Nh vËy, ®ối lập tương phản không chỉ là một thủ pháp nghệ thuật đơn thuần, nó gắn bó chặt chẽ với cái tôi trữ tình, với lối tư duy của nhà thơ và tạo nên một phong cách rất Chế Lan Viên
Trang 1Tư duy đối lập tương phản trong thơ
Chế Lan Viên
Vũ Thị Thu Hoài
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Luận văn ThS ngành: Lý luận văn học; Mã số: 60 22 32
Người hướng dẫn: TS Nguyễn Văn Nam
Năm bảo vệ: 2012
Abstract Tìm hiểu về tư duy thơ và hành trình sáng tạo của nhà thơ Chế Lan Viên
Nghiên cứu sự đối lập tương phản trong các chi tiết hình ảnh và hình tượng thơ
Trình bày sự tương phản đối lập trong nghệ thuật xây dựng thời gian và không gian
Keywords Chế Lan Viên; Lý luận văn học; Thơ; Văn học Việt Nam
Content
A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nhắc đến Chế Lan Viên, người đọc thường nhớ đến những vần thơ độc đáo, đậm chất triết lí Những vần thơ đó được người đọc ưu ái gọi là “những vần thơ trí tuệ” Nhà nghiên
cứu Trần Thanh Đạm từng nhận xét: “ Trong các nhà thơ của thế kỉ chúng ta, Chế Lan Viên
vẫn là nhà thơ giàu chất triết lí hơn cả” [ 13, tr 389] Không ai có thể phủ nhận một điều:
Chế Lan Viên là một nhà thơ lớn và ông đã để lại nhiều bài thơ có giá trị cho nền văn học hiện đại nước nhà Thơ ông không phải thứ thơ đọc vội, chỉ cần vần nhịp âm điệu trầm bổng
là thấy hay Đọc thơ ông, người đọc phải ngẫm nghĩ mới thấy hết được cái hay, cái đẹp chứa đựng trong đó Và kì lạ thay, càng đọc ta lại càng thấy một vẻ đẹp lung linh sắc màu có sức
lan toả rộng lớn Phải chăng, chính tính triết lí gắn liền với tư duy theo lối đối lập của thơ
ông đã tạo nên vẻ đẹp ấy?
Khi tiếp xúc với các tác phẩm thơ Chế Lan Viên, chúng tôi nhận thấy rằng: Đối lập tương phản xuất hiện đậm đặc dưới nhiều cấp độ: từ vựng, câu thơ, khổ thơ, bài thơ …ngay cả ở những tiêu đề bài thơ, tập thơ, Chế Lan Viên cũng khai thác triệt để đối lập tương phản Có thể nói, việc khai thác các tương quan đối lập không chỉ là một thủ pháp nghệ thuật mà đã trở thành một nét đặc trưng của tư duy thơ, chi phối cái nhìn nghệ thuật của Chế Lan Viên Nh vËy, ®ối lập tương phản không chỉ là một thủ pháp nghệ thuật đơn thuần, nó gắn bó chặt chẽ với cái tôi trữ tình, với lối tư duy của nhà thơ và tạo nên một phong cách rất Chế Lan Viên Tuy vậy, chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu vào vấn đề này Chính vì thế, người
viết đã chọn đề tài: “ Tư duy đối lập tương phản trong thơ Chế Lan Viên” với cách tiếp cận
theo hướng thi pháp học không nằm ngoài mong muốn góp phần khám phá vẻ đẹp phong cách thơ Chế Lan Viên ở một khía cạnh mới đồng thời có thể lí giải phần nào về cái gọi là “ mâu thuẫn” trong con người và thơ Chế Lan Viên Bên cạnh đó, người viết cũng hi vọng qua bản luận văn này sẽ làm nổi bật được những đóng góp lớn lao của Chế Lan Viên về mặt thi pháp thể loại trong nền thơ Việt Nam hiện đại
Trang 22 Lịch sử vấn đề
Từ trước đến nay, có không ít các bài báo, các bài nghiên cứu về thơ Chế Lan Viên Thậm chí đã có hai luận án khá công phu đi sâu nghiên cứu về đặc sắc nghệ thuật thơ Chế
Lan Viên : Một là luận án tiến sĩ Ngữ Văn của Hồ Thế Hà “ Thế giới nghệ thuật thơ Chế
Lan Viên” và bản kia là luận án phó tiến sĩ “ Những nét đặc sắc cơ bản của hình thức nghệ thuật thơ Chế Lan Viên từ sau 1945” của Đoàn Trọng Huy Trong các bài viết, các tác
giả đã nhận thấy và khẳng định biện pháp đối lập như một nét đặc sắc trong tư duy thơ Chế
Lan Viên Hồ Thế Hà từng nhận xét: “ Chế Lan Viên vận dụng và sáng tạo nhiều phương
thức tư duy nghệ thuật, trong đó nổi lên phương pháp đối lập và so sánh, mang dấu ấn thẩm
mỹ và nămg lực sở trường độc đáo của riêng ông” [ 17, tr 24] Đoàn Trọng Huy cũng cho
rằng: “Đối lập có trong liên tưởng như đã nêu Tuy nhiên nó trở thành một phương thức tư
duy lớn bao trùm hơn , mang dấu ấn cá tính sáng tạo rất rõ trong thơ Chế Lan Viên” [19, tr
39] Ngoài hai tác giả trên, có không ít các nhà nghiên cứu khác đề cập đến vấn đề này dưới nhiều góc độ và mức độ khác nhau Nguyễn Văn Hạnh trong một bài viết của mình đã đưa ra
ý kiến: “ Hình thức cơ bản, phổ biến trong tư duy nghệ thuật của Chế Lan Viên là sự đối lập
Tính đa diện và sức biến hoá của câu thơ Chế Lan Viên một phần quan trọng là dựa trên sự đối lập…” Ý kiến này nhận được sự ủng hộ đồng tình của PGS TS Đoàn Trọng Huy trong
cuốn “ Nghệ thuật thơ Chế Lan Viên” GS Trần Đình Sử cũng cho rằng: “ Thơ Chế Lan Viên
khai thác triệt để phạm trù đối lập để tạo thành hình tượng thơ” [37, tr 45]
Tuy nhiên, hầu hết các tác giả chỉ mới dừng lại ở những nhận xét khái quát như trên
mà chưa đi sâu nghiên cứu đề tài một cách có hệ thống và toàn vẹn Có chăng một số công trình nghiên cứu về nghệ thuật thơ Chế Lan Viên đề cập đến vấn đề này với tư cách là một khía cạnh nhỏ của hình thức nghệ thuật mà thôi Bản thân người viết trong một khóa luận đã từng đề cập đến đối lập tương phản như một thủ pháp nghệ thuật làm nên tính hấp dẫn độc
đáo của thơ Chế Lan Viên Tuy nhiên, cùng với thời gian, chúng tôi nhận thấy: đối lập tương
phản không đơn thuần chỉ là một thủ pháp nghệ thuật, cao hơn nó là lối tư duy mang phong cách của riêng Chế Lan Viên Lối tư duy ấy gắn bó với nhà thơ không thể tách rời,
nó giải thích và cắt nghĩa một cách rành mạch cái gọi là mâu thuẫn trong thơ của thi sĩ họ Chế
3 Mục đích và đối tượng nghiên cứu
Nhắc đến tư duy - một vấn đề khá trừu tượng - quả là vấn đề không dễ và bàn về tư duy thơ của một nhà thơ như Chế Lan Viên càng khó hơn Chế Lan Viên luôn tạo cho thơ mình nhiều tầng nhiều vẻ nhờ vào sức liên tưởng, tưởng tượng phong phú và ngay trong liên tưởng, với lối tư duy quen nhìn sự vật từ hai phía tương phản, nhà thơ đã tạo nên những hình
ảnh thơ bất ngờ, mới lạ Có thể nói, nét đặc trưng tư duy này của Chế Lan Viên được vận
dụng hiệu quả trong cảm xúc và suy tư, đều có ý nghĩa thi pháp Thông qua bản luận văn
này, người viết mong muốn tiếp cận tác phẩm thơ Chế Lan Viên dưới một góc độ mới và một
cách khiêm tốn, góp thêm một cách lí giải sức sống lâu bền của những vần thơ triết lí , lí giải
sự gắn bó giữa tư duy và sáng tác nghệ thuật, chức năng của văn học…vốn là những vấn đề
lí luận muôn thuở
Để đạt được những mục tiêu trên, trong bản luận văn này, chúng tôi sẽ làm nổi bật vấn đề trên các phương diện sau:
- Nghiên cứu biện pháp đối lập như một hình thức nghệ thuật chứa đựng nội dung
- Biện pháp nghệ thuật này được bắt nguồn từ lối tư duy đối lập tương phản quen thuộc của nhà thơ
- Những hiệu quả nghệ thuật đạt được: tính triết lí, suy tưởng, trí tuệ…
Vì sự nghiệp thơ Chế Lan Viên quá đồ sộ và không phải bài thơ nào của ông cũng sử dụng biện pháp đối lập, chúng tôi chỉ dừng lại ở những bài thơ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, đặc biệt là những bài thơ tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của nhà thơ trong các tập
Trang 3Điêu tàn, Ánh sáng và phù sa, Di cảo thơ Các tập thơ khác cũng được nghiên cứu nhưng với
mức độ kém sâu hơn
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê, khảo sát
- Phương pháp so sánh đối chiếu
- Phương pháp phân tích, chứng minh, tổng hợp
5 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 3 phần Ngoài phần mở đầu được nhắc tới ở trên và phần kết luận, trong phần nội dung chính chúng tôi chia làm các chương sau:
Chương 1: Tư duy thơ và hành trình sáng tạo của nhà thơ Chế Lan Viên
1.1.Tư duy đối lập làm nên một Chế Lan Viên ưa triết lí…
1.2.….và hành trình sáng tạo của nhà thơ Chế Lan Viên
1.3.Chế Lan Viên - sự vận động của một cái tôi nhiều đối cực
1.3.1 Giai đoạn trước cách mạng tháng Tám 1945
1.3.2 Giai đoạn kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
1.3.3 Giai đoạn những năm 80 trở về sau
Chương 2: Đối lập tương phản trong các chi tiết hình ảnh, hình tượng thơ
2.1 Đối lập tương phản trong các chi tiết hình ảnh
2.1.1 Kiểu 1: Tạo sự đối lập nhờ việc đặt hai sự vật hết sức khác biệt kề bên nhau 2.1.2 Kiểu 2: Liên tưởng nghịch chiều theo một cặp song trùng
2.1.3 Kiểu 3: Đối lập tương phản thuận chiều
2.2 Đối lập tương phản trong các hình tượng thơ
2.2.1 Hình tượng Chiêm quốc
2.2.2 Hình tượng Tổ quốc
2.2.3 Hình tượng Bác Hồ
2.2.4 Hình tượng Ánh sáng
2.2.5 Hình tượng Cái chết
Chương 3: Đối lập tương phản trong nghệ thuật xây dựng thời gian và không gian
3.1 Đối lập trong không gian
3.1.1 Cặp 1: Không gian thực của cõi trần gian – Không gian tưởng tượng của Chiêm quốc
3.1.2 Cặp 2: Không gian cái tôi nhỏ bé– Không gian cái ta cộng đồng
3.1.3 Cặp 3: Cặp không gian lịch sử hào hùng – Không gian đời thường
3.2 Đối lập trong thời gian
Và cuối cùng là danh mục các tài liệu tham khảo
B PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Tư duy thơ
và hành trình sáng tạo của nhà thơ Chế Lan Viên
1 1 Tư duy đối lập làm nên một Chế Lan Viên ưa triết lí
Là một nghệ sĩ luôn trăn trở với nghề, Chế Lan Viên cũng có những suy nghĩ sâu sắc
về thơ Ông nhấn mạnh yêu cầu súc tích, đột phá của thơ: “ Thơ là cô đúc, là thể “đóng”
Thơ đòi cô đúc để rồi trong một phút nổ ra như tiếng sét Đây không phải là chuyện dài hay ngắn, đây là cuộc chạy đua một trăm mét cơ mà…Thơ ngắn nhưng đây là cái nhỏ bé của
nguyên tử” Trong quan niệm của Chế Lan Viên chúng ta thấy ông nhấn mạnh tính trí tuệ
của tư duy thơ, tính đột xuất của sáng tạo thơ
Chế Lan Viên là nhà thơ mạnh cả về tư duy hình tượng lẫn tư duy lôgic Tư duy thơ Chế Lan Viên mang dấu ấn cá nhân rất rõ Nhà thơ đã vận dụng được sức mạnh của tư duy
Trang 4khoa học biện chứng và phép đối, đặc biệt là đối nghịch của thơ truyền thống để tạo nên những vần thơ gợi được những cảm nhận kỳ thú và suy tư sâu xa
Có thể nói, lối tư duy theo hướng đối lập tương phản đã tạo nên một Chế Lan Viên ưa
triết lí trong thơ Ông hay tận dụng tối đa các kiểu so sánh và đối lập để tạo hiệu quả “ chân lí
loé lên từ khoảng giữa hai đối cực”
Đối lập trong thơ Chế Lan Viên cũng được sử dụng nhiều kiểu, nhiều cấp độ, đặt trong nhiều không gian, thời gian khác nhau, lối tư duy ấy đã nâng tính triết lí trong thơ ông
lên mức độ đậm đặc, tạo thành phong cách riêng: “Trong các nhà thơ của thế kỷ chúng ta,
Chế Lan Viên vẫn là nhà thơ giàu chất triết lí hơn cả” ( Trần Thanh Đạm, Những vần thơ
triết lí của Chế Lan Viên qua những trang Di cảo) [ 13, tr 389]
Ngoài việc đi vào khai thác các quy luật thông thường có tính phổ biến, Chế Lan Viên còn đi sâu khám phá các mặt cá biệt, phía đối lập nhằm phát hiện ra các vấn đề khái quát một cách thông minh và hiệu quả, tạo những triết lí mới
Bài “ Ngọc” là một bài thơ điển hình dày đặc các khái quát có tính triết lí ở dạng đối lập Một loạt các triết lí về sự hình thành của ngọc được trực tiếp nảy sinh từ các mệnh đề tương phản đặt kề bên nhau: thô bạo của thuỷ triều – yên tĩnh; lăng nhục của bùn, tàn bạo của sóng - phẩm giá ngọc; bể sâu - ngọc dữ;…
Tất cả, một cách tự nhiên được bộc lộ thông qua đối lập, tạo nên sự hài hoà về nội dung cũng như hình thức Tính triết lí trong thơ Chế Lan Viên vì vậy mà thêm phần sắc sảo,
có sức khơi gợi suy nghĩ từ phía người đọc
Đương nhiên, tính triết lí trong thơ thi sĩ họ Chế không chỉ được tạo ra và được biểu hiện bởi biện pháp đối lập Sâu thẳm hơn, đó là nhờ một vốn văn hoá, triết học vô cùng sâu
rộng mà bản thân nhà thơ không ngừng tích luỹ, trau dồi Chế Lan Viên từng nhấn mạnh: “
Làm thơ với trái tim, với chất sống, không đủ Phải có văn hoá nữa Quang năng không làm hại gì đến các trang thơ và dù trang thơ viết về bóng đêm cũng nên viết nó dưới nguồn điện sáng” Nếu nói như Hồ Thế Hà: “ Nhà thơ nào có vốn văn hoá, vốn triết học càng cao và biết vận dụng nó trong sáng tạo để hình thành kiểu tư duy độc đáo, đậm đặc mang cá tính riêng thì được xem như nhà thơ trí tuệ, nhà thơ triết lí” thì Chế Lan Viên quả đúng là một
nhà thơ triết lí lớn
1.2 …và hành trình sáng tạo của nhà thơ Chế Lan Viên
Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 14/1/1920 Ngay từ khi xuất hiện trên thi đàn lúc mới 16, 17 tuổi, ông đã làm kinh ngạc đông đảo người đọc Và trong suốt những năm sống, làm việc, sáng tác hầu như không ngừng, không nghỉ của mình, cả sau lúc đi xa vào ngày 24/6/1989, Chế Lan Viên vẫn tiếp tục làm ngỡ ngàng, kinh ngạc bạn đọc
hôm nay Chế Lan Viên có một khối lượng tác phẩm đồ sộ Với tác phẩm đầu tay là tập Điêu
tàn, Chế Lan Viên đã trở thành một hiện tượng của phong trào thơ Mới - cuộc cách mạng lớn
trong thơ ca Việt Nam thế kỷ XX Sau năm 1945, Chế Lan Viên viết Ánh sáng và phù sa,
Hoa ngày thường - Chim báo bão, Hoa trước Lăng Người, Hoa trên đá Với những tập thơ
này, Chế Lan Viên đã chuyển ngòi bút sầu đau mang đậm chất hư vô, siêu hình trong Điêu
tàn sang những vần thơ giàu tính tư tưởng, triết lý sâu sắc, mới mẻ Tập thơ “Ánh sáng và phù sa” là một thành công của tác giả trên nhiều phương diện, đánh dấu bước đổi mới của
thơ ca Việt Nam lúc bấy giờ: “ Sau hai mươi lăm năm, kể từ Thơ Mới ra đời đến lúc “Ánh
sáng và phù sa”, thơ Việt Nam đã xuất hiện một thi pháp mới, một giọng điệu mới, một cách nghĩ, cách cảm mới” [ 25, tr 112]
Suốt cả cuộc đời, Chế Lan Viên đã viết đến hơn 10 tập thơ, làm nên một đời thơ mạnh
mẽ, bề thế Đó là chưa kể hơn 600 bài thơ trong các tập Di cảo xuất bản sau khi Chế Lan Viên mất mà theo các nhà nghiên cứu văn học, chỉ riêng Di cảo cũng đủ làm nên một tầm
vóc thơ ca lớn
Chế Lan Viên cũng là người phong phú trong hình thức biểu hiện Ông là người tích cực bậc nhất trong việc tìm tòi đổi mới dáng vẻ câu thơ và bài thơ thế kỷ XX Ông viết rất
Trang 5hàm súc (đặc biệt là các bài thơ tứ tuyệt) nhưng nếu cần, ông có thể mở rộng biên độ để tạo nên những câu thơ dài có khả năng ôm trùm hiện thực:
Xanh biếc màu xanh, bể như hàng nghìn mùa thu qua còn để tâm hồn nằm đọng lại
Sóng như hàng nghìn trưa xanh trời đã tan xanh ra thành bể và thôi không trở lại làm trời
(Cành phong lan bể, Ánh sáng và phù sa )
Chế Lan Viên sáng tạo nhiều cách ngắt nhịp, nhiều kiểu qua hàng, nhiều lối buông vần cho phù hợp với cảm xúc nội tâm ( Bài Đời thường )
Chế Lan Viên là một tài năng chín sớm Ông kế thừa tinh hoa của thi ca phương Đông như thơ Đường, thơ Tống rồi thi ca phương Tây như thơ lãng mạn, thơ hiện thực, thơ siêu thực Ông có ý thức sâu sắc về vai trò nhà thơ trong đời sống hiện thực
Hành trình sáng tạo của Chế Lan Viên gắn liền với sự biến đổi của cái tôi nhà thơ Đó
là một quá trình phát triển liên tục trên cơ sở biến đổi, có kế thừa và sáng tạo
1.3 Chế Lan Viên - sự vận động của một cái tôi nhiều đối cực
Đặc điểm quan trọng nhất của tư duy thơ là sự thể hiện của cái tôi trữ tình, cái tôi cảm xúc, cái tôi đang tư duy Phương thức tư duy của mỗi nhà thơ là không giống nhau Nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như: đặc điểm tâm hồn, cá tính sáng tạo của nhà thơ đó Nếu
Huy Cận thường tư duy theo hướng “nhìn nhận con người, cuộc đời và thiên nhiên qua sự
sống cỏ cây hoá sinh vô tận” thì Chế Lan Viên có khuynh hướng nhìn sự vật từ hai bề đối
lập Nếu “ ví von trở thành phương thức tư duy nghệ thuật cơ bản của Tố Hữu” thì với Chế
Lan Viên phương thức đó là đối lập Khác với phong cách của những nhà thơ thường chỉ chú
ý đến hoà âm và muốn tìm đến sự hài hoà, Chế Lan Viên thích sử dụng những nghịch âm và muốn chân lí loé lên từ khoảng giữa hai cực đối lập Chính điều này đã tạo nên một mạch thơ hết sức độc đáo không lẫn với bất cứ ai
Khác với tư duy lôgic, thơ vốn tư duy bằng hình tượng nên nó có khả năng rộng rãi cho sự tưởng tượng, liên tưởng (tương đồng và nghịch chiều) Lối liên tưởng nghịch chiều trong thơ Chế Lan Viên xuất hiện khá đậm đặc và đây cũng chính là cơ sở cho biện pháp đối lập tương phản Nhờ đó, thơ mở ra nhiều chiều hướng suy tưởng, chấp nhận cả những điều phi thực tế nhất
Bản thân thi sĩ họ Chế là một cái tôi đầy phức tạp Hãy nghe giây phút tự bạch của nhà thơ:
“ Anh là tháp Bayon bốn mặt
Giấu đi ba, còn lại chính là anh”
Có thể nói, hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên không phải là nhất thành bất biến mà luôn có sự vận động giữa nhiều đối cực Một hồn thơ vừa đi về thế giới hư
ảo tưởng tượng nơi Chiêm quốc xa xôi trong Điêu tàn lại vừa vận động đi về phía cuộc sống thực của nhân dân trong Ánh sáng và phù sa Một con người luôn đan xen nhiều tâm trạng:
thoắt vui, thoắt buồn, khi đau khổ lúc hạnh phúc, vừa thất vọng lại vừa hi vọng
Nhìn tổng quát, chúng ta có thể thấy sự vận động biến đổi của cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên phát triển, biến đổi song hành cùng các chặng đường tư tưởng và sáng tác của ông Nếu xét theo chiều lịch đại, có thể chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn trước cách mạng tháng Tám năm 1945, giai đoạn kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ và giai đoạn những năm 80 trở về sau Mỗi giai đoạn, c¸i t«i tr÷ t×nh có sắc thái riêng, có sự khác nhau thậm chí phủ định nhau Chính sự vận động của cái tôi đã dẫn đến sự thay đổi về quan điểm nghệ thuật, quan niệm thẩm mỹ và hình tượng thơ
1.3.1.Giai đoạn trước cách mạng tháng Tám 1945
Trước cách mạng, cùng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên là chủ tướng của nhóm thơ
Bình Định với cái tên Trường thơ loạn Trước hiện thực bế tắc lúc bấy giờ, khi các thi sĩ khác
thoát li trong mộng tưởng, đắm mình trong thế giới tình yêu cá nhân, hay trốn mình vào cái tôi rợn ngợp thì Chế Lan Viên lại chọn cho mình một khách thể thẩm mỹ mang tính hư cấu- siêu hình – kinh dị: Thế giới của xương khô, sọ người, sự diệt vong của Chiêm Quốc
Trang 6Xa lánh nỗi buồn, Chế Lan Viên thoát ly triệt để thực tại để tìm giải thoát ở cõi siêu hình
bất tận: Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh
Một vì sao trơ trọi cuối trời xa
Đối với ông, cảm xúc thẩm mỹ lẫn đối tượng thẩm mỹ của thơ chính là nỗi đau khổ khôn
cùng của thi nhân trên cõi trần gian
Trời hỡi trời hôm nay ta chán hết
Những sắc màu hình ảnh của trần gian
(Tạo lập)
Đọc “Điêu tàn”, ta thấy những đối cực luôn tồn tại trong con người Chế Lan Viên như một phần máu thịt, không sao dứt bỏ được Cái tôi trong Điêu tàn luôn phân cực: Mùa xuân về,
đất trời khởi sắc nhưng Chế Lan Viên vẫn còn loay hoay giữa hai tâm trạng buồn và vui:
“ Ta những muốn vui cười ta những muốn
Dẹp sầu tư, ca hát đón xuân tươi
Nhưng than ôi, xuân về trong nắng sớm
Mà lòng ta đông lạnh giá băng thôi
( Xuân về - Điêu tàn)
Tác giả Điêu tàn còn vẽ lên một cõi ta cho riêng mình Cõi ta của Chế Lan Viên là
một thế giới vừa rộng lớn vô cùng nhưng dường như cũng hết sức bé nhỏ ( Cõi ta, Điêu tàn)
Cái tôi trong Điêu tàn nhiều mâu thuẫn dằn vặt trong nội tâm Nó luôn được đặt trong
mối liên hệ với ngoại cảnh, do đó, tạo ra nhiều tương phản, đối lập Cảnh vật càng rực rỡ tươi sáng bao nhiêu thì lòng người lại càng chán nản u buồn bấy nhiêu
Như vậy, đối lập đã được sử dụng triệt để trong Điêu tàn để biểu hiện một cái tôi
nhiều mâu thuẫn, một quan niệm nghệ thuật mang tính chất siêu hình và quan niệm thẩm mỹ
cái đẹp nằm ở cái buồn Khảo sát thủ pháp đối lập được sử dụng trong tập “Điêu tàn”, chúng
tôi nhận thấy trong 36 bài thơ có đến 12 bài ( chiếm 33,3% ) sử dụng tương phản đối lập ở
nhiều cấp độ (Đó là những bài: Những sợi tơ lòng, Điệu nhạc điên cuồng, Ngủ trong sao,
Xuân, Cõi ta, Đừng quên lãng, Trên đường về, Tạo lập, Nắng mai, Những nấm mồ, Xuân về, Chiến tượng ) Trong đó, có những bài sử dụng đối lập một cách dày đặc như: Trên đường về, Những sợi tơ lòng, Chiến tượng,…
1.3.2.Giai đoạn kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
Trong lúc Chế Lan Viên đang lạc vào cõi hư vô, siêu hình và ngày càng bi quan, bế tắc vì chưa tìm được hướng đi cho đời, cho thơ mình, thì cách mạng Tháng Tám bùng nổ
Chính cách mạng đã làm “Thay đổi đời tôi, thay đổi thơ tôi” như sau này ông từng khẳng
định Từ một người trốn thoát thực tại, suy tưởng về thế giới huyền ảo, ông trở thành một
người hành động Tập thơ Ánh sáng và phù sa ra đời vào năm 1960 đã đánh dấu một bước
ngoặt trong sự nghiệp thơ của Chế Lan Viên Ánh sáng của Đảng và phù sa của cuộc đời đã giúp ông chiến thắng được nỗi đau riêng để vươn tới niềm vui chung của dân tộc Và từ đây, những bài thơ hay nhất của ông lần lượt xuất hiện
Có thể nói, chính sự đổi thay trong tư tưởng trong nhận thức của Chế Lan Viên dẫn
đến những thay đổi trong thơ Ánh sáng và phù sa là một tập thơ gần như đối lập với Điêu tàn dưới nhiều góc độ Nếu Điêu tàn là một cực âm : chuộng gam màu u tối, dựng lên một thế giới ma quái đầy xương khô sọ người, thế giới của nỗi buồn- sự mất mát thì Ánh sáng và phù
sa là một cực dương với gam màu tươi tắn, là hành trình về với sự sống, niềm vui, về với thế
giới rộng lớn của con người Đọc Ánh sáng và phù sa ta thấy một thái độ phủ nhận quyết liệt
cái tôi cũ trong sự đối chiếu với cái tôi mới xuất hiện
Có thể nói, Ánh sáng và phù sa là cột mốc đánh dấu sự chín muồi về tư tưởng và phong
cách của nhà thơ Chế Lan Viên, thể hiện bước chuyển biến bất ngờ với một quan niệm về thơ mới mẻ, đánh dấu sự cách tân quan trọng Khách thể thẩm mỹ của thơ ông giờ đây là Tổ Quốc – Nhân dân - Cuộc sống Từ cực đoan, thần bí, siêu hình, Chế Lan Viên chuyển sang phạm trù thơ ca hiện đại, cách mạng
Trang 7Từ bỏ thế giới hư vô siêu hình cũ: “Ta là ai?” để đến gần với duy vật “ ta vì ai?”, Chế Lan Viên cho ta thấy mục đích của thơ ông giờ đây đã khác xưa: thơ phải vì cách mạng, vì nhân dân mà phục vụ, mà hướng tới
Phủ định cái cũ nhưng đó không phải là sự phủ định sạch trơn, Chế Lan Viên vừa quyết liệt đổi thay nhưng lại vừa nuối tiếc quá khứ và đôi khi cái cũ vẫn hiện về chập chờn
trong tâm tưởng
Không chỉ quan tâm và bộc lộ quan niệm của mình về các vấn đề cốt lõi của nội dung thơ, Chế Lan Viên là người sớm nhận ra một điều rất quan trọng của thơ: cần phải có giọng điệu thơ thích hợp với thời đại mới: Xưa tôi hát mà bây giờ tôi tập nói
Chỉ nói thôi mới nói hết được đời
(Sổ tay thơ)
Đó không chỉ giản đơn là các biện pháp nghệ thuật, mà sâu xa hơn, đó là bản chất của sự thống nhất giữa nội dung và hình thức để tạo nên một bài thơ hay Đó cũng chính là một đóng góp của Chế Lan Viên vào lý thuyết thi pháp học hiện đại
Sự thay đổi về quan niệm nghệ thuật, quan niệm thẩm mỹ như đã nói ở trên dẫn đến sự thay đổi trong hình ảnh thơ Chế Lan Viên Giờ đây, thơ ông nói nhiều đến niềm vui, đến nụ
cười: “ Khi trong lòng đã đúc triệu đồng vui” Cùng với nó là một lòng yêu đời đến “ ngất ngư”: Tôi yêu quá, cuộc đời như con đẻ
Nói Chế Lan Viên luôn tồn tại trong mình nhiều đối cực cũng là vì vậy: Một mặt ông muốn quên đi con người xưa nhưng mặt khác, nó vẫn tồn tại trong ông và có dịp lại thể hiện qua những câu thơ, những tứ thơ
Tuy đối lập tương phản vẫn được sử dụng nhiều trong Ánh sáng và phù sa nhưng nó đã
nhường vị trí số một cho biện pháp so sánh
Khảo sát tập thơ Ánh sáng và phù sa ta thấy các bài thơ có sử dụng đối lập: 13/69 bài (
chiếm khoảng 19%) còn biện pháp so sánh là 31/69 ( chiếm khoảng 45%).Rõ ràng, Chế Lan Viên rất biết lựa chọn các phương tiện nghệ thuật để chuyển tải nội dung một cách thích hợp
nhất Đó chỉ là thống kê trong một tập thơ Trên thực tế, có những hình ảnh thơ trong Ánh
sáng và phù sa đối lập gay gắt với những hình ảnh thơ thuở Điêu tàn Chúng tôi sẽ trở lại vấn
đề này ở phần sau để phân tích cụ thể hơn
1.3.3 Giai đoạn những năm 80 trở về sau
Khi những trận đánh hào hùng lịch sử đã qua đi, Chế Lan Viên quay trở lại những suy
nghĩ về cái tôi của mình Do vậy, trong Di cảo chúng ta bắt gặp một Chế Lan Viên trầm lắng
hơn, ông đã chuyển giọng:
“ Giọng cao bao nhiêu năm giờ anh hát giọng trầm”
Trầm giọng hơn nhưng cũng sâu sắc hơn, Chế Lan Viên lùi lại phía sau để suy tư về cuộc đời và sự nghiệp, cái tôi lúc này hướng nội để chiêm nghiệm, triết lí những vấn đề có liên quan đến con người
Giờ đây, cái tôi trong Di cảo thơ không còn hướng tới cuộc sống tràn đầy tươi vui với khát vọng cống hiến như trong Ánh sáng và phù sa nữa Nó đã chọn cho mình một khách thể thẩm mỹ khác đúng như nhận xét của Hồ Thế Hà: “Nếu ở thời Điêu tàn đó là một chủ thể
Cực đoan - Thần bí – Quái đản, tự dựng lên một khách thể Hư cấu- Siêu hình – Kinh dị, đến thời 1945 – 1975 đó là một chủ thể Tái sinh- Tích cực – Giao hoà trước hiện thực mới của Tổ quốc – nhân dân thì đến thời này, đó là một chủ thể Sống qua - Dự cảm - Triết lí với một khách thể Đa diện – Đa chiều – Vi diệu” [16, tr 43-44]
Chọn chủ thể Sống qua - Dự cảm - Triết lí (đi sâu vào cái tôi cá nhân), trong Di cảo thơ,
Chế Lan Viên hay làm những cuộc giải phẫu trong thơ để tự mổ xẻ tâm hồn mình Có khi,
ông còn muốn lộn trái mình ra như “đào lộn hột”: “Vỏ tâm hồn lộn tuốt
Cho thân thể phô bày”
( Lộn trái- Di cảo thơ I)
Trang 8Con mắt ông nghiêm khắc đánh giá lại sự nghiệp thơ mình: Xưa, ông viết những câu thơ tràn đầy khí thế, cổ vũ người ra trận thì nay chính ông lật lại mọi thứ Ông trăn trở, đau xót khi cho rằng người chịu trách nhiệm trước cái chết của những người lính là mình:
“Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2000 người đó?
Tôi! Tôi - người viết những câu thơ cổ võ
Ca tụng người không tiếc mạng mình trong mọi cuộc xung phong”
Ông trăn trở day dứt vì bây giờ không có câu thơ nào:
“ Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ
Giữa buồn tủi chua cay vẫn có thể cười”
( Ai? Tôi?- Di cảo I)
Trong Di cảo thơ, ta thấy nỗi buồn được nhà thơ nhắc đến nhiều hơn là niềm vui Nhưng
đó không phải là “nỗi buồn thế hệ” từng xuất hiện trong “Điêu tàn” mà là một nỗi buồn thấm
đượm vị chua chát Nỗi buồn được khơi gợi từ cơ sở hiện thực: buồn vì cuộc đời với nhiều
đảo điên, buồn vì nghề: “ Vị trí nhà thơ như rác đổ thùng” và hơn hết là nỗi buồn vì biết
cuộc đời hữu hạn, biết mình đang trong hành trình đến lò thiêu:
“Ta trên đường đi đến lò thiêu
Cuộc hành trình nhẩn nha mà rất gấp”
( Lò thiêu – Di cảo thơ III)
Sự vận động của cái tôi trữ tình kéo theo sự thay đổi cả về nội dung và hình thức nghệ thuật Đặc biệt, nó có ảnh hưởng chặt chẽ đến phương thức tư duy của nhà thơ Thời kỳ này, qua những bài thơ, bài tiểu luận phê bình của ông, ta thấy những quan niệm nghệ thuật mới,
thoạt nhìn tưởng như trái ngược với trước đó Những câu hỏi có tính chất triết học: “ ta là
ai?”, “ ta vì ai?” tưởng chừng đã được giải đáp trọn vẹn ở giai đoạn trước giờ đây được đào
xới lại Nhà thơ tự vấn:
“ Ta vì ai? Về đâu? Hạt móc
Là ta chăng? Dòng sông là ta chăng? Tiếng khóc
Là ta chăng? Vì sao lạc phương trời
Là ta chăng? Ta chưa kịp trả lời
Thì sông đã cuốn ta vào bóng tối”
( Hỏi – Đáp)
Nếu nhìn khái quát cả ba tập Di cảo thơ, chúng ta có thể nhận ra khá rõ điều này: quan
niệm nghệ thuật, quan niệm thẩm mỹ của ông có nhiều thay đổi, thậm chí đối lập với các thời
kỳ trước Chẳng hạn, nếu ở giai đoạn thơ chống Mỹ, Chế Lan Viên sung sướng tự hào biết
bao khi nhà thơ có sứ mạng vinh quang của một nhà thơ – chiến sĩ: “Vóc nhà thơ đứng ngang
tầm chiến luỹ / Bên những chiến sĩ ngoài đồng và hạ trực thăng rơi”, thì nay trở lại đời
thường, vị trí của nhà thơ trở nên thật khiêm tốn:
“Tôi chỉ là một nhà thơ cưỡi trâu
Đánh giặc cờ lau ”
(Cờ lau Đinh Bộ Lĩnh)
Và trong một hoàn cảnh xã hội đầy biến động phức tạp, các thang giá trị thay đổi đến bất ngờ, có lúc ông đã phẫn uất thốt lên:
“Giờ là thế giới của xe cúp, tivi, phim màu ngũ sắc
Của quyền lực tuổi tên đốp chát
Vị trí nhà thơ như rác đổ thùng”
(Thời Thượng)
Nếu trước đây, ông đề cao, khẳng định và ước mong thơ mình thành “Tiếng sáo thổi
lòng thời đại/ Thành giao liên dẫn dắt đưa đường”, thì nay ở những năm tháng cuối đời, ông
thật sự xót xa, cay đắng nhận ra:
“Tôi chưa có câu thơ nào
Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ
Trang 9Giữa buồn tủi chua cay vẫn có thể cười”
Để tiếp tục sáng tạo ở tâm thế mới của đời thường, Chế Lan Viên đã chủ động thay đổi
giọng điệu trang nghiêm xen vào giọng điệu cười cợt, giọng xót xa phẫn uất, xen lẫn giọng tự trào hóm hỉnh, giọng độc thoại đan vào giọng đối thoại, giọng trữ tình thấm đẫm cảm xúc bên cạnh giọng tự sự khách quan lạnh lùng, v.v Nhưng nổi bật hơn cả vẫn là cái giọng trầm buồn của một thi nhân đang trầm tư, chiêm nghiệm, triết luận về thế sự và con người
Tổng kết lại cuộc đời thơ của Chế Lan Viên, chúng ta thấy : cái tôi trữ tình trong thơ ông có lúc hướng ngoại, có lúc hướng nội nhưng ở khía cạnh nào nó cũng được đẩy lên đến cực điểm
Tóm lại, ở Chế Lan Viên cái tôi trữ tình rất phong phú và đa dạng nhưng chúng không mâu thuẫn mà thống nhất với nhau và có sự chuyển hoá giữa các đối cực, có sự vận động, sinh thành và phát triển Những quan niệm nghệ thuật của Chế Lan Viên phản ánh một tư duy triết học biện chứng, có phủ định, kế thừa và phát triển, bổ sung cho phù hợp tinh thần thời đại và quy luật thơ ca Sự phức tạp trong quan niệm và tư duy thơ của Chế Lan Viên là một nghịch lý hợp lí kiểu triết học biện chứng chứng tỏ ông là nhà thơ lớn, chưa bao giờ tự bằng lòng, thoả mãn với những gì đã có, trái lại luôn tìm tòi thể nghiệm để khẳng định cái mới
Chương 2: Đối lập tương phản trong các chi tiết hình ảnh,
hình tượng thơ
2.1 Tương phản đối lập trong các chi tiết, hình ảnh thơ
Chế Lan Viên quan niệm: “Thơ nghĩ bằng hình ảnh” Thế giới hình ảnh trong thơ
Chế Lan Viên vô cùng đặc sắc Nó vận động và biến đổi cùng với sự vận động và biến đổi của cái tôi trữ tình
Để tạo nên các hình ảnh thơ độc đáo, Chế Lan Viên đã tận dụng tối đa thủ pháp tương phản đối lập Trong thơ Chế Lan Viên, chúng tôi nhận thấy có ba kiểu đối lập chính:
2.1.1 Kiểu 1: Tạo sự đối lập nhờ việc đặt hai sự vật hết sức khác biệt kề bên nhau
Chế Lan Viên luôn biết vận dụng điểm khác biệt, thậm chí trái ngược nhau của sự vật để tạo tương phản trong thơ, mang đến hiệu quả thẩm mỹ cao Để tránh sự sáo mòn vốn là điều tối kị trong nghệ thuật, đôi khi nhà thơ khá táo bạo đặt những sự vật hoàn toàn khác lạ kề bên nhau :
“ Thức dậy vì tiếng bom Bỗng gặp đêm trăng sáng”
Trăng và bom vốn là hai sự vật “xung khắc” nhau: trăng tượng trưng cho hoà bình, sự sống còn bom vốn là biểu tượng của chết chóc huỷ diệt, chiến tranh Vậy mà, nhà thơ đã đặt chúng lại gần nhau để ý nghĩa triết lí loé sáng:
“ Chỉ màu trăng là có Còn chiến tranh là không”
Câu thơ như lời khẳng định một niềm tin chắc chắn vào cái đẹp, cái thiện sẽ xua tan cái ác, cái xấu
Chế Lan Viên có khả năng nối kết những sự vật khác biệt lại gần nhau và tìm ra mối liên
hệ giữa chúng: gà rừng và bom là hai sự vật chỉ có duy nhất một điểm chung: “ Gà rừng đẻ
vào buổi trưa và bom cũng ném cùng thời điểm” nhưng từ đó tác giả lại liên tưởng đến một
hình ảnh thú vị:
“ Nó thì giết, ta thì cục tác
Giữa bom gầm, trứng cứ đẻ ra”
( Gà rừng đẻ - Di cảo I ) Với con mắt tinh tường của mình, Chế Lan Viên thường phát hiện ra những nghịch lí: người dệt thảm thì mặc áo rách nhưng lại thêu thảm hoa:
“ Người dệt thảm mặc áo rách và cuộc đời xám xịt
Trang 10Ấy thế nhưng cái nghề dệt mà, ta cứ dệt thảm hoa”
Áo rách - thảm hoa gợi sự liên tưởng sâu xa Áo rách là của cuộc đời khó khăn vất vả
còn thảm hoa là kết tinh của sự khéo léo và trí tuệ của bàn tay người thợ Phải chăng tác giả
muốn mang đến cho người đọc thông điệp: Cuộc sống dù thiếu thốn nhưng vẫn cần những
giá trị vật chất và tinh thần, vẫn luôn vươn tới cái đẹp, sự lạc quan vào tương lai
Trong kiểu đối lập này, Chế Lan Viên cũng hay đặt cái đã có bên cái sẽ có, đặt cái
chưa có và cái cần có bên nhau Ông cũng không khuôn mình trong những đối lập có sẵn mà
luôn hướng tới những đối lập mới, thú vị hơn, sâu sắc hơn:
“ Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn”
( Tiếng hát con tàu)
Nhà thơ cũng sử dụng đối nghịch để chỉ ra sự xảo quyệt của kẻ thù, đằng sau bộ mặt
giả dối đó, bản chất phi nghĩa của chúng hiện ra:
“ Khi chúng nói hoà bình là chúng đang ngắm bắn”
Không cần nói nhiều, chỉ bằng cách “nói ngược” tất cả bản chất của kẻ thù đã bộc lộ
một cách rõ ràng nhất
Một điều đặc biệt là trong thơ Chế Lan Viên, hiện thực và lãng mạn, trí tuệ và cảm xúc
cứ đan chéo, trộn lẫn vào nhau bởi hình ảnh giàu sức tưởng tượng và vô cùng kì thú: “ triệu
tấn bom” đi với “ mặt trời hồng”:
“ Tên Tổ quốc vang ra ngoài bờ cõi
Ta đội triệu tấn bom mà hái mặt trời hồng”
Cách viết vừa táo bạo vừa tài hoa: Con người trong tư thế kỳ vĩ, vượt qua bom đạn
chinh phục mặt trời Hình tượng thơ thật khoẻ khoắn và mạnh mẽ biết bao
Đôi khi dùng những đối lập ngược nhau theo kiểu này, tác giả đã tạo sự đối chọi đa
dạng trong cái bình thường đơn điệu, tăng cường ý nghĩa và đào sâu năng lực suy nghĩ:
“ Cân những Thái Sơn lại là chiếc hôn nhẹ tựa lông hồng”
Hay: “ Một cái hôn cân vạn ngày lửa đạn”
Đặt Thái Sơn bên cạnh chiếc hôn, nặng bên cạnh nhẹ, Chế Lan Viên không triết lí về
sự nặng nhẹ đơn thuần Ông đã thực hiện một phép “ cân” kì diệu và mở ra cho người đọc
nhiều hướng hiểu, hướng cảm nhận khác nhau về một hình ảnh thơ đa nghĩa
Cũng rất phổ biến trong thơ Chế Lan Viên là những hình ảnh đối lập, chuyển hóa :
- "Xưa phù du mà nay đã phù sa"
- "Xưa bay đi mà nay không trôi mất."
- "Người dưới vực sâu vẫn cứu kẻ trên bờ"
- "Nếu dưới vực sâu còn dũng khí"
- "Ta nấu xích xiềng ta làm súng đạn"
Có thể nói, kiểu đối lập này được tác giả sử dụng khá thành công trong những tìm tòi sáng
tạo mới Nó tránh được sự khô khan tẻ nhạt nhờ những hình ảnh thơ bổ sung lẫn nhau
2.1.2 Kiểu 2: Liên tưởng nghịch chiều theo một cặp song trùng
Trong kiểu này, tác giả thường đi sâu khai thác những cặp đôi đối nghịch thường đi liền
với nhau Ví như: Vui - Buồn, May - Rủi, Ánh sáng – Bóng tối, Hạnh phúc – Tai ương, Hi
vọng - Thất vọng, Hữu hạn – Vô hạn, Trước – Sau, Cay đắng - Ngọt ngào…
Bắt nguồn từ lối tư duy quen nhìn sự vật từ hai chiều đối lập, Chế Lan Viên luôn đặt các
đối cực lại gần nhau để triết lí, để ý thơ bay lên từ đó Trong thơ ông, ánh sáng không bao
giờ đi riêng lẻ mà nó luôn gắn với bóng tối như một cặp bài trùng Chế Lan Viên viết nhiều
về cặp đôi này Có khi ông dùng để diễn tả quy luật thời gian như là sự luân phiên của hai
khái niệm đối lập: ngày – đêm:
“Đừng buồn đêm phù du
Đã có ngày bất tử”
(Đêm và ngày – Di cảo III)