1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình yêu trong ca dao thừa thiên huế

86 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình yêu trong ca dao Thừa Thiên Huế
Tác giả Trần Thị Họa My
Người hướng dẫn TS. Lê Đức Luận
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Sư Phạm Ngữ Văn
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2014
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 676,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hay những bản tình ca bất diệt với những lời tỏ tình mộc mạc mà đầy ắp chân thành của tình yêu đôi lứa, cũng như cuộc sống lao động dù vất vả “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” của ngư

Trang 1

KHOA NGỮ VĂN

TRẦN THỊ HỌA MY

TÌNH YÊU TRONG CA DAO THỪA THIÊN HUẾ

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Đà Nẵng, tháng 05 / 2014

Trang 2

KHOA NGỮ VĂN

TÌNH YÊU TRONG CA DAO

THỪA THIÊN HUẾ

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Người hướng dẫn:

TS Lê Đức Luận

Người thực hiện:

Trần Thị Họa My (Khóa 2010 – 2014)

Đà Nẵng, tháng 05 / 2014

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Lê Đức Luận Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung khoa học của công trình này

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2014

Sinh viên thực hiện

Trần Thị Họa My

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến thầy giáo TS Lê Đức Luận – người đã nhiệt tình, chu đáo hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã chỉ bảo giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè

và người thân đã ủng hộ, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này

Mặc dù có nhiều cố gắng, song do trình độ còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự đóng góp chân thành của thầy cô, bạn bè để đề tài được hoàn thiện hơn

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2014

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Bố cục khóa luận 5

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG 6

1.1 Khái quát vùng đất Thừa Thiên Huế 6

1.1.1 Lịch sử vùng đất Thừa Thiên Huế 6

1.1.2 Về vị trí địa lí, địa hình và thổ nhưỡng 8

1.1.3 Con người vùng đất Cố đô 10

1.1.4 Đặc trưng văn hóa dân gian Huế 13

1.2 Khái quát về ca dao Thừa Thiên Huế 16

1.2.1 Khái niệm ca dao 16

1.2.2 Ca dao dân ca Thừa Thiên Huế 17

1.2.3 Đề tài phản ánh trong ca dao Thừa Thiên Huế 20

Chương 2 NHỮNG PHƯƠNG DIỆN TÌNH YÊU TRONG CA DAO

THỪA THIÊN HUẾ 23

2.1 Tình yêu lao động sản xuất 23

2.1.1 Các nghề nghiệp lao động 23

2.1.2 Tình yêu lao động và khát khao hạnh phúc no ấm 25

2.2 Tình yêu gia đình 27

2.2.1 Tình yêu giữa con cái với bố mẹ và bố mẹ với con cái 27

2.2.2 Tình yêu vợ chồng 31

2.3 Tình yêu đôi lứa 36

2.3.1 Tình yêu thắm thiết thủy chung 36

2.3.2 Tình yêu trắc trở, chia cách đau đớn 39

Trang 6

2.4.2 Tình yêu con người và sản vật quê hương 45

Chương 3 NGHỆ THUẬT BIỂU ĐẠT TÌNH YÊU TRONG CA DAO

THỪA THIÊN HUẾ 51

3.1 Thể thơ 51

3.1.1 Thể thơ lục bát 51

3.1.2 Thể song thất lục bát 52

3.2 Về cấu trúc lời ca 54

3.2.1 Cấu trúc lời đơn 54

3.2.2 Cấu trúc lời đôi đối - đáp 56

3.3 Hình ảnh và biểu tượng 58

3.3.1 Hình ảnh và biểu tượng thiên tạo 58

3.3.2 Hình ảnh và biểu tượng nhân tạo 61

3.4 Phương thức tu từ 64

3.4.1 So sánh, ẩn dụ 64

3.4.2 Nhân hóa 67

3.5 Đặc trưng ngôn ngữ 69

3.5.1 Nghệ thuật chơi chữ 69

3.5.2 Dùng tiếng địa phương 72

KẾT LUẬN 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Với bất cứ một nền văn học nào, văn học dân gian mãi là công trình sáng tạo

để đời Những sáng tạo đó không chỉ mang ý nghĩa vùng miền, ý nghĩa địa phương

mà còn mang cả ý nghĩa quốc gia Một khi đạt đến một chuẩn mực giá trị nào đó và trong một điều kiện giao lưu văn hóa – lịch sử nào đó thì văn học dân gian như được chắp cánh, vượt qua biên giới thời gian, tự mở rộng giới hạn để hướng tới giá

trị phổ quát toàn nhân loại

Ca dao là viên ngọc quý báu trong kho tàng văn học dân tộc Nó in đậm, phác họa hình ảnh cuộc sống và con người Việt Ca dao Thừa Thiên Huế là một bộ phận đặc sắc của văn học dân gian vùng đất này và kho tàng ca dao dân tộc Đến nay, ca dao Thừa Thiên Huế vẫn còn giữ được sức sống, đóng góp không nhỏ cho kho tàng văn học dân gian Ca dao vùng đất này đã nói lên được những kinh nghiệm lao động sản xuất, tình yêu quê hương đất nước, tình yêu đôi lứa, tình yêu gia đình, phản ánh nét phong tục tập quán của người dân xứ Huế

Tình yêu là bản chất thiêng liêng và tự nhiên của con người cho nên dù ở thời đại nào, tình yêu bao giờ cũng là đề tài bất tận cho những áng văn chương Việt Nam Nói đến tình yêu thì không thể không nhắc đến những bài thơ tình nổi tiếng của các nhà thơ như: Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Phan Thị Thanh Nhàn Trong kho tàng văn học dân gian thì tình yêu cũng đã chiếm một chỗ rất quan trọng trong ca dao Nó phản ảnh tinh thần đa cảm của loài người và ăn sâu vào huyết quản mọi người dân Việt

Đọc ca dao Thừa Thiên, người đọc có thể nhận ra sự trau chuốt trong lời lẽ,

sự rung động chân thành, tự nhiên của chủ thể sáng tạo và cả sự u uẩn, hoài niệm, xót thương Tình thương yêu diết da gần như bao trùm lên các chủ đề, nội dung và luôn đọng lại trong lòng bạn đọc Tình yêu trong ca dao Thừa Thiên Huế được biểu hiện qua nhiều mặt: Tình yêu quê hương đất nước với cảnh vật thiên nhiên kỳ tú như: cỏ cây hoa lá, núi sông, lũy tre xanh, hay đồng ruộng óng ả lúa vàng hòa với

Trang 8

tâm tình và lịch sử của dân tộc Tình yêu gia đình thể hiện qua những câu ca đằm thắm, chứa chan tình cảm thiết tha, sâu nặng của tình cha con, đạo vợ chồng Hay những bản tình ca bất diệt với những lời tỏ tình mộc mạc mà đầy ắp chân thành của tình yêu đôi lứa, cũng như cuộc sống lao động dù vất vả “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” của người nông dân nhưng họ vẫn giữ một tình yêu thủy chung trọn vẹn với mảnh đất quê nghèo nàn

Với bao năm tháng lịch sử, qua bao nỗ lực của biết bao thế hệ đời người, chính ở đây, người ta phát hiện về khả năng sáng tạo của con người, đặc biệt là về những giá trị văn hóa tinh thần, văn hóa vật chất tiềm chứa trong mỗi câu ca điệu hát Những câu ca dao về tình yêu Thừa Thiên Huế vừa sinh động, lôi cuốn về văn phong truyền thống, vừa hấp dẫn về nội dung cũng như hình thức thể hiện Chính

những lí do trên đã thôi thúc chúng tôi chọn đề tài “Tình yêu trong ca dao Thừa

Thiên Huế” làm nghiên cứu, với hi vọng góp một chút công sức vào việc tìm ra

những nét đặc trưng cơ bản được thể hiện trong ca dao tình yêu vùng đất Cố đô

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Ca dao là một trong những đề tài thu hút nhiều nhà nghiên cứu,nhà văn, nhà thơ quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu Vì vậy, đã có không ít những bài viết, công trình nghiên cứu về ca dao Việt Nam nói chung cũng như ca dao Thừa Thiên Huế nói riêng rất tỉ mỉ với những lời nhận xét vô cùng sâu sắc

Sách Văn học dân gian (2 tập) của Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên là công

trình đồ sộ, nghiên cứu nghiêm túc Trong đó, phần viết về thơ ca dân gian do Chu

Xuân Diên chắp bút là những trang nghiên cứu có giá trị cao Còn công trình Tục

ngữ ca dao Việt Nam của Vũ Ngọc Phan đã làm rõ khái niệm, nguồn gốc, sự hình

thành và phát triển cũng như nội dung và hình thức nghệ thuật của ca dao, tục ngữ Việt Nam

Nguyễn Xuân Kính khi nghiên cứu về ca dao thì nội dung trong cuốn Thi

pháp ca dao được ông đề cập đến một số yếu tố của cấu trúc ca dao như: ngôn ngữ,

thể thơ, một số yếu tố thời gian và không gian nghệ thuật, một số hình ảnh, biểu tượng, các yếu tố thi pháp trong một chỉnh thể nghệ thuật ca dao Lê Đức Luận

trong cuốn Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt đã nghiên cứu về đặc trưng cấu trúc

Trang 9

ca dao người Việt

Văn học dân gian Thừa Thiên Huế giống như một kho tàng mở, thu hút giới nghiên cứu với hành trình trở về nguồn qua con đường ca dao Văn học dân gian Huế đã được các thức giả quan tâm tìm hiểu ở những cấp độ khác nhau Trên cơ sở tài liệu sưu tầm và những công trình đã công bố trải dài hơn 700 năm (từ năm 1306 đến nay) thì văn học dân gian Thừa Thiên Huế có một khối lượng đồ sộ, đa dạng mà

sớm nhất có thể là những thông tin trong Dư địa chí của Nguyễn Trãi (thế kỷ XV)

Đó là Ô Châu cận lục (1553) đã được Dương Văn An nhuận sắc năm 1555, Phủ

Biên tạp lục của Lê Quý Đôn (thế kỷ XVIII), Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam liệt truyện dưới thời triều Nguyễn Và đặc biệt là những tài liệu sưu tầm giới thiệu văn

học dân gian từ đầu thế kỷ XX trở đi, chủ yếu là những công trình công bố sau năm

1975 vừa chuyên sâu, vừa phong phú, đa dạng Những công trình này tiếp cận tìm hiểu văn học dân gian liên tỉnh Bình Trị Thiên, Thừa Thiên Huế và các huyện địa phương của Huế phần nhiều thiên về sưu tầm và giới thiệu

Nội dung ca dao xứ Huế được Triều Nguyên giới thiệu trong cuốn Ca dao

Thừa Thiên Huế, để góp phần làm sáng rõ kho tàng ca dao xứ Huế được tuyển chọn,

tập sách đã trình bày “Khái lược về ca dao xứ Huế” nhằm giới thiệu khái quát vấn

đề cũng như cách biên soạn Thông qua đây, ca dao Thừa Thiên đã góp phần làm nổi bật tính cách, đời sống tình cảm con người xứ Huế

Triều Nguyên cũng đã nghiên cứu một số công trình khác về ca dao, trong

cuốn Văn nghệ dân gian xứ Huế: Hò đối đáp nam nữ, giai thoại hò, truyện trạng

Nguyễn Kinh thì ở phần I của quyển sách chủ yếu sưu tập những lời “Hò đối đáp

nam nữ Thừa Thiên Huế” Triều Nguyên giới thiệu rằng: “Thừa Thiên Huế có nhiều kiểu loại, làn điệu hò: Hò mái nhì, hò mái đẩy, hò đưa linh, hò nàng Vung, hò ru

em, hò giã gạo, hò đâm vôi, hò nện, hò ô, hò bài chòi, hò bài thai, hò bài tiệm Hò đối đáp nam nữ thường sử dụng làn điệu u nhã, thiết tha của hò mái nhì; vẻ rạch ròi dứt khoát của hò mái đẩy; cái ngọt ngào du dương của hò nàng Vung; sự hối thúc, quyết liệt của hò giã gạo, hò đâm vôi, chất trầm bổng nhặt khoan của hò ô phóng khoáng Mỗi làn điệu, mỗi kiểu loại hò thích ứng với một nội dung thể hiện, một tâm trạng muốn giãi bày” [19, tr.18] Đây là một trong những công trình góp phần

Trang 10

làm phong phú hơn diện mạo văn nghệ dân gian xứ Huế và của dân tộc, đất nước

Ưng Luận trong Ca dao xứ Huế bình giải, Sở văn hóa thông tin Thừa Thiên

Huế, xuất bản năm 1991, 1992, 1993 (ba tập), tập 1: “Về địa lí, thắng tích, lịch sử”, tập 2: “Kho trí tuệ dân gian”, tập 3: “Người phụ nữ Huế với tình yêu và gia đình” Ưng Luận đã trình bày khá sắc sảo, hóm hỉnh, với cái nhìn của một người từng trãi

Ca dao xứ Huế do ông biên tập và bình giảng đã giúp cho người dân xứ Huế nhìn lại mình một cách kỹ hơn, soát xét lại kho tàng trí tuệ của cha ông mình, và tiếp nhận nó để ứng dụng vào trong cuộc sống hiện naỵ

Lê Văn Chưởng trong cuốn Đặc khảo văn học dân gian Thừa Thiên Huế đã

trình bày những nội dung của ca dao Thừa Thiên Huế Ca dao nói về tình yêu quê hương đất nước trữ tình, tình yêu đôi lứa qua hai giai đoạn chào hỏi – làm quen và

tỏ tình – kết duyên và ca dao nói về vấn đề hôn nhân – gia đình

Đây là những công trình, những bài viết có giá trị khoa học và thực tiễn lớn, đặc biệt đối với đề tài khóa luận của chúng tôi Trong quá trình làm đề tài này, chúng tôi đã tham khảo những ý kiến của các nhà nghiên cứu trên Nhưng những vấn đề mà các nhà nghiên cứu đề cập còn mang tính chất chung chung, chưa có công trình, đề tài nghiên cứu nào đề cập một cách toàn diện hệ thống về ca dao

Thừa Thiên Huế

Từ các công trình nghiên cứu trên đã giúp chúng tôi rất nhiều trong việc thực

hiện nghiên cứu đề tài “Tình yêu trong ca dao Thừa Thiên Huế”

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tương nghiên cứu của đề tài là “Tình yêu trong ca dao Thừa Thiên

Huế”

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Tổng tập văn học dân gian xứ Huế – Tập 5:

Ca dao của Triều Nguyên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng linh hoạt nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau sau đây:

Trang 11

- Phương pháp thống kê, phân loại

- Phương pháp phân tích – tổng hợp

- Phương pháp so sánh – đối chiếu

Ngoài ra, để phục vụ tốt việc nghiên cứu chúng tôi còn sử dụng thêm một số các phương pháp nghiên cứu hỗ trợ khác

5 Bố cục khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung của luận văn

gồm 3 chương sau:

Chương 1: Khái quát chung

Chương 2: Những phương diện tình yêu trong ca dao Thừa Thiên Huế

Chương 3: Nghệ thuật biểu đạt tình yêu trong ca dao Thừa Thiên Huế

Trang 12

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG

1.1 Khái quát vùng đất Thừa Thiên Huế

1.1.1 Lịch sử vùng đất Thừa Thiên Huế

Xứ sở Thừa Thiên Huế có danh xưng đầu tiên là Hóa Châu trong châu Thuận Hóa, rồi Thừa Thiên dưới thời Minh Mạng (1822), Thừa Thiên Huế năm 1989, cũng còn gọi là Huế Tên gọi của Huế gắn liền với lịch sử đất nước từ chuyện tình của nàng công chúa Huyền Trân Để có sính lễ ngày cưới thì vua Chế Mân đã lấy phần đất của hai châu Ô và Lý làm báu vật trong ngày cưới nên công chúa đã hy sinh tình riêng Từ đó, diện tích đất nước được nới rộng Châu Ô và châu Lý sau

này được đổi thành châu Thuận và châu Hóa vào năm 1306

Năm 111 TCN, nhà Hán thôn tính Nam Việt tức là hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân của Triệu Đà và chiếm thêm vùng đất từ Hoành Sơn trở vào, lập thành quận Nhật Nam Về sau nhân dân ở đây đã nổi lên đánh đuổi quân nhà Hán rồi đổi Việt Thường thành nước Lâm Ấp Vào khoảng thế kỷ thứ IV, Lâm Ấp hợp nhất với Chiêm hình thành quốc gia Chiêm Thành hùng mạnh và quấy rối Giao Châu Năm

1069, vua Lý Thánh Tông cùng với Lý Thường Kiệt thân chinh đi đánh đuổi Chiêm Thành, bắt được vua Chiêm là Chế Cũ, vua nước này dâng châu Bố Chinh để chuộc tội

Trong khoảng thời gian hơn 250 năm kể từ khi châu Ô, châu Lý thuộc Đại Việt cho đến năm Nguyễn Hoàng trấn thủ Thuận Hóa (1558), lịch sử vùng đất này

có nhiều nét đặc thù trong dặm dài thăng trầm của lịch sử Đại Việt

Sau non một năm dâng châu Ô, châu Lý, Chế Mân mất, Huyền Trân được giải cứu, trở về Thăng Long Dưới thời Hậu Trần (1413) nhân dân Thuận Hóa kiên

cường chống lại giặc Minh Đến thời Lê, theo Đại Nam nhất thống chí, năm 1469

đổi thành Thuận Hóa thừa tuyên thuộc phủ Triệu Phong có 6 huyện và trong đó có 3 huyện của Hóa Châu (Thừa Thiên Huế) là Đan Điền (Quảng Điền), Kim Trà (Hương Trà), Tư Vinh (Phú Vang) và thiết lập hệ thống các xã trong mỗi huyện Thời Hậu Lê kéo dài hơn 250 năm (1527-1788) nhưng các vua Lê chỉ hư vị,

Trang 13

mọi việc đều ở trong tay chúa Trịnh và chúa Nguyễn Dưới thời Nguyễn Phúc Khoát, chúa đổi dinh làm đô thành và sắp đặt lại các bộ trong dinh Sang thời Nguyễn Phúc Thuần họ Trịnh chiếm Thuận Hóa, hơn mười năm sau, Tây Sơn Nguyễn Huệ đánh đuổi họ Trịnh, chiếm Thuận Hóa và cũng đặt thủ phủ ở Đô Thành Phú Xuân (1786) Năm 1788, Nguyễn Huệ làm lễ đăng quang hoàng đế ở núi Bân rồi hành quân ra Bắc đánh đuổi bọn nhà Thanh Sau đó trở về Phú Xuân và ông mất năm 1792 nên vua Cảnh Thịnh lên nối nghiệp Sau khi thôn tính miền Nam,

năm 1801 Nguyễn Phúc Ánh trở ra đánh đuổi quan Tây Sơn, chiếm giữ Phú Xuân

Sau một thời gian bị Tây Sơn đánh đuổi khỏi Phú Xuân, năm 1801 Nguyễn Phúc Ánh – hậu duệ của các chúa Nguyễn trở lại Thuận Hóa Thời gian đó, chúa lo

ổn định chính trị, đời sống cư dân địa phương và sắp đặt lại địa giới Thuận Hóa Tháng 3 năm 1802 Nguyễn Vương lập đàn tế trời đất về sự kiện lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu Gia Long và xây dựng kinh đô Huế ở làng Phú Xuân Từ năm 1835 trở đi, Thừa Thiên Huế có 6 huyện là Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang, Phong Điền, Hương Thủy, Phú Lộc bao gồm 433 xã, thôn, phường, ấp Thừa Thiên ổn định và phát triển chưa được bao lâu thì Pháp xâm lăng Việt Nam Sau khi chiếm xong Nam kỳ và Bắc kỳ, triều đình đang rối ren về việc vua Tự Đức băng hà thì năm 1883, Pháp đánh chiếm Thuận An

Năm 1885 kinh đô Huế thất thủ Sau khi thất thủ, nhân dân Thừa Thiên Huế tham gia nhiều phong trào chống Pháp như: Văn Thân, Cần Vương, Đông Du Đến năm 1945, mặt trận Việt Minh ra đời, tiến hành cuộc cách mạng mùa thu (8/1945) thành công thì diễn ra sự kiện vua Đại Bảo – vị hoàng đế cuối cùng của triều Nguyễn thoái vị, kinh đô Huế trở thành cố đô

Với hơn 60 năm vừa chiến tranh vừa hòa bình từ 1945 cho đến nay, lịch sử Thừa Thiên Huế có những đặc điểm liên quan đến văn học dân gian Từ năm 1945 đến 1954, Thừa Thiên Huế cùng với cả nước tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp, những địa danh như Dương Hòa, Hòa Mỹ là nơi ghi dấu bao chiến công oanh liệt, vang dội khắp cả nước Từ thời điểm chiến thắng Điện Biên Phủ cả nước trong đó có xứ Huế thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp Giai đoạn 1954 –

1975, trong suốt 21 năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Thừa Thiên Huế là một trong ba ngọn cờ đầu của cuộc chiến tranh nhân dân ở miền Nam vì sự nghiệp giải

Trang 14

phóng đất nước Đây là một cái nôi của các phong trào học sinh, sinh viên, tăng ni Phật tử liên tục xuống đường chống đế quốc Mỹ và độc tài gia đình trị họ Ngô Biến

cố Mậu Thân (1968), Thừa Thiên Huế chìm trong khói lửa, nhiều người đã vĩnh viễn nằm xuống, vào tù hoặc tìm đến tự do “Rồi mùa hè đỏ lửa năm 1972, nhân dân Huế một lần nữa sống trong cảnh loạn lạc” [3, tr.25] Ngày 26/3/1975, Thừa Thiên Huế được giải phóng hoàn toàn, góp phần quan trọng vào công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc và cùng cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội Từ năm

1975 đến nay, Thừa Thiên Huế cũng như cả nước sống trong cảnh hòa bình, chăm lo hàn gắn vết thương chiến tranh và xây dựng, phát triển quê hương Sau năm 1989, ngoài 6 huyện cũ “Thừa Thiên Huế phát triển thêm hai huyện miền núi là A Lưới và Nam Đông, đồng thời cũng phát triển về bến cảng, kinh tế, xã hội ” [3, tr.26]

Vượt qua những khó khăn sau chiến tranh, Thừa Thiên Huế đã không ngừng

nỗ lực để bắt kịp nhịp độ phát triển của cả nước Những bài học thành công và thất bại đều kết tinh thành nghị lực đã hành trang cho Thừa Thiên Huế bước vào kỷ nguyên đổi mới với tất cả niềm tin, quyết tâm xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh hơn, xứng đáng với công lao của tiền nhân đã dày công vun đắp nên mảnh đất anh hùng nhưng cũng rất đỗi hào hoa với những nét văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc

và với một quần thể di tích được công nhận là di sản văn hóa của thế giới nhân loại Nói tóm lại, trải qua hơn bảy trăm năm hình thành và phát triển, Thừa Thiên Huế

có nhiều bước thăng trầm của lịch sử Trải qua dặm dài lịch sử ấy, bên cạnh quê hương non nước trữ tình được mở rộng, Thừa Thiên Huế có nhiều sự kiện và biến cố lịch sử đặc biệt, nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể tiêu biểu trở thành những hiện tượng đặc trưng hàm chứa trong văn hóa và văn học dân gian xứ sở này

1.1.2 Về vị trí địa lí, địa hình và thổ nhưỡng

Thừa Thiên Huế nằm trên dải đất miền Trung đầy nắng và gió Vùng đất này rộng chừng 5.050 km2 gần như ở giữa miền Trung và chiều dài của đất nước, trải dài từ 15o58’B đến 16o45B và từ 107o03’Đ đến 108o08’Đ, trên biển đến 117o20’Đ Phía Bắc Thừa Thiên Huế giáp với huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, phía Nam lấy đèo Hải Vân làm ranh giới với Đà Nẵng, phía Tây giáp với Nam Lào bởi đường biên giới dựa vào dãy Trường Sơn, phía Đông là biển Đông với tổng chiều dài đường bờ biển 126 km Thừa Thiên Huế có đường sắt Bắc – Nam, quốc lộ 1A,

Trang 15

đường Hồ Chí Minh chạy dọc theo chiều dài của tỉnh

Khí hậu Thừa Thiên Huế thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, thời tiết có hai mùa mưa nắng nhưng ở đây có tính chất lờ lợ bốn mùa, đặc biệt mưa dầm kéo dài cả tháng Do dãy Trường Sơn chạy sát biển nên có nhiều núi cao như núi Truồi, dãy Bạch Mã, Lăng Cô và nhiều đồi núi khác như: Long Thọ, Ngọc Trản, Ngự Bình, Thiên Thai, Thiên Mụ Cũng do đó nên địa phương này có nhiều đèo như: Phước Tượng, Phú Gia mà tiêu biểu nhất là đèo Hải Vân

Thừa Thiên Huế cũng là một quê hương có môi trường sông nước khá phong phú trong đó có những con sông lớn như: sông Hương, sông Ô Lâu, sông Bồ và một hệ thống phụ lưu ngang dọc chia cắt dải đồng bằng hẹp chạy dọc theo bờ biển Bên cạnh hệ thống sông ngòi thì ở Thừa Thiên Huế còn có các đầm phá như: phá Tam Giang, Cầu Hai, Hà Trung là một trong những túi đựng nước khổng lồ đổ ra các cửa biển Lăng Cô, Thuận An Bờ biển dài 120 km, có cảng Thuận An và vịnh Chân Mây với độ sâu 18 – 20 m đủ điều kiện xây dựng cảng nước sâu với công suất lớn, có cảng hàng không Phú Bài nằm trên đường quốc lộ 1A và đường sắt xuyên Việt chạy dọc theo tỉnh Đặc biệt nhất là sông Hương không những dài mà dòng nước trong xanh quanh năm thơ mộng, trữ tình, soi bóng núi Ngự Bình, tạo thành biểu tượng “Sông Hương – Núi Ngự” của xứ Huế

Vùng đầm phá Thừa Thiên Huế có giá trị kinh tế lớn, nổi bật là sự phong phú

về nguồn lợi thuỷ sản nước lợ và rừng nước mặn Đầm phá cùng với hệ thống sông ngòi tạo thành một mạng lưới giao thông đường thuỷ nối các vùng từ Bắc đến Nam dọc theo tuyến biển khá thuận lợi Đồng bằng Thừa Thiên Huế hẹp ngang, nơi rộng nhất khoảng 16 km và hẹp nhất chỉ 4 km (Cầu Hai) Hoạt động sản xuất nông nghiệp theo chiều ngang này bị thu hẹp hơn do hàng năm có sự xâm lấn của những trảng cát nội đồng và dải cát ven biển Phía Tây đồng bằng tiếp cận với vùng đồi núi

có độ chênh cao khoảng 10 m Đây là vùng có thổ nhưỡng thô gồm phù sa lẫn cát sỏi, đất nghèo chất mùn, thực vật tự nhiên chỉ phát triển các loại chịu được hạn như: chổi, sim, tràm Phía Đông là dải đất thấp xuôi về đầm phá ven biển gồm những đồng bằng nhỏ

Vùng đất Thừa Thiên Huế là một bộ phận của địa máng Trường Sơn Trải qua

Trang 16

những biến động địa chất vùng phía Tây được nâng cao thành lục địa Vùng đất này không bị tác động bởi quá trình tạo núi, vùng địa máng phía Đông trở thành nơi tiếp nhận những vật liệu bị bào mòn từ vùng núi phía Tây Vì vậy, vùng đồng bằng có chứa nhiều trầm tích của sông và biển Hơn nữa, do nguồn gốc hình thành khác nhau nên thành phần vật chất cấu tạo không đồng nhất: những bãi cát rộng của Phong Điền, những vùng cát xen kẽ giữa các vùng đồi đá gốc (Phò Trạch, Phong Thu), các đồng bằng hẹp do phù sa sông bồi tụ như: Quảng Điền, Phú Vang, Hương Thuỷ Đất đai khá phì nhiêu, thích hợp để trồng trọt cây lương thực, hoa màu.Rõ ràng ta thấy “Thừa Thiên Huế hết sức giàu có về tài nguyên thiên nhiên, từ vị trí địa

lý, đến đất đai, từ khoáng sản đến nước mặt và nước ngầm, từ đa dạng sinh học đến cảnh quan thiên nhiên [32]

Từ bốn yếu tố tự nhiên núi – sông – đồng bằng – biển đã tạo ra một vùng đất thần Kinh – Thừa Thiên Huế

1.1.3 Con người vùng đất Cố đô

Thừa Thiên Huế nằm trên dải đất miền Trung đầy nắng và gió với bao khó khăn trong cuộc sống Phía Nam của Huế là đèo Hải Vân, bức tường thành tự nhiên này đã tạo nên cho Huế một kiểu khí hậu mà chỉ có ai yêu Huế, sinh ra và lớn lên ở

Huế mới chịu đựng nổi: mưa dầm dề “thối đất, thối đai” và nắng “cháy da, cháy

thịt” Điều kiện thiên nhiên không ưu đãi khiến cho người Huế phải sống chắt chiu, tiết kiệm để có thể tồn tại trên mảnh đất này Thiên tai, bão lũ thường xuyên khiến cho người Huế phải sống gần gũi nhau hơn, quan tâm nhau nhiều hơn để cùng nhau vượt qua khó khăn hoạn nạn, để đến khi “tắt lửa tối đèn” thì còn có nhau Không những thế, Thừa Thiên Huế trong hơn 300 năm là thủ phủ của Đàng Trong và hơn

140 năm là kinh đô của triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam nên vẫn còn chịu ảnh hưởng sâu sắc của chế độ phong kiến

Có ai đã từng đến Huế, từng nói chuyện với người dân nơi đây hẳn sẽ thấy ngay được ở họ sự mến khách và nhiệt thành, gần gũi và thân thiện Người Huế luôn nở nụ cười trên môi khi gặp người khác Những du khách đến đây luôn nhận được sự quan tâm, hỏi han, giúp đỡ của người Huế những lúc gặp khó khăn Vùng đất kinh đô với những văn hóa xa xưa đã tạo cho người dân nơi đây một phong thái thanh tao, cao nhã nhưng rất đằm thắm, nhẹ nhàng Cái phong thái cao nhã, thanh

Trang 17

tao ấy thể hiện ngay trong lối giao tiếp với tiếng “dạ”, “thưa” mềm mại, từ dấp dáng

đi, đứng nhẹ nhàng uyển chuyển trong những chiếc áo dài tím thướt tha của các thiếu nữ, để giờ đây khi nhắc tới Huế ai cũng biết tới Huế - viên ngọc tím huyền ảo, thơ mộng

Khi tiếp xúc với những người ở Huế ta còn có thể thấy được nét đẹp trong tư chất của họ Vùng đất kinh đô này, thời đế đô đã từng là cái nôi nuôi dưỡng nhân tài với các nhà cách mạng, văn chương như: Tố Hữu, Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Phan Bội Châu nơi đây đã đào tạo, rèn luyện con người, và là môi trường lý tưởng để hun đúc bồi dưỡng tư chất cho tuổi trẻ tài năng Cho đến nay, Thừa Thiên Huế vẫn là nơi ươm mầm cho những tài năng trẻ, đưa Huế trở thành trung tâm văn hóa lớn của cả nước

Con người ở vùng đất này có những cách nghĩ và hành động nhiều khi đối nghịch nhau Thừa Thiên Huế là một trung tâm của lối ăn chay, vậy mà người ở đây lại thích ăn cay Nói năng từ tốn, điềm đạm, nhưng lại quả quyết, dứt khoát Trong ứng xử, phản ứng đầu tiên được thể hiện bằng tiếng “dạ”, “vâng” nghe như bằng lòng, chấp thuận, nhưng tiếp theo đó là cân nhắc, suy tính kĩ lưỡng trước khi làm việc lớn hay nhỏ Dân nghèo nhưng sang, ít nói nhưng hay bắt bẻ, lý sự, còn trong lòng hay chất chứa nhiều mối giằng co

Tính cách con người xứ Huế rất đặc biệt đó là luôn giao hòa với thiên nhiên

cỏ cây Điều này được thể hiện cụ thể nhất trong lối kiến trúc nhà Vườn mà chỉ ở Huế mới có Với lại, người Huế cầu kì trong chế biến ẩm thực Với người Huế, nấu món ăn là để thể hiện sự đam mê nghệ thuật Với quan niệm ăn thì trước hết là phải nhìn qua cách bày trí món ăn, người Huế gọi là“ăn bằng mắt”, nên người phụ nữ Huế rất dụng công trong việc tạo hình các món ăn một cách nghệ thuật, nên khi ăn cảm thấy hấp dẫn và ngon miệng hơn Tất cả kinh nghiệm chế biến được truyền dạy

từ thế hệ này qua thế hệ khác và ngày càng hoàn thiện hơn nên hầu như tất cả phụ

nữ Huế là những con người tài hoa, “nữ công gia chánh”

Vùng Huế với một môi trường thiên nhiên ưu đãi với đủ loại địa mạo, đồng bằng có, gò đồi có, núi non có với những buổi sáng mùa đông sương toả một tấm voan dịu dàng, có những chiều vàng trên lưng đồi, mặt trăng phản chiếu xuống dòng sông làm toát lên sự trầm lắng dịu dàng đã làm tâm hồn rung cảm, tạo ra tính

Trang 18

cách con người đa cảm, thanh lịch, trầm mặc, khoan thai, nhẹ nhàng khiến người xa

xứ đến Huế thường vì mối tình với Huế mà ở lại đất Huế, lập nghiệp ở Huế và tha thiết với Huế vô cùng:

Học trò trong Quảng ra thi Thấy cô gái Huế chân đi không lành

Không những thế, điều kiện tranh đấu với thiên nhiên khắc nghiệt hàng trăm năm nay tạo ra một con người Huế chịu đựng gian khổ, đào luyện ý chí kiên cường trong thầm lặng nên ngôn ngữ thường ngắn gọn, văn hoa, nhẹ nhàng Người Huế có một chất giọng đặc trưng riêng, có sức truyền cảm với người nghe với những tiếng địa phương rất dễ thương làm cho những người đến Huế nhớ mãi không quên Người Huế rất khiêm tốn, họ không ngông nghênh, thường hay sầu khi thế nhân đang vui:

Người xứ Huế trang nghiêm và thầm lặng Thường hay sầu giữa lúc thế nhân vui

Tâm sự nhiều mà ít hé trên môi Thanh lịch thay bạn văn nhân xứ Huế!

Người Huế sống rất kín đáo và trầm lặng Họ thường ít nói, sống luôn biết giữ chuyện, không tuệch toạc và hết sức kín đáo trong lời ăn, tiếng nói hằng ngày Họ thường giấu kín những khó khăn riêng của mình trước người khác, không để điều qua tiếng lại hay chuyện buồn đối với hàng xóm láng giềng Ngoài cách sống kín đáo và thầm lặng thì người Huế còn sống hoài cổ và thủ cựu Điều này thể hiện ở chỗ mà người Huế tiếp nhận cái mới, cái lạ, tất cả những gì mới và lạ du nhập vào Huế đều cần phải có một thời gian dài và rất lâu, phải trải qua một quá trình thẩm thấu, chọn lọc thật kĩ thì những cái đó mới được người ta đón nhận

Văn hóa cũng vậy, phần đông người Huế vẫn quý trọng mái tóc bởi “cái tóc là vóc con người” và tà áo dài của người con gái Con người Huế dù đi đâu về đâu thì hình ảnh khắc sâu trong tâm khảm họ chính là chiếc áo dài Áo dài Huế không chấm gót như áo dài miền Nam, cổ áo cao vừa phải, cổ áo cũng thắt đáy lưng ong, nhưng lại không gò bó quá, tà áo cũng không xẻ quá cao Tất cả mọi người dân ở đây đều quý trong những giá trị truyền thống, những cái cốt lõi, cái tinh túy đã song hành với họ trong cuộc sống Trân trọng, tự hào những giá trị truyền thống quê hương,

Trang 19

người Huế đi đâu cũng đem chiếc áo dài của mình giới thiệu cho bạn bè khắp năm châu biết đến để duy trì những giá trị tinh thần, để không bị mai một dần theo thời gian

Người ta thường nói đất Thừa Thiên vừa là nơi gốc gác đào tạo, rèn luyện con người vừa là môi trường thiên nhiên hun đúc bồi dưỡng tư chất cho tuổi thanh niên đầy đủ hành trang để lập nghiệp mai sau Người con của Huế cảm thấy khó lòng rời

xa nơi “chôn nhau cắt rốn” của mình Dù quê có nghèo khó họ vẫn luôn gắn bó không rời bước khỏi quê hương Và những người con xa xứ thì vẫn luôn tâm thức

dù là một kẻ ly hương ở phương trời nào đi chăng nữa cũng luôn hướng tình cảm hoài hương của mình, hoài vọng về nơi mình cất bước ra đi lập nghiệp ở phương trời mới Cái tình cảm này nó in đậm thấm sâu vào trong tâm thức như tình con với

mẹ, râm rỉ như mạch nước ngầm dưới lòng đất, như ngọn lửa hồng vùi dưới lớp tro tàn Nó vừa giúp con người không quên nguyên quán của mình, vừa thôi thúc con người chẳng những sống cho bản thân mà còn cho cả một cuộc sống chung, luôn có tính vị tha, nhân hậu

Như vậy, con người qua nhiều trào lưu lịch sử vừa biến cải thiên nhiên, vừa tạo ra những động lực thay đổi xã hội, cả hai môi trường thiên nhiên và nhân văn có tác động qua lại lẫn nhau Con người Thừa Thiên có cái tính, cái tình không trộn lẫn vào đâu đã tạo ra cuộc sống hài hoà với thiên nhiên, làm thiên nhiên tươi đẹp hơn,

từ đó thiên nhiên đã tác động gián tiếp đến tâm tư con người Mặt khác, xã hội cũng cải biến như sự thành lập đế đô, một dân số đông hơn, trí thức hơn tác động con người Huế qua giọng nói, qua phong cách của con người xứ thượng kinh Thiên nhiên đó, truyền thống đó đã tạo cho người dân xứ Huế một phong cách không hề trộn lẫn, nhạy cảm và tinh tế

1.1.4 Đặc trưng văn hóa dân gian Huế

Nằm giữa lòng miền Trung, ở vị trí trung độ trong hành trình du lịch suốt chiều dài đất nước, đất không rộng, người không đông nhưng trải qua biết bao thăng trầm lịch sử, Thừa Thiên Huế đến này vẫn lưu giữ những nét sinh hoạt của nền văn hóa xưa Văn hóa Thừa Thiên Huế cũng ở trong quỹ đạo văn hóa Việt Nam nhưng

do đặc thù về văn hóa và lịch sử – xã hội, địa phương này đã dần dần hình thành những đặc trưng văn hóa mới vùng đất Hóa Châu Những hiện tượng văn hóa vật

Trang 20

chất và tinh thần khá phong phú và đa dạng Những thế kỷ đầu, người Việt vùng Hoan Ái (Thanh – Nghệ) vào định cư ở Hóa Châu Tại đây như là địa bàn hội ngộ văn hóa Việt – Chăm Bên cạnh di vật văn hóa Chăm như Thành Lồi ở huyện Kim Trà, tháp Chăm ở núi Quy Sơn, tháp Liễu Cốc ở huyện Tư Vinh, gần đây còn phát hiện tháp Mỹ Khánh ở huyện Phú Vang Ngoài ra còn có những di tích lịch sử - văn hóa của người Việt như: chùa Thiên Mỗ, đền Thái Dương, Linh Đà, Y Na ở huyện Kim Trà; chùa Sùng Hóa, đền Tùng Giang ở huyện Tư Vinh Từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa cho đến cuối thời Tây Sơn, các chúa Nguyễn tôn tạo các di tích cũ hoặc kiến tạo những công tình mới Tiêu biểu là chùa Thiên Mụ, Báo Quốc, Kim Tiên, Hà Trung và thành lũy dinh trấn ở huyện Quảng Điền và Hương Trà, cùng với hệ thống cầu cống mà đặc biệt là cầu ngói Thanh Toàn ở làng Thanh Thủy, huyện Hương Thủy ngày nay

Trong thời kì đầu năm 1306, do Việt – Chăm cộng cư với nhau trên đất Hóa Châu nên có hiện tượng giao lưu, tiếp biến văn hóa lẫn nhau Về trang phục thì con gái làng Thủy mặc áo Chiêm, trong giao tiếp thì thổ dân làng La Giang nói bằng tiếng Chiêm Về đời sống tinh thần “Xuân sang thì mở hội bơi trải, gái lịch trai thanh; hạ tới thì thì bày cuộc đấu thăm, dập dìu rộn rã nơi ca chốn múa” [3, tr.31] Tọa lạc bên bờ sông Hương xanh biếc êm đềm vốn xưa nay vẫn chảy lững lờ qua lòng đô thị chính là quần thể kiến trúc nghệ thuật kinh đô Huế được xây dựng dưới triều Nguyễn Đối với thời kì từ triều Nguyễn trở về sau thì văn hóa vật thể phần nhiều tập trung ở địa bàn thành phố Huế Về văn hóa vật thể, tiêu biểu nhất là kinh đô Huế, một di sản văn hóa thế giới (1993), vị trí trên khu đất 520 ha bao phủ bởi kinh thành đồ sộ trong đó có kì đài to lớn uy nghi “Cột cờ ba cấp, Phu Văn Lâu hai tầng” Trong kinh thành, ở bờ Bắc có Hoàng thành, Tử Cấm Thành với hàng chục cung điện vàng son lộng lẫy, hoành tráng tú lệ là cửa Ngọ Môn, tượng trưng cho quyền lực của vương triều

Xa xa, ở phía Nam sông Hương còn có kiến trúc lịch sử văn hóa như Phu Văn Lâu đây là nơi vua công bố các chiếu chỉ, đàn Nam Giao là nơi tế trời, Văn miếu thờ Khổng Tử và cũng là nơi dựng bia tiến sĩ Đây được xem như những công trình nghệ thuật tuyệt đẹp giữa chốn đồi núi linh thiêng này Sự hài hòa kiến trúc thiên nhiên của kinh thành Huế đã đạt đến mức tuyệt diệu và hoàn chỉnh Kinh thành

Trang 21

được xem là một thành lũy có hình ngôi sao mà về đêm trông như một vì tinh tú đẹp lung linh, huyền ảo Kinh thành Huế được thiết kế như một thành lũy với cả một hệ thống phức hợp các công trình kiến trúc liên quan chặt chẽ với nhau và mang tính phòng thủ vững chắc Hình khối kiến trúc của những công trình trong kinh thành Huế là mái thẳng, đường nét thanh nhã phù hợp với những kết cấu hướng đến chiều cao được xác định phù hợp với tỷ lệ Rõ ràng, sự hài hòa giữa kiến trúc và tạo hình thời Nguyễn phản ánh mối giao hòa tâm lý “Thiên - Địa - Nhân” sâu sắc của người Huế Chính mỹ thuật dân gian đã phả vào mỹ thuật cung đình một sức sống mới, ngược lại mỹ thuật cung đình trang nhã, trang trọng tác động trở lại khiến cho mỹ thuật dân gian thêm phần sinh động

Nói đến văn hóa Huế thì không thể quên văn hóa ẩm thực Trong những đặc trưng văn hóa lâu đời của Huế thì sự đa dạng cầu kỳ trong cách chế biến thức ăn góp một phần không nhỏ vào việc hình thành nét riêng xứ Huế Món ăn Huế giản

dị, phong phú, mang hương vị đằm thắm của sản phẩm nơi đồng ruộng, đầm phá, núi sông đất Cố đô song cũng không kém phần sang trọng tinh tế với cách bài trí món ăn mang tính nghệ thuật của các món ăn cung đình Song song với dòng ẩm thực cung đình mà cao lương mĩ vị nhất là “nem công chả phượng”, dòng ẩm thực dân dã cũng là cái đặc trưng của Huế mà tiêu biểu nhất là bún bò Huế và các loại bánh bèo, bánh ướt, nậm, lọc vừa xinh xắn, vừa thơm ngon độc đáo Và nếu có dịp dừng chân dùng bữa cơm ở Huế bạn sẽ được thưởng thức những món đồng quê

và dân dã mà ngon đến lạ Đơn giản như món cá bống thệ kho rau răm với nước dừa, món canh rau tập tàng mà vườn nhà ai cũng có sẵn, bát canh thịt heo nấu với lá bông ngọt, lá mồng tơi, ngọn sần, búp hoa bí ngô xào kèm với tôm hay thịt bò và không thể thiếu đĩa rau sống cùng một chén nước mắm ngon

Bên cạnh văn hóa ẩm thực thì không thể không nhắc đến trang phục thời kì này Huế là cái nôi của tà áo dài, được phôi thai từ thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1743), đến thời Minh Mạng (1820) thì được hoàn chỉnh hơn Từ đầu thế kỉ XX, tà

áo dài hoàn thiện nét đẹp thướt tha, duyên dáng, kín đáo góp phần làm khối lượng văn hóa vật thể thăng hoa nét đặc trưng Và cho đến những năm 1970, người nữ ở Huế ra khỏi nhà là mặc áo dài, kể cả chị tiểu thương ở chợ hoặc bà bán hàng rong Thậm chí nhiều bà danh giá đi ngủ vẫn mặc luôn áo dài

Trang 22

Cùng với một triều đại phong kiến dưới triều Nguyễn, lễ hội và âm nhạc ở vùng đất này phát triển vô cùng phong phú, đa dạng và mang đậm phong cách dân tộc Việt Lễ hội triều đình thì có lễ: lễ Đoan Dương, lễ Vạn Thọ, lễ Đại triều, lễ Ban Sóc … Mỗi lễ hội có những bước nghi thức mà phần hồn của nó chính là âm nhạc lễ nghi cung đình Lễ hội dân gian có các loại hình lễ hội: lễ hội vật Sình, lễ hội đua ghe, lễ hội tế đình, tế miếu… gắn kết với các loại hình lễ hội là những hình thức âm nhạc lễ nghi dân gian muôn màu vạn trạng “Cùng tồn tại với dòng âm nhạc mang tính lễ nghi, loại hình âm nhạc mang tính giải trí tiêu khiển của xứ Huế cũng được thế giới biết đến như một điển hình mang đậm bản sắc riêng của một vùng văn hoá, mộc mạc thuần khiết không pha trộn” [29] Những điệu múa, những vở tuồng, những bài ca Huế ngày nay đã trở thành những món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân vùng đất cũng như du khách mọi miền khi đến thăm Cố đô Thừa Thiên Huế còn là địa bàn cư trú của các dân tộc ít người như: Bru – Vân Kiều, Co, Taôi với những sắc thái dân tộc độc đáo trong đời sống sản xuất, sinh hoạt đặc biệt là trang phục, trang sức dân tộc cũng như phong tục tập quán, lễ hội mang đậm dấu ấn của nền văn hóa, văn nghệ dân gian đặc sắc

Vẻ đẹp thơ mộng, tao nhã của quần thể di tích Huế, nét độc đáo của các lễ hội dân gian truyền thống, sự phong phú của nghệ thuật âm nhạc và ca múa, nét tinh tế trong nghệ thuật ẩm thực và giao tiếp càng được tôn vinh do sự sắp đặt đan xen, hài hòa trên nền một khung cảnh thiên nhiên kỳ tú với nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng như: núi Ngự, sông Hương, đồi Vọng Cảnh, bãi biển Cảnh Dương, Thuận

An, phá Tam Giang, núi và rừng quốc gia Bạch Mã, đèo Hải Vân tất cả tạo nên nét riêng trong đời sống sinh hoạt tinh thần xứ Huế

1.2 Khái quát về ca dao Thừa Thiên Huế

1.2.1 Khái niệm ca dao

Ca dao là một thuật ngữ Hán Việt Thuật ngữ ca dao dường như không có hệ thống tên gọi câu hát, câu ví hay các làn điệu ca hát dân gian Ở nước ta, thuật ngữ

ca dao vốn là một từ Hán Việt dùng rất muộn, có thể muộn đến hàng ngàn năm so

với thời gian đã có những câu ví, câu hát Ở trong cuốn Văn học dân gian (tập 2)

của Đinh Gia Khánh đã chú thích rằng: Trong Kinh Thi, phần Ngụy Phong bài Viên hữu đào có câu:“Tân chi ưu bĩ, ngã ca thả dao” Các tác giả Trung Quốc khi nghiên

Trang 23

cứu về văn học dân gian đã dùng ca dao để gọi hai loại ca khác nhau đó là khúc hát

có nhạc đệm theo lời gọi là ca, còn hát trơn thì được gọi là dao

Theo Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), trong cuốn

Từ điển thuật ngữ văn học đã định nghĩa ca dao như sau: “Ca dao còn gọi là phong

dao Thuật ngữ ca dao được dùng với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau Theo nghĩa gốc thì ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu Ca dao là danh

từ ghép chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không

có khúc điệu Trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca Do tác động của hoạt động sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian, ca dao đã dần chuyển nghĩa Từ một thế kỉ nay, các nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam đã dùng danh từ ca dao để chỉ riêng thành phần nghệ thuật ngôn từ của dân ca Với nghĩa này, ca dao là thơ ca dân gian truyền thống” [5, tr.31]

Ca dao thường là những bài ngắn, hoặc hai, bốn, sáu hoặc tám câu, âm điệu lưu loát, phong phú Đặc điểm của ca dao về phần hình thức là vần vừa sát lại vừa thanh thoát, không gò ép, lại giản dị và tươi tắn Nó có vẻ như lời nói thường mà lại nhẹ nhàng, gọn gàng, chải chuốt, miêu tả được những tình cảm sâu sắc Có thể nói,

ca dao dùng lời ăn tiếng nói của nhân dân để chuyển tải tâm tư, tình cảm của nhân dân

1.2.2 Ca dao dân ca Thừa Thiên Huế

Xứ Huế có bề dày lịch sử ngót 700 năm, nếu tính từ khi châu Ô, châu Lí trở thành một bộ phận của nhà nước Đại Việt Những người Việt từ phía Bắc vào đã kề vai sát cánh cùng người Chăm, người các dân tộc thiểu số bản địa xây dựng làng quê, phường phố Trong cái gia tài mang từ quê nhà ra đi, chắc chắn có cả vốn văn hóa, văn học dân gian địa phương, mà ca dao là một bộ phận quan trọng Và khi cuộc sống dần ổn định thì sinh hoạt văn nghệ dân gian (quá trình sáng tạo và diễn xướng) tiếp tục nảy nở và sinh sôi

Ca dao Thừa Thiên Huế rất phong phú, đa dạng và có từ lâu đời Nó mang một số đặc điểm chung của ca dao cả nước, đồng thời mang những đặc điểm riêng thấm đượm sác thái của vùng đất Cố đô

Theo một nghiên cứu của Tiến sĩ Tôn Thất Bình (Dân ca Bình Trị Thiên, Nxb

Thuận Hóa, 1977), thì “khu vực Bình Trị Thiên có 9 thể hát, 30 thể lí và 43 thể

Trang 24

hò” [17, tr.15] Một số phương thức, làn điệu hò hát thường gặp ở Thừa Thiên Huế như: Hò mái nhì, hò mái đẩy, hò ru em, hò giã gạo

Hò mái nhì: Là loại hò chủ yếu khi người ta chèo thuyền trên sông Hương hay phá Tam Giang, thường là những lời độc thoại, lời hò có nội dung ân tình tha thiết

“Hò mái nhì thường sử dụng thể thơ song thất lục bát, hầu hết thuộc dạng biến thể kiểu nới dài số tiếng ở các dòng thơ” [17, tr.16]

Hò mái đẩy: Là loại hò được dùng khi chèo thuyền trên những quãng phá có sóng khá lớn hay những khúc sông mà nước chảy xiết Hò mái đẩy thường có “tiết tấu nhanh, quãng ngưng hơi ngắn, tình ý gửi gắm dứt khoát” [17, tr.16] Hò mái đẩy cũng mang nội dung ân tình, có nhiều lời thách đố, châm chọc và cả lối đối đáp huê tình

Hò ô (hò mái ô): Là loại hò thích hợp với công việc lao động có tính chất đơn lập, riêng rẽ (đi cày, làm cỏ, đạp guồng nước ) Vì vậy, “hò ô thường là lời độc thoại, tự nói lên tâm sự, nỗi niềm sâu kín Âm điệu của hò ô dìu dặt, trầm bổng kéo dài trong không gian thoáng đãng của đồng quê, nghe có cảm giác đầm ấm, vấn vương” [17, tr.16] Điệu hò ô cũng được dùng trong các cuộc đối đáp “tay không”, khi cả hai bên thấy cần sử dụng lời hò ô để thăm dò tài trí, tình cảm của đối phương lúc gặp gỡ giữa đường hay gặp nhau chốn lễ lạt

Hò giã gạo: Còn được gọi là hò khoan Loại hò này phổ biến cả Bình Trị Thiên, thường được tổ chức vào những đêm có trăng chiếu sáng bên cối giã gạo Khi giã gạo thì mỗi cối hò gồm bốn hay sáu người, nữa nam nữa nữ Diễn tiến của

hò khoan có thể gồm hò mời, hò chào hỏi, hò ướm lòng, hò ân tình

Hò bài thai, bài tiệm: Là lối hò lấy tên hay hình tượng của các quân bài trong

bộ bài tới làm thành tố ý nghĩa và dùng để đố “Người chơi dựa vào lời hò mà đoán,

đó là quân bài nào, để cược tiền Nếu đoán đúng, sẽ được nhà cái thưởng theo mức hai bên đã thống nhất Một cuộc chơi bài thai thường kéo dài chừng nửa giờ, còn cuộc chơi bài tiệm là 24 giờ” [17, tr.17]

Hò Nàng Vung: Loại hò này phổ biến ở huyện Hương Thủy trước 1964

“Cuộc hò Nàng Vung được báo trước bằng bài hát dạo, do lớp thiếu niên đảm trách Nhưng tham gia hò hầu hết là những nghệ nhân hò Những người dự cuộc hò rủ nhau đến một khu đất cao ráo, vào một đêm trăng đẹp, trải chiếc chiếu hoa và mời

Trang 25

“Nàng Vung” ngồi vào, còn tất cả đứng chung quanh chiếu Một cái vung đất dược

đặt trước mặt cô gái cùng với nắm hương Một người chơi đốt hương khấu cầu Nàng Vung nhập vung Cô gái đặt hai tay lên vung và bắt đầu xoay tròn Lúc này thường có lời hát, kiểu hát sai đồng, hát dỗ vong, nhằm biến cô gái thành Nàng Vung Khi vung đã xoay đều và mạnh, những người dự cuộc hò lần lượt hò ra những nỗi niềm tâm sự và Nàng Vung cũng tuần tự đáp lời Nội dung hầu hết là ân tình” [17, tr.17-18]

Hò ru em: Còn được gọi là hát ru Hò ru em đến nay vẫn còn phổ biến Nội dung lời hò này khá phong phú Người hò (bà, mẹ, chị ) có thể sử dụng những lời không hướng về trẻ mà nhằm bày tỏ tấc lòng về tình cảm nên cũng đầy tâm trạng Thể thơ được dùng khá nhiều trong thể hát ru là thể lục bát có nhịp đôi đầy đặn, phù hợp với nhịp lắc của nôi

Hò đưa linh: Loại hò này được hò trước quan tài, khi đưa người chết đến mộ Cho đến ngày nay thì một số trường hợp tổ chức hò đưa linh vào đêm cuối cùng khi quan tài người chết còn nằm ở nhà, với một số nghệ nhân vừa chèo thuyền vừa hát

“Một cuộc hò đưa linh đầy đủ có thể bao gồm các hình thức hò hát như: hường, hát nam linh, hát bắt bài, nói lái đưa linh, lí đưa linh và hát lui thuyền Có khi còn thêm

hò nện và đọc vè sau đó Nội dung chủ yếu là thể hiện tâm trạng thương tiếc của người còn sống và người đã mất” [17, tr.18]

Hò nện: Hay còn được gọi là hò hụi Đây là loại hò dùng khi nện đất như: đắp nền nhà, đắp sân, đắp đất quanh quan tài khi vừa hạ huyệt Hò nện là “điệu hò tập thể, có người cái hò xướng, các người con hò xô, mục đích là để động tác nện được mạnh, đều và nhiều cho nền đất mới được chắc Hò hụi thường dùng thể thơ lục bát, ngắt nhịp chẵn, tiếng nện làm nhịp đệm nên có tính chất hối thúc, giục giã như hò giã gạo Nội dung của hò nện ngoài theo tâm lí chung của những người tham gia mà hình thành còn hướng đến gia chủ, nhằm tăng thêm niềm vui (khi làm sân, làm nhà), hay giảm bớt nỗi buồn (khi đắp mộ) ” [17, tr.18-19]

Ngoài những phương thức, làn điệu trên còn có nhiều phương thức, làn điệu

hò khác như: hò đâm vôi, hò xay lúa, hò khau đai, hò đẩy nôốc (trong lao động); hát hầu văn, hát bả trạo, hát sắc bùa (trong nghi lễ); và nhiều điệu lí như: lí tiểu khúc, lí giao duyên, lí tử vi, lí chim quyên, lí tương tư Những phương thức, làn

Trang 26

điệu diễn xướng này đã góp phần tạo nên một khối lượng ca dao đồ sộ, phong phú, mang phong cách địa phương đậm nét

Nói tóm lại, quê hương núi Ngự - sông Hương đã sở hữu một khối lượng văn học dân gian đồ sộ nội hàm tâm thức cư dân địa phương trong mối quan hệ với thiên nhiên, lịch sử - xã hội, văn hóa Thành quả này như đã định tính và định lượng

về giá trị học thuật và đặc trưng văn học dân gian xứ Huế Đây là di sản văn hóa di sản phi vật thể tiêu biểu bên cạnh hai di sản văn hóa thế giới, là bản sắc văn hóa Huế, là nguyên khí văn hiến, văn hóa của dân tộc

1.2.3 Đề tài phản ánh trong ca dao Thừa Thiên Huế

Dựa theo chủ đề phản ánh, ca dao Thừa Thiên Huế đã thể hiện các chủ đề: ca dao về quê hương đất nước; ca dao về quan hệ gia đình, ca dao đối đáp, trêu nghẹo;

ca dao về tình yêu lứa đôi; ca dao cổ động các phong trào kháng chiến chống Pháp, Mỹ; và ca dao về các vấn đề khác của cuộc sống như: nhìn nhận, đánh giá về con người nói chung; nhìn nhận, đánh giá con người trong các mối quan hệ gia đình và

xã hội; nhìn nhận, đánh giá về tự nhiên

Nói về quê hương đất nước thì ca dao Thừa Thiên Huế thường gắn vào đó một tình cảm yêu quê hương thiêng liêng, sâu nặng Đây là vùng đất có nhiều sản vật nổi tiếng, con người sống tình nghĩa, người Huế “đi mô cũng nhớ quê nhà” Tuy

là vùng quê không được thiên nhiên ưu đãi nhưng con người vẫn chắt chiu, chịu thương chịu khó, sống gắn bó với quê mình

Về quan hệ gia đình, ca dao Thừa Thiên Huế thường đặt ra những vấn đề thủy chung, son sắt và lên án gay gắt các kiểu phụ tình Ngày trước, các phụ nữ lấy chồng dù chỉ xa nhà có vài chục cây số cũng đã là cảnh li hương, bỏ cha mẹ, xóm làng và có không ít các bài ca dao biểu thị tâm trạng đau xót này Hầu hết những bất hạnh về gia đình thì người phụ nữ phải chịu đựng Cả gánh nặng về định chế xã hội

và luật tục bất công cũng đặt trên lưng họ

Hò đối đáp là phương tiện duy nhất và được coi là đương nhiên trong giao tiếp sáng tạo, giao tiếp thử thách tài trí, ứng xử và giọng điệu, để nắm hiểu đối tượng Loại hò này phần lớn sử dụng trong quan hệ nam nữ Kiểu giao tiếp đặc biệt này diễn ra trong nhiều hoàn cảnh: lao động, vui chơi, giải trí, nghi lễ Những lối nói năng sắc xảo, nhanh nhạy và cả hình thức chơi chữ tinh vi, hầu hết thuộc mảng

Trang 27

ca dao này Đây cũng là bộ phận ca dao mở đầu, khơi nguồn cho ca dao về tình yêu lứa đôi

Tình yêu lứa đôi thì không chỉ là chủ đề của một khối lượng lớn ca dao mà là mảng ca dao có nhiều bài hay Thời xưa hôn nhân của con cái do cha mẹ định đoạt

“cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”, sự phân biệt thái quá về địa vị, của cải nhưng những nỗi lòng, tâm trạng khi yêu là chuyện muôn đời, hẵn sẽ là đồng cảm

Về mảng những bài ca dao cổ động phong trào đấu tranh chống Pháp, Mỹ: Dù một số bài dùng lại lời ca có từ truyền thống nhưng chúng vẫn có đóng góp trong việc ghi nhận tình nghĩa của người dân vùng đất nơi này gắn bó với cách mạng và kháng chiến, một lòng một dạ đánh đuổi quân thù

Bộ phận ca dao đề cập đến những vấn đề luân lí, triết lí, những quan hệ muôn màu muôn vẻ khác của con người Thông qua nội dung phản ánh giúp ta thấy những nét về diện mạo, cung cách con người vùng đất Cái đồng nhất của văn hóa Việt lẫn cái bản sắc địa phương của nền văn hóa xứ Huế có thể chiết xuất từ đây

Sáu đề tài phản ánh trên cho ta thấy rõ hình ảnh thu nhỏ của vùng đất “thần kinh” có truyền thống lâu đời Đây cũng là vùng đất chứa nhiều nét đặc trưng về con người, ngôn ngữ, văn hóa của mãnh đất miền Trung này Cái tinh thần chung của ca dao xứ Huế là ham sống, vui vẻ đấu tranh, tin tưởng vào sức lực của chính mình và của thiên nhiên Có lẽ rằng, rõ nhất trong ca dao xứ Huế là giàu tình, giàu nghĩa, giàu tâm tư, giàu số phận của bao mảnh đời cay đắng, giàu tương quan xã hội, giàu lòng ưu ái đối với non sông

Ca dao của các vùng là vốn chung của cả nước Mỗi vùng miền mang những đặc điểm sắc thái riêng tuy nhiên nó vẫn mang được nét chung của dân tộc Bởi vậy chúng ta có thể hiểu rằng, ngọn nguồn của từng bài ca dao tuy có sự khác nhau nhưng tất cả những bài ca dao được lưu truyền ở Thừa Thiên Huế cũng như ở các vùng khác đều phản ánh các mặt đời sống, sinh hoạt, lao động cũng như tình yêu quê hương, đất nước, gia đình

Tiểu kết

Thừa Thiên Huế, khúc ruột miền Trung của Tổ quốc, nằm từ dãi đất sông Ô Lâu đến đèo Hải Vân, là một vùng đất có bề dày lịch sử, văn hóa với nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng: Bạch Mã, sông Hương, núi Ngự … cũng là nơi có nhiều

Trang 28

di tích lịch sử cách mạng trường tồn mãi mãi với thời gian Trải qua bao biến động của lịch sử, mãnh đất con người xứ Huế luôn gánh chịu những thử thách khắc

nghiệt của thiên nhiên và lịch sử chống ngoại xâm

Qua bao biến cố thăng trầm hình thành và phát triển, Thừa Thiên Huế đã lưu lại một di sản văn học dân gian dày nhiều thế kỷ Đó là những điệu múa Huế, những

vở tuồng Huế, những bài ca Huế mà ngày nay đã trở thành những món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân nơi đây cũng như du khách mọi miền đất nước Và đặc biệt trong kho tàng văn học dân gian ấy, sự có mặt của ca dao đã góp phần hàm chứa truyền thống văn hiến, văn hóa dân tộc, lại vừa có tính đặc thù của vùng đất mới Thuận Hóa – Thừa Thiên Huế Những bài ca dao được lưu truyền ở Thừa Thiên Huế đều phản ánh các mặt sinh hoạt và tính cách của những con người đã bao năm sinh sống, xây dựng, chiến đấu, sáng tạo trên vùng đất Thừa Thiên

Có thể nói, núi non, sông nước, cung điện, đền đài, lăng tẩm cùng với cái vẻ trầm mặc, lặng lẽ của nó cộng với sự ung dung tự tại của con người và sự ảo hóa của đất trời xứ Huế tạo nên kho tàng văn học dân gian xứ Huế vô cùng đồ sộ và phong phú Ở đó, sông Hương vẫn mãi xanh trong, vẫn mãi dịu dàng; núi Ngự vẫn được ngủ yên dưới bóng thông rì rào gió thổi Bụi thời gian không thể phủ lấp cung điện, đền đài, những khu nhà vườn giữ được vẻ thân thiện để người con gái Huế nón lá, áo trắng, hàng ngày đi về với ngõ trúc, với tâm hồn luôn vang vọng câu hò tiếng hát giữa một miền đất mà từ lâu được vinh danh là Huế đẹp và Huế thơ

Trang 29

Chương 2 NHỮNG PHƯƠNG DIỆN TÌNH YÊU TRONG CA DAO

THỪA THIÊN HUẾ

2.1 Tình yêu lao động sản xuất

2.1.1 Các nghề nghiệp lao động

Những đề tài ca dao Thừa Thiên Huế bắt nguồn từ thực tế cuộc sống lao động sản xuất và những sinh hoạt đời thường, từ những rung động tinh tế trước thiên nhiên, từ đời sống thuần hậu chất phác của người lao động Chính vì thế, những hình ảnh thể hiện cảnh lao động sản xuất trong ca dao mộc mạc nhưng mang theo bao hơi thở tâm tình, những nỗi niềm thân phận Toát lên từ những lời ca là ý thức

về phẩm giá, nhân cách, là những tình cảm thương nhớ đợi chờ, là khát vọng được

sẻ chia, là ước ao về cuộc sống thủy chung mặn nồng Để chia sẻ nỗi cực nhọc trong lao động người vợ đã cùng chồng thả lưới, buông câu cùng chồng để kiếm sống:

Chồng chài vợ lại thả câu Lân la lạch hói, nuôi nhau tháng ngày

Hoặc cùng chồng “đốn củi đốt than”, “đào hang bắt còng”:

Không ai lao đao như mỗ, cực khổ như chàng Buổi mai lên non đốn củi đốt than

Chiều về hạ thủy, đào hang bắt còng

Cuộc sống của các gia đình ngư dân miền biển rất cực khổ, luôn khốn khó, sống lênh đênh trên mặt nước, suốt đời “ăn nhờ bọt nước”, mỗi người một việc rất vất vả:

Cha chài, mẹ lưới, con câu

Ăn nhờ bọt nước lấy đâu mà giàu

Nghề biển là một nghề gian nan, khó nhọc, hiểm nguy Kiếm miếng ăn từ biển cũng không dễ dàng Nó đòi hỏi một tinh thần lao động bền bỉ, liên tục Nỗi vất vả được dân gian so sánh với nghề làm ruộng:

Khó mà xứ ruộng em theo Giàu mà xứ biển, hết chèo hết ăn

Trang 30

Nông dân tự bao đời vẫn là những con người chịu nhiều gian khổ, nhọc nhằn Quanh năm họ dầm mưa dải nắng, đem giọt mồ hôi đổi lấy chén cơm Mặc dầu như vậy, họ vẫn bền bỉ vượt qua mọi thử thách, giữ vững sự lạc quan yêu đời, cần mẫn lao động, luôn hi vọng vào một ngày mai tươi sáng Trong lao động, câu hò tiếng hát sẽ làm quên đi sự nhọc nhằn, gửi gắm vào đó biết bao tâm sự nỗi niềm Ta thấy trong câu hò của đôi nam nữ khi họ đạp nước vào ruộng có một chút gì rất là trí tuệ, đồng thời cũng rất dí dỏm:

Người con gái hỏi:

Trên chóng thượng, dưới chóng hạ, chính giữa là gàu Trong ba mươi hai lá, lá nào chạy đầu anh ơi!

Người con trai đáp:

Trên chóng thượng, dưới chóng hạ, chính giữa là gàu Trong ba mươi hai lá, lá nào nghiêng tay mà xỏ chốt,

thì lá đó chạy đầu em ơi!

Dù cuộc sống vất vả đến đâu đi nữa, người dân xứ Huế có đi xa quê hương vẫn trở lại xứ sở với một tình yêu lao động rất chăm chỉ, quyết tâm ra sức làm những công việc quen thuộc hằng ngày “nuôi heo”, “nuôi gà”, “cày cấy”:

Ta về trở lại quê ta Nuôi heo nuôi gà, cày cấy làm ăn

Không những giỏi nghề cấy lúa, nuôi heo nuôi gà, trồng dâu nuôi tằm, cư dân

ở đây còn tạo nên nhiều nghề thủ công trong ngoài tỉnh:

- Chạm trổ nổi tiếng Mỹ Xuyên

Phước Tích đồ gốm, nghề rèn Hiền Lương

- Đồng Lâm đi rập đi ràng Sơn Tùng đan bị hai làng ăn chung

Cư dân Thừa Thiên Huế không những yêu nghề mà còn giỏi nghề, những người thợ chạm khắc gỗ ở Mỹ Xuyên, thợ làm gốm ở Phước Tích, rèn ở Hiền Lương rất điêu luyện và thuần thục trong công việc của mình Từ đó, trở thành những làng nghề truyền thống thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan, đó là một trong những thành quả đáng ghi nhận của người dân nơi đây

Nghề nghiệp được phản ánh trong ca dao rất là phong phú, có rất nhiều nghề

Trang 31

như: Chài lưới, đốn củi, chạm trổ đó là những kế sinh nhai mà người dân Thừa Thiên Huế gắn bó với nó trong cuộc sống Thông qua những công việc mà mình làm, người dân lao động đã đem vào trong sáng tác dân gian để ngợi ca, lưu truyền cho con cháu đời sau gìn giữ

2.1.2 Tình yêu lao động và khát khao hạnh phúc no ấm

Từ cuộc sống lao động vất vả người dân đã sáng tác những câu ca “Canh mục” phần nào đã nói lên lòng mong ước có một cuộc sống yên vui, thanh bình để

họ có thể thoải mái cấy cày chăm lo cho gia đình, thôn xóm ngày một ấm no, hạnh

phúc:

Trời thung dung nhàn hạ Thú vui nông nghiệp tang Nhà nhà đều no ấm Chúng chúng tất cả đặng phồn vinh

Mong ước khát khao là vậy, nhưng cuộc sống người dân cày ở các làng quê thưở xưa không phải bao giờ cũng được thuận buồm, xuôi gió, cũng được sung sướng, thanh nhàn Họ gặp biết bao trở ngại, vất vả khó khăn bởi hạn hán, lụt lội, bởi mất mùa đói kém, áp bức cường hào Nhưng vươn lên tất cả những khó khăn trở ngại ấy, những người làm ruộng, đánh cá, chăn tằm… vẫn đứng vững trên quê nhà của họ, làm ăn:

Gà vừa gáy gọi hửng đông Người cùng trâu đã ra đồng cấy chiêm

Nước nhà đang lúc ngả nghiêng Nhà nông vẫn quyết chẳng quên ruộng đồng

Dân gian thường nói “hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau”, tình đoàn kết giữa dân làng thật bền chặt Khi đến mùa vụ, gia đình này đổi công cho gia đình khác, dân của làng kia có thể đến gặt hái cày bừa, làm thuê cho làng nọ Trong quá trình gặp gỡ, lao động tình cảm nảy sinh, để rồi cuối vụ trong lúc chia tay biết bao lưu luyến:

Bạn về chẳng có chi đưa

Môn khoai còn dại, mít dừa còn non

Hay: Rồi mùa toóc rạ, rơm khô

Bạn về quê bạn biết nơi mô mà tìm

Trang 32

Cuộc sống nghề nông vất vả, cực nhọc thì nghề biển cũng chẳng kém gì, và như lời than thở dưới đây của người vợ có chồng đang quần quật với biển giữa đêm khuya thì thấy được phần nào lao khổ:

Chồng em đi kéo ngao ngoài biển, Đêm khuya, trời phất phưởng ngọn gió đông

Da thời lạnh ngắt như đồng, Tay bồng con dại, cám cảnh cho chồng lắm thay!

Người chồng lao động cực khổ như vậy, dù không thể không trực tiếp ra khơi giúp chồng, nhưng vai trò “hậu cần” của người phụ nữ luôn luôn gánh vác, lo toan nặng nề không kém gì đàn ông:

Ba đồng một quả đậu xanh,

Một cân đường cát , đưa anh ra vời

Và như đã nói, tuy việc lao động trên biển cả rất gian khổ, nhưng sự đền bù cũng tương xứng Điều này khiến vị trí xã hội của ngư dân không kém nông dân Sự lựa chọn dưới đây của cô gái đang kén chồng, cho thấy điều đó:

Khó mà xứ biển em theo,

Giàu mà xứ ruộng, vằng treo nợ đòi!

Dù công việc vất vả, tất bật nhưng gia đình vẫn hạnh phúc, mỗi người mỗi

công việc, không ai nhắc nhở ai:

Cha chài, mẹ lưới, con câu Thằng rể đi xúc, con dâu đi mò

Tuy làm việc cực nhọc, mưa gào gió thét nhưng vẫn không trùy hoãn công việc của nhà nông và tâm hồn họ vẫn vui vẻ, lạc quan:

Trời mưa trời gió đùng đùng Cha con ông Hùng đi gánh phân trâu Đem về trồng bí, trồng bầu Trồng khoai, trồng sắn, trồng trầu, trồng cau

Có đôi lúc họ còn bông đùa nhau rất thú vị:

Mẹ già ham ăn cá thu,

Gả con về biển mù mù tăm tăm

Đến khi lúa sắp chín, người dân luôn cầu mong trời có mưa cho lúa nhanh chín để thu hoạch mùa vụ, kịp cho việc xuống đồng vụ trái:

Trang 33

Trời mưa cho chín lúa vàng

Cho anh đi cắt, cho nàng đem cơm

Bằng tất cả bản tính cần cù, chịu khó, chăm chỉ trong lao động, người nông dân xứ Huế tự hào giới thiệu với bạn bè muôn phương về những sản vật từ chính bàn tay mà mình đã tạo ra:

Mít chuối thì có huyện ngoài Lúa khoai thì có huyện Phong, huyện Quảng Vốn lâm hải sản thì có Phú Lộc, Phú Vang Quê ta biển bạc rừng vàng

Chè thơm có Hương Trà, mía ngọt có Hương Thủy, nuôi được nhân gian tháng ngày

Không những người dân tự hào quê mình có “biển bạc rừng vàng” tạo ra những sản vật nuôi sống con người mà còn tự hào với những sản phẩm tiêu dùng phục vụ cho đời sống sinh hoạt nữa:

Đệm lác Phò Trạch, ngói gạch Triều Sơn Bao La thúng mủng, Hiền Lương nghề rèn Chạm trổ nổi tiếng Mỹ Xuyên

Phước Tích đồ gốm, đóng thuyền Thuận An Kim Luông thêu dệt đảm đang

Đốc Sơ làm giấy, dâu tằm Bao Vinh

Trong quá trình lao động, bằng chính tình yêu lao động, yêu nghề nghiệp, con người nơi đây đã không ngừng đấu tranh với thiên nhiên, đúc rút nhiều kinh nghiệm quý báu làm nảy sinh hàng loạt câu ca dao, người ta nói “ca dao là tấm gương phản chiếu tâm hồn con người” là như vậy Những kinh nghiệm ấy đã được tập hợp vào trong ca dao xứ Huế dần phổ biến rộng rãi trong quần chúng và trở thành tri thức khoa học về tự nhiên, thể hiện tinh thần sáng tạo, phản ảnh được tình yêu lao động, niềm tự hào, sự gắn bó giữa con người với tự nhiên của con người lao động Thừa Thiên Huế

2.2 Tình yêu gia đình

2.2.1 Tình yêu giữa con cái với bố mẹ và bố mẹ với con cái

Nước biển mênh mông không đong đầy tình mẹ Mây trời lồng lộng không đong đầy tình cha

Trang 34

Gia đình là một tế bào của xã hội, ở đó có mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái, giữa con cái với nhau hay giữa ông bà với con cháu Đó là nơi ấm áp, yên bình

và là trụ cột vững chắc nhất của con người, ở đó mọi người có thể chia sẻ tình thương, kinh nghiệm, những giá trị truyền thống đạo đức, phép tắc, trách nhiệm, sự gắn bó và niềm tự hào về gia đình Chính tình yêu thương đó đã được chuyển tải vào trong ca dao để ghi lại những tình cảm ngàn vàng không gì sánh bằng Và ca dao về tình yêu gia đình của Thừa Thiên Huế là những câu ca đằm thắm, trữ tình mang chở cả điệu tâm hồn và chứa chan những tình cảm thiết tha, sâu nặng

Đối với tuổi thơ của mỗi người con xứ Huế, tình cảm gia đình là dòng sữa ngọt ngào, vỗ về, an ủi tâm hồn Nơi chốn gia đình ấy, tình cảm giữa cha mẹ và con cái là thứ tình cảm huyết thống thiêng liêng nhất, nâng đỡ tâm hồn con người để sống tốt hơn, đẹp hơn Nhờ lời ru của mẹ trong bài ca dao, con cái đã lớn dần và trưởng thành, đã hiểu về công lao dưỡng dục to lớn của cha mẹ và bổn phận, trách nhiệm của người làm con:

Công cha như núi ngất trời Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông Núi cao biển rộng mênh mông

Cù lao chín chữ, ghi lòng chớ quên

Cha mẹ là những người có công sinh thành, dưỡng dục ra mỗi chúng ta Hình ảnh người cha tựa núi cao ngất trời, hùng vĩ, hình ảnh của mẹ như nước ngoài biển Đông rộng lớn, bao la Tuy mỗi người có những cách dạy dỗ con cái, thiên chức của mỗi người khác nhau nhưng đều hướng tới một mơ ước rằng con cái sẽ nên người,

sẽ trưởng thành, biết sống tự lập, hội tụ đầy đủ cả sức mạnh thân thể lẫn trí tuệ tinh thần

Trong gia đình, người cha gánh vác những công việc nặng nhọc nhất, xông xáo với đời, lo xây dựng cơ nghiệp Đối với nhà, cha là trụ cột vững chắc của vợ con Công lao của cha nhiều vô kể Bởi vậy dân gian ta mới có câu so sánh cha như ngọn núi sừng sững, hiên ngang Và nếu chỉ có cha thì liệu người con có thể hình thành, phát triển và tu dưỡng nhân phẩm một cách hoàn thiện? Vai trò của mẹ cũng

to lớn không kém Mẹ là người đã phải mang nặng đẻ đau, ấp iu, bồng bế, bú mớm cho con, chăm sóc từng li từng tí một Đó chính là tình cảm sâu nặng, một ân tình

Trang 35

lớn lao mà me dành cho con tưởng chừng không bao giờ con cái sẽ trả nổi Là một người con đất Việt thì không ai mà không biết đến tình mẫu tử thiêng liêng, tình phụ tử cao cả này

Ca dao Thừa Thiên Huế không những đã nhắn nhủ con người về công ơn cha

mẹ, tình yêu thương anh, chị, em trong gia đình mà còn thể hiện tình cảm nhớ thương quê mẹ của người con gái lấy chồng xa:

Chiều chiều ra đứng ngõ sau Ngó về quê mẹ, ruột đau chín chiều

Câu ca mở ra một âm điệu trầm buồn sâu lắng với hai từ “chiều chiều” Thời khắc ấy gợi cái tàn lụi của một ngày và cũng gợi cảm giác sum họp gia đình Ấy là quãng thời gian của nỗi buồn, nỗi nhớ và bâng khuâng Những câu hát của người con gái lấy chồng xa hướng về quê mẹ như thấm đẫm nỗi buồn xa xót Hai từ “ngõ sau” gợi một không gian khuất nẻo, đây là nơi người con gái có thể bày tỏ nỗi lòng

Cả thời gian và không gian như đã nói lên tâm trạng con người đang mong nhớ thiết tha Hai chữ “chiều chiều” mở đầu hô ứng với số từ “chín”, số từ kết hợp với thời gian “chiều” kết thúc bài ca dao tạo nên hiệu ứng lặp đi lặp lại một nỗi lòng xót xa,

thấm thía của người con gái khi hướng về quê mẹ xa xôi

Bởi thế có những đứa con gái rất hiếu thảo với người sinh thành nên trả hiếu xong cho cha mẹ mới đi lấy chồng:

Ơn cha ngàn ba ngàn bảy Nghĩa mẹ ngàn bảy ngàn ba Lấy chi bào hiếu cho cha Đền công ơn cho mẹ, mà ra lấy chồng

Và dù có “lỡ hội chồng con”, thì cô gái vẫn không tiếc nuối mà phải đền ơn, trả hiếu trước đã rồi hãy tính:

Ơn thầy như núi, nghĩa mẹ như non

Em đang còn theo thân phụ cho tròn

Ví dầu có lỡ hội chồng con cũng đành

Con cái không những biết ơn mà đã đền đáp công ơn dưỡng dục của cha mẹ bằng những đặc sản quý giá để tỏ lòng hiếu trung của mình, dù rằng trong tâm thức các con biết công ơn cha mẹ không lấy gì đền đáp được, chỉ biết “có chi trả nấy, đạo

Trang 36

làm con không nề”:

Ai vô Quảng Nam cho tôi gởi mua ba lượng quế

Ai ra ngoài Nghệ, cho tôi gởi mua tám chín lương sâm Đem về nuôi dưỡng phụ thân

Hai ta đền đáp công ơn sinh thành

Hay: Tôm rằn lột vỏ bỏ đuôi,

Gạo de An Cựu mà nuôi mẹ già

Ở An Cựu có một thứ đặc sản gạo de được người Huế ưa thích vì chất dẻo, thơm và ngọt ngào, nếu ăn cùng tôm rằng kho mặn thật tuyệt Gạo ngon ăn với thức ăn ngon Đặc sản quí của quê hương một thời dùng để tiến cung cho vua dùng lại được người con hiếu thảo xứ Huế muốn dâng lên mẹ hiền Luân lý xứ Huế thường khuyến khích đạo làm con trước hết phải lấy chữ hiếu làm đầu:

Lên chùa thấy Phật muốn tu

Về nhà thấy mẹ công phu chưa đền

Không những là người có công sinh thành, cha mẹ còn hi sinh sự hưởng thụ cho riêng mình để chăm lo nuôi nấng, dạy dỗ con cái Cha mẹ thức khuya, dậy sớm, lao động tảo tần vì con, dù có khó khăn đến mấy cũng không bỏ mặc các con, “cha cái nhủi, mẹ cái oi” cố gắng lao động để nuôi con tháng ngày:

Trong nhà thì lạnh tành tanh Vác nhủi ra đồng, gió lớn mưa to Con chưa biết lết biết bò

Bấm lòng, bấm dạ, để đưa con qua ngày

“Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng”, không quản ngày đêm, hạnh phúc của cha mẹ là được thấy con cái nên người, để con nên người các bậc cha mẹ đã uốn nắn, rèn giũa tính cách, tâm hồn con mình ngay từ khi còn ấu thơ với mong muốn sau này lớn lên con trở thành người tốt:

Uốn cây từ thưở còn non Dạy con dạy thưở con còn thơ ngây

Con cái lớn lên, sống trong gia đình với nhau có lúc chị em cãi vả nhau, cha

mẹ là người khuyên răn các con: anh chị em trong gia đình sống phải biết thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau khi khó khăn, phải biết “khôn ngoan đối đáp với người ngoài,

Trang 37

gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”, không nên hơn thua nhau với chị em trong nhà:

Chị em như chuối nhiều tàu Lấy lành che rách, đừng nói nhau nặng lời

Các bậc cha mẹ đã dạy dỗ các con nên người, giờ đây các con đã hiểu biết rằng anh chị em trong gia đình thì phải luôn yêu thương, đùm bọc lẫn nhau:

Chị em đã chín mười đời Chị khó em khó không rời tách nhau

Mỗi người chỉ có một gia đình để yêu thương và sẻ chia những điều tuyệt vời nhất Gia đình luôn là nơi ta tìm về mỗi khi khó khăn, nản chí, là nơi đong đầy yêu

thương cho trái tim của con người Tình yêu gia đình là tình cảm thiêng liêng không

gì sánh bằng giữa cha mẹ với con cái, giữa con cái đối với đấng sinh thành Đó là sự biết ơn của con cháu và đền đáp công ơn sinh thành cho ông bà, cha mẹ Tất cả những điều này, chúng ta đã thấy được khi nhìn vào cách thờ phụng, trong sinh hoạt, ứng xử hàng ngày của mỗi gia đình thông qua các câu ca dao mà xứ Huế đã phản ánh

2.2.2 Tình yêu vợ chồng

Ngoài tình yêu thương giữa cha mẹ với con cái thì tình cảm vợ chồng là thứ

tình cảm đặc biệt Tình vợ chồng là tình cảm thiêng liêng không thể so sánh với một tình cảm nào khác, ai tôn trọng nó thì mới thấy nó sâu sắc như thế nào Trong quan

hệ vợ chồng thì ca dao Thừa Thiên Huế đã thể hiện được đạo vợ chồng ngàn năm

Vợ chồng kết tóc, xe tơ, trăm năm bền chặt cùng lo việc nước cùng gánh việc nhà:

Đêm năm canh dù sầu trong dạ Ngày sáu khắc bửng lửng, bơ lơ Một tay chăm chút mấy đứa con thơ Chàng ra nơi trận mạc, thiếp đợi chờ chẳng quên

Mỗi khi thành gia thất, vợ chồng nguyện suốt đời thủy chung, dù phải ăn mày:

Đạo vợ chồng sống gởi nạc, thác gởi xương

Một mai có thác về du hồ âm điện,

cũng giữ khói hương cho vẹn tuyền

Trang 38

Hay: Đạo vợ chồng chớ đổi đừng thay

May thì làm quan làm trạng, rủi có ăn mày cũng phải theo

Trong cảnh nghèo hèn, tình cảm vợ chồng càng âu yếm thiết tha dù bữa ăn chỉ

có “mắm cà” nhưng vẫn ngon cơm, bởi hạnh phúc của hôn nhân chủ yếu là “yêu mến thuận hòa” như dân gian thường có câu “thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn”:

Vợ chồng yêu mến thuận hòa

Dù ăn cơm với mắm cà cũng ngon

Cùng với hạnh phúc của những đôi vợ chồng trong cảnh đời nghèo khổ, ca dao tình yêu xứ Huế còn đề cập đến những đôi vợ chồng yêu thương nhau, sống gắn

bó với nhau trong cảnh giàu sang phú quý:

Chồng giàu vợ được ấm thân Chị em có của ai mần nấy ăn

Cuộc sống gia đình không phải lúc nào cũng êm đềm mà có lúc gặp những chuyện không may, thăng trầm, trăn trở, lo lắng nhất lúc lúc ốm đau Khúc quanh này, ca dao tình yêu Thừa Thiên Huế phản ánh tâm trạng và đạo nghĩa vợ chồng rất sâu sắc Người ta quan niệm, nỗi đau của vợ cũng chính là nỗi đau của người chồng nên không những lo lắng mà còn chăm sóc chu đáo và trìu mến:

Em đau đầu chưa khá Anh băng đồng chỉ sá, ngắt ngọn lá em xông

Ở làm ri đây cho trọn đạo nghĩa vợ chồng

Đổ mồ hôi ra anh chặm, ngọn gió lồng anh che

Tình yêu gia đình có tính đồng điệu về hạnh phúc cũng như bất hạnh, những cơn đau của chồng thì lòng của vợ cũng thắt quặn lại, xót xa, người vợ luôn lo lắng, trăn trở, luôn yêu thương chồng và chăm chút rất chu đáo:

Em cầm cây dao sắc, cắt bảy lát gừng

Bỏ vô chén thuốc sắc lại bảy phân Tay em bưng, chân em bước, miệng em vái ông trời Khuyên cùng anh uống lấy để sống đời với em

Nhiệm vụ và trách nhiệm họ luôn làm tròn vai trò của người vợ hiền suốt đời chỉ biết vì chồng, vì con Bởi ý thức được đạo vợ chồng nặng như thế nên người con

Trang 39

gái về nhà chồng luôn nghĩ rằng có chồng phải theo chồng và làm tốt bổn phận của người con dâu là phải chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ chồng như cha mẹ ruột của mình, đặc biệt khi chồng đi xa:

Em muốn gác chữ tình mà giải đi, giải càng không đặng Đạo vợ chồng tình nặng nghĩa sâu

Chữ thần hôn em lo nuôi thầy dướng mẹ, sớm chực tối chầu Còn phận chàng lênh đênh ngoài chiến địa,

không biết mau lâu trở về

Người vợ, người mẹ trong gia đình luôn âm thầm chịu đựng, hi sinh tất cả vì con,

vì chồng Khi người chồng ra đi vì việc nước hay làm ăn xa thì người vợ ở nhà một mình đảm trách việc nhà cửa, cha mẹ, con cái, không những thế còn chịu đựng sống trong cảnh chăn đơn gối chiếc, giữ trọn niềm tiết hạnh, thủy chung với chồng mình:

Anh ra đi đờn ca sáo thổi

Em ở nhà nhiều nỗi hiểm nan Đêm năm canh cứ than thầm một chắc,

không thấy bóng chàng, chàng ơi!

Lòng thủy chung của tình vợ chồng là nét đẹp văn hóa truyền thống của phụ

nữ Việt Nam nói chung và Thừa Thiên Huế nói riêng Dù trong chế độ đa thê, người phụ nữ chính chuyên luôn luôn giữa niềm tiết hạnh, lòng tự dặn lòng:

Có chồng rồi như đậu đỗ vô khuôn

Giữ niềm tiết hạnh, không được buông tuồng như ngày xưa

Và nếu có ai lẽo đẽo theo gạ gẫm, thì người con gái đã có chồng nói thẳng, chẳng chút nể nang:

Anh về với vợ con anh

Đừng có thấy người ta má phấn mui son

mà đem lòng hoài vọng, bỏ vợ con một mình

Hoặc có lúc nặng lời hơn:

Nước mắm ngon dằm con cá trích Anh có vợ rồi thì đứng xích em ra Kẻo một mai tê thiên hạ đồn xa Trai mê dâm bỏ vợ, gái đắm nguyệt say hoa bỏ chồng

Trang 40

Đức tính thủy chung và chịu đựng của người phụ nữ thật đáng trân trọng Trong cuộc sống ấy vẫn có người lại gặp hoàn cảnh đáng thương, và đây là hình ảnh hai vợ chồng yêu thương, gắn bó cùng lao động để kiếm sống:

Mưa sa trên núi mưa về

Hai ta ướt áo dầm dề cả hai

Dù yêu nhau nhưng khi có chiến tranh thì họ phải xa nhau Tình cảm vợ chồng tràn trề như thế thì ai nỡ lòng nào chia xa, nhưng trong thực tế cũng có nhiều cuộc chia xa ngoài ý muốn khiến người trong cuộc phải đau khổ vô cùng:

Anh qua chốn lạ nước lạ thành, không đành tâm cất bước

Vai mang khẩu súng, đạn buộc sau lưng Thương thầy mẹ cao tuổi, thương vợ con trẻ dại quá chừng Mai đây giữa núi tên biển đạn, e khó giữ vẹn tấm thân trở về

Cảnh chia li “kẻ Á người Âu” khi người chồng đi lính sang các chiến trường Châu Âu trong giai đoạn thế chiến I và II, khó còn khi vọng đoàn viên Dù cho hi vọng người chồng sống trở về là mong manh, dù cho xa chồng bao lâu đi nữa người

vợ vẫn giữ trọn tiết hạnh và ngày ngày mong ngóng chồng mình trở về:

Mẹ bồng con ra ngồi cầu Ái Tử

Vợ trông chồng đứng núi Vọng Phu Chiều chiều bóng xế trăng lu

Nghe con ve kêu mùa hạ, biết mấy thu cho gặp chàng

Vợ chồng sống thủy chung với nhau đã đành, lúc biệt ly kẻ mất người còn, có không ít trường hợp họ vẫn chung thủy với người đã khuất, họ ray rứt với thảm kịch thê thảm, ngang trái của người vợ mang một lòng trung trinh:

Tay em cầm nạm nhang, cây tắt cây đỏ Tay em cầm nắm cỏ, cây héo cây tươi Trước em thờ chàng, sau em nuôi con dại, dẫu có ai vàng mười cũng không Chồng em sớm thác suối vàng

Em ở làm ri cho trọn đạo nghĩa khói nhang với chồng

Hay nỗi đau khổ, dằn xé của người chồng khi mất vợ như đồng hành theo năm tháng với nỗi sầu đơn côi vừa hiện thực vừa trừu tượng:

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị An, Nguyễn Thị Huế (biên soạn), (1999), Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam (tập 4), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Trần Thị An, Nguyễn Thị Huế (biên soạn)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
2. Tôn Thất Bình (2010), “Hò đối đáp nam nữ ở Bình Trị Thiên”, Tạp chí sông Hương (số 84) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hò đối đáp nam nữ ở Bình Trị Thiên
Tác giả: Tôn Thất Bình
Năm: 2010
3. Lê Văn Chưởng (2010), Đặc khảo văn học dân gian Thừa Thiên Huế, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc khảo văn học dân gian Thừa Thiên Huế
Tác giả: Lê Văn Chưởng
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2010
4. Tiến Đạt (2013), “Con người xứ Huế”. Nguồn: http://vanhoahue.net/2013/09/con-nguoi-hue /, truy cập ngày 12/2/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người xứ Huế
Tác giả: Tiến Đạt
Năm: 2013
5. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2009), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
7. Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên (1972 - 1973), (2 tập), Văn học dân gian, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian
Nhà XB: Nxb Giáo dục
8. Nguyễn Xuân Kính (2006), Thi pháp ca dao, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp ca dao
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2006
9. Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật (chủ biên) (1995), Kho tàng ca dao người Việt (4 tập), Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng ca dao người Việt
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1995
10. Nguyễn Văn Hoa (cb), (2005), Địa chí Thừa Thiên Huế - phần Lịch sử, Nxb Khoa học xã hội, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí Thừa Thiên Huế - phần Lịch sử
Tác giả: Nguyễn Văn Hoa (cb)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2005
11. Trần Hoàng (2011), “Về một nét đẹp trong phong thái con người xứ Huế”. Nguồn: http://www.vanhoahoc.vn/thu-gian-vhh/nghe-thuat-viet-nam/2034-tran-hoang - net- dep-trong-phong-thai-con-nguoi-xu-hue.html, truy cập ngày 28/4/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một nét đẹp trong phong thái con người xứ Huế
Tác giả: Trần Hoàng
Năm: 2011
12. Hoàng Lạc (2013), “THỪA THIÊN HUẾ - trung tâm văn hoá”. Nguồn: http://hoangvanlac31.blogspot.com/2012/09/thua-thien-hue.html, truy cập ngày 9/5/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: THỪA THIÊN HUẾ - trung tâm văn hoá
Tác giả: Hoàng Lạc
Năm: 2013
13. Ưng Luận (1991, 1992, 1993), Ca dao xứ Huế bình giải (3 tập), Sở văn hóa thông tin Thừa Thiên Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao xứ Huế bình giải
14. Lê Đức Luận (2009), Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt, Nxb Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt
Tác giả: Lê Đức Luận
Nhà XB: Nxb Đại học Huế
Năm: 2009
15. Hoa Thị Kim Ngân (2010), “Vị trí của thiên nhiên trong ca dao trữ tình”. Nguồn: http://hoakimngan.net/gioi-thieu/228/vi-tri-cua-thien-nhien-trong-ca-dao-tru-tinh/, truy cập ngày 1/2/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị trí của thiên nhiên trong ca dao trữ tình
Tác giả: Hoa Thị Kim Ngân
Năm: 2010
16. Triều Nguyên (1996), “Một số hình thức chơi chữ trong ca dao Thừa Thiên Huế”, Tạp chí sông Hương (số 9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số hình thức chơi chữ trong ca dao Thừa Thiên Huế
Tác giả: Triều Nguyên
Năm: 1996
17. Triều Nguyên (2010), Tổng tập văn học dân gian xứ Huế, Tập 5: Ca dao, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập văn học dân gian xứ Huế, Tập 5: Ca dao
Tác giả: Triều Nguyên
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2010
18. Triều Nguyên (2011), Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao và bình giải ca dao, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao và bình giải ca dao
Tác giả: Triều Nguyên
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2011
19. Triều Nguyên (2011), Văn nghệ dân gian xứ Huế: Hò đối đáp nam nữ, giai thoại hò, truyện trạng Nguyễn Kinh, Nxb Thông tin Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn nghệ dân gian xứ Huế: Hò đối đáp nam nữ, giai thoại hò, truyện trạng Nguyễn Kinh
Tác giả: Triều Nguyên
Nhà XB: Nxb Thông tin Thuận Hóa
Năm: 2011
20. Triều Nguyên (2013), “Biển qua góc nhìn của tục ngữ, ca dao xứ Huế”, Tạp chí sông Hương (số 295) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biển qua góc nhìn của tục ngữ, ca dao xứ Huế
Tác giả: Triều Nguyên
Năm: 2013
21. Vũ Ngọc Phan (1995), Tục ngữ ca dao Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ ca dao Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Phan
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w