1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đồng Nai - Văn học địa phương: Phần 1

69 767 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu Văn học địa phương tỉnh Đồng Nai có kết cấu gồm 3 phần, cung cấp các kiến thức về văn học địa phương tỉnh Đồng Nai, lịch sử địa phương tỉnh Đồng Nai, địa lý địa phương tỉnh Đồng Nai. Mời các bạn cùng tham khảo phần 1 của Tài liệu sau đây.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

Tục ngữ về đời sống sản xuất và sinh hoạt xã hội ở Đồng Nai 12

Bài ca dao “Rồng chầu ngoài Huế, ngựa tế Đồng Nai” 19Văn học dân gian các dân tộc thiểu số ở Đồng Nai 19

Trang 2

Đồng Nai qua ca dao 59

Thành tựu phát triển kinh tế xã hội tỉnh Đồng Nai từ 30/4/1975 đến nay 108

Trang 3

Phần 1: VĂN HỌC ĐỊA PHƯƠNG TỈNH ĐỒNG NAI

-I VĂN HỌC DÂN GIAN

1 CHUYỆN KỂ

SỰ TÍCH THÁC TRỊ AN

Ngày xưa, ở vùng Đồng Nai, có một bộ tộc(1) du mục(2) thuộc dân tộc Châu Mạ(3)

chuyên sống bằng nghề nương rẫy(4) và săn bắt thú rừng Đứng đầu bộ tộc này là tùtrưởng(5) Sora Đin, tuy râu tóc đã bạc phơ nhưng trong ông còn rất khỏe mạnh

Sora Đina là con trai lớn của tù trưởng Sora Đin, được cha truyền nghề cung ná từnhỏ nên sớm trở thành tay thiện xạ(6) Trong một ngày, Sora Đina có thể dễ dàng hạ haicon hổ Chàng còn có thể hạ được cả loài cá sấu hung dữ đã một thời gây khủng khiếp ởvùng giáp Sông Bé và sông Đồng Nai

Lúc bấy giờ ở thượng nguồn sông Đồng Nai c ó nàng Điểu Du là trưởng nữ của tùtrưởng Điểu Lôi, người Châu Ro(7) Điểu Du say mê tập tành với chí hướng (8) nốinghiệp(9) cha Chính cô đã trừ được con voi một ngà hung dữ ở vùng Đạt Bo Tiếng thơmbay xa Tài thiện xạ của Sora Đina gây được sự cảm mến trong lòng Điểu Du Và SoraĐina cũng muốn được gặp mặt người con gái nổi tiếng về tài phóng lao(10)ở miền thượnglưu con sông(11)

Năm nọ, trời hạn hán Các con suối lớn nhỏ đều khô cạn Cả người lẫn thú đổ xô rasông tìm nước uống Một hôm trời chuyển động, mây đen chao đảo trên vòm trời Mộtchiếc xuồng độc mộc(12) chở một thiếu nữ tất tả xuôi mau vào bờ Bỗng một con cá sấu từdưới nước nổi lên và đuổi theo chiếc xuồng Lập tức hai mũi lao từ tay Điểu Du phóngnhanh về phía con cá sấu Nó bị thương nên càng vẫy vùng lồng lộn, há miệng định nuốtchửng cả chiếc xuồng và người con gái Trong cơn nguy hiểm, may sao thuyền của SoraĐina vừa kịp xuất hiện Nhanh như chớp, chàng bắn liền hai phát tên Cá sấu trúng tênchạy được một đoạn thì chìm nghỉm

Sora và Điểu Du quen nhau từ đó Họ trở thành đôi bạn xuôi ngược dòng sông.Dần dần họ yêu nhau Mối tình của hai người được Sora Đin và Điểu Lôi chấp thuận.Theo phong tục hồi đó, trước ngày cưới, Sora Đina phải về ở rể bên đàng gái Sora Đincho con trai mình chiếc tù và(13) và căn dặn:

- Gặp trắc trở thì thổi tù và, sẽ có người đến giúp

Sora Đina lên con ngựa trắng tiến về miền thượng lưu Đi một đoạn đường, gặpcon suối cạn, Sora Đina phải dìu ngựa qua các gộp đá lởm chởm Đột nhiên từ trên cây cổthụ có một con cọp xám phóng xuống ôm choàng lấy Sora Đina

Đó là một gã đàn ông đội lốt hổ Nó vừa đánh nhau với Sora Đina vừa hăm dọa:

Trang 4

- Thần hổ đây, tao sẽ giết mày vì mày có tội….

Sora Đina nào phải tay vừa “Thần hổ” bị đánh ngã, bèn xông tới toan cướp ngựa.Con ngựa trắng hí lanh lảnh chồm lên dữ dội, “thần hổ”bị ngựa đá, phóng nhanh vàorừng Đi thêm một đỗi ngắn, Sora Đina đã thấy Điểu Du ra đón chàng ở bìa rừng Đàng

xa, Điểu Lôi cũng vừa tới

Nhân lúc ngồi nghỉ, Sora Đina hỏi Điểu Du:

- Vùng này có hổ không em?

Điểu du cười đáp:

- Thằng thầy mo(14) Sang Mô đó Nó bày trò hù dọa dân làng Nó oán em lắm vì emkhông ưng nó

Thấy bóng Sang Mô loáng thoáng gần đây Sora Đina lên tiếng:

- Mời anh Sang Mô đến uống rượu với chúng tôi

Sang Mô đến, hắn trừng mắt nói với Sora Đina:

- Anh là kẻ xa lạ, đến đây để làm gì?

Một lát, hắn nhìn Sora Đina cười nham hiểm:

- Nghe nói anh nổi tiếng về tài thiện xạ.Vậy ta thách anh: nếu anh bắn trúng cái láchót trên cành cây ta đang cầm trên tay thì ta sẽ nhường Điểu Du cho a nh

Hắn bẻ một nhánh quýt rừng và giơ lên Hắn vừa thách vừa lắc lắc bàn tay khiếnnhánh quýt run rẩy như gặp gió

Năm sau, Điểu Du sinh được một con trai Ngày đứ a bé ra đời, mưa tầm tã, Sang

Mô nhân đó tung tin : “Điểu Du sanh ra ma quỉ, rồi sẽ có nạn mất mùa đói kém!”

Do đồn nhảm, Sang Mô bị Điểu Lôi gọi đến quở phạt Hắn càng óan giận Nămsau nữa, trong một chuyến đi săn chung với Điểu Lôi, Sang Mô đã sát hại(16) viên tùtrưởng bằng một mũi tên bắn lén sau lưng Rồi hắn cùng với mười tên phản loạn(17) kháckéo về suối Đạt Bo để giết luôn vợ chồng Sora Đina

Canh hai đêm đó, ngôi nhà của vợ chồng Sora Đina bỗng dưng bốc cháy SoraĐina chỉ kịp hét lớn: “Có kẻ đốt nhà!” Rồi ẵm con cùng Điểu Du thóat ra khỏi vùng lửa

Cuộc xô xát diễn ra ác liệt Mải lo che chở cho con, Sora Đina bị thất thế(18) CònĐiểu Du sau một lúc chống cự cũng bị Sang Mô bắt Sora Đina xông tới cứu vợ Đứa contuột khỏi tay chàng văng xuống đất

Bỗng một cái bóng mảnh mai lao nhanh đến và ôm lấy thằng bé chạy thóat vào

Trang 5

- Đuổi theo, trừ cho tiệt nòi!

Nhưng bóng con ngựa trắng của Sora Đina chở Sang My trên lưng đã biến mất vàorừng

- Cho dù là em gái ta, cũng cứ bắn !

Tên bay vun vút Sang Mô còn đốt cháy rừng hòng ngăn cản em gái mình chạy thóat Tức giận, Sang Mô nghiến răng trói chặt vợ chồng Sora Đina quăng xuống mộtchiếc xuồng có chất sẵn một thứ nhựa cây dễ cháy, rồi thả xuồng trôi theo dòng nướcchảy xiết Sang Mô cho xuồng chèo rượt theo và cứ nhắm vào xuồng của Sora Đinabuông những phát tên lửa Đến một bậc đá, xuồng bị cản lại Sora Đina đã kịp tháo dâytrói và rút tù và ra thổi một hồi dài

Hàng trăm người ở miền hạ lưu(19) nghe tiếng tù và liền đổ xô ra bờ sông, nhảy quanhững gộp đá, tiến tới chiếc xuồng đang bốc cháy ngùn ngụt Mọi người ngậm ngùi trướccái chết đau đớn của Sora Đina và Điểu Du Vừa lúc ấy, con ngựa trắng chở Sang My vàđứa bé cũng chạy tới Trên lưng Sang My có hai mũi tên cắm sâu Nàng chỉ kịp trao đứa

bé cho ông già Sora Đin rồi ngã gục xuống ngựa Sora Đin vuốt mắt Sang My

- Ngàn đời tri ân(20) nàng đã cứu cháu ta

Còn con ngựa trắng thì ngóc đầu nhìn ra phía ngọn lửa đang b ốc cháy Không thấychủ, nó hí lên một tiếng dài buồn thảm rồi phóng mình xuống dòng thác xóay

Trong khi đó bà con đã bắt trói Sang Mô và mười tên phản lọan đem nộp cho SoraĐin Những tên nghe lời dụ dỗ mua chuộc của Sang Mô được Sora Đin xóa tội Còn Sang

Mô thì bị trói chặt vào chỗ nó gây ra tội ác Tù trưởng Sora Đin giương ná và lắp một mũitên ngắm vào Sang Mô Mọi người hồi hộp chờ đợi

Chợt Sora Đin hạ ná và hô to một tiếng “Pap”, rồi quẳng cái ná xuống dòng thác.Ông nói:

- Hận thù không nên nối tiếp bằng máu ! Vì lòng tri ân đối với Sang My, ta thachết cho Sang Mô !

Sang Mô dập đầu lạy tạ Sora Đin rồi ôm xác Sang My bước xuống xuồng, nướcmắt rơi lã chã

Từ đó, người trong vùng gọi thác này là thác Tri Ân, sau đọc trại thành Trị An

(Trích Truyện dân gian Đồng Nai, Huỳnh Tới biên soạn, NXB Đồng Nai, 1994)

Chú thích

* Truyện cổ tích thế sự : (còn gọi là truyện cổ tích sinh hoạt hay truyện cổ tích hiện

thực) có đặc điểm tiêu biểu là:

- Nội dung : phản ánh những xung đột trong quan hệ gia đình và xã hội thời kỳ xãhội có giai cấp

- Nhân vật : diễn biến số phận của nhân vật về cơ bản tương ứng với diễn biến củacuộc sống hiện thực; kết thúc số phận của nhân vật bất hạnh trong truyện cổ tích thế sựthường không đẹp đẽ, có hậu như trong truyện cổ tích thần kỳ

- Yếu tố thần kỳ : truyện cổ tích thế sự có rất ít hoặc thường là không có yếu tố

Trang 6

thần kỳ; và yếu tố thần kỳ chỉ có tác dụng nhấn mạnh ý nghĩa của một sự kiện hiện thực.

(1) Bộ tộc : tổ chức xã hội nguyên thủy ở trình độ cao hơn bộ lạc.

(2) Du mục : chăn nuôi súc vật, nơi này hết cỏ thì dời sang nơi khác; súc vật được

nuôi ở đâu thì người ta theo sống ở đó chứ không ở một nơi cố định, không định cư

(3) Châu Mạ : tên một dân tộc thiểu số sinh sống lâu đời ở vùng rừng núi các tỉnh

Nam Tây Nguyên (trong đó có Đồng Nai)

(4) Nghề nương rẫy : làm việc trên đất trồng trọt ở miền rừng núi.

(5) Tù trưởng : người đứng đầu một bộ lạc.

(6) Thiện xạ : bắn giỏi.

(7) Châu Ro : tên một dân tộc thiểu số sinh sống lâu đời ở vùng rừng núi các tỉnh

Nam Tây Nguyên (trong đó có Đồng Nai)

(8) Chí hướng : ý muốn bền bỉ, quyết đạt tới một mục tiêu cao đẹp trong cuộc

sống

(9) Nối nghiệp : tiếp tục sự nghiệp người trước để lại.

(10) Phóng lao : lao là cây tre, gỗ vót nhọn, dùng làm vũ khí, phóng vào người

quân địch để đâm thủng

(11) Thượng lưu : đoạn sông ở gần nguồn sông, thường kể cả vùng phụ cận.

(12) Xuồng độc mộc : xuồng làm bằng một thân cây đục rỗng.

(13) Tù và : dụng cụ để báo hiệu, thường dùng ở vùng rừng núi, làm bằng sừng

trâu, bò hoặc vỏ ốc, dùng hơi để thổi, tiếng vang xa

(14) Thầy mo : từ gọi thầy cúng trong một số dân tộc thiểu số vùng núi.

(15) Cồng chiêng : các loại nhạc khí gõ làm bằng đồng, dùng để phát hiệu lệnh

hoặc biểu diễn trong các lễ nghi của một số dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên

(16) Sát hại : giết hại.

(17) Phản loạn : làm phản, gây rối loạn.

(18) Thất thế : không có được hoặc bị mất đi vị trí, chỗ tực thuận lợi, làm cho

không có sức chống đỡ

(19) Hạ lưu: đoạn sông ở gẩn cửa sông, thường kể cả vùng phụ cận.

(20) Tri ân : biết ơn, ghi ơn.

CHÀNG ÚT NÀNG SEN

(Truyện cổ tích thế sự)

Chàng tên là Út, ở làng trên, đựơc cha truyền nghề thợ xoay(1) Nàng tên là Sen, ởlàng dưới, kế nghiệp mẹ làm thợ chấm men(2) Cả hai đều hiền lành, chăm chỉ làm ăn, hoatay(3) khéo léo Cả hai được xem là nghệ nhân(4) nổi tiếng trong vùng gốm ven sông ĐồngNai(5)

Trang 7

Chàng Út có thói quen in dấu ngón tay út vào sản phẩm của mình Hàng gốm dochàng Út xoay được ưa chuộng, người ta đặt hàng đưa về làng dưới chấm men rồi vào

lò(6) Nàng Sen vì tên là Sen nên thích tạo họa tiết(7) chấm men thành búp sen xanh Thấy

có dấu ngón tay út in vào mặt hàng được xoay, tạo dáng xinh xắn, Sen cũng tinh nghịch indấu ngón tay út mình vào bên cạnh Lâu dần, dấu hai ngón tay út và búp sen xanh trởthành dấu hiệu của những hàng gốm được yêu thích, có giá, người ta tìm mua và bán đikhắp nơi

Một lần tình cờ gặp nhau, nhận ra sự gắn bó cần thiết cho nhau trong nghề nghiệp,chàng Út và nàng Sen kết duyên chồng vợ Họ chung sức làm cho hàng gốm của mìnhngày càng thêm đẹp, thêm độc đáo(8) Cuộc sống của họ cũng mỗi ngày mỗi khấm khá vàhạnh phúc

Bỗng dưng binh đao(9) nổi lên Giặc dữ kéo đến tàn phá làng gốm Đương lúc

chàng Út đi chọn đất(10) ở nơi xa, giặc kéo vào làng cướp bóc, bắt phụ nữ đưa về dinhtrại(11) bên kia sông, giở trò dụ dỗ, cưỡng hiếp Nàng Sen cũng bị bắt Nàng kháng cự(12)

nên bị giết, bị ném xác xuống sông

Được tin vợ bị bắt, chàng Út quyết vượt sông, tìm cách giải cứu(13) Giặc pháthiện(14), bắn tên giết chàng giữa dòng

Dòng sông quê hương thương đôi vợ chồng tài ba(15), chung thủy(16), dìu hai cái xáclại gần nhau, cùng trôi bên nhau Lạ là máu họ tuôn ra không ngớt, hòa với ánh chiều rực

rỡ, nhuộm đỏ cả dòng sông hàng mấy dặm(17) Sóng nước lại đưa máu thấm sâu vào đấthai ven bờ Đất hóa đỏ thẫm, mịn và dẻo như quánh vào nhau không rời

Từ đó, thứ đất nhuyễn máu hai nghệ nhân tài ba và chung thủy trở thành đất làmgốm nổi tiếng cho đến bây

(Trích Truyện dân gian Đồng Nai, Huỳnh Tới biên soạn, chỉnh lý, NXB Đồng Nai,1994)

Chú thích

(1) Thợ xoay : thợ tạo dáng hình đồ gốm; người thợ đặt mớ đất trên cái bàn xoay,

chân đạp cho bàn chạy quanh, và tay từ từ nặn hình các sản phẩm

(2) Thợ chấm men : người thợ vẽ họa tiết lên các sản phẩm trước khi đưa vào lò

nung

(3) Hoa tay : ở đầu ngón tay có những đường chỉ li ti kết thành hình xinh đẹp, hình

đó gọi là hoa tay; ai có bàn tay khéo léo được cho là người có hoa tay; do

đó, nói hoa tay tức là nói bàn tay khéo léo, tài hoa.

(4) Nghệ nhân : những người thợ có tài, có tâm hồn nghệ sĩ.

(5) Vùng gốm ở ven sông Đồng Nai : gồm các xã Hóa An, Tân Vạn, Bửu Hòa (6) Vào lò: sau khi làm xong sản phẩm, người thợ cho vào lò, nung chín lên.

(7) Họa tiết: nét, hình vẽ, chạm trên đồ vật để trang trí; đây là hình vẽ trên đồ gốm

(8) Độc đáo : lối riêng; vẻ riêng; khác lạ.

(9) Binh đao : chiến tranh.

Trang 8

(10) Chọn đất : tìm đất, đây là tìm thứ đất có thể làm đồ gốm được.

(11) Dinh trại : (doanh trại) nơi đóng quân.

(12) Kháng cự : chống lại, không chịu tuân lệnh.

(13) Giải cứu : gỡ khỏi sự nguy hiểm để cứu người.

(14) Phát hiện : tìm ra, tìm thấy.

(15) Tài ba : tài giỏi.

(16) Chung thủy : giữ lòng trung thành, trước sau như một.

(17) Dặm : đơn vị chiều dài dùng chỉ quãng cách ngày xưa; một dặm bằng khoảng

nửa cây số

-TRẬN MÃNG XÀ

(Truyện cổ tích của Huỳnh Văn Nghệ)

Ngày xưa, ở Đồng Nai có một loại trăn to và rất dữ mà trong vùng thường đượcgọi là rắn mãng - xà - vương(1) Người ta bảo có những con mãng xà to bằng cái cối xaylúa(2) và dài đến hai, ba chục thước, có thể nuốt sống được tất cả các loại thú rừng, kể cảvoi nữa Mãng xà bắt các loài thú khác bằng cách dùng thân quấn chặt đối phương rồi xiếtcho đến chết Đối với những con thú nhỏ không quấn được thì nó chỉ táp rồi nuốt sống,đối phương có thể vùng vẫy kêu la trong bụng nó một hồi lâu rồi mới chết ngợp Mỗi khi

no say, mãng xà nằm ngủ luôn tại chỗ hàng tháng trời Nó nằm im lìm như một thân gỗmục, mặc trời mưa, trời nắng, cứ ngủ Lá rụng đầy trên lưng nó, rêu mọc lên thân, lên đầu

nó Nếu có con thú nào vô ý dằn mạnh lên thân, lên đầu nó thì nó giật mình vùng dậy bắt

ăn luôn rồi ngủ nữa

Đồng bào Đồng Nai sợ mãng xà hơn sợ ma quỷ Nó đến đâu thì thú rừng bị

ăn hoặc trốn đi nơi khác hết Thợ săn(3), thợ rừng(4) phải chịu nghèo đói Nó bò đến đâu thìnương rẫy ngã rạp đến đó như bị bão lụt vậy Có một con mãng xà đã nuố t chửng cả mộtbầy chó và anh thợ săn một lượt Có nhiều làng ở ven rừng phải lập miếu thờ(5) thần mãng

xà như thờ thần hổ vậy Nhiều người tinh thông võ nghệ(6) đã từng đánh được hổ, nhưngkhi nói đến mãng xà thì cũng đành thu mình lại, dấu roi mà chạy

Thuở ấy có hai cha con ông Bảy Túc ở làng Mỹ Lộc cũng rất giỏi võ và đều làmnghề thợ rừng Rừng là nguồn sống duy nhất của gia đình này Ngoài việc đốn tre, thả gỗ,cắt tranh, thả bè, cha con ông Bảy Túc không còn biết làm nghề nào khác Vì vậy cónhững lúc nghe nói có thú dữ về rừng, không ai dám đi rừng đi nữa, ông Bảy Túc cũngphải mạo hiểm(7) đi tìm bát cơm, manh áo cho gia đình trong chốn rừng thiêng ấy Người

ta bảo “sanh nghề thì tử nghiệp” (8), sống nhờ rừng thì thế nào cũng chết vì rừng, nhưngông Bảy vẫn không muốn bỏ cái nghề làm ăn quen thuộc của mình và càng yêu nghề, yêu

Trang 9

rừng tha thiết Người con trai của ông tên là anh Mạnh, một thanh niên hai mươi tuổi, tokhoẻ và nhanh nhẹn Anh đã hỏi vợ đôi ba nơi rồi mà không được, chỉ vì cái nghề làm ănrất nguy hiểm của anh Cha mẹ cô Thoan, người yêu của Mạnh không ngần ngại gì mà nóivới con gái của mình rằng: “Mày muốn lấy thằng Mạnh làm chồng thì nên để tang nótrước vì nó là miếng mồi ngon của mãng xà đó” Thoan khuyên Mạnh đi làm nghề khác

để được cưới nhau, nhưng Mạnh không nỡ bỏ cha đi rừng một mình, rốt cuộc hai ngườivẫn không thành vợ chồng được

Một hôm hai cha con Bảy Túc vào rừng bỗng gặp một con voi bị mãng xà quấn.Đầu con mãng xà bám chặt trên một cây cổ thụ(9) rất cao Nó chỉ dùng khúc đuôi quấn haivòng quanh thân con voi to tướng Sức voi có thể bứt đứt mãng xà ra làm đôi và giày xác

nó Nhưng không hiểu tại sao voi lai nhắm nghiền mắt lại mà đứng yên như chết Nhìn kỹông Bảy Túc mới thấy rằng chót đuôi của mãng xà đang ngoáy vào rốn voi làm cho voinhột quá chịu không nổi, đành chết đứng như vậy Ông Bảy nghĩ thầm: “to, béo khôngphải là mạnh, một chỗ yếu bị chọc có thể làm cho toàn sức lực to mấy cũng trở thành vôdụng” Nghĩ vậy ông nói với con rằng: “Chúng mình phải cứu “ngài” (tức voi con), nếukhông “ngài” sẽ bị mãng xà nuốt mất” Anh Mạnh lo sợ khuyên cha: “Nhưng nếu mãng

xà trả thù thì cha con ta cự đương(10) sao nổi? Chi bằng…”

- Không được, làm người không thể sợ chết mà làm ngơ trước sự bất công Voi chỉ

ăn cỏ, không làm hại ai, ta cứu voi, giết mãng xà là phải Con cứ đứng đây, thủ thế sẵnsàng Cha vào đánh trước, chừng nào cha mệt thì con vào thay

Anh Mạnh chưa kịp nói gì thì Bảy Túc đã xông đến gần con voi rồi Ông dùng lưỡirựa(11) bén chém một phát thật mạnh lên lưng mã ng xà Con mãng xà bị đứt đuôi ngay,đầu nó buông ngọn cây, cả thân nó rơi xuống đất như một cây to vừa bị đốn Thấy BảyTúc múa rựa xông đến, nó hốt hoảng chạy trốn Con voi cũng giật mình bỏ chạy để lạimột khúc đuôi mãng xà dài đến ba bốn sải tay

Cha con ông Bảy ra sức kéo đuôi mãng xà về làng Đồng bào rủ nhau đến xem Aicũng sợ và lo ngại cho gia đình ông Người ta bảo: “Đập rắn thì phải đập nát đầu, nếukhông rắn sẽ trả thù nay mai” Thấy mình đánh được mãng xà một trận, ông Bảy Túccũng bớt sợ mãng xà rồi Hôm sau hai cha con lại vào rừng kéo gỗ, kéo tre như thườngngày Không ngờ vừa đến nơi thì thấy gỗ, tre của ông đã được voi kéo giùm ra bờ sônghết Ngoài ra, có một số gỗ, tre tốt khác cũng đã được voi nhổ cả gốc kéo ra tận bờ sôngchất đống cho ông Thực ra, lúc đánh mãng xà để cứu voi, cha con ông Bảy không nghĩđến việc sẽ được voi đền ơn đáp nghĩa như vậy

Voi biết trả ơn thì mãng xà cũng biết trả thù, ông Bảy và anh Mạnh đều liên tưởngnhư vậy, nên mỗi khi vào rừng lúc nào cũng chuẩn bị sẵn sàng để đối phó

Ngoài những dụng cụ thợ rừng như búa, rìu, cưa, rựa hai người con luôn mangtheo những vũ khí để đánh mãng xà như roi cau rừng, độc ngạnh(12) có hai đầu, đầu nàocũng có lưỡi ba chia, cán độc dài đến ba thước Anh đề phòng trường hợp bị mãng xàquấn thì dùng cây độc ấy mà chống hai đầu để thoát

Quả nhiên, một hôm hai cha con ông Bảy Túc vừa vào đến bìa rừng thì gặp mãng

xà đón đường Hai người nhận ra ngay con mãng xà bị đánh trước đây, vì nó cụt đuôi vàcũng to bằng chiếc cối xay vậy Vừa thấy hai người thì nó há mồm nom như một cái miếu

Trang 10

mở và uốn mình, cất cao đầu lên gầm thét, định phóng tới vồ mồi Ông Bảy vội bảo connúp sau một cây to thủ thế(13) chờ, còn ông xách rựa bén xông tới giao chiến(14) trước.Đánh chưa được một hiệp thì bỗ ng nhiên ông Bảy bị mãng xà táp nuốt sống luôn cả cáirựa vào bụng nó Nuốt người cha xong, con mãng xà hung hãn tiến về phía gốc cây địnhnuốt quách người con Nó vẫn há mồm to bằng cái cửa miếu và cặp mắt đỏ như hai ngọnđèn Anh Mạnh sợ quá toan vứt cả độc hai đầu mà chạy Bỗng anh nghe như có tiếng củalương tâm anh thét lớn: “Đồ hèn nhát, con thú còn biết trả thù Mi không dám liều chết trảthù cho cha mi sao?” Lòng thương cha và căm thù mãng xà bỗng bừng bừng nổi dậy, anhliền bước ra trước gốc cây, cầm độc ngạnh sẵn sàng nghênh chiến(15) Con mãng xà mừng

rỡ, uốn mình phóng tới như trời sập bên cạnh anh, anh liền múa độc đánh, đầu mãng xàcứng như đá, lưỡi độc của anh chỉ chạm vào chớp lửa rồi dội trở ra chứ không ăn thua gì.Rút được bài học kinh nghiệm đau đớn của cha, anh đã tránh được mấy cái táp rất nguyhiểm của con mãng xà Nhưng sức mãng xà to lắm, anh chỉ vì căm thù nó mà phải đánh,chớ hy vọng thắng được nó cũng rất mong manh Không ngờ cuộc chiến đấu thực tế ấy đãgiúp anh một sáng kiến rất quyết định: Anh liền thay đổi cách đánh Thừa lúc mãng xà hámồm định táp anh một lần nữa anh bèn nhanh chân nhảy phóc trong mồm nó Mãng xàtưởng ngon ăn vừa khép mồm lại để nuốt thì cây độc ngạnh hai đầu của anh đã khoá chặthai hàm của nó, nó không thể nào ngậm lại được Bị thương giữa họng, mãng xà đau đớnvùng vẫy như điên làm nát hàng chục mẫu(16) rừng Anh mạnh chạy thẳng vào bụng nó đểtìm cha Ông Bảy được anh cứu tỉnh lại ngay, rồi hai cha con cùng nhau dùng rựa, daogăm tha hồ đánh phá ngay trong lòng mãng xà Tim, gan, phổi của nó đều bị bầm nát màmãng xà vẫn còn vùng vẫy được Nó cố bò ra sông để trầm mình xuống nước Nhờ cóđồng bào cả làng Mỹ Lộc xúm nhau đón đánh tiếp, mãng xà chịu chết ở bờ sông Hai chacon ông Bảy Túc từ trong bụng mãng xà bước ra, được đồng bào hoan nghênh nhiệt liệt

Sau trận ấy, các con mãng xà khác đều phải bỏ vùng này mà đi mất hết, đồng bào

ra rừng làm ăn thong thả như đi dạo vườn hoa Lần đầu tiên đồng bào Đồng Nai được ănthịt mãng xà trong tiệc cưới của Thoan và Mạnh Ai cũng khen gan mãng xà rất ngon vàkhông còn sợ mãng xà nữa

(Trích Huỳnh Văn Nghệ - Tác giả và tác phẩm, tập 2, Bùi Quang Huy tuyển chọn

và giới thiệu, NXB Đồng Nai, 2008)

Chú thích

* Tác giả Huỳnh Văn Nghệ: sinh ngày 02/02/1914 tại làng Tân T ịch (xã Tân Uyên,

tỉnh Biên Hoà; nay thuộc xã Thường Tân, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương ) Ông xuấtthân trong làng quê “nghèo sản vật mà giàu truyền thống cách mạng” Được “gieo trồng”trong một nền giáo dục gia đình nền nếp, nhân nghĩa, Huỳnh Văn Nghệ là hình ảnh kếttinh truyền thống của quê hương, nghĩa khí của cha, đức bao dung của mẹ, bản lĩnh củacác anh chị em, sự hồn nhiên của bạn bè và thiên tư của chính mình Ông theo học sơ học

ở trường quận, học tiếp trường nội trú ở trường Petrus Ký Sài Gòn, ra làm công chức hoả

xa Ông tham gia cách mạng rất sớm, có nhiều đóng góp trong binh nghiệp và văn nghiệpcủa Đồng Nai Ông mất năm 1977 tại thành phố Hồ Chí Minh, an táng tại quê nhà Ôngđược truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 20 07, truy tặng danhhiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 2009

Trang 11

* Văn bản Trận mãng xà trên đây in theo Bản chép tay của tác giả Ở ngoài bìa

của Bản chép tay này có ghi: “Chuyện đời xưa/Ngọc Ngộ kể/Huỳnh Văn Nghệ ghi”

(1) Mãng xà vương : vua của loài rắn.

(2) Cối xay lúa : cối dùng để xay, gồm hai thớt tròn, thớt dưới cố định, thớt trên

quay được chung quanh một trục

(3) Thợ săn : người làm nghề săn bắt thú rừng và chim.

(4) Thợ rừng : người làm nghề khai thác tài nguyên, sản vật của rừn g.

(5) Miếu thờ : nơi thờ thần thánh (hoặc những nhân vật được nhân dân tôn thờ) (6) Tinh thông võ nghệ : hiểu biết tường tận, thấu đáo và sử dụng thành thạo các

môn võ để chiến đấu

(7) Mạo hiểm : liều lĩnh làm một việc biết là có thể mang lại hậu qu ả rất tai hại (8) Sanh nghề thì tử nghiệp: Ý nói sống nhờ nghề nào thì chết vì nghề ấy.

(9) Cổ thụ : cây to sống đã lâu đời.

(10) Cự đương : chống lại bằng sức lực.

(11) Rựa: một loại dao to, sống dày, mũi bằng hoặc cong , dùng để chặt, chẻ.

(12) Độc ngạnh : một loại vũ khí cổ, hai đầu có chĩa ba nhọn.

(13) Thủ thế : Giữ mình ở thế thủ khi đánh võ.

(14) Giao chiến : đánh nhau giữa các lực lượng vũ trang hoặc các nước đối địch (15) Nghênh chiến : đón đánh mặt đối mặt.

(16) Mẫu : đơn vị cũ đo diện tích đất Một mẫu bằng 3600 mét vuông (mẫu Bắc

Bộ) hay 4970 mét vuông (mẫu Trung Bộ)

2 TỔNG QUAN VỀ TỤC NGỮ, CA DAO Ở ĐỒNG NAI

Kho tàng tục ngữ, ca dao Đồng Nai khá phong phú Nó đúc kết kinh nghiệm về đờisống sản xuất, sinh hoạt xã hội của người Đồng Nai Đó còn là lời ca đọng lại từ nhữngkhúc hát trữ tình của người Đồng Nai

1 Tục ngữ

Người Việt ở Biên Hoà - Đồng Nai kế tục vốn tri thức và tiếng nói của cha ông từcác vùng miền khác nhau trên đất nước cho nên trong kho tàng tục ngữ phương ngôn vềkinh nghiệm sản suất, qui tắc ứng xử cơ bản là ít có điều khác lạ so với đàng ngoài Tuyvậy, cũng có những câu tục ngữ ghi lại kinh nghiệm sống được hình thành từ cuộc sốngsản xuất, ứng xử của người Việt ở vùng đất Đồng Nai

Đó là kinh nghiệm dự báo thời tiết mang nét riêng của địa hình Đồng Nai:

- Tháng giêng nắng dai, tháng hai giông tố Tháng ba nồm (1) sợ, tháng tư nồm non.

- Đười ươi cười thì nắng, cỏ gà trắng thì mưa.

Trang 12

Tục ngữ của người Việt ở Đồng Nai đúc kết những kinh nghiệm trong việc chọngiống nuôi trồng phù hợp với thổ nhưỡng Đồng Nai:

- Được mùa xoài, toi (2) mùa lúa.

- Được mùa cau đau mùa lúa, được mùa lúa úa mùa cau.

Hoặc quảng bá kinh nghiệm thưởng thức sản vật địa phương:

- Gạo Cần Đước, nước Đồng Nai.

- Trầu bai Bến Cá, thuốc lá Tân Huê (3).

- Ăn chuối đàng sau, ăn cau đàng trước

- Dưa đàng đít, mít đàng đầu.

Ghi nhận kinh nghiệm ứng xử xã hội hình thành trong tập quán cộng đồng :

- Họ hàng thì xa, sui gia (4) thì gần.

- Đất mình thì đội dù (5) qua, Sang đất người ta thì hạ dù xuống

TỤC NGỮ VỀ ĐỜI SỐNG SẢN XUẤT, SINH HOẠT XÃ HỘI

1/ “Tháng giêng nắng dai (1), tháng hai giông tốTháng ba nồm (2) sợ, tháng tư nồm non”

2/ “Được mùa xoài, toi (3) mùa lúa”

3/ “Cơm Nai Rịa, cá Rí Rang (4)”

4/ “Dưa đàng đít, mít đàng đầu”

5/ “Ăn chuối đàng sau, ăn cau đàng trước”

6/ “Họ hàng thì xa, sui gia (5) thì gần”

7/ “Đất mình thì đội dù quaSang đất người ta thì hạ dù xuống”

(3) Toi: chết; ở đây hiểu là thất bại, năng suất lúa thấp.

(4) Nai, Rịa: tỉnh lược Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu.

Rí, Rang: tỉnh lược Phan Rí, Phan Rang.

(5) Sui gia: chỉ quan hệ của bố mẹ 02 bên giữa nhà trai (phía chú rễ) và nhà gái

(phía cô dâu) Có nơi hiểu rộng hơn là quan hệ của 02 gia đình

Trang 13

Hình thức của tục ngữ:

Tục ngữ ban đầu chỉ là những câu nói xuôi tai, hợp lý, sau dần mới trở thànhnhững câu đối có vần vè, gọn gàng hơn Tục ngữ Đồng Nai phần lớn đều có vần vè, hay

có đối

- Họ hàng thì xa, sui gia thì gần.

- Ăn chuối đàng sau, ăn cau đàng trước

Vần gieo phong phú, có khi vần liền, có khi vần cách (cách hai chữ, ba chữ) thậmchí vần gieo theo thể lục bát

“ Đất mình thì đội dù qua, Sang đất người ta thì hạ dù xuống”

Tục ngữ Biên Hoà - Đồng Nai hiện chưa được ghi chép đầy đủ, nhưng có baonhiêu mặt sinh hoạt của con người là có bấy nhiêu lĩnh vực đời sống đã đi vào phươngngôn, tục ngữ, góp phần làm giàu thêm vốn sống, vốn tiếng Việt ở địa phương

+ Tục ngữ về đời sống sản xuất và sinh hoạt

1/ “Tháng giêng nắng dai (1), tháng hai giông tố Tháng ba nồm (2) sợ, tháng tư nồm non”

2/ “Được mùa xoài, toi (3) mùa lúa”

3/ “Cơm Nai Rịa, cá Rí Rang (4)”

4/ “Dưa đàng đít, mít đàng đầu”

5/ “Ăn chuối đàng sau, ăn cau đàng trước”

6/ “Họ hàng thì xa, sui gia (5) thì gần”

7/ “Đất mình thì đội dù quaSang đất người ta thì hạ dù xuống”

Chú thích:

(1) Nắng dai: tháng giêng ở Nam bộ là tháng nắng, nắng từ ba n mai cho đến chiều tối (2) Nồm: gió nồm mang đặc tính gió mát và ẩm ướt thổi từ Đông - Nam tới Viêt Nam từ

tháng 4 đến tháng 10

(3) Toi: chết; ở đây hiểu là thất bại, năng suất lúa thấp.

(4) Nai, Rịa: tỉnh lược Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu.

Rí, Rang: tỉnh lược Phan Rí, Phan Rang.

(5) Sui gia: chỉ quan hệ của bố mẹ 02 bên giữa nhà trai (phía chú rễ) và nhà gái (phía cô

dâu) Có nơi hiểu rộng hơn là quan hệ của 02 gia đình

2 CA DAO

Ca dao dân ca Đồng Nai khá phong phú, nó phản ánh đời sống sinh hoạt xã hội, tâm

tư tình cảm con người Đồng Nai trong quá trình mở đất lập nghiệp và đấu tranh bảo vệquê hương xứ sở

Trang 14

Phong phú nhất là mảng ca dao trữ tình mang theo trong hành trang người Việt đến

xứ Biên Hoà - Đồng Nai Nhiều câu hát gốc Bắc bộ, Trung bộ được biến thể đôi chút trởthành tài sản gắn với địa phương Cách diễn đạt “chiều chiều quạ nói với diều …” đến vớiĐồng Nai:

“ Bao phen quạ nói với diều Ngã ba rạch cát (6) có nhiều cá tôm”

+ Ca dao và lời mời gọi, quảng bá hướng về Đồng Nai.

Nói đến ca dao Đồng Nai thì phổ biến nhất là mảng ca dao mời gọi, quảng bá Đây

là những bài có sức sống bền bỉ và được lưu truyền ở nhiều vùng miền khác nhau Có thểban đầu là “tiếng lành đồn xa” về vùng “đất lành”, màu mở, trù phú với nhiều gạo trắng,nước trong hấp dẫn người khai hoang, nhưng sau này là lời mời gọi hướng vào nội dungquảng bá thiên nhiên sản vật địa phương

- “Nhà Bè nước chảy chia hai

Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về”.

- “Làm trai cho đáng nên trai Phú Xuân cũng trãi Đồng Nai cũng từng”.

- “Đồng Nai gạo trắng nước trong

Ai đi đến đó thời không muốn về”.

- “Ăn bưởi thì hãy đến đây Đến mùa bưởi chín vàng cây trĩu cành”.

- “Hết gạo thì có Đồng Nai Hết củi thì có Tân Sài chở vô”

- “ Đồng Nai gạo trắng như cò Trốn cha, trốn mẹ xuống đò theo anh”

+ Ca dao và đời sống tư tưởng, tình cảm của người Đồng Nai

- Phản ánh đời sống, sinh hoạt xã hội của người Đồng Nai Trong những ngày đầu

đặt chân đến Đồng Nai khai khẩn, người Việt đã ghi lại những cảm xúc bỡ ngỡ lạ lùngtrước cảnh vật hoang sơ của vùng đất mới

- “Đến đây xứ sở lạ lùng Con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh”.

- “Đi ra sợ đỉa cắn chưn(7) Xuống sông sấu ních (8) lên rừng cọp tha …”.

Qua lao động người Đồng Nai chinh phục thiên nhiên làm chủ vùng đất mới, họ tựhào về thành quả lao động, tự hào về quê hương Mảng ca dao ca ngợi sản vật đia phươngĐồng Nai xuất hiện nhiều nhất, nó không chỉ thể hiện niềm vui trong lao động mà cònquảng bá sản vật địa phương Đó là những sản vật gắn liền với thương hiệu địa phương :

- “Trà Phú Hội, nước Mạch Bà Sầu riêng An Lợi, chuối già Long Tân

Trang 15

Gạo thơm Phước Khánh, tôm càng Tam An”(9)

- “Biên Hoà có bưởi Thanh Trà Thủ Đức: nem nướng, Điện Bà: Tây Ninh”.

Họ quảng bá cho chất lượng sản phẩm “Biên Hoà bưởi chẳng đắng the …” Ngay cảtrong những bài ca dao có nội dung thể hiện tâm tư tình cảm, người bình dân cũng gắnliền với cây trái Đồng Nai:

- “Thân em như bưởi trắng ròng Mùi thơm nực mũi mà lòng sạch trong”

- “Con khôn cha mẹ nào ngăn

Tỉ như trái bưởi ai lăn nó tròn”.

- “Có anh thi rớt trở về

Bà con đón hỏi nhiều bề khó khăn Bưởi kia anh chẳng buồn ăn Sầu riêng, Tố nữ anh quăng đầy đường”.

Công việc sản xuất, bán buôn ở Đồng Nai cũng được phản ánh trong ca dao với cảnhchợ Trấn Biên buôn bán tấp nập:

- “Đố ai con rết mấy chân Cầu ô mấy nhịp, chơ Dinh mấy người Mấy người bán áo con trai

Chơ trong bán chỉ, chợ ngoài bán kim”.

Cảnh buôn bán nhỏ, lẽ xuất hiện với hình ảnh cô bán thuốc, cô bán bưởi trong lờitrêu ghẹo:

‘Trời mưa xăn ống cao quần, Hỡi cô bán thuốc nhà gần hay xa”.

Hay là cảnh tập sự đi buôn qua lời ru em:

- “Đi buôn biết lỗ biết lời

Đi ra cho thấy mặt trời, mặt trăng”.

Và đây là hình ảnh cô gái đan đệm:

- “Ngó lên trên xóm đầu cầu

Có cô đươn đệm trên đầu dắt ghim”.

+ Ca dao ghi lại tâm tư tình cảm con người Đồng Nai

Ca dao Đồng Nai ít xuất hiện những bài than thân về tình duyên trắc trở so với cadao vùng đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung bộ; nhưng trong mảng ca dao than thân ta lạithấy xuất hiện những lời than thân của người “xa xứ lạc loài tới đây”, của người thợnghèo, phu đồn điền, người lính, những người buôn thúng bán bưng …

Qua câu hát, lối ứng xử trong cuộc sống, tính cách của người Đồng Nai bộc lộ rõnét; đó là sự nóng nảy, bộc trực, cũng có khi là những nét cởi mở, bạo dạn, mở lòng của

Trang 16

người phụ nữ hoặc những lời vui vẽ, tinh nghịch mang phong cách Nam bộ cũng đượcthể hiện rất rõ:

“Câu hò tôi đựng một lu Lum khum nó rớt chổng khu mò hoài”

- Ca dao Đồng Nai phản ánh quá trình đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ quê hương

xứ sở:

Khu Đ đi dễ khó về Lính đi bỏ mạng, quan về mất lon”

Ca dao Đồng Nai phản ánh đời sống tâm hồn, tính cách của người Biên Hoà, ĐồngNai, từ lâu nó trở thành đời sống tinh thần của người Biên Hoà - Đồng Nai

+ Về nghệ thuật:

Điểm phổ biến thường xuất hiện trong các bài ca dao Đồng Nai, đó là mô tip chung

về mời gọi, quảng bá về vùng đất Đồng Nai Lời mời gọi trãi dài ở nhiều giai đoạn khácnhau, với nhiều mục đích khác nhau: như mời gọi, rủ rê, thông tin, quảng bá sản vật,quảng bá công trình văn hoá

- “Đến đây xứ sở lạ lùng Con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh”.

- “Đồng Nai gạo trắng nước trong

Ai đi đến đó thì không muốn về”.

- “Ai ơi về Đại phố Châu

Thăm núi Châu Thới, qua cầu Đồng Nai”.

Trong cách nói, cách so sánh thường dùng các sản vật địa phương để liên hệ:

“Thiếp như cam, quít, bưởi, bòng Đắng the ngoài vỏ mà lòng ngọt thanh.

Sầu riêng, măng cụt, bưởi thanh Xoài ngon, mít ngọt, cam chanh đầy vườn.”

Hoặc mượn các sản vật địa phương để ngụ ý bằng phương thức ẩn dụ:

“Bông lài, bông lý, bông ngâu Không bằng bông bưởi thơm lâu dịu dàng”.

Có khi than thân trách phận cũng mượn hình ảnh các sản vật địa phương:

“Xay lúa giã gạo Đồng Nai Gạo trắng về ngài, tấm cám về tôi”.

Phong cách ngôn ngữ Đồng Nai nói riêng, nam bộ nói chung mạnh mẽ, xông xáo,bộc trực, đầy sức sống:

- “Anh về sao đặng mà về Miếu kia chưa dựng, lời thề còn đây”

Trang 17

Chú thích:

(1) Nồm: chỉ gió nồm mang đặc tính gió mát và ẩm ướt thổi từ Đông - Nam tới Viêt

Nam từ tháng 4 đến tháng 10

(2) Toi: chết; ở đây hiểu là thất bại, năng suất lúa thấp.

(3) Cần Đước thuộc tỉnh Long An ngày nay - Bến Cá, Tân Huê thuộc Đồng Nai

xưa

(4) Sui gia (thông gia): Hai nhà có con kết hôn với nhau.

(5) Dù: Đồ dùng cầm tay để che mưa nắng, giống như cái ô nhưng có màu sắc và

nông lòng hơn

(6) Ngã ba rạch cát: đoạn sông Đồng Nai nơi tiếp giáp giữa trung tâm Biên Hoà với

Cù lao phố

(7) Chưn : chân

(8) Ních : 1.Nhét cho đầy, cho chặt 2 ăn cho thật nhiều : Ních cơm đầy dạ dày.

Ních ở đây gần nghĩa với ăn, nuốt

(9) Phú Hội, Mạch Bà, An Lợi, Long Tân, Phước An, Phước Khánh, Tam An : những

địa danh của huyện Long Thành - Đồng Nai xưa

CA DAO VẾ THIÊN NHIÊN, XỨ SỞ ĐỒNG NAI

1 Bao phen quạ nói với diềuNgã ba Rạch Cát (1) có nhiều cá tôm

2 Đồng Nai gạo trắng nước trong

Ai đi đến đó thì không muốn về

3 Đồng Nai xứ sở lạ lùngDưới sông sấu lội, trên giồng cọp um (2)

4 Ăn bưởi thì hãy đến đâyĐến mùa bưởi chín vàng cây trĩu cànhNgon thơm mít mật, cam sànhBiên Hoà có bưởi trứ danh tiếng đồn

5 Trà Phú Hội, nước Mạch BàSầu riêng An Lợi, chuối già Long Tân

Cá bui, sò huyết Phước An Gạo thơm Phước Khánh, tôm càng Rạch Nhum (3)

6 Ai ơi về Đại phố Châu (4)Thăm núi Châu Thới (5), qua cầu Đồng Nai

Trang 18

(4) Đại phố Châu: nay là xã Hiệp Hoà, thành phố Biên Hoà.

(5) Núi Châu Thới: nay thuộc địa phận tỉnh Bình Dương (nằm ở cửa ngõ phía Nam của

thành phố Biên Hoà)

CA DAO VỀ SINH HOẠT XÃ HỘI Ở ĐỒNG NAI

1 “Xay lúa giã gạo Đồng NaiGạo trắng về ngài tấm cám về tôi”

2 “Cao su khổ lắm ai ơiDân phu (1) thí xác cả ngày ngoài lôCòng lưng cạo mũ cơ hồ

Tấm thân trâu ngựa, tội tù khổ sai (2)”

3 “Bán buôn thúng lủng, tràng hưMãn mùa tính lại chẳng dư đồng nào”

4 “Đố ai con rết mấy chânCầu ô mấy nhịp, chơ Dinh mấy người (3)Mấy người bán áo con trai

Chợ trong bán chỉ, chợ ngoài bán kim”

5 “Chiều chiều vịt lội cò bay

Ông voi bẻ mía chạy ngay vô rừng

Vô rừng bứt một sợi mây,Đem về thắt gióng cho mày đi buôn

Đi buôn đi bán không lỗ thì lời

Đi ra cho thấy mặt trời, mặt trăng” (4)

Chú thích:

(1) Phu: chỉ người lao động nặng, vất vả trong các c ông trường, đồn điền, hầm mỏ

dưới thời thuộc Pháp

(2) Khổ sai: Công việc cực nhọc quá sức mà các phạm nhân trong chế độ thuộc địa

phải làm

(3) Chợ Dinh: Chợ đặt nơi trung tâm tỉnh, dinh trấn Theo Lương Văn Lựu (Biên

Hùng sử lược toàn biên, quyển 2, trang 92) thì “câu hát trên là do danh từ Trấn Biên - xưagọi là chợ Bàng Lân hay chợ Lộc Dã” Ở đây hiểu là Chợ Dinh Trấn Biên)

Trang 19

(4) Có dị bản:

“Chiều chiều vịt lội cò bayÔng voi bẻ mía chạy ngay vô rừng

Vô rừng bứt một sợi mây

Đem về thắt gióng cho nàng đi buôn

Đi buôn biết lỗ biết lời

Đi ra cho thấy mặt trời mặt trăng”

Đọc thêm:

“ Thế gian còn dại chưa khônSống mặc áo rách, chết chôn áo lành”

“Con khôn cha mẹ nào ngăn

Tỉ như trái bưởi ai lăn nó tròn”

Dang tay đánh thiếp sao đànhTấm rách ai vá, tấm lành ai may?

Ví dầu cầu ván đóng đinhCầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó điKhó đi mẹ dắt con đi

Con đi trường học, mẹ thi trường đời

Đường về Đất Đỏ miền Đông,Cao su bao lá hận lòng bấy nhiêu

Kiếp phu đổ lắm máu đào,Máu loang mặt đất, máu trào mủ cây

Trần Gian địa ngục là đây,Đồn điền Đất Đỏ nơi tây giết người

+ Bài ca dao: RỒNG CHẦU NGOÀI HUẾ, NGỰA TẾ ĐỒNG NAI

Rồng chầu ngoài Huế,Ngựa tế(1) Đồng Nai

Nước sông trong đổ lộn sông ngoài,Thương người xa xứ(2) lạc loài tới đây

Tới đây thì ở lại đây,Bao giờ bén rễ xanh cây mới về

Trang 20

Chú thích

(1) Ngựa tế : ngựa chạy mau (theo dân gian ngựa chạy có ba tốc độ: nước kiệu,

nước tế, nước phi) nhưng chưa thật nhanh như phi

(2) Người xa xứ : người ở xa đến nên gọi là xa xứ, rời xứ mà đến đây.

3 VĂN HỌC DÂN GIAN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ.

Giới thiệu chung :

Là một trong các tỉnh có nhiều dân tộc thiểu số(1) khác nhau cùng chung sống từlâu, do nhiều biến thiên(2) của lịch sử, hiện nay Đồng Nai có 34 dân tộc thiểu số Trong

đó, có các dân tộc bản địa(3) là Châu Mạ(4), Châu Ro(5), Stiêng(6)

Kho tàng văn học dân gian các dân tộc thiểu số Đồng Nai khá phong phú, bao gồmtruyện kể, ca dao, dân ca, tục ngữ Nó lưu giữ ký ức lịch sử, giãi bày tình cảm, đúc kếtkinh nghiệm về đời sống sản xuất, sinh hoạt xã hội của các dân tộc thiểu số Đồng Nai

Một số thể loại :

Truyện kể dân gian:

Ở đồng bào các dân tộc thiểu số, truyện kể là tài sản tinh thần quan trọng; đó là

"lịch sử", là luật tục(7), là hình mẫu nếp sống cổ truyền của cha ông, đồng thời cũng làcách để thư giãn tinh thần

Truyện kể của người Châu Mạ, Châu Ro, Stiêng thường tự sự dưới hình thức vănvần; già làng(8) thường kể truyện trong không khí sinh hoạt cộng đồng ở nhà dài(9), ở các

lễ hội gia đình hoặc cộng đồng; giọng kể có vần có điệu, cách gieo vần tự do, vần lưng,vần liền, vần cuối nối các câu ngắn dài tạo thành chuỗi âm thanh giàu tính nhạc, nghe nhưhát Các hình tượng trong truyện cụ thể, sinh động, thể hiện lối suy nghĩ trực quan, tựnhiên của đồng bào các dân tộc thiểu số

- Thần thoại, truyền thuyết :

Người Châu Mạ, Châu Ro, Stiêng sùng bái nhiều thần linh, trình độ sản xuất thấp

nên còn lưu truyền mảng thần thoại, truyền thuyết giải thích các hiện tượng tự nhiên và sự

hình thành cộng đồng dân tộc với cách hiểu hồn nhiên của con người ở buổi sơ khai.Người Mạ còn thần thoại giải thích về nguồn gốc các thần linh và truyền thuyết về gia

hệ(10) của tổ tiên Ví dụ, một cách giải thích nguồn gốc của người Châu Mạ ở vùng thượngnguồn sông Đồng Nai:

Khổng lồ Iut phân cách trời và đất Khổng lồ Put chống trời bằng một thân cây.

Khổng lồ Trôô ngăn nước bằng tảng đá lớn.

K'Daa, Blac và Bliơr rèn mặt trời.

Với nước cá sinh sôi nảy nở, Thác và sông, anh trai và em gái ăn ở với nhau.

Trang 21

Ở đó, tổ Paang Tiing ở với em gái Nhaam

Từ bắp thịt hông của họ sinh ra Biêt và Riing.

Từ sự giao hợp giữa Biêt và Riing sinh ra Biêng và GLong Từ Biêng và Glong sinh ra Cong và Kraang.

Kiểu hình tượng ông khổng lồ sáng tạo trời, đất và người bàng bạc ở nhiều truyện

cổ tích giải thích hiện tượng tự nhiên Như truyện Bàn tay ông khổng lồ chẳng hạn, ông

khổng lồ đang chia thịt, trời đất bỗng tối tăm để lại tảng thịt biến thành đá có in rõ dấunăm ngón tay khổng lồ (tảng đá hiện còn ở khu rừng thuộc ấp Thanh Tùng, thị trấn ĐịnhQuán)

Theo truyện kể, thần linh của người Châu Mạ, Châu Ro, Stiêng không có hình thể

rõ nét, ít được mô tả diện mạo, thường được nhắc đến như biểu trưng của quyền lực tựnhiên Mỗi vị thần có chức năng riêng Ở người Châu Mạ, Yang Nđu là thần của tất cảcác thần, Yang Bri coi sóc rừng, Yang Đak lo việc sông nước, ao hồ, Yang Kôi bảo trợmùa màng, Yang Hiu lo việc trong nhà Thần linh của người Châu Ro tương tự như ngườiChâu Mạ, thần rừng (Yang Bri) bảo trợ việc hái lượm, săn bắn trong rừng, Yang Pa coisóc mùa màng, Yang Va lo việc nhà Người Stiêng chị u sự chi phối của các Arăk, ArăkXre là thần lúa, Arăk Prek là thần sông, Arăk Ta Phnom là thần núi ngoài ra, còn cóNeak Ta là vị thần đất cai quản đất đai sinh hoạt của cộng đồng Tuy nhiên, thần thoại,truyền thuyết của người Châu Mạ, Châu Ro, Stiêng còn lại không nhiều, không thành hệthống, đa phần là những "mảnh vụn" tản mạn trong câu chuyện thường ngày

- Truyện cổ tích :

Sinh động và phong phú hơn cả là truyện cổ tích với số lượng khá nhiều, tập trung

ở đề tài giải thích nguồn gốc địa danh (Sự tích thác Trị An, Sự tích Đồng Tường, Sự tích Miễu Ông Chồn ), giải thích các đặc điểm loài vật (Con gà trắng, Con sóc Bông, Vì sao chim cút ở bờ bụi, Heo anh heo em, Nàng tiên Mèo ), phản ánh quan hệ chung sống hồn nhiên đồng đẳng giữa người và vật ( Sự tích Miễu Ông Chồn, Người hóa Voi, Heo anh heo em, Cọp cướp vợ người, Những người con của chó )

Mẫu truyện kể mang tính ngụ ngôn về những con vật tinh khôn, nhỏ bé chiến thắng

kẻ mạnh bằng trí thông minh, tài lanh lẹ như rùa thắng khỉ, thỏ thắng cọp, ch èo bẻo chiếnthắng muông thú cũng khá nhiều, phản ánh trong đó nét đẹp và phẩm chất ưu thế của

bộ tộc nhỏ bé đã chiến thắng các thế lực mạnh hơn để sinh tồn

Đặc điểm dễ thấy ở truyện cổ tích của người Châu Ro, Châu Mạ, Stiêng là cốttruyện đơn giản, lối suy nghĩ hồn nhiên, chân chất; con người, loài vật, núi rừng có quan

hệ chung sống tự nhiên; trong đó kẻ yếu, cái thiện, lòng thành dù có gặp nạn cuối cùng đều chiến thắng Điều đáng lưu ý, truyện kể Châu Ro, Châu Mạ, Stiêng được kể không

giống nhau ở tiếng của mỗi dân tộc nhưng quan niệm, cốt truyện, tình tiết ở truyện kể ít

khác nhau, nhiều mẩu truyện phổ biến ở cả ba dân tộc (Truyện Ó Ma Lai, Con sóc bông, Con gà trắng, Heo anh heo em ) Có truyện khác nhau đôi chỗ tiểu tiết nhưng cùng dựa

trên cốt lõi chung, ví dụ: Nhóm truyện kể của người Châu Mạ, Châu Ro kể về cuộc thi tài

của các chàng rể, tác phẩm chiến thắng của chàng rể út là tòa nhà bằng gạch ( Sự tích Miễu Ông Chồn) Nếu tìm hiểu đầy đủ hơn, có thể tìm thấy ở truyện kể nguồn gốc và

quan hệ của các tộc người bản địa, nếp sống cổ truyền, luật tục và đời sống tinh thần của

Trang 22

họ, trong đó còn nguyên vẹn vẻ đẹp nguyên sơ của đồng bào dân tộc ít người ở buổi đầulịch sử.

- Ca dao

Cảm hứng thơ ca của đồng bào dân tộc thiểu số dồi dào, phong phú Tiếng Châu

Mạ, Stiêng, Châu Ro giàu chất thơ, có khả năng biểu cảm tốt, những lời hát đối đáp giaoduyên trong lao động và những bài ca nghi lễ thường đọng lại thành ca dao trữ tình Tiếc

là đến nay, chưa có công trình sưu tập đầy đủ Ở đây, chỉ xin nhắc đến Tampơk (bài ca

trữ tình) của người Châu Mạ Qua câu chuyện tình yêu của Kôông và K'Yai, có thể thấyluật tục, nếp sống, quan niệm về tình yêu, hôn nhân của người Châu Mạ xưa Theo đócũng có thể thấy đặc điểm hình thức thơ ca của người Châu Mạ Ví dụ, lời củ a chàngK'Yai bày tỏ nỗi khao khát nhớ nhung:

105 Rnom any yô, jơh bou chrka;

106 Đak til hơ, jơh bou mbring,

107 Ching any tur bou, kông tapxai;

108 Kwaiơm ai ma any tam krơm;

109 Rơm chong toh bo bai;

110 Mpao krơm ai bi ntrony ta but;

111 Krơm bi kut char xo;

112 Bi rbo che klêng.

Tạm dịch:

105 Rượu cần (Rnom) không uống vị men sẽ chua,

106 Nước suối không múc bình sẽ lên meo,

107 Chiêng lâu không đánh sẽ đóng ten đồng.

108 Chúng mình cùng sống, mong ghì lấy nhau

109 Cặp vú rắn chắc đóng vào ngực anh,

110 Như cái khố lành quấn vào eo lưng,

111 Như lược nhiều chân cài vào búi tóc,

112 Như diều xoắn vặn cùng sợi dây lèo.

Chỉ một đoạn thơ ngắn với vần điệu tự do, liền mạch như trên, nỗi khao khát củaK'Yai đã cho thấy quan niệm về tình yêu hồn nhiên của trai gái Châu Mạ, cũng cho thấytập tục uống rượu cần(15), múc nước suối, đánh chiêng đồng bằng tay của người Châu Mạxưa 207 câu hát Tampớk "Kôông và K'Yai" đều chứa đựng những yếu tố trữ tình có ýnghĩa hiện thực như thế

Ca dao dân ca của các dân tộc thiểu số ở Đồng Nai là tấm gương phản ánh tâmhồn của đồng bào các dân tộc thiểu số gắn với sự phát triển kinh tế xã hội ở địa phương

Trang 23

- Tục ngữ

Hiện chưa có đầy đủ tài liệu để có thể nói về tục ngữ, phương ngôn của đồng bàocác dân tộc Châu Mạ, Châu Ro, Stiêng ở địa bàn Đồng Nai Nhóm dân tộc này chưa cóchữ viết, cho nên kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm sống và tập quán xã hội ắt đượctruyền đời chủ yếu qua lời nói ngắn gọn, có vần điệu dễ nhớ, hình thành tục ngữ, phươngngôn trong kho tàng văn hóa dân gian địa phương Như người Châu Ro chẳng hạn, họtruyền nhau kinh nghiệm quan sát tự nhiên để đoán định thời tiết: thấy ếch kêu, ve kêu,đuôi kỳ đà đen đều, đầu tắc kè chuyển màu xanh, xương ếch chuyển màu đen thì tiết

trời sắp có mưa Trong ứng xử xã hội, người Châu Ro khuyên nhau giữ nếp sống "làm em chịu lành làm anh chịu cả" , và ứng xử chừng mực: "vui cười quá đáng thì sống trước mắt, chết sau lưng"

Luật tục kinh nghiệm của người Châu Mạ chủ yếu cũng truyền khẩu qua lời nói.Kinh nghiệm sống cho thấy:

Rnom any yô, jơh bou chrka;

Đak til hơ, jơh bou mbring, Ching any tur bou, kông tap xai

(Rượu cần không uống thì chua men, Bình không múc nước thì lên meo, Chiêng lâu không đánh thì đóng ten đồng.)

Bởi vậy, đồ vật phải dùng, yêu phải cưới, con người phải làm việc Luật tục truyềnđời phải nhớ:

Lưỡi mác phải có cán Muốn ngủ phải có mền Muốn cưới xin phải có lễ vật và trao vòng tay.

Luật tục cũng nghiêm cấm không được ngoại tình:

Ăn ớt rát họng

Ăn sả rát yết hầu Ngủ với vợ người khác có chuyện!

Như vậy, bước đầu, có thể thấy tục ngữ của đồng bào dân tộc thiểu số ở Đồng Nai

có vai trò quan trọng, như là bộ bách khoa thư không bằng văn tự trong đời sống tinh thầncủa đồng bào

Chú thích

(1) Dân tộc thiểu số : dân tộc chiếm số ít, so với dân tộc chiếm số đông nhất trong

một nước có nhiều dân tộc

(2) Biến thiên : sự biến đổi lớn.

(3) Dân tộc bản địa : dân tộc đã sinh sống lâu đời ở vùng đất nào đó.

(4) Châu Mạ, (5) Châu Ro, (6) S’tiêng: tên các dân tộc thiểu số sinh sống lâu đời ở

vùng rừng núi các tỉnh Nam Tây Nguyên (trong đó có Đồng Nai)

Trang 24

(7) Luật tục : bộ luật truyền khẩu quy định các phong tục của dân tộc Châu Mạ (8) Già làng : người cao tuổi được dân làng cử ra để điều khiển công việc chung ở

vùng các dân tộc thiểu số Tây Nguyên

(9) Nhà dài : một kiểu nhà có sàn để ở, làm ở lưng chừng cột, cách mặt đất một

khoảng, thường dùng làm nơi tiếp khách và hội họp, vui chơi chung của dân tộc Châu Ro,Châu Mạ

(10) Gia hệ : các thế hệ trong một dòng họ.

II VĂN HỌC VIẾT ĐỒNG NAI

MỘT CUỘC ĐUA THUYỀN TRÊN SÔNG ĐỒNG NAI

Huỳnh Văn Nghệ

Giờ đua thuyền đã đến Dân trong thị xã Biên hòa như dồn hết ra hai bên bờ sôngĐồng Nai Các cuộc chơi khác như liếm chảo, nhảy cao, leo cột chỉ còn lơ thơ một ítngười xem Sông ở đây rộng và đẹp hơn khúc sông ngang qua nhà tôi nhiều Bề ngangmặt sông rộng gần năm trăm thước Đầu trên và đầu dưới có hai chiếc cù lao như haichiếc tàu khổng lồ đậu giữa sông Đó là Cồ n Gáo (1) và cù lao Hiệp Hòa Sông rộng, cầu

to, nhà cao, phố lớn, thuyền bè xe cộ dập dìu, người đông như kiến cỏ Biên Hòa là thị xãcủa tỉnh tôi đó,cách làng tôi có chừng hai mươi cây số, mà hơn mười tuổi tôi mới đượcđến lần đầu Nhưng mọi điều mới lạ không hấp dẫn tôi bằng cuộc đua thuyền sắp tới

Dân thì ngồi dưới thuyền bè, hay đứng hai bên bờ sông mà xem Trẻ em đứa nàotrèo được như tôi thì leo lên cây ngồi hay đeo trên cột đèn Có mấy đứa nhỏ còn được cha

mẹ, anh chị cõng trên vai Những người đư ợc mời thì được vào trong khu Tòa Bố (2) cólính gác cửa và có hàng rào sắt chung quanh Trong khu này cũng đông lắm, đại diệnhương chức, hội tề các làng các tổng, công chức, nhà binh …Các quan chức chỉnh tề đixem hội nhưng cũng chỉ đứng xúm xít trên cỏ gần bờ sông mà xem Chắc là lão hương cả

và hương quản xã tôi cũng ở trong đám đó Kia rồi, tôi đã nhìn ra chúng đang đứng gầncái đầu cầu gỗ bắc từ bờ ra cái nhà sàn trên sông Đó là cái nhà mát (3) của thằng tây chủtỉnh, nhằm ngày lễ được dùng làm khán đài chính để xem đua thuyền, chừng vài chục

“ông tây”, “bà đầm” (4) và cả “tây con” nữa có lẽ là khách mời từ Sài Gòn qua đang ngồiquanh mấy bàn tiệc đầy rượu thịt và trái cây Nhìn đám tây mắt xanh mũi lõ này no nê,phè phỡn mới thấy đám hương chức hội t ề đang khúm núm trên bờ giống như bầy chóchực xương

Có hai mươi chiếc thuyền đại diện cho các tổng các xã ven sông tham dự cuộcđua Mỗi chiếc thuyền đua được sơn một màu khác nhau rất đẹp Chiếc sơn màu xanh làcủa xã Tân trạch ở Cù Lao (5), có tiếng bơ i giỏi từ trước tới nay Thuyền trắng hình conphượng là của cù lao Hiệp Hòa Thuyền vàng hình con lân là của xã Tân Ba Thuyềntrắng hình con cá là của xã Long Điền chuyên nghề chài lưới Thuyền sơn màu tam sắc làcủa thị xã Biên Hòa Đội thuyền này cũng mặc ba màu áo: ở trước mũi mặc màu xanh, ở

Trang 25

giữa màu trắng và phía sau lái các tay bơi mặc màu đỏ; trông xa như một lá cờ Pháp đangnổi trên sông Thuyền này đáng sợ nhất vì tập hợp toàn lính làm các tay bơi Chúng đượcnghỉ một tháng để tập bơi, nếu về nhấ t còn được nghỉ một tuần xả hơi nữa Những kỳ đuatrước, mấy thuyền muốn qua mặt chúng đều bị chúng đánh bằng dầm (6) đến chảy máuđầu, máu mũi Có thuyền còn bị chúng nhận chìm giữa sông để chúng qua mặt Mấy conthuyền khác thì ít được để ý hơn Con rồng đỏ cánh trắng của xã tôi nằm giữa có vẻ hiênngang nhất.

Hàng ngàn người hồi hộp chờ xem mà các “ông tây bà đầm” còn đang nóichuyện đùa dỡn, chưa cho lệnh bắt đầu Tôi bị lính đuổi phải tuột khỏi cây này leo lên câykhác ba lần mà thuyền đua vẫn chưa đượ c bơi Cuối cùng mới thấy một tên đội mã - tà haitay bưng một cái hộp như cái khay đựng trầu đến dâng trước thằng tây chủ tỉnh Thằngtây đứng dậy mở hộp, lấy ra một khẩu súng nhỏ như súng lục và bước lên một bước rangoài Nó giơ súng lên trời và đếm:

- Un, deux…trios!(một, hai…ba!)

Tiếng súng lệnh vừa nổ “đoàng” thì đoàn thuyền tranh nhau phóng tới như tênbắn Chỉ còn một chiếc đứng yên tại chỗ như không nghe tiếng súng lệnh Trời đất, đó lại

là đúng con rồng đỏ cánh trắng của xã tôi Dân hai bên bờ la ó :

- Làng nào đó? Bỏ cuộc rồi! Chịu thua rồi!

Bọn tây cũng la:

- Forfait! Forfait! (Bỏ cuộc! Bỏ cuộc!)

Tôi thất vọng đến đổ mồ hôi trán Nhìn thấy tụi Cả Hột, Quản Chinh cúi đầuxuống, chắc chúng muốn chui xuống đất mà trốn

Bỗng tiếng của cha tôi dõng dạc thét lên vang dội khắp hai bờ sông:

và một chiếc nào đó nữa Nhưng con rồng đỏ mỗi lúc một bay nhanh trông thấy, Cả Hột

và Quản Chinh mừng rỡ ra mặt Người xem bắt đầu xôn xao đoán coi thuyền nào về trước

và đánh cá

- Ghe đỏ sẽ về nhứt

- Làm gì nhứt nổi Ghe xanh lẹ như gió kìa

- Nước bơi của ghe vàng bền hơn

- Nhưng không ghe nào dám qua mặt ghe tam sắc đâu, cả mười ăn một tôi cũngdám cá nè…

Một thằng lính mã-tà (8) đứng dưới gốc cây tôi ngồi nói một cách quả quyết nhưvậy Trong lúc đó con rồng đỏ đã vượt lên đứng thứ ba rồi Đến chân cầu Gành (9) nhờ

Trang 26

quanh gấp một cái, nó đã bỏ một chiếc nữa ra sau và đang đuổi theo chiếc thuyền tam sắc

để về đích của cụôc bơi ở trước khán đài chính

Nhìn thấy chiếc thuyền tam sắc đang dẫn đầu cuộc đua, bọn lính mã-tà nhảy nhóttưng bừng Dân thị xã cũng mừng lắm phất khăn, phất mũ hò reo Bọn tây trong nhà mátcũng reo lên:

- Vive la France! (Nước Pháp muôn năm!)

Nhưng người ta thất vọng dần dần Con rồng đỏ cánh trắng vẫn đuổi gấp theonhư bay trên mặt nước Chỉ còn năm chục rồi hai chục thước nữa là bắt kịp thuyền trước.Anh Tám Phát, đúng là anh Tám Phát rồi ,đứng hẳn lên mũi thuyền dung cây dầm để múađao Cây dầm trắng trong tay anh quay thành những vòng loang loáng trước mũi thuyềncàng làm cho con thuyền của làng tôi thêm vẻ linh thiêng, thần thánh Chỉ còn mười chíntay bơi mà con thuyền đỏ cũng bắt kịp thuyền trước Người ta hồi hộp chờ một cuộc xôxát xẩy ra giữa hai con thuyền Nhưng không, con rồng đỏ vẫn lướt qua khỏi thuyền tamsắc một cách bình yên và về tới đích trước nhất trước sự kinh ngạc và tiếng hoan hô vangdậy của dân chúng hai bên bờ sông

Trong lúc Cả Hột và Quản Chinh được thằng Tây chủ tỉnh đến bắt tay khen ngợi

và thưởng cho hai cốc rượu thì dưới thuyền đỏ anh em trong đội thuyền bụm từng bụmnước sông Đồng Nai giải khát

Cha tôi cho tôi theo thuyền trở về xã Ngồi trên thuyền tôi nghe anh Hai Tán nói:

- Nhờ vong hồn nghĩa quân phù hộ, mình không thèm theo súng lệnh của thằngTây mà vẫn về nhất như thường

Con thuyền chiến thắng bơi ngược con sông dài trở về làng tôi nơi rừng thẳm

(Trích thơ văn Huỳnh Văn Nghệ - Nhà xuất bản Đồng Nai 1998)

(1) Cồn Gáo: Phần đất nổi lên nằm gần chân cầu Đồng Nai, trước 1975, Cồn Gáo

có khoảng vài hộ gia đình sinh sống, sau này do đất lở nên Cồn Gáo không còn nữa

(2) Toà bố: Cơ quan cai trị của viên chức Pháp đứng đầu một tỉnh Nam bộ, thời

Pháp thuộc Ở đây chỉ dinh (trụ sở) của thị xã Biên Hoà lúc bấy giờ

(3) Nhà mát: nhà nghỉ mát được dựng gần bờ nhô hẳn ra ngoài sông Mùa hè

nóng nực ra ngồi trong nhà mát dễ chịu hơn

Trang 27

(8) Mã-tà: chỉ lính đánh thuê có nguồn gốc từ Đông Nam Á Mã-tà lấy từ âm Mã

-lai (Malaysia)

(9) Cầu Gành: chiếc cầu bắc ngang cù lao phố Hiệp Hoà và phường Bửu Hoà.

Đứng ở bờ sông trước Uỷ ban nhân dân tỉnh ngày nay nhìn xuống thấy cầu Gành

Đất đen xấu biết bao rậm rạp, khai phá gần xong

Mưa nhiều, khe núi nước đầy, sáng đi tháo đập,Xuân tới bờ đê cỏ tốt, chiều đến chăn trâu

Sương khói một màu muôn mảnh ruộng, san sửa vừa xong,Bừa vác trên vai, đi về nhà dưới bóng trăng mới mọc

Dịch thơ:

1 Ven biển Trấn Biên vùng Đất Đỏ, Tinh sương đã lắm kẻ bừa mây.

Đất cằn rậm rạp hầu quang cỏ, Ruộng tốt um tùm sắp sạch cây.

Đắp đập che mai mưa núi lớn, Chăn trâu đê tối cỏ xuân dày.

Khói sương muôn khoảnh xem đà sẵn, Trăng mọc ra về bừa vác vai.

Trang 28

(Nguyễn Văn Sâm dịch)

3 Đất đỏ Trấn Biên góc biển Đông, Người bừa tảng sáng kéo ra đồng

Um tùm bao đám cày vừa hết, Rập rạp đất đen vỡ sắp xong.

Khe núi nước đầy đi tháo đập,

Đê xuân cỏ tốt thả trâu rong.

Khói sương muôn khoảnh tay san sửa, Bừa vác vai về trăng sáng chong.

HOÀI ANH (dịch)

(Theo Gia Định tam gia, NXB Đồng Nai, 2003)

Chú thích:

- Đất Đỏ: Vùng đất nay thuộc huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Bừa mây: Bừa trong sương mù như đang bừa mây.

- Trấn Biên: Một tên gọi cũ của vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai vào thời chúa

Nguyễn

- Quang cỏ: Hết sạch cỏ.

- Đê: bờ cao và dày, vững để ngăn nước sông, nướ c biển tràn vào ruộng.

Trang 29

TÂN TRIỀU ĐÃI ĐỘ

Trịnh Hoài Đức

Tân Triều đãi độ cô chu thành Nhật lạc vi mang hà thuỷ bình

Mã túc mạn yêm thiên lí tráng Khách tâm lao chú nhất giang thanh Hàm hoa mĩ lí trường lưu khứ

Bô quả từ ô thâm thụ minh Thôn điếm quy lai môn thập khấu Trúc liêm văn quyển nhật song minh

Dịch nghĩa:

ĐỢI ĐÒ BẾN TÂN TRIỀU

Bến quê Tân Triều thuyền lẻ nằm ngang,Mặt trời lặn mờ mờ nước sông êm lặng

Chân ngựa dầm xuống còn mang tráng khí đi ngàn dặm,Lòng khách tha thiết gửi vào n ước sông trong

Ngậm hoa cá chép đẹp bơi theo dòng nước chảy,Mớm quả cho con quạ hiền kêu trong lùm cây sâu

Quán trong thôn trở về gõ cửa mười tiếng,Rèm trúc mây cuốn trăng cửa sổ sáng

(Bản dịch của HOÀI ANH, theo Gia Định tam gia, NXB Đồng Nai, 2003)

Chú thích: Tân Triều: làng cổ ở tỉnh Biên Hoà (nay thuộc xã Tân Bình, huyện

Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai) Theo thư tịch xưa, cù lao Tân Triều thuộc Ngô Châu, quậnChâu Thành (cũ) Có rạch Tân Vinh, Bình Lục, rạch Bình Thới, rạch N gư Tân (Bến Cá).Sẵn đậu, bưởi, ổi, bắp (ngô), trầu, hến… Ngày nay nổi danh là “Làng bưởi Tân Triều”

Trang 30

VĂN TẾ VỢ

Bùi Hữu Nghĩa

Hỡi ơi !

Xưa nay đặng mấy người trọn vẹn, phận sắc tài hằng phải lụy cái thân;

Vợ chồng mà ghe nội mặn nồng, cơn sanh tử ỷ khôn ngăn giọt lệ

Từ thuở bậu vầy duyên can hệ, may mắn nhờ đủ mẹ đủ cha;

Thời em nâng niu dâng quì xẻ táo, thảo mẹ cha không nửa khắc lãng xoa;

Từ ngày anh mắc chốn gian truân, tơi bời có một vợ một chồng, thời em đặng độbuôn tảo bán tần, niềm chồng vợ ấy cũng đã là phu phỉ

Rất họ hàng còn cũng biết thương;

Huống trời đất có đâu chẳng nghĩ

Ơn vũ lộ lộng khơi mà bủa xuống, tay chống đổi làm đồng vác, khi ấy hãy mangcon trong dạ, bận bụi xin theo chốn sa trường;

Cuộc phong lôi tin tức hãy chưa thông, q uế phi dung luống chịu nắng mưa, cơn trừ

đành bồng trẻ xuống thuyền, lặn mọc quyết tầm nơi chiến địa.]

Hiệp tan khi ấy rất gay go;

Ân ái đoạn này thêm thấm thía

Hay đâu nỗi dây oán thù lại kết, anh vớ thử tay con tạo hóa, dầu những cánh trùnggan chuột, một chút nào nghĩ dạ Trang sanh;

Bỗng phút chốc buồm tình ái kịp buông, anh lo vì gánh nặng cang thường, chí sờnvuốt biển nanh trời, chín tầng quyết trắng mình trương thị !

Nơi kinh quốc ba hồi trống gióng, biện bạch này oan nọ ức, đấng hiền lương mắtthấy thảy đau lòng;

Giữa tỉnh đường một tiếng hét vang, hẳn hòi lẽ chánh lời nghiêm, đứa bạn lảng tainghe đều hết vía

Líu lo tuy cuộc thế chưa xong;

Anh để nàng chẳng bằng tiền bằng của, mà bằng cái tư lương;

Anh giết nàng chẳng bằng gươm bằng đao, mà bằng cái khổ luỵ

Ôi!

Trang 31

Gươm ân ái không mài mà lẻm lẻm, người ta mặn nồng chồng vợ, bao đành dứtmối tình duyên;

Ngựa quan âm không giận bỗng đùng đùng, người ta mắc cuộc tai nàn, bao nỡ dứtđường sinh tử

Phụng lìa đôi chếch mác, đừng nói sửa sang giềng mối, khi túng thiếu manh quầntấm áo, biết lấy ai mà cậy nhờ;

Gà mất mẹ chít chiu, đừng nói nhắc biểu học hành, khi lạt thèm miếng bánh đồnghàng, biết theo ai mà thỏ thẻ

May nhờ có ngoại gia nương cậy, sống đặng nhờ thác cũng đặng nhờ;

Luống trông cho cuộc thế xong xuôi, sớm chẳng thấy mai đều chẳng thấy

Phải chi em chưa thoát nơi trần tục, nỗi oán thù sớm đặng sạch chùi;

Phải chi em chưa lên chốn non tiên, đứa bạn đảng dám đâu lừng lẫy

Phước nhà đặng rảnh mình cao sĩ, vượt mấy sông em dắt chút mẹ già;

Màn loan sao vắng dạng tiên nga, vầy một ngõ anh khóc cùng ba trẻ

Thơ tử biệt anh ngâm vài chập, đặng tỏ qua tấm dạ bi thương;

Rượu chung thuỷ tình anh rót vài ly, ngỏ cùng tấc lòng chung thuỷ

(Hợp tuyển thơ văn Việt Nam 1858 -1930, Nxb Văn học, Hà Nội 1984)

Chú thích:

- Biện bạch: Trình bày lí lẽ, bác lí lẽ của người buộc tội, nêu nỗi oan của mình.

- Đấng hiền lương: Người có đạo đức tốt.

- Tỉnh đường: Nơi cửa quan ở tỉnh.

- Lẽ chánh, lời nghiêm: Lẽ chính đáng, ngay thẳng, lời nghiêm minh.

- Đứa bạn đảng: Kẻ làm việc trái, việc gian.

- Líu lo: Còn rắc rối (cần phân biệt với tiếng chim hót).

- Ỷ: Khẩu ngữ, có nghĩa: ấy là, đúng như thế.

- Khôn ví: Không thể so sánh.

- Rủn chí: Nản chí.

- Cây dương liễu là tên ly biệt: Người xưa khi tiễn nhau đi xa thường bẻ một cành

liễu đưa nhau, thơ xưa dùng hình ảnh ấy để chỉ sự ly biệt

- Hoa phù dung: Hoa có màu hồng rất đẹp, thường được ví với má hồng phụ nữ.

Thế nhưng hoa chóng tàn như những phụ nữ tài sắc thường có phận số không tốt (Hồngnhan bạc phận) Vì thế hoa phù dung thường gợi chuyện thương đau

- Thanh danh: Tiếng thơm và tên được ca ngợi.

- Phước lí: Chốn nhiều phước đức.

- Để: Để lại cho vợ.

- Cái tư lương: Lo liệu mọi việc, xem xét lại mọi việc mình làm tốt hay xấu.

- Khổ lụy: Khổ sở khó nhọc rất nhiều.

Trang 32

- Lẻm lẻm: Rất bén, rất sắc.

- Ngựa quang âm: Quang âm là sáng tối, chỉ thời gian; ngựa quang âm: thời gian

qua nhanh như ngựa qua cửa sổ

- Phụng lìa đôi: Chim phụng hay còn gọi là phượng thường trống mái đi với nhau,

nói ý vợ chồng sum họp, hạnh phúc

- Chếch mác: Lệch, mất cân bằng.

- Giềng mối: ý nói kỉ cương, nền nếp trong gia đình.

- Cao sĩ: Người có học và có đạo đức, tư cách cao.

- Màn loan: Màn có thêu hình chim loan, nói nơi phụ nữ ở.

- Tiên nga: Người phụ nữ nhan sắc, đẹp như tiên trên trời.

- Vài chập: Vài lần.

BÀ BÁN CAU

Huỳnh Văn Nghệ

Nắng hạn, đường xa nối chân mây

Còn đi đâu, đi mãi hỡi ai?

Mặc gánh nặng oằn hai vai chịu,Dưới trời mưa lửa chỉ châu mày

Người ơi! Cảnh ấy dẫu trăm năm,Ngàn năm hay muôn vạn ngàn năm

Một phút sau nầy con còn sốngCảnh kia còn đốt mãi lòng con

Con đường xe cong uốn trên đồng khô,Xóm làng xa, nắng chang, lim dim ngủ,Trời cao, cao vút điểm mây khô,

Từ giữa trời xanh: nguồn lửa đổ

Trên đường cát xa thăm thẳm ấy,

Bà bán cau, gánh nặng trên vai oằn,

Lẹ làng đi, dưới chân cát cháy,Đầu không ô, nắng đốt chiếc khăn rằn

Gió bốc khói tung lên cuồn bụi trắng,Xóm mờ xa khuất dạng sau rừng tre

Trang 33

Mồ hôi chảy vòng quanh đôi má nám,

Bá bán cau, bước mãi dưới trưa hè

Đã bao lần bóng cây thầm van vỉ:

“Bà già ơi ghé gánh nghỉ chân già!”

Nhưng không nghe, bà cứ đi, đi mãi,

Nhớ chiều nay, trước ngõ, đám con chờ

Ai nhớ người chăng ? Ôi Nguyễn Hoàng

Mà ta con cháu mấy đời hoang

Vẫn nghe trong máu sầu xa xứNon nước Rồng Tiên nặng nhớ thương

Cổ Loa thành cũ ai thăm viếng ?Hoàn Kiếm Linh Quy có trở về ?Bạch Đằng máu giặc chưa phai hận ?

Ai hát giùm tôi giọng gái quê !

Sứ mạng ngàn thu dễ dám quênChinh Nam say bước, quá xa miềnKinh đô nhớ lại, sầu muôn dặm

Ai trả dùm tôi đôi cánh tiên !

1948

(Trích Huỳnh Văn Nghệ - Tác giả và Tác phẩm, tập 2, NXB Đồng Nai, 2008)

Trang 34

-KÒN TRÔ

Lý Văn Sâm

Phụng dừng ngựa lại dưới chân một trái đồi nhỏ để tìm phương hướng Nàng nhìnquanh mình, chỉ thấy rừng cây trùng điệp chìm trong bóng tối mênh mang và ngửa mặtlên cao cũng vẫn một vòm trời chót vót tối om như địa ngục

Phụng bắt đầu thấy bối rối mặc dù xưa nay nàng vẫn có tiếng là gan góc Nàng bắtloa tay hú dài một tiếng: rừng sâu đem tiếng vang trả lại cho nàng Thất vọng, Phụng thởdài lẩm bẩm một mình:

- Bây giờ biết Lành và Đại ở đâu mà tìm? Hai anh ấy cũng đến lạc lối như ta thôi.Khổ quá! Đi săn mà gặp bước này thà ở nhà còn hơn!

Xa tít trong cái huyền bí của đêm rừng, mơ hồ có tiếng thác đổ Phụng lắng tainghe Nàng nói một mình:

- Phải rồi Thác Mu Mi cách đây không xa, mình cứ nghe ngóng và nhắm hướngthác đổ mà về thì đúng

Nàng thúc ngựa đi mau qua đám đế(1) khô Nhiều lần nàng bị những cành cây nhưnhững cánh tay lực lưỡng chìa ra, gạt nàng suýt té xuống ngựa Mãi đến khi gà rừng cấttiếng gáy đầu tiên, Phụng thấy mình vẫn còn lạc lõng giữa thâm khuya Nàng mân mê đốcdao găm giắt bên sườn, tự nhủ:

- Một liều, ba bảy cũng liều! Súng, thì Lành và Đại mỗi người mang một cây Sốmạng ta đành gởi vào ngọn khí giới cỏn con này vậy!

Phụng cúi ôm cổ ngựa, nằm dài trên mình nó, mặc cho nó muốn đưa đi đâu thìđưa Tiếng thác đã tắt từ lâu không còn nghe rõ nữa

Phụng tỉnh lại, thấy mình đang nằm trên một chiếc giường tre lót nệm cỏ Mộtngười đàn ông khoanh tay im lặng bên giường nhìn nàng Phụng nghe nơi trán mình ê êliền đưa tay lên định xem xét Người đàn ông, nãy giờ vẫn ngồi bên, ngăn tay nàng, lễphép nói:

- Thưa bà, bà đừng cử động mạnh, máu ra nhiều Bà để yên độ nửa giờ, ngải sẽhàn bớt vết thương và ngăn không cho máu chảy ra nữa Giờ, bà cứ nằm tĩnh dưỡng, đừng

lo ngại gì hết!

- Nhưng, thưa ngài, Phụng hỏi, tôi muốn biết hiện giờ tôi đang ở đâu?

Nàng vừa hỏi vừa đưa mắt nhìn người đàn ông từ đầu đến chân Gã còn trẻ lắm.Mặt tròn, mắt sáng, đôi môi lúc nào cũng dành sẵn một nụ cười Màu da ngâm ngâm đen,láng như đồng, tỏ rằng gã có rất nhiều sức mạnh Gã mặc theo kiểu người đi săn: đầu độinón vành lớn, chân đi ủng da đen Trông gã oai nghi, hùng dũng lắm

Gã biết Phụng đang tò mò nhìn, liền ngồi thẳng lên nhìn lại Phụng Bốn luồngnhỡn tuyến vừa gặp nhau đã vội tránh nhau

Nghe Phụng hỏi, gã mỉm cười, hỏi lại Phụng:

- Bà có nghe người ta nói đến tên Kòn Trô lần nào không?

Ngày đăng: 14/05/2021, 19:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w