1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ ngữ biểu thị tâm lí tình cảm trong ca dao người việt

115 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung nghiên cứu Đề tài tập trung khảo sát, thống kê và phân loại tất cả từ, ngữ chỉ tâm lí – tình cảm trong ca dao theo các tiêu chí khác nhau: phương thức cấu tạo, ngữ pháp, ngữ ng

Trang 1

NGUYỄN PHƯƠNG ANH

Trang 2

NGUYỄN PHƯƠNG ANH

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ ĐỨC LUẬN

Đà Nẵng, năm 2015

Trang 3

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Phương Anh

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Bố cục đề tài 4

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 9

1.1 TỪ VÀ NGỮ 9

1.1.1 Từ 9

1.1.2 Ngữ 23

1.2 TỪ NGỮ CHỈ TÂM LÍ – TÌNH CẢM TRONG TIẾNG VIỆT 27

1.2.1 Khái niệm 27

1.2.2 Các đặc điểm của từ ngữ chỉ tâm lí–tình cảm trong tiếng Việt 29

1.3 CA DAO 34

1.3.1 Khái niệm ca dao, phân biệt ca dao với tục ngữ 34

1.3.2 Đặc điểm ngôn ngữ ca dao 37

1.3.3 Khái lược về từ ngữ chỉ tâm lí - tình cảm trong ca dao 43

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ CHỈ TÂM LÍ – TÌNH CẢM TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT 45

2.1 ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP CỦA TỪ NGỮ CHỈ TÂM LÍ - TÌNH CẢM TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT 45

2.1.1 Động từ 45

2.1.2 Tính từ 48

2.1.3 Danh từ 49

2.1.4 Nhận xét về từ loại biểu thị tâm lí – tình cảm 51

Trang 5

2.2.1 Từ 52

2.2.2 Ngữ 55

2.3 ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA TỪ NGỮ BIỂU THỊ TÂM LÍ – TÌNH CẢM TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT 64

2.3.1 Phân loại các từ ngữ biểu thị sắc thái tâm lí – tình cảm trong ca dao 64

2.3.2 Nhận xét các mức độ biểu thị sắc thái tâm lí – tình cảm trong ca dao người Việt 74

CHƯƠNG 3 GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA TỪ NGỮ CHỈ TÂM LÍ – TÌNH CẢM TRONG CA DAO 75

3.1 GIÁ TRỊ BIỂU HIỆN 75

3.1.1 Biểu hiện tình yêu gia đình, làng xóm, cộng đồng 75

3.1.2 Biểu hiện tình yêu lứa đôi 77

3.2 GIÁ TRỊ BIỂU CẢM 81

3.2.1 Ca ngợi, tự hào 81

3.2.2 Lạc quan, hài hước, dí dỏm 82

3.2.3 Hạnh phúc, khát khao, say đắm, mặn nồng 84

3.2.4 Giận hờn, đau thương, buồn thảm, trách móc 85

3.3 GIÁ TRỊ NGỮ DỤNG 87

3.3.1 Giá trị tu từ 87

3.3.2 Văn hóa giao tiếp 90

KẾT LUẬN 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao_

PHỤ LỤC

Trang 6

Số hiệu Tên bảng Trang

2.1 Bảng thống kê danh từ, động từ, tính từ 45

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Từ ngữ chỉ tâm lí – tình cảm là một trong những nhóm từ ngữ của

từ vựng được phân chia theo trường ý nghĩa biểu thị Đây là xu hướng và quan niệm phân chia vốn từ vựng đang được các nhà ngôn ngữ học quan tâm hiện nay Trong quá trình nghiên cứu, các nhà ngôn ngữ học đã phát hiện ra

từ và ý nghĩa của chúng không chỉ tồn tại độc lập mà liên kết với nhau thành những nhóm nhất định Trên cơ sở đó, các nhà ngôn ngữ học đã phân chia từ vựng thành những nhóm từ khác nhau theo trường nghĩa biểu thị Theo đó, các từ trong cùng một nhóm sẽ cùng biểu thị một phạm trù ý nghĩa nhất định Lựa chọn từ ngữ chỉ tâm lí – tình cảm để nghiên cứu, người viết hy vọng sẽ góp một phần công sức vào việc giải mã xu hướng và quan niệm phân chia vốn từ vựng theo trường nghĩa biểu thị này

Hơn nữa, ngôn ngữ học là một hệ thống cấu trúc động, không chỉ là động trong quá trình phát triển, biến đổi mà cơ bản hơn ngôn ngữ có tính chất động tuyệt đối trong chức năng, là một kiểu “động hành chức” theo cách nói của Đỗ Hữu Châu Vì vậy đề tài không nghiên cứu từ ngữ trong hệ thống cấu trúc tĩnh của vốn từ tiếng Việt mà nghiên cứu từ trong hoạt động hành chức, ở một phạm vi rất đặc biệt, đó là ngôn ngữ trong ca dao Nhóm từ biểu thị tâm lí – tình cảm có tần số xuất hiện rất cao trong ca dao người Việt, vì nó gắn liền với tâm lí – tình cảm của con người, diễn biến tâm lý, tình cảm nội tâm của chính con người và rộng hơn là quan niệm của con người về hiện thực cuộc sống Do đó, khi thống kê và nghiên cứu nhóm từ này, chúng ta có thể thấy rõ những vấn đề bản chất nhất của ca dao, nhìn từ góc độ ngôn ngữ học chứ không đơn thuần là vấn đề thống kê và phân loại ngôn ngữ

1.2 Ca dao Việt Nam được xem là tấm gương phản ánh trung thực hình

Trang 8

ảnh thiên nhiên, đất nước, con người Việt Nam Đó là kho tài liệu phong phú

về phong tục, tập quán trong các lĩnh vực đời sống, vật chất, tinh thần của nhân dân lao động Lời ca dao cũng chính là tình cảm chân thành, sâu sắc của người bình dân xưa đối với quê hương đất nước, với ông bà, cha mẹ, với bạn

bè, người yêu Chính vì thế mà nó còn được gọi là tiếng đàn muôn điệu, tức là tiếng đàn thường dùng thể hiện tình cảm, cảm xúc muôn điệu, là sự đa dạng trong giai điệu - của tâm hồn người dân lao động Cũng chính nhờ vào cách thể hiện tình cảm ý nhị tinh tế và sâu sắc mà ca dao có một sức hấp dẫn lạ lùng đối với người đọc qua nhiều thế hệ Đến với ca dao, chúng ta như đặt chân đến vườn hoa trăm sắc muôn hương Vẻ đẹp của ca dao là vẻ đẹp của những bông hoa đồng nội Ca dao là tiếng hát yêu thương, tình nghĩa, là lời than vãn về thân phận tủi nhục, đắng cay, là niềm lạc quan tin tưởng vào tương lai, là lời phản kháng thế lực, là tình yêu nam nữ, tình yêu quê hương, đất nước Đó là một gia tài vô cùng quý giá đang hiện hữu và nuôi dưỡng mọi thế hệ con người trên đất nước Việt Nam thân yêu Ở đâu có con người, ở

đó có tâm lí - cảm xúc, có quan hệ tình cảm Do đó, không phải ngẫu nhiên

mà nhiều nhà triết học, tâm lý học xưa nay đã dày công phân tích những vấn

đề liên quan tới trạng thái đặc biệt này của nhân loại Nhiều công trình nghiên cứu về con người đã tìm hiểu các biểu hiện tâm lý của con người, trong đó có việc nghiên cứu tâm lí của con người qua ngôn ngữ Ngôn ngữ là phương tiện

có khả năng phản ánh hiện thực, thể hiện đời sống xã hội Trong từ vựng của ngôn ngữ, có một số từ ngữ có chức năng định danh tâm lý, đánh dấu các biến thái của trạng thái cảm xúc Tìm hiểu các từ ngữ này sẽ phần nào cho ta thấy được ngôn ngữ hành chức ra sao trong cuộc sống và cuộc sống - trong đó có đời sống tinh thần - đã được thể hiện vào ngôn ngữ như thế nào

Hạnh phúc và khổ đau, thương nhớ và giận hờn, đợi chờ và thao thức, buồn và vui… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của

Trang 9

tình yêu nói riêng - loại tình cảm lớn lao và đẹp đẽ nhất chỉ có trong xã hội loài người Những cung bậc tình cảm này thể hiện trong các lĩnh vực giao tiếp, rõ nhất là trong hội thoại hàng ngày, trong sáng tác thơ văn… Ca dao là lời ăn tiếng nói của nhân dân, là tiếng hát tâm tình, kết tinh trí tuệ và xúc cảm

tự bao đời của biết bao thế hệ Việc tìm hiểu ca dao là góp phần làm rõ những đặc trưng văn hoá dân tộc, tâm lý dân tộc Từ năm 1948, báo cáo “Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hoá Việt Nam” đã nêu rõ: “Bên cạnh văn hoá chính thống của các thời đại, có cả một nền văn hoá nhân dân còn lưu lại ở phương ngôn, ngạn ngữ, ca dao, cổ tích, tranh gà lợn…Văn hoá này tả sự phấn đấu của người sản xuất (làm ruộng, làm thợ), lòng mong mỏi hay chí phản kháng của dân, chế giễu mê tín hủ tục hay khuyên răn điều thiện Đó là một kho tàng rất quý mà các nhà văn hoá, sử học và khảo cổ nước ta còn phải dày công tìm bới mới hiểu hết được”

“Không có một chiếc chìa khóa vạn năng nào để mở cửa vào cuộc sống nội tâm của một dân tộc, ngoại trừ ngôn ngữ của dân tộc đó” (Havvett) Vì thế, tìm hiểu ngôn ngữ trong ca dao, trong đó nghiên cứu riêng về từ ngữ biểu thị tâm lí - tình cảm trong ca dao là một trong những hướng nghiên cứu có khả năng chứng minh, lý giải được những cung bậc trạng thái của tình cảm con người bình dân thời xưa

Trên đây là những lí do cơ bản để chúng tôi thực hiện đề tài: “Từ ngữ

biểu thị tâm lí - tình cảm trong ca dao người Việt”

2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nhằm chỉ ra đặc điểm cấu tạo, giá trị biểu hiện và giá trị ngữ dụng của bộ phận từ ngữ chỉ tâm lí – tình cảm trong ca dao người Việt

Kết quả nghiên cứu này sẽ giúp cho công tác giảng dạy và hoạt động văn học dân gian trong nhà trường phổ thông, giúp người đọc có cái nhìn toàn

Trang 10

diện, sâu sắc về ca dao, đặc biệt là ca dao dưới góc độ ngôn ngữ

2.2 Nội dung nghiên cứu

Đề tài tập trung khảo sát, thống kê và phân loại tất cả từ, ngữ chỉ tâm lí – tình cảm trong ca dao theo các tiêu chí khác nhau: phương thức cấu tạo, ngữ pháp, ngữ nghĩa, góp phần làm nổi bật những nét đẹp tâm hồn của con người Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: đặc điểm về hệ thống, về hình thức và giá trị nội dung của các từ ngữ biểu thị ý nghĩa tâm lí – tình cảm của tiếng Việt trong ca dao

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu: nguồn tư liệu khảo sát lấy từ công trình: “Kho tàng ca dao người Việt”, 2001, Nguyễn Xuân Kính, Phan Đặng Nhật, Nguyễn Thị Loan, Đặng Diệu Trang, Nxb VHTT

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, trong quá trình khảo sát chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp thống kê, phân loại

- phương pháp đối chiếu so sánh

- Phương pháp phân tích – miêu tả và tổng hợp

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2 Đặc điểm từ ngữ chỉ tâm lí – tình cảm trong ca dao

Trang 11

Chương 3 Giá trị ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ tâm lí – tình cảm trong ca dao

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

6.1 Về nghiên cứu từ ngữ chỉ tâm lí – tình cảm trong tiếng Việt

Về nhóm từ ngữ chỉ tâm lí – tình cảm trong tiếng Việt, các nhà ngôn ngữ học đã đề cập đến từ những năm giữa thế kỷ XX Trong các công trình nghiên cứu từ vựng ngữ nghĩa cũng như ngữ phấp của các nhà Việt ngữ học hàng đầu như: Hoàng Tuệ (Giáo trình về Việt ngữ, 1962), Nguyễn Tài Cẩn (Ngữ pháp tiếng Việt, 1975), Đinh Văn Đức (Ngữ pháp tiếng Việt – từ loại, 1986), cao Xuân Hạo (Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng, 1991), Đỗ Hữu Châu (từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, 2005)… đều có nhắc đến nhóm từ này với các tên gọi khác nhau Lý do là xét về mặt ý nghĩa, đây là nhóm từ trọng yếu, thể hiện một trong những lĩnh vực quan trọng nhất của đời sống con người, đó là lĩnh vực tâm lí – tình cảm Xét về mặt ngữ pháp, nhóm từ chỉ tâm lí – tình cảm trong tiếng Việt lại là những hiện tượng mang bản chất ngữ pháp đặc biệt, lưỡng tính, nằm trong phần trung gian giữa các từ loại, gây tranh luận từ trước đến nay trong giới nghiên cứu Việt ngữ

Liên quan trực tiếp đến đề tài là chuyên luận “Nhóm từ biểu thị tâm lí – tình cảm tiếng Việt” của PGS TS Nguyễn Ngọc Trâm Chuyên luận đã đi sâu khảo sát, thống kê tất cả các từ có ý nghĩa chỉ tâm lí – tình cảm trong tiếng Việt Cụ thể, Nguyễn Ngọc Trâm đã thống kê trong từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, 1988, có 300 từ cơ bản chỉ tâm lí – tình cảm Trên cơ sở đó tác giả mô tả đặc trưng về ngữ nghĩa và ngữ pháp của từ biểu thị tâm lí – tình cảm, rồi tiến hành phân loại chúng từ ba góc độ khác nhau: tâm lý học, phạm trù ngữ nghĩa và cấu trúc nghĩa vị Không chỉ vậy, Nguyễn Ngọc Trâm còn phân tích và lý giải bản chất từ loại của các từ chỉ tâm lí – tình cảm và các mối quan hệ ngữ nghĩa cũng như tình hiểu chức năng biểu thị tình thái của các từ chỉ tâm lí – tình cảm Như vậy, chuyên luận này đã cung cấp một bức

Trang 12

tranh khái quát và tương đối toàn diện về một nhóm từ tiếng Việt ít nhiều phức tạp – những từ biểu thị tâm lí – tình cảm tiếng Việt

Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của chuyên luận mới chỉ là nhóm từ chỉ tâm lí – tình cảm – một nhóm từ thuộc lớp từ vựng cơ bản biểu thị mặt hoạt động tâm lý con người mà chưa đề cập đến ngữ chỉ tâm lí – tình cảm trong tiếng Việt Hơn nữa, chuyên luận chỉ mới làm sáng tỏ một số vấn đề có tính chất lý thuyết chung, như tính hệ thống của từ vựng – ngữ nghĩa trong ngôn ngữ, quan hệ giữa những đặc điểm ngữ nghĩa và đặc điểm ngữ pháp, ý nghĩa tình thái của câu, phương pháp nghiên cứu ngữ nghĩa mà chưa đi vào phân tích giá trị của nhóm từ chỉ tâm lí – tình cảm trong các tác phẩm văn chương Đây sẽ là mảnh đất màu mỡ dành cho những ai mang trong mình niềm đam mê khám phá những điều mới lạ…

6.2 Về nghiên cứu ngôn ngữ ca dao

Ca dao đã trở thành mảnh đất màu mỡ thu hút nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu Các nhà nghiên cứu đã đi vào phân tích và đánh giá ca dao trên nhiều bình diện với những mức độ nông, sâu khác nhau

Tiếp cận ca dao người Việt theo hướng thi pháp, Nguyễn Xuân Kính

trong cuốn Thi pháp ca dao đã nghiên cứu tương đối kỹ đặc điểm của văn bản

ca dao về phương diện kết cấu, không gian và thời gian nghệ thuật, một số biểu tượng, thể thơ Về phương diện ngôn ngữ ca dao, tác giả có đề cập đến cách sử dụng và tổ chức ngôn ngữ với các phương thức biểu hiện, tạo hình, chuyển nghĩa như ẩn dụ, cách dùng tên riêng chỉ địa điểm

Phạm Thu Yến trong cuốn Những thế giới nghệ thuật ca dao đã triển

khai nghiên cứu thi pháp ca dao trên ba phần: ngôn ngữ và kết cấu, những phương tiện diễn tả và biểu hiện trong thơ ca trữ tình dân gian, một vài tiểu loại ca dao và những nguồn mạch ca dao trong văn học hiện đại Về phương

diện ngôn ngữ và kết cấu, Phạm Thu Yến đã đề cập đến vấn đề “tính ngữ”

Trang 13

trong ca dao Tác giả cũng đặc biệt chú ý đến đại từ nhân xưng trong ca

dao:“So với thơ bác học, có lẽ chỉ ở ca dao mới có cách sử dụng đại từ nhân

xưng kèm theo tính từ chỉ rõ đặc điểm của đối tượng được gọi: người thương, người ngoan, người nghĩa” [41, tr.225]

Lần đầu tiên trong nghiên cứu ca dao, Đặng Văn Lung đã khảo sát về

Những yếu tố trùng lặp trong ca dao trữ tình trên phương diện hình ảnh, kết cấu,

ngôn ngữ Tuy nhiên những nghiên cứu của tác giả cũng chỉ ở mức giới thiệu bước đầu, dù vậy đây vẫn là một gợi ý tốt cho những nghiên cứu tiếp theo

Hoàng Trinh trong cuốn Từ ký hiệu học đến thi pháp học cũng đã chỉ ra

những đặc điểm liên quan đến việc tiếp cận tác phẩm ca dao theo hướng cấu trúc như: tính mô thức, tính biến thể, tính liên văn bản, về hệ thống các đơn vị

từ, cụm từ, ngữ đoạn có khả năng tạo nghĩa và chuyển nghĩa

Nguyễn Phan Cảnh trong cuốn Ngôn ngữ thơ cũng đã đề cập đến

phương thức biểu hiện, tổ chức kép các lực lượng ngữ nghĩa hay phương thức chuyển nghĩa của ngôn ngữ ca dao Đặc biệt, khi đề cập đến phương thức tổ

chức ngôn ngữ ca dao, tác giả nhấn mạnh rằng: “Ca dao lấy việc khai thác

các đồng nghĩa lâm thời làm phương tiện biểu hiện cơ bản, nghĩa là làm việc chủ yếu bằng hệ lựa chọn Vì thế hình tượng ngôn ngữ ca dao trước hết là những hình tượng ẩn dụ tính” [4 ,tr.84]

Hoàng Kim Ngọc trong cuốn So sánh và ẩn dụ trong ca dao trữ tình đã

nghiên cứu một cách tỉ mỉ, có hệ thống về phép so sánh và ẩn dụ được sử dụng trong ca dao trữ tình người Việt, đặc biệt là nghiên cứu ẩn dụ ở cấp độ phát ngôn câu Nêu các quy tắc và đặc điểm về hình thái cấu trúc, ngữ nghĩa của so sánh và ẩn dụ Nghiên cứu về trầm tích văn hoá, ngôn ngữ qua so sánh

và ẩn dụ trong ca dao trữ tình người Việt

Triều Nguyên trong cuốn Bình giải ca dao cũng đã có cách “Tiếp cận

ca dao bằng phương thức xâu chuỗi theo mô hình cấu trúc” Phương pháp

Trang 14

này xem tác phẩm ca dao chỉ có tính chất độc lập tương đối, mỗi tác phẩm vừa có giá trị riêng vừa nằm trong một kiểu dạng, một nhóm nhất định, dùng

ca dao để hiểu ca dao Tuy nhiên đó mới chỉ là những phác họa bước đầu có quy mô thể nghiệm qua một số bài ca dao

Lê Đức Luận trong cuốn Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt đã đi sâu

vào nghiên cứu cấu trúc ca dao trữ tình một cách toàn diện, bao quát và cụ thể

từ hình thức đến nội dung, từ đặc trưng văn bản đến các phương thức tạo nên văn bản, từ ngôn ngữ đến văn hóa, từ hệ thống văn bản đến các đơn vị ngôn

ngữ làm ngôn liệu tạo nên văn bản “Kho tàng ca dao người Việt lần đầu tiên

được xem xét dưới ánh sáng của lý thuyết hệ thống - cấu trúc ngôn ngữ và nhờ phương pháp này những đặc trưng cơ bản nhất của cấu trúc ca dao trữ tình người Việt đã được phát hiện thêm và phân tích thấu đáo” [30, tr.306]

Trong bài viết Ngôn ngữ ca dao Việt Nam (Tạp chí Văn học, số 2/1991), Mai Ngọc Chừ cũng đã khẳng định rằng: “Cái đặc sắc của ngôn ngữ

ca dao chính là ở chỗ nó đã kết hợp được nhuần nhuyễn hai phong cách: ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ hội thoại, nó truyền miệng bằng thơ Và chính cái hình thức tồn tại ấy là một trong những điều kiện để ca dao thấm đượm, thơm lâu trong mỗi con người” [9, tr.50]

Hữu Đạt trong cuốn “Ngôn ngữ thơ ca Việt Nam” cũng đã đề cập đến phương thức biểu hiện, lối chơi chữ của ngôn ngữ thơ trong đó có ngôn ngữ

ca dao

Trang 15

có thể khác nhau nên để có một khái niệm chung về từ vẫn chưa có sự thống nhất Vì vậy, phương châm đúng đắn nhất trong việc đi tìm một khái niệm về

từ là một mặt phải chú ý tới những điểm đồng nhất, chú ý tới tính phổ quát, từ

đa dạng về thuộc tính nhưng vẫn có thể tìm thấy những thuộc tính bản chất chung cho từ trong mọi ngôn ngữ Mặt khác, cũng cần phải chú ý tới những đặc điểm riêng của từ trong mỗi ngôn ngữ

Một số định nghĩa về từ nói chung:

A.Mây-Yê: Từ là sự kết hợp giữa một ý nghĩa nhất định với một tổ hợp

âm nhất định Có khả năng đảm nhận một chức năng ngữ pháp nhất định

[28,tr.36] V.G.Admoni: Từ là đơn vị ngữ pháp do hình vị cấu tạo nên dùng

để biểu thị đối tượng, quá trình, tính chất và những mối quan hệ trong hiện thực, có tính đặc thù rõ rệt và có khả năng kiến lập nhiều mối quan hệ đa

dạng với nhau [28,tr.38] V.M.Solneev: Từ là đơn vị ngôn ngữ có tính hai

mặt: âm và nghĩa Có khả năng độc lập về cú pháp khi sử dụng trong lời nói

[28,tr.13]

Trang 16

Định nghĩa về từ tiếng Việt:

Hồ Lê: Từ là đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh phi liên kết hiện

thực hoặc chức năng mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự do, có tính

vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa [28,tr.104] Nguyễn Thiện

Giáp: Từ của Tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để cấu

tạo câu nói: nó có hình thức của một âm tiết, một “chữ” viết rời [12] Đỗ

Hữu Châu: Từ của Tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến,

mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định lớn nhất trong Tiếng Việt

và nhỏ nhất để tạo câu [8,tr.16] Nguyễn Kim Thản: Từ là đơn vị cơ bản của

ngôn ngữ, có thể tách khỏi các đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa và chức năng ngữ pháp [37,tr.38]

Đỗ Thị Kim Liên: Từ là một đơn vị của ngôn ngữ, gồm một hoặc một

số âm tiết, có nghĩa nhỏ nhất, có cấu tạo hoàn chỉnh và được vận dụng tự do

để cấu tạo nên câu [29,tr.18]

Như vậy, có thể có nhiều cách định nghĩa khác nhau về từ tiếng Việt, xuất phát từ những góc độ, những quan điểm khác nhau Nhưng tựu trung lại, các nhà nghiên cứu đều đưa ra được những đặc điểm cơ bản của từ Trong bài viết của mình, chúng tôi sử dụng quan niệm của Đỗ Thị Kim Liên làm cơ sở

Trang 17

cố định, bất biến có quan hệ mật thiết với tính độc lập tương đối cao của từ tiếng Việt đối với câu, với văn cảnh

Những đặc trưng ngữ âm của từ trong tác phẩm chỉ có tác dụng khi có điều kiện ngữ nghĩa thích hợp Nếu như bản thân ý nghĩa của câu văn, câu thơ không phù hợp thì người đọc cũng có ý thức được giá trị gợi tả của âm thanh Hai từ giống hệt nhau về cấu trúc ngữ âm, song nghĩa khác nhau, đó là từ đồng âm Cùng một từ nhưng ở trong cấu trúc câu khác nhau, văn cảnh khác nhau thì nghĩa cũng khác nhau do sự đa nghĩa của từ Cho nên cái quyết định vẫn là ý nghĩa Chỉ có nắm chắc được ý nghĩa thực có của các từ, của câu thì

sự phân tích âm thanh mới thuyết phục được người nghe

Theo định nghĩa về từ, chúng ta suy ra đặc điểm ngữ pháp của từ theo chức năng của chúng trong câu Đó là những đặc điểm xuất hiện khi từ tổ hợp với từ để tạo nên những câu nói hiểu được, chấp nhận được đối với một cộng đồng ngôn ngữ Các từ khác nhau có những đặc điểm ngữ pháp khác nhau, song tính chất chung nhất của các đặc điểm ngữ pháp là tính đồng loạt Nhờ tính đồng loạt của các đặc điểm ngữ pháp mà từ vựng của một ngôn ngữ mới chia ra được các từ loại Ở tiếng Việt, các đặc điểm ngữ pháp của từ không biểu hiện trong nội bộ từ mà biểu hiện chủ yếu ở ngoài từ, trong tương quan của nó với các từ khác trong câu

Các nhà ngữ pháp học về tiếng Việt đã có nhiều cố gắng để hình thức hóa các tương quan giữa từ với các từ khác trong câu Tương quan đó thể hiện ở:

- Khả năng kết hợp giữa từ đang được xét với những từ nhân chứng Theo Đỗ Hữu Châu, từ nhân chứng (mots – tesmoins) là những từ có ý nghĩa khái quát, những ý nghĩa quan hệ hay tình thái, thường chỉ kết hợp với những

từ thuộc loại nhất định [6, tr.18] Sự kết hợp với từ nhân chứng có thể là trực

tiếp hay gián tiếp Ví dụ như từ nhân chứng cho danh từ thường là: những,

Trang 18

các, mọi, cái, con (ở trước) và ấy, này nọ, … (ở sau), từ nhân chứng cho tính

từ: rất, hơi, quá, lắm, khá, cực kỳ…

- Khả năng làm các thành phần trong câu như là chủ ngữ, vị ngữ… Ví dụ như: danh từ thường làm chủ ngữ, động từ, tính từ thường làm vị ngữ… Đỗ Hữu Châu còn dựa vào khả năng làm vị ngữ trực tiếp hay làm vị ngữ gián tiếp

với từ nối “là” (trở nên, trở thành ) thường được dùng như tiêu chí chủ yếu phân biệt các từ loại Ông đã đưa ra thí dụ, các từ như: chạy, học, hay… và các

từ như học sinh, bác sĩ, sách… làm vị ngữ trong câu như sau: Vận động viên

chạy; Người này là học sinh; Học sinh học; Vị này là bác sĩ; Cuốn sách hay;

Đây là cuốn sách Như vậy, các từ chạy, học, hay làm vị ngữ trực tiếp còn các

từ ngữ học sinh, bác sĩ, sách cũng làm vị ngữ song gián tiếp, thông qua từ nối

“là” Như vậy chúng thành lập hai từ loại khác nhau [8, tr.18, 19]

Khả năng chi phối các thành phần phụ trong cụm từ, trong câu Khả năng này giúp chúng ta phân xuất các từ loại lớn thành những tiểu loại Đỗ Hữu Châu đã phân xuất các loại động từ thành những động từ ngoại động và động từ nội động dựa khả năng có hay không bổ ngữ danh từ chỉ đối tượng chịu tác động trực tiếp của hoạt động do động từ biểu thị làm tiêu chí phân loại So sánh hai nhóm câu sau đây:

Người thợ xây nhà Vận động viên chạy trên sân cỏ Người kỹ sư chữa máy Cái cốc vỡ

Dược sĩ điều chế thuốc Hoa nở

Nhà, máy, thuốc là những đối tượng hình thành do các hoạt động xây, chữa, điều chế nên xây, chữa, điều chế là các động từ ngoại động Trái lại

đằng sau các động từ chạy, vỡ, nở không thể có những bổ ngữ như vậy, cho

nên chúng là động từ nội động [8, tr 19]

Một điểm cần lưu ý là đặc điểm ngữ pháp của từ không hoàn toàn độc lập với ý nghĩa Đặc điểm ngữ pháp của từ chính là những biểu hiện ở khả

Trang 19

năng tạo câu của một ý nghĩa nào đó của từ Ý nghĩa của từ là cơ sở của các đặc điểm ngữ pháp Ngược lại, đặc điểm ngữ pháp là cái khuôn hình thức để định hình một ý nghĩa Một hiểu biết về thực tế khách quan mà chưa gắn với một đặc điểm ngữ pháp nào đó thì chưa phải là ý nghĩa của từ Ví dụ: ý nghĩa

“nước”, “lửa”, “núi”… của các âm tiết “thủy”, “hỏa”, “sơn”… chưa phải là

ý nghĩa của từ tiếng Việt vì các âm tiết này chưa có những đặc điểm ngữ pháp như các từ khác

Như vậy, đặc điểm ngữ pháp của từ tiếng Việt là tổng thể của những đặc điểm kết hợp, khả năng làm thành phần câu và khả năng chi phối lẫn nhau giữa các từ trong cụm từ, trong câu Tổng thể đó ứng với một ý nghĩa nào đó của từ (và một ý nghĩa khác sẽ ứng với một tổng thể khác)

- Yếu tố, đơn vị cấu tạo từ, phương thức tạo từ:

+ Trong tiếng Việt, các yếu tố cấu tạo từ là những hình thức ngữ âm có nghĩa nhỏ nhất – tức là những yếu tố không thể phân chia thành những yếu tố nhỏ hơn nữa mà cũng có nghĩa – được dùng để cấu tạo ra các từ theo các phương thức cấu tạo từ của tiếng Việt Chúng ta gọi các yếu tố có đặc điểm và

có chức năng như trên (chức năng cấu tạo từ) bằng thuật ngữ có tính quốc tế: hình vị [8, tr 22, 23]

+ Phương thức cấu tạo từ là cách thức mà ngôn ngữ tác động vào hình

vị để cho ra các từ Tiếng Việt sử dụng ba phương thức sau đây: phương thức ghép, phương thức láy và phương thức chuyển từ loại Phương thức ghép là phương thức tác động vào hai hoặc hơn hai hình vị kết hợp với nhau để sản sinh ra một từ mới (mang đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa như một từ) Ví dụ:

phương thức ghép tác động vào các hình vị như sách, vở cho ra từ sách vở, tác động vào các hình vị bàn, ghế cho ra từ bàn ghế… Phương thức láy là

phương thức tác động vào một hình vị cơ sở làm xuất hiện một hình vị láy

Trang 20

giống nó toàn bộ hay bộ phận về âm thanh Cả hình vị cơ sở và hình vị láy tạo thành một từ (mang đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của từ) Ví dụ: phương

thức láy tác động vào hình vị xinh cho ta hình vị láy xinh, hình vị láy và hình

vị cơ sở làm thành từ xinh xinh… Phương thức chuyển từ loại là phương thức

giữ nguyên hình thức âm thanh, thay đổi chức năng và nghĩa từ loại của từ để

tạo ra từ mới Ví dụ: từ chỉ hành động như (cái) cày, (cái) bừa, (cái) cưa,

(cái) đục… Khi thay đổi nghĩa từ loại, đồng thời từ cũng thay đổi cấu trúc

nghĩa từ vựng Bởi vậy, trong ngữ pháp học, người ta cho rằng một ngữ âm ứng với hai nghĩa từ loại sẽ tạo ra hai từ khác nhau

- Các kiểu từ xét về mặt cấu tạo:

Phân loại các từ về mặt cấu tạo theo tiêu chí vận dụng lần lượt như sau: phương thức cấu tạo, các kiểu nhỏ trong từng phương thức xét về mặt ngữ nghĩa, tính chất ngữ nghĩa của các hình vị Sự phân loại sẽ dừng lại khi sự đối lặp về mặt ngữ nghĩa không còn nữa Mỗi loại cấu tạo ngữ nghĩa như vậy sẽ tương ứng với một kiểu cấu tạo về hình thức Song sự phân loại về hình thức phải phụ thuộc vào sự phân loại về ngữ nghĩa, vì rằng có những từ cùng kiểu cấu tạo về hình thức nhưng lại thuộc về những kiểu cấu tạo ngữ nghĩa khác nhau

Theo quan điểm phân loại trên, có thể phân chia các từ tiếng Việt về mặt cấu tạo thành: từ đơn và từ phức (từ ghép và từ láy)

+ Từ đơn là từ gồm một âm tiết, tương đương với một hình vị xét về mặt cấu tạo Về mặt ngữ nghĩa chúng không lập thành những hệ thống có một kiểu ngữ nghĩa chung Chúng ta lĩnh hội và ghi nhớ nghĩa của từng từ một

cách riêng rẽ Ví dụ: người, nhà, cửa, bàn, ghế, xe, cây, hoa, lá…

+ Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh theo hai nhóm – nhóm cao: thanh ngang, thanh sắc, thanh hỏi và nhóm thấp: thanh huyền, thanh nặng, thanh ngã – của

Trang 21

một hình vị hay đơn vị có nghĩa) Phương thức láy tác động lần đầu vào một hình vị gốc một âm tiết sẽ cho ta các từ láy đôi hay từ láy hai âm tiết Ví dụ:

xinh -> xinh xắn, đẹp -> đẹp đẽ… Từ láy đôi bao gồm từ láy toàn bộ (xanh xanh, vàng vàng…) và từ láy bộ phận (từ láy âm: rì rào, tí tách… và từ láy

vần: lao xao, lanh chanh…) Phương thức láy có thể tác động lần thứ hai vào một từ láy đôi để cho ta các từ láy bốn âm tiết Ví dụ: khểnh -> khấp khểnh ->

khấp kha khấp khểnh… Phương thức láy cũng có thể tác động một lần vào

một hình vị một âm tiết cho ta một từ láy ba âm tiết Ví dụ: sạch -> sạch sành

sanh, dưng -> dửng dừng dưng…Nhìn chung, nghĩa của từ láy được hình

thành từ nghĩa của hình vị gốc theo hướng mở rộng hoặc thu hẹp, tăng cường hay giảm nhẹ, tổng hợp hay chuyên biệt hóa (sắc thái hóa) Nghĩa của từ láy khác nghĩa của hình vị gốc: nghĩa của từ láy biểu thị mức độ mạnh hơn so với

hình vị gốc (sạch sành sanh, khít khìn khịt, cỏn còn con…), nghĩa của từ láy biểu thị mức độ giảm nhẹ hơn so với hình vị gốc (nhàn nhạt, đo đỏ, tim

tím…), nghĩa của từ láy có phạm vi hẹp hơn so với hình vị gốc (xanh xao – chỉ nước da, nhỏ nhen – chỉ tính cách hẹp hòi, bối rối – chỉ một trạng thái tâm lý…) [8]

Từ ghép được sản sinh do sự kết hợp hai hoặc một số hình vị (hay đơn

vị cấu tạo) tách biệt, riêng lẻ, độc lập với nhau Phân loại các từ ghép trong tiếng Việt thực chất là phát hiện ra các cách thức cụ thể mà phương thức ghép

đã vận dụng để sản sinh ra các từ ghép cho tiếng Việt Căn cứ vào tính chất hình vị thì các từ ghép tiếng Việt được phân loại thành từ ghép hư và từ ghép thực Từ ghép hư là những từ ghép do hai hình vị hư kết hợp với nhau theo

phương thức ghép mà có Đó là các từ như: bởi vì, tại sao, cho nên, để mà, để

cho, huống hồ, huống chi, mặc dù, mà, nếu như… Giữa các hình vị hư trong

từ ghép hư khó lòng xác lập được quan hệ (cú pháp) như quan hệ giữa các hình vị thực trong các từ ghép thực Còn về ngữ nghĩa, so với ý nghĩa của các

Trang 22

hình vị, các từ ghép hư thường thu hẹp phạm vi sử dụng, cụ thể hóa ý nghĩa ngữ pháp của hình vị tạo nên nó Từ ghép thực là những từ ghép do hai hình

vị thực kết hợp với nhau theo phương thức ghép Từ ghép thực bao gồm từ ghép phân nghĩa (từ ghép chính phụ), từ ghép hợp nghĩa (từ ghép đẳng lập) và

từ ghép biệt lập “Từ ghép phân nghĩa là những từ ghép được cấu tạo từ hai hình vị (hay đơn vị) theo quan hệ chính phụ, trong đó có một hình vị chỉ loại lớn (sự vật, hoạt động, tính chất) và một hình vị có tác dụng phân hóa loại lớn đó thành những loại nhỏ hơn cùng loại nhưng đối lập với nhau và độc lập với loại lớn Các từ ghép phân nghĩa lập thành những hệ thống gồm một số từ

thống nhất với nhau nhờ hình vị chỉ loại lớn” [8, tr 47] Ví dụ: xe đạp, xe

hơi, điện năng, cơ năng, nhiệt năng… Từ ghép hợp nghĩa là những từ ghép do

hai hình vị tạo nên, trong đó không có hình vị nào là hình vị chỉ loại lớn, không có hình vị nào là hình vị phân nghĩa Các từ ghép này không biểu thị những loại (sự vật, hiện tượng, tính chất…) nhỏ hơn, trái lại chúng biểu thị những loại rộng hơn, lớn hơn, bao trùm hơn so với loại của từng hình vị tách

riêng Ví dụ: áo quần, đi đứng, mua bán, giảng dạy, tàu thuyền… Từ ghép

biệt lập (từ ngẫu kết) là những từ ghép vẫn được hình thành trên quan hệ cú pháp chính phụ hay đẳng lập, song tính hệ thống của chúng không có Mỗi từ

là một trường hợp riêng rẽ, không có những hình vị chỉ loại lớn chung với các

từ khác, không phải là một loại nhỏ trong một loại lớn Ví dụ: quy củ, đểu

cáng, mực thước…

Như vậy, đặc điểm ngữ âm, đặc điểm ngữ pháp và đặc điểm cấu tạo là

ba bộ phận tạo nên hình thức của từ Chúng gắn bó mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau và góp phần bộc lộ chức năng biểu nghĩa của từ

c Đặc điểm ngữ nghĩa

Các thành phần ý nghĩa của từ

Trang 23

Tùy theo các chức năng mà từ chuyên đảm nhiệm, trong ý nghĩa của từ

có những thành phần ý nghĩa sau đây: ý nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật, ý nghĩa biểu niệm ứng với chức năng biểu niệm và ý nghĩa biểu thái ứng với chức năng biểu thái

- Ý nghĩa biểu vật: Sự vật, hiện tượng, đặc điểm… ngoài ngôn ngữ, được từ biểu thị tạo nên ý nghĩa biểu vật của từ [6, tr 89] Ngoài các từ nghề nghiệp và thuật ngữ khoa học có ý nghĩa biểu vật trùng với sự vật, biểu tượng, tính chất… ngoài ngôn ngữ

Thứ nhất, sự chia cắt thực tế khách quan khác nhau trong ngôn ngữ và

ý nghĩa biểu vật Thực tế khách quan về cơ bản đồng nhất đối với mọi dân tộc, đối với mọi ngôn ngữ Song mỗi ngôn ngữ lại có những tên gọi ứng với những bộ phận không đồng đều, ứng với những đoạn cắt không trùng ranh giới của thực tế Đỗ Hữu Châu [8] đã đưa ra một loạt ví dụ để chứng minh cho điều này như: để chỉ hoạt động “dùng nước làm cho sạch” tiếng Việt có

các từ giặt, rửa, gội, vo, song ở tiếng Anh chỉ có một từ to wash; để chỉ những

người trong gia đình do bố mẹ sinh ra, tiếng Việt có các từ anh, chị, em chia

thành hai cặp anh, em (trai) và chị, em (gái), nhưng ở tiếng Pháp chỉ có hai từ

frère ứng với cặp thứ nhất và soeur ứng với cặp thứ hai, còn tiếng hán có bốn

từ huynh (anh), đệ (em trai), tỉ (chị), muội (em gái) và tiếng Malaysia chỉ có một từ sudarà… Sự khác nhau giữa các ngôn ngữ về ý nghĩa biểu vật không

chỉ ở mặt số lượng mà còn cả mặt chất lượng Như ý nghĩa biểu vật của từ

anh trong tiếng Việt và từ frère của tiếng Pháp Anh vừa hẹp hơn lại vừa rộng

hơn frère Hẹp hơn vì anh chỉ bao gồm “người đàn ông cùng bố mẹ, sinh

trước” mà không bao gồm “người đàn ông cùng bố mẹ, sinh sau” Rộng hơn

vì anh bao gồm cả “những người trong họ, cùng thế hệ, thuộc hàng trên – anh

họ”, còn frère không dùng cho những người này (tiếng Pháp có từ cousin để

chỉ những người đàn ông cùng thế hệ trong họ)

Trang 24

Thứ hai, tính cá thể, cụ thể của sự vật, hiện tượng… trong thực tế và tính khái quát của các ý nghĩa biểu vật Trong thực tế khách quan, sự vật, hiện

tượng tồn tại chỉ ở dạng cá thể như từng chiếc bàn, từng cái cây, từng hoạt động đi… độc lập, riêng rẽ với nhau Chúng ta không gặp “loại” bàn, không gặp “loại” cây, không gặp “loại” hoạt động đi… Thế nhưng, ý nghĩa biểu vật của cả từ bàn, cây, đi… là loại của những sự vật, hiện tượng đó Hơn thế nữa,

sự vật, hiện tượng… trong thực tế khách quan găn bó chặt chẽ với nhau trong

tính cụ thể của chúng Các hoạt động như đi, chạy, nhảy… bao giờ cũng gắn

với một sự vật nào đó và do sự vật đó tiến hành Các tính chất cũng thế Một

tính chất như đỏ bao giờ cũng nằm ở một sự vật nào đó: hoặc một lá cờ, một

tấm vải, hoặc chiếc đèn, cái mũ… Tách các sự vật khỏi nhau, tách hoạt động, tính chất… ra khỏi các chủ thể của chúng là sản phẩm của tư duy được ghi giữ lại thành ý nghĩa biểu vật của từ Không những sự vật, hoạt động, tính chất… được tách rời, chúng lại còn bị loại trừ hết mọi biểu hiện cụ thể thực

có nữa Cái “bàn” trong thực tế bao giờ cũng mang những biểu hiện cụ thể:chất liệu (gỗ, nhôm, sắt…), màu sắc (trắng, xanh, hồng, vàng…), kích thước (cao, rộng, dài )… Nhưng trong ngôn ngữ, ý nghĩa biểu vật của từ

“bàn” bỏ qua những biểu hiện cụ thể, sinh động đó Điều này được lý giải là

do tính khái quát mà các ý nghĩa biểu vật của từ không trùng với sự vật, hiện tượng… trong thực tế khách quan vốn có đặc trưng là cá thể và cụ thể

Thứ ba, ý nghĩa biểu vật và hệ thống cấu tạo từ Mỗi ngôn ngữ có các kiểu cấu tạo từ và hệ thống các hình vị cấu tạo không giống nhau, cho nên mỗi ngôn ngữ có những kiểu ý nghĩa cấu tạo khác nhau Chúng hoặc sẽ tạo điều kiện thuận lợi, làm xuất hiện kiểu ý nghĩa biểu vật này hoặc cản trở, không cho xuất hiện kiểu ý nghĩa biểu vật kia trong một ngôn ngữ nào đó Ví

dụ, các ý nghĩa biểu vật của các từ láy, từ ghép hợp nghĩa, từ ghép phân nghĩa… không có trong tiếng Nga vì tiếng Nga không sử dụng các kiểu cấu

Trang 25

tạo đó Nhưng với sự sử dụng rộng rãi các phương thức phụ gia và với hệ thống các phụ tố cấu tạo từ, tiếng Nga lại có thể tạo ra hàng loạt ý nghĩa biểu vật mà tiếng Việt không có từ tương ứng [8, tr 94]

Như vậy, khi tìm hiểu ý nghĩa biểu vật của từ, chúng ta phải lưu ý ba điều trên Vì không phải cứ nắm được sự vật, hiện tượng là nắm được ý nghĩa biểu vật ý nghĩa biểu vật tuy bắt nguồn từ sự vật, hiện tượng khách quan, song do sự tác động qua lại của các từ khác, do chịu sự khái quát hóa và chịu tác động của những quy tắc cấu tạo từ, cho nên trở thành sự kiện ngôn ngữ, chứ không còn là những sự kiện ngoài ngôn ngữ nữa

- Ý nghĩa biểu niệm: Sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan được phản ánh vào tư duy thành các khái niệm, được phản ánh vào các ngôn ngữ thành các ý nghĩa biểu vật và từ các ý nghĩa biểu vật có các ý nghĩa biểu niệm tương ứng Các ý nghĩa biểu niệm một mặt thông qua các ý nghĩa biểu vật mà liên hệ với thực tế khách quan, mặt khác lại có liên hệ với khái niệm, qua khái niệm mà liên hệ với sự vật, hiện tượng ngoài ngôn ngữ

Hiểu một cách khái quát, ý nghĩa biểu niệm là tập hợp của một số dấu hiệu (mỗi dấu hiệu ứng với một thuộc tính chung của sự vật, hiện tượng) Thuật ngữ ngữ nghĩa học hiện nay gọi mỗi dấu hiệu (loogic) được đưa vào ý nghĩa biểu niệm là một nét nghĩa Như vậy, ý nghĩa biểu niệm là tập hợp của

một số nét nghĩa Ví dụ: từ phấn khởi là tập hợp của một số nét nghĩa – các

nét nghĩa được đặt trong dấu ngoặt đơn: (trạng thái tâm lý), (của người), (động), (tích cực), (hướng tới ngoại cảnh), (do được kích thích mạnh mẽ một cách lành mạnh), (muốn đem hết sức mình hoàn thành những việc có lợi cho

xã hội)… Khi tìm hiểu các nét nghĩa của từ để tập hợp thành ý nghĩa biểu niệm, chúng ta phải lưu ý những điều sau đây: tập hợp một số nét nghĩa thành

ý nghĩa biểu niệm, chúng ta phải lưu ý những điều sau đây: tập hợp một số nét nghĩa thành ý nghĩa biểu niệm là tập hợp có quy tắc, giữa các nét nghĩa có

Trang 26

những quan hệ nhất định, có những nét nghĩa chung cho nhiều từ và những nét nghĩa riêng cho từng từ, các nét nghĩa khác nhau ở tính chất khái quát và

cụ thể

Đỗ Hữu Châu [8] đã định nghĩa một cách đầy đủ về ý nghĩa biểu niệm của từ như sau: ý nghĩa biểu niệm của từ là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng, khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định Tập hợp này ứng với một hoặc một số ý nghĩa biểu vật của từ Chính vì ý nghĩa biểu niệm là tập hợp có tổ chức, có quan hệ, của từ là những nhân tố đánh giá như to – nhỏ, mạnh – yếu… nhân tố cảm xúc như dễ chịu, khó chịu,

sợ hãi… nhân tố thái độ như trọng, khinh, yêu, ghét… mà từ gợi ra cho người nói và người nghe [6, tr.109] Sự vật, hiện tượng được biểu thị trong ngôn ngữ đều là những sự vật, hiện tượng đã được nhận thức, được thể nghiệm bởi con người Do đó, cùng với tên gọi, con người thường gửi kèm những cách đánh giá của mình mà chính mình nhiều khi không tự biết Ví dụ: có những từ phát

âm lên gợi ra cho chúng ta những xúc cảm sợ hãi (chiếm giết, ma quái, tàn sát…), gợi cảm giác khoan khoái (thanh thoát, dễ chịu, dịu dàng…), bộc lộ sự khinh bỉ (đê tiện, hèn hạ, đểu cáng, thô bỉ…), bộc lộ sự tôn trọng (cao quý, anh hùng…)…

Như vậy, chúng ta đã lần lượt trình bày từng thành phần ý nghĩa trong

từ Tuy nhiên, vì từ là một thể thống nhất cho nên mỗi thành phần ý nghĩa chẳng qua là những phương diện khác nhau của cái thể thống nhất đó Sự hiểu biết đầy đủ về ý nghĩa của từ phải là sự hiểu biết tổng quát về những mối liên

hệ quy định lẫn nhau giữa chúng

Trang 27

âm Từ đồng âm (homonyms) là những từ giống nhau về âm thanh nhưng có những ý nghĩa hoàn toàn khác nhau, chúng trùng nhau cả về âm thanh lẫn chữ viết trong tất cả hình thái ngữ pháp vốn có của chúng [14, tr 339] Tiếng Việt

là ngôn ngữ không biến hình cho nên tất cả đều là từ đồng âm hoàn toàn Ví dụ: ca1 (đồ đựng, dùng để uống nước) và ca2 (trường hợp)…

- Đồng nghĩa: Hiện tượng đồng nghĩa (synonymy) trước hết là quan hệ

về ngữ nghĩa giữa các từ trong toàn bộ từ vựng Đó là quan hệ giữa các từ ít nhất có chung một nét nghĩa Cũng có thể nói, quan hệ đồng nghĩa bắt đầu xuất hiện khi bắt đầu xuất hiện một nét nghĩa thống nhất giữa các từ Căn cứ vào mức độ đồng nhất về ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm và ý nghĩa biểu thái (những ý nghĩa thuộc hệ thống ngữ nghĩa của từ từ vựng) có thể phân chia các từ đồng nghĩa thành:

Từ đồng nghĩa tuyệt đối Đó là những từ đồng nghĩa đồng nhất về ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm, ý nghĩa biểu thái, chỉ khác nhau ở phạm vi

sử dụng (địa phương hay toàn quốc trong các tiếng xã hội hay trong ngôn ngữ toàn dân…), về kết cấu cú pháp… Ví dụ: xe lửa – xe hỏa – tàu hỏa – tàu lửa, heo - lợn, ngô – bắp, máy bay – phi cơ…

Từ đồng nghĩa sắc thái Đây là hiện tượng đồng nghĩa giữa các từ khác nhau nhiều hay ít ngay trong các thành phần ý của chúng Ví dụ: biểu thị “cái chết” có những từ đồng nghĩa sắc thái biểu thái tích cực (thân mật, tôn trọng,

quý mến): hy sinh, từ trần, tạ thế, về với tổ tiên, nhắm mắt…, có những từ đồng nghĩa sắc thái tiêu cực (khinh thường, căm ghét): toi mạng, ngoẻo, bỏ

xác, mất mạng, ăn đất, ngủ với giun…

Đồng nghĩa biểu niệm Đây là những từ đồng nghĩa khác nhau ở một hoặc một vài nét nghĩa nào đó Ví dụ: gian xảo – gian hiểm – gian ngoan (Gian xảo: gian và khôn khéo, có nhiều mánh khóe che giấu, lừa bịp sự gian của mình Gian hiểm: gian và ác, có những mưu mẹo tinh vi, kín đáo chẳng những

Trang 28

để kiếm lợi cho mình mà còn để hại người Gian ngoan: gian và bướng bỉnh, ngoan cố, khăng khăng không chịu nhận tội dù tội lỗi của mình ai cũng biết)

- Trái nghĩa: Trái nghĩa (antonymy) là một loại quan hệ nghĩa học giữa các từ độc lập Quan hệ trái nghĩa là một loại quan hệ dường như đơn giản, có tính đối xứng, nhưng trên thực tế lại khá phức tạp Một từ X có thể là trái nghĩa của –X, nhưng không phải bao giờ cũng vậy Chẳng hạn, vui và buồn là những từ trái nghĩa, nhưng khi ta nói một ai đó không vui, điều này không có nghĩa là người đó chắc chắn là buồn Cần phân biệt hai kiểu đối lập trong quan hệ trái nghĩa: sự đối lập về mức độ của các thuộc tính, phẩm chất của sự vật, hiện tượng (già – trẻ, cao – thấp, lớn – bé…) và sự đối lập loại trừ nhau (giàu – nghèo, mua – bán, vào – ra, nam – nữ…) Từ trái nghĩa (antonym) là một trong những biện pháp tổ chức từ vựng theo sự đối lập Có thể định nghĩa

từ trái nghĩa là những từ khác nhau về ngữ âm, đối lập về ý nghĩa, biểu hiện các khái niệm tương phản về loogic, nhưng tương liên lẫn nhau [14, tr 343] Các từ đối lập nhưng biểu hiện các khái niệm không tương liên thì không phải

là các từ trái nghĩa Ví dụ: Con đường này dài nhưng hẹp Trong câu này chỉ

có sự đối lập của những khái niệm khác nhau chứ không có các từ trái nghĩa, bởi khái niệm dài và hẹp không tương liên với nhau

- Bao nghĩa: Quan hệ bao nghĩa (hyponymy) là một loại quan hệ nghĩa học giữa các nghĩa từ Quan hệ này có tính quá độ và phi đối xứng, thường có một đơn vị thượng nghĩa (superordinate) duy nhất và đơn vị hạ nghĩa (hyponym) được xem như là loại đơn vị cấp dưới của đơn vị thượng nghĩa Hai từ hạ nghĩa có cùng từ thượng nghĩa được gọi là đồng hạ nghĩa (co-hyponyms) [14, tr.347] Ví dụ: Gia súc là thượng nghĩa của lợn, trâu, bò, gà, vịt…; đến lượt mình, lợn lại là thượng nghĩa của lợn sề, lợn nái, lợn thịt… Giữa các từ có quan hệ tôn ti Gia súc là thượng nghĩa của lợn; lợn lại là

Trang 29

thượng nghĩa của lợn sề, lợn nái, lợn thịt… thì gia súc cũng là thượng nghĩa của lợn sề, lợn nái, lợn thịt…

- Tổng – phân nghĩa: Quan hệ tổng – phân nghĩa (meronymy) là quan

hệ bộ phận – toàn thể Ví dụ: các từ đầu, mình, tay, chân có quan hệ tổng – phân nghĩa với từ người Quan hệ tổng – phân nghĩa cũng có tính chất tôn tin Người chia ra các bộ phận là đầu, mình, tay, chân; đến lượt mình, đầu lại được chia ra thành các bộ phận là mắt mũi, miệng…

1.1.2 Ngữ

a Khái niệm

Khi nói, viết, chúng ta thường sử dụng đơn vị thông báo ở cấp độ câu

Để tạo nên câu cần có từ Các từ thường sắp xếp theo những quan hệ nào đó

để tạo nên đơn vị lớn hơn từ, đó là ngữ

Ngữ được gọi bằng một số tên gọi khác nhau, xuất phát từ những quan niệm và mục đích nghiên cứu không giống nhau: đoản ngữ (Nguyễn Tài Cẩn), cụm từ (Lê Xuân Thại), ngữ đoạn (Lưu Vân Lăng), từ tố (Nguyễn Kim Thản)

Ngữ (hay cụm từ) là những cấu trúc gồm hai từ trở lên, chúng kết hợp tự do

với nhau theo những kiểu quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp nhất định [29, tr.75]

Như vậy, ngữ là đơn vị ngữ pháp ở bậc trung gian giữa từ và câu Loại ngữ do danh từ làm chính tố gọi là ngữ danh từ, loại ngữ do động từ, tính từ làm chính tố gọi là ngữ động từ, ngữ tính từ

Xét về mặt nghĩa, ngữ là một cấu tạo có tác dụng làm cho nghĩa của chính tố được thực tại hóa, tức là có liên hệ với thực tại Trong ngữ danh từ, nghĩa thực tại hóa là nghĩa về tính xác định Trong ngữ động từ, ngữ tính từ, nghĩa thực tại hóa là nghĩa về tính hoạt động và tình thái

Xét về mặt ngữ pháp, ngữ là một cấu tạo theo quan hệ cú pháp chính phụ Phương tiện để biểu thị quan hệ chính phụ là trật tự, kết từ và ngữ điệu

Trang 30

Theo Đỗ Thị Kim Liên, ngữ cũng là một dạng cụm từ và tác giả cho rằng có các loại cụm từ sau:

- Cụm từ đẳng lập: có hai thành phần không phụ thuộc vào nhau, cùng

giữ một chức vụ ngữ pháp…Ví dụ: Cha và mẹ/đều đi vắng: Cụm từ “cha và

mẹ” cùng làm chức năng chủ ngữ

- Cụm từ chủ vị: có hai thành phần c-v tác động qua lại lẫn nhau và cùng mang ý nghĩa tường thuật Ví dụ: Anh đến/làm tôi vui Câu này có 2 cụm từ: anh - đến, tôi – vui

- Cụm chính phụ: gồm một thực từ làm hạt nhân và những thành tố phụ bao quanh hạt nhân [29, tr.77-98]

Theo chúng tôi, thực ra thì cụm danh từ, cụm động từ và cụm tính từ đều là cụm chính phụ Cụm danh từ thì danh từ là từ hạt nhân, cụm động từ thì động từ làm hạt nhân và cụm tính từ thì tính từ làm hạt nhân

Tuy nhiên, theo chúng tôi, cụm từ và ngữ có cấu tạo khác nhau, cụm từ thường chỉ có một tổ hợp từ 3 từ đến 6 từ còn ngữ có thể có cấu trúc nhiều yếu tố phụ trước và sau

Nguyễn Thiện Giáp [15] đã đưa ra khái niệm về ngữ trong 777 khái niệm ngôn ngữ học như sau: “Ngữ là cụm từ sẵn có trong ngôn ngữ, có giá trị tương đương với từ, có nhiều đặc điểm giống với từ: Chúng có thể tái hiện trong lời nói như các từ Về mặt ngữ pháp, chúng cũng có thể làm thành phần, cũng có thể là cơ sở để cấu tạo từ mới Về mặt ngữ nghĩa, chúng cũng biểu

Trang 31

hiện những hiện tượng của thực tế khách, gắn liền với những kiểu hoạt động khác nhau của con người” [15, tr 316, 317] Như vậy, hiểu một cách khái quát: ngữ cố định (đơn vị từ vựng) là những tập hợp từ có tính sẵn có, cố

định, bắt buộc và nhỏ nhất để tạo câu Ví dụ như: mặt trái xoan, mắt bồ câu,

lông mày lá liễu, một nắng hai sương…

- Về mặt hình thức:

Các từ tạo nên ngữ cố định, trật tự và quan hệ giữa các từ là cố định

Do sự cố định hóa, do tính chất chặt chẽ mà các ngữ cố định ít hay nhiều đều

có tính thành ngữ Tính thành ngữ được định nghĩa như sau: cho một tổ hợp

có ý nghĩa S do các đơn vị A, B, C… mang ý nghĩa lần lượt s1, s2, s3… tạo nên; nếu như ý nghĩa S không thể giải thích bằng các ý nghĩa s1, s2, s3 thì tổ

hợp A, B, C có tính thành ngữ Ví dụ: Mẹ tròn con vuông có tính thành ngữ vì

ý nghĩa sinh đẻ dễ và bình yên, cả mẹ lẫn con đều khỏe mạnh của nó không

thể giải thích được bằng các ý nghĩa của mẹ, tròn, con, vuông

Nói ngữ cố định là các cụm từ cố định hóa… là nói chung Sự thực thì

trong các ngữ cố định, có nhiều ngữ có hình thức cấu tạo câu như: Chuột sa

chĩnh gạo, Cha truyền con nối, Cho ngáp phải ruồi, Đũa mốc chòi mâm son… thậm chí có hình thức cấu tạo là câu ghép: đâm bị thóc, chọc bị gạo, Gió chiều nào, che chiều ấy… do vậy, cái quyết định để xác định các ngữ cố

định là tính tương đương với từ của chúng về chức năng tạo câu

Nói ngữ cố định có tính chất chặt chẽ, cố định không có nghĩa là chúng không biến đổi trong câu văn cụ thể Các ngữ cố định có thể rút gọn, như ngữ

Chết nhăn răng có thể rút gọn còn nhăn răng; có thể mở rộng thêm, như ngữ Học như cuốc kêu được mở rộng thành Học như cuốc kêu ra rả mùa hạ; hay từ

của ngữ cố định cũng có thể được thay bằng những từ cùng trường nghĩa hoặc

đồng nghĩa, như Đi guốc trong bụng thành Lê dép loẹt quẹt trong bụng…

- Giá trị ngữ nghĩa:

Trang 32

+ Tính biểu trưng: ngữ cố định lấy những vật thực, việc thực để biểu trưng cho những đặc điểm, tính chất, hoạt động, tình thế… phổ biến, khái quát Đặc biệt là các ngữ cố định biểu thị các tình thế có tính chất biểu trưng

rất cao Ví dụ như: tình thế được diễn tả bằng ngữ Chuột chạy cùng sào Đó là

tình thế của những kẻ hèn kém bị dồn vào bước đường cùng, không lối thoát

Rõ ràng là, bằng phương tiện cụm từ tự do như lời giải nghĩa trên, chúng ta chẳng những không thể nói lên được đủ những cái đáng nói của tình thế mà còn phạm phải nhược điểm là dài dòng, rườm rà, nhạt nhẽo, không gây được

ấn tượng sâu sắc Như vậy, biểu trưng là cơ chế chủ yếu mà ngữ cố định, mà

từ vựng phải sử dụng để ghi nhận, diễn đạt những nội dung phức tạp hơn một

khái niệm đơn [6, tr.70]

+ Tính dân tộc: tính dân tộc ở các ngữ cố định hiện ra thứ nhất ở chính nội dung của chúng Các ngữ cố định phản ánh các biểu hiện, các sắc thái khác nhau của sự vật, hiện tượng đã có tên gọi hoặc chưa có tên gọi theo kinh nghiệm đời sống và cách nhìn nhận của mỗi dân tộc Thứ hai, ở các tài liệu (các vật thực, việc thực…) mà ngữ cố định đã dùng làm biểu trưng cho nội

dung của chúng Ví dụ như các ngữ cố định: Ăn như mèo, Làm như mèo mửa,

Chuột chạy cùng sào, Điều ong tiếng ve, Vắng như chùa Bà Đanh, Hiền như bụt, Lừ đừ như ông từ vào đền, Giẫy nẩy như đĩa phải vôi… Các ngữ cố định

trên đã sử dụng những tài liệu (con mèo, con chuột, con ong, ngôi chùa, ông bụt, cảnh ông từ vào đền, tình trạng con đĩa phải vôi…) mang đậm màu sắc quê hương Việt Nam trong xã hội nông nghiệp xưa Điều này đã khiến cho các ngữ cố định Việt Nam không thể lẫn được với bất cứ ngữ cố định nào của

Trang 33

ngữ cố định mang tính chất của các sáng tác văn học, đó là những phác thảo văn học đã cố định hóa thành phương tiện giao tiếp Do có tính hình tượng nên ngữ cố định là cụ thể Tính cụ thể ở đây thể hiện ở tính bị quy định về phạm vi sử dụng Các ngữ cố định không phải có thể dùng cho bất cứ sự vật, hiện tượng nào, mỗi ngữ cố định thường chỉ nêu bật một khía cạnh nào đó của tính chất, đặc điểm… được nói tới mà thôi (tính cụ thể thể hiện ở tính bị quy

định về sắc thái ngữ nghĩa như: cũng là tính chất lúng túng nhưng Lúng túng

như gà mắc tóc nói đến tình trạng lúng túng do sa vào nhiều sự việc dồn dập

mà không tìm được cách giải quyết; Lúng túng như thợ vụng mất kim là nói

đến sự lúng túng không phải vì gặp phải nhiều sự việc rắc rối mà là do chưa

có kinh nghiệm, lại mất phương hướng; Lúng túng như ếch vào xiếc là nói

đến sự lúng túng do bị giam hãm trong những tình thế khó khăn không thi thố

được tài năng; Lúng túng như chó ăn vụng bột là nói đến sự lúng túng của

những người phạm sai lầm mà muốn che đậy lỗi lầm của mình song tang chứng vẫn sờ sờ ra đấy…)

+ Tính biểu thái: nói các ngữ cố định không thể dùng cho bất cứ hạng người nào cũng được thì cũng nói đến tính biểu thái của chúng Các ngữ cố định thường kèm theo thái độ, cảm xúc, sự đánh giá, có thể nói lên hoặc lòng kính trọng hoặc lòng khinh bỉ, hoặc sự ái ngại, hoặc sự xót thương, hoặc sự không tác thành… của chúng ta đối với người, vật hay việc được nói tới Không chú ý tới các sắc thái biểu cảm khác nhau thì việc dùng các ngữ cố định có khi sẽ là hỏng nội dung trí tuệ của chúng [8]

1.2 TỪ NGỮ CHỈ TÂM LÍ – TÌNH CẢM TRONG TIẾNG VIỆT

1.2.1 Khái niệm

Từ ngữ chỉ tâm lí – tình cảm là một trong những nhóm từ ngữ của từ vựng được phân chia theo trường ý nghĩa biểu thị Cụ thể, chúng biểu thị một trong những phạm trù cơ bản nhất của đời sống con người, đó là đời sống nội

Trang 34

tâm, những hiện tượng tâm lí – tình cảm đa dạng, phong phú và phức tạp của

con người

Trường nghĩa là một mảng, một phần hiện thực khách quan được chia tách theo kinh nghiệm của con người và có sự tương xứng về mặt lý thuyết trong ngôn ngữ dưới dạng một nhóm từ, một tiểu hệ thống từ vựng nào đó Ví dụ: trường nghĩa thời gian, không gian, màu sắc, hoạt động… Như vậy, trường nghĩa tạo thành một dãy chủ đề và bao trùm một phạm vi ý nghĩa nhất định Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là trường nghĩa Đó là một tập

hợp từ ngữ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa [39, tr 322]

Trong Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học cũng như trong các

công trình nghiên cứu ngữ nghĩa có liên quan không định nghĩa khái niệm từ ngữ chỉ tâm lí – tình cảm nói riêng hay các nhóm từ vựng phân chia theo ý nghĩa biểu thị nói chung Có lẽ, cách phân chia này còn khá mới mẻ, chỉ mới được đề xuất ở một số công trình nghiên cứu riêng lẻ chứ chưa phổ biến rộng rãi Và trong khi nghiên cứu, người ta cũng không quan tâm tới vấn đề định

nghĩa nhóm từ ngữ này

Dựa theo khái niệm trường nghĩa nêu trên, chúng tôi đã đưa định nghĩa

về nhóm từ ngữ này như sau: từ ngữ chỉ tâm lí – tình cảm là tập hợp những từ ngữ trong từ vựng có nét nghĩa chung trong cấu trúc ngữ nghĩa chỉ những trạng thái thuộc về tâm lí – tình cảm của con người Đó là một tiểu hệ thống,

có chủ đề ý nghĩa chung là biểu thị tâm lí – tình cảm con người và có những

đặc trưng ngữ nghĩa – ngữ pháp nhất định

Nguyễn Ngọc Trâm [38] đã thống kê trong Từ điển tiếng Việt của

Hoàng Phê, 1988, có 300 từ cơ bản chỉ tâm lý – tình cảm Đó là các từ như: yêu, ghét, lo, giận hờn, sợ, oán, tin, ngờ, hy vọng, căm thù, tin tưởng, đau khổ, phân vân… Nguyễn Ngọc Trâm gọi đó là những từ chỉ tâm lí – tình cảm

nguyên dạng, “thuần khiết” [38, tr.11]

Trang 35

Ngoài ra, còn có một số lượng rất lớn các đơn vị tương đương, đó là các từ phái sinh, các ngữ cố định và lâm thời biểu thị ý nghĩa tâm lí – tình cảm, trong đó có những từ ngữ đặc trưng cho lối tư duy và giao tiếp của người Việt như: xót ruột, xót gan, nóng mặt, ngứa mắt, ngứa tai, nơm nớp sợ, sợ toát

mồ hôi… Đây là những đơn vị có tần số sử dụng rất cao trong thực tế sử dụng tiếng Việt, thể hiện lối tri nhận đặc trưng của người Việt Nếu tính cả những đơn vị này thì có đến 3600 – 3800 đơn vị chỉ tâm lí – tình cảm (chiếm khoảng

10% số lượng từ vựng trong Từ điển tiếng Việt) [38, tr.11]

1.2.2 Các đặc điểm của từ ngữ chỉ tâm lí–tình cảm trong tiếng Việt

a Đặc điểm hình thức

Đặc điểm ngữ pháp của từ biểu thị tâm lí – tình cảm được khảo sát về

ba mặt: đặc điểm từ loại, khả năng kết hợp cú pháp và chức năng hoạt động trong câu Trước hết là vấn đề từ loại Vấn đề từ loại trong tiếng Việt đã từng gây ra nhiều tranh cãi và cho đến hiện nay mỗi nhà nghiên cứu có một cách phân chia từ loại khác nhau, dẫn đến số lượng các từ loại trong tiếng Việt theo mỗi người là không giống nhau Cùng một từ, có ý kiến xếp vào từ loại này nhưng có ý kiến lại thuộc từ loại khác Thậm chí có nhà Việt ngữ học còn phủ nhận hoàn toàn phạm trù từ loại trong tiếng Việt, như Nguyễn Hiến Lê cho rằng: đa số từ tiếng Việt không có từ loại nhất định [Dẫn theo 38, tr 67]

Sự phức tạp của vấn đề từ loại tiếng Việt tập trung biểu hiện rõ nét trong nhóm từ ngữ chỉ tâm lí – tình cảm Là một trong những nhóm từ có tần

số sử dụng cao, phổ biến và quen thuộc trong tiếng Việt nhưng để phân chia chúng theo từ loại không phải là dễ dàng Bởi cũng giống như các nhóm từ khác trong tiếng Việt, hiện tượng đa loại chiếm một tỉ lệ lớn trong nhóm từ chỉ tâm lí – tình cảm Thực tế trong nhóm từ này đã có sự nhập nhằng giữa những đơn vị được coi là động từ với những đơn vị được coi là tính từ Những

Trang 36

đơn vị này vừa mang đặc trưng ý nghĩa của từ loại động từ vừa mang đặc trưng ý nghĩa của từ loại tính từ Khảo sát 300 đơn vị từ vựng cơ bản chỉ tâm

lí – tình cảm trong Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, 1988, Nguyễn Ngọc Trâm đã tìm thấy 115 đơn vị đa loại, chiếm 38,3% [38, tr 80] Cho nên ở nhóm từ này, thường xuyên xảy ra tranh luận giữa các nhà Việt ngữ học Mỗi nhà nghiên cứu có cách giải quyết khác nhau về vấn đề từ loại cho nhóm từ chỉ tâm lí – tình cảm:

Nhóm các nhà ngôn ngữ học Nguyễn Tài Cẩn [6], Nguyễn Kim Thản [37], Nguyễn Ngọc Trâm [38] quan niệm đa số từ chỉ tâm lí – tình cảm trong tiếng Việt là động từ, vì nó chỉ hoạt động, trạng thái tâm lí – tình cảm của con người, nó ghi lại những trạng thái động của tâm hồn Mặt khác, họ còn dựa vào tiêu chí kết hợp với các yếu tố ngôn ngữ khác để xác định tính động từ của nhóm từ chỉ tâm lí – tình cảm

Ngược lại, Đinh Văn Đức cho rằng đa số từ chỉ tâm lí – tình cảm trong tiếng Việt là tính từ vì chúng bao gồm những đặc trưng được hình thành theo nhận thức chủ quan của con người trong quan hệ với đối tượng, là những quan hệ của trạng thái tâm lí – tình cảm Nhưng Đinh Văn Đức cũng thừa nhận có thể coi chúng là những động từ chỉ cảm xúc [Dẫn theo 38, tr.20] Riêng Hoàng Tuệ lại xem nhóm từ chỉ trạng thái tâm lí – tình cảm là trạng từ, tức là một từ loại trung gian giữa động từ và tính từ [Dẫn theo 38, tr.19]

Chúng tôi đã dựa theo quan niệm của Cao Xuân Hạo [16], thống nhất cho rằng nhóm từ chỉ tâm lí – tình cảm trong tiếng Việt đều là vị từ (bên cạnh

một số ít là danh từ - thực ra là các vị từ được danh hóa, ví dụ: (nỗi) buồn,

(nỗi) nhớ…) vì chúng chủ yếu đảm nhiệm chức năng thông báo, nêu lên nội

dung của sự tình ở trong câu (tức là làm vị ngữ của câu) Tuy nhiên trong quá trình thống kê, phân loại, khi xử lý những trường hợp cụ thể, chúng tôi sẽ căn

cứ vào khả năng kết hợp của nó với các từ xung quanh và chức năng cú pháp

mà nó đảm nhiệm trong những ngữ cảnh cụ thể để xác lập từ loại

Trang 37

Kế tiếp, chúng ta đi tìm hiểu khả năng kết hợp cú pháp của nhóm từ chỉ tâm lí – tình cảm trong tiếng Việt Từ biểu thị tâm lí – tình cảm trong tiếng Việt được phần lớn các sách ngữ pháp nhắc đến bởi đặc điểm riêng, đó là khả năng kết hợp đồng thời với các từ chuyên dụng (chuyên kết hợp với một từ loại nào đó) của động từ (đã, đang, sẽ, hãy…) và các từ chuyên dụng của tính

từ (rất, hơi, lắm…) Vị từ chỉ tâm lí – tình cảm tiếng Việt bao gồm cả những

từ nội động, không cần yếu tố chỉ đối tượng trực tiếp, chúng là những vị từ tự

thân như: buồn, đau khổ, ngạc nhiên… (Tôi buồn/Nó ngạc nhiên…) Và cả

những vị từ ngoại động, tức cần có yếu tố chỉ đối tượng đi kèm phía sau như:

yêu, thương, ghét, giận… (Tôi yêu tổ quốc/Chị giận con…) Do đó, vị từ tâm

lí – tình cảm có thể là vị từ đơn trị hoặc song trị

Cuối cùng, chúng ta đi làm rõ chức năng hoạt động trong câu của nhóm

từ chỉ tâm lí – tình cảm trong tiếng Việt Phần lớn từ chỉ tâm lí – tình cảm là

vị từ nên nó đảm nhiệm chức năng vị ngữ, nêu lên nội dung thông báo của câu Vì biểu thị ý nghĩa tâm lí – tình cảm là một hoạt động và trạng thái tâm

lý đặc thù của con người nên chủ ngữ của vị từ này thường là từ chỉ người: đại từ và các từ tương đương Tuy nhiên, cũng có khi chủ ngữ của các vị từ tâm lí – tình cảm không phải là con người, mà có thể là sự vật, hiện tượng vô tri trong thế giới khách quan Nhưng nếu là chủ thể của nhóm vị từ này thì nhất định chúng ta đã được gán cho những thuộc tính của người

Từ tiếng Việt được phân chia về mặt cấu tạo thành từ đơn và từ phức (từ ghép, từ láy) Từ đơn chỉ tâm lí – tình cảm trong tiếng Việt chủ yếu là các

từ cơ bản như: yêu, ghét, nhớ, mong, muốn, tin, giận, thương, vui, buồn, sợ…

So với từ đơn, từ phức chỉ tâm lí – tình cảm trong tiếng Việt đa dạng hơn, bao

gồm các từ ghép như: đau thương, nhớ thương, hạnh phúc, yêu mến, yêu

thương… và các từ láy như: lạnh lùng, bồi hồi, đớn đau, yêu yêu…

Trang 38

Ngoài ra, cũng có một số ít ngữ cố định, mang tính thành ngữ cao được

sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hằng ngày của người Việt, mang đậm văn hóa

tri nhận và giao tiếp của người Việt Nam như: xót ruột, xót gan, bầm gan tím

ruột, rụng rời tay chân, quằn quại đứt ruột, to gan lớn mật, héo mòn tâm can,

ngồi trên đống lửa, lạnh buốt sống lưng… [38, tr 11]

Ở đặc điểm ngữ nghĩa, chúng tôi không đề cập đến các vai nghĩa của nhóm từ tình cảm trong tiếng Việt mà chỉ đề cập tới cấu trúc ngữ nghĩa, các quan hệ ngữ nghĩa của chúng Nguyễn Ngọc Trâm [38] cho rằng phần lớn từ chỉ tâm lí – tình cảm mang đặc trưng từ loại động từ, một số ít mang đặc trưng của tính từ hay có đặc trưng vừa của động từ vừa của tính từ cho nên theo tác giả, các từ trong nhóm chỉ tâm lí – tính cảm có cấu trúc ngữ nghĩa chung bao gồm hai thành tố nghĩa phổ quát là trạng thái tâm lí – tình cảm và

sự đánh giá tác động tâm lí – tình cảm Hai thành tố nghĩa này đặc trưng cho mọi quá trình diễn biến tâm lí – tình cảm trong con người nói chung [38, tr 41] Trong hai thành tố đó, thành tố nghĩa chỉ trạng thái tâm lí – tình cảm là đặc trưng ngữ nghĩa chung của tất cả các từ trong nhóm, có tính chất phạm trù, chủng loại Nó có chức năng khu biệt nhóm từ tình cảm với các nhóm từ khác trong hệ thống từ vựng và nó chính là tiêu chí để xác lập trường nghĩa chỉ tâm lí – tình cảm Còn thành tố nghĩa đánh giá sự tác động tâm lí – tình cảm là đặc trưng riêng, có giá trị khu biệt nghĩa các từ trong nội bộ nhóm chỉ tâm lí – tình cảm Hai thành tố nghĩa này có quan hệ mật thiết với nhau và đều thực hiện chức năng của vị từ là thông báo Về cấu tạo nội bộ, mỗi thành tố nghĩa lại bao gồm các nét nghĩa nhỏ hơn, chúng được nhận ra bởi sự đối lập giữa nghĩa của các từ cụ thể với nhau

Quan hệ ngữ nghĩa trong nội bộ nhóm từ chỉ tâm lí – tình cảm rất đa dạng, phức tạp Giữa các từ này có thể có các quan hệ ngữ nghĩa như sau:

Trang 39

Quan hệ đồng nghĩa, gần nghĩa, ví dụ: ngại – e, lo – lo lắng, vui – vui

vẻ, yêu – yêu thương, thương – thương hại…

Quan hệ trái nghĩa, ví dụ: vui – buồn, yêu – ghét, tin – ngờ, hy vọng –

thất vọng, kính trọng- khinh thường, tự hào – xấu hổ…

Vì quan hệ ngữ nghĩa của các từ trong trường nghĩa tâm lí – tình cảm là

đa dạng và phức tạp nên phân loại chúng chỉ là một sự phân loại có điều kiện, rang giới giữa các tiểu nhóm chỉ mang tính chất tương đối mà thôi Nếu phân loại theo phạm trù ngữ nghĩa, từ chỉ tâm lí – tình cảm sẽ được chia làm hai loại cơ bản là từ chỉ tâm lí - tình cảm trạng thái (cảm xúc nhất thời) và từ chỉ tâm lí – tình cảm quan hệ (tình cảm bền vững)

Phân loại theo cấu trúc ngữ nghĩa, căn cứ vào các đặc điểm của thành

tố nghĩa trạng thái tâm lí – tình cảm, là dương tính, âm tính hay trung hòa mà

từ chỉ tâm lí – tình cảm chia làm ba nhóm lớn: từ chỉ tâm lí – tình cảm tích cực (vui, yêu, thích, quý, trọng, kính, mến…); từ chỉ tâm lí – tình cảm tiêu cực (ghét, thù, lo, căm, thất vọng, tuyệt vọng, ngại…); từ chỉ tâm lí - tình cảm trung hòa – pha trộn nhiều tình cảm (xao xuyến, bâng khuâng, bồi hồi, xúc động…) Như vậy [± tích cực] cũng là một trong những tiêu chí xác lập các tiểu nhóm trong trường từ vựng chỉ tâm lý – tình cảm

Tuy nhiên trên thực tế, nhất là khi các từ chỉ tâm lí – tình cảm tham gia tạo lập diễn ngôn, nghĩa của chúng phụ thuộc sâu sắc vào ngữ cảnh, việc xác lập các tiểu nhóm của trường này theo tiêu chí [± tích cực] cần căn cứ vào ngữ cảnh Chẳng hạn, trong ca dao, có không ít từ ngữ vốn là từ ngữ chỉ tâm

lí – tình cảm tích cực nhưng lại được sử dụng với nghĩa phủ định thì khi khảo sát, chúng tôi cũng sẽ xếp các từ ngữ này vào lớp các từ ngữ chỉ tâm lí – tình cảm tiêu cực, xem chúng như là các từ ngữ chỉ tâm lí – tình cảm tiêu cực và ngược lại

Trang 40

Với mục đích thể hiện những mối quan hệ nhiều mặt của nhóm từ ngữ chỉ tâm lí – tình cảm trong tiếng Việt, như đồng nghĩa, trái nghĩa, gần nghĩa… Nguyễn Ngọc Trâm đã phân loại từ chỉ tâm lí – tình cảm trong tiếng Việt

thành 19 nhóm bao gồm: vui – buồn, tự hào – xấu hổ, thỏa mãn, chán, giận,

tiếc, thương, thích, hy vọng – tuyệt vọng, sợ, tin – ngờ, trọng – khinh, yêu – ghét, ngạc nhiên, dửng dưng, muốn, đau, nhớ - quên, xúc động [38, tr.71]

Tuy nhiên tác giả cũng khẳng định sự phân loại này chỉ có tính chất tương đối Điều này đồng nghĩa với việc thừa nhận sự phức tạp trong các mối quan hệ ngữ nghĩa của nhóm từ này cũng như thừa nhận việc phân lập các miền nghĩa ở trường từ vựng chỉ tâm lí – tình cảm không phải là một việc làm đơn giản, nhất là khi chúng tham gia hoạt động giao tiếp Nhưng chính sự phức tạp này lại là điều thú vị nhất của từ ngữ chỉ tâm lí – tình cảm trong tiếng Việt, những thú vị ấy cần phải được nghiên cứu, xem xét Nghiên cứu

“Từ ngữ chỉ tâm lí – tình cảm trong ca dao”, chúng tôi hy vọng sẽ đóng góp thêm những hiểu biết về nhóm từ ngữ này nhất là khi chúng tham gia hoạt động giao tiếp

1.3 CA DAO

1.3.1 Khái niệm ca dao, phân biệt ca dao với tục ngữ

a Khái niệm ca dao

Theo cách hiểu thông thường thì “Ca dao là lời của các bài hát dân ca

đã tước bỏ đi tiếng đệm, tiếng láy Sự phân biệt giữa ca dao và dân ca chỉ

là ở chỗ khi nói đến ca dao người ta thường nghĩ đến những lời thơ dân gian, còn khi nói đến dân ca người ta nghĩ đến làn điệu, những thể thức hát nhất định Khái niệm ca dao đã được quy định dùng để chỉ bộ phận cốt lõi nhất, tiêu biểu nhất: đó là những câu hát đã trở thành cổ truyền của nhân dân ”.[20, tr 437]

Ca dao không chỉ là các lời của các làn điệu dân ca mà có những sáng

Ngày đăng: 15/05/2021, 15:09

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w