Trong đề tài, người viết cũng sẽ gợi mở và làm sáng tỏ thêm cách nhìn về chức năng, vai trò của các biện pháp này trong mối quan hệ với tác phẩm nghệ thuật và tư duy sáng tạo của người n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Người hướng dẫn khoa học: TS BÙI TRỌNG NGOÃN
Đà Nẵng, Năm 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả luận văn
LÊ PHAN QUỲNH TRANG
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Bố cục đề tài: 4
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 10 1.1 CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ LIÊN TƯỞNG 10
1.1.1 Khái quát về các biện pháp tu từ 10
1.1.2 Các biện pháp tu từ liên tưởng 11
1.2 CHẾ LAN VIÊN VÀ DI CẢO THƠ 25
1.2.1 Chế Lan Viên – cái tôi sáng tạo độc đáo 25
1.2.2 Di cảo thơ - “Giọng cao bao nhiêu năm, giờ anh hát giọng trầm Tiếng hát lẫn với im lìm của đất” 29
CHƯƠNG 2 CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ LIÊN TƯỞNG TRONG DI CẢO THƠ 38
2.1 SO SÁNH TU TỪ 39
2.1.1 Dạng A như B 40
2.1.2 Dạng A là B 45
2.2 ẨN DỤ TU TỪ 50
2.2.1 Ẩn dụ chân thực 52
2.2.2 Ẩn dụ tượng trưng 53
2.2.3 Ẩn dụ bổ sung 57
2.3 HOÁN DỤ TU TỪ 60
Trang 42.3.1 Hoán dụ cải số 61
2.3.2 Hoán dụ cải dung 63
2.3.3 Hoán dụ cải danh 65
2.3.4 Hoán dụ bộ phận – toàn thể 69
2.4 NHÂN HÓA 72
2.4.1 Nhân hóa dạng 1 73
2.4.2 Nhân hóa dạng 2 76
2.5 PHÚNG DỤ 77
CHƯƠNG 3 VAI TRÒ CỦA CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ LIÊN TƯỞNG ĐỐI VỚI TƯ DUY THƠ CHẾ LAN VIÊN TRONG BA TẬP DI CẢO 80
3.1 VAI TRÒ CỦA CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ LIÊN TƯỞNG ĐỐI VỚI TƯ DUY XÂY DỰNG HÌNH ẢNH THƠ CỦA CHẾ LAN VIÊN 81
3.2 VAI TRÒ CỦA CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ LIÊN TƯỞNG ĐỐI VỚI TƯ DUY CẤU TỨ THI PHẨM CỦA CHẾ LAN VIÊN 89
3.3 TỪ CÁI DÙNG ĐỂ BIỂU ĐẠT SUY NGHĨ VỀ TƯ DUY NGHỆ THUẬT CỦA CHẾ LAN VIÊN 98
KẾT LUẬN 115
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 118 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 51
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giữa ba vạn sáu nghìn ngày chóng mặt Anh ở đây chốc lát
Vui buồn khoảnh khắc
Rồi anh ra đi
(Cây và người)
Vậy là, đã rất xa, kể từ ngày Chế Lan Viên tạ từ nhân gian… Nhưng
những “chiếc lá có hương tư tưởng”, “ngọc thơ anh” thì chưa bao giờ cách xa thế nhân cả “Thơ là trái tim anh móc lại cho đời”, thơ là tài năng anh để lại cho người trong cái “vui buồn khoảnh khắc” ấy
Chế Lan Viên là một trong những đỉnh cao của văn học Việt Nam Điều
ấy không ai có thể phủ định được Qua mỗi trang thơ của thi nhân, bao giờ ta cũng nhận ra một phong cách nghệ thuật độc đáo Đấy là một phong cách triết luận – suy tưởng “rất Chế”! Đấy là một phong cách trí tuệ “rất Chế”! Tuy đã
có rất nhiều công trình tìm hiểu về thế giới nghệ thuật của nhà thơ này, nhưng nghiên cứu về Chế Lan Viên vẫn còn là nguồn mạch cần được tiếp tục khơi
dòng
Đối với một nhà thơ coi trọng kĩ thuật, có ý thức tu luyện, vận dụng kĩ xảo ngôn từ một cách tài hoa như Chế Lan Viên thì việc tìm hiểu thơ ông ở
góc độ ngôn ngữ rất có ý nghĩa Thi nhân từng nhận định: “Hình thức cũng là
vũ khí Sắc đẹp câu thơ cũng phải đấu tranh cho chân lí” Các biện pháp tu từ
mà Chế sử dụng trong thơ cũng là một thứ “vũ khí”, một thứ “sắc đẹp” phát
huy mạnh mẽ tác dụng của nó Trong đó, các biện pháp tu từ theo quan hệ liên tưởng là một trong những phương thức sáng tạo đầy hiệu quả, giúp Chế có không gian tung tẩy trí tưởng tượng đầy độc đáo, mạnh mẽ Và cũng chính
Trang 62
phương thức này đã góp phần giúp Chế thể hiện tư duy và cá tính sáng tạo không lẫn vào đâu được của mình
Chế Lan Viên đã để lại cho cuộc đời nhiều tập thơ và mỗi tập thơ nắm
giữ ý nghĩa quan trọng riêng trong đời thơ tác giả Chọn Di cảo thơ làm phạm
vi nghiên cứu cho đề tài của mình, chúng tôi muốn tìm hiểu kĩ hơn về những chiêm nghiệm sâu sắc về đời, về thơ của thi nhân, về một trong những tập thơ
được xem là “khuôn mặt khuất lấp” của người thơ Chế Lan Viên Với đề tài
“Các biện pháp tu từ liên tưởng và tư duy thơ Chế Lan Viên qua ba tập Di
cảo”, người viết hi vọng sẽ góp được một phần công sức nhỏ bé vào việc giải
mã vẻ đẹp thơ Chế Lan Viên từ góc độ ngôn ngữ
Hơn thế nữa, từ thực tiễn giáo dục, ta thấy rằng: phân tích tác phẩm văn chương là một nội dung quan trọng trong giảng dạy Ngữ Văn Tuy nhiên, có một thực trạng khá phổ biến hiện nay là học sinh thường phân tích tác phẩm một cách sơ lược, chung chung dẫn đến lan man, xa đề hoặc “vọng văn sinh nghĩa” Việc phân tích nghệ thuật (phương diện ngôn ngữ) chỉ được chú ý một cách chiếu lệ Trong khi đó, giá trị của một tác phẩm thường tập trung khá nhiều ở phương diện này Văn chương là tác phẩm nghệ thuật ngôn từ Trong quá trình sáng tạo nghệ thuật của mình, nhà văn đã vận dụng, phát huy tối đa khả năng gợi tưởng, gợi tả, gợi cảm của các yếu tố ngôn ngữ hoặc có liên quan đến ngôn ngữ Tiếp nhận văn học là một quá trình vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật Với suy nghĩ như vậy, chúng tôi cho rằng, việc tìm hiểu thấu đáo các yếu tố nghệ thuật của tác phẩm trước khi lên lớp, rèn luyện cho học sinh thói quen phân tích, đánh giá phương diện hình thức nghệ thuật của tác phẩm là việc làm rất có ý nghĩa, rất cần thiết đối với giáo viên bộ môn Ngữ Văn
Với hi vọng sẽ đóng góp vào hướng giảng dạy Ngữ Văn theo quan điểm tích hợp hiện nay, đồng thời làm giàu hướng cảm thụ văn chương cho
Trang 73
độc giả từ góc độ ngôn ngữ, chúng tôi đã chọn đề tài “Các biện pháp tu từ liên
tưởng và tư duy thơ Chế Lan Viên qua ba tập Di cảo” để nghiên cứu, khám
phá Các trường hợp sử dụng biện pháp tu từ liên tưởng trong Di cảo thơ Chế
Lan Viên được sắp xếp theo trình tự các mô hình với những phân tích, lí giải… là nguồn tư liệu có khả năng ứng dụng thiết thực trong giảng dạy, nghiên cứu Đề tài cũng góp phần làm cụ thể thêm về lý thuyết phép so sánh
tu từ, ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu từ, nhân hóa, vật hóa, phúng dụ, tượng trưng Trong đề tài, người viết cũng sẽ gợi mở và làm sáng tỏ thêm cách nhìn về chức năng, vai trò của các biện pháp này trong mối quan hệ với tác phẩm nghệ thuật và tư duy sáng tạo của người nghệ sĩ
Những lí do trên đã thôi thúc chúng tôi khám phá đề tài đầy thú vị này Cùng niềm đam mê và sự làm việc khoa học, tác giả luận văn rất mong “Các
biện pháp tu từ liên tưởng và tư duy thơ Chế Lan Viên qua ba tập Di cảo” sẽ
là một công trình khoa học thu hút được sự quan tâm của nhiều người, góp một phần nhỏ làm không khí phê bình – nghiên cứu văn chương từ góc độ ngôn ngữ ngày càng sôi nổi…
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài “Các biện pháp tu từ liên tưởng và tư duy thơ Chế Lan Viên qua
ba tập Di cảo” đi sâu nghiên cứu các biện pháp tu từ liên tưởng trong 3 tập Di
cảo thơ và làm rõ vai trò của các biện pháp này trong việc thể hiện tư duy thơ
Chế Lan Viên Dựa trên cơ sở ngôn ngữ, kết quả nghiên cứu này sẽ góp phần
lí giải những đặc điểm trong tư duy thơ Chế Lan Viên một cách rõ ràng, khoa học Đồng thời, kết quả đó cũng sẽ là nguồn tư liệu có khả năng ứng dụng thiết thực trong việc giảng dạy Ngữ Văn ở các trường Trung học phổ thông
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp tu từ liên tưởng trong Di cảo thơ và
vai trò của các biện pháp này trong việc thể hiện tư duy thơ Chế Lan Viên
Trang 84
* Phạm vi nghiên cứu: 3 tập Di cảo thơ gồm 461 bài (tập I - 65 bài, tập II -
196 bài, tập III - 200 bài)
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp Trong đó, ba phương pháp sau được chúng tôi đặc biệt coi trọng:
- Phương pháp thống kê – phân loại
Chương 1: Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
Chương 2: Các biện pháp tu từ liên tưởng trong Di cảo thơ
Chương 3: Vai trò của các biện pháp tu từ liên tưởng đối với tư duy thơ
Chế Lan Viên trong ba tập Di cảo
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Chế Lan Viên là một tài năng thật sự Và chính vì thế, thi nhân luôn
luôn là đối tượng của nhiều nhà nghiên cứu “Trước mắt tôi, Chế Lan Viên
vẫn là một hiện tượng luôn gợi thức và đánh động cho mình” (Phong Lê) [26,
tr.253]
Về thơ Chế Lan Viên, nhiều cây bút phê bình văn học có uy tín như Hoài Thanh, Xuân Diệu, Lê Đình Kỵ, Hà Minh Đức, Nguyễn Lộc, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Xuân Nam, Mã Giang Lân… đã có những công trình nghiên cứu khá thành công Ở đây, chúng tôi sẽ chỉ xâu chuỗi một số những công trình có liên quan trực tiếp đến đề tài của mình
Về Di cảo thơ, đã có nhiều bài viết, công trình như: Nguyễn Thái Sơn với “Chế Lan Viên và Di cảo thơ”, Nguyễn Bá Thành và “Đọc hai tập Di cảo
Trang 95
thơ”, Phạm Xuân Nguyên có “Chế Lan Viên - người đi tìm mặt”, Đoàn Trọng
Huy có “Khuynh hướng vận động thơ Chế Lan Viên từ sau 1975”, Trần Mạnh Hảo với “Người làm vườn vĩnh cửu”…
Nguyễn Thái Sơn đã nhìn ra cái phức tạp trong con người, trong thơ
Chế Lan Viên qua Di cảo thơ: “Diện mạo thơ, chân dung thơ của Chế Lan
Viên trước đây, sắc sảo đến mấy, thần sắc đến mấy cũng chỉ mới ở trên một mặt phẳng, còn thơ chưa in và thơ sau khi nhà thơ từ trần, đã tạo nên một diện mạo có chiều kích khác Đó là phù điêu Đó là tượng tròn Đó là tượng đài” [1, tr.413]
Phạm Quang Trung lại có bài “Đọc Chế Lan Viên và Di cảo thơ” phản hồi lại bài của Nguyễn Thái Sơn Phạm Quang Trung nhận định: “Không nên
quá đề cao “Di cảo thơ” Chế Lan Viên tới mức đối lập nó với những sáng tác trước đây của nhà thơ Có một Chế Lan Viên khác mà không lạ hiện lên trong
“Di cảo” Song chủ yếu vẫn là một Chế Lan Viên quen thuộc mà ta đã bắt gặp trong suốt nửa thế kỉ qua” [1, tr.418]
Trần Thanh Đạm trong “Những vần thơ triết lí của Chế Lan Viên qua
những trang Di cảo” đã phân tích và đánh giá những dẫn chứng triết lí bằng thơ và triết lí về thơ của Chế và từ đó đưa ra nhận định: “Trong các nhà thơ
của thế kỉ chúng ta, Chế Lan Viên vẫn là nhà thơ giàu chất triết lí hơn cả” [1,
tr.389] “Trong “Di cảo”, có một phần rất mới của các tập thơ trước chưa có,
đó là những bài thơ, theo tôi, ghi lại nỗi thao thức, day dứt sáng tạo của nhà thơ trong giai đoạn cuối đời” [1, tr.393] Tuy nhiên, những nỗi day dứt này
được chuyển tải qua hình thức ngôn từ của Chế Lan Viên ra sao thì chưa thấy tác giả này bàn tới
Nguyễn Quốc Khánh gọi “Di cảo thơ Chế Lan Viên – hành trình tìm lại chính mình”, là “hành trình đầy thử thách của một thi sĩ lớn có bản lĩnh, dám
sống tận cùng với cá tính của mình” [1, tr.433] Với cách định danh đó, tác
Trang 106
giả đã đi sâu tìm hiểu những khía cạnh trong chân dung Chế: bản tổng kết về đời mình – đời người và đời thơ, cảm hứng về nỗi đau buồn, về số phận con người…
Sau khi “Đọc hai tập Di cảo thơ”, Nguyễn Bá Thành cảm nhận chủ yếu
về giọng thơ Chế Lan Viên những năm cuối đời với chất giọng chủ đạo là đơn
lẻ, não nùng, có phần chua chát mang đầy phong cách suy tưởng - tổng hợp của Chế
Đề cập đến sự hòa quyện cũng như mâu thuẫn giữa ý thức công dân và
ý thức nghệ thuật của Chế, trong bài viết “Di cảo thơ Chế Lan Viên”, Võ Tấn
Cường thông qua đó đề cập đôi điều đến số phận nghệ sĩ, trách nhiệm và số phận của họ với thời đại
Với tư cách một người làm thơ, trong “Chế Lan Viên trong Di cảo”, Vũ Quần Phương tiếp cận Di cảo thơ của Chế Lan Viên bằng cách nêu lên những
cảm thụ, những suy nghĩ thiên về bình chú của mình
Nhìn chung, về Di cảo thơ, các nhà nghiên cứu chủ yếu tập trung khai
thác ở mặt nội dung, ở những triết lí bằng thơ và về thơ của Chế Qua đó, họ
đi tìm những khuôn mặt khác trong “tháp Bay – on bốn mặt” của Chế và
khẳng định phong cách triết lí – suy tưởng của thi nhân mà chưa thật sự đi sâu vào nghệ thuật của ba tập thơ này
Trong các công trình đi sâu khảo sát nghệ thuật thơ Chế Lan Viên như
“Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên” (Hồ Thế Hà), “Nghệ thuật thơ Chế Lan Viên” (Đoàn Trọng Huy)…, vấn đề về các biện pháp tu từ liên tưởng
trong thơ Chế Lan Viên, cụ thể là trong Di cảo cũng đã được đề cập Tuy
nhiên, những công trình đó đều tập trung nhấn mạnh biện pháp so sánh tu từ
mà bỏ qua các biện pháp có giá trị khác như ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, tượng trưng… (Nếu có chăng chỉ mới nêu tên biện pháp mà không đi vào khảo sát, thống kê, miêu tả!)
Trang 117
Từ góc độ thi pháp, Hồ Thế Hà đã tiếp cận “Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên” trên các bình diện: quan niệm nghệ thuật, tính triết lí, không – thời gian nghệ thuật, và phương thức biểu hiện Trong các phương thức biểu hiện của thơ Chế, tác giả nhấn mạnh đến hai biện pháp nghệ thuật là biện pháp đối lập và biện pháp so sánh Trong đó, biện pháp so sánh được nhà nghiên cứu ưu ái khảo sát cặn kẽ hơn (trong 16 trang đề cập đến biện pháp tu
từ thì có đến 12 trang dành cho biện pháp so sánh!) Hồ Thế Hà chỉ sử dụng
rất ít những dẫn chứng trong Di cảo thơ và hầu như không đưa ra bất kì số
liệu khảo sát cụ thể nào về cấu trúc so sánh trong tập thơ này Những biện pháp tu từ khác theo quan hệ liên tưởng hầu như không được tác giả này nhắc đến
Đoàn Trọng Huy với chuyên luận giá trị “Nghệ thuật thơ Chế Lan Viên”, đã dành hẳn một chương nói về ngôn ngữ thơ Trong chương đó, tác giả đã đưa ra nhận xét: ngôn ngữ thơ Chế có mật độ tu từ đậm đặc Đoàn Trọng Huy đã đưa ra các lí lẽ, dẫn chứng để chứng minh Chế Lan Viên có sự chú trọng phép tu từ toàn diện Chế sử dụng cả tu từ từ vựng, tu từ âm thanh,
tu từ ngữ nghĩa trong các thi phẩm của mình Trong phần tu từ ngữ nghĩa, tác giả công trình đã nêu tên các biện pháp tu từ theo quan hệ liên tưởng đã được Chế Lan Viên sử dụng như nhân hóa, hoán dụ, tượng trưng Tuy nhiên, do tính chất khái quát của chuyên luận nên Đoàn Trọng Huy chỉ nêu và đưa ra một vài câu thơ làm dẫn chứng chứ không đi vào khảo sát chi tiết, cặn kẽ từng
biện pháp Và hầu như không có câu thơ nào trong Di cảo thơ được tác giả sử
dụng làm ngữ liệu Đoàn Trọng Huy đặc biệt nhấn mạnh đến phép so sánh tu
từ “So sánh nghệ thuật là sức mạnh ngôn ngữ chủ yếu của thơ Chế Lan Viên”
[19, tr.99] Tác giả thật sự đã có những phát hiện và đưa ra những lí giải sâu sắc về các dạng so sánh nghệ thuật, phân tích vẻ đẹp hình tượng và giá trị nhận thức của so sánh nghệ thuật trong thơ Chế Lan Viên Điều đáng chú ý là
Trang 128
trong mỗi dạng so sánh tu từ, tác giả phát hiện ra các “tiểu cấu trúc” và gọi tên Hơn thế, mỗi dạng so sánh, Đoàn Trọng Huy đều đưa ra những con số thống kê rất cụ thể, chi tiết và có sự đối sánh với so sánh nghệ thuật trong thơ
Tố Hữu Tuy nhiên, nhà nghiên cứu này chỉ mới khảo sát Di cảo 1, còn hai
tập còn lại (giá trị khá lớn) chưa có được sự quan tâm cần thiết Bên cạnh đó,
ý nghĩa của so sánh nghệ thuật cũng chỉ mới được rút ra ở tầm đại thể Một số
vai trò khác của so sánh nghệ thuật, đặc biệt trong Di cảo thơ chưa được nhắc
đến
Nguyễn Bá Thành khi “Đọc hai tập Di cảo thơ” đã đưa ra những nhận
định của mình về giọng điệu và hình ảnh thơ Về giọng điệu, ông cho rằng
chất giọng chủ đạo của hai tập thơ là “đơn l , não nùng và có phần chua chát” [40, tr.154], đó là “một cung bậc rất trầm, rất thấp như một thứ âm thanh thì
thào, có khi đứt quãng” [40, tr.155] Về hình ảnh thơ, Nguyễn Bá Thành cho
rằng thơ Chế Lan Viên không còn những hình ảnh thơ chói lọi, rực r mà
mang một màu sắc ảm đạm “Như vậy, vào những năm cuối đời, Chế Lan
Viên đã thay đ i khá nhiều về giọng thơ, hình ảnh thơ, âm điệu thơ và cả phương pháp tư duy Đó không phải là sự cách tân mà chủ yếu là sự ph c hồi cách cảm, cách nghĩ của nhà thơ thời trước Cách mạng tháng Tám Phương pháp tư duy ấy là “lộn trái” thơ” [40, tr.158] Bài viết của tác giả này có bàn
tới một vài khía cạnh nghệ thuật của Di cảo thơ (I và II) nhưng nghiên cứu
một cách có hệ thống những yếu tố nghệ thuật này thì còn đang bỏ ngỏ
Nhìn nhận phép so sánh tu từ từ góc độ “Ngôn ngữ học so sánh”, Trần Thị Ánh Thu khi thực hiện luận án tiến sĩ “Phép so sánh tu từ trong thơ Chế Lan Viên và thơ Tố Hữu” đã rút ra những nét tương đồng và khác biệt giữa các dạng cấu trúc cũng như ý nghĩa của các so sánh tu từ trong sáng tác của hai nhà thơ lớn của dân tộc Luận án cũng đã khẳng định nét riêng của so sánh
nghệ thuật trong thơ Chế trong sự đối sánh với thơ Tố Hữu: “Phép so sánh tu
Trang 139
từ trong thế giới thơ Chế Lan Viên phần nào nghiêng về sự phát hiện của lý trí: Hình ảnh giàu tính trực giác của ông rất phong phú, đa dạng, mới lạ, độc đáo, tinh vi, dễ khơi gợi sự ham hiểu biết ở người đọc; tuy nhiên, đôi lúc chưa thực sự đến với người đọc bằng sức mạnh truyền cảm” [43, tr.1]
Các biện pháp tu từ liên tưởng trong thơ Chế Lan Viên, cụ thể hơn là Di
cảo thơ là vấn đề không mới, đã được một số nhà nghiên cứu quan tâm Các ý
kiến đều khẳng định đây là đặc điểm nổi bật của thế giới thơ Chế Lan Viên Những công trình đã nêu trên đây là một nguồn tài liệu vô cùng quí giá, giúp chúng tôi có những tiền đề, cơ sở ban đầu cho việc tìm tòi, khảo sát của mình Tuy nhiên, do qui mô bài viết cũng như do mục đích nghiên cứu, vấn đề này vẫn chưa được đi sâu nghiên cứu thành hệ thống như một vấn đề độc lập Thêm vào đó, theo hiểu biết của chúng tôi, hầu như cũng chưa có công trình
nào tập trung phân tích Di cảo thơ dưới góc độ ngôn ngữ, cụ thể hơn là các
biện pháp tu từ liên tưởng trong tập thơ này và sự tác động của nó với tư duy thơ Chế Do đó, “Các biện pháp tu từ liên tưởng và tư duy thơ Chế Lan Viên
qua ba tập Di cảo” vẫn là một đề tài hấp dẫn, khơi gợi nhiều hứng thú, vẫn là
một mảnh đất màu m dành cho những ai mang trong mình niềm đam mê khai phá những điều mới lạ…
Trang 14Cù Đình Tú trong “Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt” từng
nhận định: “Một trong những đóng góp đáng kể của Bhetorica (Mĩ từ pháp c
đại) là phát hiện ra các “Figura” – “Cách tu từ” Trong tiếng La tinh,
“Figura” có nghĩa là hình thức, bóng bẩy Ở tiếng Việt, các nhà nghiên cứu Ngữ Văn đã dùng các thuật ngữ: phép mĩ từ, biện pháp tu từ, cách tu từ” [44,
tr.266 - 267]
Với tư cách là một thuật ngữ của mĩ từ pháp, “Figura” - các biện pháp
tu từ được quan niệm là những cách thức, những hình thức diễn đạt bóng bẩy, gợi cảm, có sức hấp dẫn, lôi cuốn trong khi trình bày nhằm nâng cao hiệu lực của ngôn ngữ
b Tác dụng
Vận dụng các biện pháp tu từ là một trong những con đường chủ yếu để nâng cao hiệu quả của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Đặc biệt, trong văn học nghệ thuật, việc sử dụng một cách đắc địa và sáng tạo các biện pháp tu từ
sẽ làm nên giá trị độc đáo, đặc biệt của các tác phẩm văn chương, góp phần khẳng định tư duy và tài năng của người nghệ sĩ
Trang 1511
- Các biện pháp tu từ ngữ pháp
Dựa vào các quan hệ ngôn ngữ, người ta phân chia thành:
- Các biện pháp tu từ theo quan hệ liên tưởng
- Các biện pháp tu từ theo quan hệ tổ hợp
1.1.2 Các biện pháp tu từ liên tưởng
Cơ sở ngôn ngữ để cấu tạo nên các phương thức biểu hiện về ngữ nghĩa
là hai trục liên tưởng và tổ hợp Đây là cơ sở để phân loại và miêu tả các phương thức biểu hiện về mặt ngữ nghĩa trong tiếng Việt Dựa vào đây, người
ta cũng phân chia các biện pháp tu từ thành hai loại: theo quan hệ liên tưởng
và theo quan hệ tổ hợp
Đặc điểm chung của các cách tu từ theo quan hệ liên tưởng là: trong một văn cảnh cụ thể, từ ngữ có hiện tượng lâm thời chuyển đổi ý nghĩa Ở đây, nghĩa của từ ngữ vốn biểu thị đối tượng này (theo từ điển) nay được lâm thời chuyển sang biểu thị đối tượng khác dựa trên cơ sở một quan hệ liên tưởng nhất định Quan hệ liên tưởng này có thể là: liên tưởng nét tương đồng (khía cạnh giống nhau) hoặc liên tưởng có tính logic khách quan về mối quan
hệ có thực xảy ra giữa hai đối tượng
Việc chia nhỏ các biện pháp tu từ theo quan hệ liên tưởng tùy thuộc vào đặc trưng của từng đối tượng A, B và đặc trưng của mối quan hệ liên tưởng Dựa vào đó, các nhà ngôn ngữ học thống nhất phân chia các biện pháp tu từ thuộc loại này thành sáu biện pháp nhỏ: so sánh tu từ, ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu
từ, nhân hóa, vật hóa, phúng dụ và tượng trưng
a So sánh tu từ
a1 Khái niệm
“So sánh tu từ hay so sánh nghệ thuật là cách công khai đối chiếu hai
hay nhiều đối tượng khác loại có cùng một nét giống nhau nào đó nhằm diễn
tả một cách có hình ảnh và biểu cảm đặc điểm của một đối tượng” [44, tr.272]
Trang 16như như như
đất (Tô Hoài)
vị mật (Nam Cao) chim s (Nguyên Hồng)
Trong cấu trúc của so sánh tu từ, các yếu tố như cơ sở so sánh, từ ngữ
biểu đạt quan hệ so sánh có thể vắng mặt Hai vế đặt trong mối tương quan là
vế được so sánh (kí hiệu A) và vế dùng để so sánh (kí hiệu B) nhất thiết phải
xuất hiện trong cấu trúc này Trong đó, A là cái chưa biết, B là cái đã biết, cái được dùng làm chuẩn Nguyên tắc của so sánh tu từ là dùng B để làm sáng tỏ
A một cách cụ thể và hấp dẫn
a3 Các kiểu so sánh tu từ
- Kiểu A như (tựa, tựa như) B
Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu
(Ca dao)
Trong đó: A là Đôi ta
B là lửa mới nhen, trăng mới mọc, đèn mới khêu
- Kiểu … bao nhiêu … bấy nhiêu
Ví dụ: Qua cầu ngả nón trông cầu
Cầu bao nhiêu nhịp dạ sầu bấy nhiêu
(Ca dao)
Trang 17Ví dụ: Miệng quan – trôn tr
Lời nói – đọi máu
(Tục ngữ)
a4 Giá trị phong cách
So sánh nghệ thuật được dùng rộng rãi trong nhiều phong cách: phong cách khẩu ngữ tự nhiên, phong cách chính luận, phong cách khoa học, phong cách ngôn ngữ văn chương
Về mặt tiêu chí, xét giá trị một so sánh nghệ thuật cũng cần phải có những xác định cơ bản Thường so sánh nghệ thuật được coi là “đắt”, giàu phẩm chất mĩ học khi:
+ Các đối tượng đưa ra so sánh là khác loại (thậm chí càng xa nhau càng dễ gây bất ngờ, kì thú)
+ Nêu đúng những nét giống nhau (dấu hiệu tương đồng) giữa hai đối tượng, gợi lên mối liên tưởng mới mẻ, độc đáo và bất ngờ
+ Có nghĩa hàm ngôn phong phú và sâu sắc, có giá trị nhận thức cao
Trang 1814
Đây là một biện pháp rất hiệu quả để miêu tả các đối tượng, sự vật Nhờ các hình ảnh dùng để so sánh mà các ý tưởng, các yếu tố trừu tượng được cụ thể hóa và trở nên gợi cảm So sánh tu từ cũng là một cách thức xây dựng hình ảnh trong ngôn ngữ văn chương, tạo nên tính hình tượng, làm nên sức hấp dẫn của tác phẩm và góp phần quan trọng vào sự thể hiện tư duy nghệ
thuật, phong cách - tài năng người nghệ sĩ “So sánh mang đặc trưng của
phong cách thời đại, phong cách dân tộc, phong cách tác giả… Có người ưa dùng cách so sánh mang màu sắc trí tuệ, có người ưa so sánh mộc mạc, chân chất, chính xác và pha màu hài hước như văn học dân gian…” [5, tr.103] Đề
tài khảo sát phép so sánh tu từ trong một tác phẩm hoặc của một tác giả là một
đề tài của phong cách học tham gia vào việc nghiên cứu ngôn ngữ văn chương
b Ẩn dụ tu từ
b1 Khái niệm
“Ẩn d tu từ (hay ẩn d nghệ thuật) là cách cá nhân lâm thời lấy tên
gọi của đối tượng này để biểu thị đối tượng kia trên cơ sở của mối quan hệ liên tưởng về những nét tương đồng giữa hai đối tượng” [44, tr.279]
Biển mênh mông nhường nào Chỉ có biển mới biết
Thuyền đi đâu về đâu
(Xuân Quỳnh) Trong khổ thơ có hình ảnh thuyền và biển nhưng không phải là thuyền
và biển của hiện thực khách quan mà đã là chàng trai và cô gái trong mối quan
hệ không thể tách rời
Không chỉ trong văn chương mà ngay cả trong ngôn ngữ sinh hoạt hằng
ngày, ta cũng gặp những ẩn dụ Chẳng hạn, người mẹ nựng con là “con cún
Trang 1915
con”, “con mèo hen”, “con voi còi” của mẹ Hoặc khi người mẹ tức giận gọi
con là “đồ quỉ sứ”, “thằng giặc”, “thằng giời con” Trong những phát ngôn như: “Bao nhiêu của tiền đem nướng vào sòng bạc hết rồi”, “làm ăn gãy cầu,
bay luôn cả chục cây vàng” đều có ẩn dụ tu từ
b2 Cấu trúc
Qua những ví dụ trên có thể thấy trong ẩn dụ tu từ cũng có hai yếu tố là
cái được ẩn d và cái dùng để ẩn d Nhưng trên bề mặt ngôn bản, cái được
ẩn d không xuất hiện trực tiếp Do đó ẩn dụ còn được gọi là so sánh ngầm
b3 Các kiểu ẩn d tu từ
Cơ sở để tạo nên ẩn dụ là những nét tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng, hoạt động, trạng thái, cảm giác Vì thế, có bao nhiêu khả năng tương đồng sẽ có bấy nhiêu khả năng cấu tạo ẩn dụ
Có ba loại ẩn dụ tu từ chủ yếu: ẩn dụ chân thực, ẩn dụ bổ sung, ẩn dụ tượng trưng
- Ẩn d chân thực: Là những ẩn dụ được cấu tạo bằng sự so sánh ngầm những
nét tương đồng giữa các sự vật, các hoạt động, các tính chất, các trạng thái…
Ví dụ:
+ Ẩn dụ - tương đồng giữa các sự vật
Một con cá lội biết mấy người buông câu
Trong những hoàn cảnh giao tiếp khác nhau, các hình ảnh “một con cá
lội”, “mấy người buông câu” sẽ có những ý nghĩa ẩn dụ khác nhau Trong ý
nghĩa chung nhất, hai hình ảnh ấy ẩn dụ cho mối lợi và những người cầu lợi
+ Ẩn dụ - tương đồng về tính chất
Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông
(Nguyễn Du)
Trang 20Cứ nghĩ: Hồn thơm đang tái sinh
Ngôi sao ấy lặn hóa bình minh
(Tố Hữu)
Câu thơ của Tố Hữu viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh “Ngôi sao lặn” và
“Bác Hồ qua đời” có trạng thái như nhau (không còn) “Sao lặn” biểu thị Bác
Hồ từ trần
bằng một cảm giác khác trong nhận thức cũng như trong diễn đạt bằng ngôn
ngữ
Ví dụ: Trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, ta vẫn thường nghe “thấy
nóng”, “thấy thơm”, “thấy đói cồn cào”, “lời nói ngọt ngào”, “giọng nói ấm áp”, “tiếng cười giòn tan”, “câu chuyện nhạt nhẽo”, “xấu không ngửi được”…
Trong văn chương, ẩn dụ bổ sung được sử dụng khá phổ biến và tạo ra một hiệu quả nghệ thuật rõ rệt Hãy đọc một câu văn xuôi và một câu thơ có mặt
ẩn dụ bổ sung:
“Mà bên nước tôi thì đang bừng lên cái nắng bốn giờ chiều, cái nắng
đậm đà của mùa thu biên giới, cái thứ nắng hanh đang sấy khô gió Tây Trang
và đang mài sắc thêm tiếng động của hoa lau phất cờ trong bóng núi”
(Nguyễn Tuân)
Trang 21Ví dụ: “Đất nước Việt Nam chìm trong bóng đêm kéo dài hàng thế kỉ
bỗng bừng lên buổi bình minh của thời đại” (Lê Duẩn)
b4 Giá trị phong cách
Ẩn dụ tu từ là biện pháp được dùng rộng rãi trong các phong cách tiếng Việt: phong cách khẩu ngữ tự nhiên, phong cách chính luận, phong cách khoa học, phong cách ngôn ngữ văn chương
Là một công cụ để bày tỏ sự nhận thức sâu sắc về đối tượng, ẩn dụ tu từ đòi hỏi người tạo lập cũng như người tiếp nhận phải căn cứ vào các nhân tố như văn cảnh, nhân tố logic và nhân tố thói quen thẩm mĩ để có thể sáng tạo cũng như khám phá được ý nghĩa, giá trị của các hình ảnh ẩn dụ
Bên cạnh chức năng nhận thức, sức mạnh đặc biệt của ẩn dụ là biểu
cảm nhờ thông qua lối nói hình ảnh, kín đáo “Ẩn d là một cấu tạo ngôn ngữ
hết sức mềm d o… Đó là qui luật của một lối diễn đạt lấy cực nọ biểu hiện cực kia: lấy xa nói gần, lấy vòng nói thẳng, lấy kín nói hở, lấy ít nói nhiểu… Paul từng nhận định: “Sức mạnh của so sánh là nhận thức, còn sức mạnh của
ẩn d là cảm xúc” [5, tr.105] Có những ẩn dụ chứa đựng những nội dung
biểu hiện rất súc tích Nội dung biểu hiện này có thể được hiểu theo nhiều cách, cách này gần gũi với cách kia, bổ sung cho cách kia mà vẫn không chống đối nhau, loại trừ nhau Những ẩn dụ tốt, sâu sắc, gợi cho ta nhiều suy nghĩ, cảm xúc thường được cấu tạo như vậy
Ẩn dụ tu từ được sử dụng nhiều nhất là trong các loại hình ngôn ngữ nghệ thuật vì đây là một phương tiện diễn đạt có sức hấp dẫn mạnh mẽ Các
Trang 2218
nhà văn, nhà thơ tài năng thường sáng tạo được những ẩn dụ bất ngờ, lí thú và
có tính hàm súc cao, khơi gợi nhiều liên tưởng thú vị, có chiều sâu ở người đọc Qua ẩn dụ tu từ, người ta có thể nhận ra những nét riêng thuộc về người
sử dụng Khảo sát phép ẩn dụ tu từ trong một tác phẩm hoặc của một tác giả là một đề tài thú vị của phong cách học tham gia vào việc nghiên cứu ngôn ngữ văn chương
c Hoán dụ tu từ
c1 Khái niệm
“Hoán d tu từ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi của đối tượng này
dùng để biểu thị đối tượng kia dựa trên mối quan hệ liên tưởng logic khách quan giữa hai đối tượng” [44, tr.297]
Ví dụ:
Áo chàm đưa bu i phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay
(Tố Hữu)
Áo chàm (áo bằng vải thô, nhuộm màu chàm đậm đà, bền bỉ) dùng để
biểu thị đồng bào các dân tộc ở Việt Bắc (mộc mạc, giản dị, thủy chung)
c2 Cấu tạo
Về mặt cấu tạo, hoán dụ tu từ cũng có hai yếu tố là cái được hoán d và
cái dùng để hoán d Nhưng trên bề mặt ngôn bản, cái được hoán d không
xuất hiện trực tiếp
c3 Các loại hoán d tu từ
Cơ sở để tạo nên hoán dụ là quan hệ logic khách quan, quan hệ tiếp cận giữa các sự vật, hiện tượng, trạng thái, cảm giác Vì thế, có bao nhiêu mối quan hệ sẽ có bấy nhiêu khả năng cấu tạo hoán dụ tu từ
Các loại hoán dụ tu từ thường gặp:
- Cải số: Hoán dụ theo quan hệ giữa số lượng với số lượng
Trang 2319
Cầu này cầu ái cầu ân
Một trăm con gái rửa chân cầu này
(Ca dao) Một trăm: nhiều lắm
- Cải dung: Hoán dụ theo quan hệ giữa vật chứa và vật bị chứa
Vì sao trái đất nặng ân tình
Nhắc mãi tên Người – Hồ Chí Minh
(Tố Hữu) Trái đất: nhân loại
- Cải danh: Hoán dụ theo quan hệ giữa danh từ riêng và danh từ chung
Thời đại ta có rất nhiều Võ Thị Sáu
Võ Thị Sáu: người thiếu nữ anh hùng
- Hoán dụ xây dựng từ quan hệ giữa bộ phận với toàn thể
Đầu xanh có tội tình gì
Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi
(Nguyễn Du) Đầu xanh: người trẻ tuổi
Má hồng: thân phận hồng nhan c4 Giá trị phong cách
Hoán dụ tu từ được dùng trong nhiều phong cách ngôn ngữ: phong cách khẩu ngữ tự nhiên, phong cách chính luận, phong cách ngôn ngữ văn chương
Chức năng chủ yếu của hoán dụ là nhận thức, nhằm nhấn mạnh đặc điểm của đối tượng đang được thể hiện Dấu hiệu hoặc thuộc tính này được dùng làm cái đại diện, cái thay thế cho đối tượng Biện pháp này gợi ra những nhận thức sâu sắc về thế giới khách quan, làm cho ngôn ngữ thêm sinh động Tài năng của người nói thể hiện ở chỗ chỉ ra được đặc điểm có thực nào là chính xác nhất, tiêu biểu nhất cho đối tượng định miêu tả, điều mà người khác
Trang 2420
không nghĩ đến Những hoán dụ tu từ tốt, gây cho người đọc những suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ, bất ngờ chính là những hoán dụ tu từ thỏa mãn những điều kiện nói trên
Đây cũng là một trong những phương cách để xây dựng hình tượng
nghệ thuật Sức mạnh của hoán dụ “vừa ở tính cá thể hóa và tính c thể, vừa ở
tính biểu cảm kín đáo và sâu sắc” [5, tr.113] Qua hoán dụ, các nhà văn, các
nhà thơ có điều kiện thể hiện tài năng quan sát, phát hiện riêng của mình Khảo sát hoán dụ tu từ trong một tác phẩm hoặc của một tác giả là một đề tài thú vị thuộc loại vận dụng phong cách học vào việc nghiên cứu văn học
d Nhân hóa và vật hóa (nhân cách hóa và vật cách hóa)
d1 Nhân hóa
- Khái niệm:
“Nhân hóa là cách lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, hoạt động của
người để biểu thị thuộc tính, hoạt động của đối tượng khác loại dựa trên mối quan hệ liên tưởng nét tương đồng về thuộc tính, về hoạt động giữa người và đối tượng không phải người (khác loại)” [44, tr.289]
Ví dụ:
Trong ngôn ngữ hàng ngày, ta vẫn thường nghe: “cửa cống kêu rống
lên”, “đá đ mồ hôi”, “lúa đang thì con gái”, “lúa chín quá giấc”, “na mở mắt”…
Trong ca dao, nhân hóa khá phổ biến:
Vì sương nên núi bạc đầu Biển lay bởi gió hoa sầu vì mưa
Hay:
Khăn thương nhớ ai
Khăn rơi xuống đất
Đèn thương nhớ ai
Trang 25hoặc: “Nơi đây khi đang mùa thu hãy còn là một cánh rừng già ngủ im
lìm” (Nguyễn Minh Châu)
- Phân loại:
Dựa vào cách cấu tạo, ta có thể phân chia nhân hóa thành hai loại:
+ Thứ nhất là dùng những từ ngữ chỉ tính chất, hoạt động của người để biểu thị những tính chất, hoạt động của đối tượng không phải người Chẳng hạn:
Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép quân thù Tre xung phong vào xe tăng đại bác Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín Tre hi sinh để bảo vệ con người Tre, anh hùng lao động! Tre, anh hùng chiến đấu!
(Thép Mới)
+ Thứ hai là coi đối tượng không phải con người như con người và đối thoại tâm tình với chúng Chẳng hạn:
Núi cao chi lắm núi ơi?
Núi che mặt trời, chẳng thấy người thương
(Ca dao)
- Giá trị phong cách:
Trang 2622
Nhân hóa là cách đưa thế giới khách quan vào cuộc sống con người khiến cho cảnh vật vô giác vô tri trở nên có tâm hồn, sinh động hơn và gần gũi hơn Sự liên tưởng rút ra nét giống nhau giữa người và đối tượng không phải người cũng thường gắn với cách nhìn, với thái độ của người nói Bằng nhân hóa, người ta có thể bộc lộ tâm tư của mình một cách kín đáo Như thế, nhân hóa vừa có chức năng nhận thức, vừa có chức năng biểu cảm Biện pháp này được sử dụng rộng rãi trong nhiều phong cách: phong cách khẩu ngữ tự nhiên, phong cách chính luận, phong cách ngôn ngữ văn chương
Một nhân hóa được đánh giá là “đắt” thể hiện ở tính logic của việc rút
ra nét giống nhau giữa người và đối tượng không phải người Tài năng quan
sát riêng của người dùng là ở việc chỉ ra được nét giống nhau mà ít ai để ý
đến, gây sự bất ngờ đối với mọi người
d2 Vật hóa
- Khái niệm:
“Vật hóa là cách chuyển đ i các từ ngữ chỉ thuộc tính, hoạt động của
loài vật, đồ vật sang biểu thị các thuộc tính, hoạt động của con người Vật hóa mang tính chất khoa trương, được dùng trong văn châm biếm” [44,
tr.292]
Ví dụ:
“N ” là âm thanh của pháo, của súng đạn thường được gán cho những người có tính ồn ào vô lối Kẻ hay xu nịnh thì bị gọi là “hót” (tiếng chim), kẻ hay nói quá lên thì bị gọi là “gáy” (tiếng gà) Tương tự là cách dùng các từ
“sủa”, “ong ỏng”, “gầm gừ”… để biểu thị hoạt động “nói” của một ai đó
- Giá trị phong cách
Vật hóa là một cách thức châm biếm, mỉa mai bằng cách thay đổi phạm
vi biểu vật của từ Biện pháp này được sử dụng rộng rãi nhất là trong ngôn
Trang 27Con cò chết rũ trên cây
Cò con mở sách xem ngày làm ma
Cà cuống uống rượu la đà Chim ri ríu rít bò ra lấy phần
(Ca dao)
Ý nghĩa của bài ca dao không phải là ở tính chất bi hài của xã hội chim chóc mà là sự phê phán tệ nạn ma chay đám cỗ và sự trục lợi từ tệ nạn này trong xã hội nông thôn ngày trước
e2 Giá trị phong cách
“Phúng d là hệ thống những ẩn d nhằm biểu đạt một vấn đề đạo đức,
luân lí, xã hội nào đó có tính chất khuyên răn Đó là sự miêu tả bằng một loạt hình ảnh, có khi bằng một câu chuyện, c thể, để nói lên một ý niệm trừu
Trang 2824
tượng” [5, tr.108] Vì vậy, chức năng chủ yếu của phúng dụ là nhận thức,
nhằm làm cho nội dung vấn đề thâm thúy hơn Biện pháp này thường chỉ được dùng trong phong cách ngôn ngữ văn chương
Nội dung triết lí nhân sinh trong phúng dụ được nhấn mạnh là nhờ nó được trình bày dưới dạng miêu tả hình ảnh và miêu tả cảm xúc về những đối
tượng hoàn toàn cụ thể “Khi người viết muốn xây dựng một cơ sở lí tính trong
sự biểu hiện của mình thì họ phát triển tinh thần của phúng d , để cho tư tưởng biểu đạt được sâu sắc hơn” [5, tr.109] Do đó, phúng dụ là biện pháp tu
từ không thể thiếu của thể loại ngụ ngôn (Trê cóc, Con cáo và chùm nho…)
Đây cũng là biện pháp tu từ chủ yếu của những bài ca dao ứng xử đạo lí
(Trong đầm gì đẹp bằng sen, Con cò mà đi ăn đêm ) Các nhà thơ hiện đại
cũng vận dụng biện pháp này để thể hiện tư tưởng triết lí của mình Có thể kể
đến những tác phẩm như Con cáo và t ong, Nhóm lửa, Bài ca sợi chỉ của Hồ Chí Minh, Nhớ rừng của Thế Lữ…
f Tượng trưng
f1 Khái niệm
“Tượng trưng là cách tu từ biểu thị đối tượng định miêu tả bằng ước lệ
có tính chất xã hội Người ta qui ước với nhau rằng: từ ngữ này có thể được dùng để biểu thị một đối tượng khác ngoài cái nội dung ngữ nghĩa thông thường của nó” [44, tr.303]
Ví dụ:
Trong phạm vi phổ quát hiện nay, màu đỏ tượng trưng cho sự đấu tranh, màu xanh tượng trưng cho hòa bình, màu trắng – tinh khiết, màu tím – thủy chung… Trong ca dao, con cò là hình ảnh người nông dân lam lũ, bán
mặt cho đất, bán lưng cho trời để kiếm ăn… Trong văn chương cổ điển thì
tùng, cúc, trúc, mai… tượng trưng cho khí phách của bậc chính nhân quân tử; quan san, biên tái… tượng trưng cho sự xa cách nghìn trùng… Trong văn
Trang 2925
chương hiện đại cũng đã xuất hiện những hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng
như bồ câu tượng trưng cho hòa bình, búa liềm tượng trưng cho giai cấp công nông, thành đồng T quốc – miền Nam anh dũng và bất khuất…
f2 Các loại tượng trưng
- Tượng trưng có nguồn gốc là ẩn dụ:
Con cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non
(Ca dao)
- Tượng trưng có nguồn gốc là hoán dụ:
Búa liềm không sợ súng gươm bạo tàn
(Tố Hữu)
f3 Giá trị phong cách
Chức năng chủ yếu của tượng trưng là nhận thức và biểu cảm Biện pháp tu từ này được dùng nhiều trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật Khảo sát các hình ảnh tượng trưng trong một tác phẩm, một tác giả, một giai đoạn văn học là một đề tài thú vị, hấp dẫn, có thể đem lại nhiều khám phá mới mẻ, sâu sắc
1.2 CHẾ LAN VIÊN VÀ DI CẢO THƠ
1.2.1 Chế Lan Viên – cái tôi sáng tạo độc đáo
Sinh ra ở vùng đất Cam Lộ - Quảng Trị, Chế Lan Viên (1920 – 1989) được bố mẹ đặt cho tên cúng cơm là Phan Ngọc Hoan Họ Chế trong bút danh
là do Hàn Mặc Tử đặt khi Tử viết bài Thi sĩ Chàm tặng Chế Bồng Hoan Còn
chữ Lan Viên lấy ý tưởng từ người bạn thơ Yến Lan và ấn tượng vườn lan nhiều hoa nhà bạn Bút danh ấy đã theo người thơ suốt cả đời thơ – đời người
và để lại dấu ấn mạnh mẽ trong lòng bao bạn đọc yêu thơ
Trang 3026
tại mảnh đất có “nhiều tháp Chàm, gần bể”, Chế bắt đầu làm thơ và tham gia Cách mạng tháng Tám Vì vậy, ông rất gắn bó với “thành Đồ Bàn xưa”, xem
đây là quê hương thứ hai của mình Và chính quê hương thứ hai ấy đã là “ám tượng nghệ thuật” trong thơ Chế những năm đầu làm bạn với Nàng Thơ
Gọi sự tồn tại của mình là “Một kiếp sống ph ng khai thần bút”, với
niềm đam mê sáng tạo thường trực và bất tận, thi nhân đã để lại cho nhân loại một sự nghiệp sáng tác đồ sộ với 1025 bài thơ Và hiếm có nhà thơ nào như
Chế - nổi tiếng cả trên ba chặng đường thơ của dân tộc: trước 45 là Điêu tàn (thi sĩ – lãng mạn), 45 – 75 là Ánh sáng và phù sa (thi sĩ – chiến sĩ), và sau 75
là Di cảo thơ (thi sĩ – triết nhân) Đây quả thật là “ba niềm sửng sốt” (chữ
dùng của Trần Mạnh Hảo) mà Chế Lan Viên tạo ra cho cuộc đời
Mới 15, 16 tuổi, người thơ của Điêu tàn - “đột ngột hiện ra như một
niềm kinh dị giữa làng thơ Việt Nam” (Hoài Thanh) - đã cùng Hàn Mặc Tử cai
quản “trường thơ Loạn” Là một cậu bé mới lớn, nhưng trong thế giới tâm hồn Chế, dường như không hề có những xúc cảm trong sáng, hồn nhiên của tuổi hoa niên Có phải cuộc đời đầy đắng đót cộng với bản tính nhạy cảm nghệ sĩ
đã làm nên một Chế Lan Viên sầu và già trước tuổi?! Chế quan niệm: “Thi sĩ
không phải là người Nó là người Mơ, người Say, người Điên Nó là Tiên, là
Ma, là Quỉ, là Tinh, là Yêu Nó thoát hiện tại Nó xáo trộn dĩ vãng Nó ôm trùm tương lai Người ta không hiểu được vì nó nói những cái vô nghĩa, tuy rằng, những cái vô nghĩa hợp lí” (Tựa Điêu tàn) Thế giới trong ông không
phải là thực tại xanh non mà là thế giới của hư vô, của Chiêm quốc đổ nát, của những bãi tha ma và đêm tàn, chồng chất u buồn, chồng chất đớn đau Hình ảnh thơ đầy quái đản và ma mị bao trùm vũ trụ thơ Không gian âm phủ và thời gian dĩ vãng đã mấy trăm năm với những tiếng khóc hời ai oán, não nùng
ấy khiến ai một lần đặt chân ghé qua cũng rùng mình ớn lạnh Khuôn mặt Chế
Trang 3127
dường chằng chịt những bi thương Chế từ bỏ cõi đau thương của cuộc đời thực tại nhưng lại tìm đến một cõi đau thương khác Đấy là cõi lạ - cõi âm – cõi của bi kịch Và trong cõi ấy, Chế đã thăng hoa đến rợn ngợp, với những sự vượt ngư ng về trí tuệ, vượt ngư ng về cảm xúc của một hồn thơ
Khi Cách mạng đến, Chế bắt đầu có những chuyển biến về tư tưởng Giai đoạn sau Cách mạng, Chế ra Huế tham gia “Đoàn xây dựng” với Hoài
Thanh, Lưu Trọng Lư, Đào Duy Anh Năm 1949, ông được vinh dự “kết nạp
Đảng trên quê mẹ” Trong thời kì kháng chiến chống Pháp, Chế Lan Viên
tham gia hoạt động văn nghệ và báo chí ở Liên khu Bốn và chiến trường Bình
Trị Thiên Thời gian này, Chế có cho xuất bản tập thơ Gửi các anh (1955)
gồm 14 bài Đây là “vụ gặt đầu” của Chế sau hơn mười năm theo Đảng Nhưng tập thơ còn quá “mong manh” nên chưa gây được ấn tượng sâu sắc
Đến năm 1960, sau một thời gian phôi thai, Ánh sáng và phù sa - đứa
con tinh thần được mọi người yêu mến và ngư ng mộ của Chế - ra đời Nếu
giọng than chiếm lĩnh Điêu tàn, thì đến Ánh sáng và phù sa, ta thấy Chế ngân vang một giọng hát hân hoan Như cách nói của Chế, thi nhân đã đi “từ thung
lũng đau thương ra cánh đồng vui”, đi từ “Ta là ai” đến “Ta vì ai” với những
sự đổi mới về cảm xúc thi ca Bắt gặp trong Ánh sáng và phù sa là những vần
thơ hòa nhập vào cuộc sống hiện tại, vào đời sống kháng chiến, với đất nước,
với nhân dân, với Bác Hồ…; là những vần thơ “tự vượt lên mình” ngất ngây
niềm tin, tràn đầy ân tình, thiết tha, sâu nặng Niềm vui chưa từng có trước đó hát ca trong mỗi lời thơ
Tiếp sau tập thơ nổi tiếng này, Chế Lan Viên đã tiếp tục dâng cho đời
hàng loạt những Hoa ngày thường – Chim báo bão (1967), Những bài thơ đánh
giặc (1972), Đối thoại mới (1973) và Ngày vĩ đại (1975) kết tụ khuynh hướng sử
thi hào hùng, chất chính luận và tính thời sự của những năm nhà thơ tham gia kháng chiến chống Mĩ, tham gia Ban lãnh đạo Hội nhà văn Việt Nam, tham dự
Trang 3228
nhiều diễn đàn văn hóa quốc tế trên thế giới… Sau năm 1975, âm hưởng hùng tráng của những ngày chống Mỹ cứu nước vẫn còn vang vọng trong các tập thơ:
Hoa trước lăng Người (1976), Hái theo mùa (1977) Và vào những năm cuối
đời, khi đã trải qua biết bao nhiêu bể dâu của cuộc đời, cái tôi thi sĩ lại trăn trở
thế sự trong những vần thơ Hoa trên đá (1984) và Ta gửi cho mình (1986)
Suốt một đời miệt mài với thơ ca đến tận những giây phút cuối cùng của cuộc đời, con người nặng nợ với văn chương ấy đã về với hư vô vào ngày 19.06.1989, để lại cho đời biết bao niềm tiếc nuối khôn nguôi Dù Chế đã không còn trên thế gian này nữa, nhưng vẫn có những thi phẩm rất mới của ông được ra mắt với cuộc đời Đấy là khi người vợ Vũ Thị Thường cùng con gái Phan Thị Vàng Anh tập hợp những bài thơ chưa công bố của Chế và cho
in thành 3 tập, gọi là Di cảo thơ, xuất bản trong các năm 1992, 1993 và 1996
Ngoài thơ, Chế Lan Viên còn viết văn xuôi và văn phê bình: Nói chuyện
văn thơ (1960), Vào nghề (1962), Những ngày n i giận (1996), Bay theo đường dân tộc đang bay (1977), Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân (1981), Nghĩ cạnh dòng thơ (1982), Ngoại vi thơ (1987)… Và trên những trang viết của ông, dù
là thơ hay là văn xuôi, bao giờ ta cũng bắt gặp một cái tôi sáng tạo rất độc đáo
mang tên Chế Lan Viên Giải thưởng Hồ Chí Minh 1996 là phần thưởng tinh thần
cao quí dành cho người nghệ sĩ đi hết một đời với thi ca ấy !
Chất triết lí chính là bản sắc của thơ Chế Lan Viên Ta thường bắt gặp trong thơ ông những nghiệm sinh về nghề thơ, đời thơ, về nhân tình thế thái
Từ Điêu tàn, đến Ánh sáng phù sa hay Di cảo thơ, ta đều bắt gặp một triết
nhân họ Chế đang triết lí, với những cách suy tưởng độc đáo, đầy chất trí tuệ Ông suy tưởng từ những gì lớn lao nhất đến những gì giản dị nhất trong cuộc sống bình thường Dường như với bất kì đối tượng nào, Chế Lan Viên cũng đều dùng chiều sâu của trí tuệ để lí giải Đó có thể là thân phận của tình yêu,
là những hóa thân sau cõi chết, hay là những vần thơ viết về thơ với những
Trang 3329
quan niệm nghệ thuật sâu sắc Những triết lí của ông như những lời nói thường, như ruột gan, như những gì tự nhiên:
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn
(Tiếng hát con tàu)
Và với cái tôi triết lí – suy tưởng, với tư duy thơ luôn muốn lật xới bản chất vấn đề, Chế Lan Viên thường hình thành trong thơ mình những biểu tượng nghệ thuật, xây dựng những hình ảnh thơ đối lập trên khá nhiều cấp độ:
từ vựng và cú pháp, thể nghiệm trên nhiều dạng đề tài khác nhau, sáng tác với nhiều thể loại: tứ tuyệt, tự do, văn xuôi, vận dụng nhiều phương tiện và biện pháp tu từ… Tất cả thể hiện sự mạnh mẽ trong ý tưởng, chứng tỏ một cái tôi nghệ sĩ miệt mài viết lách – miệt mài sáng tạo Tố chất làm nên Chế Lan Viên,
có thể nói, chính là sự sắc sảo của trí tuệ và trường liên tưởng độc đáo Những thi phẩm của Chế có biệt tài kích thích khả năng tư duy - tưởng tượng của bạn đọc Giữa nhà thơ và độc giả tồn tại một mối quan hệ: đồng sáng tạo
Phải chăng, với sự nghiệp sáng tác đồ sộ cùng phong cách nghệ thuật
độc đáo ấy của Chế, sẽ là không quá lời khi nói rằng: “Lịch sử văn học Việt
Nam đã từng xuất hiện ít nhất là một đỉnh cao chót vót, cao đến mức mấy
ch c thế hệ các nhà thơ Việt Nam chạy tiếp sức đến h t hơi vẫn không sao tiếp cận được Ấy là Nguyễn Du Ấy là Đoạn trường tân thanh Thơ Chế Lan Viên, với độ sâu, tầm cao, tầm xa đã đạt được, cũng là một đỉnh cao khắc nghiệt với những ai muốn vươn đến”?! [1, tr.412]
1.2.2 Di cảo thơ – “Giọng cao bao nhiêu năm, giờ anh hát giọng trầm
Khi tuyển tập của mình ra đời, Chế Lan Viên tâm sự: “Ra xong cái
tuyển, tôi xem như đắp xong cái mộ rồi Khá cũng đến thế mà kém cũng đành thế, biết sao, cả một đời mình gắng mãi chứ có chơi đâu” [1, tr.405] Và con
Trang 3430
người xem như đã đắp xong cái mộ ấy, dẫu đã gần 70, trong cuộc “hành trình
đi đến lò thiêu” (chữ dùng của Chế), vẫn miệt mài sáng tác, miệt mài một đời
thơ Ngoài mười tập thơ đã xuất bản rộng rãi với bạn đọc, Chế Lan Viên còn
để lại một di sản văn học với hàng nghìn bài thơ được chép trong hàng chục cuốn sổ tay nghề nghiệp khác nhau Sau khi ông mất, người bạn đời của ông
là nhà văn Vũ Thị Thường đã góp nhặt, tuyển chọn và giới thiệu Di cảo thơ
Di cảo thơ gồm 3 tập với 461 bài thơ Di cảo I (65 bài) là Các bài đã hoàn chỉnh, Di cảo II (196 bài) với Các bài mới ở dạng phác thảo, và Di cảo III (200 bài) gồm các thi phẩm Nghĩ về thơ và nghĩ ngoài thơ (mới ở dạng phác thảo)
Chế từng quan niệm:
Anh là tháp Bay – on bốn mặt Giấu đi ba còn lại đấy là anh Chỉ mặt đó mà nghìn trò cười khóc Làm đau ba mặt kia trong cõi ẩn hình
Tâm hồn con người là một vũ trụ đầy bí ẩn với muôn mặt khác nhau được giấu bên trong Thông điệp nhân sinh ấy chẳng phải đã được gửi gắm
trong hình ảnh Phật nghìn tay, nghìn mắt đó sao?! “Tháp Bay – on bốn mặt” Chế Lan Viên thể hiện rõ nơi trang thơ, từ Điêu tàn đến Ánh sáng và phù sa, đặc biệt là Di cảo Di cảo là những tác phẩm mà khi còn sống, người viết do
chưa có điều kiện hoàn thiện, hoặc còn do dự vì ý nghĩa khách quan của sáng tác, hoặc coi đó là những sáng tác cho riêng mình và những người gần gũi với
mình nên chưa công bố Với ý nghĩa đó, Di cảo thơ được xem là một khía
cạnh nữa để ta hiểu thêm về những mặt khuất lấp, mặt nội tâm còn giấu kín
trong “tháp Bay – on bốn mặt” ấy Như Phạm Quang Trung từng nhận định
“Có một Chế Lan Viên khác mà không lạ hiện lên trong Di cảo” [1, tr.418],
Trang 3531
vẫn đấy một Chế Lan Viên với phong cách triết lí – suy tưởng, nhưng hình như có gì đó rất khác, rất riêng!
Di cảo thơ tập trung vào ba mảng lớn: thơ về tình yêu, thơ triết lí về
cuộc đời, về nhân sinh, và thơ trong mạch Nghĩ về nghề, nghĩ về thơ, nghĩ…
Trong đấy có cái dư vang khắc khoải của một hồn thơ không bình yên và có
vị đắng đót của tứ thơ lặn vào trong với những xao xác nao lòng:
Người ta chỉ biết màu sen anh đỏ rực
(Hoa súng)
Có thể nói, với Di cảo, ngoài sắc màu đỏ rực của những ánh hào quang,
ta sẽ lắng lòng thấu thị được “nỗi buồn hoa súng” – những mặt khuất lấp
trong đời thơ của thi sĩ họ Chế
Di cảo thơ, đối với Chế Lan Viên, là sự đối diện đàm tâm cùng chính
mình, là chân dung của một Chế thầm kín sau khuôn mặt xã hội, là “hành
trình đầy thử thách của một thi sĩ lớn có bản lĩnh, dám sống tận cùng với cá tính của mình” [1, tr.433] Nói như Đoàn Trọng Huy, “chút hương thầm tư duy” của hồn thơ Chế đã thấm thía từng trang thơ và tỏa ra chất “nồng” từ vẻ
“đạm” “hoa mộc” tâm hồn của nó thông qua những triết lí về cuộc đời, về thơ
ca, mà chỉ ở những trang Di cảo, độc giả mới nhận ra
Trong Di cảo, ta bắt gặp một Chế luôn ám ảnh bởi món nợ mặc khải
từ kiếp trước, từ tiền thân với thơ ca, với cuộc đời Vướng vít trong chuỗi
nhạc lòng của ông bao giờ cũng là những trở trăn về “ân huệ vô biên của đời,
của bùn, của đất, của hương hoa, của mật…” Và với Chế Lan Viên, nếu
“trang thơ chưa thành” để trả món nợ ấy thì “anh có tội với mười phương tám
hướng” Và với tâm niệm đó, Chế đã không chỉ sáng tạo thơ mà còn luôn trăn
trở thành thực về nghề thơ
Trang 3632
Với Chế, thơ ca bắt nguồn từ cuộc sống “Thơ phải dạn dày ăn gió nằm
sương, lội tuyết, lội bùn, xông vào lửa bỏng” (Thơ 1), nhưng đó là cuộc sống
của tâm hồn, của sự sinh thành và sáng tạo độc đáo
Cái tôi trong Di cảo luôn mong muốn dùng thơ của mình để làm con
người hạnh phúc Và cũng bởi thế mà luôn tự vấn, càng tự vấn càng xa xót
Cứ trở đi trở lại trong thơ là niềm đau vì sao thơ ông không giúp ích được gì cho đời:
Người lính cần một câu thơ giải đáp về đời Tôi ú ớ…
Tôi chưa có câu thơ nào cho hôm nay Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ Giữa buồn tủi chua cay vẫn có thể cười
(Ai? Tôi!)
Cũng bởi thế, theo Chế, rất cần cái tâm của người nghệ sĩ Thơ ca như một một thứ tôn giáo, mà thi nhân phải luôn giữ cho tâm mình trong sạch để đối diện Chế phê phán sự dối trá, làm trò, cơ hội chủ nghĩa trong thơ
Trong Di cảo, Chế “lộn trái” thơ để nhận thấy rằng: thơ thật ra cũng là một màn bi hài kịch của con người: “Trang giấy, ngọn đèn và anh” là “Ba
nhân vật một vở kịch hài nên rất bi thương” (Bộ ba) Số phận của Nàng thơ đã
được Chế nhìn nhận lại với những xa xót khi:
Thơ chỉ sống một phần cho mình, ba phần cho nhiệm v Nghĩ mà thương!
Da diết trong thơ một tiếng nói tự vấn đầy đớn đau, cầu mong trọn vẹn với nghề thơ Nhưng với Chế Lan Viên, dường như ông chưa bao giờ cảm thấy mình đã trọn vẹn với nghề, với thơ, với đời:
Tôi tiếp cận trang giấy ngày mười sáu tu i Bây giờ sáu ba
Trang 3733
Cái trang mơ ước một đời chưa với tới Dần xa
(Hồi kí bên trang giấy)
Chế mang trong mình một thứ “mặc cảm” - mặc cảm chưa trọn vẹn Đấy không phải là một thứ khiêm tốn giả vờ để được sự tung hô nhiệt liệt hơn của thiên hạ, mà là sự đối thoại với chính mình của một con người luôn ý thức rất cao về nghệ thuật! Cũng bởi thế mà thi nhân luôn mang trong mình nỗi sợ
không còn kịp để làm thơ, không còn kịp để “đủng đỉnh” nữa Niềm ám ảnh rơi vào hư vô, niềm ám ảnh “gió th i mây bay bất trắc”, “thời gian nước xiết”
khiến người thơ khát khao tận hiến với thơ ca hơn:
… Viết đi! Viết đi! Viết! Viết!
… Viết thêm! Viết nữa! Viết vào
(Thời gian nước xiết)
Phải xong, phải xong bản trường ca trước khi nến tắt,
Khi giọt nến cuối cùng nhỏ giọt, thì chữ cuối cùng anh phải viết xong
(Gần hết đêm)
Nhưng càng khát khao, thi nhân lại càng thức nhận sâu sắc hơn kiếp sống hữu hạn của đời người Một sự thức nhận đầy chiêm nghiệm và hình như cũng đầy xa xót!
Cái tôi trong Di cảo thơ chính là âm bản của hồn thơ Chế Lan Viên, là
cái tôi tự biểu hiện với tất cả những gì thật nhất Ai đó đã từng nói rằng:
“Trong nhà thờ, con người xưng tội trước Chúa Trong thơ ca, con người
xưng tội trước chính mình” Qua những trang Di cảo, ta nhận thấy một khuôn
mặt nội tâm đằng sau khuôn mặt xã hội của Chế, nói như cách nói của ông, thì
dường như Chế đã “lộn trái” mình trong từng trang thơ, để được sống thật, để
Trang 3834
“bay cho được tới chính mình mà thôi”, khi không đủ thời gian và không đủ
cơ hội để bộc lộ thật con người mình
Di cảo có những hoài nghi triết học về thế thái nhân tình Nó thấm thía
bởi được chắt lọc từ những trải nghiệm thật sự trong sự đời đa đoan của một con người đã qua cái dốc bên kia của cuộc đời, ở vào lứa tuổi tri thiên mệnh Ông đối diện với bi hài kịch cuộc đời, nhìn lại hào quang, và nhìn lại cả những lầm lạc:
Xa tiếng gió xạc xào
Xa mùi bùn, mùi trâu, rơm rạ…
Chỉ nghe danh vọng ầm ào Vinh quang xí xố
(Cờ lau Đinh Bộ Lĩnh)
Tự nhận mình đã từng “chạy theo tiếng vang”, đến tận cuối đời, Chế
chiêm nghiệm và khao khát trở về với sự không tiếng vang, đến cái tĩnh tại của tâm hồn Vì rốt cuộc nói cho cùng, mọi thứ cũng chỉ là hư danh, là phù phiếm mà thôi!
Thi nhân chiêm nghiệm về sự hi sinh, cân lại “giá máu”, nhớ ơn những
người chưa kịp kết tinh viên ngọc của mình (Viên ngọc), về những tội ác
không mang tên chiến tranh “Tội ác đang còn tại ngoại tự do” (Calley, Sơn
Mỹ tháng 3 – 68)…
Di cảo còn là những dự cảm về trắc trở của cuộc đời:
Hạnh phúc đến thình lình và ở thế đơn côi Còn tai ương thì dồn dập đánh vu hồi Thuyền anh đi giữa hai bể, hai trời may rủi đó
(Hai chiều)
Chế cho rằng cuộc đời chính là chiếc “bình đựng lệ” - một chiếc bình chứa đựng những nỗi buồn của thế nhân “Người ta đau gì đây? Đau cái kiếp
Trang 3935
người, Không phải kiếp đá – kiếp mây – kiếp chó…” (Thuốc) Nỗi đau con
người vẫn mãi hoài tồn tại, dù là ở dạng này hay dạng khác trước sự biến thiên của cõi đời Đó còn là những thức nhận, thậm chí có lúc đầy nghiệt ngã của Chế về sự thay đổi của cuộc đời và con người thời hậu chiến, mà chỉ trong
Di cảo, ta mới tìm thấy:
Giờ là thế giới của xe cúp, ti vi, phim màu ngũ sắc Của quyền lực, tu i tên đốp chát
Vị trí nhà thơ như rác đ thùng Chả ai nhớ bà mẹ cắm chông bạc tóc Nhớ một cô chèo đò vượt lửa qua sông
(Thời thượng)
Một mảng thơ cũng rất giá trị trong trong Di cảo thơ chính là thơ tình -
ở một mức độ trải nghiệm sâu sắc hơn: Không còn sự ồn ào sôi nổi mà có độ đằm thắm riêng của sự từng trải Tình yêu vẫn mang màu tinh khiết, nhưng không phải là cái tinh khiết của mối tình đầu, mà là sự tinh khiết được trải lọc qua những sắc màu đa đoan của cuộc đời – đỉnh cao của những sự trải
nghiệm, vượt thoát và đốn ngộ: “Địa đàng hơn thiên đàng vì có lứa đôi”
(Châm ngôn) Đấy là một tình yêu nồng nàn tình nghĩa vợ chồng Đấy là một tình yêu với một khái niệm rất lạ lùng: tình siêu thoát! Và khi “từ thế chi ca”, tiếc nuối vô ngần của Chế là:
Anh không ở lại yêu hoa mãi được Thiêu xong, anh về các trời khác cũng đầy hoa Chỉ tiếc không có tình yêu ở đó
Vẫn còn đó những buồn đau rất Chế trong Di cảo, nhưng không phải là những bi lụy trong thế giới của Điêu tàn mà là nỗi buồn mang tính chất triết
học và nghiệm sinh:
Thôi không còn chờ mùa hoa phía trước
Trang 4036
Mà ngoái đầu, nhẩm lại các mùa hoa phía sau
… Không phải hoa khuất mà ta khuất
Ta đi vào xứ không màu
(Các mùa hoa)
Cái ám ảnh Chế bây giờ là hình ảnh lò thiêu, hình ảnh “thành một nhúm
xương gio trong bình” Chế rất sợ phải đi vào “cõi trắng đen”, rất sợ phải “giã
từ cái xứ có sắc xanh trời và môi đỏ các màu hoa” Và để quên cái con đường
đến với huyệt mộ “đường thẳng chim bay đâu mấy tí” ấy, Chế tìm cách “cố
gắng tạo mùi hương trí tuệ”, “vòng vo qua nghìn trang thơ”! Nhờ ám ảnh
Nàng nhặng xanh – cái chết, Chế đã luôn tự nhủ mình làm những câu thơ để
“chống với Thối Rữa, Hư Vô”: “Đừng sợ mất gỗ đi, nếu anh có ý niệm trầm”
Người ta thường bảo, tuổi già hay ngoái nhìn về quá khứ, như một sự nuối tiếc, một sự chiêm nghiệm nhân sinh Chế cũng vậy Nhà thơ hay nhìn về quá
khứ Đây không còn là quá khứ của thời Điêu tàn với ám ảnh dĩ vãng tháp Chàm xưa, mà là cái quá khứ được cảm bởi ánh nhìn của một người đang “đi
vào xứ không màu”, của sự trải nghiệm tuổi đời và sự đời – “Những chiêm nghiệm tr i trần, không màu mè mỹ tự nhưng sâu sắc” (Vũ Quần Phương) [1,
tr.438]
Con người là ai trong cõi dương gian đầy bất trắc, trong “cuộc đời quá
đỗi phù du” này? Câu hỏi đầy tính triết học đã một lần được đặt ra, bây giờ
nhiều lần trở lại trong Di cảo Âu chăng, đấy là ám ảnh không phải của một đời người, một đời thơ! Triết lí về cái phù du của kiếp người, nhưng với Di
cảo, Chế rất tin tưởng ở sự hiện diện của bản thể người – bản thể mình trong thế giới Thi nhân dành tặng mình cho Trái đất, để Trái Đất mãi mãi còn anh,
hay nói cách khác, đó cũng là một cách để “Anh còn nguyên Trái Đất tặng
cho mình”:
Những bè bạn yêu anh sẽ gặp anh trong cỏ,