Nối kết với những tác phẩm sáng tác trước đây của Ma Văn Kháng, chúng tôi thấy cần thiết tiếp tục nghiên cứu Ma Văn Kháng trong chuỗi sáng tác từ năm 1985 đến năm 2015, khám phá thế giới
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Lê Việt Hùng
THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG
1985 - 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Lê Việt Hùng
THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG
1985 – 2015
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN THÀNH THI
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc rõ ràng và được phép công bố Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn của mình
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 3/2017
Lê Việt Hùng
Trang 4Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu, Khoa Ngữ văn, Phòng Sau đại học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện về mọi mặt cho chúng tôi học tập, nghiên cứu thuận lợi trong thời gian vừa qua, cảm ơn quý thầy cô đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, cung cấp tài liệu học tập và nghiên cứu, giúp chúng tôi hoàn thành chương trình học tập
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc tới Phó Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Thành Thi, người thầy đã trực tiếp giảng dạy và hướng dẫn Luận văn của tôi Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới quý thầy cô trong Hội đồng chấm luận văn đã dành thời gian đọc và đóng góp ý kiến giúp cho Luận văn được hoàn thiện
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đồng Nai, lãnh đạo trường Trung học phổ thông Trần Phú và đồng nghiệp, bạn bè, anh em đã tạo điều kiện, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Luận văn này
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 3/2017
Lê Việt Hùng
Trang 6Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Danh mục các chữ viết tắt
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ NHÂN VẬT TIỂU THUYẾT VÀ TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG TRONG BỐI CẢNH TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TRÊN ĐƯỜNG ĐỔI MỚI 19
1.1 Nhân vật tiểu thuyết 19
1.1.1 Khái niệm nhân vật và thế giới nhân vật trong tác phẩm văn học 19
1.1.2 Đặc điểm nhân vật tiểu thuyết 21
1.2 Tiểu thuyết Ma Văn Kháng 1985 – 2015 trong bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam trên đường đổi mới 23
1.2.1 Nền tiểu thuyết Việt Nam trên đường đổi mới 23
1.2.2 Tiểu thuyết Ma Văn Kháng 1985 - 2015 30
Tiểu kết chương 1 42
Chương 2 TỪ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI ĐẾN CÁC KIỂU NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG 1985 - 2015 43
2.1 Quan niệm nghệ thuật về con người 43
2.1.1 Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học 43
2.1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng 1985 -2015 44
2.2 Các kiểu nhân vật phổ biến trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng 1985 - 2015 45
Trang 7Tiểu kết chương 2 71
Chương 3 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG 1985 – 2015, NHÌN TỪ KẾT CẤU TRẦN THUẬT VÀ KIẾN TẠO DIỄN NGÔN 72
3.1 Phương thức kiến tạo nhân vật trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng 1985 – 2015, nhìn từ kết cấu trần thuật 72
3.1.1 Kết cấu trần thuật và các khái niệm liên quan 72
3.1.2 Đặc điểm kết cấu trần thuật trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng 1985 - 2015 74
3.2 Phương thức xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng 1985 – 2015, từ góc nhìn kiến tạo diễn ngôn 82
3.2.1 Diễn ngôn và kiến tạo diễn ngôn 82
3.2.2 Diễn ngôn nhân vật trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng 1985 – 2015 84
3.2.3 Diễn ngôn người kể chuyện trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng 1985 – 2015 91
3.2.4 Sự hòa phối diễn ngôn trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng 1985 – 2015 110
Tiểu kết chương 3 115
KẾT LUẬN 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Ma Văn Kháng là nhà văn bước vào nghề không sớm nhưng bù lại, ông miệt mài, cần mẫn, cứ “chi chút như con ong làm mật”, “chắt chiu những vị đời” và mỗi “phút giây huyền diệu” lại là nguồn cơn cảm hứng để nhà văn dâng cho đời một “đứa con tinh thần” mang “diện mạo” rất Ma Văn Kháng Với một niềm đam mê và sức sáng tạo như thế, quãng đời sáng tác mấy chục năm của Ma Văn Kháng cho đến thời điểm hiện tại đã có 17 tập tiểu thuyết, 27 tập truyện ngắn, 01 hồi ký, 02 tiểu luận và bút ký nghề văn, đề cập đến nhiều vấn đề của cuộc sống, ở nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau của đất nước và thể hiện những chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc đời và nghề văn Trong số đó, nhiều tác phẩm đã đạt giải thưởng danh giá, được đông đảo bạn đọc đón nhận và các nhà nghiên cứu, phê bình đánh giá cao Riêng về thể loại tiểu thuyết, Ma Văn Kháng đã có nhiều đóng góp cho nền tiểu thuyết hiện đại Việt Nam và tạo cho mình một
“tạng” khó lẫn được với nhà văn nào Sức hấp dẫn của tiểu thuyết Ma Văn Kháng đến từ nhiều phương diện khác nhau, trong đó không thể không kể đến thế giới nhân vật phong phú và “như thật” được xây dựng, khắc họa mang đậm
“thương hiệu” Ma Văn Kháng Nhân vật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng phản ánh rõ lối đi riêng của nhà văn trên hành trình đổi mới thể loại tiểu thuyết
và khám phá, tái hiện những “ẩn mật bản ngã” trong chiều sâu tâm hồn con người Bằng việc kiến tạo thế giới nhân vật ấy, Ma Văn Kháng đã mang đến cho người đọc những vấn đề nóng hổi của cuộc sống, những vấn đề không thể dửng dưng của xã hội đương đại Có thể nói, nhân vật là một trong những yếu tố góp phần làm nên thành công cho tiểu thuyết của Ma Văn Kháng, nhất là những tiểu thuyết từ thời đổi mới về sau
1.2 Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời đổi mới về sau và thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của ông đã được giới nghiên cứu phê bình, các nghiên cứu
Trang 9sinh, học viên cao học chú ý quan tâm nhiều trong thời gian qua Các công trình nghiên cứu có quy mô và cách tiếp cận khác nhau nhưng cùng cho thấy Ma Văn Kháng là một nhà văn có nhiều đóng góp cho nền tiểu thuyết Việt Nam nói riêng
và nền văn xuôi nước nhà nói chung về nhiều mặt Ma Văn Kháng là nhà văn sáng tạo nghệ thuật không ngừng Những tiểu thuyết mới hoàn thành và được xuất bản những năm gần đây có độ chín về nghệ thuật và chứa đựng nhiều thông điệp sâu sắc rất cần được tiếp tục quan tâm Nối kết với những tác phẩm sáng tác trước đây của Ma Văn Kháng, chúng tôi thấy cần thiết tiếp tục nghiên cứu
Ma Văn Kháng trong chuỗi sáng tác từ năm 1985 đến năm 2015, khám phá thế giới nhân vật trong những tiểu thuyết giai đoạn này để thấy được những chuyển biến trong quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn cũng như để một lần nữa khẳng định phong cách nghệ thuật đặc sắc cùng những đóng góp quan trọng trong 30 năm của đời văn Ma Văn Kháng cho tiểu thuyết hiện đại Việt Nam
Với những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: Thế giới nhân vật trong tiểu
thuyết Ma Văn Kháng 1985 – 2015 với hy vọng thêm một góc nhìn, một hướng
tiếp cận về đối tượng nghiên cứu
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu tiểu thuyết Ma Văn Kháng
Ma Văn Kháng là nhà văn thành công ở nhiều thể loại văn xuôi, nhất là truyện ngắn và tiểu thuyết Riêng về tiểu thuyết, tính đến nay, Ma Văn Kháng đã
in 17 cuốn Những tiểu thuyết đầu tiên của Ma Văn Kháng là những tác phẩm viết về đề tài Tây Bắc, vùng đất gắn liền với thời trai trẻ của nhà văn với hơn hai
chục năm sống và dạy học (từ 1954 đến 1976) Đó là các cuốn tiểu thuyết Đồng
bạc trắng hoa xòe (1979), Vùng biên ải (1983) cùng với nhiều tiểu thuyết sau
này về đề tài miền núi được khá nhiều độc giả yêu thích vì đã phản ánh chân thực, sinh động cuộc sống của đồng bào miền núi phía Bắc nước ta, khắc họa thành công những con người mang vẻ đẹp lý tưởng thời đại và rất đậm đà phong
vị Tây Bắc, khiến cho Ma Văn Kháng được mệnh danh là “nhà văn của núi rừng”
Trang 10Đến đầu những năm 80 của thế kỷ XX, nền văn xuôi Việt Nam đã có những biến chuyển sâu sắc trên đường đổi mới Ma Văn Kháng là một trong số nhà văn đã mau mắn bắt nhịp được với xu hướng của thời đại Nhà văn đã chuyển hướng ngòi bút của mình sang một địa hạt mới với đề tài thành thị Những tác phẩm của Ma Văn Kháng ngay từ giai đoạn đầu của thời đổi mới đã được đông đảo dư luận, độc giả và các nhà phê bình quan tâm
Tiểu thuyết Mưa mùa hạ ra đời năm 1982, đánh dấu bước chuyển trong
sáng tác của Ma Văn Kháng Ngay sau khi ra đời tác phẩm đã thu hút nhiều nhà
phê bình Tác giả Trần Đăng Suyền, trong bài viết Một cách nhìn cuộc sống hôm
nay đăng trên báo Văn nghệ số 15 - 19 (1983), đã đưa ra nhận định xác đáng về
tiểu thuyết Mưa mùa hạ: “Giá trị của Mưa mùa hạ không chỉ là chỗ mạnh dạn
lên án cái tiêu cực mà chủ yếu là xây dựng được cách nhìn, thái độ đúng đắn trước những cái xấu, trước những bước cản đi lên Chủ nghĩa xã hội” [110] Tác
phẩm này cũng được Vân Thanh đánh giá cao vì “đã thể hiện cách nhìn, thái
độ của các nhân vật trước những hiện tượng tiêu cực trong xã hội Lương tâm,
lẽ sống của mỗi người đều bị thử thách trước lưới bủa vây của tệ nạn tiêu cực, trong vòng bức bách của vấn đề cơm áo hàng ngày có khi những quan niệm đạo lý thông thường bị xáo trộn, gây nên sự hoài nghi, phân vân ở mỗi người” [122] Chính vì thế mà từ trong những trang sách vang lên một tiếng
giục giã, đánh thức lương tâm, trách nhiệm của mỗi người: “Bằng bất cứ giá
nào cũng phải ngăn chặn kịp thời những tổ mối tiêu cực đang sinh sôi nảy nở trong đời sống nếu không chúng sẽ đục ruỗng xã hội và hủy hoại những giá trị tinh thần vốn đã thành truyền thống của dân tộc” [122]
Tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn ra đời năm 1985, được coi là đỉnh
cao, là dấu mốc quan trọng đánh dấu sự chuyển biến của Ma Văn Kháng vì có nhiều đóng góp cả về nội dung và hình thức nghệ thuật, đã chứng tỏ sự thâm nhập vững vàng của nhà văn vào xã hội thành thị đang biến động, nơi có những con người đang dần biến chất, tha hóa Đọc tác phẩm này, nhà nghiên
Trang 11cứu Lại Nguyên Ân khẳng định: Mùa lá rụng trong vườn biểu hiện cho xu thế
văn học đang vươn tới những vấn đề cốt yếu Tác giả Vân Thanh cũng nhận xét:
“Có thể xem Mùa lá rụng trong vườn là một tiếng nói của tác giả trước hiện
thực hôm nay: Một tiếng nói về quan hệ giữa cá nhân, gia đình và xã hội, về trách nhiệm của mỗi người đối với cuộc sống và cộc sống dành cho mỗi người tác phẩm đã khơi được vào dòng chảy của cuộc sống chúng ta hôm nay, đã lẩy ra được một mảng tươi nguyên của cuộc sống đó, gợi cho ta biết bao suy nghĩ về nó, lo lắng, băn khoăn về nó, và cũng hi vọng, tin yêu ở nó
Từ đó đặt ra cho mỗi chúng ta một thái độ sống, một trách nhiệm sống” [122]
Ở đó, mỗi con người cần có sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau của các thành viên, của gia đình và của cả xã hội
Đám cưới không có giấy giá thú cũng là một tiểu thuyết được dư luận chú
ý vì đề cập đến nhiều vấn đề xã hội đương thời Hà Minh Đức trong “Hội thảo
về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú” cho rằng: “Ma Văn Kháng đã
là một trong những tác giả đổi mới đầu tiên trong văn xuôi, viết về nhà trường nhưng thực ra ông muốn đề cập đến một vấn đề xã hội rộng lớn hơn Nhiều trang viết về người thầy giáo thật xúc động Anh nêu lên thực trạng đáng buồn đáng giận ấy với tinh thần trách nhiệm và rất tâm huyết để bảo vệ cái tốt đẹp” [103] Phan Cự Đệ thì thấy rằng, nhân vật thầy giáo Tự trong tiểu
thuyết Đám cưới không có giấy giá thú “đã phản ánh được cái bi kịch của
một nhà giáo, một trí thức: anh ta lúc thì đóng vai một nhà hiền triết, nhân cách cao cả và thánh thiện nhưng lại bị ném vào một môi trường mà các giá trị tinh thần đang bị đảo lộn, một môi trường bị ô nhiễm, bị băng hoại về đạo đức
và nhân phẩm ” [22]
Đến với tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời, nhà nghiên cứu Phong Lê, trong
cuốn Vẫn chuyện Văn và Người, nhận xét: “Cuốn sách của Ma Văn Kháng đã
vục vào cái sự thật tối tăm oan khổ đó như nhiều cuốn sách khác Nó thật lạ, anh lại đưa con người vào quỹ đạo những tình cảm nhân hậu tốt lành Có thể
Trang 12nói, đó là hiệu quả thanh lọc, tẩy rửa Cái hiệu quả thanh lọc này vốn dành cho nghệ thuật và dường như cũng chỉ có nghệ thuật đích thực, nghệ thuật cao hơn cuộc đời mới có thể làm nổi” (…) “Cuốn sách mạnh mẽ đẩy ta vào giữa dòng đời sống hôm nay với cảm hứng lớn là cảm hứng sự thật, với sự bất bình, và khát vọng bao trùm là khát vọng dân chủ; cùng đồng thời cho ta một sự gắn nối với mạch văn truyền thống là chủ nghĩa nhân văn và tình thương yêu con người”
[83]
Đọc tiểu thuyết Gặp gỡ ở La Pan Tẩn, nhà nghiên cứu Phong Lê đánh giá
cao Ma Văn Kháng vì nhà văn “đã bước đầu thực hiện được kỳ vọng về một thứ
tiểu thuyết là “nền tảng của một nền văn học” là “cỗ đại bác chủ lực” không phải chỉ vì chuyên chở một dung lượng chất liệu nghệ thuật lớn, phản ánh một hiện thực lớn…mà hơn nữa, chủ yếu còn là vì nó đặt ra được những vấn đề thiết cốt của nhân sinh, nhân quần, nó tái hiện con người và cuộc sống; do vậy, gây hứng thú lâu dài, làm giàu có nhân tâm, đạt tới cõi bí ẩn của văn xuôi là tạo được một âm hưởng sâu xa” [83]
Tiểu thuyết Ma Văn Kháng luôn có những nỗ lực cách tân nghệ thuật Khi
bàn về tác phẩm Ngược dòng nước lũ, tác giả Hồ Anh Thái cho rằng, “Ngược
dòng nước lũ chứa đựng những điển tích được gài cắm cẩn thận, khi được huy
động đã chuyển tải được những gửi gắm của tác giả từ trong chiều sâu suy tư ra bên ngoài, trong một khoảng không gian mở rộng nhiều chiều kích Nếu không
có công dụng tài hoa ấy, cuốn sách ấy chắc khó đọc với những tranh giành đấu
đá đầy công thức” [119]
Còn tác giả Bích Thu phát hiện ra sự cách tân trong Ngược dòng nước lũ
thể hiện ở cốt truyện lỏng lẻo, mơ hồ, co giãn, khó tóm tắt, khó kể lại và do đó,
“tiểu thuyết vừa là tiếng nói của ý thức, vừa là tiếng nói của tiềm thức, của
giấc mơ ” [135] Có thể xem đây là sáng tạo của nghệ thuật lắp ghép, truyện
lồng trong truyện tạo ra sức lôi cuốn cho bạn đọc
Trang 13Tác giả Đỗ Hải Ninh trong bài viết “Khuynh hướng tự truyện trong tiểu
thuyết Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng” đã phát hiện ra trong Một mình
một ngựa, “ý thức viết tiểu thuyết là rõ ràng nhưng vẫn bị níu giữ bởi tinh thần
tự truyện” [100] Tác giả khẳng định: “Một mình một ngựa tiếp nối nguồn mạch
tự thuật được khơi dòng từ các tiểu thuyết trước nó, Đám cưới không có giấy
giá thú, Ngược dòng nước lũ, nhưng dường như có cái nhìn thể tất nhân tình
hơn Mặc dù tiểu thuyết này xoay quanh sự kiện, tình huống gây mâu thuẫn nhưng không có quá nhiều xung đột, những mưu mô đấu đá giữa các phe phái cũng không diễn ra nảy lửa khiến người đọc ngộp thở” [100] Đỗ Hải Ninh cũng
thấy rằng, mặc dù “không có nhiều đột phá, cách tân trong nghệ thuật tự sự
nhưng Một mình một ngựa hấp dẫn ở cách kể chuyện hóm hỉnh, tạo được
những điểm nhấn ấn tượng Tự thân những câu chuyện đời thường của một không gian mới lạ, những kiểu người đa dạng được viết bằng ngôn ngữ đời sống linh hoạt đã có sức thu hút người đọc Sự lồng ghép những trang nhật ký của nhân vật, xen những đoạn trữ tình ngoại đề, ghi chép lại khá nhiều thơ ca hò vè theo gu thẩm mỹ của từng nhân vật nhưng in đậm dấu ấn thời đại là những chứng thực cho sự tìm kiếm những không gian thể hiện và đó cũng là một cách sáng tạo cái tôi rất riêng của tác giả” [100]
Gần đây, với hai tiểu thuyết Bóng đêm và Bến bờ, cảm hứng sử thi qua
nhân vật anh hùng như tiếp nối âm hưởng hào hùng của văn học một thời Tác
giả Đoàn Trọng Huy trong bài viết “Ma Văn Kháng - ngọn cờ đổi mới có sức
vẫy gọi” cho đây là một trong những “dấu hiệu nổi bật về đổi mới” trong tiểu
thuyết Ma Văn Kháng và khẳng định rằng: “Các chiến sĩ công an trong tiểu
thuyết Bóng đêm và Bến bờ khẳng định chủ nghĩa anh hùng cách mạng là lý
tưởng cao đẹp của con người xã hội chủ nghĩa (…) Ma Văn Kháng đã duy trì được một cảm hứng cao quý và do đó cân bằng được, hài hòa được cảm hứng
sử thi và cảm hứng thế sự qua hình tượng anh hùng Đây cũng là điều ít nhà văn làm được” [39]
Trang 14Với tiểu thuyết Bóng đêm, nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Thiện cũng đã có những đánh giá rất xác đáng Trong bài viết: “Bóng đêm và nghệ thuật tự sự
tổng hợp mới của Ma Văn Kháng”, ông cho rằng, ở tác phẩm này, “Ma Văn Kháng đã tập trung tinh lực rọi một cái nhìn sâu sắc, lão thực, hiền minh vào những vấn đề căn cốt thuộc thế sự và đời tư con người nảy ra từ mảng hiện thực nóng bỏng còn ít được văn học đương đại ở ta quan tâm thể hiện (…) Cái mới của Ma Văn Kháng ở tiểu thuyết này trong xây dựng nhân vật là ông đã tái hiện
sự đa dạng của đời sống con người: tư tưởng, ý chí; bản năng và đời sống sinh
lý, tình dục; thế giới tâm lý, tình cảm; những miền sâu kín thuộc tâm linh, ẩn ức,
tiềm thức của con người (…) Nhìn tổng thể, tiểu thuyết Bóng đêm cho thấy cái
nhìn đa chiều, đa diện nghiêm nhặt mà hiền minh, gợi mở và đối thoại, tranh luận của Ma Văn Kháng về mảng hiện thực an ninh xã hội Ông hé mở cho người đọc nhận ra tất cả sự phức tạp, rối rắm, oái oăm cùng những ngẫu nhiên
và bí ẩn khôn cùng của nó Tiểu thuyết kích thích những điều cần đào sâu, nghĩ tiếp nơi người đọc, khiến họ không thể thờ ơ, đứng ngoài mà cần phải hành động tích cực, dấn thân vào công cuộc giữ gìn trật tự an ninh xã hội, để tồn tại
như một nhân cách, một giá trị trong cộng đồng” [135] Còn tiểu thuyết Bến bờ
thì được Nguyễn Chương Mỹ Bình - Biên tập viên Nhà xuất bản Công an nhân
dân nhận xét: “Không đi theo lối mòn sẵn có, bằng sáng tạo độc đáo cùng với
bút pháp tiểu thuyết chuyên nghiệp, Ma Văn Kháng đã có cách diễn đạt mới cho tiểu thuyết an ninh đương đại bằng cái nhìn đa chiều, đa diện - cái nhìn thế sự
đời tư, (…) nhân vật của Bóng đêm rất gần với cuộc đời thực và giá trị nhân
văn của tác phẩm từ đó cũng được khẳng định” [73]
Theo Nguyễn Ngọc Thiện, tiểu thuyết của Ma Văn Kháng giai đoạn
này đã đạt đến trình độ “điêu luyện trong ngôn ngữ kể và tả, đối thoại và độc
thoại, giọng điệu linh hoạt, khi gấp gáp, sôi nổi, cuồn cuộn, tung phá, lúc lại thong thả, mềm mại, đằm thắm, hiền hòa, đã trở thành một thực thể sống động
có sức sống mạnh mẽ” [132] Ma Văn Kháng đã thành công trong việc khám
Trang 15phá chiều sâu tâm linh, vô thức, tiềm thức, giấc mơ, coi nó như một thứ ngôn ngữ độc thoại đặc biệt để giải mã thế giới vô thức của con người, xây dựng lên những bi kịch cá nhân, đưa con người trở về với cuộc sống đời thường, với những khát vọng hạnh phúc
Năm 2013, Ma Văn Kháng cho ra đời tiểu thuyết Chuyện của Lý như là sự
trở về với hiện thực vốn đã mang lại cho ông cảm hứng sáng tạo độc đáo Ở đó vẫn là vùng rừng núi, với bối cảnh văn hóa phong tục hiện lên sinh động Nhưng
đọc tiểu thuyết này, nhà phê bình Nguyễn Chí Hoan cho rằng: “Chuyện của Lý
như một cuộc phiêu lưu mới của Ma Văn Kháng, bởi trong tiểu thuyết này ông tái hiện một hình mẫu văn chương “chủ nghĩa hiện thực XHCN” đã được điều chỉnh bằng việc xây dựng các hình ảnh con người lý tưởng để bổ sung và làm mới tính lý tưởng cách mạng Thêm vào đó là những yếu tố tô điểm hợp thời mô
tả các dục vọng của tính người Đấy có lẽ thuộc về những “yếu tố phiêu lưu”, bởi chúng làm mờ nhòe các nét điển hình của nhân vật đã được xây dựng theo lối “điển hình hóa” quen thuộc” [154]
Đồng tác giả Bùi Thanh Truyền, Phùng Thị Hải Yến cho rằng, hai tiểu
thuyết Một mình một ngựa và Chuyện của Lý “có sự thừa tiếp cách lí giải,
cắt nghĩa về con người của Ma Văn Kháng trong các tiểu thuyết trước đó như
Võ sĩ lên đài, Côi cút giữa cảnh đời: Nhân cách, số phận mỗi cá nhân là kết
tinh của thời đại và truyền thống gia đình, dân tộc”, nhưng đồng thời có “bước chuyển trong quan niệm nghệ thuật về con người” của nhà văn, đó là “người viết đã tạo sinh một hệ thống nhân vật đầy ám gợi…” [152]
Năm 2015, Ma Văn Kháng trình làng hai tiểu thuyết Người thợ mộc và
tấm ván thiên và Một vùng đất hoang và những cuộc gặp gỡ Đọc Người thợ mộc và tấm ván thiên, tác giả Bùi Việt Thắng cho rằng: “Ở cuốn tiểu thuyết mới
này Ma Văn Kháng vẫn vận dụng lối kể chuyện truyền thống, có lớp lang, dễ nhớ với độc giả Riêng tôi có cảm giác nhà văn hoàn toàn xa lạ với các chủ nghĩa (ism) đang như nấm mọc sau mưa ở ta (nào là Hậu hiện đại, Hậu thực
Trang 16dân, Phân tâm học…) Ai đó nói chí lý, hiện đại chính là đi hết cái truyền thống để hòa nhập thế giới (chứ không phải là nhập cảng để bằng người ta) Văn của Ma Văn Kháng là một lối văn điềm tĩnh, đầy suy nghiệm Cảm hứng công dân rất mạnh mẽ nhưng không rơi vào phá phách, “chửi đổng” Giọng văn đau đớn, bi phẫn nhưng không rơi vào cay cú, bạo liệt, sỉ vả Nghĩa là văn của một người giàu trải nghiệm Đã đạt tới sự an nhiên và khoan dung, khoan hòa”
biểu như: Luận văn Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng sau
1975 - Lê Thanh Ngọc (2004); Luận văn Tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kỳ Đổi mới - Lê Minh Chung (2007); Luận văn Nghệ thuật tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới - Dương Thị Hồng Liên (2008); Luận văn Những chuyển biến trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kì đổi mới (2008) - Nguyễn Thị
Thanh Mai; Luận văn Đặc trưng tiểu thuyết thế sự của Ma Văn Kháng (2008) - Trần Thị Phi Nga; Luận án tiến sĩ Những dấu hiệu đổi mới trong văn xuôi của
Việt Nam từ 1980 đến 1986 - Qua bốn tác giả: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Mạnh Tuấn - Nguyễn Thị Huệ (2000); Luận văn Nghệ thuật tự sự trong sáng tác của Ma Văn Kháng - Đỗ Phương Thảo
Trang 17văn xuôi Việt Nam sau 1975” đã cho rằng: “Văn xuôi giai đoạn này có sự thay đổi trong mối quan hệ giữa tác giả và nhân vật” [7] Nhân vật được quyền
bình đẳng về kinh nghiệm sống, phá vỡ các quy ước ta - địch trong văn học trước với một loạt tác phẩm, trong đó có nhiều tác phẩm của Ma Văn Kháng Nhân vật được trao cho quyền phán xét do đó khó có thể nhận ra đâu là phát
ngôn tư tưởng thật sự của tác giả trong tác phẩm Tác giả nhận thấy: “Kiểu
nhân vật trí thức xuất hiện nhiều trong giai đoạn này có lẽ do họ như là thước
đo của dân trí và văn hóa, là nơi gửi gắm thích hợp nhất cho sự tự ý thức” [7]
Xét những tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thì loại nhân vật này chiếm số đông nhưng bên cạnh những trí thức thật sự là những trí thức giả danh, trí thức
“rởm” gây bao tai họa cho người khác, cho xã hội
Nghiên cứu nhân vật trong tác phẩm Ma Văn Kháng, tác giả Nguyễn Thị Huệ cũng đã nhận ra nhiều kiểu loại nhân vật trong sáng tác của nhà văn:
“Phong phú, đa dạng hơn, phức tạp hơn không chỉ có công nông binh mà còn
có tầng lớp thị dân, đặc biệt là nhân vật trí thức đã như một ám ảnh khôn nguôi, một trăn trở day dứt, một ma lực có sức hút lớn đối với ngòi bút của
Ma Văn Kháng” [38]
Khi nói về cách xây dựng nhân vật trong tác phẩm Ma Văn Kháng, Lã
Nguyên đã đưa ra nhận định rất xác đáng: “nhân vật của Ma Văn Kháng dù
phức tạp đến đâu, có những biểu hiện phong phú như thế nào, sau khi tiếp xúc,
ta có thể nhận diện được ngay nhân vật ấy thuộc hạng người nào, cao thượng hay đê tiện, độc ác hay nhân từ, ích kỉ hay hảo tâm” [97]
Tác giả Đỗ Hải Ninh cũng đã ghi nhận thành công về nghệ thuật xây dựng
nhân vật của Ma Văn Kháng trong tiểu thuyết Một mình một ngựa: “Một mình
một ngựa cũng có những tuyến nhân vật “kỳ hình dị tướng”, “trông mặt mà bắt hình dong”, người có tâm địa xấu thì lộ ra tướng hình như Văn Hiến, Quàn”
Tác giả cũng chỉ ra hạn chế của tác phẩm: “Tuy nhiên, tác phẩm sẽ thành công
hơn nếu khai thác hết chiều sâu ở nhân vật, chẳng hạn nhân vật Yên, từ sự xuất
Trang 18hiện khá ấn tượng ở đầu truyện, có thể khám phá thế giới tâm hồn của nhân vật đầy sức sống này nhiều hơn nữa Đôi chỗ còn sa đà vào dẫn giải dài dòng khiến cho tác phẩm nghiêng về tính luận đề, lộ ý tưởng” [155]
Trần Đăng Suyền thì cho rằng, cái làm nên sức hấp dẫn trong tác phẩm
Mùa lá rụng trong vườn: “không phải ở những trang chính luận thông minh
sắc sảo mà chủ yếu là ở những hình tượng nhân vật khá độc đáo, hấp dẫn của anh” [111] Đặc biệt Ma Văn Kháng tỏ ra là người rất am hiểu phụ nữ, có khả
năng “đi guốc” vào trong bụng họ Trong Mùa lá rụng trong vườn, “Lý là nhân
vật độc đáo hấp dẫn nhất Con người này hễ có mặt ở đâu là có khả năng làm cho nơi ấy có không khí sinh động hẳn lên” [111] Tác phẩm đã đánh dấu một
bước tiến mới trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng ở chỗ: “Nhân vật của anh có
cá tính, có sự phát triển tính cách Ngôn ngữ nhân vật - tiêu biểu là Lý - sặc sỡ sắc mầu, lung linh góc cạnh rất gần với ngôn ngữ đời sống” [111]
Một số luận văn thạc sĩ, tiến sĩ nghiên cứu tác phẩm Ma Văn Kháng ở
phương diện nhân vật đã được chúng tôi quan tâm như: Luận văn thạc sĩ: Nhân
vật trí thức với sự đổi mới tư duy nghệ thuật của Ma Văn Kháng trong tiểu thuyết sau 1980 - Phan Thị Kim (2002); Luận văn thạc sĩ: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng - Đỗ Thị Thanh Quỳnh (2006);
Luận văn thạc sĩ: Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng từ 1986
tới nay - Đào Thị Minh Hường (2010); Luận văn thạc sĩ: Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới - Nguyễn Thị Tố Tâm (2012);
Luận văn thạc sĩ Nhân vật trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới qua
Đám cưới không có giấy giá thú, Ngược dòng nước lũ, Một mình một ngựa –
Dương Thị Sáu (2013); Luận văn thạc sĩ: Thế giới nhân vật trong sáng tác của
Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới – Hồ Thị Minh Chi (2014),…
Các công trình nghiên cứu về nhân vật trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng như kể ở trên đã đạt nhiều thành tựu, được các nhà chuyên môn ghi nhận và đánh giá cao Có thể tổng hợp một số thành tựu nổi bật đó, gồm:
Trang 19Thứ nhất, các tác giả đã khảo sát, nhận diện và chỉ ra thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng khá phong phú về kiểu loại; cùng với đó là phương thức xây dựng nhân vật quen thuộc và thành công của Ma Văn Kháng như: đặc tả ngoại hình, miêu tả tâm lý,…
Thứ hai, các tác giả cũng đã chỉ ra những đặc điểm của nhân vật trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng gắn với đặc trưng của nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam thời đổi mới
Tuy nhiên, chúng tôi thấy, việc nghiên cứu vấn đề nhân vật trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng vẫn còn những hạn chế nhất định, những chỗ trống cần tiếp tục quan tâm, đó là:
Thứ nhất, khi nghiên cứu và phân chia các kiểu loại nhân vật trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng, các công trình nghiên cứu trên đã không chú ý đưa ra các tiêu chí, căn cứ phân loại nhân vật, dẫn đến việc đặt tên kiểu loại nhân vật không
trong cùng một hệ thống: như nhân vật bi kịch, nhân vật cô đơn, nhân vật vượt
lên số phận (bình diện cấu trúc số phận); nhân vật tha hóa, nhân vật tự ý thức
(bình diện cấu trúc tính cách); nhân vật trí thức (bình diện nghề nghiệp); nhân
vật dị biệt (bình diện ngoại hình),…
Thứ hai, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào những tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời đổi mới Một số tiểu thuyết gần đây của Ma Văn Kháng chưa được quan tâm nhiều Nếu có thì chỉ dừng lại ở những bài viết với những tác phẩm cụ thể, đơn lẻ nên thiếu tính hệ thống, tính bao quát…
Do vậy, chúng tôi xác định, đây là nguồn tư liệu bổ ích và là những gợi ý quan trọng để triển khai một số vấn đề nghiên cứu trong luận văn của mình Đồng thời, chúng tôi cố gắng đưa ra góc tiếp cận mới những vấn đề trên và khai thác sâu thêm những tiểu thuyết mấy năm gần đây của Ma Văn Kháng ở phương diện nhân vật
2.3 Lịch sử nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người
Gắn liền và chi phối hệ thống nhân vật trong tác phẩm văn học là quan
Trang 20niệm nghệ thuật về con người của nhà văn Vì vậy, chúng tôi cũng đã tham khảo
các bài viết, công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề con người trong văn học nói chung và quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết nói riêng của các tác giả: Lê Ngọc Trà, Huỳnh Như Phương, Bùi Việt Thắng, Tôn Phương Lan, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Văn Kha, Trần Thị Mai Nhân, Nguyễn Thị Kim Tiến…
Lê Ngọc Trà trong bài viết Vấn đề con người trong văn học coi việc khám
phá con người là nội dung chính của văn học nghệ thuật Ông cho rằng: văn học
là sự thật về con người, văn học không chỉ bày tỏ tình yêu, sự phẫn nộ hay lòng thương xót con người mà còn là một lĩnh vực quan sát, khám phá về con người
Huỳnh Như Phương với Văn xuôi những năm 80 và vấn đề dân chủ hóa
nền văn học (Tạp chí Văn học số 4/1991) cho rằng, tìm hiểu cái con người ở bên
trong con người là cả một công việc không bao giờ kết thúc Bùi Việt Thắng trong bài viết Văn xuôi gần đây và quan niệm con người (Tạp chí Văn học số 6/1991) lý giải tính chất “áp sát” tới cuộc sống và con người của văn học trong
đó bộc lộ một “quan niệm tiến bộ về con người” Tôn Phương Lan với Một vài
suy nghĩ về con người trong văn xuôi thời kì đổi mới (Tạp chí Văn học số
9/2001) đã nêu ra vấn đề con người trong thế tương quan so sánh qua đó khẳng
định cái mới trong việc thể hiện con người Một số tác giả, trong quá trình nghiên cứu đã xem quan niệm con người là tư duy nghệ thuật có tác động trực tiếp đến sự thay đổi của tư duy văn học, là chìa khóa vạn năng mở cánh cửa
khám phá các hình tượng văn học như: Nguyễn Thị Bình với Văn xuôi Việt Nam
1975 - 1995 những đổi mới cơ bản; Nguyễn Văn Kha với Đổi mới quan niệm về con người trong truyện Việt Nam 1975 – 2000; Nguyễn Thị Kim Tiến với luận
án tiến sĩ Con người trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì Đổi mới… Bên cạnh đó cũng phải kể đến một số bài viết như: Quan niệm nghệ thuật về con người của
Nguyễn Minh Châu qua tác phẩm Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (Bùi
Túy Phượng); Quan niệm về con người trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
(Hồ Tấn Nguyên Minh),…
Trang 21Liên quan đến tác phẩm Ma Văn Kháng, có hai bài viết đáng chú ý: Quan
niệm con người nạn nhân trong tiểu thuyết thế sự và đời tư của Ma Văn Kháng
(Bùi Văn Thuận) và Một mình một ngựa và Chuyện của Lý - bước chuyển
trong quan niệm nghệ thuật về con người của Ma Văn Kháng (Bùi Thanh
Truyền - Phùng Thị Hải Yến) Bùi Văn Thuận lý giải nguyên nhân có kiểu nhân vật nạn nhân trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng là do cuộc sống xã hội đương thời
xô bồ, khắc nghiệt với đầy những hiểm họa, những “chấn thương” Các tác giả Bùi Thanh Truyền và Phùng Thị Hải Yến thì đã tìm ra bước chuyển trong quan niệm nghệ thuật về con người của Ma Văn Kháng trong giai đoạn sáng tác sau này của nhà văn Theo hai tác giả, quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng thay đổi theo từng giai đoạn sáng tác trong tương quan
với những biến động lớn của thời đại Với tác giả Mùa lá rụng trong vườn, con
người - đó là một luận đề lớn ngày càng phải được nhận thức, chiêm nghiệm bằng chiều sâu triết học, xã hội học, văn hóa học và tâm lí học nghệ thuật Ở các tiểu thuyết về đề tài miền núi thuộc giai đoạn đầu, nằm trong mạch nguồn của văn học cách mạng, nhà văn cũng không thoát khỏi quan niệm con người sử thi, tức con người chủ yếu được nhìn từ góc độ xã hội, tìm thấy ý nghĩa cuộc đời trong sự gắn bó với cộng đồng, tan hòa giữa đám đông, tập thể, ít có dịp đối diện với bản thân, sống với chính mình Ở giai đoạn tiếp theo, trong sự chuyển đổi của văn học hậu chiến, khai thác đề tài về cuộc sống thành thị, Ma Văn Kháng
đã sớm tạo được phong cách nhờ thành công trong việc khắc chạm chân dung con người cá thể với giá trị tự thân và ý thức về cái tôi đậm chất đời thường Sang giai đoạn sáng tác thứ ba – giai đoạn “tái Tây Bắc” - với hai tiểu thuyết
tiêu biểu là Một mình một ngựa và Chuyện của Lý, tác giả tiếp tục mang đến cho
người đọc một cảm nhận mới mẻ trong quan niệm nghệ thuật về con người
Cùng với việc thể hiện tính chất hào hùng, thi vị, rạng ngời lí tưởng thời đại, nhà văn cũng chú tâm đào sâu vào nội giới vi tế để nhìn thấy những điểm còn hạn chế, những vùng khuất lấp trong mỗi bản thể người Nhân vật vì vậy “đời” hơn,
Trang 22thật hơn với ưu điểm và khuyết tật, với mặt mạnh và yếu, thoát khỏi lối điển hình hóa nặng tính phân cực rạch ròi của những tiểu thuyết về đề tài miền núi
trước đây
Nhìn chung các công trình nêu trên đã khẳng định vị trí trung tâm của văn học là con người - mối quan tâm hàng đầu để khám phá những biểu hiện mới của văn học Việt Nam qua từng thời kỳ Vấn đề về con người trong văn học được các nhà nghiên cứu xem xét ở nhiều bình diện, qua đó phần nào đã cho thấy sự vận động của văn học thể hiện đầu tiên ở những biến chuyển trong quan niệm nghệ thuật về con người
Đây là những gợi ý cho chúng tôi trong triển khai một số nội dung của luận
văn: Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng 1985 – 2015
3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi có giới hạn của một luận văn, chúng tôi không đặt ra mục đích giải quyết tất cả các vấn đề xung quanh tiểu thuyết Ma Văn Kháng Ở đây chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu thế giới nhân vật gắn liền với sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người và nghệ thuật kiến tạo nhân vật đặc sắc trong các tiểu thuyết của Ma Văn Kháng 1985 - 2015
Khảo sát và phân tích thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng 1985 - 2015 được đặt trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam trên đường đổi mới và mối tương quan với một số hiện tượng văn học
Để thực hiện mục đích nghiên cứu, luận văn tập trung khảo sát một số tiểu thuyết tiêu biểu của Ma Văn Kháng từ 1985 đến 2015, chủ yếu tập trung vào các
tác phẩm: Mùa lá rụng trong vườn (1985), Đám cưới không có giấy giá thú (1989), Ngược dòng nước lũ (1999), Gặp gỡ ở La Pan Tẩn (2001), Một mình
một ngựa (2009), Bến bờ (2011), Bóng đêm (2011), Chuyện của Lý (2013), Người thợ mộc và tấm ván thiên (2015), Một vùng đất hoang và những cuộc gặp gỡ (2015)
Trang 234 Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ yêu cầu của đối tượng và mục đích nghiên cứu, luận văn vận dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp miêu tả - lịch sử được sử dụng để làm rõ sự ra đời và phát triển của tiểu thuyết Ma Văn Kháng trong tương quan với hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn học
- Phương pháp hệ thống đặt tiểu thuyết Ma Văn Kháng 1985 - 2015 trong
hệ thống sáng tác của chính nhà văn và tiểu thuyết Việt Nam thời đổi mới
- Phương pháp so sánh - loại hình để chỉ ra sự tương đồng, khác biệt của tiểu thuyết Ma Văn Kháng với sáng tác của một số nhà văn khác từ góc độ loại hình văn xuôi nghệ thuật Bên cạnh đó là sự so sánh về nội dung và nghệ thuật
ở các chặng đường sáng tác của chính tác giả để nhận thấy sự chuyển biến có ý nghĩa đổi mới
- Vận dụng hiểu biết về thi pháp học hiện đại, lý thuyết diễn ngôn để khảo sát, phân tích tác phẩm với tư cách là một thể loại tự sự
- Ngoài ra, luận văn sử dụng một số thao tác bổ trợ như: khảo sát, thống kê, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa,…
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn đã đưa ra một cái nhìn tổng thể về tiểu thuyết của nhà văn Ma Văn Kháng ở các phương diện nội dung và nghệ thuật, trong đó nhấn mạnh giai đoạn sáng tác 1985 - 2015
Từ việc chỉ ra sự chi phối của quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác Ma Văn Kháng, luận văn đi sâu khảo sát thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của nhà văn để thấy sự đa dạng, phong phú mà thống nhất trong thế giới hình tượng nhân vật, ghi nhận thành công, tài năng và phong cách độc đáo của
Ma Văn Kháng trong các phương thức kiến tạo nhân vật Từ đó, giúp người đọc thấy được mối quan hệ thống nhất hữu cơ giữa các yếu tố nội dung và hình thức trong một tác phẩm nghệ thuật nói chung và những nét đặc sắc trong thế giới
Trang 24nghệ thuật của Ma Văn Kháng nói riêng, đồng thời, khẳng định phong cách nghệ thuật và sự đóng góp to lớn của Ma Văn Kháng trên văn đàn văn học Việt
Nam thời đổi mới và những thập niên đầu thế kỷ XXI
Luận văn cũng có đóng góp phần nào về phương pháp trong hướng nghiên cứu tác phẩm văn học theo ánh sáng của thi pháp học hiện đại kết hợp với tự sự học Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đóng góp một phần giá trị khoa học, đối với người nghiên cứu, tiếp nhận văn học Việt Nam hiện đại
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn được triển khai qua 3 chương:
Chương 1: Khái lược về nhân vật tiểu thuyết và tiểu thuyết Ma Văn Kháng trong bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam trên đường đổi mới
Trong chương này, luận văn trình bày khái lược kiến thức lý luận về nhân vật văn học, nhân vật tiểu thuyết, chỉ ra những bước chuyển của tiểu thuyết Việt Nam những năm 80 của thế kỷ XX; khái quát về tiểu thuyết Ma Văn Kháng với những thành tựu, đặc điểm về nội dung và nghệ thuật và những chuyển biến trong giai đoạn sáng tác 1985 - 2015
Chương 2: Từ quan niệm nghệ thuật về con người đến các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng 1985 - 2015
Chương này trình bày quan niệm nghệ thuật về con người và tìm hiểu quan
niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng 1985 - 2015,
khảo sát các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng từ đó, tập trung làm nổi bật hai kiểu nhân vật gắn với hai góc nhìn: từ bình diện cấu trúc nhân cách
và cấu trúc số phận của con người
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng 1985 – 2015, nhìn từ kết cấu trần thuật và kiến tạo diễn ngôn
Chương này tìm hiểu phương thức kiến tạo nhân vật trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng 1985 - 2015 với các nội dung: cấu trúc trần thuật và kiến tạo diễn
Trang 25ngôn (diễn ngôn của nhân vật và diễn ngôn của người kể chuyện) để thấy được thành công của nhà văn trong nghệ thuật xây dựng nhân vật, mà cụ thể là nghệ thuật trần thuật và kiến tạo diễn ngôn
Trang 26Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ NHÂN VẬT TIỂU THUYẾT
VÀ TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG TRONG BỐI CẢNH TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TRÊN ĐƯỜNG ĐỔI MỚI
1.1 Nhân vật tiểu thuyết
1.1.1 Khái niệm nhân vật và thế giới nhân vật trong tác phẩm văn học
“Nhân vật văn học là con người được miêu tả trong văn học bằng phương
tiện văn học” [90] Đó là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ không đồng nhất
với con người có thật trong đời sống Văn học không thể thiếu nhân vật, bởi vì
đó là hình thức cơ bản để qua đó văn học miêu tả thế giới một cách hình tượng Nhân vật là phương tiện để nhà văn khái quát hiện thực, khái quát những quy luật của đời sống con người, khái quát tính cách, số phận con người và các quan niệm về chúng Nhân vật thể hiện quan niệm nghệ thuật và lý tưởng thẩm mỹ của nhà văn về con người Vì thế, nhân vạt luôn gắn chặt với chủ đề tác phẩm Đối với một tác phẩm truyện, nhân vật được xem là hình thức hạt nhân của tác phẩm Nó không chỉ là tiêu điểm để bộc lộ chủ đề mà còn là nơi tập trung các giá trị tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm Vì thế, có nhiều yếu tố tạo nên thành công của một tác phẩm, nhưng có thể nói, cái quyết định chất lượng tác phẩm văn học, cái thể hiện tài năng của nhà văn chính là thể hiện ở việc xây dựng nhân vật
Đối với người đọc, nhân vật cũng là yếu tố chi phối mạnh mẽ nhất quá trình tiếp nhận Ðọc một tác phẩm, cái đọng lại sâu sắc nhất trong tâm hồn người đọc thường là số phận, tình cảm, cảm xúc, suy tư của những con người được nhà văn thể hiện
Các kiểu loại nhân vật văn học rất đa dạng Căn cứ vào đặc điểm thể loại và dựa vào các phương diện khác nhau mà có thể chia ra thành các kiểu loại nhân vật khác nhau
Trang 27Dựa vào thể loại văn học, ta có nhân vật tự sự, nhân vật trữ tình, nhân vật kịch
Xét vai trò và mối quan hệ giữa các nhân vật trong một tác phẩm, người ta chia ra thành các nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm
Trên bình diện tư tưởng, ý thức hệ trong quan hệ với lí tưởng xã hội - thẩm
mĩ của nhà văn thì có các nhân vật chính diện và nhân vật phản diện
Còn nếu căn cứ vào kiểu cấu trúc nhân vật thì lại có các loại hình nhân vật: nhân vật chức năng, nhân vật loại hình, nhân vật tích cách, nhân vật tư tưởng Nhân vật văn học rất phong phú Cách thể hiện nhân vật của nhà văn cũng rất đa dạng với nhiều phương thức, thủ pháp nghệ thuật khác nhau Nhà văn xây dựng, khắc họa nhân vật qua nhiều yếu tố như: ngoại hình, lời nói, hành động, nội tâm, dòng ý thức, giấc mơ,…
Trong tiếp nhận văn học, người ta quan tâm đến nhiều yếu tố của tác phẩm, trong đó không thể không chú ý đến nhân vật Đọc một truyện ngắn, tiểu thuyết, người ta có thể không nhớ rõ cốt truyện, có thể quên chi tiết này, chi tiết nọ, có thể mơ hồ về kết cấu tác phẩm hay không nắm được những đặc sắc trong trần thuật, lời kể của nhà văn Đối với nhân vật thì không như vậy Nhân vật cũng là yếu tố “sống” lâu nhất trong tâm trí người đọc Có nhân vật ám ảnh độc giả khôn nguôi Nhiều nhân vật từ tác phẩm đã “bước” ra ngoài đời Nhân vật sống động trong tác phẩm và cũng có đời sống riêng ngoài cuộc đời
Thế giới nhân vật trong tác phẩm văn học là thế giới của những con người được được nhà văn tái tạo giống hoặc gần giống với con người ngoài đời Có thể nhân vật trong tác phẩm không phải là con người (như truyện cổ tích loài vật, truyện đồng thoại,…) nhưng nó là hình bóng của con người, phản ánh số phận, tính cách, đời sống của con người Tùy theo từng thể loại truyện mà thế giới nhân vật trong truyện ít hay nhiều Có khi chỉ vài nhân vật, có khi tới hàng trăm
Dù nhiều hay ít thì thế giới nhân vật trong truyện cũng là sự phản chiếu, thu nhỏ của thế giới con người ở ngoài xã hội, mang dấu ấn của thời đại
Trang 28Cuộc sống muôn màu muôn vẻ, con người trong xã hội có đủ hạng, đủ dạng, vì thế nên thế giới nhân vật trong tác phẩm văn học cũng rất đa dạng với nhiều loại người, hạng người khác nhau Thế giới nhân vật phản ánh thế giới con người và cũng thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn
1.1.2 Đặc điểm nhân vật tiểu thuyết
Tiểu thuyết là một thể loại thuộc phương thức tự sự Nhân vật tiểu thuyết thuộc loại hình nhân vật tự sự, được khắc họa đầy đặn, rõ nét, nhiều mặt, sinh động và rất đa dạng Khác với nhân vật ở thể loại tự sự khác như truyện ngắn hay kịch (thường là nhân vật hành động), nhân vật tiểu thuyết là “con người nếm trải” Nhân vật tiểu thuyết cũng hành động, thậm chí còn tích cực tham gia cải tạo xã hội như nhân vật trong tiểu thuyết hiện thực xã hội chủ nghĩa, nhưng, với
tư cách là đặc trưng thể loại, nhân vật ấy xuất hiện như là những con người tư duy và nếm trải, chịu nhiều dằn vặt, khổ đau và “lãnh đủ” mọi tác động của đời Những Gôriô (Balzac), Anna Carênina (L.Tolstoy), Paven Corsaghin (Ostrovsky), Thứ (Nam Cao), Tự, Thiêm (Ma Văn Kháng),…đều là những nhân vật kiểu con người nếm trải và tư duy Đó là những con người được đặt trong những hoàn cảnh cụ thể, trong nhiều mối quan hệ chằng chịt trong cuộc đời để
tư duy, trưởng thành, biến đổi…; là những con người cá nhân được khám phá trong chiều dài của số phận và chiều sâu của tâm lý Vì vậy, miêu tả thế giới bên trong, phân tích tâm lý nhân vật là một phương diện rất đặc trưng của tiểu thuyết
Các nhà tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XX đã chú ý đến việc miêu tả tâm
lý nhân vật Đặc biệt, với những tiểu thuyết của Nam Cao, Nguyên Hồng, thế giới nội tâm của nhân vật được nhà văn khai thác triệt để, thể hiện những đau khổ, dằn vặt của con người khi lâm vào những bi kịch cuộc đời
Giai đoạn 1945 – 1975, nền văn học Việt Nam bị chi phối bởi những cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc nên tiểu thuyết tập trung xây dựng, khắc họa tính cách nhân vật với những con người sống chết vì lý tưởng, vì cộng đồng Đa
Trang 29số họ là những con người hành động Đời sống nội tâm với những riêng tư, những “ẩn mã” không được nhà văn chú ý khai thác
Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, nhất là từ những năm 80 của thế kỷ XX về sau có sự thay đổi đáng kể về tư duy nghệ thuật: yếu tố sử thi đã mất dần đi, thay vào đó, yếu tố thế sự - đời tư trở thành mối quan tâm hàng đầu của các nhà văn Nhân vật đa dạng và phong phú bởi đã xuất hiện thêm nhiều kiểu nhân vật mới như: nhân vật bi kịch, nhân vật anh hùng; nhân vật kì dị (hay còn gọi là dị biệt); nhân vật lập thân (lập nghiệp) Trong các tiểu thuyết xuất hiện đầu thế kỷ XXI (của Nguyễn Bình Phương, Thuận, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Đình Tú, Mạc Can,…), nhiều kiểu nhân vật mới khác xuất hiện Từ đó, tác giả Hoàng Cẩm Giang [24] đã xuất phát từ nhiều góc độ để đặt tên thành các kiểu
nhân vật sau: Nhìn từ góc độ loại hình và chức năng biểu đạt có các kiểu nhân
vật gồm: 1 Kiểu nhân vật số phận – tính cách; 2 Kiểu nhân vật lập trường tư tưởng hoặc nhân vật tâm lý; 3 Kiểu nhân vật ký hiệu – biểu tượng; 4 Kiểu nhân
vật ‘‘không – nhân vật’’ hay ‘‘phản – nhân vật’’ Còn nhìn từ góc độ tính chất
hành động lại có các kiểu nhân vật: 1 Kiểu nhân vật chủ động truy tìm ý nghĩa
của bản thể và tồn tại; 2 Kiểu nhân vật lạnh lùng đứng ngoài quan sát đời sống;
3 Kiểu nhân vật lạc lõng và bất lực trong quá trình “nhập cuộc”; 4 Kiểu nhân vật bị tha hóa và tự biến mất Tác giả Nguyễn Hồng Dũng khi viết về “Phạm trù nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam theo hướng hậu hiện đại” [17] thì chia nhân vật trong tiểu thuyết bao gồm nhiều loại kèm theo sự lý giải về sự xuất hiện của
các kiểu nhân vật này, đó là: Nhân vật lạc loài, cô đơn, chủ yếu gắn với cảm
thức lưu vong, thậm chí ngay trong ngôi nhà của mình và giữa người thân của
mình; Nhân vật nổi loạn, dấn thân, chủ yếu gắn với sự phản ứng về điều kiện và
hoàn cảnh sống, nhưng hơn hết là sự phản ứng với các giá trị truyền
thống; Nhân vật tự nhận thức, thể hiện sự trải nghiệm cuộc đời với những sai
lầm, ngộ nhận; bi kịch tự nhận thức là cái giá phải trả của con người trong quá
trình đi tìm cái bản ngã đích thực của mình; Nhân vật tha hóa, là biến thái xấu
Trang 30của những dục vọng, những tham muốn không có giới hạn, là dạng người “vật
hóa”; Nhân vật đồng tính, là mẫu người đặc thù trong tiểu thuyết đương đại, gắn
với những thay đổi môi trường sống, quan niệm giới tính ở thời hiện đại, hậu
hiện đại; Nhân vật điên khùng, là thế giới của những con người bị bỏ rơi, dạng
bị quản lý hồ sơ nhân thân, nhà văn xây dựng loại nhân vật này để bộc lộ quan
niệm về một thế giới không hoàn tất, bất bình đẳng và bất an; Nhân vật tâm linh,
siêu thực, là dạng nhân vật rất phức tạp về cấu trúc, thường biểu hiện một thể
nghiệm có tính quy chiếu riêng của nhà văn về con người và thực tại
Tóm lại, nhân vật tiểu thuyết rất đa dạng Kiểu loại nhân vật xuất hiện, mất
đi, biến đổi theo thời đại và theo quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn
1.2 Tiểu thuyết Ma Văn Kháng 1985 – 2015 trong bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam trên đường đổi mới
1.2.1 Nền tiểu thuyết Việt Nam trên đường đổi mới
Trong văn học, nói đến đổi mới là nói đến sự thay đổi cảm hứng, đề tài, nội dung và các phương thức nghệ thuật của tác phẩm văn học, diễn ra từ trong ý thức của nhà văn Thực tế đời sống văn học, ý thức đổi mới văn học đã bắt đầu
từ những năm sau 1975, nhất là từ đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, gắn liền với một số sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyễn Mạnh Tuấn, Ma Văn Kháng,… Từ năm 1986 trở đi, với dấu ấn quan trọng là Nghị quyết 05 của
Bộ Chính trị, sự đổi mới tiểu thuyết diễn ra ở bề sâu, với sự đồng hành của nhiều cây bút: Lê Lựu, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Dương Hướng, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Quang Lập, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Chu Lai,
Ma Văn Kháng, Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái,…
Các tác phẩm của những tác giả kể trên đã có nhiều chuyển biến, đổi mới
cả về nội dung tư tưởng và nghệ thuật Có thể nêu ra một số đặc điểm nổi bật sau:
Trang 311.2.1.1 Về đề tài, nội dung phản ánh
Sau năm 1975, đất nước ta bước vào thời kỳ tái thiết và đổi mới Những quy luật thời bình đã chi phối mạnh mẽ đến văn học, nhất là thể loại được xem
là “cỗ đại bác chủ lực”: tiểu thuyết
Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ này có phạm vi đề tài mở rộng hơn so với trước 1975, vận động theo xu hướng dân chủ hóa Bên cạnh các đề tài truyền thống mang tính sử thi, các nhà văn đã đi sâu vào đề tài thế sự, đời tư với cái nhìn sâu sắc về hiện thực Phát huy thế mạnh của mình, tiểu thuyết sau năm
1975, nhất là sau thời đổi mới, đã khám phá thực tại và thức tỉnh ý thức về sự thật Với xu hướng nhìn thẳng vào sự thật, các nhà văn đã dấn thân vào hiện thực ở thời hiện tại, hướng ngòi bút của mình vào những “tiêu điểm”, những
“vòng xoáy” của đời sống
Viết về con người, tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ này đã từ bỏ cái nhìn đơn phiến, tĩnh tại để có cái nhìn đa chiều, đa diện và linh hoạt về con người Con người được khám phá ở chiều sâu bản thể Từ đó, xuất hiện trong tác phẩm là những con người phức tạp, lưỡng diện Nhân vật ít tính lí tưởng hơn, không
hoàn hảo, “sạch sẽ”, không được “bao bọc trong bầu không khí vô trùng”
(Nicolin) như thường thấy trong văn xuôi trước 1975 Vẫn có nhân vật đẹp nhưng là cái đẹp trong bụi bặm của cuộc đời thường nhật Đặc biệt, các nhà văn thời đổi mới đã không ngần ngại miêu tả chất sắc dục, tình yêu nhục thể là một lĩnh vực rất riêng tư của mỗi cá nhân trong các sáng tác của mình Chẳng hạn
một số tác phẩm như: Ngược dòng nước lũ, Một mình một ngựa (Ma Văn Kháng) Người đi vắng, Ngồi (Nguyễn Bình Phương), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Gia đình bé mọn (Dạ Ngân), Mẫu
thượng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh) Miêu tả, khai thác yếu tố tích cực của
con người tự nhiên trong mỗi cá nhân cũng là một khía cạnh nhân bản của văn học
Trang 32Phát hiện con người phức tạp, con người lưỡng diện, con người không nhất quán với mình, văn xuôi nghệ thuật Việt Nam thời kỳ này có vẻ như đã đi đúng quỹ đạo tư duy của những nhà khoa học nhân văn nổi tiếng trên thế giới K.Marx đã thấy con người trong bản chất của nó là tổng hòa các mối quan hệ xã
hội L.Tolstoy thì nhận ra rằng, mỗi con người mang trong mình những mầm
mống của mọi tính chất con người và khi thì thể hiện tính chất này, khi thì thể
hiện những tính chất khác và thường là hoàn toàn không giống bản thân mình
M.Bakhtin cũng khẳng định: chẳng có khuôn hình nào để có thể rót nó vào đầy
ắp mà lại không chảy tràn ra ngoài Đó chính là tính chất phong phú, phức tạp
của con người: con người trong cuộc đời này vừa mang trong mình tính “nhân
loại”, vừa hiện diện với tư cách cá nhân, cả với tư cách “giống loài” mà tự nhiên
phú tặng
Cùng với sự phức tạp còn là sự bí ẩn Nếu tiểu thuyết giai đoạn 1945 - 1975
đem lại ấn tượng về con người “có thể biết trước”, nhà văn nhìn con người chủ
yếu như một ý thức chính trị vận động hợp quy luật lịch sử, thì tiểu thuyết thời
đổi mới đem lại cảm giác con người là một “tiểu vũ trụ” đầy bí ẩn, không thể
biết trước, không thể biết hết Con người hành động có khi theo sự chỉ huy của ý thức, của lí trí tỉnh táo, có khi lại bị chi phối bởi tiếng nói của tâm linh, của vô thức, bản năng
1.2.1.2 Về nghệ thuật
Tiểu thuyết Việt Nam trên bước đường đổi mới không chỉ đa dạng hơn trong nội dung phản ánh mà còn phong phú hơn trong hình thức biểu đạt, mạnh bạo hơn trong cách tân nghệ thuật
Trước hết là sự đổi mới ở phương diện cốt truyện
Bên cạnh những cốt truyện giàu kịch tính là những cốt truyện giàu tâm trạng Có những kết cấu cốt truyện rõ ràng, mạch lạc, có mở đầu, có kết thúc, cũng có những tiểu thuyết cấu trúc lỏng lẻo, lắp ghép, kết thúc mở Bên cạnh những tiểu thuyết tuân thủ cốt truyện truyền thống là những cốt truyện dựa trên
Trang 33thi pháp hiện đại Cốt truyện đã vận động thay đổi trong sự phát triển của thể loại Về đoạn kết của tiểu thuyết, có mô hình kết thúc có hậu, các vấn đề được giải quyết một cách hoàn tất, trọn vẹn Có đoạn kết với kiểu kết thúc bỏ ngỏ, không hoàn kết Tất cả các dạng thức trên đều nhằm phân tích, lý giải những vấn
đề phức tạp và bí ẩn của con người, cuộc sống đương đại Cốt truyện tiểu thuyết
từ những năm đổi mới đến nay, một mặt vẫn kế thừa và phát triển những đặc trưng của cốt truyện truyền thống, mặt khác đã tiếp cận với tiểu thuyết hiện đại thế giới ở những nét tinh tuý Nghệ thuật đồng hiện, kỹ thuật độc thoại nội tâm, dòng ý thức, lắp ghép, sử dụng huyền thoại, nghệ thuật gián cách, đa giọng điệu
là những vấn đề còn mới mẻ trong văn xuôi Việt Nam đã được tiểu thuyết vận dụng, biến hoá một cách linh hoạt và uyển chuyển trên tinh thần dân tộc hiện đại
Trong đội ngũ những người viết tiểu thuyết có không ít tác giả đã cố gắng đổi mới tư duy tiểu thuyết, tìm một hướng đi mới trong sáng tạo thể loại: Ma Văn Kháng, Lê Văn Thảo, Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Xuân Khánh, Bảo Ninh,
Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Võ Thị Hảo Những cây bút kể trên đã cố gắng cách tân trong sáng tạo với những tiểu thuyết có cốt truyện lỏng lẻo, mơ hồ, co giãn, khó tóm tắt, khó kể lại Đó là hiện tượng tan rã cốt truyện trong tác phẩm tự sự Cấu trúc tác phẩm được lắp ghép, chắp nối từ những mảnh vụn của hiện thực Tiểu thuyết không tạo ra những tình huống kịch hoặc lối kể chuyện có trước, có sau Các yếu tố sự kiện, tình tiết nhân vật được triển khai theo mạch vận động của cảm xúc, suy nghĩ Tiểu thuyết vừa là tiếng nói của ý thức, vừa là tiếng nói của tiềm thức, của giấc mơ, thể hiện
cái hiện tại đang vận động, biến chuyển, không khép kín (Thiên sứ - Phạm Thị Hoài, Thoạt kỳ thủy - Nguyễn Bình Phương, Cơn giông - Lê Văn Thảo, Ngược
dòng nước lũ - Ma Văn Kháng)
Xu hướng lắp ghép liên văn bản là một trong những yếu tố không thể không kể đến của thi pháp cốt truyện tiểu thuyết hiện đại Tiểu thuyết được viết
Trang 34một cách tự nhiên, không bị ràng buộc bởi thi pháp truyền thống Tiểu thuyết hình thành bằng cách lắp ghép, tạo dựng các mảnh cốt truyện, các mảnh tâm trạng không theo trình tự thời gian mà ngổn ngang, đảo ngược theo ý đồ của tác
giả, tạo ra “truyện trong truyện” Những tình huống, cảnh ngộ, biến cố như
không quan hệ, liên đới được xích lại gần nhau Cùng với sự lắp ghép đó là sự di chuyển các điểm nhìn, là tư duy nghệ thuật trong sự qui ước vừa chặt chẽ, vừa
co giãn của cấu trúc thể loại (Cõi người rung chuông tận thế - Hồ Anh Thái,
Nỗi buồn chiến tranh - Bảo Ninh, Đi tìm nhân vật - Tạ Duy Anh, Ngược dòng nước lũ - Ma Văn Kháng)
Theo Nguyễn Thành Thi, các thể loại tác phẩm văn học có sự tương tác lẫn nhau trong quá trình vận động của chúng Đó là “tính liên văn bản mà thể hiện
rõ nhất là ở sự pha trộn thể loại” [131] Tiểu thuyết có thể chứa trong chính nó các thể loại khác như: nhật ký, chuyện kể, thơ, thư từ, huyền thoại, điển tích, cổ
tích Những hình thức văn bản trong văn bản góp phần tạo thành những “tiếng
nói khác nhau” trong tiểu thuyết, nới rộng cấu trúc thể loại, mở rộng trường
nhìn Chẳng hạn một số tiểu thuyết như: Lời nguyền hai trăm năm (Khôi Vũ),
Người đi vắng (Nguyễn Bình Phương), Cơ hội của Chúa (Nguyễn Việt Hà), Người sông Mê (Châu Diên), Paris 11 tháng 8, Phố Tầu (Thuận), Cơn giông
(Lê Văn Thảo), Ngược dòng nước lũ (Ma Văn Kháng), đã có những sự tương
tác với những thể loại văn học khác
Như vậy, cốt truyện tiểu thuyết Việt Nam hiện đại không biến mất mà co giãn theo cấu trúc của từng tác phẩm cụ thể, mỗi chủ thể nhà văn có thể sáng tạo
ra nó bằng nhiều cách thức, kiểu dạng mà mục đích cuối cùng là thể hiện ý đồ nghệ thuật một cách có hiệu quả
Sự đổi mới của tiểu thuyết cũng thể hiện ở yếu tố ngôn ngữ
Xoá bỏ khoảng cách sử thi, tiểu thuyết bấy giờ đã miêu tả hiện thực như cái hiện tại đương thời của người trần thuật, với cách nhìn nhân vật như những người bình thường, gần gũi cho phép người trần thuật có thái độ thân mật, suồng
Trang 35sã với nhân vật Bản thân tính văn xuôi đã chứa đựng trong nó tính tổng hợp của ngôn ngữ tiểu thuyết Do yêu cầu cá thể hoá cao độ ngôn ngữ nhân vật nên tiểu thuyết thâu nạp các dạng thức lời nói khác nhau của nhiều tầng lớp người trong
xã hội Nhà văn được giải phóng khỏi sự lệ thuộc vào một ngôn ngữ duy nhất, thống nhất và có thể hoán vị ngôn ngữ của nhà văn với ngôn ngữ nhân vật
Miêu tả cuộc đời và con người như nó vốn có, ngôn ngữ tiểu thuyết không chỉ được soi sáng bởi ngôn ngữ tác giả mà còn được soi sáng bởi ngôn ngữ nhân vật, trước hết là ngôn ngữ đối thoại Vì vậy, bên cạnh lớp ngôn từ thanh nhã, nhà văn chú trọng sử dụng tục ngôn trong đối thoại của nhân vật Ngôn ngữ đối thoại trong tác phẩm thường gây ra được những tình huống bất ngờ và tạo cảm giác thực của đời sống đã khúc xạ qua lăng kính nhà văn Ngôn ngữ đối thoại giữ cũng vai trò đáng kể trong khắc họa tính cách nhân vật Mỗi nhân vật được nhà văn quan niệm như một ý thức, một tiếng nói, một chủ thể độc lập Nhà văn không còn ở vị trí đứng trên, lấn lướt nhân vật, mà hoà nhập, tham gia vào cuộc đối thoại của nhiều ý thức độc lập, qua hệ thống hình tượng
Trong những năm tiền đổi mới, Nguyễn Khải là người đi đầu sử dụng một cách thuần thục nghệ thuật trần thuật thông qua đối thoại Ngôn ngữ đối thoại gần như chiếm hết văn bản tác phẩm của Nguyễn Khải Lời phát ngôn nào cũng thể hiện một đặc điểm tính cách cụ thể, luôn va đập, cọ xát Ngôn ngữ đối thoại
trong tác phẩm của Nguyễn Khải được cá thể hoá, đầy cá tính (Gặp gỡ cuối
năm, Thời gian của người ) Ý thức đối thoại trong tiểu thuyết thời đổi mới
tiếp tục được triển khai và phát huy trong bối cảnh lịch sử mới, trong không khí dân chủ hoá của đời sống văn học Dấu vết thời đại đã ảnh hưởng và qui định cách nói năng, đối đáp, nhiều lớp từ mới được hình thành, quan niệm về lời nói cũng được bổ sung những sắc thái biểu cảm mới Ngôn ngữ tiểu thuyết gần với ngôn ngữ đời thường Nhiều nhà văn đã sử dụng thành công ngôn ngữ đối thoại
trong tác phẩm của mình như: Lê Lựu (Thời xa vắng), Chu Lai (Ăn mày dĩ
vãng), Nguyễn Việt Hà (Cơ hội của Chúa), Hồ Anh Thái (Cõi người rung
Trang 36chuông tận thế), Lê Văn Thảo (Cơn giông), Nguyễn Bình Phương (Thoạt kỳ thủy), Tạ Duy Anh (Đi tìm nhân vật), Ma Văn Kháng (Ngược dòng nước lũ)
Bên cạnh đối thoại, độc thoại nội tâm cũng đóng vai trò chủ yếu trong phương thức trần thuật của tiểu thuyết thời đổi mới Độc thoại nội tâm trở thành một thủ pháp nghệ thuật có hiệu quả trong quá trình tự ý thức của nhân vật, đi sâu vào thế giới nội tâm đầy bí ẩn của nhân vật
Sự đổi mới của tiểu thuyết còn thể hiện ở các thủ pháp nghệ thuật mà nhà văn sử dụng
Do có điều kiện tiếp thu những sáng tạo nghệ thuật của các nền tiểu thuyết thế giới, đặc biệt là tiểu thuyết phương Tây, tiểu thuyết Việt Nam hiện đại đã vận dụng thủ pháp dòng ý thức như một phương tiện đi vào thế giới tâm linh một cách có hiệu quả Kỹ thuật dòng ý thức sử dụng thời gian đồng hiện, hồi ức, hoài niệm, dòng suy tưởng, những giấc chiêm bao, nhằm để nhân vật tự bộc lộ những miền sâu kín của tâm hồn nằm ngoài vòng kiểm soát của ý thức con người Giấc mơ và hồi ức là đặc điểm của nhân vật dòng ý thức Nhiều tiểu thuyết sau những năm đổi mới đến nay đã sử dụng motif giấc mơ, giấc chiêm bao như một ngôn ngữ độc thoại đặc biệt để giải mã thế giới vô thức của con
người Thủ pháp này thể hiện rõ trong các tiểu thuyết: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Người đi vắng (Nguyễn Bình Phương),
Cơn giông (Lê Văn Thảo), Ngày hoàng đạo (Nguyễn Đình Chính), Giàn thiêu
(Võ Thị Hảo), Mẫu thượng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh), Ngược dòng nước lũ,
Bến bờ, Gặp gỡ ở La Pan Tẩn (Ma Văn Kháng),
Tất cả những đổi mới trong phương thức thể hiện nói ở trên đều xuất phát
từ sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người ở mỗi nhà văn và nhu cầu đổi mới của văn học nói chung
Trang 371.2.2 Tiểu thuyết Ma Văn Kháng 1985 - 2015
1.2.2.1 Nội dung tiểu thuyết Ma Văn Kháng 1985 – 2015, xét trên bình diện đề tài
Ma Văn Kháng là cây bút tiểu thuyết già dặn luôn biết khẳng định mình qua sự trải nghiệm thực tế của bản thân và sự thử nghiệm các đề tài sáng tác
Đề tài dân tộc miền núi được xem là cuộc thử nghiệm đầu tiên của nhà văn – nhà giáo Ma Văn Kháng Dù trước đó, Tô Hoài đã có “bản quyền” cho những sáng tác về miền núi Tây Bắc, nhưng Ma Văn Kháng vẫn khẳng định được tài năng sáng tạo của mình qua nhiều tác phẩm viết về đề tài này Với những tác
phẩm như: Gió rừng (1977), Đồng bạc trắng hoa xòe (1979), Vùng biên ải
(1983)…, Ma Văn Kháng được đánh giá là người đã thành công trong việc phản ánh hiện thực của một thời gian khổ và oanh liệt, xây dựng thành công hình ảnh những con người lý tưởng, sống vì cộng đồng, vì công cuộc của đất nước Giống như một số nhà văn khác, Ma Văn Kháng cũng viết về thổ phỉ, chế độ lang đạo
thổ ty, nhưng nhà văn thường nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện, tỉ mỉ, giải
thích bản chất, cội nguồn lịch sử của các hiện tượng, vấn đề và tìm cách giải quyết nó một cách toàn vẹn, triệt để Đây là nét riêng của ngòi bút Ma Văn Kháng khiến cho tiểu thuyết ông đầy ắp thông tin, dồi dào tư liệu Người đọc cũng có thể tìm thấy ở đây những bức tranh sinh động, đẹp đẽ về thiên nhiên và cuộc sống, con người Tây Bắc Điều đó cho thấy một vốn sống về miền núi sâu rộng, một tấm lòng chan chứa yêu thương, thủy chung trọn vẹn dành cho đồng bào các dân tộc và một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế trước cái đẹp của cuộc sống
và con người Những tiểu thuyết về đề tài miền núi của Ma Văn Kháng đã góp phần làm nên cái phong phú, đa dạng của mảng văn học viết về các dân tộc anh
em
Như đã nói ở trên, vốn là nhà văn nhạy cảm trước thời cuộc nên ngay từ những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, Ma Văn Kháng đã chuyển sang đề tài thành thị, thế sự, đi sâu khai thác yếu tố đời tư của con người Tác phẩm đầu
Trang 38tiên đánh dấu sự chuyển hướng đề tài trong sáng tác Ma Văn Kháng là tiểu
thuyết Mưa mùa hạ (1982) Tuy nhiên, phải đến Mùa lá rụng trong vườn
(1985) người đọc mới cảm nhận sâu sắc sự đổi mới của nhà văn
Cũng khai thác đề tài gia đình nhưng không giống các tiểu thuyết của Tự
lực văn đoàn, Mùa lá rụng trong vườn khai thác trên bình diện mới, đi vào một
vấn đề khá phức tạp: mối quan hệ thuộc nội bộ gia đình, mối quan hệ giữa gia đình với xã hội, với cả dân tộc trong bối cảnh nền kinh tế thị trường đang tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội Ma Văn Kháng đã nhận thấy rõ tác động của nền kinh tế thị trường đến đời sống xã hội cả ở hai mặt: tích cực lẫn tiêu cực, nhất là mặt tiêu cực Nhà văn cảm nhận được sự xuống cấp, thậm chí băng hoại của các giá trị chuẩn mực đạo đức truyền thống trước những tác động tiêu
cực của xã hội và thể hiện nỗi niềm băn khoăn đầy lo lắng: “Gia đình, giọt nước
của biển cả, cá thể của xã hội, liệu có thể vững vàng trong cuộc sống xây dựng
đang có nhiều khó khăn, lắm bê bối này?” [65, tr.24] Trong Mùa lá rụng trong
vườn, Ma Văn Kháng đã chọn một gia đình thành thị điển hình cho kiểu gia
đình truyền thống Việt Nam Nơi đó, các thế hệ cùng chung sống hòa hợp và có trật tự, tôn ti Nơi đó, giá trị truyền thống được đề cao, trân trọng và giữ gìn Nhưng trước những biến động sâu sắc của xã hội Việt Nam buổi giao thời, gia đình này tự nó phân hóa thành hai tuyến có hai lối sống trái ngược nhau: có những người vẫn giữ lối sống gắn liền với đạo đức truyền thống (như ông Bằng, chị Hoài, Luận, Phượng, Cần), có những người lại ưa lối sống thực dụng, coi trọng vật chất và muốn thoát khỏi sự ràng buộc của đạo đức, truyền thống gia đình (như Lý, Cừ) Đó là nguyên nhân dẫn tới những xung đột, rạn nứt trong gia đình vốn nền nếp, gia phong này Thông qua bi kịch của gia đình ông Bằng, Ma Văn Kháng muốn cảnh báo một hiện trạng đang ngày càng phổ biến trong xã hội Việt Nam hiện tại và đặt ra vấn đề: cần phải kế thừa, bảo lưu các giá trị truyền thống của gia đình, của dân tộc, đồng thời, mỗi cá nhân cần phải biết tự điều chỉnh bản thân để phù hợp với thực tiễn cuộc sống, để không bị lỗi thời, lạc hậu,
“ngơ ngác” trước thực tại
Trang 39Bên cạnh đề tài gia đình, đề tài thế sự được Ma Văn Kháng quan tâm và khai thác khá sâu Nhà văn đã chỉ ra những mặt trái của xã hội đương thời, từ
đó, khái quát lên nhiều vấn đề đạo đức, nhân sinh và thể hiện niềm trăn trở, nhức
nhối trước hiện thực cuộc sống: “Xã hội như đang mang trong mình những chấn
thương nặng nề: mọi chuẩn mực bị đảo lộn, đạo đức nhân sinh suy thoái, tình người bị bóp nghẹt bởi ma lực của đồng tiền…” [121] Xã hội thời kinh tế thị
trường nên sinh ra những con người chú trọng đời sống vật chất, coi trọng giá trị đồng tiền Tầng lớp thị dân là “đứa con đầu lòng” của xã hội ấy, nên Lý
(MLRTV) đã có định nghĩa thật ngắn gọn như một triết lý về đời được rút ra từ
thực tế cuộc sống của nhân vật: “Đời chỉ là một chữ T thôi” Ngay cả tầng lớp trí
thức cũng bị ảnh hưởng, chi phối mạnh mẽ cái triết lý đó, nên nhân vật họa sĩ
Hảo (MMH) mới hùng hồn tuyên bố: “Thế kỉ XX thế kỉ tiền Quân tử không tiền
quân tử điên” Như một quy luật: đồng tiền lên ngôi thì giá trị con người bị hạ
thấp Sống trong một “thế kỷ tiền” như thế, mọi suy nghĩ, hành động của con người đều bị đồng tiền chi phối Người với chẳng còn “sống để yêu nhau” nữa,
ngược lại, họ đối xử với nhau nhạt nhẽo, thậm chí tàn nhẫn Ông Thống
(ĐCKCGGT) ốm nặng phải nhập viện nhưng chẳng ai ở ngôi trường trung học
số 5 đó tới thăm ông, trừ thầy giáo Tự Cũng có kẻ tới nhưng vì mục đích khác
chẳng lấy gì là tốt đẹp Đó là Hiệu trưởng Cẩm, “ngày nào cũng mò tới bệnh
viện Vẻ ngoài sốt sắng không giấu nổi mưu đồ dò la ám muội (…) Tên gây tội
sợ bị lôi ra đứng trức vành móng ngựa hẳn là ngày đêm chỉ cầu mong cho ông Thống chết quách đi cho rồi” [55, tr.328]
Trong thời kiến thiết và đổi mới đất nước, con người quản lí có vai trò vô cùng quan trọng Nhưng Việt Nam là đất nước thuần nông, lạc hậu, dân trí thấp kém, người quản lí không được đào tạo, trình độ và năng lực đều hạn chế, làm việc chủ yếu theo chủ nghĩa kinh nghiệm Chính vì vậy mà đã có biết bao câu chuyện đời cười ra nước mắt Với cái nhìn tinh tế và ngòi bút sắc sảo, Ma Văn
Kháng đã đi sâu mổ xẻ sự thật như một nhu cầu thực sự của người cầm bút Nhà
Trang 40văn đã xây dựng một loạt nhân vật quản lí tiêu cực như bí thư Thị ủy Lại, bí thư
chi bộ Dương, hiệu trưởng Cẩm (ĐCKCGGT), Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Phô (NDNL), Phó bí thư Đường Xuân Ân (GGOLPT), Bí thư Thị ủy Trần Quàn
(MMMN)… Đó là những con người yếu về năng lực, thấp về trình độ, lại lắm
“thói hư tật xấu”, là hiện thân và nguyên nhân của sự hỗn loạn các chuẩn mực giá trị đạo đức
Trong một số tiểu thuyết của mình, Ma Văn Kháng còn đặt ra vấn đề mối tương quan giữa số đông và chân lý, chỉ ra cái hệ lụy của nó trong xã hội đương
thời Ông bố của Tự (ĐCKCGGT) - cụ đồ Biểu, là một đảng viên, nghĩa là đồng
chí (cùng chí hướng) với ông bí thư huyện ủy, anh cán bộ thuế nông nghiệp, chị
cán bộ phụ nữ huyện… nhưng vẫn bị “gạt ngầm sang một phía khác”, trong sinh hoạt chi bộ luôn bị phê phán là “lạc hậu, cổ hũ, cá nhân chủ nghĩa cao độ, xa
rời tập thể…” Hay như Khiêm (NDNL) và “đứa con tinh thần” của anh - tiểu
thuyết Bến bờ, phải lao đao, khốn đốn trước cả một thế lực đen tối mà hùng hậu
với những Phô, Quanh, Phù, Khoái, Liệu Cũng như thế, khi ông Văn Quyền
(CCL) triệu tập cuộc họp chi bộ để kiểm điểm Nhu vì tội chưa làm đám cưới mà
đã có con, “chi bộ có mười lăm người, thì có đến mười người thay nhau không
từ một lời nói thô bạo tàn độc nào mắng mỏ, xỉ vả”, dù trong đó “nhiều người bị
áp lực của Văn Quyền phải nói những lời trái với lương tâm của mình” và cuối
cùng, quyết định khai trừ đảng và truất chức “cũng được thông qua với số phiếu
8 trên 15” [74, tr.131,132] Nghĩa là cái “đám đông” hùng hậu kia nghiễm nhiên
được coi là đúng, là chân lý còn những “cá nhân” cô lẻ, dù chân chính, dù đủ tư cách làm “quan tòa” nhưng vẫn phải đứng trước vành móng ngựa của tòa án cuộc đời
Ma Văn Kháng còn đi vào khai thác một đề tài mới: người chiến sĩ an ninh
trên mặt trận chống tội phạm Hai tiểu thuyết Bến bờ và Bóng đêm cùng được
xuất bản năm 2011, viết về cuộc đấu tranh một mất một còn giữa các chiến sĩ công an với bọn tội phạm Trong hai tác phẩm này, nhà văn đã chỉ ra mối quan