Như vậy, ca từ trong âm nhạc cũng có thể được xem như ngôn ngữ văn học, mang các đặc trưng của ngôn ngữ văn học, vì thế việc giải mã các tín hiệu thẩm mĩ trong ca từ âm nhạc cũng là một
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRẦN THỊ LAN
ĐẶC ĐIỂM TÍN HIỆU THẨM MĨ THIÊN NHIÊN
TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS TRƯƠNG THỊ NHÀN
Đà Nẵng, Năm 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
TRẦN THỊ LAN
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Bố cục của luận văn 4
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 5
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 14
1.1 TÍN HIỆU THẨM MĨ 14
1.1.1 Khái niệm tín hiệu, tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu thẩm mĩ 14
1.1.2 Đặc điểm của tín hiệu thẩm mĩ 18
1.1.3 Phương tiện ngôn ngữ của tín hiệu thẩm mĩ 24
1.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA CA TỪ VÀ THƠ CA 26
1.3 VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ TRỊNH CÔNG SƠN VÀ CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN 29
1.3.1 Trịnh Công Sơn- người du ca qua mọi thời đại 29
1.3.2 Ca từ Trịnh Công Sơn 30
1.4 TIỂU KẾT 32
CHƯƠNG 2 CÁC HÌNH THỨC NGÔN NGỮ BIỂU ĐẠT TÍN HIỆU THẨM MĨ THIÊN NHIÊN TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN 33
2.1 THỐNG KÊ VÀ PHÂN LOẠI 33
2.1.1 Tiêu chí thống kê và phân loại 33
2.1.2 Kết quả thống kê và phân loại 34
2.2 SỰ MIỂU TẢ VÀ CỤ THỂ HÓA CÁC TÍN HIỆU THIÊN NHIÊN HẰNG THỂ TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN 36
Trang 42.2.1 Các hình thức miêu tả tín hiệu thiên nhiên hằng thể trong ca từ
Trịnh Công Sơn 37
2.2.2 Các hình thức miêu tả các nhóm tín hiệu thiên nhiên hằng thể trong ca từ Trịnh Công Sơn 39
2.3 CÁC KIỂU KẾT HỢP TÍN HIỆU – TÍN HIỆU 53
2.3.1 Kết hợp trong một kết cấu chủ - vị 53
2.3.2 Kết hợp trong một kết cấu sóng đôi 58
2.4 TIỂU KẾT 61
CHƯƠNG 3 GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA CÁC TÍN HIỆU THẨM MĨ THIÊN NHIÊN TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN 63
3.1 GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CHUNG CỦA CÁC THTM THIÊN NHIÊN 63
3.1.1 Bức tranh thiên nhiên trong ca từ Trịnh Công Sơn 63
3.1.2 Thế giới nội tâm của người nghệ sĩ 73
3.2 GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA CÁC THTM THIÊN NHIÊN TIÊU BIỂU TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN 83
3.2.1 Mưa 83
3.2.2 Nắng 86
3.2.3 Sông 88
3.3 TIỂU KẾT 91
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
PHỤ LỤC.`
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
2.1 Tần số xuất hiện của các nhóm TH thiên nhiên 35
2.2 Tần số xuất hiện của các nhóm từ ngữ miêu tả
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Tín hiệu thẩm mĩ là phương tiện biểu hiện của nhiều loại hình nghệ
thuật khác nhau Cho dù là âm nhạc, hội họa hay văn chương thì người thưởng thức luôn muốn giải mã được một cách đầy đủ và đúng đắn các tín hiệu thẩm mĩ để khám phá và cảm nhận cái hay, cái đẹp của tác phẩm Đặc biệt, đối với tác phẩm văn học, khi nghiên cứu nó từ bình diện ngôn ngữ thì tín hiệu thẩm mĩ là một trong những con đường quan trọng nhất để chúng ta tiếp cận với những giá trị cốt lõi trong nội dung văn bản
Thông qua cách sử dụng ngôn ngữ của các tác giả, các yếu tố hiện thực trở thành tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn học Những tín hiệu đặc biệt ấy vừa biểu thị hiện thực khách quan của đời sống được chuyển tải vào tác phẩm lại vừa diễn đạt giá trị thẩm mĩ – giá trị tác động đến chiều sâu tâm hồn con người và khơi gợi những rung động về cái đẹp của hiện thực cuộc sống Vì vậy, ngôn ngữ văn học luôn gắn liền với phẩm chất thẩm mĩ, dù nó cũng xuất phát từ đời sống nhưng nó phải vượt lên những giá trị, chuẩn mực của ngôn ngữ thông thường Nhà nghiên cứu Đào Thản từng cho rằng luôn có một vực thẳm không vượt qua được giữa cách dùng ngôn ngữ hàng ngày và ngôn ngữ
của các nhà văn Cái vực thẳm mà tác giả nói đến ở đây chính là những bí mật
ẩn giấu đằng sau bề mặt các câu chữ mà cụ thể hơn là các tín hiệu thẩm mĩ được biểu đạt bằng ngôn ngữ Phải vượt qua cái vực thẳm ấy thì chúng ta mới
có thể khám phá được những thông điệp tác giả gửi gắm trong tác phẩm Điều
đó cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của việc nghiên cứu, giải mã tín hiệu thẩm mĩ trong việc tiếp cận tác phẩm văn chương
Tuy nhiên, giá trị của tín hiệu thẩm mĩ được biểu đạt bằng ngôn ngữ không chỉ được ghi nhận trong các tác phẩm văn chương mà còn được thể
Trang 7hiện rõ nét trong âm nhạc Bởi vẻ đẹp của một ca khúc chính là sự kết hợp giữa giai điệu và ca từ Hai đặc tính này song song tồn tại không tách rời nhau
và đều có những hệ thống tín hiệu thẩm mĩ riêng để chuyển tải giá trị và ý nghĩa của nó Trong đó, những tín hiệu thẩm mĩ của phần ca từ trong một nhạc phẩm cũng được biểu đạt bằng ngôn ngữ Bởi nói đến ca từ là nói đến mặt lời của âm nhạc, và những lời hát đó cũng không phải là thứ ngôn ngữ giản dị, mộc mạc thông thường mà phải là một ngôn ngữ giàu hình ảnh, màu sắc, trữ tình và lãng mạn, hay ca từ trong âm nhạc chính là lời thơ Như vậy,
ca từ trong âm nhạc cũng có thể được xem như ngôn ngữ văn học, mang các đặc trưng của ngôn ngữ văn học, vì thế việc giải mã các tín hiệu thẩm mĩ trong ca từ âm nhạc cũng là một vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu để những giai điệu, những lời hát có thể khơi gợi những cảm xúc đẹp đẽ từ cảm nhận của người nghe
1.2 Hầu hết tác phẩm âm nhạc nào cũng có ca từ, đó là thứ dùng để
chuyển tải thông điệp nội dung tới người nghe và thể hiện cái nhìn tinh tế và lãng mạn của người nhạc sĩ về bức tranh đời sống, về những cung bậc cảm xúc của con người Trong các nhạc sĩ Việt Nam, Trịnh Công Sơn được xem là một trong những người viết ca từ hay nhất, ông là người đã biến ngôn ngữ ca
từ thành ngôn ngữ thơ của nhạc Đối với một tác phẩm âm nhạc, phần nhạc vô cùng quan trọng bởi giai điệu là cái tác động mạnh mẽ nhất đến thính giác người nghe Nhưng với âm nhạc của người nhạc sĩ tài hoa này, thật khó mà so sánh được giữa phần nhạc với lời cái nào quan trọng hơn, thậm chí nhiều người còn nhận định ca từ là phần quan trọng nhất và được yêu thích nhất trong các nhạc phẩm của ông Sở dĩ có điều đặc biệt đó là vì chất thơ trong ca
từ của Trịnh Công Sơn, đối với ông mỗi phần lời trong một nhạc phẩm có thể xem như một bài thơ và ông được nhiều nhà nghiên cứu, nhà văn, nhạc sĩ đánh giá là một nhà thơ lớn Tài năng ấy đã biến phần ca từ Trịnh Công Sơn
Trang 8thành ngôn ngữ thơ ca, ngôn ngữ văn chương đích thực Vì vậy để khám phá hết vẻ đẹp của nó thì chúng ta cũng phải quan tâm đến hệ thống các tín hiệu thẩm mĩ mà Trịnh Công Sơn sử dụng trong các nhạc phẩm của mình
Nội dung phần ca từ trong các sáng tác của ông chủ yếu đề cập đến các vấn đề quê hương, thân phận và tình yêu Và gắn liền với tất cả các đề tài ấy
là một hiện thực đời sống được tái hiện thông qua cái nhìn tinh tế, độc đáo của Trịnh Công Sơn mà nổi bật nhất là bức tranh thiên nhiên nhiều màu sắc Thiên nhiên trong ca từ Trịnh Công Sơn vừa là một tín hiệu thẩm mĩ khơi gợi
sự đồng cảm đồng thời thiên nhiên là đồng hiện của quê hương, thân phận và tình yêu Vì vậy, nếu chúng ta khám phá được bức tranh thiên nhiên xinh tươi
mà huyền bí ấy thì chúng ta sẽ có cái nhìn đúng đắn hơn về những ý nghĩa triết lí vừa gần gũi, giản đơn lại vừa sâu sắc mà ông gửi gắm vào các nhạc phẩm của mình
Từ những lí do trên, chúng tôi đi vào tìm hiểu đề tài: Đặc điểm tín hiệu thẩm mĩ thiên nhiên trong ca từ Trịnh Công Sơn
2 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn sẽ góp thêm phần lí luận vào việc tìm hiểu về tín hiệu thẩm
mĩ và việc tìm hiểu, tiếp nhận ca từ của các nhạc phẩm dưới góc nhìn tín hiệu thẩm mĩ, đưa lại hệ thống lí luận tiếp nhận ca từ trong nhạc Trịnh Công Sơn dưới cái nhìn khoa học ngôn ngữ
Bên cạnh đó, luận văn làm sáng tỏ những đặc điểm về tín hiệu thẩm mĩ trong ca từ của một nhạc sĩ lớn trong nền âm nhạc Việt Nam và góp phần làm sáng tỏ đặc điểm ngôn ngữ của phần lời ca trong các tác phẩm âm nhạc Từ
đó, đề tài Đặc điểm tín hiệu thẩm mĩ thiên nhiên trong ca từ Trịnh Công Sơn
sẽ giúp cho người nghe và những người nghiên cứu về nhạc Trịnh Công Sơn
có thêm hướng tiếp cận mới mang tính khoa học về nội dung của các văn bản
Trang 9ca từ trong nhạc phẩm của ông và cảm nhận đúng đắn hơn những ý nghĩa, thông điệp mà nhạc sĩ gửi gắm trong tác phẩm
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Đặc điểm tín hiệu thẩm mĩ thiên nhiên trong ca từ Trịnh Công Sơn trên các mặt: các hình thức biểu đạt và giá
trị nội dung của các hình thức biểu đạt
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Để làm rõ đối tượng nghiên cứu chúng tôi khảo sát các nhạc phẩm của
Trịnh Công Sơn thông qua tuyển tập: Trịnh Công Sơn – Tuyển tập những bài
ca không năm tháng, NXB Âm nhạc, 2008 (127 nhạc phẩm)
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài Đặc điểm tín hiệu thẩm mĩ thiên nhiên trong ca từ Trịnh Công Sơn, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu
sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại: Luận văn tiến hành thống kê tần số
xuất hiện của các tín hiệu thẩm mĩ thiên nhiên trong mọi hoàn cảnh xuất hiện của chúng dưới dạng hằng thể - biến thể và các yếu tố ngôn ngữ khác cùng xuất hiện với các tín hiệu thẩm mĩ này
- Phương pháp phân tích nét nghĩa: khảo sát các nét nghĩa cụ thể trong những từ ngữ được dùng để miêu tả - cụ thể hóa các tín hiệu thẩm mĩ thiên nhiên sau đó tổng hợp và phân loại những nét nghĩa có chung đặc điểm
- Phương pháp phân tích diễn ngôn và ngữ dụng học: phân tích nghĩa của
từ theo ngữ cảnh sử dụng
5 Bố cục của luận văn
Trang 10Đề tài Đặc điểm tín hiệu thẩm mĩ thiên nhiên trong ca từ Trịnh Công Sơn ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của đề tài được chúng tôi
triển khai qua ba chương sau:
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
6.1 Lịch sử nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương
Trước đây, đã từng có thời gian dài các nhà nghiên cứu, phê bình văn học chưa chú trọng đến mối liên hệ giữa ngôn ngữ và văn học khi tìm hiểu các tác phẩm văn chương dù ngôn ngữ là phương tiện của văn học Các nhà ngôn ngữ học chỉ quan tâm đến ngôn ngữ trong cái trật tự của chính nó còn các nhà phê bình văn học lại từ chối mọi cách tiếp cận ngôn ngữ học trong các
sự kiện văn học, kể cả khi đề cập đến những vấn đề thuộc cấu trúc hình thức của ngôn ngữ tác phẩm Điều đó đã gây rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các tầng ý nghĩa trong giá trị nội dung và nghệ thuật của văn chương
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngôn ngữ học hiện đại theo sự vận động đi lên của xã hội, các nhà ngôn ngữ đã bắt đầu mở rộng phạm vi và đối tượng nghiên cứu sang các lĩnh vực ngôn ngữ học ứng dụng,
sự chuyển biến đó cũng được thể hiện rõ nét trong ngôn ngữ văn chương Một trong những lí thuyết mới của ngôn ngữ học hiện đại được vận dụng vào việc nghiên cứu ngôn ngữ văn chương là lí thuyết về tín hiệu
Theo Trương Thị Nhàn – tác giả của luận án Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ các tín hiệu thẩm mĩ – không gian trong ca dao thì trên phạm vi thế giới khái niệm tín hiệu thẩm mĩ (hay ký hiệu thẩm mĩ) ra đời gắn với khuynh hướng cấu
Trang 11trúc trong nghiên cứu mĩ học và nghệ thuật những năm giữa thế kỉ XX với các công trình của Iu.A.Philipiep, M.B.Khrapchenjco Sau đó, những công trình này được đưa vào sử dụng ở nước ta từ những năm 70 qua các bản dịch, cùng với đó là các công trình, bài viết của Hoàng Trinh, Trần Đình Sử, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Lai…, mở đầu cho lĩnh vực nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ trong nền ngôn ngữ nước ta
Ở Việt Nam, người đặt cơ sở nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ là Đỗ Hữu
Châu Trong bài viết Những luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ học các sự kiện văn học, Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Cách tiếp cận văn học của ngôn ngữ
học trước đây xuất phát từ quan điểm thông thường: phương tiện của văn học
là ngôn ngữ, cụ thể hơn là từ, câu, ngữ âm… nghĩa là các sự kiện tự nhiên của các ngôn ngữ tự nhiên Chúng tôi cho rằng không hẳn là như vậy Phương tiện sơ cấp (primaire) của văn học là các tín hiệu thẩm mĩ Nói rõ hơn, đơn vị của phương tiện của văn học là các tín hiệu thẩm mĩ, cú pháp của cái ngôn ngữ - tín hiệu thẩm mĩ này là cú pháp – tín hiệu thẩm mĩ Rồi các tín hiệu thẩm mĩ đó mới được thể hiện bằng các tín hiệu ngôn ngữ thông thường (và
cú pháp thông thường)…” [9, tr 779] Bên cạnh đó, ông còn khẳng định: “Nói một cách tổng quát, các đơn vị ngôn ngữ thông thường là cái biểu hiện của tín hiệu thẩm mĩ và ngữ pháp thông thường là cái biểu hiện của ngữ pháp – tín
hiệu thẩm mĩ” [9, tr 780] Trong công trình của mình, ông còn chỉ ra thực
trạng của quá trình nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ ở Việt Nam: “Cho đến nay, tín hiệu thẩm mĩ được bàn đến nhiều Nhưng tín hiệu thẩm mĩ là gì, có bao nhiêu loại tín hiệu thẩm mĩ (tín hiệu đơn, tín hiệu phức), chức năng của từng loại, nguồn gốc, tính truyền thống và cách tân của tín hiệu thẩm mĩ ra sao đều
là những vấn đề còn bỏ ngỏ” [9, tr 779] Tuy nhiên, những vấn đề ông đưa ra
đã đặt nền tảng cơ sở quan trọng cho quá trình nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ của ngành ngôn ngữ học nước ta sau này
Trang 12Đến luận án Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ các tín hiệu thẩm mĩ – không
gian trong ca dao của Trương Thị Nhàn, tác giả đã xác lập được một hệ thống
các khái niệm, đặc trưng và các điều kiện của tín hiệu thẩm mĩ, tạo ra cơ sở lí
thuyết vững chắc về tín hiệu thẩm mĩ để ứng dụng vào các tác phẩm cụ thể
Trong luận án của mình, tác giả đã đưa ra khái niệm về tín hiệu thẩm mĩ và
đã chỉ ra 9 đặc trưng của tín hiệu thẩm mĩ bao gồm: Tính đẳng cấu, tính tác
động, tính biểu hiện, tính biểu cảm, tính biểu trưng, tính trừu tượng và cụ thể,
tính truyền thống và cách tân, tính hệ thống, tính cấp độ
Trong chuyên đề giảng dạy Cao học của mình, TS Bùi Trọng Ngoãn đã
đề ra hướng tiêp cận tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ thơ với những đặc trưng
cơ bản của tín hiệu thẩm mĩ là: tính hai mặt; tính có lí do, tính giải thích được;
tính đa trị; tính hình tuyến; tính hệ thống và tính cấp độ
Tất cả những công trình nghiên cứu trên đã tạo ra cơ sở lí thuyết vững
chắc để chúng tôi có thể tham khảo và áp dụng vào việc giải mã tín hiệu thẩm
mĩ trong từng tác phẩm văn chương cụ thể
6.2 Lịch sử nghiên cứu ca từ trong âm nhạc Việt Nam nói chung -
trong nhạc Trịnh Công Sơn nói riêng và vấn đề nghiên cứu đặc điểm tín
hiệu thẩm mĩ trong ca từ Trịnh Công Sơn
Tác phẩm hoàn thiện và mang ý nghĩa khoa học lớn nhất nghiên cứu về
vấn đề ca từ trong âm nhạc Việt Nam là chuyên luận Ca từ trong âm nhạc
Việt Nam của tác giả Dương Viết Á Trong chuyên luận của mình ông cho
rằng: “Trong loại hình nghệ thuật âm nhạc, ngoài phần âm thanh đóng vai trò
chính, còn phải dùng đến ngôn ngữ, nói đúng hơn, đó là phần ngôn ngữ văn
học trong âm nhạc (lời ca trong ca khúc, hợp xướng, kịch bản trong nhạc
cảnh, nhạc kịch, tên gọi, tiêu đề của những bài hát, bản nhạc hoặc của từng
chương nhạc ) Tất cả phần ngôn ngữ văn học trong âm nhạc, ta gọi chung
trong một khái niệm: ca từ” [3, tr 112]
Trang 13Trịnh Công Sơn được đánh giá là nhạc sĩ thiên tài của nền âm nhạc Việt Nam, được xem là một nhà thơ lớn với phần ca từ đặc sắc trong những nhạc phẩm của mình Nhưng có lẽ, điều vĩ đại nhất của Trịnh Công Sơn là ông đã gắn kết tài năng thiên bẩm ấy vào một thứ giai điệu và ca từ mộc mạc và gần gũi nhất, có khả năng lay động tâm hồn của mọi tầng lớp, mọi thế hệ, đưa ông trở thành một trong những nhạc sĩ được yêu thích nhất của Việt Nam Vì vậy,
đã có khá nhiều các công trình, các bài viết của các nhà phê bình âm nhạc, các nhạc sĩ và cả những người hâm mộ bình thường viết về ca từ trong sáng tác của ông Tuy nhiên, chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu về tín hiệu thẩm mĩ nói chung và tín hiệu thẩm mĩ thiên nhiên nói riêng trong ca từ Trịnh Công Sơn
Sau đây là một số những công trình, những bài viết nghiên cứu về ca từ trong nhạc Trịnh Công Sơn mà theo chúng tôi là tiêu biểu nhất
Tác giả Bùi Vĩnh Phúc trong tác phẩm Trịnh Công Sơn ngôn ngữ và những
ám ảnh nghệ thuật đã chỉ ra những ám ảnh nghệ thuật được tái hiện trong các sáng
tác của ông như: ám ảnh chiến tranh, ám ảnh về sự cô đơn, ám ảnh về sự phụ rẫy đồng thời phân tích các khía cạnh của thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật Bùi Vĩnh Phúc cũng nhận xét về thế giới ngôn ngữ trong nhạc Trịnh có khả năng
phản ánh không chỉ hiện thực đời sống mà cả những biến chuyển của thời đại:
“Qua thế giới nhạc ngữ của Trịnh Công Sơn, ta thấy rõ anh là một người chứng quan trọng của thời đại Âm nhạc của anh cùng với ngôn ngữ và hình ảnh trong nó
đã đem lại cho chúng ta một cái nhìn rõ nét về giai đoạn mà nó ra đời Và Trịnh
Công Sơn quả thật đã là người sai sử ngôn ngữ một cách tuyệt diệu” [36, tr 35]
Ông còn khẳng định: “Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ, điều đó đã hẳn Nhưng trên
và trước hết, người nhạc sĩ đó lại chính là một thi sĩ tự trong bản chất và trong
cách thế sai sử ngôn ngữ của mình” [36, tr 13]
Trang 14Bích Hạnh với tác phẩm Trịnh Công Sơn, hạt bụi trong cõi thiên thu đã
nghiên cứu hệ thống biểu tượng trong ca từ Trịnh Công Sơn Bằng phương pháp ngôn ngữ học thống kê, chị đã chỉ ra các biểu tượng nghệ thuật tiêu biểu trong
ngôn ngữ Trịnh Công Sơn như: đá – buồn, núi – hẹn, lửa – khát, biển – đợi Hệ thống biểu tượng này được tác giả phân chia từ những mẫu gốc văn hóa: bầu trời, nước, con người, thời gian, âm thanh Tác giả đã đi sâu vào tìm hiểu bản chất sự
tồn tại của các biểu tượng ngôn ngữ trong ca từ Trịnh Công Sơn, ý nghĩa biểu trưng và mức độ khái quát của từng biểu tượng, từ đó tìm hiểu quan niệm nghệ thuật của nhạc sĩ về con người, tình yêu và cõi nhân gian
Trong Trịnh Công Sơn – vết chân dã tràng, tác giả Ban Mai đã tập trung
phân tích vấn đề thân phận tình yêu và con người trong ca từ Trịnh Công Sơn Theo chị, hình tượng con người trong nhạc Trịnh Công Sơn thường gắn liền với nỗi cô đơn, gắn liền với nỗi ám ảnh về những tàn phai của cuộc sống và những dự cảm về cái chết; còn tình yêu trong những ca khúc của ông thường
là tình yêu không hạnh phúc, đó là những mối tình buồn đau một cách lặng lẽ Bên cạnh đó, tác giả cũng đã phân tích yếu tố ngôn ngữ nghệ thuật trong ca từ Trịnh Công Sơn và cho rằng đó là “thứ ngôn ngữ được “ngộ hóa”, kết hợp
một cách độc đáo, mới lạ, mang nhiều ý nghĩa ẩn dụ” [27, tr 117]
Nhạc sĩ Văn Cao – một trong những cây đại thụ của nền âm nhạc Việt Nam hiện đại đã thể hiện sự thán phục nghệ thuật trong ca từ Trịnh Công Sơn
thông qua bài viết Tôi gọi Trịnh Công Sơn là người ca thơ Sở dĩ Văn Cao gọi
như vậy vì ông cảm nhận trong nhạc Trịnh Công Sơn “nhạc và thơ quyện vào
nhau đến độ khó phân định cái nào chính, cái nào là phụ” [34, tr 255] Ông
cũng đã kể lại mối duyên gặp gỡ giữa mình và người nhạc sĩ tài hoa họ Trịnh, đồng thời nhận xét: “Trong âm nhạc của Sơn, ta không thấy dấu vết của âm nhạc cổ điển theo cấu trúc học phương Tây: Sơn viết hồn nhiên như thể cảm
xúc nhạc thơ tự nó trào ra” [34, tr 257] Ông còn dẫn lời nhạc sĩ Nguyễn Xuân
Trang 15Khoát rằng “Trịnh Công Sơn viết dễ như lấy chữ từ trong túi ra” [34, tr 257]
Cái quyến rũ trong nhạc Trịnh Công Sơn, theo Văn Cao là ở chỗ không định tạo ra một trường phái nào, triết lí nào mà vẫn thấm vào lòng người như suối tưới cùng với những lời hay, ý đẹp độc đáo đến bất ngờ
Với Chút thiên thu còn mãi, người bạn tâm giao của Trịnh Công Sơn lúc
sinh thời – nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã có những nhận xét tinh tế về tình khúc của Trịnh Công Sơn Ông cho rằng tình yêu trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn vừa là bài kinh cầu bên vực thẳm làm lay động ý thức về thân phận con người lại vừa chứa đựng tất cả những tâm trạng lo âu của con
người trước đời sống Tuy nhiên, tình yêu ấy đã “làm tươi lại bông hoa đầu
tiên mà con người đã hái, mang theo từ vườn địa đàng, đánh thức cả trời mộng mơ tưởng chừng đã quá xa trong đời người, để đưa những người tình đến ở một lâu đài cổ xưa trong rừng, êm đềm giản dị mà cao sang lạ thường” [34, tr 264]
Khánh Ly – người được xem là ca sĩ hát hay nhất các ca khúc Trịnh Công Sơn đã có rất nhiều bài viết về mối quan hệ tâm giao đặc biệt giữa bà và người nhạc sĩ tài hoa họ Trịnh cũng như nhận xét về thứ âm nhạc lạ kì mà bà
đã thổi vào nó chất liêu trai man mác buồn khi cất lên tiếng hát ấy Trong bài
viết Xin đủ cho một đời Khánh Ly kể về những cảm xúc trong mấy mươi năm cách biệt, đến Bên đời hiu quạnh lại là những hồi tưởng cụ thể về những năm
tháng tuổi trẻ đầy nhiệt tình, trong sáng và lãng mạn với sự gắn bó trong âm
nhạc và tình bạn thân thiết Với Nắng buồn hơn mưa, Khánh Ly đã khẳng
định ý nghĩa tinh thần mà những nhạc phẩm Trịnh Công Sơn mang lại cho đời sống tâm hồn của bà: “Những ca khúc của anh chính là tấm gương soi cho tôi nhìn lại rõ mình, tìm lại được chính mình từ những mất mát Tôi đã được chia
sẻ Được an ủi, nâng đỡ ngay cả trong giây phút phân ly” [34, tr 290] Sức
mạnh tinh thần to lớn ấy bắt nguồn từ mối duyên hội ngộ của người nhạc sĩ và
Trang 16ca sĩ tài hoa đồng thời nó được Khánh Ly cảm nhận qua chính ý nghĩa của từng lời hát khi bà cất lên – dù là thời thanh xuân hay khi mái đầu đã bạc
Tác giả Đỗ Minh Tuấn trong bài viết Một thiền sư du ca đã nhấn mạnh
đến chất thiền và yếu tố tâm linh trong ca từ Trịnh Công Sơn Ông xem nhạc
sĩ họ Trịnh giống như một thiền sư – một thiền sư đã giác ngộ được cái phù
du, tạm bợ của cõi thế nhân gian, đã ý thức được mái nhà dương thế kia thực
chất chỉ là nơi ở trọ của kiếp người hữu hạn, trước khi họ biến thành hạt bụi
chìm vào cõi hư vô Tuy nhiên, nơi chốn mà loài người ở trọ ấy lại chính là cõi yêu thương, cõi đáng để chúng ta nâng niu trân trọng Đó là nhận thức mang tinh thần của triết lí nhà Phật ẩn sâu trong cõi tâm linh của con người và
theo Đỗ Minh Tuấn, nó bắt nguồn từ tình yêu cuộc sống tha thiết của ông Trong bài viết Buồn bã với những môi hôn, Cao Huy Thuần cũng đã
phân tích về tính triết lí, tính vô thường trong ca từ nhạc Trịnh Công Sơn Theo ông, lời ca trong nhạc Trịnh luôn mang màu sắc vô thường bàng bạc, luôn ẩn chứa một chiều sâu triết lí Trịnh Công Sơn yêu đời tha thiết nhưng đồng thời ông cũng yêu niềm tuyệt vọng Với nhạc sĩ, hạnh phúc luôn đi kèm với khổ đau, và hai trạng thái tinh thần đối lập buồn và vui của con người thực chất cũng chỉ là một Cao Huy Thuần còn chỉ ra điểm đặc biệt của tình yêu trong nhạc Trịnh Công Sơn so với tình yêu trong tình khúc của các nhạc
sĩ khác, đó là ông là người thi sĩ duy nhất của tình yêu không cho chữ em đi sóng đôi một cặp ngọt ngào với chữ anh bởi quan niệm hai người yêu nhau
như hai người ở trọ gần nhau [34]
Một trong những tác giả có nhiều công trình nghiên cứu công phu nhất
về nhạc Trịnh Công Sơn chính là Bửu Ý Trong bài viết Cảm ơn và xin lỗi,
ông đã đi sâu phân tích tình yêu đời thiết tha, mãnh liệt được Trịnh Công Sơn gửi gắm trong những lời ca Theo ông, Trịnh Công Sơn thương yêu cuộc đời với một tình yêu bồng bột và say đắm Nhưng với nhận thức nhân gian là cõi
Trang 17tạm, người nhạc sĩ tài hoa ấy thường hốt hoảng, vội vã trước dòng chảy bất
tận của thời gian Trịnh Công Sơn thường phân thân giữa cái có và cái không,
cái được và cái mất, trong khi cái có, cái được thì bèo bọt, mong manh mà cái mất thì rợn ngợp Nhận xét về con người và cuộc sống của Trịnh Công Sơn, ông viết: “Không có ai nhiều bạn bè, nhiều người yêu, nhiều người ái mộ cho bằng Trịnh Công Sơn Và cũng không có ai cô đơn bằng Trịnh Công Sơn”
[34, tr 349] Có sự mâu thuẫn đó bởi người nhạc sĩ ấy luôn cảm nhận được cái
bao la rợn ngợp của dương thế đối lập với thân phận nhỏ bé hữu hạn của con người
Nói đến chất thơ trong ca từ Trịnh Công Sơn, Nguyễn Trọng Tạo có bài
viết Có một nhà thơ tên Trịnh Công Sơn Thông qua việc khảo sát ca từ của
nhạc sĩ họ Trịnh, tác giả đã khẳng định người nhạc sĩ tài hoa này là một nhà
thơ đích thực Ông còn viết: “Mà Trịnh Công Sơn không phải là một nhà thơ
bình thường, anh là nhà thơ rất độc đáo ôm chứa tư tưởng nhân sinh và thời
cuộc với một thi pháp khá riêng biệt trong thơ Việt” [34, tr 419] Nguyễn
Trọng Tạo cũng phân tích tài năng độc đáo của ông khi sử dụng các thể thơ
lục bát, 5 chữ, 7 chữ trong các nhạc phẩm cụ thể như Ở trọ, Mưa hồng, Ru tình, Tôi ơi đừng tuyệt vọng Ông khẳng định vần điệu và ý tưởng lạ và đẹp
ở thơ ông giống như chiếc neo thuyền neo vào lòng người và không bao giờ
vô vọng trôi đi
Nguyễn Hoàn với bài viết Chiều kích con người trong nhạc Trịnh Công Sơn đã tìm hiểu về quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện trong ca từ
Trịnh Công Sơn Trong đó, tác giả đã chỉ ra chiều kích không gian và thời gian của đời người trong nhạc Trịnh Ông cũng cho rằng, trong nhạc Trịnh, con người ban cấp ý nghĩa cho trần gian Chính con người đã sáng thế ra trần gian với bao sướng khổ, ngọt bùi, cay đắng, với bao hỷ, nộ, ái, ố dội xuống cung đàn nhân sinh Có con người trần gian mới có ý nghĩa và khi xa người
Trang 18hay mất người thì trần gian kia cũng bàng hoàng, đau thương hay mất dần ý nghĩa Tóm lại, Nguyễn Hoàn đã phân tích vị trí của hình tượng con người trong những nhạc phẩm giàu triết lí của người nhạc sĩ tài hoa [34]
Chúng ta thấy các công trình nghiên cứu trên đã đi sâu nghiên cứu và đánh giá về cái hay, cái đẹp trong ca từ Trịnh Công Sơn Dù phân tích trên nhiều khía cạnh khác nhau nhưng hầu hết các tác giả đều chỉ ra vẻ đẹp đầy chất thơ trong ca từ Trịnh Công Sơn và những ý nghĩa triết lí thể hiện nhân sinh quan của người nhạc sĩ về cuộc sống thông qua lớp ca từ ấy Các công trình tập trung xoay quanh hình tượng thân phận con người trong mối liên hệ với đời sống mà chưa đi sâu tìm hiểu hình tượng thiên nhiên trong nhạc Trịnh đặc biệt là dưới góc nhìn của tín hiệu thẩm mĩ
Trang 19CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
nó được nhân vật giao tiếp sử dụng trong khuôn khổ của một ngôn ngữ để truyền đạt một tư tưởng nào đó về thực tế, tức về thế giới bên ngoài hay về những cảm thụ nội tâm (những cảm xúc, những cảm thụ nghệ thuật, một ý chí…)” [15, tr 413]
Trong đề tài này chúng tôi sử dụng khái niệm tín hiệu theo nghĩa rộng, theo đó tất cả những hình thức vật chất có khả năng gợi ra hình ảnh đều được xem là tín hiệu mà không phân biệt đến nguồn gốc và chức năng của chúng
b Tín hiệu ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt Đầu thế kỉ XX, F.Saussure
đã đưa ra khái niệm tín hiệu ngôn ngữ Tín hiệu ngôn ngữ cũng giống như tín hiệu, là một đối tượng có hai mặt hình thức và nội dung Mỗi tín hiệu là cái tổng thể do sự kết hợp giữa cái biểu đạt (signifier) và cái được biểu đạt (signified) Cái biểu đạt trong ngôn ngữ là hình thức ngữ âm, còn cái được biểu đạt là khái niệm hay đối tượng được biểu thị Mối quan hệ giữa cái biểu
Trang 20đạt và cái được biểu đạt là có tính võ đoán, tức là giữa hình thức ngữ âm và khái niệm không có một mối tương quan bên trong nào
Khác với các loại tín hiệu khác, mặt nội dung trong tín hiệu ngôn ngữ quan hệ với hình thức không phải bao giờ cũng chỉ có quan hệ trực tiếp khái niệm và âm thanh đồng thời mang một chức năng riêng biệt Tín hiệu ngôn ngữ bên cạnh chức năng giao tiếp còn là công cụ để tư duy, tổ chức xã hội, duy trì sự sống của con người Tín hiệu ngôn ngữ vì vậy vừa là tín hiệu giao tiếp vừa có thể là tín hiệu nhận thức, tín hiệu biểu hiện
c Tín hiệu thẩm mĩ
Khái niệm tín hiệu thẩm mĩ (THTM) ra đời gắn liền với khuynh hướng cấu trúc trong nghiên cứu mỹ học và nghệ thuật những năm giữa thế kỷ XX
Có rất nhiều tác giả đưa ra các cách hiểu về THTM Theo Iu.A.Philipiep thì
“THTM là những phương tiện nghệ thuật được tập trung theo một hệ thống tác động thẩm mỹ, được chúng ta tiếp cận như là những tín hiệu đặc biệt, có khả năng kích thích mạnh mẽ thế giới tinh thần của chúng ta” [31, tr 13] Còn M.B.Khrapchenko lại quan niệm: “THTM là những nhân hóa, ẩn dụ cố định, phúng dụ, tượng trưng, những hình tượng nghệ thuật đã “mài mòn” và “cố định hóa” về mặt ý nghĩa, và phù hợp với điều kiện hoạt động chức năng quan trọng của kí hiệu là phải có một cách hiểu thường xuyên được nhiều người biết đến” [31, tr 13] Trong cách lí giải của Hoàng Trinh thì đó có thể là một
vở múa, một bức họa, một hình ảnh ẩn dụ, hoán dụ trong văn học mang tính biểu trưng Các nhà ngôn ngữ - phong cách học lại giới hạn khái niệm THTM hơn khi cho rằng đó là những “thần cú”, “nhãn tự”, những tín hiệu ngôn ngữ mang phẩm chất thẩm mĩ để biểu hiện tư tưởng của nhà văn Những nhà nghiên cứu lí luận văn học nói đến THTM trong ý nghĩa của một yếu tố thuộc
hệ thống “ngôn ngữ - mã nghệ thuật” mà hệ quy chiếu của nó là thuộc thế giới văn bản nghệ thuật, đối lập với thế giới hiện thực Điểm chung trong quan
Trang 21niệm của các tác giả là đã thừa nhận THTM là yếu tố thuộc hệ thống phương tiện biểu hiện của nghệ thuật Tuy nhiên sự khác nhau giữa các tác giả là chưa
có sự phân định cụ thể đối với hệ thống “phương tiện nghệ thuật” Tác giả Đỗ Hữu Châu, từ sự phân tích mặt thể chất và mặt tinh thần của “phương tiện nghệ thuật” đã cho rằng THTM là “phương tiện sơ cấp” của văn học Ngôn ngữ (chất liệu) trong văn học chỉ là hình thức – cái biểu hiện của THTM, là
“phương tiện thứ cấp”, là “kí hiệu” so với THTM Vì vậy, đi tìm THTM không chỉ căn cứ trên các hình thức ngôn ngữ thuần túy, với cái ngữ nghĩa và ngữ pháp như của các hình thức ngôn ngữ thuần túy
Từ các tiền đề trên, tác giả Trương Thị Nhàn đã đề xuất một khái niệm tương đối hoàn chỉnh khi cho rằng: “THTM chính là TH thuộc hệ thống các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, bao gồm toàn bộ những yếu tố của hiện thực và tâm trạng (những chi tiết, những sự vật hiện tượng, những cảm xúc thuộc đời sống hiện thực và tâm trạng) được lựa chọn, xây dựng và sáng tạo trong tác phẩm vì mục đích thẩm mỹ, trong đó cái biểu đạt của THTM là những yếu tố thuộc hệ thống phương tiện vật chất (chất liệu) được sử dụng trong các ngành nghệ thuật và cái được biểu đạt của THTM là những nội dung tinh thần mang tính thẩm mỹ” [31, tr 26] Và theo tác giả thì một tín hiệu chỉ trở thành THTM khi đảm bảo bốn điều kiện sau: phải có hình thức vật chất; phải có nội dung tinh thần (có ý nghĩa thẩm mỹ); phải có chủ thể lý giải và cuối cùng là phải thuộc một hệ thống thẩm mỹ
Trong bài viết, Một số vấn đề về phân tích văn chương từ góc nhìn ngôn ngữ - tín hiệu thẩm mỹ [33], tác giả Trương Thị Nhàn đã phân tích cụ thể:
Xét về điều kiện tín hiệu học, THTM cũng là một thực thể hai mặt: hình thức vật chất hay “cái biểu hiện” (CBH) và nội dung tinh thần hay “cái được biểu hiện” (CĐBH), trong đó CBH của THTM là những yếu tố thuộc hệ thống phương tiện vật chất (chất liệu) được sử dụng trong các ngành nghệ
Trang 22thuật và CĐBH của THTM chính là những nội dung tinh thần mang tính thẩm mỹ
Có thể hình dung THTM trong một cơ cấu hai mặt như sau:
CBH: Chất liệu nghệ thuật
THTM = -
CĐBH: Ý nghĩa thẩm mỹ Xét về mặt nguồn gốc, THTM là TH nhân tạo, trong đó ý nghĩa “nhân tạo” nằm ở vai trò xây dựng và sáng tạo của người nghệ sĩ, ở mối quan hệ thẩm mỹ tất yếu giữa chủ thể sáng tạo và những đối tượng thuộc thế giới hiện thực trong sự tạo thành THTM
Xét về mặt thể chất, THTM có thể là TH thính giác, TH thị giác tuỳ thuộc vào đặc tính thể chất của mỗi loại hình nghệ thuật
Xét về đặc tính mối quan hệ giữa hai mặt cái biểu hiện và cái được biểu hiện, THTM là các TH – biểu trưng mà lý do biểu trưng nằm ở mối liên hệ giữa nội dung thẩm mỹ với những nội dung của hiện thực được đưa vào TH qua con đường chuyển tải của chất liệu nghệ thuật Có thể gọi THTM là những TH – biểu trưng nghệ thuật
Xét trong mối tương quan với hệ thống các phương tiện vật chất (chất liệu) của nghệ thuật, THTM là TH sơ cấp (nguyên cấp) - TH chưa chuyển mã Xét về mặt chức năng, THTM là TH giao tiếp, và là giao tiếp của nghệ thuật, cũng là TH có chức năng biểu hiện (tái hiện hiện thực), chức năng biểu cảm (bộc lộ cảm xúc), chức năng tác động (về thẩm mỹ), chức năng hệ thống…
Xét về đặc tính tổ chức, THTM là TH có thể phân tiết (TH phức)
Tác giả Đỗ Hữu Châu viết: “Ở đây, ý kiến của L.Hjelmslev về ngôn ngữ liêu hội (langage associatif) là một gợi ý có tính tiên đề phương pháp luận Theo ông tín hiệu ngôn ngữ thông thường có cái biểu hiện và cái được biểu
Trang 23hiện của mình Trong tác phẩm văn học, cả cái hợp thể cái biểu hiện và cái được biểu hiện của ngôn ngữ thông thường lại trở thành (đóng vai trò) cái biểu hiện cho một cái được biểu hiện mới” [9, tr 779] Điều đó được cụ thể qua mô hình sau:
Từ những quan niệm trên về THTM, theo chúng tôi, trong văn chương, THTM là tín hiệu bậc hai Trong đó, cái biểu đạt của tín hiệu thẩm mĩ là tín hiệu ngôn ngữ và cái được biểu đạt là ý nghĩa thẩm mĩ Từ đó có thể hiểu THTM chính là toàn bộ những yếu tố hiện thực, những chi tiết, những sự vật, hiện tượng của đời sống được đưa vào tác phẩm vì mục đích biểu hiện ý nghĩa
thẩm mĩ nhất định
Trong các tác phẩm nghệ thuật, THTM được biểu hiện rất đa dạng đối với từng ngành nghệ thuật, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, điều cần thiết là phải xem xét nhìn nhận THTM qua những đặc trưng cụ thể
1.1.2 Đặc điểm của tín hiệu thẩm mĩ
Trong luận án Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ các tín hiệu thẩm mỹ - không gian trong ca dao, tác giả Trương Thị Nhàn cho rằng THTM có những đặc
Trang 24các chất liệu riêng của từng ngành” [31, tr 17] Chẳng hạn, các từ “thuyền” và
“bến” là cái biểu hiện bằng ngôn ngữ của hai tín hiệu “thuyền”, “bến” Hai tín
hiệu này xuất hiện trong một bức vẽ, trong một cuốn phim và trong các bài
hát: Con thuyền không bến, Con thuyền xa bến bằng hình vẽ, bằng hình ảnh
hay bằng chuỗi âm thanh có nhạc tính… Như vậy, một tín hiệu thẩm mỹ của một nền văn hóa có thể chuyển hóa vào nhiều ngành nghệ thuật qua chất liệu, phương tiện đặc trưng của từng ngành này
Tính đẳng cấu của THTM không chỉ biểu hiện qua các ngành nghệ thuật khác nhau mà còn qua từng hệ thống, từng kết cấu, từng lần xuất hiện khác nhau của các TH trong hệ thống
Có thể nhấn mạnh thêm rằng tính đẳng cấu của THTM còn được thể hiện trong tương quan giữa các hệ thống hoạt động của THTM Tham gia vào một
hệ thống, tức là tham gia vào một kết cấu, một mạng quan hệ không giống với các yếu tố khác trong các hệ thống khác THTM có thể đồng nghĩa trong những hình thức kết cấu khác nhau của các hệ thống
Đẳng cấu là đặc tính quan trọng của THTM, nó giúp ta nhìn nhận TH trong nhiều quan hệ khác nhau (quan hệ cấp độ, quan hệ đồng nhất và đối lập, quan hệ dọc, quan hệ ngang)
b Tính tác động
Ðặc tính này có cơ sở từ bản chất của tín hiệu như ý kiến của P.Guiraud
đã từng dẫn lại ở trên: “Một tín hiệu là một kích thích mà tác động của nó đến
cơ thể gợi ra hình ảnh kí ức của một kích thích khác” [15, tr 413] Hiệu quả tác động của THTM trước hết là hình thành nên những hình tượng nghệ thuật Như vậy có thể hiểu, hình tượng nghệ thuật, đó là sản phẩm của thế giới tinh thần được THTM gợi lên trong thế giới chủ thể tiếp nhận Tuy nhiên việc đòi hỏi tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm phải có một khả năng tác động như nhau đến toàn thể công chúng là một điều khó có thể xảy ra Chẳng hạn, một người
Trang 25nông dân bình thường không thể cảm nhận được ý nghĩa thẩm mĩ khi đọc một bài thơ như các nhà thơ, và càng không thể bằng một nhà nghiên cứu phê bình văn học
Ðặc tính tác động của THTM còn được thể hiện ở chức năng giao tiếp nghệ thuật mang tính đối thoại đặc thù của nó Khi đó THTM là TH đặc biệt
có khả năng kích thích mạnh mẽ thế giới, tư tưởng của chúng ta, do đó nó trở thành yếu tố kích thích của sự điều chỉnh sống động những tâm trạng xã hội khác nhau
c Tính biểu hiện
Ðây là đặc tính quan trọng liên quan đến sự thực hiện chức năng chung của nghệ thuật - đó là chức năng phản ánh hiện thực THTM phải mang nội dung hiện thực nhất định, phải gắn với hiện thực Ðiều này có nghĩa là mỗi tín hiệu thẩm mĩ ứng với một sự vật, hiện tuợng thuộc thế giới vật chất hay tinh thần
Vấn đề nói trên có cơ sở từ đặc tính của TH nói chung Theo F de
Saussure thì tín hiệu là một thực thể có hai mặt nội dung và hình thức không
tách rời nhau; trong đó dấu hiệu vật thể có vai trò rất quan trọng đối với người tiếp nhận Nếu không có nội dung thì không có gì để truyền đạt; và nếu có nội dung nhưng không qua lời nói, chữ viết thì người tiếp nhận cũng không thể biết được nội dung mà nguời nói muốn truyền đạt
Theo Ðỗ Hữu Châu, THTM phải ứng với một sự vật, hiện tượng nào đó trong thế giới hiện thực, phải có vật quy chiếu trong thế giới hiện thực Sự biểu hiện (hay tái hiện) hiện thực của THTM trong những ngành nghệ thuật khác nhau nói chung đều dựa trên năng lực miêu tả, thay thế, tái hiện, dẫn các
sự vật, hiện tượng, các phạm vi khác nhau của đời sống vào trong tác phẩm, vào những phương tiện vật chất được sử dụng Trong hội họa đó là những đường nét, màu sắc trong âm nhạc, đó là những âm thanh, nhịp điệu, tiết tấu
Trang 26có khả năng khơi gợi những hiện thực của đời sống, của tâm hồn Trong văn học, đó là những từ ngữ, kết cấu mang nội dung biểu vật và biểu niệm nhất định, gắn với hiện thực phản ánh trình độ nhận thức, năng lực cảm xúc của con người Mặt khác, sự biểu hiện của THTM còn liên quan đến quá trình liên tưởng ở chủ thể tiếp nhận, bởi vậy lượng thông tin biểu hiện trong THTM cũng không phải nhất thành bất biến
d Tính biểu cảm (tính bộc lộ)
Ðặc trưng này thể hiện chức năng thông báo của THTM trong mối quan
hệ của nó với nhân tố người viết Ðể đạt đến một giá trị thẩm mĩ nhất định, THTM không thể chỉ dừng ở nội dung đơn thuần tái tạo hiện thực Ngoài những thông tin về hiện thực, THTM còn có thông tin về những cảm xúc, tâm trạng nhất định của người nghệ sĩ với bạn đọc Chính vì vậy, nằm trong cấu trúc của THTM, tính biểu cảm là một đặc tính quan trọng, mang dấu ấn chủ quan của nguời sáng tác Trong THTM, cảm xúc - vốn là tình cảm chủ quan của chủ thể sáng tạo, đã được khách quan hoá thành một thành phần quan trọng trong cơ cấu nghĩa của tín hiệu Cùng một nội dung hiện thực nhưng nếu với ý nghĩa biểu cảm khác nhau thì sẽ tạo nên cái mới, cái sinh động, cụ thể và riêng biệt cho THTM trong mỗi lần xuất hiện
e Tính biểu trưng
Tính biểu trưng là đặc tính của THTM khi xét trong mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện Ðây là mối quan hệ có lý do, liên quan đến năng lực biểu trưng hóa của các yếu tố, các chi tiết, các sự vật, hiện tượng được đưa vào làm THTM trong tác phẩm
Ðặc tính này còn cho thấy lối tư duy, quan niệm xã hội gắn với một cộng đồng nào đấy, từ đó hình thành ý nghĩa xã hội nào đó, được cả cộng đồng chấp nhận như vừa được nói tới Ví dụ: Hình ảnh “con cò” trong ca dao Việt Nam thường gắn với thân phận thấp bé của những người dân lao động
Trang 27(Con cò mà đi ăn đêm / Ðậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.), đức tính chịu thương chịu khó (Cái cò lặn lội bờ sông / Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non), có khi lại được hiểu là thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa vất vả,
lam lũ và chịu nhiều thiệt thòi
Cũng do tính biểu trưng mà hiệu lực, giá trị của tín hiệu thẩm mỹ phụ thuộc vào cách tri nhận, cách giải thích theo một thiên hướng nào đấy, một quy uớc nào đấy của cả cộng đồng mà có khi lại trái ngược với cộng đồng khác
f Tính truyền thống và cách tân
Tính truyền thống và cách tân của THTM liên quan đến vấn đề cái mới của nó Truyền thống và cách tân là hai phương diện biện chứng của THTM Nói đến tính truyền thống là nói đến tính cố định, tính lặp lại, tính kế thừa, có sẵn của THTM trong kho tàng nghệ thuật của một dân tộc Nói đến cách tân
là nói đến sự đổi mới, sự sáng tạo trong việc sử dụng THTM của mỗi tác giả, thậm chí là trong từng tác phẩm Nếu không có sự cách tân thì tín hiệu thẩm
mỹ sẽ trở nên bị mài mòn, bị mất đi giá trị gợi hình tượng, gợi cảm xúc Trái lại, nếu không có truyền thống thì THTM sẽ bị mất đi những điều kiện nhất định về mặt liên tuởng giúp ích cho việc lĩnh hội THTM trong tác phẩm Cái mới trong cách sử dụng tín hiệu thẩm mĩ của các tác giả có thể được thể hiện ở việc xây dựng một THTM hoàn toàn mới, nhưng chủ yếu vẫn là ở
sự cách tân các THTM, ở việc đổi mới các THTM có sẵn trong truyền thống, mang lại cho chúng những ý nghĩa thẩm mỹ mới Ðiều này chỉ có được thông qua sự sáng tạo của người nghệ sĩ
g Tính hệ thống
Tín hiệu nói chung và tín hiệu thẩm mĩ nói riêng bao giờ cũng thuộc về một hệ thống nhất định, bởi vậy nó chịu sự chi phối của những yếu tố khác trong cùng hệ thống thông qua những quan hệ nhất định
Trang 28Thông thường người ta không nói bằng tín hiệu riêng lẻ, mà bằng từng nhóm tín hiệu, từng khối có tổ chức vốn cùng là tín hiệu Và khi nói đến vấn
đề tính có tổ chức ở lĩnh vực này, ta không thể không nói đến tính hệ thống -
một đặc tính làm nên bản chất tín hiệu của ngôn ngữ
Chính tính hệ thống là cơ sở của tính sáng tạo trong sử dụng ngôn ngữ, tạo ra được sự cộng hưởng ngữ nghĩa giữa các yếu tố ngôn ngữ, mang lại những giá trị mới cho tín hiệu ngôn ngữ
Tính hệ thống của THTM được xem xét từ hai khía cạnh: Khía cạnh nội tại (cấu trúc), với những quy luật thuộc cấu trúc tác phẩm Khía cạnh ngoại tại (chức năng) với những quy luật về sự hoạt động thực hiện các chức năng giao tiếp của sáng tạo nghệ thuật
Riêng với khía cạnh cấu trúc tác phẩm, cần phân biệt hai bình diện: bình diện trừu tượng và bình diện cụ thể của hệ thống Thuộc bình diện trừu tượng
là những điển dạng (hằng thể) của THTM cùng những mối quan hệ giữa các điển dạng làm nên cấu trúc bề sâu, bất biến của tác phẩm Thuộc bình diện cụ thể là những hiển dạng (hay biến thể) của THTM cùng những mối quan hệ giữa các hiện dạng làm nên cấu trúc bề mặt, mang tính cụ thể của tác phẩm Nghiên cứu THTM thực chất là nghiên cứu những biến thể của nó qua mỗi lần xuất hiện Chính vì vậy, thực chất của việc nghiên cứu hệ thống THTM là nghiên cứu cấu trúc hình thức, mang tính cụ thể của tác phẩm nghệ thuật
h Tính trừu tượng và cụ thể
Trong tín hiệu học, người ta phân biệt điển dạng (hay hằng thể) và hiện dạng (hay biến thể) của mỗi tín hiệu Ðiển dạng là TH trong tính trừu tượng bất biến của nó, còn gọi là hằng thể của TH Hiện dạng là TH trong tính cụ thể, khả biến của nó, còn gọi là các biến thể của TH Trên thực tế, nguời ta chỉ gặp các hiện dạng hay biến thể của TH với những biểu hiện không hoàn toàn giống nhau trong những lần xuất hiện
Trang 29Ðối với THTM cũng vậy Nghiên cứu các THTM trên thực tế chính là nghiên cứu các biến thể của chúng Như vậy, có thể hiểu biến thể của THTM
là THTM trong các lần xuất hiện của nó Ở mỗi lần xuất hiện, THTM được biểu đạt bằng một hình thức cái biểu hiện - biến thể, mang một nội dung cái được biểu hiện - biến thể, đồng thời có những mối quan hệ mới với những yếu tố cùng xuất hiện trong hệ thống mà THTM tham gia, và được cảm nhận với cảm xúc mới
i Tính cấp độ
Ðỗ Hữu Châu phân biệt THTM ở hai cấp độ cơ bản sau :
Cấp cơ sở: THTM ứng với một chi tiết, một sự vật, hiện tượng thuộc thế
giới khách quan như: Mặt trời, con thuyền, nỗi nhớ đó là những tín hiệu
thẩm mĩ đơn hay THTM cơ sở có chức năng tham gia cấu tạo nên những THTM ở cấp độ cao hơn trong tác phẩm Tín hiệu thẩm mĩ đơn được tạo nên bằng các từ hay cụm từ, có thể là những từ ngữ, thành ngữ, điển cố hay những hình ảnh đơn lẻ, mang ý nghĩa thẩm mỹ
Cấp độ xây dựng (TH phức ): là các THTM ứng với nhiều sự vật, hiện tuợng được xây dựng từ những tín hiệu đơn nhưng ý nghĩa không phải là kết quả của phép cộng đơn giản những tín hiệu thẩm mĩ đơn Loại tín hiệu phức được tạo ra để biểu hiện những ý nghĩa thẩm mĩ mới trong tác phẩm văn chương
THTM được chúng tôi nói tới trong đề tài này là những TH ở cấp cơ sở (TH đơn) ứng với một danh từ có ý nghĩa chỉ thiên nhiên trong ca từ Trịnh Công Sơn và các biến thể của TH ứng với các hình thức từ, cụm từ, câu nhất định
1.1.3 Phương tiện ngôn ngữ của tín hiệu thẩm mĩ
Các yếu tố của hiện thực muốn trở thành THTM trong tác phẩm văn học phải nhờ có ngôn ngữ biểu đạt Cấu trúc đặc biệt của hệ thống TH ngôn ngữ
Trang 30cho phép mỗi hình thức ngôn từ có thể phản ánh, biểu đạt được một sự vật, hiện tượng nào đó thuộc hiện thực khách quan cũng như từng hiện tượng thuộc thế giới tinh thần của con người Nhờ vậy, chủ thể tiếp nhận có thể lĩnh hội được từ văn học những hiện thực trực tiếp thông qua ngôn từ và chính nhờ thế mà ngôn từ trở thành chất liệu, thành phương tiện để xây dựng nên tác phẩm văn chương
Rõ ràng là ngôn ngữ được sử dụng trong tác phẩm văn học vừa là chính
nó, lại cũng vừa là cái biểu hiện cho THTM, mang những nội dung thuộc THTM (tức ý nghĩa thẩm mĩ) Cùng một dấu hiệu hình thức (thể chất) nhưng mang hai giá trị khác nhau: giá trị TH ngôn ngữ (thuộc hệ thống ngôn ngữ) và giá trị THTM ( thuộc hệ thống của tác phẩm văn học) Hai giá trị này có sự tác động và chi phối lẫn nhau, tạo thành đặc tính riêng của ngôn ngữ văn học
so với thứ ngôn ngữ thông thường (ngôn ngữ tự nhiên) Khi nói đến ngôn ngữ văn học là nói đến ngôn ngữ trong những phẩm chất thẩm mĩ của nó, nói đến
sự vượt chuẩn mực của nó so với ngôn ngữ thông thường Có thể đồng tình với quan niệm cho rằng ngôn ngữ văn học là ngôn ngữ - THTM, mang những đặc tính của THTM, những nội dung của THTM Chính các từ ngữ xưa nay được gọi là các “nhãn tự”, các “thần cú”, hay các từ ngữ được sử dụng như những yếu tố mang tính ước lệ, tượng trưng, các điển cố văn học, các yếu tố ngôn ngữ được sử dụng trong lối chơi chữ của văn học… chính là những yếu
tố ngôn ngữ - THTM như vậy
Ngôn ngữ văn chương là ngôn ngữ được nhà văn, nhà thơ tiếp biến từ ngôn ngữ tự nhiên Nghiên cứu ngôn ngữ văn chương chính là việc “giải mã” tác phẩm văn học, là quá trình người đọc làm công việc ngược lại so với nhà
văn, nhà thơ Trong Ngôn ngữ văn chương, Hoàng Kim Ngọc – Hoàng Trọng
Phiến chỉ ra rằng: “Ngôn ngữ văn chương là thứ ngôn ngữ đặc thù được xây dựng chồng lên trên ngôn ngữ tự nhiên, cũng tức là trên cơ sở của ngôn ngữ
Trang 31tự nhiên” [29, tr 57] Nghiên cứu tính thẩm mĩ của ngôn ngữ văn chương thực chất là giải mã tác phẩm văn học xuất phát từ các hình thức biểu hiện bằng ngôn ngữ nghệ thuật để tìm hiểu các tầng nghĩa của tác phẩm: nghĩa mĩ học, triết học, đạo lí nhân sinh, văn hóa – xã hội
Trong vai trò là cái thuộc về THTM, các yếu tố ngôn ngữ cũng chính là các biến thể của THTM, là sự cụ thể hoá về mặt hình thức của THTM trong tác phẩm văn học Có thể xét mối quan hệ hằng thể - biến thể của THTM trong tác phẩm văn học theo tương quan giữa một bên là các THTM hằng thể, mang tính chất trừu tượng, bất biến, chung cho nhiều ngành nghệ thuật, nhiều lần xuất hiện khác nhau, với một bên là các đơn vị ngôn ngữ - cái biểu hiện của THTM hằng thể đó Mỗi THTM hằng thể có thể ứng với một hay một số biến thể ngôn ngữ nhất định
Mặt khác, như đã nói trên đây, quan hệ hằng thể - biến thể của THTM còn được biểu hiện thành quan hệ giữa các TH chỉnh thể và TH bộ phận, quan
hệ giữa các TH trừu tượng với các TH cụ thể, mang những đặc điểm về trạng thái, tính chất, quan hệ cụ thể khác nhau Trong văn học, mối quan hệ này được bộc lộ qua mối quan hệ giữa một bên là một yếu tố ngôn ngữ biểu đạt
hằng thể của THTM (mưa, nắng ) với một bên là những yếu tố ngôn ngữ mang nội dung ngữ nghĩa cụ thể hơn là các cụm từ miêu tả - cụ thể hoá (mưa lạnh, nắng ngời…), các kết cấu diễn đạt mối quan hệ giữa TH hằng thể với các TH khác cùng xuất hiện Chính sự biến đổi về hình thức ngôn ngữ biểu
đạt của THTM trong kết cấu văn bản tác phẩm văn học thường xảy ra cùng với sự biến đổi về nội dung thẩm mĩ được biểu đạt, mang lại cái mới, cái cụ thể, sinh động cho THTM trong mỗi lần xuất hiện của nó
1.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA CA TỪ VÀ THƠ CA
Vẻ đẹp của một tác phẩm âm nhạc chính là sự kết hợp giữa giai điệu và
ca từ Hai đặc tính này song song tồn tại không tách rời nhau và đều có những
Trang 32hệ thống tín hiệu thẩm mĩ riêng để chuyển tải giá trị và ý nghĩa của nó Trong
đó, những tín hiệu thẩm mĩ của phần ca từ trong một nhạc phẩm cũng được
biểu đạt bằng ngôn ngữ Trong tác phẩm Ca từ trong âm nhạc Việt Nam, giáo
sư Dương Viết Á cho rằng: “Trong loại hình nghệ thuật âm nhạc, ngoài phần
âm thanh đóng vai trò chính, còn phải dùng đến ngôn ngữ, nói đúng hơn, đó
là phần ngôn ngữ văn học trong âm nhạc (lời ca trong ca khúc, hợp xướng, kịch bản trong nhạc cảnh, nhạc kịch, tên gọi, tiêu đề của những bài hát, bản nhạc hoặc của từng chương nhạc ) Tất cả phần ngôn ngữ văn học trong âm nhạc, ta gọi chung trong một khái niệm: ca từ” [3, tr 112]
Ca từ được xem là phần ngôn ngữ văn học trong các nhạc phẩm, tuy nhiên ca từ không hoàn toàn đồng nhất với ngôn ngữ văn học vì nó gắn liền với các sáng tác âm nhạc, dùng để hát và để nghe theo giai điệu nên chịu sự chi phối của quy luật âm nhạc Nếu ngôn ngữ văn học, trong đó có thơ ca chủ yếu tác động đến tâm hồn người đọc thông qua thị giác và thường có nội dung
cụ thể thì ca từ lại chủ yếu tác động vào thính giác và có khi truyền đạt cảm xúc thông qua sự gắn bó mật thiết với âm thanh Chính vì vậy, hư từ (từ không có nghĩa) trong thơ ca thường được sử dụng hạn chế, ngược lại, nó lại được sử dụng phổ biến hơn trong ca từ làm nhiệm vụ đệm, láy và giữ vai trò
quan trọng để khơi gợi cảm xúc ở người nghe Ví dụ như các hư từ: ô, hô, à,
ư, ha được dùng trong nhiều tác phẩm tạo nên những giai đoạn thăng hoa
trong giai điệu của bài hát Giáo sư Dương Viết Á cũng cho rằng: “Thơ không phải là ca Từ thơ đến ca còn một khoảng cách, khoảng cách đó do quy luật của âm nhạc quy định Cho nên, khi đánh giá, phân tích một bài ca từ không thể coi đó như một bài thơ Một bài ca từ là một bài thơ xét về phương thức phản ánh cuộc sống, nhưng một bài ca từ là một bài thơ để hát và để nghe, mà không phải để đọc”[3, tr 152]
Trang 33Tuy không đồng nhất với ngôn ngữ văn học, nhưng ca từ trước hết cũng
là ngôn ngữ và cũng sử dụng chủ yếu phương thức trữ tình để phản ánh cuộc sống nên bên cạnh quy luật âm nhạc, nó còn chịu sự tác động của quy luật ngôn ngữ và quy luật thơ ca Chất liệu của ca từ là ngôn ngữ, vì vậy ca từ cũng phải tuân theo những quy luật sắp xếp, cấu trúc của ngôn ngữ về ngữ
âm, từ vựng, cú pháp Âm nhạc cũng là một loại hình nghệ thuật chuyển tải những thông điệp của hiện thực cuộc sống, nhưng quan trọng hơn, âm nhạc phải khơi gợi được cảm xúc ở người nghe, phải gợi được những niềm vui nỗi buồn một cách tự nhiên và chân thực nhất, chính vì vậy nó phải lấy phương thức trữ tình là phương thức biểu hiện chính Khi nói đến chất trữ tình trong ngôn ngữ là nói đến thơ ca, bởi thơ ca là thể loại văn học phản ánh cuộc sống bằng phương thức đặc trưng là trữ tình Một văn bản ca từ trong một tác phẩm
âm nhạc có giá trị luôn giàu tính gợi hình và gợi cảm xúc, phải là sự kết hợp giữa chất nhạc và chất thơ Nếu xét ở phương diện này, một văn bản ca từ trước hết phải là một bài thơ Điều này lí giải tại sao nhiều nhạc sĩ đã phổ nhạc cho thơ hay dựa vào các ý thơ để viết lời ca khúc
Như vậy, ca từ trong âm nhạc cũng có thể được xem như ngôn ngữ văn học (dù không hoàn toàn đồng nhất), mang các đặc trưng của ngôn ngữ văn học, vì thế việc giải mã các tín hiệu thẩm mĩ trong ca từ âm nhạc cũng là một vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu để những giai điệu, những lời hát có thể khơi gợi những cảm xúc đẹp đẽ từ cảm nhận của người nghe Đồng thời,
vì ca từ mang những nét đặc trưng của ngôn ngữ văn học nên chúng ta có thể
sử dụng những kiến thức về tín hiệu thẩm mĩ của ngôn ngữ văn học để phân tích, lí giải các tín hiệu thẩm mĩ được sử dụng trong ca từ
Trang 341.3 VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ TRỊNH CÔNG SƠN VÀ CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN
1.3.1 Trịnh Công Sơn- người du ca qua mọi thời đại
Trịnh Công Sơn (28.2.1939 – 1.4.2001) là một trong những nhạc sĩ lớn nhất của Tân nhạc Việt Nam Trịnh Công Sơn quê làng Minh Hương, tổng Vĩnh Tri, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế Ông sinh tại cao nguyên Lạc Giao (phường Thống Nhất, Ban Mê Thuột, Đắk Lắk) Ông lớn lên tại Huế, tốt nghiệp Đại học Sư phạm tại Qui Nhơn Sau đó ông vào Bảo Lộc (Lâm Đồng) và làm nghề dạy học Ông bắt đầu viết nhạc năm 1958 Tác phẩm đầu tiên của ông là “Ướt mi”, được xuất bản năm 1959, từ đó tên tuổi của ông được nhiều người biết đến
Những năm sau 1975, ông làm việc tại tạp chí Sóng nhạc của Hội Âm nhạc Thành phố Hồ Chí Minh Từ thập niên 1980, Trịnh Công Sơn bắt đầu
sáng tác trở lại với những tác phẩm ca ngợi chế độ mới có giá trị như: Em ở nông trường em ra biên giới, Huyền thoại mẹ Ngoài âm nhạc, ông còn được
biết đến với tư cách là nhà thơ, họa sĩ dù không chuyên
Trong các sáng tác của Trịnh Công Sơn, mỗi tác phẩm không những mang đậm một phong cách riêng mà còn gửi gắm một triết lý Ông từng chỉ nhận mình là một kẻ hát rong đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm, những nỗi niềm ưu tư của cuộc đời Tác phẩm của ông phần lớn là tình ca vì tình yêu là đề tài lớn nhất trong các nhạc phẩm của ông Nhạc tình của ông đa
số là nhạc buồn thường dùng để diễn tả tâm trạng buồn chán, cô đơn hay nỗi sầu ly biệt, sự nuối tiếc quá khứ trong tình yêu Nhạc sĩ Thanh Tùng từng gọi Trịnh Công Sơn là “người Việt Nam viết tình ca hay nhất thế kỷ” (34, tr 307) Tên tuổi của Trịnh Công Sơn còn gắn liền với một loại nhạc mang tính chất chống chiến tranh, ca ngợi hòa bình mà người ta thường gọi là nhạc phản chiến (sau này gọi là Ca khúc da vàng) Những lời ca trong nhạc phản chiến của ông rất chân tình, xúc động mà không hề yếu đuối, bi lụy Ngoài các bản
Trang 35nhạc tình và nhạc phản chiến, ông còn để lại những tác phẩm viết về quê hương và một số bài hát viết cho thiếu nhi thể hiện tình yêu trong sáng, nồng nàn với con người và cuộc đời Nhạc của Trịnh Công Sơn được rất nhiều ca sĩ thể hiện, nhưng thành công hơn cả là ca sĩ Khánh Ly
Sự nghiệp sáng tác của Trịnh Công Sơn được ghi nhận bằng nhiều giải thưởng lớn cả ở trong và ngoài nước như: Giải thưởng đĩa vàng ở Nhật Bản với bài hát “Ngủ đi con” năm 1972; giải thưởng cho bài hát hay nhất trong phim “Tội lỗi cuối cùng”; giải nhất của cuộc thi “Những bài hát hay nhất sau
10 năm chiến tranh” với bài “Em ở nông trường em ra biên giới”; giải nhất cuộc thi “Hai mươi năm sau” với bài “Hai mươi mùa nắng lạ”; năm 1997 ông đoạt giải thưởng lớn của Hội nhạc sĩ cho một chuỗi bài hát: “Xin trả nợ người”, “Sóng về đâu”; “Em đi bỏ lại con đường”, “Ta đã thấy gì hôm nay” Ông còn vinh dự có tên trong Tự điển bách khoa Pháp
Trịnh Công Sơn nhìn nhận cuộc đời và giành tình cảm cho đời một cách rất giản đơn, không hề tham vọng Ông suy nghĩ một cách thản nhiên rằng cái chết chẳng qua cũng chỉ là một sự đùa cợt sau cùng của cuộc sống Và ông quan niệm
rằng “sống trong đời sống cần có một tấm lòng” dù chỉ “để gió cuốn đi” (Để gió cuốn đi) Suốt một đời miệt mài sáng tác và ca hát cho loài người, tác phẩm của
ông sống mãi trong lòng người yêu nhạc Trịnh Công Sơn đã thắp lửa và truyền lửa yêu thương trong trái tim nhân loại qua năm tháng
1.3.2 Ca từ Trịnh Công Sơn
Ca từ trong nhạc Trịnh quả thật vô cùng đa đạng Trong các ca khúc của ông, chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều chủ thể là con người, thế giới tự nhiên, không gian, thời gian Những ca từ này luôn được sử dụng với những dụng
ý nghệ thuật rất riêng và đặc sắc
Nói đến âm nhạc là phải nói đến giai điệu bởi đó là điểm đặc trưng nhất
để phân biệt âm nhạc với các loại hình nghệ thuật khác và khơi gợi được vô vàn cảm xúc từ người nghe.Tuy nhiên, trong âm nhạc Trịnh Công Sơn thật
Trang 36khó để so sánh xem giữa ca từ và giai điệu cái nào quan trọng hơn vì ca từ chiếm một địa vị rất quan trọng trong các sáng tác của ông Thưởng thức âm nhạc của Trịnh Công Sơn không chỉ là đắm mình trong thế giới của giai điệu
mà quan trọng hơn là phải nghe và suy ngẫm về ý nghĩa của lời ca Nếu người
ca sỹ hát không rõ lời, người nghe không thể nào hiểu thấu ý nghĩa của ca khúc Khánh Ly thành công với ca khúc Trịnh Công Sơn không chỉ nhờ giọng
ca đặc biệt mà còn nhờ cách nhả chữ rõ ràng làm cho người nghe dễ hiểu những nội dung mà tác giả muốn gửi gắm trong các nhạc phẩm
Ngoài hình ảnh phong phú, ca từ Trịnh Công Sơn còn mang nhiều tính
ẩn dụ đôi khi làm người nghe khó hiểu, mà chính tác giả cũng không thể nào giải thích một cách đơn giản những suy nghĩ của mình đã chuyển tải sang ngôn ngữ âm nhạc Chẳng hạn “hòn đá lăn trên đồi, hòn đá rớt xuống cành
mai, rụng cánh hoa mai gầy, chim chóc hót tiếng sau cùng” (Ngẫu nhiên) Quả đúng là “tự mình biết riêng mình, và ta biết riêng ta” (Ngẫu nhiên) Tuy
nhiên lại có trường hợp, chỉ cần một câu trong ca khúc nào đó đủ tác động sâu sắc khiến người nghe suốt đời không thể quên vì đã lí giải được những băn khoăn đã trở thành bản chất và muôn đời như “Trăm năm vô biên chưa từng
hội ngộ, chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà” (Một cõi đi về)
Luôn có những cuộc hôn phối của những hình ảnh trong ca từ Trịnh Công Sơn Và nó được “lạ hóa” bằng những biện pháp tư từ như: nhân hóa “Khi tình
đã vội quên, tim lăn trên đường mòn Trên giọt máu cuồng điên, con chim đứng
lặng câm” ( Ru ta ngậm ngùi); ẩn dụ “Ngoài phố mùa đông đôi môi em là đốm lửa hồng” (Ru đời đi nhé); hoán dụ “Một cuộc tình nhỏ bé bên đôi môi hồng đào” (Môi hồng đào) hay câu hỏi tu từ “Làm sao em biết bia đá không đau?” (Diễm xưa) để tạo ra những hình ảnh lạ, khác thường và đẹp
Trịnh Công Sơn đã sáng tạo không ngừng nghỉ để sản sinh ra những ca
từ hay và đẹp Và chúng luôn thấm đẫm chất thơ, mỗi một nhạc phẩm của ông giống như một bài thơ đầy màu sắc, hình ảnh và thể hiện cái nhìn tinh tế và
Trang 37trìu mến yêu thương của người nghệ sĩ đối với cuộc sống Ông đưa vào trong các tác phẩm của mình rất nhiều những sự vật, sự việc, hiện tượng gần gũi với cuộc sống con người để biểu đạt những giá trị về cái đẹp một cách bình dị Chính vì vậy mà trong ca từ của ông xuất hiện hàng loạt THTM, và một trong những TH nổi bật nhất được Trịnh Công Sơn sử dụng là các TH thiên nhiên Việc tìm hiểu THTM thiên nhiên trong luận văn của chúng tôi nhằm mục đích góp phần vào việc nắm bắt sâu hơn đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật trong ca từ Trịnh Công Sơn
1.4 TIỂU KẾT
Như vậy, THTM trong ngôn ngữ văn học là TH bậc hai, là đơn vị thứ cấp với những đặc trưng cơ bản sau: tính đẳng cấu, tính cấp độ, tính tác động, tính biểu hiện, tính biểu cảm, tính biểu trưng, tính hệ thống, tính truyền thống
và cách tân, tính trừu tượng và cụ thể THTM đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc phân tích và cảm nhận các tầng ý nghĩa trong tác phẩm văn học Ca
từ trong âm nhạc dù không hoàn toàn đồng nhất với thơ ca nhưng nó cũng mang những đặc trưng của ngôn ngữ văn học và chịu sự chi phối của các quy luật ngôn ngữ, vì vậy các THTM của nó cũng mang những đặc trưng và ý nghĩa như các THTM trong ngôn ngữ văn học Trịnh Công Sơn là một trong những nhạc sĩ Việt Nam có phần ca từ trong các nhạc phẩm độc đáo và xuất sắc nhất với các hệ thống THTM phong phú, đa dạng trong đó nổi bật là các THTM thiên nhiên Vì thế, việc áp dụng các kiến thức THTM vào việc nghiên cứu và giải mã THTM thiên nhiên trong ca từ Trịnh Công Sơn là cách làm đúng đắn và khoa học để tiếp cận với những thông điệp tác giả gửi gắm vào thế giới thiên nhiên trong các nhạc phẩm
Trang 38CHƯƠNG 2 CÁC HÌNH THỨC NGÔN NGỮ BIỂU ĐẠT TÍN HIỆU THẨM
MĨ THIÊN NHIÊN TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN
Trên cơ sở lí luận đã trình bày ở chương 1, ở chương 2 này chúng tôi nghiên cứu các hình thức ngôn ngữ biểu đạt tín hiệu thẩm mĩ trong ca từ Trịnh Công Sơn ở những vấn đề sau: thống kê và phân loại hệ thống danh từ, các hình thức miêu tả, các kiểu kết hợp tín hiệu – tín hiệu Từ đó, chúng tôi sẽ rút ra giá trị biểu đạt của các hình thức ngôn ngữ biểu đạt tín hiệu thẩm mĩ trong ca từ Trịnh Công Sơn ở chương 3
2.1 THỐNG KÊ VÀ PHÂN LOẠI
Như chúng tôi đã trình bày ở chương 1, có sự phân biệt giữa tín hiệu đơn
và tín hiệu kép, tín hiệu hằng thể và tín hiệu biến thể Để tìm hiểu ý nghĩa thẩm mĩ của các tín hiệu thẩm mĩ thiên nhiên trong ca từ Trịnh Công Sơn, đầu tiên chúng tôi sẽ xem xét các tín hiệu thiên nhiên là tín hiệu hằng thể và là tín hiệu đơn được biểu đạt bằng các danh từ Chúng tôi sẽ tiến hành thống kê và phân loại đối với các danh từ biểu thị thiên nhiên, chỉ ra các danh từ, số lần xuất hiện và tỉ lệ xuất hiện trung bình của chúng
2.1.1 Tiêu chí thống kê và phân loại
a Tiêu chí thống kê
Để thống kê các danh từ biểu thị các TH thiên nhiên hằng thể trong ca từ Trịnh Công Sơn, chúng tôi dựa vào khái niệm “thiên nhiên” được trình bày
trong Từ điển Tiếng Việt của cố GS Hoàng Phê: “Thiên nhiên là tổng thể nói
chung những gì tồn tại xung quanh con người mà không phải do con người tạo ra” [35, tr 1168]
b Tiêu chí phân loại
Chúng tôi tiến hành phân loại các danh từ biểu thị các TH thiên nhiên hằng thể trong ca từ Trịnh Công Sơn theo trường từ vựng ngữ nghĩa Theo đó,
Trang 39chúng tôi dựa vào các đặc tính vô cơ hay hữu cơ, các đặc trưng xuất hiện và tồn tại, không gian tồn tại để phân chia chúng thành 4 nhóm danh từ lớn và các tiểu nhóm nhỏ hơn trong đó
2.1.2 Kết quả thống kê và phân loại
Trong phạm vi khảo sát của đề tài, chúng tôi đã thống kê được kết quả như sau:
Tổng số danh từ biểu thị thiên nhiên: 65 từ
Tổng số lần xuất hiện các danh từ: 944 lần
Tỉ lệ trung bình số lần xuất hiện/từ: 14,5 lần/từ
(3) D1c: Các loài hoa: hoa hồng, hoa muối, hoa lan, hoa mai, quỳnh hương, hoa sữa, sen, hoa vông, hoa tường vi
Tổng cộng có 21 từ, xuất hiện trên tổng số 169 lần (trung bình: 8,0 lần/từ)
Tổng cộng có 15 từ, xuất hiện trên tổng số 84 lần (trung bình: 5,6 lần/từ)
Trang 40c Nhóm D3: Hiện tượng tự nhiên
Bao gồm các danh từ chỉ các hiện tượng tự nhiên xảy ra được nhắc đến, gồm: nắng, mưa, gió, bão, lũ, sấm, sương
Tổng cộng có 7 từ, xuất hiện trên tổng số 314 lần (trung bình: 44,9 lần/từ)
d Nhóm D4: Vật thể tự nhiên:
Bao gồm những vật có những thuộc tính vật lí nhất định tồn tại trong thế giới thiên nhiên được nhắc đến, được chúng tôi phân chia theo ba không gian tồn tại của chúng (bầu trời, mặt đất, dưới nước), gồm:
(1) D4a: mặt trời, trăng, sao, mây, trời
(2) D4b: đất, đá, sỏi, cát, bụi, đồi, núi, bờ, cồn
(3) D4c: sông, suối, khe, vực, thác, biển, sóng, nước
Tổng cộng có 22 từ, xuất hiện trên tổng số 377 lần (trung bình: 17,1 lần/từ)
Chúng ta có thể khái quát sự phân bố giữa các nhóm danh từ về số lượng danh từ, số lần xuất hiện và tỉ lệ số lần xuất hiện/từ trong mỗi nhóm qua bảng sau:
Bảng 2.1: Tần số xuất hiện của các nhóm TH thiên nhiên
Nhóm danh từ
Số danh từ Số lần xuất hiện Tỉ lệ trung
bình số lần xuất hiện từ
Số lượng Tỉ lệ
% Số lượng Tỉ lệ
% D1