để thực hiện một số vai trò nhất định trong tác phẩm, như các nhân vật ông Bụt, bà Tiên trong truyện cổ tích có chức năng ban phép màu giúp đỡ những người tốt gặp khó khăn, hoặc để thử thách con người, trừng phạt kẻ xấu xa, độc
ác Loại nhân vật này thường không có đời sống nội tâm và có những đặc điểm, phẩm chất không thay đổi nên thường tượng trưng cho một giá trị tinh thần nào đó và được hình thức hóa trong các sáng tác khác
Có thể thấy nhân vật chức năng rất phổ biến trong văn học dân gian như: Các anh hùng trong truyện cổ tích thường có chức năng giết yêu quái, cứu người đẹp, các
cô công chúa thường bị lâm nạn, được cứu và trở thành vợ của anh hùng Trong truyện
Nôm cũng có nhân vật chức năng như: các vị thần, phật (Lục Vân Tiên), thần Sơn Tinh (Tống Trân Cúc Hoa),… Họ đều là những nhân vật thể có sức mạnh thần bí để
thực hiện nhiệm vụ giúp đỡ người hiền lương và trừng trị kẻ gian ác Các nhân vật như lão thầy bói, thầy cúng trong các sáng tác của Nguyễn Khắc Trường, Vũ Trọng Phụng cũng là nhân vật chức năng
Nhân vật loại hình là nhân vật thể hiện tập trung một loại phẩm chất, tính cách
nào đó của một loại người nhất định thuộc một thời đại nhất định Các nhân vật trong
kịch của Môlie được là xem là nhân vật loại hình Nhân vật Ácpagông trong Lão hà
tiện là biểu hiện tập trung cho thói keo kiệt Táctuýp là thói đạo đức giả Hạt nhân của
nhân vật loại hình là yếu tố loại tính cách chứ không phải là cá tính Do đó, nhân vật loại hình là nhân vật được tác giả miêu tả với một loại tính cách hay một phẩm chất nào đó được tô đậm qua các chi tiết sinh động, chân thực Vì vậy nó có ý nghĩa tiêu biểu, điển hình nhưng vẫn có sức cuốn hút người đọc
Nhân vật tính cách: Nếu như nhân vật loại hình lấy khái niệm loại làm hạt
nhân thì nhân vật tính cách có hạt nhân là cá tính Nó hiện ra trong tác phẩm như một
nhân cách mà các yếu tố tâm lí, khí chất có vai trò quan trọng trong cấu trúc nhân vật
Trang 29Nhân vật tính cách là con người cụ thể, cá biệt độc đáo, là “con người này” theo cách
nói của Hêghen Do đó, nhân vật tính cách thường có cá tính nổi bật
Nhân vật tính cách thường có rất nhiều mặt khác nhau, thậm chí trái ngược nhau Vì tính cách là những phẩm chất xã hội - lịch sử của nhân vật, được thể hiện qua các đặc điểm cá nhân, gắn liền với những đặc điểm tâm sinh lí cá nhân Ví dụ như
nhân vật Xcarlét trong Cuốn theo chiều gió, vừa luôn mang trong mình những bài học
chuẩn mực về cách cư xử mà mẹ cô, một phụ nữ quý tộc cao quý đã từng dạy dỗ, nhưng Xcarlét cũng vừa có tính cách rất thực dụng để có thể tồn tại qua những giai đoạn khốn khó nhất của cuộc đời Nhân vật tính cách được chú ý nhiều ở mối liên hệ, tương quan giữa các thuộc tính tâm lí phức tạp có khi rất mâu thuẫn trong tính cách
Và đặc biệt sự xung đột giữa những tính cách ấy trong quan hệ với những hoàn cảnh, tình huống đã góp phần làm nhân vật luôn phải tự đấu tranh, dằn vặt Nhân vật Hộ
(Đời thừa - Nam Cao) là một dạng như vậy Và trong những mối liên hệ đó ta thấy nổi
lên cách ứng xử riêng biệt của nhân vật đối với từng hoàn cảnh, bộc lộ những mâu thuẫn xung đột, chuyển biến của tính cách Như vậy, nhân vật tính cách thường hiện ra như một quá trình, có biến động, thay đổi một cách sinh động, biện chứng giống như
những con người hiện thực Nhân vật Chí Phèo (Chí Phèo), chị Dậu (Tắt đèn), chị Đào (Mùa lạc),… là những nhân vật tính cách
Nhân vật tư tưởng: Theo Từ điển thuật ngữ văn học, nhân vật tư tưởng là:
“loại nhân vật tập trung thể hiện một tư tưởng, một ý thức tồn tại trong đời sống tinh
thần của xã hội (…) Nhân vật tư tưởng cũng có thể chứa đựng những phẩm chất tính cách, cá tính và nhân cách Nhưng cá tính và tính cách không phải là hạt nhân tạo nên cấu trúc của nhân vật tư tưởng” [8; tr 233 - 234] Như vậy, có thể hiểu nhân vật tư
tưởng là loại nhân vật tập trung thể hiện một ý thức, một tư tưởng nào đó mà theo tác giả loại ý thức, tư tưởng ấy rất đáng được chú ý trong đời sống xã hội Chẳng hạn như
nhân vật người điên (Nhật kí người điên - Lỗ Tấn) thể hiện tư tưởng lên án lễ giáo
phong kiến, cái lễ giáo nhân nghĩa ăn thịt người của xã hội trung cổ Nhân vật Huy
(Nửa chừng xuân – Khái Hưng) thể hiện cho tư tưởng mới, tiến bộ của tầng lớp thanh niên trí thức mâu thuẫn với hệ ý thức Nho giáo đã lỗi thời Nhân vật Độ (Đôi mắt –
Nam Cao) là thể hiện nhận thức của người trí thức về người nông dân, về cuộc kháng chiến trường kì gian khổ Nhân vật tư tưởng có thể chứa đựng những phẩm chất, tính cách và cá tính nhưng những điều này không phải là hạt nhân cơ bản trong cấu trúc
Trang 30của nhân vật Điều quan trọng tạo nên nhân vật tư tưởng chính là một tư tưởng, một ý thức Thế nên, nhân vật tư tưởng thường xuất hiện khi xã hội có những biến động ảnh hưởng đến tư tưởng và phẩm chất đạo đức của con người, thông qua đó nhà văn thường gửi gắm những tư tưởng của mình về hiện thực cuộc sống và con người
1.3.3.4 Xét từ góc độ thể loại
Ở góc độ lí luận văn học, tác phẩm văn học chia ra làm ba thể loại là: tự sự, kịch và trữ tình Do đó xem xét loại hình nhân vật ở góc độ này, ta có các kiểu nhân vật tương ứng có những đặc trưng riêng của từng thể loại văn học
Thể loại trữ tình: Nhân vật trong các sáng tác thuộc thể loại trữ tình (chủ yếu là
thơ trữ tình) gồm: nhân vật trữ tình và nhân vật trong thơ trữ tình Nhân vật trữ tình chính là chủ thể trữ tình Đó là người trực tiếp bộc lộ những cảm xúc và suy nghĩ trong tác phẩm trữ tình Chúng thường không có tên tuổi, tiểu sử, diện mạo, hành động,… nhưng để lại dấu ấn rất rõ qua giọng điệu, cảm xúc Nhân vật trữ tình thường là tác giả hoặc đôi khi tác giả nhập vai vào một ai đó để bộc lộ cảm xúc Chẳng hạn như trong
bài thơ Mời trầu của Hồ Xuân Hương thì nhân vật trữ tình ở đây chính là tác giả, còn trong bài thơ Lời kĩ nữ thì Xuân Diệu đã nhập vai người kĩ nữ để bày tỏ nỗi niềm tâm
tư cảm xúc của phận gái giang hồ Nhân vật trong thơ trữ tình là đối tượng để nhà thơ thể hiện những suy tư, cảm xúc Các nhân vật như bà bầm, bà bủ, em Lượm, mẹ Suốt,
bà má Hậu Giang trong thơ Tố Hữu là nhân vật trong thơ trữ tình
Thể loại tự sự: Nhân vật trong các tác phẩm thuộc thể loại tự sự thường đa
dạng và đầy đủ hơn so với nhân vật trong các thể loại khác Đây là loại nhân vật có tên tuổi, có tiểu sử, có quá trình diễn biến, có số phận Vì tác phẩm tự sự ít bị hạn chế dung lượng phản ánh nên nhân vật của nó thường được miêu tả chi tiết, đầy đặn Khác với nhân vật trữ tình, nhân vật tự sự được tập trung khắc hoạ tương đối cụ thể ở nhiều phương diện: ngoại hình, hành động, nội tâm, và đặc biệt là trong các mối quan hệ với các nhân vật khác Bởi chỉ có trong mối quan hệ với các nhân vật khác, nhân vật mới bộc lộ hết bản chất của mình và những biến đổi trong cuộc đời nhân vật cũng tùy thuộc mối quan hệ này Nhân vật tự sự được nhà văn khắc hoạ một cách tương đối về nội tâm, những xung động, mâu thuẫn trong suy nghĩ của nhân vật chủ yếu nhằm để lí
giải hành động của nhân vật Trong truyện Chí Phèo, để giải thích vì sao nhân vật
chính lại vác dao đến nhà Bá Kiến và đòi được làm người lương thiện, Nam Cao đã trần thuật lại những hồi ức về ước mơ giản dị khi hắn còn là một anh Chí hiền lành,
Trang 31những hối hận, ăn năn về những hành động dã man của một con quỷ dữ làng Vũ Đại, trong lần đầu tiên hắn thức tỉnh sau những cơn say triền miên Hắn nhận thấy hắn già
và cô độc Hắn muốn làm người lương thiện, nhưng không thể, từ đó dẫn đến hành động giết bá Kiến và kết thúc cuộc đời mình trước ngưỡng cửa thành người lương thiện
Thể loại kịch: Nhân vật của kịch thường là nhân vật có tính cách mạnh mẽ, nổi
bật Tuy nhiên, kịch bản văn học viết ra là để diễn trên sân khấu, nội dung của nó bị hạn chế về thời gian và không gian cho nên số lượng nhân vật không thể quá đông, không được miêu tả đầy đặn như nhân vật tự sự, nhất là về phương diện ngoại hình và nội tâm, đồng thời tính cách cũng không được quá phức tạp Tính cách của nhân vật kịch phải thật nổi bật, mạnh mẽ và phải có một nét thật đặc biệt để có thể tạo ấn tượng
sâu sắc Timôphêep giải thích: “Hình tượng kịch phản ánh những mâu thuẫn của cuộc
sống đã chín mùi gay gắt nhất và đã được xác định, chính vì vậy nó được xây dựng trên cơ sở nhấn mạnh trong tính cách con người, sự cảm xúc phiến diện do các mâụ thuẫn trên quy định” Như nhân vật Ôtenlô cả tin và ghen tuông, Đétxđêmôna trong
trắng, thơ ngây (Ôtenlô – W Shakespeare), Thị Mầu khao khát tình yêu (Nỗi oan Thị
Kính), Xúy Vân yêu mãnh liệt (Xúy Vân giả dại) Nhưng khi nói tính cách nhân vật
trong kịch phải nổi bật thì điều đó không có nghĩa tính cách của nhân vật kịch chỉ đơn giản, một chiều Ở Ôtenlô xen lẫn sự cả tin của một con người trung hậu với sự ghen tuông của một tình nhân, sự cương quyết cứng rắn của một võ tướng, lòng mặc cảm của một người da màu Tính cách nham hiểm của Iagô là sự đanh xen giữa tham lam, tàn nhẫn, giả dối và lừa lọc
Nhân vật trong kịch cũng thường chứa đựng những cuộc đấu tranh nội tâm căng thẳng, bởi họ thường đứng truớc sự lựa chọn trong những tình huống mang tính xung đột cao bắt buộc phải bộc lộ mình Nhân vật Prômêtê, Ơđíp, Hămlét, Ôtenlô, Rômêô, Giuliét, Xúy Vân, Thị Mầu, Trương Ba đều là những nhân vật phải suy nghĩ, cân nhắc,
có khi dằn vặt, đấu tranh nội tâm Các cuộc đấu tranh nội tâm thường thể hiện qua những màn độc thoại sâu sắc và mạnh mẽ thể hiện chiều sâu về tư tưởng và nhận thức của nhân vật như các màn độc thoại nội tâm của Hămlét, của Rômêô, Giuliet, Ôtenlô
Ở sân khấu kịch Việt Nam, nhân vật kịch của Nguyễn Đình Thi, Lưu Quang Vũ,… đều đã để lại những ấn tượng sâu sắc
Trang 32Dù phân loại theo tiêu chí nào thì nhân vật cũng được xây dựng với một số biện pháp cơ bản như miêu tả qua ngoại hình; qua xung đột nội tâm, qua ngôn ngữ, hành động Sự phân chia trên chỉ có tính chất rất tương đối, loại này bao hàm yếu tố của loại kia Do đó, khi nghiên cứu, người viết cần chú ý vào nét nổi trội trong cấu trúc tùng loại Mặt khác, để tạo sức hấp dẫn cho tác phẩm, các nhà văn luôn tìm tòi sáng tạo cho nhân vật cuả mình Thế nên nhân vật trong tác phẩm văn học thường không giản đơn, thuần nhất một tính cách mà nó đa dạng về cấu trúc, về khả năng phản ánh hiện thực
Vì thế, nhân vật này lại có nét của nhân vật loại kia Ví như nhân vật Huấn Cao (Chữ
người tử tù – Nguyễn Tuân) là nhân vật tính cách nhưng có yếu tố của nhân vật loại
hình Hay nhân vật AQ (AQ chính truyện – Lỗ Tấn) là nhân vật tư tưởng nhưng vẫn
có nét của nhân vật loại hình
Tóm lại nhân vật văn học là một yếu tố không thể thiếu trong tác phẩm văn học
Nó là một chỉnh thể vận động, có tính cách được bộc lộ dần trong không gian, thời gian mang tính chất quá trình Hệ thống nhân vật đem lại cho hình thức nghệ thuật của tác phẩm sự thống nhất và tính chỉnh thể, là một mặt của hình thức nghệ thuật văn học, gắn liền với nội dung bằng những mối liên hệ khắng khít Vậy nên khi tìm hiểu tư tưởng của tác phẩm tự sự và kịch, trước hết cần phải hiểu chức năng của hệ thống nhân vật, nội dung và ý nghĩa của nó
Trang 33CHƯƠNG 2: CÁC KIỂU NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA KHÁI HƯNG
Trong một tác phẩm văn học, nhân vật là yếu tố không thể thiếu Nếu không có nhân vật thì không thể nào có tác phẩm văn học, đặc biệt là ở thể loại tiểu thuyết Bởi thông qua hình tượng nhân vật mà tác giả xây dựng, người đọc có thể hiểu được những thông điệp, những quan niệm về con người và cuộc đời mà tác giả đã gửi gắm Và Khái Hưng nhà tiểu thuyết có biệt tài góp phần đáng kể trong công cuộc canh tân nền văn học hiện đại Với những quan niệm mới về con người, nhà văn đã xây dựng nên những hình tượng nhân vật độc đáo, nhưng vẫn gần gũi với đời sống, cuộc sống gia đình Đó là những nhân vật con người có những tính cách, những suy nghĩ mà chúng
ta có thể bắt gặp trong đời sống, hay là ở những người quen, mà đôi khi chính bản thân chúng ta cũng đã từng suy nghĩ và hành động như vậy Thế giới nhân vật của nhà văn rất đa dạng và phong phú Tuy nhiên, mỗi nhân vật có một tính cách riêng, tỏa một sức hấp dẫn riêng Căn cứ vào đặc điểm cụ thể của từng đối tượng, chúng ta có thể phân ra thành từng loại nhân vật nhất định Mỗi kiểu nhân vật sẽ mang một tư tưởng nào đó của nhà văn Người đọc có thể xem xét và phân loại nhân vật trong tiểu thuyết của Khái Hưng ở nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, trong luận văn này chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu và xếp loại nhân vật dựa trên cơ sở lí thuyết của lí luận văn học về nhân vật trong tác phẩm văn học, đặc biệt là nhân vật ở thể loại tiểu thuyết Ở đây, người viết phân chia nhân vật trong tiểu thuyết của Khái Hưng thành: nhân vật đại diện cho những hủ tục của lễ giáo và chế độ đại gia đình phong kiến, nhân vật đại diện cho quan trường hủ bại, nhân vật đại diện cho những tư tưởng mới tiến bộ, nhân vật có lối sống buông thả, tự do, hưởng lạc
2.1 Nhân vật đại diện cho những hủ tục của lễ giáo và chế độ đại gia đình phong kiến
Vào những năm 30 của thế kỉ XX, sự du nhập của văn hóa phương Tây đã làm
xã hội Việt Nam có những chuyển biến lớn trên nhiều bình diện Nhân đó, thế hệ trẻ
có điều kiện tiếp xúc với những tư tưởng mới tiến bộ Cái tôi cá nhân trong mỗi con người trỗi dậy ngày càng mạnh mẽ với những khát vọng, ước muốn về một cuộc sống
tự do, các quyền tự do chính đáng của con người được công nhận và tôn trọng Chính
Trang 34những điều này đã thôi thúc họ tìm mọi cách để giải phóng con người khỏi những xiềng xích của chế độ đại gia đình phong kiến, tìm kiếm tự do và hạnh phúc cá nhân Tuy nhiên, những ảnh hưởng của chế độ phong kiến vẫn còn rất mạnh mẽ Bởi những luân lí, những tập tục cổ hủ đã hòa tan vào máu, ăn sâu vào tư tưởng của những lớp người thuộc thế hệ cũ Hơn cả ngàn năm, họ đã sống chung với nó thì dĩ nhiên trong một thời gian ngắn để cái mới chiến thắng là điều khó có thể Thế nên mâu thuẫn giữa hai luồng tư tưởng mới và cũ ngày càng trở nên gay gắt Trước tình hình trên, những nhà văn, nhà thơ thuộc thế hệ mới có những tư tưởng tiến bộ đã cùng hướng ngòi bút của mình đến một mục đích chung là: thay đổi xã hội cũ, phá bỏ chế độ đại gia đình phong kiến với những tập tục cổ hủ lạc hậu, khẳng định cái tôi cá nhân và các quyền
cá nhân mà con người được có Trong những người ấy có nhà văn Khái Hưng, là một trí thức Tây học, tiếp thu ánh sáng của xu thế thời đại mới, nhà văn đã không thể chấp nhận những quan niệm đã lỗi thời, những lễ nghi nặng nề đã không còn phù hợp với cuộc sống và con người của thời đại mới Vì vậy, bằng cả tâm huyết, tài năng của mình, ông đã sáng tạo nên những hình tượng nhân vật rất chân thực với những quan niệm về “môn đăng hộ đối”, “danh gia vọng tộc, “thừa tự”, “trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có một chồng”,… để từ đó người đọc nhận ra rằng các hủ tục này đã lạc hậu Nó chỉ gây nên những mất mát đau khổ cho con người, làm đổ vỡ bao nhiêu mái ấm hạnh phúc, chà đạp lên nhân phẩm của người khác, và luôn luôn bất công với người phụ nữ
Chẳng hạn như quan niệm “môn đăng hộ đối” đã làm cho bao đôi nam nữ yêu nhau không đến được với nhau, thậm chí rơi vào bi kịch, phải sống cuộc đời mưa gió
như Tuyết (Đời mưa gió) Chính quan niệm hôn nhân phải hộ đối môn đăng, cha mẹ
Tuyết đã ép gả nàng cho con trai một gia đình quan lại giàu có, xứng đáng với danh giá gia đình nàng Từ đó, bi kịch cuộc đời Tuyết bắt đầu Bởi hôn nhân ấy, Tuyết không được chọn lựa Tuyết đã vâng lệnh cha mẹ nghỉ học để lấy chồng, người mà
nàng chưa từng gặp mặt Người chồng ấy thì “bỏ học, vô nghề nghiệp”, “lại là con
cưng một nhà quan (…) mười bảy, mười tám tuổi đầu mà còn ngây ngốc như một đứa trẻ”, còn “cha mẹ chồng thì cổ lỗ, bắt khoan bắt nhặt con dâu từng li từng tí” [18;
tr.215], mà Tuyết lại là một cô gái mới có “một khối óc tốt tươi và một trái tim dễ
cảm” [18; tr.214] Đó là một cuộc hôn nhân danh giá, vì cả hai gia đình đều là quan,
đều giàu có Nhưng đôi vợ chồng trẻ lại chẳng có được hạnh phúc bởi hai người là hai
Trang 35thế giới khác nhau Một người chồng ngu đần dốt nát làm sao có thể xứng với một cô gái thông minh, xinh đẹp duyên dáng như Tuyết Họ cũng chẳng được tìm hiểu, để được yêu nhau và chấp nhận chung sống với nhau trọn đời Thế nên, Tuyết đã từ bỏ cuộc sống sang giàu để tìm đến cuộc sống tự do, dù phải dấn thân vào cuộc đời mưa gió của một cô gái giang hồ Mà đâu phải riêng cha mẹ Tuyết, chú của Lan cũng vì mang nặng tư tưởng môn đăng hộ đối mà ép gả nàng vào nơi quyền quý đến nỗi Lan phải giả chết, nương nhờ cửa Phật để trốn khỏi cái hôn nhân gượng ép không mong
muốn (Hồn bướm mơ tiên) Có thể thấy, tư tưởng hôn nhân “môn đăng hộ đối” đã làm
cho con người ta rơi vào những tình huống éo le, những cuộc sống tù ngục ngay chính cái gia đình của mình Nhưng tư tưởng ấy đã ngự trị rất lâu trong suy nghĩ của thế hệ
cũ, nên không phải chỉ là Tuyết hay Lan mà còn bao chàng trai, cô gái khác phải sống
trong đau khổ, dằn vặt Trong tiểu thuyết Nửa chừng xuân, Mai và Lộc cũng phải đau
khổ xa rời nhau chỉ vì mẹ Lộc, bà Án không ưng thuận một nàng dâu không ngang hàng thứ bậc vai vế như Mai Có thể nói, trong hầu hết các nhân vật trong tiểu thuyết của Khái Hưng, Bà Án là mẫu người đại diện tiêu biểu nhất cho những tư tưởng cổ hủ lạc hậu
Nhân vật bà Án được xây dựng trong tác phẩm là một bậc mệnh phụ phu nhân
mà “ở ăn thì nết cũng hay, nói điều giằng buộc thì tay cũng già” (Truyện Kiều –
Nguyễn Du) Người phụ nữ quý tộc này luôn ý thức đầy đủ về quyền hành của một kẻ giàu có, quyền chức và có thế lực tuyệt đối của một người mẹ nghiêm khắc Nhân vật cũng chính là đại diện cho những bậc cha mẹ mang nặng tư tưởng tập tục cổ hủ của
chế độ đại gia đình phong kiến Với bà không gì quý bằng lễ nghi “sự quý nhất của ta
là lễ nghi, là ngũ luân ngũ thường, là cái đạo tam tòng tứ đức” [9; tr.248] và hôn nhân
là phải do cha mẹ chọn lựa, xếp đặt và con cái phải vâng lời, bởi cha mẹ đặt đâu con ngồi đó Bà không thể chấp nhận việc nam nữ có thể tự do gặp gỡ, tự do tìm hiểu, tự
do yêu nhau và tự do định đoạt việc hôn nhân của mình Bà cho rằng những việc làm
đó là trái với luân thường đạo lí, là bất hiếu với cha mẹ, là làm mất danh giá gia đình Con trẻ không được quyền lựa chọn người yêu để mưu cầu hạnh phúc cá nhân thật sự Việc dựng vợ gả chồng là tùy thuộc vào ý định của cha mẹ, “áo mặc sao qua khỏi đầu”
Bà Án cũng như các bậc cha mẹ xem trọng lễ nghi khác chỉ biết kén chọn những chỗ “môn đăng hộ đối”, những chỗ ngang hàng về giai cấp và thứ bậc với mình
Trang 36Vì vậy mà khi Lộc xin phép cưới Mai làm vợ, một người không ngang hàng về đẳng
cấp xã hội, bà cho là một điều sỉ nhục, ảnh hưởng xấu đến gia phong: “À, mày giở văn
minh ra nói với tao à? Tự do kết hôn à? Mày không bằng lòng nhưng tao bằng lòng Mày phải biết lấy vợ gả chồng là phải tìm chỗ môn đăng hộ đối, chứ mày định bắt tao thông gia với bọn nhà quê à? Mày làm mất thể diện tao, mất danh giá tổ tiên, mày là một thằng con bất hiếu” [9; tr.188 – 189] Bà cho rằng chỉ có những nơi “môn đăng hộ
đối” mới đem đến hạnh phúc cho con trai của bà Vì những chỗ như thế mới xứng đáng với danh giá của gia đình bà, mới tôn thêm sự cao quý của một bậc mệnh phụ phu nhân như bà Thêm vào đó, chỉ có gia đình danh môn quyền cao chức trọng mới
có thể đem đến hạnh phúc, mới là chỗ dựa vững chắc cho con đường tiến thân vào quan trường cho con trai bà Suy nghĩ và chọn lựa rất kĩ bà Án mới quyết định cưới
con gái quan tuần cho Lộc Vì bà cho rằng “quan tuần còn trẻ, bước hoạn đồ còn dài,
sau này con tôi tất phải nương tựa vào bố vợ để mà thăng quan tiến chức được” [9;
tr.251] Thật ra bà Án cũng thương con, nhưng tư tưởng của bà đã không còn phù hợp với những tư tưởng mới tiến bộ như Mai và Lộc, con trai của bà Hơn nữa bà là một người bảo thủ, đã có lần Lộc hết lời giải thích với mẹ về nhân phẩm của Mai, một người toàn vẹn về dung nhan và đức hạnh chứ không phải hạng gái giang hồ như mẹ Lộc đã nghĩ Nhưng những gì Lộc nói có thấm vào đâu so với những thành kiến cổ hủ
đã ăn sâu vào tận máu xương của bà “Mai chỉ hoàn toàn đối với Lộc mà thôi”, [9; tr.188] chứ đối với bà, Mai cũng chỉ là bọn người cùng đinh trong xã hội, “chỉ là một
con bé khốn nạn, vô giáo dục, một con bé trong đám hạ lưu không đáng làm vợ một quan tham tá (…) Bà cho con bà còn dại dột bị lời ngon tiếng ngọt của một cô gái giang hồ dụ dỗ” [9; tr.188] Bà vẫn tin rằng: người vợ mà cha mẹ hỏi cho có cheo, có
cưới mới quý, chứ đồ liễu ngõ hoa tường thì chỉ tổ làm bẩn nhà bà Bà “nhất định cho
rằng ngoài vòng lễ nghi, vượt hẳn quyền thúc bá thì dẫu sao người con gái cũng không thể gọi là một người con gái có đức hạnh được” [9; tr.244] Thêm vào đó, bà
Án nghĩ “con có cha như nhà có nóc Cô là gái mà lại mồ côi cha mẹ thì tránh sao
được sự lầm lỡ” [9; tr.243] Thế nên, bà từ chối thẳng thừng việc cưới Mai cho Lộc Vì
bà không thể chấp nhận một người con dâu có gia thế như thế được Tư tưởng “áo mặc sao qua khỏi đầu”, “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” và hôn nhân là phải hộ đối môn đăng đã ăn sâu vào trong nếp nghĩ của những bậc cha mẹ thuộc thế hệ cũ như bà Án
Họ chỉ biết rằng chỉ có những chỗ giàu sang phú quý mới có thể đem đến hạnh phúc
Trang 37cho con cái của họ Họ chẳng bao giờ quan tâm và công nhận lẽ phải của con tim, chưa bao giờ biết đến cái được gọi là tình yêu nam nữ Nhưng nếu như hôn nhân được tạo nên từ sự ép buộc thì liệu có chăng hạnh phúc gia đình Hôn nhân chỉ thật sự vẹn toàn, hạnh phúc phải được tạo thành từ tình yêu, từ sự hòa nhịp của hai trái tim, sự đồng điệu của hai tâm Tuy nhiên mẹ của Lộc, cũng như phần nhiều bậc cha mẹ khác trong
xã hội bấy giờ không hề biết đến những điều này Họ chỉ biết rằng từ xưa đến nay, các cuộc hôn nhân do cha mẹ chỉ định sẽ mang lại hạnh phúc Họ đâu có biết tình yêu là
gì, nhưng họ vẫn sống với nhau vui vẻ, đầm ấm cho đến răng long đầu bạc Thật ra
“gia đình các cụ cũng vui vẻ, êm thắm nhưng cái đó chỉ nhờ ở sự bắt buộc mà có, chỉ
nhờ có lễ nghi mà có, chứ không phải vì tính tình của vợ chồng hợp nhau Theo lễ nghi, vợ phải phục tòng, chồng bảo sao nghe vậy, dẫu bị áp chế cũng không dám hé môi Như thế thì làm gì mà chẳng êm thắm” [9; tr.221 - 222] Vì thành kiến cổ hủ, lễ
giáo gia phong, vì danh dự của gia đình, phẩm giá của bà và tương lai của Lộc nên bà
đã không tiếc thủ đoạn chia rẻ tình cảm, hạnh phúc của chính con trai mình Bà Án là một người phụ nữ rất khôn ngoan trong ứng xử Bà biết rõ để chia cắt mối tình này không phải là chuyện dễ dàng Thế nên, bà đã tiến công từ hai phía, dùng cả nhu lẫn cương, đánh đòn tâm lí để cả Mai và Lộc phải chấp nhận xa nhau
Phải nói rằng, Khái Hưng đã rất dụng công trong việc xây dựng nhân vật này
Bà Án chính là mẫu nhân vật đại diện cho cả một thế hệ cũ mang nặng tư tưởng của lễ giáo phong kiến Dù rằng bà là một người mẹ rất đỗi thương con, lo lắng cho con, luôn muốn con trai mình có được một cuộc sống sung sướng, hạnh phúc Nhưng cũng chính
vì quan niệm sai lầm này chính bà đã phá tan đi hạnh phúc gia đình nhỏ bé của con trai mình Đồng thời đem đến khổ đau cho cả ba người là con trai bà, Mai và cả con gái quan Tuần Thế nhưng, chúng ta có giận, có oán trách bà Án vì những hành động mà
bà đã đối xử với Mai, với Lộc thì chúng ta cũng nên nhìn nhận một cách khách quan hơn về nhân vật này Bà cũng xúc động cảm thương cho Mai, khi buộc Mai phải bỏ
Lộc trong lúc “đang thai nghén” nhưng tư tưởng “môn đăng hộ đối” đã lấn át đi tất cả lòng thương cảm của bà Nói theo suy nghĩ của Lộc thì “bao nhiêu sự lầm lỡ của mẹ ta
nguyên do chỉ ở chỗ quá suy tôn cổ tục, quá thiên trọng tập quán Mẹ ta đuổi Mai cũng chỉ vì thế” [9; tr.345] Như vậy, cái chúng ta nên phê phán chính là những tư
tưởng cổ hủ mà bà đã “thừa kế” từ dòng dõi nhà quan Vì vậy mà sau này khi nghĩ đến những hành động bà đối xử với Mai, bà cảm thấy ăn năn, xấu hổ không dám gặp lại
Trang 38Mai Qua hình tượng nhân vật bà Án, người đọc nhận thấy rằng những tập tục lễ nghi
phong kiến “đã ăn sâu vào tận não, đã hòa lẫn vào mạch máu, đã thành cái di sản
thiêng liêng bất vong bất diệt” [9; tr.215] của cả một thế hệ cũ, đem đến bao hệ lụy
không đáng có cho bao người
Đi liền với tư tưởng môn đăng hộ đối là tư tưởng danh gia vọng tộc Bởi các gia đình quyền thế đều muốn kén chỗ dựng vợ gả chồng cho con cái đều phải ngang hàng
về vai vế, địa vị trong xã hội Họ không chỉ nghĩ điều đó sẽ làm cho con cái hạnh phúc
mà còn làm rạng rỡ danh giá gia đình Chẳng hạn như việc Bà Án kén vợ cho Lộc Vợ của Lộc không phải là một cô gái mà chàng yêu quý mà là cô gái mà mẹ chàng lựa chọn, con gái cưng của quan Tuần phủ Sở dĩ bà quyết định như thế là vì bà Án đã xem hôn nhân như là cầu nối của danh vọng, cho nên chỉ có cưới con gái quan Tuần thì Lộc mới có thể thuận buồm xuôi gió tiến thân trên con đường công danh, đồng thời cũng làm rạng rỡ danh giá gia đình Sức cám dỗ của chức tước, danh vọng luôn mạnh mẽ đối với những người coi trọng vật chất, địa vị Hầu hết các gia đình giàu có, quyền thế
đều muốn gả con vào chỗ hào môn vọng tộc Bà Ba trong tiểu thuyết Thừa tự đã tính
toan, suy nghĩ rất nhiều về con rể tương lai, khi Cúc đến tuổi phải lấy chồng Cuối cùng bà cũng chọn được một người ưng ý, cậu Cử Phan, người mà nay mai sẽ làm quan sau khi ra trường Và bà sẽ được là bà lớn, mẹ vợ của một ông quan trẻ Bà Án
Báo trong tiểu thuyết Gia đình cũng luôn tìm cách để tạo mối hiềm khích giữa các con
vì bà mong muốn các con đều là quan lớn, bà lớn Có thể thấy sức cám dỗ của chức tước, địa vị có thể khiến con người ta trở nên xấu xa, tàn nhẫn, anh chị em phải ganh ghét, đố kị với nhau, và không biết bao nhiêu gia đình đổ nát vì nó Với những người
mang nặng tư tưởng Nho giáo thì danh giá nhất chính là làm quan, vì ở làng “giàu có
đấy người ta cũng mặc, mình không có chức tước, ngôi thứ gì thì họ coi như khinh mẻ ngay” [9; tr.64] Ở đây chúng tôi muốn nói đến những người vì hư danh của địa vị
“ông lớn, bà lớn” sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn để gả bán con cái hoặc ép buộc người khác thi vào quan trường
Trong tiểu thuyết Gia đình, Khái Hưng đã xây dựng những hình tượng nhân vật
tiêu biểu cho bệnh “sính quan” này Tiêu biểu như nhân vật Nga trong truyện, cô là con gái của một gia đình quyền chức Cha là ông Án, cả anh ruột và anh rể Nga đều làm quan, một người là quan tham, một người là quan Huyện Thế nên, Nga luôn muốn có được một người chồng làm quan Cái danh giá hão huyền của bà huyện càng
Trang 39mãnh liệt khi chị ruột của Nga, Phụng luôn ra dáng của bà lớn với cô Cha mẹ cô cũng chẳng đoái hoài đến cô Họ chỉ biết có mỗi mình Phụng, bênh vực Phụng vì Phụng có chồng là quan tri huyện Lòng ganh ghét, đố kị và ý nguyện làm bà lớn đã khiến Nga
thúc ép An phải học lên để ra làm quan “Trong ba năm ròng, nàng chỉ trông thấy có
một điều, để cả ý muốn, mong ước, tinh thần vào có một điều: chồng ra tri huyện Bao nhiêu việc khác là phụ, là không đáng kể Nàng cho cái tri huyện của An là chìa khóa
mở hết các việc đời, cả hạnh phúc của nàng nữa Nàng tự nhủ: “Khi nào chồng mình làm tri huyện thì chị Phụng sẽ hết lên mặt với mình, thì thầy mẹ sẽ vì nể mình, thì trong họ, ngoài làng, ai ai cũng kính trọng mình, lúc đó mình sẽ về chơi nhà luôn như chị Phụng, chớ sợ gì! Được, rồi sẽ biết” [14; tr.169] Vì những ý định ấy mà Nga
khuyên chồng học tiếp để ra thi vào quan trường Một khi An là quan huyện thì Nga cố nhiên sẽ trở thành bà huyện Lúc đó, Nga sẽ ngang hàng và chẳng còn sợ chị Phụng lên mặt, nàng cũng sẽ mở mặt mở mày với xóm làng Thật sự, hai tiếng “bà Huyện” ấy
đã có mãnh lực vô cùng to lớn đối với Nga Nga đã dùng mọi thủ đoạn để đạt mục đích: từ nói ngọt, dỗ dành, khích bác, lôi kéo bố mẹ, chú, cậu, anh em để tấn công thúc
ép chồng Thậm chí, Nga mất hết cả vẻ dịu dàng, nền nếp của con nhà gia giáo, càng lúc càng quá đáng, khiến An đau khổ đến mức muốn tự tử để thoát khỏi ngục thất gia đình Cuối cùng chàng đành đầu hàng vợ để cho gia đình êm ấm, và vì cái bào thai trong bụng Nga
Nhưng cái gì cũng có cái giá của nó Từ khi, An nghe theo vợ, khăn gối lên Hà Nội thi vào quan trường thì cũng là lúc, hạnh phúc gia đình cũng dần dần bị đánh mất Lên Hà Nội, An vẫn học hành, chàng học vì vợ vì chú, vì gia đình vợ chứ không phải
vì bản thân chàng muốn Thế nên, ngay sau giờ học, An lao vào những cuộc ăn chơi, thậm chí phụ bạc tình cảm của Nga Nhưng Nga vẫn âm thầm chấp nhận, cô khóc khi biết chồng mình đang chung sống với người đàn bà khác Nhưng vì danh bà huyện mà
An đang chuẩn bị đem về, Nga đã sẵn sàng đánh đổi “quyết hi sinh mọi sự, kể cả ái
tình chuyên nhất của chồng, cả hạnh phúc gia đình” [14; tr.106] Như Phụng, vợ Viết
dù biết chồng mình có vợ bé bên ngoài nhưng vẫn vui vẻ chấp nhận, coi không như có việc gì Bởi điều mà Phụng quan tâm chính là tiền tài và địa vị mà chồng cô đem đến cho cô Cho nên đối với một người đàn bà, người vợ như Phụng, việc ấy cũng chẳng
có gì là to tát và nguy hại cho hạnh phúc gia đình
Trang 40Trong tiểu thuyết Gia đình không chỉ có Nga mới thích danh vị hão huyền của
chức tước mà còn có cha mẹ cô và ông Điều Vạn, chú ruột của An Ông Điều Vạn cùng với Nga tìm mọi lí lẽ để buộc An thi vào quan trường Ông ép An cũng chỉ vì muốn chứng minh quyền hành của người chú “sảy cha còn chú, sảy mẹ bú dì” Nhưng hơn hết là thanh danh dòng họ Phạm của ông và cả những lợi ích khi An ra làm quan
“Anh còn trẻ tuổi không biết gì đến việc hương đảng, chức tước lắm kia… Họ Hoàng
từ xưa có khoa mục, khoa miếc gì đâu, thế mà nay nó chễm chệ ngồi ăn tiên chỉ Con
họ nhà ta thì ngày xưa thời nào chẳng có ít ra là một ông cử, thế mà nay anh lại khoa bảng xuất thân… Để thế nào thì ngôi tiên chỉ vào tay người khác được… Nếu anh không kiện thì tôi kiện, danh dự là danh dự cả họ, tôi có quyền kiện” [14; tr.140] Có
thể thấy địa vị chức tước làm con người ta trở nên mù quáng Ngay cả bậc làm cha mẹ trong gia đình, vị trí người làm cha mẹ là quan trọng nhất Bởi họ chính là người răn dạy con cháu điều hay, lẽ phải, dìu dắt con cái học điều tốt, làm việc thiện, hiếu kính
ông bà cha mẹ và thương yêu chăm sóc chị em Thế nhưng, trong tiểu thuyết Gia đình
thì thực tế hoàn toàn ngược lại Chính cha mẹ là căn nguyên để sinh ra sự rạn nứt các mối quan hệ trong gia đình Bà Án biết các con của mình có tính ghen ghét và đố kỵ nhau, bà đã không hòa giải, ngăn cấm mà còn cố tình làm tăng thêm hiềm khích, tìm
cách lợi dụng nó để thực hiện ý đồ của mình: “Nga khuyên được chồng xin học nữa để
làm quan, bà cho là kết quả của sự ghen ghét Mà sự ghen ghét ấy có là nhờ tài khôn khéo của bà đã biết gây nó, biết nuôi nó Nhưng bà vẫn hiềm tức về nỗi người con rể thứ ba đương học đốc tờ lại bỗng dưng bỏ về làm ruộng” [14; tr.172] Chính ông bà
Án tạo ra ranh giới và khoảng cách giữa các con, làm họ thù hằn nhau Thái độ của bố
vợ đối xử với An cũng khác hẳn Khi An chưa làm quan thì “Viết nói bất cứ câu gì,
ông nhạc cũng chịu là phải, còn chàng thì trái lại, không bao giờ được ông tin là nói đúng” [14; tr.55], đến khi An ra làm quan thì cách đối xử khác đi qua lời kể của Phụng
“khi nó chưa chịu đi học thì thầy mẹ chả coi nó ra cái gì Thế mà từ khi nó xin được vào trường đại học thì thầy mẹ, nhất là mẹ yêu quý nó như hòn ngọc trên tay” [14;
tr.157] Ông bà Án đã đem chức quan, địa vị, phẩm giá ra cân đo đong đếm nên đối xử
và yêu thương các con mình như thế nào Có thể họ nghĩ rằng để các con hơn thua nhau về địa vị chức tước xã hội là để thúc đẩy các con trai con rể tiến vào con đường làm quan, làm rạng rỡ gia đình, nhưng vô tình nó làm rạn nứt những mối quan hệ vốn