Mong muốn góp thêm tiếng nói về sự khẳng định những giá trị trong sáng tác của nhà văn, chúng tôi lựa chọn vấn đề: Thế giới nhân vật trong các sáng tác của Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới
Trang 1Người hướng dẫn khoa học: TS TÔN THẤT DỤNG
Đà Nẵng, năm 2014
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Ý nghĩa khoa học của đề tài 6
6 Bố cục của luận văn 7
CHƯƠNG 1 HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO VÀ QUAN ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA MA VĂN KHÁNG 8
1.1 HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA MA VĂN KHÁNG 8
1.1.1 Các chặng đường sáng tác 8
1.1.2 Các thể loại văn xuôi tiêu biểu 12
1.1.3 Vị trí của văn xuôi Ma Văn Kháng trong văn xuôi Việt Nam đương đại 14
1.2 QUAN ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA MA VĂN KHÁNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI 18
1.2.1 Cái nhìn hiện thực của Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới 18
1.2.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới 20
CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG NHÂN VẬT TRONG CÁC SÁNG TÁC CỦA MA VĂN KHÁNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI 25
2.1 GIỚI THUYẾT VỀ NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC 25
2.1.1 Khái niệm về nhân vật văn học 25
2.1.2 Hệ thống nhân vật 26
Trang 42.2.1 Con người miền núi 28
2.2.2 Con người thành thị 33
2.3 SỰ ĐA DẠNG VỀ KIỂU LOẠI NHÂN VẬT 37
2.3.1 Kiểu nhân vật bi kịch – con người với nỗi đau đời thường 37
2.3.2 Kiểu nhân vật tha hóa – con người bị băng hoại nhân cách 39
2.3.3 Kiểu nhân vật tự ý thức – con người vượt lên số phận 43
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG SÁNG TÁC CỦA MA VĂN KHÁNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI 47
3.1 CÁCH THỨC XÂY DỰNG HỆ THỐNG NHÂN VẬT 47
3.1.1 Xây dựng nhân vật qua ngoại hình 47
3.1.2 Xây dựng nhân vật qua việc sử dụng yếu tố tâm linh 51
3.1.3 Nghệ thuật biểu hiện tâm lý nhân vật 53
3.2 KHÔNG GIAN – THỜI GIAN NGHỆ THUẬT 55
3.2.1 Không gian nghệ thuật 55
3.2.2 Thời gian nghệ thuật 60
3.3 NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU 62
3.3.1 Ngôn ngữ 62
3.3.2 Giọng điệu 70
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (BẢN SAO)
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong nền văn xuôi đương đại Việt Nam, Ma Văn Kháng là nhà văn có nhiều đóng góp lớn Vào những năm 80 của thế kỷ XX, nhiều sáng tác của ông đã “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật”, từ đó tạo nên những cuộc tranh luận sôi nổi trên các diễn đàn văn học Sáng tác của ông được đánh giá cao ở cả thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn Qua từng tác phẩm của mình, nhà văn không ngừng tìm kiếm những cách thể hiện mới Với quan niệm viết văn
là việc “đào bới bản thể ở chiều sâu tâm hồn”, tác giả đã tạo ra cho mình một tiếng nói, một phong cách nghệ thuật riêng Cùng sự lao động nghiêm túc, không ngừng tìm tòi, đổi mới trong sáng tạo nghệ thuật, ông đã khẳng định được vị trí vững chắc của mình trên văn đàn văn học Chính vì thế, lâu nay đã
có nhiều công trình nghiên cứu về tiểu thuyết, truyện ngắn của ông, số lượng các công trình nghiên cứu về Ma Văn Kháng được mở rộng về đề tài, đa dạng hóa về thể loại sáng tác Mong muốn góp thêm tiếng nói về sự khẳng định
những giá trị trong sáng tác của nhà văn, chúng tôi lựa chọn vấn đề: Thế giới
nhân vật trong các sáng tác của Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới làm đề tài
nghiên cứu của mình như là một sự tiếp tục tinh thần nghiên cứu sự nghiệp văn chương của Ma Văn Kháng
Chọn khía cạnh thuộc phương diện Thi pháp học, người viết nhấn mạnh góc độ nhân vật văn học Thông qua hệ thống nhân vật đa dạng, phong phú, hấp dẫn, lôi cuốn người đọc, nhà văn đã bộc lộ quan điểm nghệ thuật của mình Thế giới nhân vật là chìa khóa để giải mã nhiều vấn đề đặt ra trong tác phẩm, giúp người đọc mở cánh cửa chính để bước vào giải mã thế giới nghệ thuật vi diệu của tác phẩm Vì thế tìm hiểu nhân vật văn học nói chung và nhân vật trong sáng tác của Ma Văn Kháng nói riêng là công việc cần thiết, hấp dẫn gọi mời người viết thực hiện đề tài này
Trang 6Việc nghiên cứu một cách hệ thống vấn đề này sẽ giúp chúng ta thấy rõ được sự khác biệt về sự thể hiện, bút pháp của tác giả đối với các sáng tác của các nhà văn cùng thời cũng như sự khác biệt so với truyền thống, thông qua
đó người viết muốn có cái nhìn đầy đủ hơn về cuộc đời, tài năng, tư tưởng và phong cách của nhà văn
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Ma Văn Kháng là một nhà văn lớn có những đóng góp đáng kể vào công cuộc đổi mới của nền văn xuôi đương đại Việt Nam Lâu nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về tiểu thuyết và truyện ngắn của ông
* Về tiểu thuyết
Với sự đóng góp của mình về thể loại tiểu thuyết, Ma Văn Kháng được coi là một trong những người có thành tựu đáng kể trong quá trình đổi mới tư
duy tiểu thuyết, tìm hướng mới trong sáng tạo nghệ thuật Nghiên cứu tác
phẩm Mùa lá rụng trong vườn, tác giả Trần Cương đã đưa ra nhận định:
"Nghệ thuật viết tiểu thuyết của Ma Văn Kháng đã có bề dày, kết quả của một quá trình phấn đấu liên tục, bền bỉ và ở tác giả đã có định hình rõ nét phong cách nghệ thuật của mình" [34]
Trong bài viết Đọc Đám cưới không có giấy giá thú của Lê Ngọc Y, tác
giả đã nhận thấy: “Bằng cách nhìn tinh tế và hiện thực đời sống, tác giả đã có cái nhìn hiện thực, tỉnh táo nên không bị thói xấu, cái bất bình thường vốn nảy sinh trong xã hội đang vận động lấn át, hoặc chỉ thấy một chiều này u ám mà không thấy chiều khác đầy nắng rực rỡ” [20]
Nhận xét chung về Tiểu thuyết đề tài miền núi của Ma Văn Kháng,
Nguyễn Ngọc Thiện đã đề cập đến những thành công của Ma Văn Kháng trong việc xây dựng thế giới nhân vật: “Các tiểu thuyết vầ đề tài miền núi là một cuốn sử biên niên bằng hình tượng nghệ thuật, một phần của sách giáo khoa về đời sống và con người miền núi Tây Bắc” [37]
Trang 7Gần đây còn có những công trình nghiên cứu ít nhiều đề cập đến hệ thống nhân vật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng như luận văn Thạc sỹ của
Lê Thanh Hùng(2006) – Tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kỳ đầu đổi mới; Dương Thị Hồng Liên (2008) – Nghệ thuật tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kỳ
đổi mới và luận văn Tiến sĩ của Nguyễn Thị Huệ (2000) – Những dấu hiệu đổi mới trong văn xuôi của Việt Nam từ 1980 đến 1986 qua bốn tác giả: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Mạnh Tuấn…
* Về truyện ngắn
Giai đoạn 1975-1985, các cây bút phê bình, nghiên cứu chủ yếu hướng vào tìm hiểu thể loại tiểu thuyết của Ma Văn Kháng Từ sau 1986 giới nghiên cứu phê bình đã bắt đầu chú ý nhiều đến truyện ngắn Ma Văn Kháng Tác giả
Nguyễn Nguyên Thanh trong bài viết Ngày đẹp trời – tính dự báo về những
tình thế xã hội – Báo Văn nghệ số 21 ngày 23/5/1987 khẳng định: “Ma Văn
Kháng đã khám phá cuộc sống từ nhiều bình diện khác nhau, ông lách sâu hơn vào ngõ ngách đời sống tinh thần, tìm ra những nguyên nhân và quy luật khắc nghiệt của tồn tại xã hội.”
Đáng chú ý là bài viết Khi nhà văn đào bới bản thể ở chiều sâu tâm hồn
của Lã Nguyên đăng trên Tạp chí Văn học số 9/1999 Bằng cái nhìn sắc sảo, cách tiếp cận khoa học, tác giả đề cập đến nhiều bình diện của truyện ngắn
Ma Văn Kháng Tác giả chia truyện ngắn Ma Văn Kháng thành ba nhóm Nhóm thứ nhất là những truyện “thể hiện cái nhức nhối xót xa, giận mà thương cho sự hoang dã mông muội của những kẻ chưa thành người và những người không được làm người” Nhóm thứ hai là những truyện “cất lên tiếng nói cảm khái thâm trầm trước thế sự hôm nay.” Nhóm thứ ba là “những truyện ngắn thể hiện cảm hứng trào lộng, trang nghiêm trước vẻ đẹp cuộc đời sinh hóa hồn nhiên.”
Trang 8Cũng trong bài viết này, tác giả đã đề cập đến một số đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Ma Văn Kháng như: tính công khai bộc lộ chủ đề, sự số ý
tô đậm tính cách nhân vật, việc lồng giai thoại vào cốt truyện, đưa thành ngữ tục ngữ vào ngôn ngữ nhân vật…
Bên cạnh những bài viết trên các báo và tạp chí, chúng tôi không thể không nhắc đến một số luận văn và đề tài khoa học tiêu biểu nghiên cứu truyện ngắn Ma Văn Kháng đã được bảo vệ thành công như luận văn của các tác giả: Phạm Mai Anh, Đỗ Phương Thảo, Nguyễn Thị Hải Yến…
Với đề tài Đặc điểm nghệ thuật của truyện ngắn Ma Văn Kháng từ sau
1980, tác giả Phạm Mai Anh đã tập trung khai thác một số yếu tố nghệ thuật
trong truyện Ma Văn Kháng như: kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ Tác giả chỉ ra những nghệ thuật của Truyện ngắn Ma Văn Kháng như: lối kết cấu mở, nghệ thuật đặc tả nhân vật, sự phối hợp lời kể, lời tả, lời thuyết minh bàn luận
Trong luận văn Giá trị tư tưởng và nghệ thuật truyện ngắn Ma Văn
Kháng, tác giả Đỗ Phương Thảo đã khảo sát và đưa ra một số kết luận về giá
trị tư tưởng, những vấn đề nhân sinh thế sự, những thành công đặc sắc về nghệ thuật xây dựng cốt truyện như: sử dụng các yếu tố dân gian, sử dụng yếu
tố hoang đường kỳ ảo…
Với Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng thời kỳ đổi
mới, tác giả Nguyễn Thị Hải Yến đã khẳng định sự đổi mới, sáng tạo trong
nghệ thuật trần thuật của nhà văn qua điểm nhìn trần thuật, giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật
…
Các công trình nghiên cứu trên đây là những tiền đề quan trọng gợi mở
cho chúng tôi hình thành đề tài của luận văn này Thực hiện luận văn Thế giới
nhân vật trong các sáng tác của Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới chúng tôi sẽ
tiến hành tiếp cận, phân tích, minh chứng một cách cụ thể nhất để thấy được
Trang 9những điểm mới mẻ, quan trọng tạo nên sự thành công cũng như phong cách trong văn chương Ma Văn Kháng trên bình diện thế giới nhân vật
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thế giới nhân vật trong tiểu thuyết
và truyện ngắn của Ma Văn Kháng, từ đối tượng đã xác định, luận văn chỉ khảo sát những vấn đề có liên quan đến hệ thống nhân vật trong các sáng tác của Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi chỉ tập trung vào những tiểu thuyết và truyện ngắn của Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới đến nay, chủ yếu là các tác phẩm sau đây:
* Tiểu thuyết:
- Mùa lá rụng trong vườn
- Đám cưới không có giấy giá thú
- Côi cút giữa cảnh đời
Hệ thống nhân vật của tiểu thuyết và truyện ngắn Ma Văn Kháng thời
kỳ đổi mới bao gồm rất nhiều yếu tố đa dạng Vì thế, lựa chọn đề tài này chúng tôi không có tham vọng và không thể nào thấu suốt tất cả các đặc điểm
Trang 10trong những sáng tác của nhà văn, mà chỉ lựa chọn những đặc điểm về thế giới nhân vật trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Ma Văn Kháng
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thống kê
Muốn thể hiện hệ thống nhân vật phong phú, đa dạng trước hết phải tìm hiểu số lượng nhân vật có mặt trong tác phẩm Do đó phương pháp thống kê được sử dụng trong đề tài này
4.2 Phương pháp phân tích – tổng hợp
Mỗi nhân vật đều mang trong mình cái chung và cái riêng để tạo sự hòa điệu của tác phẩm, phương pháp phân tích – tổng hợp giúp chúng tôi đi sâu vào phân tích, khám phá, soi chiếu nhân vật
4.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Để thấy được những điểm nổi bật và riêng biệt của mỗi nhân vật và so sánh chúng với các nhân vật khác, chúng tôi cũng cần đến các phương pháp
so sánh, đối chiếu để thế giới nhân vật được rõ nét hơn
4.4 Sử dụng lý thuyết thi pháp học
Tìm hiểu về thế giới nhân vật trong một tác phẩm còn đòi hỏi người viết đứng từ góc độ thi pháp học để tiếp cận tác phẩm từ nhiều góc độ Phương pháp nghiên cứu theo lý thuyết thi pháp học được sử dụng từ mục đích và yêu cầu đó trong luận văn này
5 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Khảo sát Thế giới nhân vật trong các sáng tác Ma Văn Kháng thời kỳ
đổi mới chúng tôi mong rằng sẽ:
- Cảm thụ các sáng tác của Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới một cách sâu sắc hơn, đồng thời chỉ ra được những nét riêng trong tiểu thuyết và truyện ngắn của nhà văn, góp thêm tiếng nói mới về hệ thống nhân vật trong các
Trang 11sáng tác của ông thời kỳ đương đại, cũng như có cái nhìn toàn vẹn hơn về quá trình vận động tư tưởng nghệ thuật của nhà văn
- Góp phần khẳng định phong cách nghệ thuật Ma Văn Kháng và khẳng định sự đóng góp to lớn của ông trên thi đàn văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Hành trình sáng tạo và quan điểm nghệ thuật của Ma Văn Kháng
Chương 2: Hệ thống nhân vật trong các sáng tác của Ma Văn Kháng thời
kỳ đổi mới
Chương 3: Phương thức thể hiện thế giới nhân vật trong sáng tác của Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới
Trang 12CHƯƠNG 1 HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO VÀ QUAN ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA MA VĂN KHÁNG 1.1 HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA MA VĂN KHÁNG
1.1.1 Các chặng đường sáng tác
a Vài nét tiểu sử
Nhà văn Ma Văn Kháng tên thật là Đinh Trọng Đoàn, sinh ngày 01 tháng 12 năm 1936 Quê gốc của ông ở phường Kim Liên, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
Đinh Trọng Đoàn tham gia quân đội từ thuở thiếu niên Năm 1949, ông học trường Thiếu sinh quân, Bộ Quốc phòng và sau đó được đi học Trung cấp
Sư phạm ở Khu học xá Nam Ninh (Trung Quốc) Trong khoảng thời gian học
ở Trung Quốc, ông đã “dần dần hình thành hướng đi của cuộc đời minh theo
lý tưởng cao đẹp”, đó là “ thiên hướng văn chương” Từ đây, nhà văn bắt đầu
“bén rễ”, “bắt nguồn vào cuộc sống” để thực hiện lý tưởng, hoài bão sống của mình Sau khi trở về nước, ông xung phong lên Tây Bắc dạy học Lào Cai xa xôi trở thành miền đất hứa để chàng thanh niên mười tám tuổi Đinh Trọng Đoàn say sưa vẫy vùng chí thỏa nguyện Trong khoảng thời gian từ 1955 đến
1959, ông làm Hiệu trưởng Trường cấp II thị xã Lào Cai với sự nghiệp trồng người Năm 1960,ông vào học Đại học Sư phạm Hà Nội, sau khi tốt nghiệp lại tiếp tục quay lại Tây Bắc dạy học Trong những năm gắn bó với Tây Bắc, ông đã trải qua nhiều công việc khác nhau: dạy học, làm thư ký cho Bí thư Tỉnh ủy Lào Cai, làm phóng viên, Phó Tổng biên tập báo của Đảng bộ Tỉnh… Hơn hai mươi năm sống và làm việc ở vùng núi ấy, ông đã cố gắng hòa nhập với môi trường mới, gắn bó và làm việc hết mình, coi đây như là quê hương thứ hai
Trang 13Cái tên Ma Văn Kháng là sự thể hiện tình yêu và gắn bó cho kỷ niệm hơn hai mươi năm sống và làm việc ở Lào Cai - quê hương thứ hai của mình Giải thích về cái tên đặc biệt của mình, nhà văn cho biết Kháng là một bí danh của ông, còn lấy họ Ma là do ông tỏ lòng biết ơn người đã cứu mình: trong một lần bị ốm nặng khi còn ở Lào Cai, nhà văn được đồng chí Ma Văn Nho, Phó Chủ tịch huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tận tình chăm sóc, tìm thầy thuốc cứu chữa, sau đó nhà văn quyết định kết nghĩa anh em và chuyển sang
họ Ma Từ đó Ma Văn Kháng là tên dùng hằng ngày, trong công tác, sau này viết văn thì dùng luôn chứ không phải viết văn rồi mới đặt ra
Từ sau 1976 đến nay, Ma Văn Kháng chuyển công tác về Hà Nội Ông từng làm Tổng biên tập, Phó giám đốc Nhà xuất bản Lao động thuộc Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam Từ 1995, nhà văn là Uỷ viên Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam, đến 1999, ông làm Tổng biên tập Tạp chí Văn học nước ngoài của Hội nhà văn Việt Nam… Hiện nay, ông và gia đình vẫn sống bình dị trong một căn hộ nhỏ do nhà nước cấp trong một ngõ hẻm sát đại lộ Nguyễn Chí Thanh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
b Các chặng đường sáng tác
- Giai đoạn trước 1986:
Những trang viết về miền núi Tây Bắc đã bắt đầu sự nghiệp sáng tác của nhà văn Ma Văn Kháng đã cho ra đời hàng loạt những truyện ngắn và tiểu thuyết về cuộc đấu tranh, về cuộc sống và con người nơi biên ải Hơn hai mươi năm công tác ở miền núi là quãng đời trẻ trung, sôi nổi nhất của Ma Văn Kháng Thời trai trẻ của nhà văn là sự dấn thân say mê háo hức với tâm trạng phơi phới của tuổi trẻ ở vùng sơn cước Mảnh đất Lào Cai xinh đẹp cùng những con người tình nghĩa nơi đây chính là nguồn cảm hứng và động
lực sáng tạo của nhà văn Tác phẩm đầu tay của ông là Phố cụt (1961), một
câu chuyện kể về số phận vài ba con người quần tụ trong một ngõ nhỏ heo hút
Trang 14miền núi, thế nhưng vẫn chưa để lại dấu ấn nhiều, cho đến khi Xa Phủ (1969)
ra đời - tác phẩm được coi là bước khởi đầu cho sự nghiệp văn chương của ông Từ đó, cái tên Ma Văn Kháng trở nên quen thuộc với độc giả với lần lượt
hàng loạt tập truyện ngắn, tiểu thuyết ra đời: Người con trai họ Hạng (1972),
Cái máng ngựa (1973), Gió rừng (1977), Vệ sĩ quan châu (1978) , Mã Đại Câu, người quét chợ Mường Cang (1979), Cỏ cằn (1977), Đồng bạc trắng hoa xòe (1979), Góc rừng xinh xắn (1980), Vùng biên ải (1983), Trăng non
(1984)… Ma Văn Kháng đã tạo nên những bức tranh lịch sử xã hội hào hùng,
bi tráng của miền núi Tây Bắc với những nét hoang sơ, rừng núi hùng vĩ của miền biên đầy đủ tính chân thực và sinh động cùng những con người hiền hậu, trong trẻo, hồn nhiên, giàu tình cảm Đằng sau những trang viết đó là tất
cả sự trân trọng, nâng niu của một tấm lòng dành cho quê hương thứ hai của mình
Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, Ma Văn Kháng trở về với cuộc sống miền xuôi Hà Nội, ông hòa nhập rất nhanh với cuộc sống đô thị Nhạy cảm trước hiện thực với nỗi lo âu thế sự, nhà văn cho ra đời hàng loại những
sáng tác mang hơi thở của cuộc sống thị thành Tiểu thuyết Mưa mùa hạ
(1982) là một dấu mốc thể hiện sự chuyển hướng sáng tác của nhà văn Từ một nhà văn say mê với thiên nhiên, con người biên ải nay bỗng nhiên chuyển
sang mảng thành thị rất tự nhiên Tiếp nối Mưa mùa hạ, là sự xuất hiện của
Mùa lá rụng trong vườn (1985) đã gây được tiếng vang và sự chú ý đông đảo
của độc giả và được xem là cuốn “tiền trạm” của đổi mới mà ở đó chứa nhiều
dự báo sáng suốt về tính chất hai mặt của cơ chế thị trường trong cuộc sống,
số phận con người nơi đô thị đầy biến động ở thời kỳ quá độ Trong các truyện ngắn của mình, Ma Văn Kháng cũng đã thể hiện thật sinh động con người với tất cả các mối quan hệ xã hội, thân phận và cuộc đời với sự tha hóa xuống cấp của con người từ người trí thức đến nông dân, nhưng bên cạnh đó
Trang 15trong con người vẫn còn lấp ló những nét đẹp nhân bản không bao giờ mất
trong nhiều tác phẩm: Tình người (1980), Chuyến xe đêm (1981), Người thợ
bạc ở phố cũ (1984), Ngày đẹp trời (1984), Mất điện (1984)…
- Giai đoạn từ sau 1986 đến nay:
Bước sang thời kỳ đổi mới, đất nước có nhiều thay đổi, biến động Buổi giao thời giữa cũ và mới, giữa cơ chế bao cấp với cơ chế thị trường tạo nên một xã hội bát nháo, nhiều điều chướng tai gai mắt khiến nhà văn không thể đứng ngoài cuộc Cũng như nhiều nhà văn khác, Ma Văn Kháng không hề né tránh những vấn đề bức xúc của đời sống xã hội thực tại Bằng lòng yêu thương, trân trọng con người và đạo đức của một nhà văn, ông đã thẳng thắn nêu lên những vấn nạn của xã hội đang bị chi phối bởi nền kinh tế thị trường,
bởi đồng tiền Trong khi dư luận về Mùa lá rụng trong vườn còn đang sôi nổi thì Đám cưới không có giấy giá thú (1989) ra đời khiến cho đời sống văn học
phong phú và sinh động hơn Trước hiện thực đổi mới, với sức văn đang trong giai đoạn chín muồi, Ma Văn Kháng đã cho ra đời hàng loạt tác phẩm văn xuôi có giá trị và ông đã thành công không chỉ ở thể loại tiểu thuyết với các
tác phẩm Côi cút cảnh đời (1989), Chó Bi, đời lưu lạc (1992), Ngược dòng
nước lũ (1999)… mà nhà văn còn khẳng định tài năng của mình trong địa hạt
truyện ngắn với các tập truyện đặc sắc như: Heo may gió lộng (1992), Trăng
soi sân nhỏ (1994), Một chiều dông gió (1998)…
Dù đã thành công với những tiểu thuyết viết về thành thị, Ma Văn Kháng vẫn còn lưu luyến với miền núi Lào Cai Ông lại tiếp tục mạch cảm hứng về
miền núi với ba cuốn tiểu thuyết Gặp gỡ ở La Pa Tẩn (2001), Một mình một
ngựa (2009), Chuyện của Lý (2013) như lời tri ân với đồng bào nơi đây với
những tình cảm thiết tha, gắn bó
Từ anh giáo trẻ xung phong lên miền sơn cước với nhiều lý tưởng và hoài bão sống cao đẹp, Ma Văn Kháng đã trở thành một trong những nhà văn
Trang 16hàng đầu Việt Nam, Với năm mươi năm gắn bó với nghề, nhìn lại chặng đường đã qua, chúng ta có thể thấy được rằng Ma Văn Kháng đã trở thành một tấm gương lớn về lao động nghệ thuật nghiêm túc và sáng tạo
* Các giải thưởng trong sự nghiệp văn chương của Ma Văn Kháng
- Giải thưởng loại B của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1986 cho quyển
tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn
- Giải thưởng của Hội đồng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam 1995 cho
tập truyện ngắn Trăng soi sân nhỏ
- Giải thưởng Văn học ASEAN năm 1998
- Giải thưởng Nhà nước về văn học - Nghệ thuật năm 2001
- Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật năm 2012 cho các
tác phẩm Truyện ngắn chọn lọc, Mưa mùa hạ, Côi cút giữa cảnh đời, Gặp gỡ
về đề tài miền núi trước đó như Xa Phủ, Mùa mận hậu… mà theo tác giả là
không muốn bận lòng bạn đọc, đối với nhà văn đó chỉ là những bài tập của một thời còn ấu trĩ) Tính ra, Ma Văn Kháng cũng đã viết truyện ngắn đến hơn ba mươi năm Trong các tập đã xuất bản, có một số tập truyện đáng chú ý như:
- Heo may gió lộng
- Trăng soi sân nhỏ
- Một chiều dông gió
- Móng vuốt thời gian
Trang 17- Mùa thu đảo chiều
- Đám cưới không có giấy giá thú
- Côi cút giữa cảnh đời
- Chó Bi, đời lưu lạc
Trang 181.1.3 Vị trí của văn xuôi Ma Văn Kháng trong văn xuôi Việt Nam đương đại
a Một nhà văn góp công khai phá đề tài miền núi
Khi nói đến người đầu tiên có công khai phá mảnh đất này phải kể đến
nhà văn Nam Cao với Nhật ký ở rừng Tuy chỉ vài nét phát thảo nhưng cảnh
vật và con người miền núi đã hiện ra hết sức có tình và đáng yêu Và trước
Ma Văn Kháng, nhà văn Tô Hoài là người đã tạo được sự thành công lớn về
đề tài này Với sự tài hoa, ngòi bút của Tô Hoài đã phác họa nên bức tranh phong cảnh về vùng đất biên cương núi non trùng điệp nên miền cực Tây Bắc
Tổ quốc trong bức tranh toàn cảnh của văn học đặc biệt là văn học cách mạng
đuợc ghi dấu qua Núi cứu quốc, Mường Giơn giải phóng, Vợ chồng A Phủ,
Tiểu thuyết Miền Tây… Bên cạnh đó, một số nhà văn khác cũng đã khẳng
định được chỗ đứng của mình với mảng đề tài này như: Nguyên Ngọc với Đất
nước đứng lên, Rừng xà nu; Mạc Phi với Rừng động, Phượng Vũ với Hoa hậu
xứ Mường, và hàng loạt các nhà văn miền núi như Nông Minh Châu, Vi
Hồng, Ma Trường Thuyên…
Những hình ảnh ấy đã làm say mê, ám ảnh trong trí óc Ma Văn Kháng
và sau này khi hòa nhập với môi trường miền núi, điều đó đã trở thành nền tảng để nhà văn tiếp bước truyền thống cha anh, tạo nên cái riêng của mình Đến Ma Văn Kháng, dường như đề tài về miền núi dần được thể hiện đa dạng, phong phú và sâu sắc hơn khi ông có một quãng thời gian dài sống và làm việc nơi biên ải Như một người cán bộ thực thụ, ông trực tiếp tham gia xây dựng hợp tác xã, dạy học, làm thư ký, làm báo, nhà văn… Ông đã góp công sức không nhỏ cho đồng bào miền núi trong giai đoạn gian khổ nhất Với tình yêu dành cho nơi đây, coi nó như đất sống như máu thịt của mình, bằng sự quan sát tinh tế, nhà văn nhận ra đằng sau những bản làng ám sương khói, xa xảm là một sức sống mãnh liệt tiềm tàng Ông đã đưa vào tác phẩm
Trang 19hiện thực nơi quê hương thứ hai với đầy đủ tính chân thực và sinh động Thời trai trẻ cùng sự dấn thân say mê háo hức với tâm trạng phơi phới của tuổi trẻ
ở vùng sơn cước khi là chiến sĩ quân đội, lúc là ông giáo, anh cán bộ, nhà báo… nhà văn đã tích lũy được nhiều tư liệu quý giá Chăm chỉ lặng lẽ tìm tòi, góp nhặt những tư liệu sống mà mình tận mắt chứng kiến, tìm hiểu cuộc sống con người miền núi như lịch sử, phong tục tập quán, con người nơi đây… Ma Văn Kháng đã cho ra đời hàng loạt tập truyện ngắn và tiểu thuyết
có giá trị về cuộc đấu tranh, về cuộc sống và con người vùng biên ải Với rất nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết về miền núi, Ma Văn Kháng đã khẳng định được bước phát triển vượt bậc của văn xuôi miền núi có giá trị về cuộc đấu
tranh, về cuộc sống và con người vùng biên ải như Đồng bạc trắng hoa xòe,
Vùng biên ải, Gặp gỡ ở La Pan Tẩn…
Với một phong cách riêng, Ma Văn Kháng đi vào khai thác đề tài đấu tranh của con người miền núi với những nét mới mẻ Nhà văn đã tiên phong trong việc đưa đề tài về công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền núi vào sáng tác của mình Các tác phẩm của ông dựng lại được một thời kỳ lịch sử thăng trầm của đồng bào thiểu số Tây Bắc với một tầm vóc sử thi đồ sộ Ông
đã tái hiện lại quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc thoát khỏi thế lực đen tối, vươn tới khát vọng tự do, hạnh phúc của con người nơi đây Đó là một quá trình dài vừa chiến đấu với kẻ thù, vừa có sự chuyển biến trong nhận thức, tư tưởng ở bản thân mỗi người Mỗi cuốn sách không chỉ là một cuốn tư liệu lịch sử đồ sộ mà còn ẩn chứa nhiều giá trị văn hóa đặc sắc Cuộc sống của con người miền núi với những phong tục tập quán đặc trưng hiện lên rõ nét hơn bao giờ hết Những cuộc hội quân hoành tráng, những áng văn miêu tả thiên nhiên nên thơ, những phiên chợ tình yêu đầy lãng mạn, những điệu sáo, điệu khèn quyết rũ, cảnh lao động nương rẫy với ngôn ngữ, lời ăn tiếng nói tới cách ứng xử giữa mọi người… là những trang viết mang nét độc đáo riêng
Trang 20Với những tác phẩm viết về miền núi, Ma Văn Kháng đã thể hiện được một phong cách nghệ thuật riêng của mình trong dòng chảy văn học Để khẳng định vị trí của ông, Anh Chi đã nhấn mạnh: “Ma Văn Kháng là một hiện tượng văn chương lớn Chúng tôi mạnh dạn khẳng định, mảng văn chương đề tài miền núi và dân tộc, được khởi lên từ đầu những năm 1950 và đạt tới thành tựu những năm cuối thế kỷ XX, là một thành công lớn của văn hóa Việt Nam ta Trong thành công đó, có sự đóng góp nỗi lực của tài năng
Ma Văn Kháng” [3]
b Một trong những nhà văn tiên phong thời kỳ đổi mới
Ma Văn Kháng, nhà văn từng được mệnh danh là "người khuấy động văn đàn Việt Nam hiện đại", kém ít tuổi so với Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải nhưng cũng thuộc nhóm đại biểu tinh anh của văn học một thời, xứng danh là một trong những ngọn cờ tiên phong đổi mới
Vào những năm 80 của thế kỷ XX, văn học Việt Nam đã có những bước chuyển mình Do yêu cầu tự thân, văn học đã đi vào hiện thực cuộc sống, con người của thời đại mới, khám phá những bức tranh sinh hoạt của cuộc sống đời thường của cộng đồng Đề tài về cuộc sống xã hội phức tạp, đầy biến động của thời bình được đề cập nhiều Có thể kể tới như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Khải… Cùng với các đề tài cũ trước đó, đề tài đời tư – thế sự đạo đức xuất hiện mang đến nét mới cho văn học thời kỳ này Các nhà văn đã hướng điểm nhìn của mình vào những góc khuất sâu trong tâm hồn của mỗi con người
Cùng với nhiều nhà văn khác trong giai đoạn này, Ma Văn Kháng là một trong những nhà văn tiên phong trong thời kỳ đổi mới Ông là người dường như sớm nhất nhập cuộc, được coi là người "đi tiền trạm" cho đổi mới văn học và đã có những đóng góp to lớn khi phân tích, mổ xẻ, nghiền ngẫm vấn
đề cuộc sống hôm nay: con người với tất cả mặt tốt xấu cùng hiện thực sinh
Trang 21động có cả ánh sáng và bóng tối Mưa mùa hạ ra đời tương đối sớm, năm
1982 thời điểm cách Đại hội lần VI bốn năm khi mà hầu hết các nhà văn khác đang còn bị âm hưởng của cuộc chiến tranh bao quanh như Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Chu Lai… với một thái độ không khoan nhượng che giấu những cái xấu, cái ác, những suy nghĩ manh nha, những quan niệm đối lập nhau trong xã hội Nhà văn đã thẳng thắn vạch trần sự tha hóa đạo đức, nhân phẩm của con người đang bị đồng tiền chi phối, sự sa sút, băng hoại về đạo đức ngay cả trong cơ quan, nhà trường, trong các quan hệ xã hội, trong bản thân mỗi gia đình, mỗi con người… Số phận của những con người có tài, lương thiện nhưng bị vùi dập, rơi vào hoàn cảnh bi đát, kết thúc thảm hại Tác phẩm không có được cái kết thúc có hậu kiểu truyền thống Hai nhân vật chính Nam - thì một chết vì bạo bệnh, một Trọng - hy sinh khi lấy thân mình che chắn cho con đê Cả hai ấp ủ bao khát vọng thật đẹp đẽ về cuộc sống mà phải đột ngột ra đi trong ai oán, day dứt Chính cái kết thúc không có hậu ấy
là một cách nhìn mới, một sự báo động thức tỉnh lương tâm của mọi người Năm 1985, trước Đại hội một năm, không khí đổi mới trong văn học đã lan tỏa, xuất hiện nhiều nhà văn đi vào khai thác mảng đề tài cuộc sống hơn thì
Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng ra đời càng khẳng định vững
vàng trên bước đường đổi mới Giữ gìn truyền thống gia đình là một báo động
đỏ về sự lung lay, biến chất của những cá nhân không kiềm chế được dục vọng, trước đồng tiền Tác phẩm này cũng có thể được coi là tác phẩm tiên
phong về một đề tài mới chưa có người khai phá Trong khi dư luận về Mùa
lá rụng trong vườn vẫn còn sôi nổi thì Đám cưới không có giấy giá thú (1989)
ra đời khiến cho đời sống văn học phong phú và sinh động hơn khi khắc họa
bi kịch của con người trước sự xuống cấp trầm trọng của giáo dục trong thời
cơ chế thị trường Ngược dòng nước lũ (1999) tiếp tục là khẳng định bút pháp
Trang 22điêu luyện của Ma Văn Kháng khi cũng vẫn đề cập đến đạo đức con người trong xã hội nhưng ở cấp độ quyết liệt hơn
Con đường sáng tác văn chương của Ma Văn Kháng là cả một quá trình lao động phấn đấu ngừng nghỉ, tự vươn lên để khẳng định mình Sự miệt mài say mê với ngòi bút, lòng yêu lao động, yêu cuộc sống đã tạo nên thành công cho nhà văn Cùng với sự chuyển biến của văn học, Ma Văn Kháng là một trong những nhà văn có đóng góp lớn cho văn học Việt Nam đương đại Với
số lượng tác phẩm và nội dung thời sự đặc sắc, nhà văn đã chứng tỏ được tài năng của mình, góp phần làm mới diện mạo văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới
1.2 QUAN ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA MA VĂN KHÁNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
1.2.1 Cái nhìn hiện thực của Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới
Mỗi nhà văn dẫu viết về đề tài nào thì tâm điểm vẫn muốn gửi gắm vào đứa con tinh thần của họ những quan niệm nghệ thuật về hiện thực cuộc sống
và con người Là nhà văn có ý thức sâu sắc về trách nhiệm của người cầm bút,
Ma Văn Kháng luôn ý thức trong việc tìm tòi và đổi mới cái nhìn đối với hiện thực và con người Ông quan niệm “Văn chương là tấm gương phản ánh hiện thực, là nơi lưu giữ hình bóng của cuộc đời” [18; tra 26] Với quan niệm đó, tác giả đặc biệt quan tâm tới hiện thực tác động, làm thay đổi cuộc sống của con người
Thế giới hiện thực trong tác phẩm của Ma Văn Kháng có nhiều biến đổi sau khi ông tạm biệt thiên nhiên và con người miền núi hoang sơ, mộc mạc để trở về với cuộc sống xô bồ, phức tạp miền xuôi Trước kia, khi cảm hứng sử thi đóng vai trò chủ đạo trong sáng tạo nghệ thuật, Ma Văn Kháng cũng từng
đề cập đến cái xấu, cái ác, lực cản trên con đường đi lên của đồng bào miền núi nhưng nói được xác định rõ ràng, phân tuyến mạch lạc Còn bây giờ, hiện
Trang 23thực mới nơi nhà văn đang đối mặt đã chấm dứt cái nhìn đơn trị ấy Giờ đây cái tốt, cái xấu lẫn lộn Thậm chí cái ác, cái bất nhân nhiều khi được che đậy hết sức tinh vi dưới nhiều bộ mặt Tiếp xúc với hiện thực ngổn ngang ánh sáng và bóng tối, sự mẫn cảm và bản lĩnh nghệ sĩ ở Ma Văn Kháng được dịp thử thách và thể hiện Từ đây ngòi bút của ông đã có những chuyển biến tích cực Trong đôi mắt của nhà văn từng trải hiện thực bây giờ là phức tạp, không thể biết trước, biết hết, con người thì còn nhiều bí ẩn Cuộc đời con người là bức tranh nhiều màu sắc, đa hình dạng và khó nắm bắt
Khi chuyển hướng ngòi bút sáng tác Ma Văn Kháng đã nhanh chóng tiếp cận với một hiện thực mới, một hiện thực phong phú nhưng ngổn ngang, bề bộn, phải trái, trắng đen lẫn lộn với bao biến động Ông phát hiện ra sự lạc điệu, trật khớp đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ làm xói mòn nhiều giá trị đạo đức truyền thống Càng nâng niu, trân trọng những giá trị truyền thống bao nhiêu Ma Văn Kháng càng hết sức lo lắng cho cái đời sống thành thị xô
bồ bấy nhiêu Đó là thành thị của một bộ phận cư dân đang dần bị chi phối bởi lối sống thực dụng Ở đó con người chỉ biết chạy theo đồng tiền mà quên
đi mọi đạo lý trên đời, quên đi tình cha con, tình vợ chồng, anh em, đồng nghiệp… Sự xáo trộn dữ dội như một quy luật tất yếu của xã hội trong thời kỳ chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường với một thực trạng báo động của xã hội buổi giao thời: xuất hiện không ít kẻ có lối sống ích kỷ, chỉ biết chạy theo dục vọng cá nhân, chạy theo đồng tiền, thoát ly truyền thống, phá vỡ mọi chuẩn mực đạo đức xã hội
Với một tâm hồn nhạy cảm trước hiện thực, một ngòi bút ưa tìm hiểu, khám phá cọ xát với đời sống, Ma Văn Kháng đã phát hiện cảnh tỉnh con người về sự suy thoái trầm trọng của những giá trị đạo đức truyền thống, sự trượt dài của nhân cách So với giai đoạn trước đây, nhà văn đã để ý, phanh phui cái xấu, cái ác trên một cấp độ mới Đó không còn là những tập tục cũ
Trang 24lạc hậu, chế độ thổ ty hà khắc, bọn thổ phỉ độc ác cản trở con đường đi lên xã hội chủ nghĩa của người miền núi, mà là sự nhức nhối của cuộc sống đô thị miền xuôi sau thời kỳ đổi mới Vạch trần những tiêu cực trong đời sống tinh thần con người và xã hội, nhà văn mong muốn sẽ làm được điều gì đó để hạn chế, xóa bỏ bớt sự nhiễu nhương, làm cuộc thanh lọc trong sạch và nồng ấm tình người Hiện thực mà Ma Văn Kháng nêu ra được lý giải rõ ràng hơn thông qua hệ thống nhân vật của ông
1.2.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới
a Vài nét về quan niệm nghệ thuật về con người
Quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện cái nhìn nghệ thuật của nhà văn đối với thế giới và con người Thế giới và con người ấy được nhìn nhận dựa trên sự cảm thụ cá nhân, để thỏa mãn nhu cầu nhận thức thẩm mỹ cho cá nhân Nó cắt nghĩa lý giải con người theo phương diện chủ quan (nhưng vẫn không tách rời khách quan) Quan niệm nghệ thuật về con người làm nên vẻ độc đáo của nhà văn và nó còn chi phối đến khía cạnh nội dung và hình thức của tác phẩm Thi pháp học cho rằng quan niệm nghệ thuật về con người là sự
lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa thành những nguyên tắc, phương diện, biện pháp thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật trong đó
Nhân vật là hình thức cơ bản để biểu thị con người trong văn học Quan niệm nghệ thuật về con người không nhìn nhân vật văn học đơn giản như khách thể mà tiếp cận con người ở chiều sâu Nói đến quan niệm nghệ thuật
về con người là nói đến sự sáng tạo về chất trong cảm thụ và miêu tả hiện thực của nhà văn Đó là một chuẩn mực cơ bản để đánh giá những bước tiến đổi mới văn học Quan niệm nghệ thuật về con người cũng được xem như một trong những tiêu chí để xác định phong cách nghệ thuật của nhà văn Ở trong
Trang 25cùng một hệ đề tài, những quan niệm khác nhau về con người là dấu hiệu nhận diện những cây bút khác nhau Mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn lịch sử sẽ có những chuẩn mực riêng về quan niệm nghệ thuật về con người, sẽ có những cách lý giải, cảm thụ, khám phá khác nhau
b Sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của
Ma Văn Kháng
Trước đây, Ma Văn Kháng đã rất chú trọng việc xây dựng nhân vật nhưng nhìn chung, nhân vật của ông cũng như nhiều tác giả cùng thời là nhân vật mang những đặc điểm cá tính, những hiện tượng tâm lý nhưng chưa đầy đặn và trọn vẹn Sau thời kỳ đổi mới bằng hành động, suy nghĩ, ngôn ngữ và
cả bề ngoài đầy ấn tượng, nhân vật của ông đã mang cá tính sắc sảo và có chiều sâu nội tâm Thế giới nhân vật luôn băn khoăn trăn trở trước cuộc sống còn nhiều vấp váp và rất có ý thức đấu tranh cho hạnh phúc cá nhân, cho khát vọng riêng tư của cuộc đời mình Khi xây dựng nhân vật, Ma Văn Kháng đã
cố gắng giải quyết số phận cá nhân trong mối liên hệ mật thiết với xã hội cộng đồng Đằng sau mỗi số phận, mỗi cuộc đời đều ẩn chứa những vấn đề mang ý nghĩa nhân sinh Nhà văn đã hướng sự quan tâm đến từng cá nhân con người
khi chuyển từ cái nhìn sử thi trong Xa phủ, Đồng bạc trắng hoa xòe sang cái nhìn tiểu thuyết trong Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá
thú Mục đích của sự thay đổi này nhằm tiếp cận đời sống ở phương diện sinh
hoạt, thế sự và khắc phục những phiến diện trong quan niệm về con người của một thời văn học Trong các tiểu thuyết, truyện ngắn của Ma Văn Kháng ở thời kỳ này, hệ thống nhân vật đã trở nên phong phú, đa dạng, phức tạp hơn
Ta thấy có cả các nhân vật của vùng xa hiền lành ít học và cả tầng lớp thị dân sang hèn Đặc biệt, tầng lớp trí thức đã có sức hút lớn đối với ngòi bút của Ma Văn Kháng với nhiều nỗi ám ảnh, trăn trở trong các mối quan hệ xã hội và con người đang tôn thờ quá mức giá trị của đồng tiền và gạt bỏ mọi giá trị
Trang 26tinh thần, một xã hội nhốn nháo, hiếm nhân tài Con người thì biến chất, què quặt về đạo đức và lối sống
Thế giới con người trong cái nhìn của Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới đông đủ các giai tầng xã hội vì thế kiểu nhân vật cũng vô cùng phong phú, đa dạng và phức tạp Khi viết về sự đa dạng, phức tạp trong cuộc sống của con người, Ma Văn Kháng muốn gửi đến độc giả lời nhắn nhủ: không nên dùng cái nhìn phân đôi con người một cách đơn giản, cứng nhắc, phân biệt rạch ròi tốt – xấu, tích cực – tiêu cực mà cần phải đi sâu nghiên cứu, mổ xẻ phân tích những nỗi niềm, uẩn khúc và bi kịch riêng của từng cuộc đời Đi sâu vào tận cùng đáy hồn người để khám phá, phát hiện là quan niệm viết có phần mới của nhà văn: “Văn chương là chuyện đời thông qua việc đào bới bản thể của mình ở chiều sâu tâm hồn, chứ đâu phải là đi hớt lấy cái váng bọt nổi trên mặt của ngoại vật.”
Ma Văn Kháng đã đặt con người trong mối quan hệ nhiều chiều, nhiều bình diện đó là con người của đời sống riêng tư, của xã hội, của tự nhiên Đó
là con người trong mối quan hệ đa chiều lịch sử, xã hội, gia đình và với chính mình, là con người trong tính toàn vẹn, phong phú và phức tạp, có hạnh phúc lẫn khổ đau, có cao cả lẫn thấp hèn, bóng tối lẫn ánh sáng Từ trong bản chất vốn có, con người là phong phú, phức tạp và hiện thực cuộc sống là đầy những ngẫu nhiên, bất ngờ Dõi theo từng trang truyện của Ma Văn Kháng, ta thấy nhà văn đã khéo léo miêu tả sự phức tạp, thất thường trong từng con
người Trong Mùa lá rụng trong vườn, Ma Văn Kháng đã bày tỏ quan niệm
riêng của mình: “Trong chúng ta ai cũng vậy: Có cái xấu, có cái tốt Cái xấu nói chung mọi người đều biết nói là xấu Vậy mà cuối cùng vẫn không tránh được” [11, tr 134] Tuy nhiên, với cái nhìn nhân bản, nhà văn đã có cái nhìn bao dung, độ lượng trước con người: “Chỉ cần con người có khuynh hướng trở về với cái thiện là ta phải giơ tay ra đón nó Nhất là người đó của mình
Trang 27Cái xấu nhiều khi là ngẫu nhiên Con người, chứ không phải cái gì trừu tượng Phải tha thứ” [11, tr 261] “Mỗi con người đều có thể sống đẹp được, không nên đổ lỗi cho hoàn cảnh Cũng không nên quá khắc khe với sai lầm của con người Con người đang ở trong tiến trình của nói, nó còn vật lộn dai dẳng với bản thân nó” [ 11, tr 262]
Bên cạnh đó, con người tự nhiên cũng được đề cập nhiều trong các tác
phẩm Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú, Bãi vàng,
Mùa thu đảo chiều, Điệu Rumba mê dại… Con người trong các sáng tác của
Ma Văn Kháng còn khẳng định bản năng và nhu cầu tự nhiên của mình Ông
đã phát hiện trong bản năng đời sống tình dục của con người thể hiện mặt văn hóa, đạo đức xã hội Với cái nhìn đa chiều, sâu sắc về mọi phương diện con người khiến vấn đề tình dục được quan tâm đúng đắn, tự nhiên Nó không hề gây cảm giác phản thẩm mỹ, phản giáo dục mà thấm đẫm tính nhân văn trong cái nhìn mang chiều sâu nhân bản về con người Ma Văn Kháng đã phơi bày những mặt trái của tình dục, ông đã nghiêm khắc lên án những kẻ chà đạp lên đạo lý truyền thống Đối với những con người này, dục vọng là khoái thú bất tận, dục vọng đã biến chúng trở thành những con quỷ dâm đãng đội lốt người Tuy nhiên, có những mối quan hệ “ngoài luồng” được nhà văn đặt trong từng hoàn cảnh, từng con người cụ thể lại được rất đáng cảm thông Bởi chính cuộc tình “ngoài luồng” đã đem đến cho con người niềm hạnh phúc thực sự
như Thiêm (Gặp gỡ ở La Pan Tẩn) Với Thiêm, tình yêu với Seo Mùa, với An
– những người phụ nữ này như là người tri âm, tri kỷ của cuộc đời anh, hiểu tận sâu thẳm, nâng đỡ tâm hồn anh và là nguôn vui sống vô tận giữa cuộc đời đen bạc, trắc trở Khi đề cập đến vấn đề này, Ma Văn Kháng không ngợi ca hay khích lệ mà muốn người đọc nhìn nhận nó như bản chất thực đang tồn tại trên cõi đời này, qua đó nhà văn muốn người đọc nhận thấy mặt tự nhiên của con người và nhu cầu cần được thỏa mãn trong đời thường mà lâu nay người
Trang 28ta vẫn che đậy, giấu giếm Phát hiện đời sống tình dục ở nhiều cung bậc, dục vọng không chỉ là bản năng tự nhiên mà còn là hành vi biểu hiện văn hóa, nhân tính của con người
Như vậy, trong quan niệm nghệ thuật về con người, nhà văn bước đầu đã
có những thể nghiệm mới Ông đã mở ra khả năng khám phá con người ở nhiều chiều, nhiều bình diện Con người là đối tượng để khám phá không còn
và không thể quan niệm như trước Cơ sở của nó xuất phát từ cái nhìn nhân đạo về con người, mong tìm kiếm những điều kiện tốt đẹp cho sự phát triển nhân cách con người Con người vốn phức tạp cho nên không thể dùng một tiêu chí, một giá trị cố định để đo đếm mà phải có cái nhìn linh hoạt, uyển chuyển về con người Cái nhìn đó thể hiện một tư duy rất mềm dẻo, linh hoạt của Ma Văn Kháng Ông đã thể hiện một tư duy nghệ thuật về con người của riêng mình
Qua từng trang văn, Ma Văn Kháng đã thể hiện niềm băn khoăn, thao thức về trách nhiệm đối với số phận và hạnh phúc của mỗi cuộc đời, mỗi cá nhân “Suốt đời người chuyển động Ai cũng có một cái đích lựa chọn để đi tới Đúng đích thì hạnh phúc cho mọi người Còn đích sai thì tai họa, chí ít cũng làm phiền xung quanh Còn cái xấu, cái tốt thì thời đại nào cũng có Đừng sợ cái xấu Cái xấu cũng là của mình, ở mình thôi Phải chăm lo cho từng người Cá tính mãi mãi mãi tồn tại và đòi hỏi được quan tâm” [18; tr 34] Con người trở về với cuộc sống cá nhân, xây dựng, phát triển nó Đó là những cái mới trong ngòi bút của nhà văn thời kỳ đổi mới và nó còn phát triển, mở rộng hơn sau đổi mới văn học
Trang 29CHƯƠNG 2
HỆ THỐNG NHÂN VẬT TRONG CÁC SÁNG TÁC
CỦA MA VĂN KHÁNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
2.1 GIỚI THUYẾT VỀ NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC 2.1.1 Khái niệm về nhân vật văn học
M Gooki đã nói “Văn học là nhân học” Con người là trung tâm của mọi tác phẩm văn học, đó là một thực thể đem đến cho các nhà văn nguồn khai thác không bao giờ cạn Văn học nghệ thuật lấy con người làm đối tượng thể hiện và nghiên cứu Một nhà nghiên cứu người Pháp có nói: “Phía sau bất cứ tác phẩm nào cũng vậy, không những chỉ có công việc văn chương và một ngôn ngữ mới còn có một người và sự nhập cuộc của một con người” Vì vậy, cho nên việc lý giải, nghiên cứu tác phẩm văn học không thể tách rời khỏi việc khảo sát con người được thể hiện trong đó
Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì “Nhân vật văn học là một đơn vị
nghệ thuật đầy tính ước lệ không thể đồng nhất nói với con người có thật trong đời sống” Về vấn đề này B.Brecht có nhận xét: “Các nhân vật của tác phẩm nghệ thuật không phải đơn giản là những bản dập của những con người sống mà là những hiện tượng được khắc họa phù hợp với ý đồ tư tưởng của tác giả”
Ở mỗi tác phẩm, mỗi thể loại văn học có những loại hình nhân vật văn học khác nhau rất phong phú, đa dạng, chung quy lại ta có các loại hình nhân vật sau:
Căn cứ vào vai trò của nhân vật đối với kết cấu, cốt truyện của tác phẩm,
ta có: nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm
Trang 30Từ góc độ nội dung tư tưởng có thể phân chia nhân vật thành hai loại: nhân vật chính diện và nhân vật phản diện
Dựa vào cấu trúc hình tượng ta có nhân vật chức năng, nhân vật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng
Tuy vậy, sự phân biệt các loại hình nhân vật chỉ là tương đối, trong tác phẩm có khi nhân vật vừa là loại này vừa là loại kia
Như vậy, con người trong văn học không chỉ là con người ngoài đời mà còn là quan niệm về con người ấy một cách thẩm mỹ và nghệ thuật Sáng tạo
ra nhân vật chính là phương tiện khái quát nghệ thuật của nhà văn Trong tác phẩm, các nhân vật không phải tách rời nhau mà liên quan với nhau, quan hệ giao tiếp với nhau tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh Đó chính là hệ thống nhân vật trong tác phẩm văn học
2.1.2 Hệ thống nhân vật
Nhà văn sáng tạo nhân vật là để thể hiện những cá nhân xã hội nhất định
và quan niệm về cá nhân đó Nghĩa là nhân vật chính là phương tiện khái quát tính cách, số phận con người và các quan niệm về con người của nhà văn Khảo sát hệ thống nhân vật là đi vào những kiểu dáng nhân vật nhất định, là tìm được vai trò, ý nghĩa của từng nhân vật nơi tác phẩm và mối liên
hệ của từng nhân vật này với nhau Vì thế, lý giải và xây dựng hệ thống nhân vật là một khâu quan trọng trong công việc sáng tạo của nhà văn Nhà văn có quyền sáng tạo ra những mâu thuẫn nhân vật, những con người theo ý mình Các nhân vật trong tổng thể tạo thành hệ thống của chúng là một mặt của hình thức nghệ thuật của văn học, gắn liền với nội dung bằng những mối liên hệ khắng khít Cũng chính vì điều này mà khi chúng ta nói về tư tưởng của tác phẩm tự sự và kịch điều quan trọng trước hết, là phải hiểu chức năng của hệ thống nhân vật, nội dung và ý nghĩa của nó Những nhân vật trong tác phẩm
Trang 31có quan hệ với nhau không chỉ bằng tiến trình sự kiện, hành động mà suy đến cùng còn bằng logic tư duy nghệ thuật của nhà văn
Nhìn vào các sáng tác văn học từ những truyện cổ tích đến tiểu thuyết hiện đại, hệ thống nhân vật là chú ý hàng đầu của nhà văn Hệ thống nhân vật đem lại cho hình thức nghệ thuật của tác phẩm sự thống nhất và tính chính thể Qua hệ thống nhân vật bộc lộ nội dung tư tưởng của tác phẩm, nhưng tự
nó – hệ thống nhân vật lại là một trong các phương diện kết cấu tác phẩm Khảo sát hệ thống nhân vật, đi tìm vai trò ý nghĩa của nhân vật trong tác phẩm, tức là đi tìm để xác định đâu là nhân vật có ý nghĩa xuyên suốt nhất trong tác phẩm và từ đó khảo sát mối quan hệ giữa các nhân vật khác nhau xoay quanh nhân vật này Có những người lẫn lộn giữa nhân vật chính với nhân vật trung tâm Nhân vật chính là nhân vật đóng vai trò chủ chốt xuất hiện nhiều, giữ vị trí then chốt trong cốt truyện hoặc tuyến cốt truyện Đó là những con người có liên quan tới các sự kiện chủ yếu của tác phẩm, là cơ sở
để tác giả triển khai chủ đề của tác phẩm
Như vậy, các nhân vật trong tổng thể tạo thành hệ thống của chúng là một mặt của hình thức nghệ thuật văn học, gắn liền với nội dung bằng những mối liên hệ chặt chẽ Sau hệ thống nhân vật là mạch ngầm của những quan niệm, những cách nhìn về cuộc sống, về con người của tác giả Nói cách khác, tất cả những nhân vật với những mối quan hệ của chúng đều góp phần thể hiện chủ đề tư tưởng và những ý đồ nghệ thuật nào đó của tác giả Khảo sát toàn bộ thế giới nhân vật cũng có nghĩa là đi tìm hiểu, lý giải hệ thống nhân vật trong tác phẩm
Trang 322.2 HỆ THỐNG NHÂN VẬT MANG NHỮNG NÉT ĐẶC TRƯNG VÙNG MIỀN TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
2.2.1 Con người miền núi
Xung phong lên miền núi trong không khí náo nức của tuổi trẻ, MaVăn Kháng không hề quản ngại khó khăn Ông đã sống, làm việc gắn bó với núi rừng, con người nơi đây như những người miền núi thực thụ Trở về thành thị, một môi trường sống và làm việc hoàn toàn khác lạ đối với một nhà văn đã có trên hai mươi năm xa cách nhưng ông cũng đã thật tâm, sống hết mình với mảnh đất này và nó đã đơm hoa kết trái Thành công của ông là đã sáng tạo những tác phẩm có giá trị Với ngòi bút tài hoa, lão luyện, bức tranh vùng đất biên cương núi non trùng điệp, rừng rậm thăm thẳm phía Tây Bắc Tổ quốc được góp mặt trong bức tranh toàn cảnh văn học Với rất nhiều truyện ngắn
và tiểu thuyết viết về miền núi, nhà văn đã xây dựng một thế giới nhân vật đặc biệt: đó là những con người nơi biên ải cực khổ, tăm tối nhưng thật thà, hồn nhiên, chân chất; những “anh hùng” thực tâm gắn bó, dốc sức kiên trì, góp công xây dựng quê hương, bên cạnh đó là những tên trùm phỉ muôn hình muôn vẻ, đường đời của những tên phá hoại độc ác, tàn bạo, nham hiểm… Cuộc sống và con người miền núi với những phong tục tập quán đặc trưng hiện lên chân thực và sinh động hơn bao giờ hết
Khởi đầu cho nghiệp viết của mình, đề tài miền núi bước vào những trang văn của Ma Văn Kháng và đã tạo dấu ấn trong bối cảnh văn học và thời đại trước thời kỳ đổi mới Trong các sáng tác ở thời kỳ này, nhà văn đặt con người trong mối quan hệ với hoàn cảnh chính trị xã hội của Tây Bắc trong những năm chiến tranh và xây dựng xã hội mới Họ là những cán bộ miền xuôi hết lòng vì cách mạng hay những người dân tộc giác ngộ và đến với cách mạng Con người miền núi được khẳng định với âm hưởng ngợi ca Họ là những con người chung, tiêu biểu cho lý tưởng cộng đồng Những con người
Trang 33đó còn mang đậm chất sử thi, gắn bó cuộc đời họ với lợi ích tập thể và vận mệnh của dân tộc Nhiều con người được nhìn nhận trên cơ sở của đám đông tập thể Cũng chính vì thế mà một số nhân vật trong sáng tác thời kỳ này chưa
có chiều sâu tâm lý và chưa có tính cách riêng Số phận cá nhân chưa được khắc họa rõ nét Nhà văn tạo nên hai tuyến đối lập nhau giữa con người lương thiện, con người mới với những con người ác, xấu xa và cổ hủ để thể hiện chân lý, đó là cái thiện sẽ thắng cái ác, cái mới sẽ đẩy lùi cái cũ Con người trong sáng tác về miền núi của Ma Văn Kháng trước 1986 mang tính lý tưởng hóa rõ nét Tất cả đều được xây dựng nên bằng một giọng điệu ngợi ca đầy tính sử thi
Sau 1986, với cái nhìn đa chiều về con người, hệ thống nhân vật miền núi trong các tiểu thuyết, truyện ngắn của ông đã được khắc họa sinh động và
rõ nét với những cá tính riêng biệt Những sáng tác về đề tài miền núi của Ma Văn Kháng hướng đến cuộc sống và phong tục của người dân miền núi ở vùng biên ải xa xôi Hiện thực xã hội miền núi rối ren, phức tạp và khắc nghiệt với nhiều xung đột dữ dội Ở trong hoàn cảnh ấy, con người miền núi được thử thách để bộc lộ sức sống và bản lĩnh của mình
Khám phá thế giới nhân vật miền núi của Ma Văn Kháng, ta có thể thấy phần đông họ là những con người lương thiện, chất phác, cần cù và nhiệt tình cách mạng và nhất là có trách nhiệm với dân tộc Họ trở thành những hình mẫu lý tưởng, góp phần rất lớn vào công cuộc xây dựng xã hội mới ở Tây
Bắc Đó là hố pẩu Giàng Dìn Chin (Gặp gỡ ở La Pan Tẩn), ông Thòn, bà Phàm (Chuyện của Lý), Mo Chúng (San Cha Chải)…những đại diện tiêu biểu
hết mình vì quê hương, mặc dù có những điều họ vẫn còn mê tín nhưng tất cả những việc họ làm là vì quê hương, dân tộc mình Hố pẩu Giàng Dìn Chin trái ngược với thái độ hoài nghi, do dự của nhiều người, dựa vào uy tín của mình,
Trang 34vì sự khai sáng cho dân tộc mình đã cùng thầy giáo Thiêm xây dựng nên “lâu đài văn hóa” cho người Mèo, bởi hố pẩu hiểu được rằng dân tộc mình phải cần cái chữ mới có thể thoát khỏi những u tối, cơ cực của cuộc đời Ông Thòn, bà Phàm mở rộng vòng tay đón nhận mẹ con Lý trong cơn cơ cực mặc cho những cay nghiệt của cuộc đời Bên cạnh lớp người già, là thế hệ trẻ - những con người mới của vùng biên ải với lòng nhiệt huyết tuổi trẻ và tình yêu sâu đậm dành cho mảnh đất này Những con người trai trẻ của núi rừng thời kỳ mới sẵn sàng hi sinh thân mình với những khát khao đem lại cuộc
sống bình yên cho bản làng như Thào A Sẩu (Đỉa bám chân ai) – anh Trưởng
công an xã Quán Dín Ngà không ngại những hiểm nguy của bọn giặt thời kỳ mới – đó là những kẻ buôn lậu có vũ khí, những kẻ buôn bán ma túy, gieo rắt cái chết trắng trên bản làng quên hương mình Thào A Sẩu gõ cửa từng nhà,
rà từng người ở các bản Mông để tuyên truyền cho đồng bào tránh xa cái chết trắng Dù bị uy hiếp bởi hình vẽ bị một dòng đạn năm viên bắn vào ngực lên
tờ giấy rồi dán vào cánh cửa nhà nhưng anh Sẩu không hề sợ hãi Đối với Sẩu
“Có thể bắt anh bỏ con đường sống Anh không sợ con đường chết” [15; tr 203] A Sẩu hăng say làm nhiệm vụ của mình, để rồi trong cuộc truy đuổi tội phạm , anh đã bị chúng bắn chết, nhưng trước khi ngã xuống, anh vẫn còn dồn được sức lao đến ôm ghì tên trùm để đồng đội phía sau tiến lên bắt giữ Pao trong San Cha Chải là điển hình cho thế hệ trẻ người Mèo dũng cảm đấu tranh và hết lòng vì quê hương Từ cậu bé mười sáu tuổi, học xong lớp bốn Pao tham gia lực lượng công an của anh Tủa Khi áp giải tên tội phạm Cấu lên huyện, với sự thật thà và lòng thương người của mình, Pao đã không cảnh giác mà trong một phút động lòng và sơ hở, Pao đã để cho Cấu tẩu thoát Từ lần đó, “Pao muốn khôn trước tuổi! Quên cả mối tình mới nảy nở với cô Seo Say, ngày đêm Pao nung nấu ý chí thanh khoản món nợ với lão Cấu” [8; tr 190] Qúa trình từ một cậu bé mới lớn, là đứa hay xấu hổ, ít nói: Khi thầy
Trang 35giáo cho vẽ tự do, Pao đã vẽ một con chuột nhắt đứng run rẩy cạnh một khối hình tròn – tượng trưng cho phía sau lưng con mèo thì sau năm năm dài Pao
đã trưởng thành trở thành một chàng trai trẻ - dũng cảm và đầy trách nhiệm Pao đã kiên trì ngày đêm mai phục để bắt lại lão Cấu và đích thân áp giải lên đến tỉnh
Các sáng tác về miền núi của Ma Văn Kháng luôn có cái nhìn trân trọng,
đề cao người phụ nữ, dù họ là những người đi lên từ những bất hạnh hay bi
kịch trong cuộc sống Cuộc đời của Seo Mùa (Gặp gỡ ở La Pan Tẩn) chìm
đắm trong tủi nhục, đau đớn cho đến khi chết Cô là nạn nhân của tục cướp
vợ, của một cuộc hôn thú không có tình yêu Người phụ nữ Mèo xinh đẹp, đảm đang không hề có hạnh phúc Cô bị chồng hành hạ, đánh đập dã man đến tàn héo Rút cuộc để thoát kiếp đọa đày của mình, cô tự kết thúc cuộc đời bằng lá ngón sau lần bị Quốc Thanh làm nhục, Seo Mùa chết trong nỗi đau cùng với một tình yêu thầm kín không thành lời dành cho Thiêm Còn đối với
Nhu (Chuyện của Lý) – một cô giáo trẻ đẹp tài hoa lại bị vùi dập cả cuộc đời
bởi những con người tàn độc bởi chỉ vì cô quá đẹp nhưng lại không chịu khuất phục Sống giữa muôn trùng mối đe dọa của thế lực đàn áp, từ một cô giáo tài hoa dạy giỏi bị ép buộc làm chị bếp của cơ quan Huyện ủy, khi phải làm bà mẹ đơn thân nhưng chưa bao giờ Nhu nhụt chí, cô luôn kiên cường vượt qua khó khăn gian khổ Cuộc đời Nhu phải mất đi Khánh – mối tình đầu tiên cao đẹp và đầy nước mắt nhưng bù đắp lại bên cạnh mình cô đã có Dương cùng song hành và cập đến bờ hạnh phúc Họ chính là những con người đáng khâm phục và trân trọng
Trong công cuộc xây dựng xã hội mới, nhiều con người mới, xốc vác, hăng hái, nhiệt tình và tiến bộ ra đời Đó là Dương – Bí thư Huyện ủy của
Phong Sa (Chuyện của Lý) Vào tuổi ba mươi lăm, tích luỹ tri thức và kinh
nghiệm đã đến độ tự tin lại đã kinh qua thực tiễn chiến tranh, Dương tiếp
Trang 36nhận vị trí công tác mới trong tinh thần một kẻ dấn thân nhập cuộc, với niềm hứng khởi tràn trề Anh kiên quyết đấu tranh chống lại tàn dư của xã hội cũ và gặp phải sự chống đối rất lớn của thế lực Văn Quyền nhưng vẫn không ngại khó, ngại khổ để xây dựng Phong Sa: “Phong Sa có hai mươi tám xã, tám mươi tư thông, bằng đôi chân của mình, sau một tháng trời Dương đã đi tới
đủ một trăm phần trăm thôn bản trong huyện, nghĩa là không bỏ sót một xóm nhỏ, một thôn ba nhà nào” [16; tr 274] Hình ảnh những con người tiến bộ mới đã được nhà văn xây dựng rất thành công hình ảnh thầy giáo Thiêm, người thầy đã đưa cái chữ và ánh sáng của văn hóa đến vùng đất La Pan Tẩn
xa xôi, lạc hậu Nơi đây cuộc sống còn khó khăn, lương thực thiếu thốn, điện đài, sách báo, thông tin không có Nhưng điều đó không cản trở được bước chân thầy Thầy chuẩn bị sửa soạn lại trường lớp, động viên bà con đi học Dẫu hai mươi tám đồng nghiệp của thầy đã lần lượt thua cuộc, thầy vẫn bám trụ, vẫn âm thầm chịu đựng Bằng tâm huyết và lòng yêu nghề, thầy giáo Thiêm đã làm được một việc thật phi thường: “Trong khi hai mươi tám xã toàn huyện Xin Ma Chải không nơi nào kiên trì nổi một lớp vỡ lòng La Pan Tẩn đã hoàn chỉnh một trường cấp một đủ bốn lớp, riêng lớp bốn có mười hai học sinh người Mèo Trường có tám mươi học sinh Ký túc xã đủ chỗ cho bốn mươi em ăn nghỉ Toàn bộ người ở độ tuổi đã biết đọc, biết viết Cán bộ xã, trừ những người quá u tối, đều đã có trình độ lớp ba bổ túc văn hóa”[14; tr 70] Không những thế, thầy thực sự sống, gắn bó với con người nơi đây, thầy thực sự trở thành một người Mèo chân chính, thầy đã dũng cảm đấu tranh chống lại những tiêu cực trong xã hội Thầy băn khoăn tìm cách để đưa lại no
ấm, hạnh phúc cho con người nơi đây Đặt trong sự so sánh với Quốc Thanh, một con người nôn nóng, lộng quyền, háo sắc, thầy giáo Thiêm càng nổi bật lên vẻ điềm tĩnh, công minh và có lòng vị tha cao cả Với những phẩm chất
đó, thầy giáo Thiêm hoàn toàn chinh phục được mọi người và cảm hóa được
Trang 37Tếnh, người của bọn thổ phỉ nổi loạn đã định giết thầy Cũng có lúc thầy cảm thấy cô đơn vì bị sự cản trở của nhiều thế lực, cũng có lúc thầy thấy mình quá nhỏ bé trước lý tưởng sống quá cao đẹp Nhưng vì con người nơi đây, thầy dũng cảm chiến thắng bản thân mình, vượt qua mọi khó khăn và trở ngại Hình ảnh thầy giáo Thiêm phảng phất bóng dáng của Ma Văn Kháng, một người thầy say mê lý tưởng, hết lòng vì sự nghiệp trồng người
Ở nơi biên ải mù sương ấy, bên cạnh những con người lý tưởng, lương
thiện là những kẻ độc ác, tàn bạo và bất nhân Quốc Thanh (Gặp gỡ ở La Pan
Tẩn), Văn Quyền (Chuyện của Lý) là những kẻ lộng quyền, háo sắc, háo dục
một cách trơ trẽn, ti tiện Chúng lợi dụng chức quyền của mình để kiếm lợi, xem thường mọi người, coi mọi người như công cụ để thăng tiến Trong những sáng tác về miền núi trước 1986, Ma Văn Kháng xây dựng tuyến nhân vật xấu là những tên thực dân, quan tri châu, thổ phỉ và bè lũ tay sai đối nghịch với cách mạng thì ở giai đoạn sau 1986, nhà văn đã xây dựng hệ thống những kẻ độc ác “ăn theo cách mạng” Đó là những kẻ mạo danh Đảng, cặn
bã của xã hội với bản năng thô bạo trong Gặp gỡ La Pan Tẩn như Quốc
Thanh gian xảo lập hồ sơ giả, được tôn vinh lên bậc anh hùng; Đường Xuân
Ân, nguyên là phó bí thư huyện nhưng thường xuyên qua lại với một phụ nữ Mèo góa; Trần Đổng, Trưởng phòng giáo dục huyện Xin Ma Chải lại chính là anh giáo dạy bình dân kiêm đánh dậm… Tuy nhiên, bộ phận những con người này không nhiều Nếu có thì cuối cùng chính nghĩa vẫn chiến thắng Nhà văn vẫn đặt niềm tin vào những con người miền núi chất phác và lương thiện
2.2.2 Con người thành thị
Sau hơn hai mươi năm sống làm việc, gắn bó mật thiết với núi rừng, con người miền núi Ma Văn Kháng trở về với cuộc sống phố thị nơi thủ đô Ông nhanh chóng nhập cuộc, gặt hái được nhiều thành công với hàng loạt truyện ngắn, tiểu thuyết nóng hổi tính thời sự, đào sâu mọi ngóc ngách trong mỗi con
Trang 38người, trong quan hệ đồng nghiệp, gia đình, cha mẹ, con cái, anh em, làng xóm… Đó là sự đổi thay trong cách tiếp cận đời sống ở phương diện sinh hoạt, thế sự với hệ thống nhân vật phong phú, đa dạng và phức tạp hơn của
các tầng lớp thị dân sang hèn
Trong thế giới nhân vật thành thị của mình, tầng lớp trí thức đã có sức hút đặc biệt đối với ngòi bút của Ma Văn Kháng với nhiều ám ảnh, trăn trở Ngay trong đầu những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, Ma Văn Kháng đã dành nhiều tâm huyết, tình cảm để xây dựng những con người trí thức chân chính Là một thầy giáo tài năng và tâm huyết, đã có hơn hai mươi năm thâm
niên trong nghề dạy học, Tự (Đám cưới không có giấy giá thú) chính là hình
ảnh của một nhà giáo lý tưởng “Mô phạm mà vẫn không mờ nhạt lòng nhiệt thành, tinh thần triệt để, cùng chiều sâu tri thức, sự phong phú của tình cảm và sức lan tỏa của tư duy đã tạo nên một anh giáo Tự mực thước mà vẫn sâu sắc, đôn hậu mà vẫn uyển chuyển, đa cảm mà vẫn rắn rỏi, không dễ uốn mình, cảm thông với nỗi sa sảy, yếu đuối của học trò” [17; tr 83] Không chỉ ở người thầy chân chính, Ma Văn Kháng còn nhận thấy phẩm chất của tầng lớp
trí thức chân chính trong nhiều lĩnh vực Luận (Mùa lá rụng trong vườn) là
một nhà báo năng nổ, thông minh trong công việc, có lý tưởng, trách nhiệm
và giàu lòng yêu thương Anh tận tụy và biết xây dựng hạnh phúc gia đình
trong điều kiện vật chất còn nhiều khó khăn Đó là Thăng (Quản giáo Thăng)
một trung úy công an quản giáo phạm nhân đã ba lần được phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh T.N Hàng ngày phải tiếp xúc với lớp tội phạm có nhiều tội ác tàn bạo, bằng sự dũng cảm, bản lĩnh của một người chiến sĩ và tấm lòng thiện lương, Thăng đã khuất phục, cảm hóa được
lũ đầu trộm đuôi cướp quay về nẻo thiện của cuộc đời Cùng với những tri
thức trẻ, thì cụ Hồn Nhiên (Côi cút giữa cảnh đời), một nhà giáo về hưu, luôn
hết lòng vì mọi người xung quanh, ông tình nguyện mở một thư viện sách tại
Trang 39nhà mình với mong mỏi góp phần mở mang dân trí cho khu phố mà không
màng đến một đặc quyền, danh lợi nào Ông Bằng (Mùa lá rụng trong vườn)
là một trí thức cũ sống hết lòng với đạo đức truyền thống dân tộc, luôn lấy tấm gương của mình cho con cháu noi theo Bằng cái nhìn tinh tế và mới mẻ, nhân vật trí thức lý tưởng của Ma Văn Kháng đều có những nhân cách đáng trân trọng
Trong quá trình nghiên cứu, khám phá về trí thức, bằng những chiêm nghiệm và trải nghiệm của riêng mình, nhà văn đã phát hiện ra có nhiều loại trí thức Bên cạnh những trí thức tài năng, chân chính thì còn có những trí
thức giả danh, bất tài, vô dụng và độc ác Hiệu trưởng Cẩm (Đám cưới không
có giấy giá thú) vốn là sản phẩm của một thời lấy lý lịch ba đời nghèo khổ,
lấy tấn phân xanh phân chuồng làm thước đo giá trị duy nhất của mỗi người, thực sự là cơ hội để Cẩm đổi đời Với lý lịch ba đời của Cẩm khỏi chê ấy, Cẩm trở thành của hiếm và cử đi học Đại học Mặc dù được cử đi học Đại học, được làm Hiệu trưởng nhưng “Cẩm vẫn cứ là kẻ dở ông dở thằng Vẫn không sao xóa được cái cốt cách mõ làng của mình” [17; tr 125] Ông Luông
(Côi cút giữa cảnh đời) – Chủ tịch Phường với thâm niên tới ba mươi năm công tác ở ngoại giao lại cho rằng Tây Du Ký là câu chuyện Đặng Tiểu Bình
du hí ở bên Tây tức bên Mỹ Một người giàu có như Chủ tịch Phường lại đan tâm biển thủ số tiền ít ỏi của một người mẹ gửi về cho đứa con đói khổ, tội
nghiệp của mình Ngay cả Kính (Nhiên, Nghệ sĩ múa): một kỹ sư kinh tế, lại
là một người Hà Nội gốc nhưng ẩn chứa bên trong cái lốt giả tạo ấy lại là một
kẻ háo dục, buông tuồng, lắm mưu nhiều mẹo Tấc (Một mình đi trong mưa)
với vẻ bề ngoài đường đường là một trưởng phòng hành chính mẫu mực của
cơ quan nhưng thực chất là một kẻ lươn lẹo, khôn vặt, và có phần phóng đãng thấy phụ nữ là như gà thấy quạ con.Tầng lớp trí thức trong thời kỳ đổi mới đã
Trang 40được ngòi bút tài hoa của nhà văn khắc họa chân thực ở nhiều chiều, nhiều bình diện
Cũng như tầng lớp trí thức, tầng lớp thị dân trong cái nhìn của Ma Văn Kháng gồm đủ loại người sang hèn, tốt xấu Cuộc đời của hai đứa trẻ mồ côi
(Côi cút giữa cảnh đời) tưởng chừng sẽ chìm vào vực sâu của sự thất vọng
nếu không có bàn tay, không có tấm lòng chở che của người bà cũng như sự cưu mang giúp đỡ của cô giáo Quyên, cô Đại Bàng và những người dân chân chính của phường Ngọc Sinh Họ đã dang tay ra cứu giúp số phận bi thảm, côi cút của Duy và Thảm, trong khi chính cuộc sống của họ cũng có lúc khốn khó
tưởng chừng không qua nổi Ở truyện Người giúp việc, bà cụ Mạ không chỉ
làm tròn bổn phận của người giúp việc mà ở bà, ta còn thấy một tình yêu thương chân thành tự nguyện đối với trẻ con đến mức mọi người hàng xóm láng giềng cứ nghĩ đây đích thị là mẹ đẻ ra Hoằng hoặc mẹ vợ Hoằng ở quê mới lên thăm nom con cháu Họ còn là đội ngũ những người đủ thứ ngành nghề trong cái xã hội chuyển giao hỗn độn lúc bấy giờ: từ anh thợ chữa khóa,
cô hàng rượu nếp, cô bán rau, ông xích lô… các nhân vật nơi bình dân đô thị bước vào trang văn của Ma Văn Kháng thật tự nhiên và vô cùng sống động:
“Cô hàng rượu nếp có dáng đi chọn lọc là bao giờ cũng thong dong, tênh tênh cái gánh hàng nhẹ nhõm, thả cái tiếng rao mềm như sợi lạt giang ngâm nước nghe đến là la đà: Ai mua rượu nếp ra mua Lảnh lót thì phải nói đến mấy cô hàng rau trẻ Các cô có cái dáng đi te tái Và rau cỏ trong tiếng rao của các cô
là một đám líu ríu những su hào, bắp cải, cà chua, xà lách, hành tỏi, tối tăm cả mặt mũi khách hàng Khác hẳn với mấy cô bán rau, mấy bà thu mua các mặt hàng tầm tầm mà tiếng rao lại bay bổng như là hát dân ca Ấy là mấy bà thu gom tả pí lù, từ vỏ chai, lon bia, bìa cac tông đến giấy vụn” [6; tr 143]
Hệ thống nhân vật trong các sáng tác Ma Văn Kháng mang đậm dấu ấn vùng miền trong thời kỳ đổi mới, từ những con người miền núi xa xăm đến