1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tín hiệu thẩm mĩ trái tim trong thơ trữ tình - tình yêu tagore qua tập thơ tâm tình hiến dâng

31 824 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 170,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài của tôi tiếp tục đi theo hướng đó nhưng có nột khác là: nghiên cứu THTM “Trái tim” trong thơ R.Tagore qua tập thơ “Tâm tình hiến dâng”bản dịch của Đỗ Khánh Hoan, Nxb Văn học, 2004

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1 Gần đây, khái niệm THTM, một phương diện của vấn đề tín hiệu học

trong ngôn ngữ học đang rất được quan tâm Nhiều học giả trong và ngoài nước

đã nghiên cứu đến nú Đó cú một số đề tài nghiên cứu sinh vận dụng khái niệmTHTM vào nghiên cứu văn học Song đây là bước đầu, việc vận dụng này mớichỉ trong ca dao và ngay cả ở ca dao, cũng chỉ có một số THTM được nghiêncứu Do đó, vấn đề vận dụng lí thuyết về THTM vẫn còn rất mới mẻ, cần đượctriển khai mở rộng trong lĩnh vực của văn học hơn nữa

2 Đề tài của tôi tiếp tục đi theo hướng đó nhưng có nột khác là: nghiên cứu

THTM “Trái tim” trong thơ R.Tagore qua tập thơ “Tâm tình hiến dâng”(bản dịch

của Đỗ Khánh Hoan, Nxb Văn học, 2004) - một trong những tập thơ tình được

đánh giá là hay nhất của nhà thơ Ấn Độ này THTM “ Trái tim” sẽ là chiếc chìa

khoỏ giúp ta giải mã những quan niệm, những triết lý của Tagore về tình yêu

3 Việc trang bị những tri thức và phương pháp nghiờn cứu về THTM đối

với người giáo viên rất cần thiết, nhất là trong tình hình phải đổi mới phươngpháp dạy học văn trong nhà trường hiện nay Vì những lẽ đó chúng tôi mạnh dạn

nghiên cứu đề tài: “Tín hiệu thẩm mĩ “Trái tim” trong thơ trữ tình - tình yêu Tagore qua tập thơ “Tâm tình hiến dõng”

II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ.

1 Chúng tôi đặc biệt lưu ý đến những công trình nghiên cứu vận dụng khái

niệm THTM vào phân tích văn học Đó là những luận án, luận văn: “Khảo sát cỏc nột nghĩa biểu trưng của cá từ chỉ hiện tượng thiên nhiên - khí tượng Mưa - Nắng

- Gió trong ca dao và thơ Nguyễn Trãi” của Đinh Văn Thiện, “Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ các THTM – không gian trong ca dao” của Trương Thị Nhàn Có thể

nói đây là những công trình nghiên cứu có giá trị, đã mở ra mét hướng tiếp cậnmới đối với các tác phẩm văn chương: tiếp cận từ phương diện THTM

Trang 2

2 Rabin dranath Tagore (1861-1941) là hiện tượng kiệt xuất của văn học

Ên Độ thế kỉ XX, đã có biết bao danh hiệu cao quý của Ên Độ và thế giới traotặng cho ông Tên của R Tagore đồng nghĩa với đỉnh cao của văn học Bengal

quê hương ông: “Tagore hoà hợp ngôn ngữ và tâm hồn Bengal với tinh hoa của nhân loại như hoa sen nở thơm ngát trong ánh bình minh” Tagore được coi là biểu tượng của văn hoá Ên Độ, là “Một tổng hợp thiên tài kì diệu của văn học Â

n Độ từ Upanishad, qua tài liệu Phật Giáo đến Kalidasa” (Cheliep - nhà Ân Độ học người Liên Xô cũ), là “ngôi sao sáng của  n Độ phục hưng” (J.Nehru).

Thiên tài R.Tagore bao trùm hầu hết mọi lĩnh vực văn học nghệ thuật Câybút của ông tung hoành trong nhiều thể tài văn học và mặt nào cũng đạt đến đỉnh

cao.Giải Nobel văn học dành cho “Thơ Dâng” (Gitanjali, 1913) đã khẳng định

Tagore với tư cách là một nhà thơ lớn của Ên Độ và thế giới, là một trong mười

nhà thơ lớn của thế kỉ, là “kì công thứ hai của tạo hoá” sau Kalidasa (Hoàng đế

thơ Ân Độ, sống dưới triều đại Gupta 320-530)

Sự nghiệp của R.Tagore đã thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của không Ýtđộc giả và giới nghiên cứu khoa học nhân văn ở Ân Độ và nhiều nước trên thếgiới Qua những tài liệu hiện có, chúng tôi tạm phân việc nghiên cứu thơ Tagorethành hai mảng tư liệu:

Ở Ân Độ và phương Tây:

Năm 1873, khi mới 13 tuổi, R.Tagore có trường ca “Bông hoa rừng” dài

1600 dòng thơ viết bằng ngôn ngữ Bengali Trường ca được in rải rác trên cáctạp chí và được giới phê bình Ên Độ đánh giá là chịu sự ảnh hưởng của Shelley(1792 - 1822) - nhà thơ lãng mạn Anh

Năm 1913, tập “Thơ Dâng” (Gitanjali) gồm 103 bài thơ do Tagore tuyển

chọn và tự dịch sang tiếng Anh đã được trao giải thưởng Nobel văn chương Đây

là sự khởi đầu vinh quang của nhà thơ trên toàn thế giới Và cũng từ đây, sựnghiệp thơ ca của Tagore thu hút được sự chú ý mạnh mẽ của các nhà nghiên

Trang 3

- Ở Anh: Lời giới thiệu nổi tiếng của W B Yeats về tập “Thơ Dâng”

(1912), giới thiệu nó ứng cử giải Nobel 1913

- Ở Pháp: Bản dịch “Thơ Dâng” của Andre Gide (1860-1951) đã được

tái bản 107 lần

- Ở Liên Xô cũ: Thơ Tagore được dịch và giới thiệu qua nhiều thứ tiếng

Những năm 80 của thế kỉ XX, “Thơ Dâng” được tái bản 40 lần.

Cuốn giáo trình: “ Văn học phương Đông thời đại mới” của đại học Tổng

hợp Matxcơva 1975 do Ev Paepxki biên soạn ở chương III, phần viết về Tagoregồm 22 trang, đã dành cho Tagore những lời nhận xét khái quát theo hướng ngợica

Tuyển tập R.Tagore gồm 4 tập với hơn 2000 trang, trong đó tập I là phầntuyển thơ, NXB Văn học nghệ thuật Maxcơva, 1981 với lời giới thiệu dài 28

trang của E.Kômarôp: “Tagor-nhà nhân đạo vĩ đại Ên Độ” E.Kômarôp đã chỉ ra

đề tài cơ bản, tư tưởng đặc trưng của thơ Tagore (tiêu biểu là thơ trữ tình - tìnhyêu) và những thủ pháp nghệ thuật đặc trưng như: tượng trưng, biểu tượng, kếtcấu trần thuật …

Các bài báo, ý kiến nhận xét, đánh giá đáng chú ý trong những công trình

nghiên cứu của các nhà thơ, các nhà nghiên cứu trên thế giới về Tagore: “Lịch

sử văn minh  n Độ” - Will Durant, “Cảm tưởng  n Độ” - I.Ehrenburg, “Ảnh hưởng của R Tagore đối với thơ ca hiện đại  n Độ”- V.K.Gokak, “Lời đánh giá Thơ Dâng”- W.B.Yeats…

Những tìm hiểu, phát hiện, đánh giá này đã khái quát sự nghiệp thơ

Tagore, trong đó tập trung nhiều nhất vào “Thơ Dâng” - Tập thơ trữ tình triết lý

được giải thưởng Nobel năm 1913

Trong cuốn “Tự thuật” (M Gandhi) có viết: “Tác phẩm của Tagore nhất

là thi ca vẫn còn sống mãi trong tâm hồn nhân loại đang chiến đấu cho một thế giới đại đồng Chúng ta phải lấy làm vinh dù khi nhắc tới Tagore không chỉ bây giờ mà còn về mai hậu nữa”.

Trang 4

Với tựa đề “Tagore với chúng tôi”, cuốn sách “Mười nhà thơ thế kỉ” của Nira Chandhuri đã khẳng định: “Thơ Tagore là thơ tôn giáo, nhưng là tôn giáo của con người”, là thơ nói về tình yêu Chúa.

Ở Việt Nam:

Việc nghiên cứu Tagore đang còn mới mẻ và chưa nhiều R.Tagore được

biết đến ở Việt Nam từ 1924, qua một số bài báo ngắn đăng trên “Nam Phong tạp chí” các số 84, 85, 86 như: “Nhà đại thi sĩ Â n Độ - R Tagore” của Trương Thúc Đình; “Ông Tagore đối với văn minh Thái - Tây” của Maurice Croiset

(Hoa Đường dịch), … Đây là những bài báo xuất hiện sớm, nhưng là các bài báo

có tính chất nhận xét chung về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác văn học nghệ thuậtcủa Tagore và đả kích tinh thần chống Đế quốc của ông

Năm 1924, trong chuyến đi vòng quanh thế giới Tagore đã ghé thăm ViệtNam trên chiếc tàu Angers ngày 21/06/1929 tại Sài Gòn Các báo chí ở Sài Gòn

đã đăng tải những bài giới thiệu về cuộc đời, tư tưởng và sự nghiệp văn học của

Tagore và chọn dịch những bài thơ tiêu biểu trong “Thơ Dâng” , “Người làm vườn”, “Trăng non”…

- Báo “Phụ nữ Tân văn” sè 9 (4/7/1929) trích dịch bài 27 và 31 là 2 bài thơ hay trong “Người làm vườn” từ tiếng Pháp, theo thể văn xuôi, cùng lời nhận xét: “Dệt vải chắc là thi sĩ không sành , chớ dệt lên những câu cẩm tú thì hay lắm, khéo cho đổi ông là người á Đông lần thứ nhất được phần thưởng Nobel.

- Bách khoa sè 56, 57/1959, bài kí sự của Đông Hồ: “Thư kí viện hàn lâm  n Độ K.E Kripalani tiếp xúc với thi sĩ Đông Hồ để hỏi về kỉ niệm thi hào R.Tagore” Nhà thơ Đông Hồ đã ghi lại những cảm xúc chân thành, sự quý trọng

và ngưỡng mộ của ông đối với Tagore, đồng thời nêu bật nét đặc trưng thơ

Tagore là nhạc điệu: “Thơ Tagore là nhạc, mỗi bài thơ là một bản nhạc… Tagore muốn làm thơ bắt đầu thử ghi nhận âm điệu trước rồi mới tìm lời nh là nhạc sĩ phổ nhạc”

Trang 5

Trước 1975, ở miền Nam, các tập thơ tiêu biểu của Tagore được dịch vàgiới thiệu khá rộng rãi Các dịch giả: Phạm Hồng Dung, Phạm Bích Thuỷ

(“Trăng non”), Đỗ Khánh Hoan (“Tâm tình hiến dâng”, “Lời Dâng”, “Tặng vật”) Cả 4 tập thơ này được tái bản tại Nxb Đà Nẵng

Trong lời giới thiệu tập “Trăng non”, dịch giả Phạm Hồng Dung, Phạm

Bích Thuỷ đã khẳng định sự nghiệp thơ ca là đồ sộ, vĩ đại hơn cả trong gia tài

văn học nghệ thuật của Tagore “Thơ Tagore là tiếng hát Đông phương bất tuyệt, là linh hồn của châu Á bình dị, mênh mang, là nỗi khắc khoải, là niềm hoan lạc đời đời của cuộc sống”.

Trong lời giới thiệu tập thơ “Tặng vật”, dịch giả Đỗ Khánh Hoan đưa ra nhận xét: “Thơ Tagore là sự kết hợp tài tình hai luồng tư tưởng Đông - Tây với những rung động tinh tế trẻ trung”.

Những năm 60 của thế kỉ XX, đặc biệt từ 1961, điểm mốc quan trọngđánh dấu sự khởi đầu của quá trình nghiên cứu, giới thiệu về Tagore ở ViệtNam Kỉ niệm 100 năm ngày sinh Tagore, ở miền Bắc, nhiều tác phẩm thơ, kịch,truyện ngắn của ông được giới thiệu qua bản dịch của nhà nghiên cứu Ên Độ:Cao Huy Đình, Xuân Diệu, La Côn, Yến Lan, Đào Xuân Quý… Bên cạnh hìnhthức thơ - văn xuôi, các dịch giả còn sử dụng thể thơ tự do để dịch thơ củaTagore và nhiều bài đã được đưa vào giảng dạy trong SGK phổ thông, giáo trìnhđại học, tài liệu tham khảo

Năm 1984, GS Lưu Đức Trung cho xuất bản cuốn giáo trình “Văn học Ên Độ”-Nxb Giáo Dục Năm 1989, lại xuất bản cuốn “Văn học Ên Độ - Lào - Campuchia” Năm 1997, cuốn “Văn học Ên Độ” được tái bản có bổ sung, chỉnh

lý Đây là cuốn giáo trình dành cho bậc Cao đẳng, Đại học S Ph¹m, Khoa học Xãhội và Nhân văn, đã xem xét thơ Tagore như là một trọng tâm học tập, giảng dạy

và nghiên cứu

Luận án Tiến sĩ “Chất trí tuệ trong thơ Tagore” (1983) của Trương Huệ

Chi đã coi chất trí tuệ là một trong những nét nổi bật của hình tượng thơ Tagore

Trang 6

Đồng thời khẳng định: “Thơ Tagore là thơ tình tư tưởng, chứ không phải là thơ tôn giáo, siêu hình , thần bí”.

Luận án Thạc sĩ “Tìm hiểu thi pháp tượng trưng trong thơ Tagore”, 1984 của Lê Minh Thanh cho rằng: “Tượng trưng là thư pháp nghệ thuật hữu hiệu để Tagore miêu tả hiện thực”.

Ngoài ra còn có rất nhiều bài viết chuyển tải trên các tạp chí chuyên

ngành, các báo diễn đàn, hội thảo, kỉ yếu khoa học như: “120 năm Tagore đã ra đời” (Xuân Diệu - báo Nhân dân, 08/05/1981) nhận xét về nhạc điệu thơ Tagore

là nhạc điệu du dương, trầm bổng, triết lý “Trong khi đọc Người làm vườn tình ái” (Xuân Diệu - Báo Văn nghệ số 21, ngày 14/05/1981) khẳng định: Tagore là thi sĩ của tình yêu, luôn khát khao hướng tới cái vô biên tuyệt đích, đã đi tìm chân lý tình yêu cuộc sống ngay trong thực tại “Tagore-nhà thơ trí tuệ muôn màu” (Đào Xuân Quý-báo Văn nghệ số 21,1981) nhận định: Chất trí tuệ trong thơ Tagore là sự sáng tạo độc đáo các hình tượng thơ “Tinh thần nhân đạo chủ nghĩa trong thơ Tagore” (Cao Xuân Đỉnh, 1985, Tạp chí Văn học số 8): Tagore

đưa ra định nghĩa riêng về tình yêu, thể hiện truyền thống Ân Độ, vừa là sự cáchtân của thơ lãng mạn phương Tây tình yêu lứa đôi là tình yêu cuộc đời

Mỗi bài viết có cách phân tích, đánh giá khác nhau nhưng đều thống nhất

ở chủ đề: Trái tim tình yêu là những ước mơ, khát khao muốn được hiến dâng vàtìm hiểu

Như vậy, qua phần nghiên cứu lịch sử vấn đề, chúng tôi nhận thấy: sựnghiệp thơ ca của Tagore, đặt trong tổng thể sự nghiệp văn học nói chung, đượccác nhà Ên Độ học, các học giả trên thế giới xem xét, đánh giá từ nhiều góc độnhưng mới chỉ dừng lại ở những lời giới thiệu, những đánh giá chung hơn làchuyên sâu ở từng mảng nội dung Vấn đề các nhà nghiên cứu quan tâm chủ yếutập trung ở giá trị nội dung tư tưởng và cảm hứng Tôn giáo trong các tập thơ củaTagore chứ chưa có những công trính nghiên cứu riêng về loại thơ trữ tình - tình

Trang 7

yêu của Tagore dưới góc độ THTM Vì vậy, thơ Tagore vẫn mãi là một niềmhấp dẫn đối với giới nghiên cứu và đông đảo bạn đọc khắp nơi trên thế giới

Trang 8

III ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI KHỐI LIỆU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.

1 Đối tượng nghiên cứu:

THTM được sử dụng trong các tác phẩm văn học thuộc mọi thể loại, ở mọithời kì Chuyên đề này chỉ nghiờn cứu chúng trong thơ trữ tình - tình yêu Tagore.Bên cạnh đú, cỏc TH từ hiện thực có rất nhiều loại để trở thành THTM Vì thế,

chuyên đề của chúng tôi chỉ nghiên cứu THTM “Trái tim” trong tập “Tâm tình hiến dâng” của Tagore vì phạm vi của chuyên đề không cho phép đi sâu.

2 Phạm vi khối liệu nghiên cứu

Trong chuyên đề này chúng tôi chỉ khảo sát thơ trữ tình - tình yêu của

Tagore trong tập “Tâm tình hiến dâng”(gồm 85 bài).

Ngoài ra, để đối chiếu và so sánh, chúng tụi còn khảo sát các tập thơ khác của

Tagore như tập “Tặng vật” và thơ của các tác giả khác như: Puskin, H Heine…

3 Nhiệm vụ nghiên cứu.

3.1 Hệ thống hóa, bổ xung thờm cỏc ý kiến về THTM có trong một sốcông trinh nghiên cứu

3.2 Vận dụng cỏc lớ thuyết về THTM vào miêu tả các THTM bắt nguồn

từ hiện thực cả về hình thức mà quan trọng nhất là về YNTM để từ đó tìm hiểucác THTM đã phục vụ như thế nào cho những đặc tính chung về tư tưởng nghệthuật, về phong cách của cỏi Tụi trữ tình Tagore

3.3 Dựa trên những kết quả đã nghiên cứu, chúng tôi muốn gợi ra mộtphương hướng vận dụng lí thuyết về THTM vào phân tích thơ trữ tình - tình yêu

Tagore, nhất là THTM “Trái tim” trong tập “ Tâm tình hiến dâng”.

4 Phương pháp nghiên cứu:

4.1 Trên cơ sở tổng hợp những ý kiến của tác giả về những vấn đề lýthuyết mới của ngôn ngữ học hiện đại, những thành tựu của những liên ngànhnghiên cứu về ngôn ngữ trong tác phẩm văn học, chúng tôi cố gắng phác họamột cách hiểu về THTM, cách tiếp cận một THTM trong văn học

Trang 9

4.2 Chúng tôi sử dụng một số phương pháp cụ thể của ngôn ngữ nhưnhững thao tác bắt buộc phải tiến hành trong nghiên cứu hệ thống ngôn ngữ củatác phẩm: phương pháp thống kê, phân loại, phân tích, so sánh cỏc nột nghĩa.

4.3 Ngoài ra, chúng tôi phối hợp sư dụng phương pháp lịch sử - phươngpháp đặc thù trong nghiên cứu văn học vào xem xét tiến trình vận động của cácTHTM trong lịch sử văn học để từ đó có thể hóa giải, đánh giá các giá trị văn

học mà THTM “Trái tim” trong thơ Tagore mang tới một cách khách quan.

IV CÁI MỚI CỦA CHUYÊN ĐỀ

Cái mới của chuyên đề không phải là ở việc đặt ra lí thuyết về THTM mà

là ở việc bổ sung thêm vào lí thuyết đó Vấn đề cần phân tích rõ là những ưu thế,

những hạn chế của THTM “Trái tim” đặt trong hệ thống các ngành nghệ thuật Ở

đây là chỉ ra những mặt mạnh, mặt yếu của THTM - văn chương Cái mới chủyếu của chuyên đề là việc vận dụng những lí thuyết trên vào tìm hiểu THTM

“Trái tim” trong thơ trữ tình – tinh yêu của Tagore, một lĩnh vực chưa được

- Chương I: Tín hiệu thẩm mĩ (gồm 5 trang)

- Chương II: Tín hiệu thẩm mĩ “Trái tim” qua tập “Tâm tình hiến dâng” của

R.Tagore (gồm 6 trang)

C Phần kết luận (gồm 1 trang)

Trang 10

B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: TÍN HIỆU THẨM MĨ

1 Phải có một hệ thống cảm tính (cái biểu hiện )

2 Phải có một nội dung ý nghĩa (cái được biểu hiện )

3 Phải được nhận thức bởi một chủ thể nào đó (đối tượng thông tin)

TH mà mối quan hệ CBH và CĐBH là hoàn toàn võ đoán Loại TH này sẽ mất

tư cách nếu không có cỏi lớ giải

Thư hai: tuỳ theo đặc điểm về thể chất cuả TH Theo đú, cú TH màu sắc,

TH âm thanh, TH cảnh báo giao thông, TH ngôn ngữ, TH âm nhạc,…Mặt thểchất của TH văn chương chính là TH ngôn ngữ, một thể loại TH đặc biệt Nó thểhiện trờn cỏc phương diện: CBH và CĐBH có quan hệ võ đoàn với nhau, CBHcủa TH có tính hình tuyến dẫn đến các đơn vị ngôn ngữ có quan hệ ngữ đoạn vớinhau, có quan hệ cấp đọ với nhau, có tính đa trị, tính độc lập… Tất cả các đặctính này của TH ngôn ngữ sẽ chi phối tác động toàn diện đến TH văn chương

Trang 11

Bước vào thế giới nghệ thuật, TH thông thường sẽ chuyến hoá thành THTM,

mang những đặc thù của nghệ thuật, tiêu biểu một cách chung nhất, “THTM là yếu tố thuộc hệ thống các phương tiện biểu hiện của nghệ thuật”.

3 THTM cần có các điều kiện:

1 CBH: nghệ thuật

2 CĐBH: ý nghĩa thẩm mĩ (YNTM)

3 Chủ thể sáng tạo: thế giới phát ngôn, tạo ngôn - tác giả

thế giới tiếp nhận, thụ ngôn - công chúng

4 Thuộc về một hệ thống THTM nhất định

4 Cần phân biệt TH và kí hiệu

Kí hiệu: thiên về hình thức biểu hiện, nhẹ về lượng tin, giữa người phát vàngười nhận có sự thống nhất chặt chẽ về CĐBH, lượng tin của nó chỉ có tính đơntrị - cho ra một ý nghĩa duy nhất, ổn định, không được phát triển nữa Thuật ngữ

kí hiệu hay sử dụng trong lĩnh vực khoa học tự nhiên – kĩ thuật

TH nặng về tải tin, về giao tiếp, lượng tin – CĐBH chưa được định hìnhtuyệt đối mà có tính chất đa trị, còn tiếp tục mở rộng phát triển, sự thống nhấtnhau về CĐBH của TH giữa người phát - người nhận chỉ có tính tương đối Mức

độ võ đoán trong quan hệ giữa CBH và CĐBH ở “TH” là cao hơn

Theo cách hiểu này, tôi thấy: “biểu trưng”, “biểu tượng” gần với TH hơn

kí hiệu và thuật ngữ “TH” thường hay được sử dụng trong các ngành khoa học

xã hội

Trên cơ sỏ các ý kiến, tôi xin đề xuất định nghĩa có tính tác nghiệp vềTHTM: THTM là TH thuộc hệ thống các phương tiện biểu hiện của cá ngànhnghệ thuật, bao gồm những yếu tố của hiện thực, của tâm trạng (những chi tiết,

sự vật, hiện tượng, cảm xỳc,… thuộc đời sống hiện thực và tâm trạng), nhữngyếu tố của chất liệu (các yếu tố của chất liệu ngôn ngữ văn chương; các yếu tốcủa chất liệu màu sắc hội hoạ, âm thanh,…) được lựa chọn và sáng tạo trong tácphẩm nghệ thuật vì mục đích thẩm mĩ

Trang 12

tố đó đều có thể trở thành THTM khi được nghệ sĩ lấy làm chất liệu để xây dựngnờn cỏc hình tượng nghệ thuật.

THTM cũn cú nguồn gốc từ các sự kiện ngôn ngữ, trong đó cú cỏc vấn đềnhư từ địa phương dung như một THTM, một lời kêu gọi khẩn cầu,…Ngoài racòn thấy những yếu tố ngôn ngữ như tiếng, âm, vần, thanh, nhịp điệu câu văn;cấu trúc ngữ pháp câu (trật tự đảo, tỉnh lược…)… xuất hiện trong tác phẩm vănhọc cúng với tư cách như những THTM với điều kiện là tất cả các yếu tố đó đềuphải phục vụ cho một tư tưởng thẩm mĩ nhất định

2 Tính cấp độ.

THTM có những cấp độ đơn vị khác nhau Căn cứ vào sự tương ứng củaTHTM với các sự vật hiện tượng trong thế giới hiện thực, tác giả Đỗ Hữu Châuphân biệt THTM ở hai cấp độ cơ bản:

2.1 Cấp độ cơ sở:

THTM ứng với một yếu tố, một chi tiết, một sự vật hiên tượng thuộc thế giớikhách quan: mặt trời, gió, nỗi buồn,… Đó là các TH đơn (hay TH cơ sở) có chứcnăng tham gia cấu tạo nên THTM ở cấp độ cao hơn trong tác phẩm Cái biểu hiện -

TH ở cấp độ cơ sở này có thể tương ứng với đơn vị từ trong TH ngôn ngữ

2.2 Cấp độ xây dựng:

Trang 13

THTM ứng với nhiều sự vật, hiên tượng…Được xây dựng từ những THđơn nhưng ý nghĩa không phải là kết quả của phép cộng đơn giản các TH đơn.CBH - TH ở cấp xây dựng này có thể tương ứng với các đơn vị câu, đoạn, vănbản trong hệ thống các TH ngôn ngữ.

3 Tính tác động.

Đặc tính này thể hiện ngay ở bản chất của TH là một “kích thích vật chất”

tác động lờn kớ ức chủ thể tiếp nhận làm hình thành lên những hình tượng nghệthuật có sức mở rộng lan toả đến vô cùng

Bên cạnh đó, đặc tính này còn thể hiện chức năng giao tiếp nghệ thuật củaTHTM Bao giờ THTM cũng nhằm hướng tới một (hoặc nhiều) chủ thể tiếpnhận nhất định Sự tác động của xung đột TH đem lại hiệu quả cho giao tiếp,làm biến đổi trong chủ thể tiếp nhận tư tưởng, tình cảm, cảm xỳc,…

Bởi vậy, lí giải , một THTM nào đó, ta vừa lí giải thế giới phát ngôn, vừa

lí giải phương tiện phản ánh và một điều quan trọng là vừa lí giải thế giới tiếpnhận Vì thế hiểu sự tác động của THTM chỉ có tính tương đối

4 Tính biểu hiện (Tính thông tin – miêu tả).

Là đặc tính quan trọng liên quan đến sự thực hiện chức năng nghệ thuật:chức năng phản ánh hiện thực Tức là phải có thuộc tính thông tin - biểu hiện.THTM phải mang những nội dung hiện thực, gắn với hiện thực, thông qua phảnánh mà các hình thức vật chất cung cấp cho con người những thông tin nhấtđịnh Nếu không có thuộc tính thông tin này thì Th se không có giá trị.M.B.Khrapchencụ cho rằng: THTM phải có chức năng thay thế (thay thế chonhững sự vật hiện tượng trong thực tế Còn theo Đỗ Hữu Châu, THTM phải cóvật qui chiếu từ thế giới hiện thực Sự biểu hiện hiệ thực của THTM nói chung

đều dựa trên năng lực miêu tả, thay thế,“dẫn nhập” các sự vật, hiện tượng, các

phạm vi khác nhau của đời sống vào trong tác phẩm, của những phương tiện vật

Trang 14

chất được sử dụng Trong văn học, đó là những từ ngữ, những kết cấu mang nộidung biểu vật, biểu niệm gắn với hiện thực… phản ánh trình độ nhận thức, nănglực cảm xúc của con người Trình độ nhận thức, lại là một quá trình vân độngthay đổi không ngừng Bởi vậy, kết quả biểu hiện ở THTM cũng không phải làđại lượng bất biến.

5 Tính biểu cảm (bộc lộ).

THTM là sản phẩm của lao động nghệ thuật - lao động trong trạng tháicảm hứng cao độ Bởi thế, ngoài những thông tin miêu tả thực hiện chức nănggiao tiếp, nú cũn phải bao hàm những thông tin về cảm xúc, về thái độ, về sựđánh giá, về tư tưởng thẩm mĩ… của người nghệ sĩ - thực hiện chức năng thẩm

mĩ (chức năng nghệ thuật - hình tượng) Trong THTM, cảm xúc vốn là cái chủquan của chủ thể sáng tạo đã được khách quan hoá thành một thành phần quantrọng của cơ cấu ngữ nghĩa THTM Nó có khả năng gợi sự đồng cảm của ngườitiếp nhận là vì thế

6 Tính biểu trưng.

Là đặc tính của THTM xét trong mối quan hệ hai mặt cái biểu hiên và cái

được biểu hiện Đó là mối quan hệ “cú lí do”, liên quan đến năng lực biểu trưng

hoá của các yếu tố, các chi tiết, các sự vật hiện tượng được đưa vào làm THTMtrong tác phẩm

Đặc tính này có liên quan đến một khả năng của THTM là nó vừa có tính chấtbiểu thị (chỉ ra, nói lên một cái gì), vừa có tính chất hàm nghĩa (là sự gia tăngthêm nghĩa trên một nghĩa có sẵn)

7 Tính truyền thống và cách tân (vấn đề “cỏi mới” của THTM).

Tính truyền thống của THTM được thực hiện ở những thông tin - ngữnghĩa của nó đã được “kớ mà sẵn” trong kho tang nghệ thuật của một dân tộc

Trang 15

trong việc sử dụng THTM ở mỗi tác giả, tác phẩm Hai mặt này có quan hệ biệnchứng hữu cơ với nhau trong một THTM Bằng cách xác lập quan hệ gần gũitương đồng giữa những phương tiện phương thức cảm nhận và biểu đạt thế giớicủa THTM với các truyền thống, các thủ pháp nghệ thuật quen thuộc lâu đời củanghệ thuật dân tộc, ta có thể tìm thấy những nhân tố làm nên cỏi nột riờng độcđáo của mỗi THTM, của mỗi tác phẩm văn học.

Cái mới trong sử dụng THTM của các tác giả có thể là việc xây dựng mộtTHTM hoàn toàn mới, nhưng chủ yếu vẫn là ở sự cách tân các THTM, ở việcđổi nới các THTM có sẵn trong truyền thống, đem lại cho chúng những ý nghĩamới - những ý nghĩa chỉ có được thông qua sự sáng tạo của tác giả trong chính

hệ thống riêng mà THTM tham gia

8 Tính hệ thống.

Khi phân tích các đặc tính trên kia của THTM, tụi đó ít nhiều đề cấp đếntính hệ thống của nó - đặc tính quan trọng nhất của TH, THTM

Là THTM có nghĩa là TH đó phải thuộc về một hệ thống nhất định, chịu

sự chi phối của những yếu tố khác trong hệ thống thông qua những mối quan hệnhất định

Hệ thống của THTM trước hết chính là tác phẩm – “môi trường” tồn tại

của nú.Cỏc mối quan hệ hệ thống tạo ra giá trị của THTM bao gồm hai mặt: cácquan hệ nội tại - giữa TH với những TH cũng xuất hiện trong tác phẩm thực hiệnnhững chức năng hướng nội; và các quan hệ ngoại tại - giữa TH với những yếu

tố thuộc “môi trường” của sự hoạt động giao tiếp nghệ thuật với hiện thực cuộc

sống, với thế giới phát ngôn, thế giới tiếp cận… nhằm thực hiện các chức nănghường ngoại Giá trị của THTM sẽ là kết quả tổng hoà của các mối quan hệtrong một đơn vị cấu trúc - chức năng cụ thể

Tính hệ thống của THTM còn thể hiện qua các mối quan hệ ngoại tại giữa

hệ thống mà TH tồn tại vơi các hình thức khác có liên quan Nói khác đi, tính hệ

Ngày đăng: 18/12/2014, 00:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w