1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ý niệm của người việt về tình yêu trong ca dao từ bình diện tri nhận

87 1,1K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ý niệm của người Việt về tình yêu trong ca dao từ bình diện tri nhận
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 455 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tập san ngữ học trẻ 2006, một số tác giảvận dụng lí thuyết về ẩn dụ ý niệm để giải mã nghĩa của thành ngữ NguyễnNgọc Vũ-ĐHSP Tp HCM “Về một cách giải thích nghĩa của thành ngữ từ g

Trang 1

Mục lục

Trang

Mở đầu ……… 1

Chơng 1 Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài 1.1 Một số đặc điểm của ca dao Việt Nam ……… 6

1.2 ý niệm trong ngôn ngữ học tri nhận ……… 9

Chơng 2 ý niệm về tình yêu đợc biểu đạt qua từ vựng 2.1 Từ, ý niệm từ vựng và sự trải nghiệm ……… 22

2.2 Lớp từ ngữ phản ánh ý niệm cân xứng- hài hoà trong tình yêu ……… 26

2.3 Lớp từ ngữ phản ánh ý niệm tình yêu hớng đến hôn nhân……… 35

2.4 Lớp từ ngữ phản ánh ý niệm tình yêu có màu sắc, hơng vị và thuộc tính mềm mại ……… 41

chơng 3 ý niệm tình yêu đợc biểu đạt qua ẩn dụ ý niệm 3.1 ẩn dụ ý niệm (ẩn dụ tri nhận) ……… 49

3.2 ẩn dụ ý niệm tình yêu trong ca dao ngời Việt ……… 52

Kết luận ……… 71

Tài liệu tham khảo ……… 73

Phụ lục ……… 77

Trang 2

mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong các loại hình văn học dân gian của dân tộc ta, ca dao là loạihình có mối quan hệ gần gũi hơn cả với lời ăn tiếng nói của quần chúng nhândân Ngời bình dân Việt Nam thời xa rất a dùng ca dao để thổ lộ tâm tình và nóilên những suy nghĩ về cuộc sống Đặc biệt các chàng trai, cô gái thời xa sửdụng ca dao nh là phơng tiện hữu hiệu nhất để trò chuyện diễn tả tình cảm, tâmtrạng trong quan hệ tình bạn, tình yêu Có thể nói, muốn hiểu biết về tình cảmcủa nhân dân Việt Nam xem dồi dào, thắm thiết, sâu sắc đến mức độ nào, rung

động nhiều hơn cả về những khía cạnh nào của cuộc đời thì không thể nàokhông nghiên cứu ca dao Việt Nam mà hiểu biết đợc Do vậy, tìm hiểu ca dao là

để hiểu thêm vẻ đẹp trong tâm hồn, tài nghệ, lẽ sống và văn hoá ứng xử của conngời Việt Nam bao thế hệ Điều đó cũng nói lên rằng, tuy là một phơng tiệnngôn ngữ, nhng ca dao lại ẩn chứa bên trong nó nhiều giá trị văn hoá dân tộc 1.2 Với vẻ đẹp tuyệt vời trên nhiều bình diện nghệ thuật và giá trị bất hủ

về nội dung mà ca dao đã đợc đa vào giảng dạy trong nhà trờng từ rất lâu và là

đối tợng nghiên cứu của nhiều công trình, chuyên luận từ nhiều góc độ khácnhau Lâu nay, giới nghiên cứu văn học và ngôn ngữ học đã cày xới nhiều trênmảnh đất màu mỡ này và cũng đã thu hái đợc nhiều hoa thơm trái ngọt vô giácủa tâm hồn và trí tuệ ông cha kết tinh lại trong đó Tuy nhiên, ca dao nh nguồntài nguyên vô tận, khai thác mãi vẫn không đi đến kiệt cùng mà dờng nh càngkhai thác càng làm lộ thiên thêm những tầng sa khoáng mới lấp lánh hấp dẫn.Vấn đề ý niệm của ngời Việt trong ca dao giống nh một vỉa sa khoáng mới đợcphát hiện cần đợc khai thác, nghiên cứu đặng giúp cho chúng ta thấy rõ hơn giátrị, vẻ đẹp nhiều mặt của ca dao – sản phẩm sáng tạo ngôn từ vô giá mà cha

ông để lại cho muôn đời sau

Trang 3

1.3 Ngôn ngữ học tri nhận là một khuynh hớng trong khoa học về ngônngữ ra đời vào nữa sau thế kỷ XX có đối tợng nghiên cứu đặc thù là mối quan

hệ giữa ngôn ngữ và các quá trình t duy của con ngời (bao gồm trí tuệ, sự hiểubiết, sự thông hiểu, trí nhớ, ý niệm hoá thế giới…) trên cơ sở kinh nghiệm vàsuy luận logíc Là một khuynh hớng mới đang rất thịnh hành của ngôn ngữ họchiện đại trên phạm vi toàn thế giới nên việc thể nghiệm nó để nghiên cứu tiếngViệt, theo thiển nghĩ của chúng tôi, là rất cần thiết và hữu ích cho việc nghiêncứu lí luận ngôn ngữ học và Việt ngữ học ở nớc ta

Với những lí do trên, chúng tôi chọn “ ý niệm của ngời Việt về tình yêutrong ca dao từ bình diện tri nhận” làm đề tài cho luận văn

2 Đối tợng và mục đích nghiên cứu

2.1 Đối tợng

Trong luận văn này, đối tợng nghiên cứu của chúng tôi là ý niệm của

ng-ời Việt về tình yêu trong ca dao Nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ mà luận văn yêucầu, chúng tôi chọn mảng ca dao tình yêu trong: “Kho tàng ca dao ngời Việt’’

do Nguyễn Xuân Kính – Phan Đăng Nhật chủ biên, Nxb Văn hóa- Thông tin,

2003 để khảo sát Bởi lẽ theo chúng tôi, đây là công trình su tập, biên soạn côngphu, khoa học nhất từ trớc đến nay về ca dao Việt Nam - hòn ngọc quý của vốnvăn hóa - văn nghệ cổ truyền của dân tộc cần đợc quý trọng và bảo vệ

2.2 Mục đích nghiên cứu

Với đề tài này chúng tôi nhằm thực hiện các mục đích sau:

- Tìm hiểu sự tri nhận cũng nh ý niệm hoá phạm trù tình yêu của ngờiViệt qua những phơng thức biểu đạt của ca dao

- Xác lập một cách hiểu, một cơ sở tiếp cận từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận

về vẻ đẹp lấp lánh của mảng ca dao tình yêu trong kho tàng ca dao ngời Việt

Trang 4

- Rút ra những nét đặc trng về văn hóa ứng xử truyền thống trong quan hệnam nữ của ngời Việt, đồng thời thấy đợc mối quan hệ mật thiết giữa ngôn ngữ

và văn hoá

3 Lịch sử vấn đề

Từ lâu việc tìm hiểu, nghiên cứu ca dao ngời Việt đợc giới nghiên cứu cảtrong và ngoài nớc quan tâm Đã có nhiều công trình nghiên cứu về ca dao ngờiViệt mang lại cho những ai yêu quý vốn văn hóa dân gian cổ truyền dân tộcnhững phát hiện lí thú, hấp dẫn Tuy nhiên, lâu nay ngời ta chỉ quan tâm nhiều

đến ca dao Việt Nam ở góc độ tra cứu, lý luận văn học Dới góc độ ngôn ngữhọc, dù đã có những công trình có giá trị của Đỗ Hữu Châu, Hoàng Văn Hành,Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Văn Tu, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa, Đái XuânNinh, ĐinhTrọng Lạc, Nguyễn Nhã Bản, Đỗ Thị Kim Liên…và nhiều chuyênluận, luận văn, luận án của sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh nhngvẫn còn nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ để cho những ngời yêu thích lĩnh vực này tiếptục tìm hiểu, nghiên cứu

Đặc biệt, gần đây giới ngôn ngữ học quan tâm đến “Ngôn ngữ học trinhận” nhng ở nớc ta hiện nay, việc nghiên cứu ngôn ngữ dới góc độ của huynhhớng tri nhận thực sự là cha nhiềù Năm 2005 xuất hiện cuốn sách của Lý ToànThắng “ Ngôn ngữ học tri nhận từ lí thuyết đại cơng đến thực tiển tiếng Việt ” ( Nxb KHXH, HN), đem đến cho ngời đọc cái nhìn phác thảo về ngônngữ học tri nhận, và sự vận dụng nó để nghiên cứu, phân tích một số ý niệm vềkhông gian trong tiếng Việt Bài báo của Trần Trơng Mỹ Dung “Tìm hiểu ý

niệm buồn trong tiếng Nga và tiếng Anh” đăng trong T/c Ngôn ngữ, số 8, 2005

nghiên cứu về “ý niệm” nh một trong những phạm trù cơ bản của Ngôn ngữ họctri nhận PGS TSKH Trần Văn Cơ cho đăng “Ngôn ngữ học tri nhận là gì?”

trong T/c Ngôn ngữ, số 7, 2006 Tác giả bài báo nêu ra một số thuật ngữ mà ôngcho là tối cần thiết, là chìa khoá giúp mở cánh cửa đi vào ngôn ngữ học tri nhận

Trang 5

và những vấn đề cơ bản của nó Trong tập san ngữ học trẻ 2006, một số tác giảvận dụng lí thuyết về ẩn dụ ý niệm để giải mã nghĩa của thành ngữ (NguyễnNgọc Vũ-ĐHSP Tp HCM “Về một cách giải thích nghĩa của thành ngữ từ góc

độ ngôn ngữ học tri nhận”), chỉ ra mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá

hiểu biết về một ngôn ngữ là có thể có đợc sự hiểu biết cơ bản về văn hoá của một dân tộc, và ngợc lại, khi hiểu về văn hoá của một dân tộc sẽ vô cùng thuận lợi trong việc tiếp nhận ngôn ngữ của dân tộc đó”( Nguyễn Thị ý Nhi-

ĐH KHXH&NV- ĐHQG HN “Bớc đầu khảo sát ẩn dụ tình yêu trong tiếng Anh và tiếng Việt”)…Và một số bài viết của PGS TS Nguyễn Hoà, TS Phan

Văn Hoà, PGS TS Nguyễn Đức Tồn…đăng trên T/c Ngôn ngữ về vai trò của ẩn

dụ là “công cụ tri nhận của con ngời”

Kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trớc về ý niệm, ẩn dụ ýniệm và sự gợi ý của TS Lê Đình Tờng về việc tiếp cận tác phẩm văn học từphơng diện tri nhận, chúng tôi mạnh dạn đi vào nghiên cứu “ ý niệm của ngờiViệt về tình yêu trong ca dao từ bình diện tri nhận”

4 Đóng góp của đề tài

Đây là công trình nghiên cứu ca dao tình yêu của ngời Việt từ góc độngôn ngữ học tri nhận, từ đó rút ra đợc những ý niệm của ngời Việt về tình yêuqua những phơng thức thể hiện quen thuộc của ca dao

Qua đề tài này, chúng tôi hi vọng góp thêm một kiến giải mới về vẻ đẹp,sức hấp dẫn của kho tàng ca dao Việt Nam trên bình diện ngữ nghĩa-ngữ dụng

Đồng thời có thể giúp cho việc giảng dạy ca dao trong nhà trờng theo một hớngmới, cách tiếp cận mới từ góc độ ngôn ngữ tri nhận

5 Phơng pháp nghiên cứu

Để thực hiện đợc mục đích đề ra và giải quyết những nhiệm vụ mà luậnvăn yêu cầu, chúng tôi sử dụng các phơng pháp sau:

Trang 6

- Phơng pháp điều tra: Thu thập số liệu.

- Phơng pháp xử lí: Phân tích số liệu

- Phơng pháp tổng hợp khái quát

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần “Mở đầu”, phần “Kết luận” và mục “Tài liệu tham khảo”,nội dung chính của luận văn gồm ba chơng:

Chơng 1: Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài.

Chơng 2: ý niệm về tình yêu đợc biểu đạt qua từ vựng.

Chơng 3: ý niệm về tình yêu đợc biểu đạt qua ẩn dụ ý niệm.

Cuối cùng là phần “Phụ lục”

Trang 7

Chơng 1

CƠ sở Lý THUyết LIÊN QUAN Đến Đề Tài

1.1 Một số đặc điểm của ca dao Việt Nam

1.1.1 Khái niệm ca dao

Ca dao là một thể loại của sáng tác thơ dân gian tiếng Việt Trớc đây, cadao còn đợc gọi là phong dao (có lẽ vì có những bài ca dao phản ánh phong tụccủa mỗi địa phơng, mỗi thời đại) Đây là những thuật ngữ Hán – Việt, đợc cácnhà nho ngời Việt dùng để gọi phần lời thơ trong vốn ca hát và lời nói ví truyềnmiệng trong dân gian

Ca dao không có ranh giới rõ rệt với dân ca Nó là phần lời thơ của các bàidân ca – những sáng tác kết hợp thơ với nhạc Tuy nhiên cũng có những lời củadân ca không gọi là ca dao, đồng thời cũng lại có những câu, những bài thơ dân gian

đợc sáng tác ra không phải để hát mà để đọc, nếu đợc phổ biến rộng rãi thì cũng gọi

là ca dao Nói chung, ca dao là những sáng tác trữ tình dân gian có nội dung chính là

đời sống nội tâm, đời sống t tởng, tình cảm của ngời bình dân

1.1.2 Một số đặc điểm của ca dao Việt Nam

- Về nội dung:

Ngời bình dân Việt nam thời xa rất a dùng ca dao-dân ca để thổ lộ tâmtình và nói lên những suy nghĩ về cuộc sống Khi nói chuyện với nhau, cùng vớicác câu tục ngữ, thành ngữ, họ cũng hay dẫn những câu ca dao có ý nghĩa sâusắc để lời nói thêm đậm đà và tăng sức thuyết phục Nhng chỉ khi ca hát họ mớibộc lộ đợc đầy đủ đời sống nội tâm của mình Rất nhiều hình thức ca hát đã trởthành những tập quán lâu đời gắn liền với những sinh hoạt lao động, sinh hoạtgia đình và sinh hoạt cộng đồng của ngời bình dân thời xa Trong các sinh hoạt

ca hát này, đã có rất nhiều bài ca dao ra đời, diễn tả những suy nghĩ sâu sắc,

Trang 8

những tâm trạng, những tình cảm và cảm xúc tiêu biểu của ngời bình dân đốivới lao động, đối với cuộc sống gia đình và xã hội.

Bên cạnh nội dung diễn tả niềm vui lao động, t tởng đề cao lao động, cadao hay nói đến những nổi vất vả trong lao động, những nổi dắng cay, buồn tủivì cuộc sống nghèo khó, làm không đủ ăn Đời sống vật chất thấp kém, cộng vớinhững nổi cực nhục mà những ngời dân “thấp cổ bé họng” phải chịu đựng trongmột xã hội đầy rẫy những bất công do sự lộng hành của những kẻ có của và cóquyền gây nên, đó là đề tài cho hàng loạt bài ca dao có tính chất than thân, phảnkháng, thể hiện sự bất bình, nói lên những đòi hỏi về dân chủ, nhân đạo của ng-

ời bình dân thời xa

Một mảng nội dung lớn và hầu nh bao quát toàn bộ các đề tài của ca daoViệt Nam ấy là niềm khao khát sống đậm tình nặng nghĩa, có đạo lí, hiếu trung

Nó đợc thể hiên trực tiếp qua:

+, Thể thơ: Ca dao thờng đợc sáng tác theo hai thể thơ truyền thống là

thể lục bát và thể song thất lục bát Ngoài ra còn có thể nói lối (nói bằng vănvần, mỗi câu gồm từ hai, ba, bốn đến nhiều tiếng)

Mỗi thể thơ nói trên đều có những qui định về số tiếng trong câu, về cáchgieo vần và về thanh điệu (luật bằng – trắc) Nếu bài ca dao sáng tác đúng theo

Trang 9

những qui định ấy thì ta có dạng nguyên thể Nhng ca dao thờng hay sử dụngcác dạng biến thể Phần lớn dạng biến thể là dạng của thể thơ trong đó các qui

định tối thiểu về số lợng và trật tự của các vần và các thanh điệu thì vẫn đợctuân theo, song số lợng các tiếng trong câu thì thay đổi

+, Cách diễn ý và lập ý: Ca dao thờng diễn ý bằng các hình ảnh so sánh

và ẩn dụ; thờng lập ý bằng hình thức đối đáp, hình thức mở đầu bằng cách miêutả khung cảnh thiên nhiên hoặc khung cảnh sinh hoạt, hình thức điệp ngữ…

+,Ngôn ngữ: Ngôn ngữ ca dao là ngôn ngữ thơ song vẫn không cách xa

với ngôn ngữ của lời nói hàng ngày, từ cách dùng từ tới cách đặt câu Tác giảMai Ngọc Chừ trong một bài nghiên cứu về ngôn ngữ ca dao Việt Nam đãkhẳng định: ngôn ngữ ca dao đã kết tụ những đặc điểm nghệ thuật tuyệt vời nhất của tiếng Việt Nó có cả những đặc điểm tinh tuý của ngôn ngũ văn học

đồng thời nó còn là sự vận dụng linh hoạt, tài tình, có hiệu quả cao của ngôn ngữ chung, ngôn ngữ hội thoại vào một loại ngôn ngữ truyền miệng đặc biệt: truyền miệng bằng thơ Thật vậy, ngôn ngữ ca dao có rất nhiều những từ sinh

động của lời ăn tiếng nói dân gian, những thành ngữ, tục ngữ và cách nói theokiểu thành ngữ, tục ngữ, những lối chơi chữ dí dỏm và táo bạo Tính chất phơngngữ thể hiện trong ca dao rất rõ, in đậm dấu ấn phong cách nói năng của từngcộng đồng ngời ở mỗi vùng miền trên đất nớc ta

1.2.3 Mảng ca dao trữ tình về tình yêu nam nữ

Tình yêu là một khái niệm hết sức trừu tợng, dù mọi ngời ai cũng rấtquen với khái niệm tình yêu, nhng để trả lời câu hỏi “tình yêu là gì?” thì lạikhông đơn giản Những ngời đã yêu vẫn bàn về tình yêu Những ngời đang tớituổi yêu thì có một nhu cầu tìm hiểu về khái niệm tình yêu Chủ điểm tình yêu

đã trở thành bất tận trong cuộc sống Khó đa ra một định nghĩa khoa học về tìnhyêu, có lẽ vì yêu là một tình cảm cực kì phong phú, bao hàm nhiều mặt về nộidung Tuy nhiên, có thể nói một cách khái quát, tình yêu là tình cảm cao nhất

Trang 10

trong quan hệ nam nữ Nó biểu thị mối quan hệ giữa hai ngời khác giới cảmthấy có một nhu cầu phải gắn bó lại với nhau để sống, tự nguyện hiến dâng chonhau cuộc sống của mình.

Trong kho tàng ca dao ngời Việt, bộ phận ca dao tình yêu đôi lứa là bộphận phong phú nhất Tính chất phong phú của ca dao tình yêu đôi lứa trớc hếtthể hiện qua số lợng, nó chiếm số lợng nhiều nhất trong các bộ phận của khotàng ca dao Việt Nam Điều này là dễ hiểu, bởi lẽ các chàng trai cô gái thời xa

sử dụng ca dao nh là phơng tiện hữu hiệu nhất để trò chuyện, diễn tả tình cảm,tâm trạng trong quan hệ tình bạn, tình yêu Họ thờng gặp gỡ, tìm hiểu nhau, thổ

lộ tình cảm với nhau trong khi cùng lao động, trong những ngày hội hè, vuixuân Một trong những hình thức thể hiện của sự giao duyên đó là những cuộchát đối đáp nam nữ Có thể tập hợp các bài ca dao cổ truyền về tình yêu nam nữthành hai phần: một phần là của cô gái, một phần là của chàng trai; hầu hết cáccâu hát bài ca trong hai phần đó là những lời đối đáp bổ sung cho nhau thànhmột nội dung hoàn chỉnh của tình yêu nam nữ Mọi giai đoạn, cung bậc, sắcthái của tình yêu cũng nh khát vọng về tình yêu trong sáng, chân thật, nồngcháy, thuỷ chung đợc thể hiện thật tinh tế, gợi cảm Do đó diện mạo tình yêu

đôi lứa đợc ca dao vẽ ra thật hoàn chỉnh, thật cụ thể, sinh động và không kémphần sâu sắc, bay bổng, lãng mạn

Có thể nói rằng, ca dao trữ tình về tình yêu đôi lứa là bộ phận đặc sắcnhất, viên mãn nhất, biểu hiện vẻ đẹp độc đáo trong tâm hồn, tài trí, tình cảm vàkhát vọng của ngời Việt ta từ bao đời nay Chính nó là hiện thân cho vẻ đẹp, sứcsống, sức hấp dẫn của ca dao nói riêng, văn học dân gian nói chung Và nó cũng

là mảng đề tài lớn, mảnh đất màu mỡ cho những ai yêu quý vốn văn học vănhoá dân gian quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu

Trang 11

ảnh hởng lẫn nhau và chính vì thế Chomsky đợc coi là một trong những nhàsáng lập ra khoa học tri nhận Bản thân Chomsky từng thừa nhận rằng lí thuyếtngữ pháp tạo sinh của ông là đợc thực hiện trong khuôn khổ của cuộc cáchmạng tri nhận vốn đa lại một cách hiểu mới về bản chất và hành vi của con ng-

ời, ông viết: “…cuộc cách mạng tri nhận thể hiện sự quan tâm đến các trạng thái của trí não, đến việc chúng biểu hiện ra sao trong hành vi của con ngời,

đặc biệt trong các trạng thái tri nhận của nó: tri thức, sự thông hiểu, sự giải thích, niềm tin và v.v Cách tiếp cận với t duy và hoạt động của con ngời trong những thuật ngữ nh trên làm cho tâm lí học và một phân môn cấu thành

nó ngôn ngữ học biến thành một bộ phận của khoa học tự nhiên vốn– –

nghiên cứu bản chất của con ngời và các biểu hiện của nó, mà điều chủ yếu là

bộ não”(Chomsky 1991: 4-5), (Dẫn theo Lý Toàn Thắng [49]).

Trang 12

Trong quan niệm của Chomsky, tâm lý học có vai trò rất lớn và quả thựctâm lý học tri nhận đã có một vai trò đòn bẩy nh thế đối với ngôn ngữ học trinhận sau này Trớc những năm 1960, nh ta đã biết, thống trị trong tâm lý họcthế giới là huynh hớng hành vi luận với công thức nhị nguyên nổi tiếng “ kíchthích – phản ứng” ( S – R) vốn chỉ thừa nhận là có tính khoa học những gìquan sát trực tiếp đợc nh hành vi (chứ không phải cái tinh thần, bên trong nhtâm lý) Tuy nhiên, dần dần ngời ta nhận ra rằng cái sơ đồ nhị nguyên đó không

có khả năng giải thích đợc chẳng hạn vì sao ở một con ngời (và ở những con

ng-ời khác nhau thì càng rõ) đáp lại cùng những kích thích nh nhau lại là các phảnứng rất khác nhau, thậm chí trái ngợc nhau, và nhất là giữa hai yếu tố “kíchthích” và “phản ứng” là sự hiện hữu và tác động của rất nhiều nhân tố không đ-

ợc tính đến (hoặc đợc tính đến không đầy đủ) Các trạng thái bên trong – nghĩa

là những hiện tợng tâm lý, tinh thần- của con ngời chính là những nhân tố nhthế, và tâm lý học tri nhận (cùng với khoa học tri nhận) có thể phát triển đợccũng chính là nhờ đã nghiên cứu thé giới bên trong của con ngời, tổ chức bêntrong của trí tuệ Một mặt kế thừa sự quan tâm tới hành vi của con ngời (củatâm lý học hành vi), mặt khác tâm lý học tri nhận ra đời đã thay đổi không chỉcách tiếp cận trong nghiên cứu con ngời mà cả bản thân quan niệm về con ngời.Theo cách quan niệm mới này, con ngời phải đợc nghiên cứu nh một hệ thống

xử lí các thông tin mà nó tiếp nhận và do đó tâm lý học tri nhận, nh nhà tâm lý

học nổi tiếng Neisser đã khẳng định, phải khảo sát “tất cả tất cả các quá trình trong đó các cứ liệu cảm giác ở đầu vào đợc cải biến, đợc giảm bớt, đợc làm

Trang 13

phong phú thêm, đợc đa vào lu trữ và đợc sử dụng” vốn chi phối các trạng thái

bên trong của con ngời Solso còn nói rõ hơn khi ông khẳng định rằng đối tợngcủa tâm lý học tri nhận là “nghiên cứu xem con ngời tiếp nhận các thông tin về thế giới nh thế nào, những thông tin đó đợc con ngời hình dung ra sao, chúng

đợc lu trữ trong kí ức và đợc cải biến thành các tri thức nh thế nào và các tri thức này ảnh hởng ra sao đến sự chú ý và hành vi của chúng ta” (Solso

1992:28), (Dẫn theo Lý Toàn Thắng [49])

Chịu ảnh hởng của tâm lý học tri nhận, cuối những năm 1970, trongngôn ngữ học bắt đầu xuất hiện những nghiên cứu đầu tiên mang hơi hớng trinhận luận và đợc khơi nguồn cảm hứng từ sự chia li và tranh đấu với hệ t tởngcủa ngữ pháp tạo sinh Bớc đột phá trên con đờng hình thành của ngôn ngữhọc tri nhận là việc các nhà nghiên cứu thấy rằng nhất thiết phải tách ra khảosát trong số các khả năng tri nhận của con ngời cái khả năng ngôn ngữ, cáikhả năng nói và hiểu (những điều nghe thấy), và miêu tả các tri thức ngôn ngữ

đợc lu trữ trong đầu óc con ngời dới dạng các biểu hiện tinh thần đặc biệt Cácnội dung này đều trực tiếp liên quan đến những vấn đề cốt lõi của tất cả cáckhoa học tri nhận; vì thế việc ngôn ngữ học nghiên cứu chúng từ góc độ củamình đã khiến chon ngôn ngữ học, cùng với tâm lý học, trở thành ngành họctrung tâm của khoa học tri nhận Hai ngành học này cùng với lý thuyết thôngtin, trí tuệ nhân tạo, vi tính học và gần đây là cả nhân học tri nhận, xã hội học trinhận, triết học, tập hợp lại trong một thiên hớng lý thuyết chung liên ngành “tri nhậnluận” có mục đích nghiên cứu các hệ thống biểu hiện tri thức, các quấ trình xử lí

Trang 14

thông tin cũng nh nghiên cứu những nguyên lí tổ chức chung các khả năng tri nhậncủa con ngời trong một cơ chế thống nhất và xác lập các mối quan hệ và sự tác

động qua lại giữa chúng Nhận định về vấn đề này, Neisser viết:”Nhiều lí thuyết gia ngày nay đã hiểu rằng bản thân tâm lí học tri nhận - đó chỉ là một bộ phận của một chơng trình rộng lớn và quan trọng hơn, khoa học tri nhận cũng bao gồm trí tuệ nhân tạo, ngôn ngữ học, sinh lí học, thần kinh và triết học về trí tuệ” ( Neisser

1998:87) Nói riêng về vai trò đặc biệt của ngôn ngữ học tri nhận Harman(1998:259) viết:”Có một ý t ởng quyến rũ là coi khoa học tri nhận ngang bằng với việc nghiên cứu khoa học về sự tri nhận”, thế nhng tốt hơn nên nói khoa

học tri nhận-đó là việc nghiên cứu khoa học về ngôn ngữ và việc nghiên cứu khoa học về sự tri nhận” Và Fauconnier nhận xét: “ngôn ngữ học trở nên cái gì đó chung hơn là một lĩnh vực đóng kín nghiên cứu ngôn ngữ, nó đóng góp vào việc phát lộ và giải thích các phơng diện chung của sự tri nhận ở con ng- ời” (Fauconnier 1999, tr 124), (Dẫn theo Lý Toàn Thắng [49]).

Thời điểm ra đời của ngôn ngữ học tri nhận thờng đợc tính là năm 1989khi tại Duisburg (Đức) các nhà khoa học tham gia Hội thảo đã thông qua quyếtnghị thành lập Hội ngôn ngữ học tri nhận và sau đó bắt đầu ra tạp chí

“Cognitive Linguistics” Tuy nhiên, trớc đó đã có những công trình mà hôm nay

đợc coi là mẫu mực, “kinh điển” trong việc áp dụng quan điểm tri nhận luậnvào nghiên cứu các hiện tợng ngôn ngữ Chẳng hạn ngữ pháp tri nhận củaLangacker, ngữ nghĩa học khung của Fillmore, ngữ nghĩa học tạo sinh củaLakoff, ngữ nghĩa học ý niệm của Jackendoff và các nghiên cứu của Talmy,

Trang 15

Kay, Fauconnier…Cho đến nay, mặc dù còn rất non trẻ nhng ngôn ngữ học trinhận đã dần dần xác định đợc đối tợng và phạm vi nghiên cứu của mình, các t t-ởng và các khái niệm then chốt, các nguyên lí và các phơng pháp chủ đạo Tuynhiên, nó vẫn mới chỉ là một khuynh hớng chứ cha phải là một phân ngành củangôn ngữ học (nh ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ học tâm lí, ngôn ngữ họcnhân học…) Khuynh hớng này tiến hành nghiên cứu ngôn ngữ trên cơ sở vốn kinh nghiệm và sự cảm thụ của con ngời về thế giới khách quan cũng nh cái cách thức mà con ngời tri giác và ý niệm hoá các sự tình của thế giới khách quan đó.

1.2.1.2 Những quan niệm và nguyên lí cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận

a Ngôn ngữ không phải là một khả năng tri nhận tự trị: Nguyên lí này

đối lập với giả thuyết nổi tiếng của ngữ pháp tạo sinh cho rằng ngôn ngữ là mộtkhả năng tri nhận tự trị hay là một “module” biệt lập với các khả năng tri nhậnphi ngôn ngữ; nó thừa nhận rằng sự biểu hiện của tri thức ngôn ngữ về cơ bảngiống y nh sự biểu hiện của các cấu trúc ý niệm khác, rằng các quá trình trong

đó tri thức đợc sử dụng không khác về cơ bản với các khả năng tri nhận mà conngời sử dụng ngoài lĩnh vực ngôn ngữ Nói cách khác, không nên coi khả năngngôn ngữ là bộ phận thiên bẩm hoàn toàn độc lập với khả năng tri nhận, cơ chếtri nhận chỉ là một phần của cơ chế tri nhận phổ quát

Nguyên lí này có hai hệ luận quan trọng là:

a1 Tri thức ngôn ngữ (tức là tri thức về ý nghĩa và hình thức) về cơ bản làcấu trúc ý niệm, và biểu hiện ngữ nghĩa về cơ bản là biểu hiện ý niệm Hơnnữa, theo các nhà ngôn ngữ học tri nhận, các biểu hiện về cú pháp, từ pháp và

âm vị học về cơ bản cũng mang tính ý niệm; bởi vì các âm thanh và các phátngôn phải đợc tạo sinh ở đầu ra và nhận hiểu ở đầu vào của các quá trình tri

Trang 16

nhận chi phối sự nói viết và sự nghe đọc - vốn là hai quá trình đều liên quan tớitrí não.

a2 Các quá trình tri nhận, vốn chi phối sự sử dụng ngôn ngữ (đặc biệt là

sự thành tạo và chuyển tải ý nghĩa bằng ngôn ngữ) về nguyên lí là giống nh cáckhả năng tri nhận khác Điều này có nghĩa là sự tổ chức và trừu xuất tri thứcngôn ngữ không khác gì nhiều sự tổ chức và trừu xuất các tri thức khác trong trínão, và những khả năng tri nhận mà chúng ta ứng dụng khi nói và hiểu cũngkhông khác gì nhiều những khả năng tri nhận mà chúng ta ứng dụng cho nhữngnhiệm vụ tri nhận khác nh tri giác bằng mắt, hoạt động suy luận hay vận động(motor) Do đó, ngôn ngữ là một khả năng tri nhận của con ngời, và theo quan

điểm tri nhận thì ngôn ngữ là sự tri giác thời gian thực (real-time perception) và

sự tạo sinh theo thời gian các chuỗi đơn vị biểu trng phân lập đợc cấu trúc hoá

b Ngữ nghĩa và ngữ pháp là sự ý niệm hoá: Nguyên lí này nói lên cách

tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận đối lập lại điều kiện chân nguỵ – vốn cũngthống trị trong ngôn ngữ học đơng thời nh ngữ pháp tạo sinh Ngôn ngữ học trinhận cho rằng không thể quy cấu trúc ý niệm vào sự tơng ứng đơn giản về điềukiện chân nguỵ với thế giới, rằng một phơng diện chủ yếu của khả năng tri nhậncủa con ngời là sự ý niệm hoá kinh nghiệm để giao tiếp và sự ý niệm hoá các trithức ngôn ngữ mà chúng ta có đợc Cho nên cần phải nghiên cứu tất cả các ph-

ơng diện của cấu trúc ý niệm nh cấu trúc của các phạm trù, tổ chức của các trithức, và đặc biệt là vai trò chủ đạo của các biến tố và các kết cấu ngữ pháptrong việc cấu trúc kinh nghiệm theo những cách riêng biệt; cũng nh quá trình ýniệm hoá ở các hiện tợng ngữ nghĩa từ vựng nh đa nghĩa và ẩn dụ và một sốquan hệ từ vựng ngữ nghĩa khác

c Tri thức ngôn ngữ nảy sinh ra từ sự sử dụng ngôn ngữ: Nguyên lí này

đối lập với cả ngữ pháp tạo sinh lẫn ngữ nghĩa (lôgich) điều kiện chân nguỵ vốncho rằng sơ đồ và các phạm trù chung, trừu tợng (đôi khi đợc coi nh bẩm sinh)

là cái chi phối sự tổ chức các tri thức ngôn ngữ và quy cho nhiều hiện tợng ngữ

Trang 17

pháp và ngữ nghĩa chỉ có t cách ngoại biên Dirven (2003:3) đã nhận xét kháiquát rằng: “Ngôn ngữ học tri nhận là (…) một mô hình đầy đủ định hớng vào

sự sử dụng và ngời sử dụng (ngôn ngữ), bao quát các bình diện chức năng, dụng học, tơng tác và xã hội văn hoá của ngôn ngữ trong sử dụng– ” (Dẫntheo Lý Toàn Thắng [49]) Các nhà ngôn ngữ học tri nhận cũng cho rằng cácphạm trù và các cấu trúc trong ngữ nghĩa, ngữ pháp, từ pháp và âm vị học đều

đợc xây dựng trên cơ sở sự tri nhận của chúng ta về các phát ngôn riêng biệttrong khi sử dụng chúng Quá trình này của sự trừu tợng và sơ đồ hoá khônglàm mất đi sự khác biệt tinh tế (đợc qui ớc hoá) thậm chí giữa những kết cấungữ pháp và những ý nghĩa từ vựng hết sức riêng biệt Việc phân tích chi tiếtnhững biến đổi tinh tế trong hành vi cú pháp và giải thuyết ngữ nghĩa sẽ tạo ramột mô hình biểu hiện ngữ pháp chứa đựng cả những khuôn mẫu chuyên biệt(vốn hay bị coi là ngoại vi) lẫn những khuôn mẫu rất chung của hành vi ngônngữ, nh có thể thấy qua các mô hình đợc áp dụng nh trong ngữ nghĩa học về sựthông hiểu của Fillmore, trong quan điểm kết cấu động về sự phạm trù hoá củaCruse, trong lí thuyết mới về ngữ pháp kết cấu, trong mô hình dựa trên sử dụng

sự phản ánh của hoạt động tri nhận của con ngời

(ii) Nếu trớc đây ngôn ngữ học truyền thống quan niệm rằng ngôn ngữ

mở ra cho ta cánh cửa đi vào thế giới khách quan quanh ta thì bây giờ ngôn ngữ

Trang 18

học tri nhận cho rằng ngôn ngữ - đó là của sổ để đi vào thế giới tinh thần củacon ngời, đi vào trí tuệ của nó, là phơng tiện để đạt đến những bí mật của cácquá trình t duy Với cách tiếp cận mới, các hình thức ngôn ngữ (các đơn vị, cácphạm trù…) cần phải đợc nghiên cứu trong mối tơng liên giữa chúng với các cấutrúc tri nhận và sự giải thích mang tính tri nhận về các hình thức này phải tính

đến sự tham gia của chúng vào các quá trình tri nhận và tất cả các dạng hoạt

động với thông tin Đồng thời cần phải chuyển trọng tâm nghiên cứu từ t duysang ý thức trong cách hiểu ý thức nh là nơi tập trung tất cả vốn kinh nghiệmtinh thần mà một con ngời tích luỹ đợc trong suốt đời mình và nó phản ánhnhững ấn tợng, những cảm giác, những biểu tợng và những hình ảnh dới dạngcác ý niệm hay các ý của một hệ thống ý niệm thống nhất ý thức ngôn ngữ nh

là tổng thể của các ý (đợc gắn kết với hình thức ngôn ngữ) chỉ là một bộ phậncủa ý thức nói chung, giống nh t duy chỉ là một bộ phận bao hàm các quá trìnhtinh thần đợc thực hiện trong ý thức Chính trong khi nghiên cứu ý thức ngời taphải khảo sát mối liên hệ của nó với hiện thực đợc lĩnh hội qua các ý niệm và khảosát bản chất của các ý niệm đặc trng cho ý thức này; nói cách khác, ngời ta phảiquan tâm đến các quá trính ý niệm hoá và phạm trù hoá thế giới khách quan – lànhững lĩnh vực đợc nghiên cứu kỹ lỡng nhất và thành công nhất của ngôn ngữ họctri nhận nói chung và ngữ nghĩa học tri nhận nói riêng

(iii) Ngữ nghĩa không phải đợc xây dựng trên cơ sở các điều kiện kháchquan có giá trị chân nguỵ, nó không hề đối ứng với thế giới khách quan bênngoài (thế giới khách quan tồn tại trong sự phụ thuộc vào ý thức con ngời) mà

đối ứng với thế giới phi khách quan đợc phóng chiếu lại trong ý thức và đồngthời nó có quan hệ trực tiếp với cấu trúc ý niệm đợc ớc định trong đó Sự hìnhthành các cấu trúc ý niệm này có quan hệ chặt chẽ với kinh nghiệm và các chiếnlợc tri nhận của con ngời

(iv) ý nghĩa của ngôn ngữ không hạn chế trong nội bộ hệ thống ngôn ngữ

mà nó có nguồn gốc sâu xa từ kinh nghiệm đợc hình thành trong quá trình con

Trang 19

ngời và thế giới tơng tác với nhau, và từ tri thức và hệ thống niền tin của con

ng-ời Vì thế trong nghiên cứu ngữ nghĩa không nên hoàn toàn tách rời tri thức ngữnghĩa “đời thờng” với tri thức bách khoa; ngữ nghĩa là một bộ phận của hệthống ý niệm tổng thể, chứ không phải là một “module” tự trị độc lập

(v) Vì chức năng cơ bản của ngôn ngữ là chuyển tải ý nghĩa nên những

sự khác biệt về hình thức phải phản ánh những sự khác biệt về ngữ nghĩa Cúpháp không tự trị hay độc lập nh ngữ pháp tạo sinhquan niệm mà chịu sự tác

động của các nhân tố ngữ nghĩa, ngữ dụng, tri nhận…; cấu trúc cú pháp bề mặt

có quan hệ đối ứng trực tiếp với cấu trúc ngữ nghĩa bề sâu Kết cấu ngữ pháp là

sự kết hợp giữa ý nghĩa và hình thức, có vị trí tri nhận đích thực chứ không phải

là hiện tợng phụ đợc tạo ra trong quá trình thực hiện các quy tắc tạo sinh hayquy tắc phổ quát Ngữ pháp do đó nên đợc coi không phải là một hệ thống quytắc mà là một bảng danh mục các biểu hiệu có cấu trúc nội tại đợc tạo thành bởi

sự kết hợp giữa ý nghĩa và hình thức

1.2.2 ý niệm trong ngôn ngữ học tri nhận

“ý niệm” là phạm trù cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận Trong nguyênbản tiếng Anh từ này là “concept”, thờng đợc dịch sang tiếng Việt là “kháiniệm” Song các nhà tri nhận luận lại dùng từ “concept” với nghĩa là “ý niệm”.Tác giả Lý Toàn Thắng trong cuốn sách “Ngôn ngữ học tri nhận: từ lý thuyết

đại cơng đến thực tiễn tiếng Việt” (2005) sử dụng ý niệm (concept) nh một

công cụ đơng nhiên mà không giới thiệu nó một cách cặn kẽ Ju X Xtepanov

định nghĩa ý niệm nh sau: “ý niệm tựa nh một khối kết đông của nền văn hoá trong ý thức con ngời; dới dạng của nó nền văn hoá đi vào thế giới ý thức (t duy) của con ngời, và mặt khác, ý niệm là cái mà nhờ đó con ngời ngời bình thờng, không phải là ngời sáng tạo ra những giá trị văn hoá chính” –

con ngời đó đi vào văn hoá, và trong một số trờng hợp nhất định có tác động

đến văn hoá” ( Xtepanov, 1997:40), (Dẫn theo Trần Văn Cơ [7, tr.6]).

Trang 20

G.G Xlskin nghiên cứu những quan điểm khác nhau đối với ý niệm vànhận định rằng đặc điểm nổi bật có tính nguyên tắc của ý niệm là ở chỗ nó đợcxem nh cơ sở để nghiên cứu tổng hợp ngôn ngữ và văn hoá, song bản thân nókhông trực tiếp nằm trong phạm vi ngôn ngữ, cũng không nằm trong phạm vivăn hoá, và cũng không đồng thời nằm trong cả hai lĩnh vực này ý niệm là đơn

vị của t duy, là yếu tố của ý thức Việc nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa

ngôn ngữ và văn hoá sẽ không đầy đủ nếu thiếu cái khâu trung gian này Thôngtin văn hoá đi vào ý thức, ở đây nó đợc sàng lọc, đợc chế biến (Xlskin, 2000).(Dẫn theo Trần Văn Cơ [7, tr.6])

Khi phân biệt “khái niệm” với “ý niệm” Trần Trơng Mỹ Dung đã nêu rõnhững đặc trng của ý niệm nh sau:

a) ý niệm là sự kiện của lời nói, đó là lời nói đợc phát ngôn ra Do đó nókhác với khái niệm

b) ý niệm gắn chặt với ngời nói và luôn định hớng đến ngời nghe Ngờinói và ngời nghe là hai bộ phận cấu thành của ý niệm

c) ý niệm mang tính chủ quan với nghĩa nó là một mảng của “bức tranhthế giới”, nó phản ánh thế giới khách quan qua lăng kính của ý thức ngôn ngữdân tộc Do đó ý niệm mang tính dân tộc sâu sắc

d) ý niệm là đơn vị của t duy (ý thức) của con ngời Hai thuộc tínhkhông thể tách rời nhau của ý niệm là trí nhớ và trí tởng tợng ý niệm là mộthành động đa chiều: nếu là hành động của trí nhớ thì nó hớng về quá khứ; nếu

là hành động của trí tởng tợng thì nó hớng tới tơng lai, còn nếu là hành độngphán đoán thì nó hớng về hiện tại

e) ý niệm, khác với “khái niệm” không chỉ mang đặc trng miêu tả màcòn có cả đặc trng tình cảm - ý chí và hình tợng ý niệm không chỉ suy nghĩ màcòn cảm xúc Nó là kết quả của sự tác động qua lại của một loạt những nhân tố

nh truyền thống dân tộc, sáng tác dân gian, tôn giáo, hệ t tởng, kinh nghiệm

Trang 21

sống, hình tợng nghệ thuật, cảm xúc và hệ thống giá trị ý niệm tạo ra một lớpvăn hoá trung gian giữa con ngời và thế giới Nó đợc cấu thành từ tri thức tínngỡng, nghệ thuật, đạo lí, luật pháp, phong tục tập quán và một số thói quen màcon ngời tiếp thu đợc với t cách là thành viên của xã hội.

Tóm lại, ý niệm chứa đựng ba thành tố: thành tố khái niệm, thành tố cảmxúc – hình tợng và thành tố văn hoá Hai thành tố sau mang tính dân tộc sâusắc [9, tr 60- 67]

Nói rộng ra, ý niệm là đơn vị tinh thần hoặc tâm lí ý thức của chúng ta, là

đơn vị nội dung của bộ nhớ động, của từ vựng tinh thần và của ngôn ngữ bộnão, của toàn bộ bức tranh thế giới đợc phản ánh trong tâm lí con ngời Trongquá trình t duy, con ngời dựa vào các ý niệm phản ánh nội dung các kết quả củahoạt động nhận thức thế giới của con ngời dới dạng “những lợng tử” của trithức Các ý niệm nảy sinh trong quá trình cấu trúc hoá thông tin về một sự tìnhkhách quan trong thế giới, cũng nh về những thế giới tởng tợng và về sự tìnhkhả dĩ trong những thế giới đó Các ý niệm qui cái đa dạng của những hiện t-ợng quan sát đợc và tởng tợng về một cái gì đó thống nhất, đa chúng vào một hệthống và cho phép lu giữ những kiến thức về thế giới Ngời ta cho rằng chínhngôn ngữ bảo đảm cách tiếp cận với sự miêu tả và xác định bản chất của ýniệm Theo một số học giả, những ý niệm đơn giản nhất đợc biểu hiện bằng một

từ, những ý niệm phức tạp hơn đợc biểu hiện trong các cụm từ và câu A.Wierzbicka (1985) viết rằng việc phân tích hệ thống từ vựng của các ngôn ngữ

có thể giúp phát hiện một số lợng không lớn những “phần tử sơ đẳng” kiểu nh

ai đó, cái gì đó, vật, chỗ v.v… nếu đem hợp chúng lại thì có thể miêu tả toàn bộ

thành phần từ vựng của ngôn ngữ

Những ngời khác cho rằng một phần của thông tin ý niệm có cái “đuôi”ngôn ngữ, nghĩa là những phơng thức biểu hiện chúng, nhng cái phần thông tinnày đợc biểu hiện trong tâm lí hoàn toàn khác, nghĩa là bằng những biểu tợngtinh thần loại khác- những hình tợng, những bức tranh, những sơ đồ v.v…Chẳng

Trang 22

hạn, chúng ta biết phân biệt cây thông với cây tùng không phải bởi vì chúng tahình dung chúng nh những tập hợp những nét khu biệt, hoặc nh những tổ hợp ýniệm khác nhau mà chỉ là bởi vì chúng ta phân biệt chúng nhờ thị giác một cách

dễ dàng và bởi vì những ý niệm về các cây này đợc thể hiện trớc hết bằng hình

ảnh (hình tợng)

Để cấu tạo hệ thống ý niệm cần phải giả định sự tồn tại một số ý niệmxuất phát, hoặc những ý niệm cơ sở từ đó sẽ phát triển tất cả những ý niệm cònlại Những ý niệm cơ sở này tổ chức một không gian ý niệm và hoạt động nhnhững chuẩn để phân chia không gian Đó là những ý niệm đối tợng và các bộphận của nó, sự vận động, những hành động, vị trí hoặc không gian, thời gian,thuộc tính v.v…Tổng hoà tất cả những ý niệm có trong trí tuệ của con ngời, sự

tổ hợp chúng lại đợc gọi là hệ thống ý niệm

Nói một cách khái quát, ý niệm (concept) là kết quả của quá trình trinhận các nhân tố nh truyền thống dân tộc, tôn giáo, hệ t tởng, kinh nghiệmsống, hình tợng nghệ thuật, cảm xúc…và hệ thống giá trị để tạo ra các biểutợng tinh thần Vai trò chủ yếu của ý niệm trong t duy là phạm trù hoá, tứcnhóm họp những đối tợng có sự giống nhau nhất định nào đó thành nhữnglớp tơng ứng Nó quy cái đa dạng của những hiện tợng quan sát đợc và t-ởng tợng một cái gì đó thống nhất, đa chúng vào một hệ thống và cho phép

lu giữ những kiến thức về thế giới Chính vì vậy, ý niệm là “nghĩa trừu t ợng đợc từ ngữ và các đơn vị ngôn ngữ khác biểu đạt và nó thể hiện cáchnhìn thế giới của con ngời qua ngôn ngữ tự nhiên và văn hoá của cộng

-đồng sử dụng ngôn ngữ đó” [31, tr.74]

Tiểu kết

Trong chơng 1, chúng tôi trình bày những vấn đề mang tính lý thuyết cóliên quan đến đề tài để làm cơ sở cho việc nghiên cứu, đó là: những đặc điểm cơbản về nội dung, hình thức nghệ thuật của ca dao Việt Nam, những đặc trng cơbản của tình yêu và sự phong phú của mảng ca dao trữ tình về tình yêu nam nữ

Trang 23

trong kho tàng ca dao ngời Việt Đồng thời, chúng tôi cũng trình bày một cáchkhái quát một số khái niệm thuộc lý thuyết tri nhận và đi sâu vào ý niệm với tcách là kết quả của quá trình tri nhận các nhân tố nh truyền thống dân tộc, tôngiáo, hệ t tởng, kinh nghiệm sống, cảm xúc…và hệ thống lại để tạo ra các biểu t-ợng tinh thần nhằm thể hiện cách nhìn thế giới của con ngời qua ngôn ngữ tựnhiên và văn hoá của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ đó.

Trang 24

Chơng 2

ý Niệm Về Tình YÊU Đợc Biểu Đạt QUA từ Vựng

2.1 Từ, ý niệm từ vựng và sự trải nghiệm

Từ vựng là một trong ba bộ phận quan trọng cấu thành ngôn ngữ Từvựng bao gồm từ và ngữ Tuy nhiên, trong các đơn vị từ vựng thì từ là đơn vị cơbản còn ngữ là do các từ tạo nên Muốn có các ngữ trớc hết phải có các từ F deSaussure nhận định: “…Từ là một đơn vị luôn ám ảnh chúng ta nh một cái gì

đó trọng tâm trong toàn bộ cơ cấu ngôn ngữ” [Dẫn theo 28, tr.111] Có thể nói,

từ ngữ là đơn vị thực hiện đầy đủ chức năng ngôn ngữ, vừa phản ánh hiện thựckhách quan vừa biểu hiện tình cảm, thái độ chủ quan của ngời dùng

2.1.1 Khái niệm từ trong tiếng Việt

Từ Tiếng Việt là một hiện tợng đa diện và phức tạp, vì vậy, nó luôn là vấn đềtrung tâm của ngôn ngữ học từ trớc đến nay Đã có nhiều cách nhìn nhận, đánh giádới nhiều góc độ, bình diện khác nhau về từ Lu Vân Lăng cho rằng: “Đặc điểm cơ bản của từ giúp chúng ta dễ phân biệt từ với các đơn vị cấu tạo từ là hình (trong từ vựng) và tiếng (trong ngữ pháp) là khả năng dùng tách biệt” [28, tr.12] Với định

nghĩa này, tác giả mới chỉ quan tâm đến khả năng tách biệt của từ Khác với Lu VânLăng, Nguyễn Tài Cẩn lại quan tâm đến mặt hình thái của từ, ông khẳng định: “Tất cả những đặc điểm từ pháp, cú pháp quan trọng đó đều bắt nguồn từ một đặc

điểm gốc mà mọi ngời đều biết là từ tiếng Việt không có biến hoá hình thái”

[4, tr 45]

Nh vậy, khi nghiên cứu về từ, các tác giả mới chỉ chú ý đến một vàiphơng diện của từ nh: khả năng tách biệt, vai trò của từ trong hoạt độngngôn ngữ, hình thái của từ mà cha nói đợc các đặc trng về hình thức, tínhhoàn chỉnh về ý nghĩa, chức năng của từ Khắc phục những hạn chế trên,Nguyễn Kim Thản định nghĩa: “Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách ra các đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là

Trang 25

một khối hoàn chỉnh về mặt ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng hoặc ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp” [47, tr.64] Các định nghĩa trên nhìn chung đều xem

xét từ ở các phơng diện nh khả năng tách biệt, tính hoàn chỉnh, chức năng,hình thức của từ Tuy nhiên vẫn cha có định nghĩa hoàn chỉnh về từ Theochúng tôi, hiện nay trong tiếng Việt, định nghĩa về từ đợc nhiều ngời chấpnhận là định nghĩa của Đỗ Thị Kim Liên : “Từ là một đơn vị của ngôn ngữ, gồm một hoặc một số âm tiết, có nghĩa nhỏ nhất, có cấu tạo hoàn chỉnh và đợc vận dụng tự do để cấu tạo nên câu” [29, tr 18].

Từ các quan niệm nói trên, chúng ta có thể thấy, định nghĩa về từcùng một lúc phải quan tâm đến khả năng tách biệt của từ (tính độc lập củatừ) và tính hoàn chỉnh của từ (có vỏ ngữ âm hoàn chỉnh, có nội dung).Trong tiếng Việt, từ là đơn vị ngôn ngữ mang những đặc điểm sau đây: đơn

vị cơ bản nhỏ nhất của ngôn ngữ; độc lập, hoàn chỉnh về ngữ âm và ý nghĩa;

đợc vận dụng linh hoạt, tự do trong lời nói

2.1.2 ý niệm từ vựng

Tính hệ thống trong ngôn ngữ phản ánh cấu trúc hệ thống trong hệ thốngkhái niệm của con ngời Cơ chế trí não của con ngời phần nào phản ánh cơ chếcủa thế giới bên ngoài ( bao gồm cả trải nghiệm văn hoá xã hội)

Xét ví dụ sau: Lễ giáng sinh đang đến gần

Ví dụ này liên quan tới miền khái niệm về thời gian Miền khái niệm là tri thứctrong hệ thống khái niệm của con ngời, chứa đựng và tổ chức các ý nghĩ và trảinghiệm có liên quan với nhau Ví dụ miền khái niệm thời gian có thể liên quantới cả một loạt sự kiện mang tính thời gian nh lễ Giáng sinh chẳng hạn Cũngcần lu ý rằng, trong mỗi câu trên, khái niệm trừu tợng hơn (lễ Giáng sinh) đợchiểu dới dạng miền khái niệm liên quan tới các trải nghiệm vật chất cụ thể.Chẳng hạn lễ Giáng sinh đợc khái niệm hoá nh là sự chuyển động khi dùng từngữ đến gần.

Trang 26

Ngời nói và ngời nghe trong một cộng đồng ngôn ngữ thông hiểu nhaunhờ trao cho nhau, tạo ra trong hiểu biết của nhau những liên hệ nghĩa, gợi lêntrong đầu óc ngời nghe những nghĩa hay những t tởng của ngời nói muốn truyền

đạt Nh vậy, tất cả những hiện tợng chúng ta bắt gặp hàng ngày đều trở thànhnhững trải nghiệm và chứa đựng trong tâm trí của chúng ta thành những ngữcảnh liên hệ lẫn nhau Cấu trúc của hiện thực đợc phản ánh trong ngôn ngữ lànhững hiểu biết của cá nhân và cộng đồng sử dụng ngôn ngữ, là một sản phẩmcủa trí tuệ con ngời Hay nói cách khác, nó là ý niệm, hình dung tởng tợng củacon ngời khi dùng tín hiệu ngôn ngữ, thổi vào tín hiệu ngôn ngữ trong nói năng,giao tiếp, t duy, suy tởng

Nếu nh tâm lý học nghiên cứu ngôn ngữ trên các phơng diện nh trí nhớ,nhận thức, sự chú ý, hay lập luận, quan hệ liên tởng, quá trình suy ý, sử dụng trithức nền theo những mô hình nhất định thì các nhà ngôn ngữ học tri nhận quantâm đến ngữ nghĩa học nhận thức (cognitive semantics) và ngữ pháp nhận thức(cognitive grammar) Vấn đề là phải trả lời câu hỏi ý nghĩa là gì? Nghĩa của từtrong ngôn ngữ học tri nhận đợc coi là ý niệm từ vựng hay sự thể hiện nhận thức( cognitive representation, Xem V Evans) và là một thực thể tinh thần (mentalentity) Ray Jackendoff (1989) quan niệm rằng ý niệm là sự thể hiện tinh thần

và sự thể hiện tinh thần này có thể là nghĩa của một biểu thức ngôn ngữ Đây là

đơn vị tinh thần gắn với hình thức ngôn ngữ Nh vậy, có thể nói rằng các đơn vị

từ vựng không có nghĩa Cái mà chúng ta hay gọi là nghĩa trong các từ điển vềthực chất chỉ là các ý niệm Các nghĩa khác nhau của một đơn vị từ vựng tạonên một cấu trúc ý niệm cho đơn vị đó ý nghĩa chỉ đợc kiến tạo (constructed)trong việc sử dụng các đơn vị ngôn ngữ mà thôi Croft (1993) nhận xét rằng:nghĩa của một từ nào đó đợc “kiến tạo” chỉ sau khi toàn bộ ý nghĩa của phátngôn đợc xác định Điều này khác với cách lập luận truyền thống cho rằng ýnghĩa của một phát ngôn là sự tích hợp giữa ý nghĩa của các từ thành phần vàcách thức sắp xếp các thành phần đó trong phát ngôn

Trang 27

Một kí hiệu hay kí hiệu ngôn ngữ chỉ có vai trò kích hoạt cơ chế kiến tạonghĩa trong đầu ngời giao tiếp Việc kích hoạt ra ý nghĩa nào lại xảy ra trongmột không gian tinh thần nhất định (mental space) hay trong một khung ý niệm,hay trong một phần của cấu trúc tri thức của con ngời Hãy xem xét kí hiệu

“ngon” trong các ví dụ sau:

(a) Quả này ngon đấy

(b) Bức tranh này trông ngon đấy

(c) Con bé ngon đấy

(a) đợc hiểu là quả chín, ngọt, còn (b) có nghĩa là đẹp, hay, và (c) cónghĩa là gợi cảm hay xinh Nh vậy, để hiểu đợc ý nghĩa của từ “ngon”trong các ví dụ trên, ngời nói hay ngời nghe phải sử dụng các phần tri thứcbách khoa liên quan đến “quả”, “tranh” hay “con gái” Không gian tinhthần đợc kích hoạt để kiến tạo nội dung nghĩa của các phát ngôn trên đợcgọi là quá trình “hoà trộn ý niệm”

2.1.3 Sự trải nghiệm

“Trải nghiệm: là trải qua, kinh qua” [37, tr.1020] Sự trải nghiệm của conngời phụ thuộc vào năng lực của các giác quan và bộ não Chẳng hạn nh cónhững âm thanh mà con ngời không nhận thức đợc song một số loài vật lại làm

đợc Tơng tự, não của con ngời có khả năng mà các loài vật thông minh nhất màchúng ta biết cũng không thể làm đợc điều kì diệu này Gắn với khả năng của

bộ óc là khả năng tởng tợng Đây cũng là một yếu tố có ảnh hởng đến quá trìnhhiểu và kiến tạo nghĩa trong đầu chúng ta Các thế giới thực hữu đợc não tri giácthông qua các giác quan, quá trình t duy và tởng tợng thành sự trải nghiệm haykinh nghiệm Đến lợt mình, các trải nghiệm đợc ý niệm hoá và tồn tại trong đầungời nói

Ngôn ngữ là giao điểm của t duy, ý niệm và trải nghiệm (tức là sự tiếpcận thế giới thực tại một cách gián tiếp qua lăng kính này) Trong cùng mộtcộng đồng xã hội, tức là các ngời nói về cơ bản là sống trong cùng một hoàn

Trang 28

cảnh, họ cũng không phản ánh thế giới đó nh nhau Nh vậy, trải nghiệm mangtính chủ quan.

Ca dao là loại văn chơng truyền khẩu, đợc sáng tác và diễn xớng trongmôi trờng lao động và sinh hoạt tập thể Nó là sản phẩm sáng tạo ngôn từ của cảcộng đồng, là “cây đàn muôn điệu của tâm hồn quần chúng”, biểu hiện nhiềumặt trong sinh hoạt đời sống của nhân dân, nhất là tâm t tình cảm Vì vậy, tìmhiểu ca dao là tìm hiểu những tín hiệu thẩm mỹ mà con ngời Việt Nam từ Bắcchí Nam, trải qua biết bao giai đoạn thăng trầm của lịch sử, đã tạo lập ra và đã

sử dụng chúng để tự biểu hiện mình Ca dao nói chung, ca dao về tình yêu namnữ nói riêng là nơi lu giữ đầy đủ tâm t, tình cảm ngời Việt Nam ở tầng sâu kín nhất, in đậm tâm hồn, cốt cách Việt Nam, từ đó ta có thể hiểu sâu sắc về mộtcộng đồng dân tộc

2.2 Lớp từ ngữ phản ánh ý niệm cân xứng hài

hoà

trong tình yêu

Cân xứng là “tơng đơng và phù hợp với nhau”[37, tr.118]

Hài hoà là “có sự kết hợp cân đối giữa các yếu tố, các thành phần, gây

đ-ợc ấn tợng về cái đẹp, cái hoàn hảo” [37, tr.401]

Trong quan niệm của ngời Việt, một tình yêu đẹp trớc hết hai ngời yêunhau phải tơng đơng và phù hợp với nhau về cả “nội dung” và “hình thức”, đó làmột sự kết hợp hài hoà Một khi sự kết hợp đó đợc coi là cân xứng, hài hoà thìngời Việt thờng cho là “xứng đôi vừa lứa”, tức “đẹp đôi, tơng xứng nhau, có thểnên duyên chồng vợ” [59, tr.713]:

Trang 29

- Bây giờ em mới hỏi anh

Trầu vàng nhá với cau xanh thế nào?

- Cau xanh nhá với trầu vàng

Tình anh sánh với duyên nàng đẹp đôi

Sự tơng đơng và phù hợp nhau về hình thức, phẩm chất…để làm nên một kếthợp hài hoà trong tình yêu cũng thờng đợc coi là “tiêu chuẩn” hàng đầu để “trai khôntìm vợ, gái ngoan tìm chồng”:

- Trèo lên cây chuối cao tàu

Vừa đôi thì lấy tham giàu mà chi

Trong ca dao Việt Nam, ý niệm cân xứng- hài hoà trong tình yêu đợcbiểu hiện khá sinh động bằng một lớp từ ngữ ẩn dụ, mang tính biểu tợng, liênkết với nhau theo quan hệ đôi, cặp

“Biểu tợng là hình ảnh cảm tính về hiện thực khách quan, thể hiện quanniệm thẩm mỹ, t tởng của từng nhóm tác giả (có khi của riêng một tác giả), từngthời đại, từng dân tộc và từng khu vực” [23, tr 185] Nói một cách dễ hiểu hơn,biểu tợng là những dạng thức dùng hình này để tỏ nghĩa nọ, dùng một hình ảnh

cụ thể để nói lên một ý niệm trừu tợng Biểu tợng nghệ thuật đợc sử dụng lặp đilặp lại, trở nên quen thuộc trong tín hiệu thẩm mĩ cộng đồng, mang tính kí hiệu,mang đặc diểm dân tộc rõ nét vì những vật biểu trng bên cạnh tính ớc lệ lấy từcác điển tích, điển cố trong văn học viết, hệ thống hình ảnh thờng đợc lấy từcảnh vật, đối tợng quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày của nhân dân “Biểu t-ợng ca dao là những hình ảnh ẩn dụ đợc một cộng đồng chấp nhận và sử dụngrộng rãi, phổ biến, mang đậm tính truyền thống Để tạo nên tính biểu tợng,nghĩa đen, nghĩa biểu vật của các từ ngữ sẽ không đợc khai thác mà chủ yếu lànghĩa bóng, nghĩa biểu cảm của ngôn ngữ sẽ phát huy tác dụng” [14, tr.107]

Các biểu tợng này không tồn tại đơn lẻ mà luôn đi sóng đôi với nhauthành cặp “ Cặp: Tập hợp gồm hai cá thể, hai vật cùng loại đi đôi với nhauthành nh một thể thống nhất” [37, tr.115] Các biểu tợng thành tố trong mỗi cặp

Trang 30

tác động lẫn nhau, bổ sung ý nghĩa cho nhau.Thành tố này bổ sung, nhấn mạnh,khơi gợi thành tố kia và ngợc lại Chúng nâng nhau lên, làm thành một cặp biểutợng hoàn chỉnh.

Trên t liệu lựa chọn khảo sát 6040 đơn vị ca dao trữ tình về tình yêu namnữ trong kho tàng ca dao ngời Việt, chúng tôi thu thập đợc 106 cặp biểu tợngbiểu đạt ý niệm cân xứng – hài hoà trong tình yêu Trong đó có những cặpbiểu tợng xuất hiện nhiều lần với những biến hoá sinh động, linh hoạt nh:

giới các hiện tợng thiên nhiên, tự nhiên, thế giới các vật thể nhân tạo nói trên

đều đợc dùng để thay thế cho con ngời Nhân vật trữ tình, đối tợng trữ tình ẩnmình trong các biểu tợng, mang những đặc điểm, giá trị, phẩm chất…của biểu t-ợng Do vậy chàng trai nào cũng có thể là ong, là bớm, là thuyền, là trăng…, cô

gái nào cũng có thể là hoa, là bến, là ngọc…, lứa đôi nào cũng có thể là trúc mai, rồng - mây, lan - huệ, rợu - nem, mía - gừng, tằm - nống, cá - ma, chim

Trang 31

-phợng - ngô đồng, con bò gầy - bãi cỏ hoang… Nhờ sự kết hợp trong quan hệ

đôi, cặp và khả năng biểu cảm đặc biệt của các hình ảnh biểu tợng ẩn dụ mà ýniệm cân xứng - hài hoà của tình yêu trong ca dao đợc thể hiện rất đa dạng vàvô cùng tinh tế

(i) Trong cảm thức của ngời Việt, các nhân vật trong các tác phẩm vănhọc cổ điển hay trong các tích truyện dân gian nh Thuý Kiều – Kim Trọng, TấtChánh – Kiều Liên, Châu Thị – Lu Bình, Chức Nữ - Ngu Lang…không còn lànhững con ngời đơn thuần có tâm lí, số phận mà tất thảy họ đều đã trở thànhnhững biểu tợng đẹp đẽ cho lòng thuỷ chung son sắt trong tình yêu Các cặpnhân vật nói trên đều là những cặp đôi tuyệt vời của thứ tình yêu trong sáng,không tì vết, đợc bao thế hệ ngời Việt yêu quý và tôn thờ nh những hình mẫucủa tình yêu lý tởng Vì vậy, khi sử dụng những cặp đôi này để biểu tỏ tình yêu,

ca dao không chỉ nói lên tình cảm mặn nồng, thắm thiết của đôi lứa yêu nhau

mà còn thể hiện đợc sự tơng xứng – hài hoà của tình yêu đợc nói đến:

- Bây giờ duyên lại gặp duyên

Khác nào Tất Chánh – Kiều Liên tơng phùng

- Bây giờ tình lại gặp tình

Khác nào Châu Thị – Lu Bình gặp nhau

Những mong kết nghĩa ngàn sau

Đem lời thề ớc những câu vững bền

(ii) Rõ hơn cả là ý niệm cân xứng - hài hoà của tình yêu đợc biểu hiệntrên cơ sở sự tơng xứng với nhau về phẩm chất, thuộc tính của các biểu tợngthành tố

Ví dụ:

- Đó ngọc thì đây cũng ngà

Đó hoa thiên lí , đây là mẫu đơn.

Trang 32

Trong t duy của ngời Việt, ngọc là một loại đá quý, thờng dùng làm vật

trang trí, trang sức, nó rất có giá trị Ngà cũng là thứ quý hiếm, rất có giá trịtrong việc sử dụng làm đồ trang trí, trang sức Ngọc và ngà rất tơng xứng về giátrị Nếu anh/ em là ngọc thì em/ anh là ngà, anh/ em là thứ có giá trị thì em/ anhcũng có kém gì đâu Tức là chúng ta cân xứng với nhau cả về giá trị lẫn côngdụng Điều này đợc nhấn mạnh thêm ở dòng dới của câu ca dao: “Đó hoa thiên

lí, đây là mẫu đơn” Hoa thiên lý là một loài hoa đợc xem là đẹp, có sắc có

h-ơng Thì mẫu đơn cũng là loài hoa đẹp, thơm chẳng kém.

Sự cân xứng – hài hoà trong quan hệ lứa đôi biểu đạt cho mối tình lý ởng dựa trên cơ sở tơng xứng nhau về phẩm chất, thuộc tính của các biểu tợngthành tố đợc ca dao thể hiện với một mức độ tơng đối đậm đặc Ta có thể thấy

t-rõ điều ấy ở những lời ca dao nh:

- Đôi ta nh lụa gặp đào

Nh kiểng sầu gặp nớc, dạ nào chẳng thơng

- Chàng mời lăm, thiếp cũng mời lăm

Chàng nh con bớm bạch, thiếp trăng rằm mới lên

- Bây giờ tác hiệp nhân duyên

Ngời hiền gặp đợc bạn tiên từ rày

Xin nàng đừng ngại đấy đây

Để cho Nguyệt Lão xe dây muôn đời

Xin nàng đừng ngại gần xa

Để cho chén ngọc , đũa ngà có đôi.

Nếu lụa đẹp và có giá trị mức nào thì đào cũng chẳng thua kém gì Nếu

con bớm bạch mang vẻ tơi mới bao nhiêu thì trăng rằm mới lên cũng tơi mới bấy nhiêu Nếu ngời hiền đáng yêu, đáng quý chừng nào thì bạn tiên có thua

kém gì đâu Bằng phơng thức ẩn dụ chuyển tác và sự liên kết theo quan hệ đôi

Trang 33

cặp của các hình ảnh ẩn dụ biểu tợng vừa thuyết giải trên (và nhiều cặp đôi biểutợng khác nh: trúc - mai, quế - trầm, kép - đào, loan - phợng, lan - huệ, bớm - ong, sao Hôm - sao Mai, chim xanh - vờn hồng, thục nữ - anh hào…) mà sự

hài hoà - cân xứng của tình yêu đợc biểu đạt một cách kín đáo, tao nhã, quenthuộc mà không sáo mòn Đồng thời làm cho tình yêu đợc nói đến nồng nàn,thắm thiết, mãnh liệt, bất tử với thời gian

(iii) Có khi ý niệm cân xứng - hài hoà của tình yêu lại đợc biểu hiện dựatrên sự gắn bó khăng khít, hợp thành một thể thống nhất, gây đợc ấn tợng về cáihoàn hảo của các cặp biểu tợng:

- Chàng quên em chẳng cho quên

Ai đem chìa ngọc mở lên khoá vàng

Chìa vàng lại ngỏ khoá vàng

Lời thề giao ớc thiếp chàng mở chung

Cây phù dung lá nó phù dung

Uớc gì ô ấy che chung đầu này

Chìa ngọc, khoá vàng là những vật biểu trng cho sự quí phái, sang trọng.

ở đây chìa ngọc - khoá vàng là một cặp biểu tợng thể hiện sự cân xứng, phùhợp với nhau của đôi trai gái Hơn thế nữa, nó còn biểu hiện sự kết hợp hài hoà,gắn bó khăng khít làm thành một thể thống nhất để có chức năng, công dụng.Bởi lẽ, nếu khoá không có chìa thì khoá không có chức năng để khoá, chìa màkhông có khoá thì chìa không có chức năng để mở Khi khoá và chìa kết hợpvới nhau thì cả hai mới trở nên có giá trị Cũng nh thiếp và chàng, hai ta kết hợpvới nhau không chỉ làm thành một chỉnh thể có giá trị mà còn nhằm tôn giá trịcho nhau Cách t duy/tri nhận về tình yêu của ngời Việt dựa trên sự tơng đồng

về trạng thái, thuộc tính, phẩm chất, giá trị…giữa phạm trù tình yêu với nhữngvật, sự vật bình dị, gần gũi trong đời sống hàng ngày còn đợc biểu tỏ qua hàngloạt cặp đôi biểu tợng có khả năng biểu hiện những ý nghĩa sâu xa:

- Đôi ta nh bấc nh dầu

Trang 34

Khêu ra cho rạng kẻo sầu tơng t.

- Mong sao anh biến ra tằm

Em biến ra nống ta nằm chung chơi

Khi nào cho hợp hai nơi

Nghiêng tai nói nhỏ những lời thuỷ chung

Nh Thuý Kiều xa Kim Trọng biết mấy niên cho tái hồi?

Kinh nghiệm thực tế cho thấy, bấc không có dầu làm sao cháy sáng, dầu không có bấc sao thành ngọn đèn? Thuyền không đến bến thì mãi lênh đênh

mà bến không có thuyền sao còn là bến? Tằm không ở nống thành “vô gia c”, nống không có tằm chỉ để ngoài cơi, ngoài vờn mà thôi Có sen, có hồ mới thành cảnh quan Có liễu thì phải có đào mới làm nên cảnh trí Rõ là với các

thành tố nói trên nếu không đợc kết hợp với thành tố tơng ứng sẽ không làm nênmột chỉnh thể có chức năng, công dụng hoặc giá trị nào đó Sử dụng các cặpbiểu tợng kiểu này để nói về sự kết hợp hài hoà- cân xứng của tình yêu quả làmột sự lựa chọn tuyệt vời của trí tuệ dân gian

(iv) Sử dụng các cặp biểu tợng có tính chất cân xứng - hài hoà để biểu

đạt ý niệm tình yêu còn cho thấy sự cần thiết, sự vô giá của anh đối với em,chàng đối với nàng, hai ta đối với nhau:

- Chòng chành nh nón không khu a

Nh thuyền không lái, nh chùa không s.

Trang 35

Ta đến với nhau trong tình yêu không chỉ có ý nghĩa làm thành mộtchỉnh thể có giá trị mà hơn thế nữa gặp đợc em (anh) thì anh (em) nh gặp đợcnguồn sống thiết yếu nhất của đời mình:

- Ma từ trong núi ma ra

Ma khắp thiên hạ, ma qua chùa Thầy

Đôi ta bắt gặp nhau đây

Nh con bò gầy gặp bãi cỏ non

Còn gì thiết yếu hơn, sung sớng hơn, may mắn hơn khi “con bò gầy” cần

có đợc một nguồn nuôi dỡng là cỏ – thức ăn chính yếu, bổng gặp đợc “bãi cỏnon” mơn mởn, ngút ngàn sự sống Nhờ cách biểu đạt mợn hình ảnh biểu trng

ẩn dụ trong quan hệ cặp đôi mà tác giả dân gian đã làm bật nổi mối tơng quancần thiết của đôi lứa yêu nhau: hai ta gặp đợc nhau đây là nh gặp đợc cội nguồncuộc sống của mình, gặp đợc nhau là nh bắt gặp đợc sự sung sớng, may mắntrong cuộc đời

(v) Cân xứng - hài hoà trong tình yêu là niềm hạnh phúc, niềm tự hàocủa lứa đôi Cũng vì thế đó luôn là niềm mơ ớc không giấu diếm của trai gái

đến độ yêu đơng: “Bao giờ trúc ở với mai, bao giờ anh ở với ai cha chồng”.

Khi ớc mơ ấy không thành thì họ than thở, trách móc:

- Tởng rằng rồng ấp với mây

Ai ngờ rồng ấp với cây địa liền

- Tởng rằng kèo cột ở đời

Ai ngờ kèo rã, cột rời đôi phơng

Để có đợc một tình yêu hạnh phúc trớc hết phải có sự cân xứng – hài

hoà Khi rồng kết hợp với mây là cân xứng có khả năng mang lại hạnh phúc,

còn khi “rồng ấp với cây địa liền” là một sự khập khểnh kiểu “chồng thấp vợcao, nh đôi đũa lệch so sao cho bằng” Nhng hạnh phúc thực sự thì chỉ tơng

xứng thôi cha đủ mà còn là phải bền chặt, kèo … cột đã cân xứng với nhau rồi

Trang 36

nhng khi “kèo rã cột rời đôi phơng” thì tình duyên kia đã tan vỡ Từ trách móc,than thở họ quay sang bày tỏ sự tiếc nuối:

- Tiếc con tôm rằn nấu với ngọn rau má

Tiếc con cá bống thệ đem nấu với ngọn lá cỏ hôi

Tiếc công ơn thầy với mẹ trau điểm phấn dồi

Em ra đi lấy chồng không đặng hai chữ cân đôi với chồng

- Tiếc thay cái tấm lụa đào

áo rách chẳng vá, vá vào áo tơi

Trời kia có thấu chăng trời

Lụa đào mà vá áo tơi sao đành!

Cô gái tiếc vì sự bất cân xứng với ngời mình gắn bó, gửi trao cả cuộc đời.Không chỉ có tiếc, mà ở đây còn có cả nổi đau, sự xót xa nhức buốt nh xé nátbuồng tim ẩn đằng sau câu chữ Không một từ đau, từ xót nào xuất hiện trên bềmặt câu chữ mà ngời đọc vẫn thấy rõ nh sờ nắm đợc trạng thái đớn đau vô hìnhtrong lòng ngời con gái vì lí do nào đó mà không cỡng lại đợc sự xếp đặt éo le,

đắng chát của duyên phận Có điều đáng trân trọng là trong buồn đau ngời congái Việt Nam xa không bi quan, chán nản mà vẫn khát khao cháy bỏng về hạnhphúc trong tơng lai Và mơ ớc đến một ngày nào đó sẽ gặp đợc ngời tơng xứng:

- Tiếc thay cây quế giữa rừng

Để cho cú đỗ chán chờng quế thay

Bao giờ con cú nó bay

Phợng hoàng đến đỗ, quế nay bằng lòng

Mợn tên gọi của ngoại giới để biểu hiện những ý niệm của xúc cảm, tácgiả dân gian đã vật chất hoá, hình tợng hoá những hình ảnh thiên nhiên, thổivào đó sức sống, tình cảm khiến cho những sự vật vô tri vô giác trở nên có sứcgợi cảm lạ lùng Cảm nghĩ không nói ra trực tiếp mà biểu lộ gián tiếp nhờ vào

Trang 37

óc tởng tợng, liên tởng để chọn hình ảnh ẩn dụ và ý nghĩa hàm ẩn trên các mặttơng đồng về trạng thái, tính chất, giá trị…ngay trong những sự vật bình dị, đơnsơ gần gũi với cuộc sống thờng ngày Nhờ sự phát hiện chính xác những nét t-

ơng đồng giữa con ngời và sự vật mà những cung bậc, sắc thái phức tạp nhất,ngoắt nghéo quanh co nhất của lòng ngời đợc biểu tỏ rất mực điêu luyện và vôcùng tinh tế

2.3 Lớp từ ngữ phản ánh ý niệm tình yêu hớng đến

hôn nhân

Ca dao Việt Nam đã diễn tả một cách sâu sắc mọi biểu hiện của tình yêutrong tất cả mọi chặng đờng của nó: giai đoạn gặp gỡ ớm hỏi nhau; giai đoạngắn bó trao đổi những lời thề nguyền, những tặng vật cho nhau; giai đoạn hạnhphúc với những niềm mơ ớc, những nổi bồn chồn nhớ nhung da diết hoặc sựthất bại đau khổ với những lời than thở, oán trách…Mơ ớc thờng trực của nhữngcặp trai gái yêu nhau là đợc gần gũi nhau, cùng làm việc, vui chơi với nhau,cùng nhau chia sẽ mọi niềm vui, nổi buồn trong cuộc sống Cao hơn, họ ao ớc

đợc chính thức lấy nhau để thành vợ thành chồng, để thơng yêu nhau, cùngnhau dựng xây tổ ấm:

- Uớc sao ăn ở một nhà

Ra vào đụng chạm để mà nhớ thơng

- Trăng kia u ám vì mây

Đôi ta ao ớc đó đây vợ chồng

- Khi nào cho hợp duyên hài

Nhà trong canh cửi, nhà ngoài bút nghiên

- Tơ đây em dệt lụa đào

Dệt cho đôi lứa ngày nào sánh duyên.

Trang 38

Có thể nói, ý niệm yêu và tiến tới hôn nhân (việc nam nữ chính thức lấynhau làm vợ chồng) của ngời Việt đợc biểu đạt trong ca dao trữ tình về tình yêunam nữ bằng nhiều giọng nói, cách nói khác nhau Khảo sát trên cấp độ từvựng, chúng tôi nhận thấy, ngời Việt sử dụng một lớp từ ngữ trực tiếp thể hiệnmong ớc gắn bó với nhau bằng hôn nhân và một lớp từ ngữ mang nét nghĩa chỉ

sự hợp nhất (hợp lại thành một tổ chức duy nhất) nhằm biểu đạt ý niệm tình yêuhớng đến hôn nhân

Về lớp từ ngữ thể hiện trực tiếp ý niệm tình yêu hớng đến hôn nhân,chúng tôi khảo sát đợc nh sau: làm con một nhà, ăn ở một nhà, anh lấy đợc nàng, chung mẹ chung thầy, lấy anh, phu thê, làm rể, đạo vợ nghĩa chồng, cới, ngãi tao khang, chung ý chung tình, phu phụ muôn đời, đạo vợ chồng…

Ví dụ:

- Trời vần vũ mây giăng bốn phía

Nớc biển Đông sóng dợn tứ bề

Biết làm sao cho nên nghĩa phu thê

Đó chồng, đây vợ đi về có đôi.

- Cơm ăn hai bát, bát ăn bát để

Đũa so hai đôi, đôi đứng đôi nằm

Dầu mà thầy mẹ đập chín chục, một trăm

Đập rồi lại dậy, quyết nhất tâm lấy chàng.

Về lớp từ ngữ mang nét nghĩa chỉ sự gắn kết, hợp nhất có: kết nguyền, hợp (hợp lại, hiệp lại), đôi, vầy (sum vầy), sum họp, sánh đôi, sánh duyên, chung, cùng nhau chung, kết nghĩa ngàn sau…

Ví dụ:

- Yêu nhau chẳng lấy đợc nhau

Con lợn bỏ đói, buồng cau bỏ già

Bây giờ sum họp một nhà

Trang 39

Lợn gầy lại béo, cau già lại non.

- Anh về tha với mẹ thầy

May chăn cho rộng ta rày đắp chung.

Kết hợp với các lớp từ ngữ ấy là lớp từ biểu đạt ý muốn, ớc muốn: muốn,

ớc, ớc gì, ớc sao, ao ớc, mong, ớc mong, mong sao…

Ví dụ:

- Trồng cây những muốn cây xanh

Đôi ta những muốn cho thành phu thê.

- Anh còn son, em cũng còn son

Uớc gì ta đợc làm con một nhà.

- Uớc sao ăn ở một nhà

Ra vào đụng chạm để mà nhớ thơng

- Đào ơi, thơng lấy liễu cùng

Uớc mong đào liễu vui chung một nhà.

- Hoa cau gặp hội hát xoan

Em ở một làng, anh ở một nơi

Bây giờ mới gặp nhau đây

ớc làm phu phụ muôn đời nên chăng.

- Mong sao anh biến ra tằm

Em biến ra nống ta nằm chung chơi

Khi nào cho hợp hai nơi

Ghé tai nói nhỏ những lời thuỷ chung

Trang 40

- Bây giờ trầu lại gặp cau

Cũng mong ta ở với nhau một nhà

Bây giờ bớm lại gặp hoa

Xin đừng trở ngại gần xa mọi đờng

Khát vọng đợc chung sống với ngời mình yêu luôn hừng hực trong tráitim của những kẻ yêu nhau Khi có cơ hội thuận lợi, khát vọng ấy trào tuôn nhkhông thể nào kìm giữ lại đợc Vì thế họ đã thổ lộ ra điều mong, điều ớc củamình một cách hào hứng, bộc trực mà rất đỗi chân thành:

- Cái quạt mời tám cái nan

ở giữa phết giấy hai nan hai đầu

Quạt này anh để che đầu

Đêm đêm đi ngủ chung nhau quạt này

Ước gì chung mẹ, chung thầy

Để em giữ cái quạt này làm thân

Rồi ra chung gối, chung chăn

Chung quần, chung áo, chung khăn đội đầu

Nằm thì chung cái giờng tàu

Dậy thì chung cả hộp trầu, ống vôi

Ăn cơm chung cả một nồi

Gội đầu chung cả dầu hồi, nớc hoa

Chải đầu chung cái lợc ngà

Soi gơng chung cả nhành hoa giắt đầu…

Cả bài ca thể hiện điều ớc của chàng trai trong độ yêu đơng, ớc đợcchung (“chung: là cùng với nhau, chứ không phải ngời nào ngời ấy tách riêngra” [37, tr.177] với ngời mình yêu nhiều thứ, toàn là những thứ thiết yếu củacuộc sống thờng nhật hằng ngày: cái quạt, gối, chăn, quần, áo, giờng, khăn đội

đầu, hộp trầu ống vôi, nồi cơm, dầu hồi, nớc hoa, cái lợc ngà, gơng soi và cả

Ngày đăng: 27/12/2013, 21:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Chữ Thị Bích (2007), Hành động ngôn ngữ gián tiếp cho tặng trong giao tiếp của ngời Việt, T/c Ngôn ngữ, Số10, tr: 40 - 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành động ngôn ngữ gián tiếp cho tặng tronggiao tiếp của ngời Việt
Tác giả: Chữ Thị Bích
Năm: 2007
3. Nguyễn Phan Cảnh (1997), Ngôn ngữ thơ, Nxb ĐH và THCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb ĐH và THCN
Năm: 1997
4. Nguyễn Tài Cẩn (1996), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1996
5. Đỗ Hữu Châu (1992), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
6. Đỗ Hữu Châu (1999), Tiếng Việt 10, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 10
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
7. Trần Văn Cơ (2006), Ngôn ngữ học tri nhận là gì?, Ngôn ngữ, Số7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học tri nhận là gì
Tác giả: Trần Văn Cơ
Năm: 2006
8. Trần Văn Cơ (2007), Nhận thức, tri nhận - hai hay một (Tìm hiểu thêm về ngôn ngữ học tri nhận), T/c Ngôn ngữ, Số 7, tr:19 - 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức, tri nhận - hai hay một (Tìm hiểu thêmvề ngôn ngữ học tri nhận)
Tác giả: Trần Văn Cơ
Năm: 2007
9. Trần Trơng Mỹ Dung (2005), “Tìm hiểu ý niệm buồn trong tiếng Nga và tiếng Anh”, T/c Ngôn ngữ, Số 8, tr: 61 – 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu ý niệm buồn trong tiếng Nga vàtiếng Anh
Tác giả: Trần Trơng Mỹ Dung
Năm: 2005
10. Đại học Vinh, Khoa ngữ văn (2004), Những vấn đề văn học và ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề văn học và ngônngữ học
Tác giả: Đại học Vinh, Khoa ngữ văn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2004
11. Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
12. Hữu Đạt (2007), Thử áp dụng ngôn ngữ học tri nhận vào phân tích nhóm từ đồng nghĩa chỉ vận động rời chỗ trong tiếng Việt “ ” , Ngôn ngữ, Số 11, tr:20-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử áp dụng ngôn ngữ học tri nhận vào phân tích nhómtừ đồng nghĩa chỉ vận động rời chỗ trong tiếng Việt"“
Tác giả: Hữu Đạt
Năm: 2007
13. Nguyễn Đăng Điệp (2003), Vọng từ con chữ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vọng từ con chữ
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2003
14. Nguyễn Thị Ngọc Điệp (2004), Ca dao dân ca Đẹp và hay, – Nxb Trẻ Hội nghiên cứu và giảng dạy văn học TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao dân ca Đẹp và hay
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Điệp
Nhà XB: Nxb TrẻHội nghiên cứu và giảng dạy văn học TPHCM
Năm: 2004
15. Cao Xuân Hạo (1991), Ngữ pháp chức năng, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1991
16. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử…(1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử…
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 1992
17. Đỗ Thị Hòa (2007), Giá trị biểu trng của nhóm từ ngữ thuộc trờng nghĩa chim chãc trong ca dao ng“ ” ời Việt, T/c Ngôn ngữ, Số 6, tr:18-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị biểu trng của nhóm từ ngữ thuộc trờng nghĩachim chãc trong ca dao ng"“ ” "ời Việt
Tác giả: Đỗ Thị Hòa
Năm: 2007
18. Nguyễn Hòa (2007), Sự tri nhận và biểu đạt thời gian trong tiếng Việt qua các ẩn dụ không gian, T/c Ngôn ngữ, Số7, tr:1- 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tri nhận và biểu đạt thời gian trong tiếng Việtqua các ẩn dụ không gian
Tác giả: Nguyễn Hòa
Năm: 2007
19. Nguyễn Hoà (2007), “Hệ hình nhận thức trong nghiên cứu ngôn ngữ , ” T/c Ngôn ngữ, Số 1, tr: 6 – 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ hình nhận thức trong nghiên cứu ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Hoà
Năm: 2007
20. Phan Thế Hng (2005), “Từ mô hình tri nhận đến mô hình văn hoá , ” Ngữ học Trẻ, tr: 305 – 310 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ mô hình tri nhận đến mô hình văn hoá
Tác giả: Phan Thế Hng
Năm: 2005
21. Phan Thế Hng (2007), So sánh trong ẩn dụ, T/c Ngôn ngữ, Số 4, tr:1-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh trong ẩn dụ
Tác giả: Phan Thế Hng
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w