Đặc biệt, PPDH tương tác hay còn gọi là sư phạm tương tác là một PPDH tương đối mới hiện nay, nó vẫn chưa được áp dụng nhiều vào quá trình dạy học trong các trường phổ thông cũng như tại
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN THỊ LY LY
DẠY HỌC CÁC KIẾN THỨC VỀ
“CƠ CHẾ PHÂN TỬ CỦA HIỆN TƯỢNG
DI TRUYỀN” BẰNG PHƯƠNG TIỆN
TƯƠNG TÁC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đà Nẵng – Năm 2014
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN THỊ LY LY
DẠY HỌC CÁC KIẾN THỨC VỀ
“CƠ CHẾ PHÂN TỬ CỦA HIỆN TƯỢNG
DI TRUYỀN” BẰNG PHƯƠNG TIỆN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình khác
Tác giả
NGUYỄN THỊ LY LY
Trang 4Để đề tài khóa luận tốt nghiệp của tôi đạt được kết quả ngày hôm nay, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến người đã luôn sát cánh cùng tôi, luôn tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi là cô Trương Thị Thanh Mai và thầy Trịnh Khắc Đức
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và các bạn sinh viên lớp 10SS , 11SS02 và 12SS khoa Sinh – Môi trường, trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình
Xin chân thành cảm ơn các bạn của tôi đã luôn động viên, nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Ly Ly LỜI CẢM ƠN
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.1 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới PPDH và ứng dụng CNTT trong quá trình dạy học 1
1.2 Xuất phát từ đặc điểm về phần Di truyền học Sinh học 12 - THPT 3
1.3 Xuất phát từ những tính năng mạnh mẽ của phương tiện tương tác 3
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
3 Giả thiết khoa học 4
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài 4
5 Đóng góp mới của đề tài 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ DẠY HỌC TƯƠNG TÁC 5
1.1.1 Trên thế giới 5
1.1.2 Tại Việt Nam 6
1.2 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 8
1.2.1 Cơ sở lí luận của dạy học tương tác 8
1.2.2 Cơ sở lí luận của dạy học quá trình sinh học 13
1.2.3 Cơ sở lí luận của hệ thống dạy học tương tác Activboard 14
1.2.4 Cơ sở của việc dạy học các kiến thức về “Cơ chế phân tử của hiện tượng di truyền” bằng phương tiện tương tác 23
1.2.5 Nguyên tắc thiết kế bài giảng bằng phương tiện tương tác bằng bảng tương tác dựa vào phần mềm ActivInspire 24
1.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 27
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 28
2.2 KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 28
2.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 28
Trang 62.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 28
2.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 29
2.5.2 Phương pháp nghiên cứu ý kiến chuyên gia 29
2.5.3 Phương pháp điều tra cơ bản 29
2.5.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 30
2.4.5 Phương pháp thống kê toán học 30
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN 31
3.1 PHÂN TÍCH NỘI DUNG KIẾN THỨC VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA KIẾN THỨC VỀ “CƠ CHẾ PHÂN TỬ CỦA HIỆN TƯỢNG DI TRUYỀN”, SINH HỌC 12 – THPT 31
3.2 XÂY DỰNG QUY TRÌNH THIẾT KẾ BÀI GIẢNG BẰNG PHƯƠNG TIỆN TƯƠNG TÁC 35
3.2.1 Nguyên tắc lựa chọn bài học để thiết kế bài giảng bằng phần mềm ActivInspire 35
3.2.2 Quy trình thiết kế 35
3.2.3 Ví dụ minh họa 40
3.3 XÂY DỰNG BÀI GIẢNG VỀ “CƠ CHẾ PHÂN TỬ CỦA HIỆN TƯỢNG DI TRUYỀN” BẰNG PHƯƠNG TIỆN TƯƠNG TÁC 45
3.4 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 48
3.4.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 48
3.4.2 Nội dung thực nghiệm 48
3.4.3 Kết quả thực nghiệm 48
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 52
1 Kết luận 52
2 Kiến nghị 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 7THPT Trung học phổ thông
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
3.1 Phân loại nội dung kiến thức thuộc chủ đề “Cơ chế phân tử
của hiện tượng di truyền”– Sinh học 12, THPT 31
3.2 Phân tích mục tiêu kiến thức thuộc chủ đề “Cơ chế phân tử
của hiện tượng di truyền”– Sinh học 12, THPT 32
3.3 Phân tích nội dung kiến thức về “Cơ chế phân tử của hiện
tượng di truyền” trong chương trình Sinh học THPT 33 3.4
Phân bố kết quả xây dựng nội dung dạy học các kiến thức về
“Cơ chế phân tử của hiện tượng di truyền” bằng phương tiện
tương tác
46
3.5 Kết quả thăm dò đánh giá hiệu quả dạy học bằng phương tiện
Trang 93.1 Quy trình xây dựng bài giảng kiến thức về “Cơ chế phân tử
của hiện tượng di truyền” bằng phương tiện tương tác 36
3.8 Kết quả xây dựng bài giảng “Cơ chế phân tử của hiện tượng
3.9 SV tham dự buổi seminar, thảo luận và trao đổi ý kiến với
chuyên gia về việc sử dụng bảng tương tác 49
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới PPDH và ứng dụng CNTT trong quá trình dạy học
Trong điều kiện của xã hội hiện đại, khi khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ, đưa nhân loại chuyển từ nền kinh tế công – nông nghiệp sang nền kinh tế tri thức thì hội nhập trong giáo dục trở thành xu thế toàn cầu Sự bùng nổ CNTT đã tác động đến giáo dục nói chung và hoạt động dạy học nói riêng Trong bối cảnh này, việc đào tạo nguồn nhân lực năng động, sáng tạo là điều kiện tồn tại của mỗi quốc gia, mỗi cơ sở giáo dục Vì vậy, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo là mục tiêu quan trọng của sự nghiệp đổi mới giáo dục ở nước ta hiện nay [2], [8], [9], trong đó đổi mới PPDH được coi là một trong những nhiệm vụ chiến lược [1], [4] Trong “Thông báo kết luận của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), mục phương hướng phát triển Giáo dục và đào tạo đến năm 2020” đã nêu: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục – đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS ” [6, tr.29] Luật Giáo dục 5/2006 khẳng định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS” [6, tr.88]
Hiện nay, các trường học ở Việt Nam đang đẩy mạnh phong trào đổi mới phương pháp học Kết quả bước đầu đã giúp HS tránh được tình trạng thụ động trong học tập, người học có vai trò chủ động hơn trong hoạt động dạy – học
Bên cạnh đó, chỉ thị số 29/2001/CT Bộ Giáo dục và đào tạo cũng đã đưa ra
mục tiêu cụ thể: “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục, đào tạo theo hướng
sử dụng CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp
Trang 11giáo dục, học tập ở tất cả các môn học” Trên cơ sở đó quyết định số 1755/QĐ-TTg
đề án “Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về CNTT & TT” của Thủ tướng chính phủ ngày 22/9/2010 đã xác định đến năm 2015 “Phổ cập ứng dụng CNTT
trong hệ thống giáo dục, y tế”
Một trong những mũi nhọn để đổi mới PPDH là ứng dụng CNTT trong dạy học Thực tế cũng cho thấy, CNTT đang có sức hút rất mạnh đối với giới trẻ, mở ra cánh cửa giúp giới trẻ tiếp cận tới các kênh thông tin phong phú, thỏa sức đam mê hiểu biết cho giới trẻ Cùng với tiến bộ khoa học và kĩ thuật, CNTT đang từng bước
đi sâu vào ngành nghề và đã có những đóng góp nhất định cho việc nâng cao hiệu quả tại mỗi lĩnh vực áp dụng Trong giáo dục – đào tạo, CNTT đã trở thành một công cụ hữu hiệu góp phần thay đổi cách dạy, cách học, nhằm nâng cao chất lượng dạy và học [22] CNTT mặc dù chỉ là một trong những công cụ hỗ trợ cho phương pháp dạy và học tích cực nhưng công cụ này đã thể hiện rõ hiệu quả khi chúng ta vận dụng có phương pháp, có khoa học Với nền tảng GV và HS như vậy, chắc chắn hiệu quả mang lại sau khi ứng dụng CNTT vào dạy và học sẽ thấy rõ rệt [11]
Do đó, dạy học theo phương pháp tiên tiến và hiện đại không chỉ là dạy cho
HS có được kiến thức mà cần phải dạy cho HS tự lực chiếm lĩnh kiến thức, có tư duy sáng tạo và tích cực trong hoạt động nhận thức để phù hợp với yêu cầu của thời đại Có thể nói, thành tựu lớn lao nhất của sự thay đổi ấy trong giáo dục chính là định hướng dịch chuyển từ dạy học lấy người dạy làm trung tâm sang lấy người học làm trung tâm Nhiều tư tưởng, chiến lược, PPDH mới ra đời đều xoay quanh vấn
đề dạy học tập trung vào người học để khai thác tiềm năng sẵn có ở họ, tìm cách tích cực hóa người học, làm cho người học năng động hơn trong quá trình học tập, trong đó đáng kể nhất là chiến lược dạy học hợp tác, dạy học kiến tạo, dạy học dựa vào giải quyết vấn đề, dạy học dựa vào dự án, dạy học dựa vào tương tác [21] Đặc biệt, PPDH tương tác (hay còn gọi là sư phạm tương tác) là một PPDH tương đối mới hiện nay, nó vẫn chưa được áp dụng nhiều vào quá trình dạy học trong các trường phổ thông cũng như tại các giảng đường đại học
Dạy học dựa vào tương tác là chiến lược dạy học coi trọng tính tích cực, năng động của người học Việc dạy và học được thực hiện dựa trên sự tác động qua lại
Trang 12giữa các thành tố của quá trình dạy học, trong đó quan trọng nhất là sự tác động giữa người học và người dạy, bạn học và môi trường dạy học Chính nhờ vào sự tác động qua lại ấy mà giảm bớt đi đáng kể tính một chiều, tính thụ động của người học
và vai trò của mỗi thành tố trong quá trình dạy học được nâng lên xứng tầm với vị trí của nó
1.2 Xuất phát từ đặc điểm về phần Di truyền học Sinh học 12 - THPT
Phần Di truyền học trong chương trình Sinh học 12 cung cấp những kiến thức phổ thông, cơ bản về di truyền Đây là một lĩnh vực có kiến thức rộng, sâu với các
cơ chế, quá trình phức tạp Khi chương trình SGK 12 cải cách (ban hành năm 2006) được đưa vào triển khai đại trà, các nhà Giáo dục, đội ngũ GV bộ môn đều nhận thấy nội dung kiến thức thuộc lĩnh vực này tương đối nhiều và khó (so với bộ SGK cũ), nhiều kiến thức rất cần sự hỗ trợ của CNTT mới có thể tổ chức các hoạt động học tập có hiệu quả cho HS, ví dụ như các quá trình diễn ra ở cấp vi mô: Tổng hợp ADN, ARN, prôtêin,… Điều đó đã phần nào gây khó khăn cho cả người dạy và người học, đòi hỏi HS phải tư duy tìm tòi để giải quyết các yêu cầu của bài học đồng thời GV cần có sự gia công bài giảng một cách chu đáo và sáng tạo để hoàn thành mục tiêu bài học [18]
1.3 Xuất phát từ những tính năng mạnh mẽ của phương tiện tương tác
Để có thể phát huy tốt dạy học tương tác thì yếu tố CNTT, PTDH hiện đại được sử dụng trong quá trình giảng dạy là không thể thiếu Một trong những phương tiện tương tác mới hỗ trợ rất tốt cho quá trình dạy học tương tác là hệ thống dạy học tương tác Activboard – một sản phẩm của tập đoàn Giáo dục quốc tế Promethean Activboard là hệ thống bảng điện tử thông minh tương tác trực tuyến, tạo môi trường tương tác toàn diện, thu hút sự tập trung chú ý của HS với những bài giảng thật sự sinh động, liên kết với thực tế cuộc sống Hệ thống này được xem là một sự đột phá trong công nghệ giáo dục, có nhiều ứng dụng sư phạm tiên tiến hiện nay và đạt hiệu quả cao trong truyền dạy kiến thức và tiếp thu của HS
Từ cơ sở lý luận thực tiễn vừa nêu, với mong muốn tạo hứng thú, hấp dẫn,
giúp HS phát huy khả năng tự học, chúng tôi quyết định chọn đề tài Dạy học các
Trang 13kiến thức về “Cơ chế phân tử của hiện tượng di truyền” bằng phương tiện tương tác nhằm nâng cao chất lượng học tập của HS
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xây dựng và ứng dụng bài giảng bằng phương tiện tương tác vào trong dạy học các kiến thức về “Cơ chế phân tử của hiện tượng di truyền” với mục đích nhằm nâng cao chất lượng dạy và học
- Hướng dẫn SV sử dụng bảng tương tác và cách thiết kế bài giảng bằng phương tiện tương tác thuộc các kiến thức về “Cơ chế phân tử của hiện tượng di truyền”
- Nâng cao khả năng tương tác của HS trong giờ học sử dụng phương pháp tương tác
3 Giả thiết khoa học
Nếu dạy học các kiến thức về “Cơ chế phân tử của hiện tượng di truyền” bằng phương tiện tương tác được xây dựng phù hợp với mục tiêu, nội dung kiến thức của chương trình sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học và kiểm tra đánh giá học tập
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Khi xây dựng bài giảng bằng phương tiện tương tác thuộc kiến thức về “Cơ chế phân tử của hiện tượng di truyền”, Sinh học 12 – THPT và tiến hành giảng dạy
sẽ góp phần nâng cao khả năng tương tác, tự khám phá kiến thức cho HS và kiểm tra đánh giá, đồng thời giúp đỡ GV trong việc thiết kế bài giảng bằng phương tiện tương tác trong quá trình dạy học
5 Đóng góp mới của đề tài
- Nghiên cứu tình hình dạy học tương tác, cũng như các phương tiện tương tác
trong quá trình dạy học ở trên thế giới và ở Việt Nam
- Hướng dẫn SV sử dụng bảng tương tác và xây dựng bài giảng bằng phương tiện tương tác thuộc nội dung kiến thức về “Cơ chế phân tử của hiện tượng di truyền”, Sinh học 12 – THPT
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU,
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ DẠY HỌC TƯƠNG TÁC
1.1.1 Trên thế giới
Đi tiên phong trong phong trào vận động cải cách giáo dục có một số nhà thực dụng chủ nghĩa có tên tuổi như: Peirce (1893 – 1915), James (1842 – 1910), Schilles (1864 – 1887) Trong số họ, J Dewey (1859 – 1952) là một nhà giáo dục thực dụng nổi tiếng của Mỹ, triết lí giáo dục của ông được hoan nghênh và ứng dụng rộng rãi ở Mỹ và có ảnh hưởng lớn tới nhiều nước ở châu Âu và châu Á Ông xem con người là cái được hình thành dưới sự tác động của nó với môi trường tự nhiên và xã hội, trong những điều kiện, tình huống xã hội cụ thể Nếu thiếu một trong hai yếu tố, con người và xã hội thì khó có thể xem xét các vấn đề giáo dục một cách đúng đắn Ông chủ trương xây dựng “nhà trường hoạt động” – “dạy học qua việc làm”, tư tưởng giáo dục tiến bộ của ông đã hình thành một phong trào giáo dục hiện đại trên khắp thế giới, đặc biệt ở các nước châu Âu và châu Mỹ [13] Trong tư tưởng giáo dục của Dewey có một luận điểm quan trọng được xem là tiền
đề cho chiến lược dạy học này, đó là sự ảnh hưởng của các “tương tác xã hội” trong dạy học
Đến những năm 70 của thế kỷ XX, nhóm tác giả thuộc Viện Đại học Đào tạo Giáo viên (IUFM) ở Greonoble, là Guy Brousseau, Claude Comiti, M Artigue, R Douady, C Margolinas…nghiên cứu về lí thuyết tình huống đã đặt cơ sở khoa học cho những tác động sư phạm thúc đẩy hoạt động học của người học lên mức cao nhất và vẫn không làm lu mờ hay hạ thấp vai trò của người dạy với tư cách là người
“khởi xướng” và cũng là người “kết thúc” một tình huống dạy học Trong những công trình nghiên cứu, các tác giả đã phân tích một số vấn đề cơ bản của dạy học dựa vào tương tác [23]
Lí thuyết dạy học biện chứng của nhà Tâm lý học L.X Vygotsky (1896 – 1915) có tác động không nhỏ tới các trường phái giáo dục hiện đại Ông cho rằng sự
Trang 15phát triển nhận thức diễn ra tốt nhất nơi người học vượt qua “Vùng cận phát triển” thông qua việc hợp tác với bạn và với thầy Cơ chế của việc học là cơ chế kết hợp giữa học cá nhân và học hợp tác, dạy học chính là sự hợp tác hai chiều, thầy hướng dẫn, đạo diễn và trò tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo Quan điểm dạy học tương tác phát triển của L.X Vygotsky đã mở ra một trào lưu dạy học mới – dạy học tích cực (PPDH tích cực) [13].
Như vậy, tư tưởng của các nhà giáo dục từ cuối thế kỉ XIX đến giữa thế kỉ XX
đã sớm thấy được vai trò quan trọng của người học trong dạy học và mối quan hệ của thầy tương ứng là tập trung vào người học, phát huy tính tích cực, thúc đẩy người học tham gia vào quá trình học tập Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu chủ yếu tập trung vào mối quan hệ tương tác người dạy – người học và chưa bao quát hết cấu trúc, chức năng của từng yếu tố, nhất là yếu tố môi trường chưa thực sự được quan tâm nghiên cứu nhiều [21]
1.1.2 Tại Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề vai trò của các thành tố trong hoạt động dạy học đã được quan tâm và xem xét từ rất sớm Cổ nhân ta có câu “Muốn lành nghề, chớ nề học hỏi” hay “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”, “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”, v.v Như vậy, ba yếu tố trung tâm của hoạt động dạy học theo chiến lược dạy học dựa vào tương tác (người dạy, người học và môi trường) đã được các bậc tiền nhân hết sức xem trọng và được đúc kết thành những câu ca dao, tục ngữ để răn dạy đời sau [21]
Trong nhiều thập niên qua, các nhà sư phạm Việt Nam đã có không ít những nghiên cứu đóng góp trong lý luận dạy học, đặc biệt là lĩnh vực PPDH như Đặng
Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Thái Duy Tuyên, Phạm Viết Vượng, Nguyễn Ngọc Bảo, Trần Kiểm, Đặng Thành Hưng và nhiều nhà nghiên cứu khác Các nghiên cứu của các tác giả đã góp phần phát triển lý luận dạy học Việt Nam bắt nhịp với xu thế phát triển các lý thuyết dạy học thế giới, đặc biệt tìm ra những biện pháp ứng dụng các lý thuyết dạy học mới và thực tiễn dạy học nhà trường, nâng cao chất lượng đào tạo, góp phần thúc đẩy công việc đổi mới giáo dục Việt Nam hiện nay Tuy nhiên có thể thấy rằng, hầu hết những công trình
Trang 16nghiên cứu của các tác giả còn mang nặng màu sắc lí luận Chủ yếu nghiên cứu và phân tích chiến lược dạy học này ở bình diện vĩ mô, ở mô hình lí thuyết mà chưa đi vào cụ thể, chưa thực sự có điều kiện gắn với thực tiễn dạy học trong nhà trường Việt Nam
Đã có nhiều cơ sở giáo dục trên toàn quốc tổ chức bồi dưỡng, tập huấn giáo viên dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác như: Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Sư phạm Hà Nội, Cao đẳng Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, v.v Quan điểm dạy học sư phạm tương tác được nhiều nhà khoa học giáo dục, nhà sư phạm quan tâm nghiên cứu và ứng dụng bước đầu mang lại kết quả nhất định, đóng góp cho sự nghiệp đổi mới giáo dục Việt Nam hiện nay Gần đây nhất, một số nghiên cứu của các tác giả: Nguyễn Thị Bích Hạnh về “Biện pháp hoàn thiện kỹ năng tự học cho
SV Đại học Sư phạm theo quan điểm sư phạm tương tác” [10], Nguyễn Thành Vinh
về “Tổ chức dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác trong các trường (khoa) cán
bộ quản lý và đào tạo hiện nay” [24] với cách tiếp cận quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học được nghiên cứu, ứng dụng ở những khía cạnh khác nhau với những đối tượng người học khác nhau; các công trình nghiên cứu của các tác giả đều khẳng định khả năng ứng dụng quan điểm dạy học này vào quá trình dạy học ở nhiều môn học với nhiều đối tượng
Hiện nay ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc ứng dụng phương tiện tác trong dạy học như đề tài “Sử dụng hệ thống dạy học tương tác Activboard trong dạy học hóa học 10 THPT” của Lê Trung Thu Hằng (2010), trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh Qua quá trình nghiên cứu, tác giả đã thiết kế được nhiều bài giảng có sử dụng phương tiện tương tác, đây là nguồn tài liệu hữu ích cho SV và GV tham khảo, sử dụng Tuy nhiên tác giả đã sử dụng phần mềm Activstudio, là phần mềm hỗ trợ dạy học tương tác đầu tiên, giao diện chưa đẹp và ít tính năng Kết quả nghiên cứu đề tài “Ứng dụng phần mềm ActivInspire
để thiết kế bài giảng môn sinh học nhằm nâng cao hiệu quả đánh giá” của Phạm Quang Tiến (2011), trường THPT Vũ Tiên, Thái Bình đã hướng dẫn GV ứng dụng phần mềm ActivInspire để tạo các hoạt động phù hợp với các bước lên lớp Tuy
Trang 17nhiên đề tài chưa có quy trình xây dựng chi tiết cho nội dung giảng dạy tương tác, khó sử dụng
1.2 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Cơ sở lí luận của dạy học tương tác
a Khái niệm tương tác
Theo từ điển Anh – Việt, “Tương tác” xuất hiện trong Anh ngữ là từ
“Interaction” Đây chính là từ ghép, được tạo nên bởi hai từ đơn: Inter và Action Trong đó “Inter” mang nghĩa “Sự nối kết cùng nhau” [17], còn “Action” là “Sự tiến hành làm điều gì, hoạt động, hành động” Như vậy, Interaction – Tương tác là sự liên kết các hoạt động, hành động giữa người này với người khác hay chính là những tác động hai chiều lẫn nhau
Trong từ điển mở Online (Bách khoa toàn thư mở) Wikipedia, “Tương tác (Interaction) có nghĩa là: (1) Là hành động của một vài đối tượng hoặc hành động dựa trên một đối tượng khác; (2) Một cuộc thảo luận hoặc trao đổi giữa người này với người khác” Ở đây, khái niệm tương tác đưa ra dựa trên quan điểm của xã hội học, cũng theo hướng tiếp cận này các tác giả Phạm Tất Dong và Lê Ngọc Hùng cho rằng: “Tương tác có thể được coi là quá trình hành động và hành động đáp lại của một chủ thể này với một chủ thể khác” [7]
Ở góc độ chung nhất, như cách định nghĩa của “Đại từ điển Tiếng Việt” (tác giả Nguyễn Như Ý chủ biên) thì: “Tương tác là tác động qua lại lẫn nhau” [25] Để
có tác động qua lại lẫn nhau thì phải có ít nhất hai đối tượng, chúng đóng vai trò kép, vừa là chủ thể của tác động, vừa là đối tượng chịu sự tác động Chủ thể và đối tượng ở đây có thể là các sự vật hiện tượng trong tự nhiên và xã hội mà không nhất thiết phải là con người
Khái niệm tương tác trong dạy học thường được hiểu dạy theo cấu trúc thuật ngữ tiếng Anh: “Interaction in Teaching and Learning” Dưới cách tiếp cận này, tương tác trong dạy học được Thurmond (2003) định nghĩa như sau: “Tương tác là những cam kết của người học trước nội dung, bạn học, người dạy và các phương tiện công nghệ sử dụng trong chương trình dạy học” Những tương tác theo đúng nghĩa của nó giữa người học – người học, người học – người dạy và các phương
Trang 18tiện công nghệ sử dụng trong chương trình dạy học sẽ tạo ra sự trao đổi lẫn nhau về thông tin Sự trao đổi này nhằm mở rộng sự phát triển tri thức trong môi trường học tập [29] Theo Moonis Raza, D Chandra, Prakash Chander, Onkar Singh: “Trong giáo dục, sự tương tác bao hàm một cách có ý thức sự hợp tác cùng tìm kiếm câu trả lời hay giải pháp Sự phản ứng, do đó là bộc phát và giới hạn trong cá nhân và ý thức riêng lẻ trong khi tương tác là hoạt động nhóm bao gồm các thành viên cùng tham gia tìm kiếm mục tiêu vươn tới” [19]
Những phân tích trên đây giúp ta có cách nhìn toàn diện, đa chiều về khái niệm “tương tác trong dạy học” Từ đó đi đến thống nhất như sau: Tương tác trong dạy học là những mối tác động qua lại chủ yếu giữa người dạy, người học và môi trường (hay nói cách khác gần gũi hơn, đó là sự giao tiếp tích cực giữa các chủ thể của hoạt động dạy học) nhằm thực hiện chức năng dạy học, được hoạch định, tổ chức và điều khiển theo đường hướng sư phạm bởi nhà giáo dục, hướng vào việc phát triển nhận thức và năng lực cho người học
Lí luận dạy học đã chỉ rõ, tương tác trong dạy học là một trong ba nguyên tắc then chốt của dạy học hiện đại Tức là để dạy ai đó học hiệu quả thì bắt buộc phải tạo ra và xử lý tốt các tương tác sư phạm giữa các thành tố trong cấu trúc của hoạt động dạy học
Dạy học dựa vào tương tác thực chất là một chiến lược dạy học hướng vào người học, đề cao tính năng động của người học trong quá trình học tập Dạy học dựa vào tương tác, coi sự tác động qua lại giữa ba thành tố người học, người dạy, môi trường là mục đích, nguyên nhân cho sự phát triển của hoạt động dạy học [21]
b Các dạng tương tác [21]
Cho đến nay, đã có nhiều tác giả với nhiều cách tiếp cận khác nhau, hướng đến những mục đích nghiên cứu khác nhau trong lĩnh vực giáo dục đưa ra cách phân loại tương tác trong dạy học Trên phương diện nghiên cứu đối tượng tham gia tương tác, các tác giả Babanxki (1966), T.A.Ilina (1978), Đanhilop (1980), Savin (1983) [10], hay Moonre, M.G (1993) [28], Anderson, T., & Garrison, D.R (1998) [27] cho rằng các tương tác trong dạy học được quy về ba loại tương tác chính, đó
là tương tác người dạy – người học, tương tác người học – nội dung, tương tác
Trang 19người học- người học Cũng theo hướng tiếp cận này hai tác giả người Canada là Jean- Maxc Denomme và Madeleine Roy cho rằng có ba thành tố trong cấu trúc của hoạt động dạy học, đó là người học, người dạy và môi trường Vì thế, mọi tương tác trong dạy học đều có thể quy về những mối tác động qua lại giữa ba thành tố này Trong định nghĩa về tương tác, Thurmond đã chỉ ra ít nhất 4 kiểu tương tác trong dạy học: người học – nội dung, người học – người học, người học – người dạy, người học – phương tiện công nghệ Cũng theo hướng tiếp cận này, hai tác giả người Canada là Jean MacDnome và Madeleine Roy cho rằng, tương tác trong dạy học là sự tác động qua lại giữa các thành tố trong cấu trúc của hoạt động dạy học, chúng bao gồm: người học, người dạy và môi trường [15], [16] Như vậy các tương tác chủ yếu trong dạy học theo hai tác giả này là: tương tác người dạy – người học, người học – người học, người dạy, người học – môi trường dạy học
Như vậy, vấn đề phân loại các tương tác trong dạy học rất phức tạp và có nhiều quan điểm khác nhau Nếu dựa vào các hiện tượng để phân loại thì rõ ràng là khó khăn và vô ích, bởi hiện tượng thì luôn thay đổi và việc phân loại sẽ chẳng bao giờ kết thúc Theo đó, các tương tác trong dạy học có thể chia thành 3 dạng chính: tương tác người học – người dạy, tương tác người học – người học và tương tác người dạy – người học với môi trường Toàn bộ những mối tương tác này được khái quát theo mô hình sau [21]:
Trang 20Hình 1.1 Các mối quan hệ tương tác chính trong dạy học
* Tương tác người dạy - người học
Đây là một trong những mối quan hệ tương tác chủ đạo trong dạy học, có chức năng chính trong việc thúc đẩy hoạt động dạy học theo mục tiêu đã định Đồng thời
là phương tiện hữu hiệu để cả người dạy và người học cùng điều chỉnh hoạt động của bản thân, giúp cho quá trình dạy học luôn nằm trong tầm kiểm soát, loại bỏ được khả năng chệch hướng và đảm bảo tính vừa sức đối với người học
Người học thông qua hoạt động học, tác động đến người dạy hệ thông tin dưới dạng các câu hỏi, lời bình luận hoặc bằng thái độ, cử chỉ,… Đáp lại tác động này từ phía người học, người dạy tác động bằng các thông tin như câu trả lời, các thông tin phụ, sự động viên hay bằng hội thoại trao đổi với người học về vấn đề người học quan tâm để họ có được những thông tin ý nghĩa cho định hướng tiếp theo của mình
Người dạy bằng phương pháp sư phạm của mình đã tác động đến người học thông qua những gợi ý về hướng đi, chỉ ra các giả thiết phải vượt qua, các phương pháp và phương tiện cần sử dụng để người học đạt được các mục tiêu học tập đề ra Xét về tương quan nắm thế chủ động của mối quan hệ tương tác này thì cơ bản có
xu thế nghiêng về phía người dạy, tức là người dạy thường áp đặt, điều khiển thậm chí khống chế trong quan hệ tương tác giữa bản thân người học Tuy nhiên theo quan điểm hiện đại thì nó phải vận hành theo hướng ngược lại mới đúng, nghĩa là người học cần nắm thế chủ động, tích cực thực hiện và tham gia tương tác với thầy
để tìm kiếm nguồn động lực, tìm kiếm đường hướng giải quyết vấn đề của bản thân hay nhiệm vụ học tập Chừng nào sự dịch chuyển vai trò nắm thế chủ động từ thầy sang trò được thực hiện tối ưu, thì khi ấy quá trình dạy học mới thực sự là hướng vào người học, người học mới đặt vào vị trí trung tâm như định hướng đổi mới PPDH ngày nay mong đợi
* Tương tác người học - người học
Tương tác người học – người học trong dạy học khác biệt với các kiểu tương tác khác, trước hết đó là tương tác bên trong và giữa các chủ thể người học với nhau
và các tương tác này đều có cùng một chức năng là học tập Trên thực tế, quan hệ
Trang 21tương tác này có ý nghĩa lớn nhất trong việc phát triển người học như nhận định của Vygotsky “Hoạt động bên trong của người học được kích thích và thức tỉnh nhờ vào
sự trợ giúp, cộng tác của người lớn hay bạn bè ” Hay như Comenxki khẳng định:
“Người học sẽ có lợi từ việc dạy cũng như học từ bạn bè mình” Như vậy, tương tác người học - người học trong dạy học được hiểu là quá trình giao tiếp nhằm trao đổi lẫn nhau về mặt thông tin, ý tưởng, quan điểm, tình cảm ở bên trong và giữa các chủ thể người học với nhau nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ học tập
Như vậy tương tác người học - người học có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình học tập của mỗi cá nhân Chính nó tạo ra sự phát triển mạnh mẽ nhất ở người học Do đó, khi tổ chức các tương tác sư phạm trong quá trình dạy học, người dạy phải điều khiển theo hướng dịch chuyển mọi dạng tương tác về quan hệ tương tác này (mà quan trọng nhất là tương tác nội tâm) Bởi chỉ khi nào người học tích cực trao đổi, chia sẻ, thậm chí cạnh tranh với nhau trong học tập, chỉ khi nào họ day dứt, băn khoăn với vấn đề trong tâm trí, thì khi ấy họ mới thực sự học và cho dù kết quả của các tương tác đó là gì thì cũng đã được xem là thành công trong dạy học
* Tương tác người dạy, người học – môi trường
Môi trường dạy học được xem xét một cách toàn diện, đó là tất cả những yếu
tố bên trong và bên ngoài người học và người dạy, có tác động, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp lên hoạt động của họ Theo hướng tiếp cận tổng thể, môi trường xung quanh tác động tới người học, người dạy và hoạt động của họ trên những phương diện sau: 1) Tác động từ phía bên ngoài chủ thể của hoạt động dạy học, bao gồm: môi trường vật chất xung quanh, bạn học, gia đình, nhà trường, xã hội; 2) Tác động
từ phía bên trong chủ thể, bao gồm: tiềm năng, xúc cảm, giá trị, vốn sống, phong cách, nhân cách… Như vậy, việc tác động cải tạo môi trường dạy học nhằm nâng cao tính tương tác của môi trường dạy học cần tiến hành một cách tổng thể từ việc cải tạo môi trường vật chất như: nhiệt độ, ánh sáng, âm thanh, đến việc chuẩn bị
cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng dạy học; tạo bầu không khí thân mật, vui vẻ hợp tác trong lớp học; sự chuẩn bị về tâm lí, kiến thức nền để người học tham gia vào quá trình tương tác tích cực với các thành tố khác trong hoạt động dạy học để đồng hoá tri thức
Trang 22Như vậy, người dạy cần tổ chức môi trường dạy học để có thể đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu người học Việc tổ chức môi trường hoạt động và giao tiếp của người học, kiểm soát và động cơ hoá môi trường theo hướng phục vụ cho mục tiêu học tập của người học, được xem là tiền đề quyết định của việc giảng dạy theo đúng bổn phận của người thầy Trong phạm vi ảnh hưởng của mình, người dạy có thể tạo lập môi trường dạy học hiệu quả thông qua việc thiết kế và tổ chức các tình huống dạy học Tác giả Đặng Thành Hưng cho rằng: “Người dạy có trách nhiệm tổ chức và có vai trò quyết định chất lượng của môi trường học tập thông qua các tình huống dạy học được tạo ra ở bên ngoài cả người dạy lẫn người học” [14]
1.2.2 Cơ sở lí luận của dạy học quá trình sinh học
a Khái niệm quá trình và quá trình sinh học
* Quá trình là “trình tự, các bước diễn biến và phát triển” [26] là “Trình tự phát triển, diễn biến của một sự việc nào đó” Như vậy, tính “trình tự ” hay “xảy ra theo thứ tự” được xem là đặc trưng cơ bản của quá trình
* Quá trình sinh học, theo Đinh Quang Báo: “Quá trình sinh học phản ánh một chuỗi sự kiện, hiện tượng liên tiếp xảy ra theo một trình tự chặt chẽ, có tính định hướng rõ rệt” Cũng theo các tác giả này: “Nói tới một quá trình sinh học là nói tới các cấu trúc (thành phần), sự vận động và tương tác của các thành phần theo một trình tự nhất định, trong điều kiện xác định Tính định hướng, tính tự điều chỉnh, tính thống nhất là những đặc điểm nổi bật của các quá trình sinh học” [3]
Quá trình sinh học có thể có các loại như sau: Quá trình sinh hóa, sinh lý, di truyền…ở mức phân tử: nhân đôi ADN, tổng hợp ARN, tổng hợp prôtêin,…; quá trình sinh lí, di truyền ở mức tế bào, cơ chế: quang hợp, hô hấp, đồng hóa, dị hóa, hấp thu, phân bào, hình thành giao tử, thụ phấn, thụ tinh, thoát hơi nước, sinh sản, quá trình phát triển cá thể…; các quá trình sinh thái, tiến hóa ở mức trên cơ thể (quần thể, quần xã và hệ sinh thái): thích nghi, hình thành đặc điểm thích nghi, hình thành loài mới, sự tiến hóa của sinh giới,… Tùy theo từng tác giả sẽ có các cách phân loại khác nhau
Như vậy, việc phân loại các quá trình sinh học, nhận thức đầy đủ nội dung và
ý nghĩa sinh học của nó, lựa chọn phương pháp và PTDH thích hợp để dạy thành
Trang 23công một quá trình sinh học cụ thể là một việc không dễ dàng, cần phải có những nghiên cứu cụ thể để nâng cao chất lượng dạy HS học nói chung và dạy quá trình sinh học nói riêng
b Phương pháp giảng dạy quá trình sinh học [26]
Khi giảng dạy một quá trình sinh học nên thực hiện theo các bước sau đây:
Bước 1 Mô tả diễn biến của quá trình: Yêu cầu của bước này là trình bày các
sự kiện theo đúng trình tự từ lúc khởi đầu đến lúc kết thúc Trong đó nêu rõ tính định hướng, tính liên tục, thống nhất của quá trình xảy ra, tập trung sự chú ý của HS vào những sự kiện cơ bản nhất, tức là những mốc quan trọng Nói cách khác, bước này phải nêu được các giai đoạn chính, các cấu trúc tham gia vào quá trình đó
Bước 2 Phân tích cơ chế của quá trình: Cần phân tích rõ chức năng của từng
cấu trúc và sự tương tác giữa các cấu trúc; đồng thời phân tích rõ điều kiện để quá trình xảy ra theo một hướng nhất định, cũng như xác định được cấu trúc chủ yếu nhất của quá trình
Bước 3 Nêu ý nghĩa của quá trình: Việc nêu ý nghĩa sinh học của quá trình
như tác dụng đối với sự sống của cơ thể, đối với sự tiến hóa, đối với đời sống của sinh vật, đối với sản xuất, đối với y học
1.2.3 Cơ sở lí luận của hệ thống dạy học tương tác Activboard
a Sự ra đời và phát triển của hệ thống dạy học tương tác Activboard [5]
- Hệ thống dạy học tương tác Activboard được sản xuất đầu tiên vào năm 1996 bởi Tập đoàn Giáo dục Promethean ở Anh, nó được xem như sản phẩm nòng cốt trong việc dựng lớp học tương tác thế kỷ 21
- Tập đoàn Giáo dục Promethean được thành lập vào thập niên 70 bởi Tony Cann, có trụ sở chính tại Blackburn; là tập đoàn đa quốc gia với các văn phòng đại diện tại Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Trung Quốc, Hồng Kông
- Mục tiêu của tập đoàn là nâng cao chất lượng và môi trường giáo dục Tập đoàn là đơn vị tiên phong về lĩnh vực xây dựng lớp học tương tác, đưa truyền thông
Trang 24đa phương tiện phục vụ dạy học Tập đoàn luôn trân trọng những phản hồi từ GV và không ngừng cải tiến sản phẩm nhằm phục vụ công việc giảng dạy của GV
b Các thành phần của hệ thống dạy học tương tác Activboard [5]
Hệ thống dạy học tương tác Activboard bao gồm: bảng tương tác thông minh Activboard, bút điện tử Activpen, phần mềm thiết kế bài giảng, hệ thống phản hồi trắc nghiệm Activote,…
* Bảng tương tác thông minh Activboard
- Khái niệm: Bảng tương tác thông minh Actiboard thay thế cho bảng đen, là
bảng điện tử kết hợp với máy chiếu đa năng có tác dụng như màn hình hiển thị và cho phép tương tác trực tiếp trên bề mặt bảng bằng bút tương tác Activpen
+ Có giá điều chỉnh được độ cao của bảng theo ý muốn
+ Giảm thiểu độ chói và độ bóng, mang lại độ phân giải tối ưu trên màn hình
* Bút dạy học tương tác Activpen
- Activpen là bút điện tử tự hoạt động, không dùng pin, giao tiếp với máy tính thông qua tương tác với bảng điện tử hoặc bảng điều khiển Nó có thể làm mọi thứ
mà một con chuột máy tính có thể làm
Trang 25+ Drag bút: Nhấp vào đối tượng muốn di chuyển, giữ cho đầu bút hướng xuống bảng và sau đó di chuyển bút Đối tượng đã nhấp sẽ di chuyển cùng với bút + Nhấp đúp: Nhấp đầu bút nhanh và nhẹ để thực hiện hành động tương tự như nhấp đúp chuột
* Phần mềm thiết kế bài giảng
- Hệ thống dạy học tương tác Activboard có 2 phần mềm là Activprimary và Activstudio, đến nay phiên bản mới nhất là phần mềm ActivInspire
+ Activprimary là phần mềm được thiết kế một cách chi tiết để cải tiến kinh
nghiệm dạy và học trong những năm đầu tiên và cho trẻ từ 4 – 10 tuổi Giao diện đơn giản và dễ sử dụng cho phép truy cập vào những tính năng và tùy chọn của phần mềm, khuyến khích việc thu hút tâm trí trẻ vào bài học bằng cách kích thích
sự hăng hái của trẻ
+ Activstudio là phần mềm giúp tạo ra lớp học tương tác, trong đó GV có thể
thực hiện phương pháp giảng dạy mang tính tương tác và khả năng tiếp thu bài giảng của HS tốt hơn ActivInspire được phát triển nhằm đáp ứng các yêu cầu của
GV và HS
+ ActivInspire là phần mềm đa năng, thân thiện và thú vị dành cho GV Phần
mềm có giao diện đẹp, công cụ tích hợp, đủ chức năng tạo nên trải nghiệm lý thú như ngoài đời thật cho HS Nhiều GV đã thích thú sử dụng phần mềm ActivInspire Đặc biệt tính tương tác hai chiều giữa GV, HS và nội dung bài học Áp dụng được các phương pháp sư phạm để minh họa và mô phỏng nội dung bài học GV, HS chủ động tương tác trực tiếp trên bài học của mình mà không phải theo lịch trình có sẵn
Từ đó, GV có thể tạo ra những hoạt động học tập ngay trên lớp nên hiệu quả học tập
sẽ được nâng cao
- Hiện nay đã có trên 5 triệu bảng tương tác thông minh được GV sử dụng trong lớp học tại 80 quốc gia trên thế giới Tại Việt Nam, các trường quốc tế, công lập và dân lập đang sử dụng phổ biến và ứng dụng hiệu quả
- Hệ thống dạy học tương tác Activboard đã đoạt nhiều giải thưởng của các tổ chức giáo dục uy tín quốc tế [12]
Trang 26Hình 1.2 Giao diện của phần mềm ActivInspire khi khởi động
* Hệ thống phản hồi trắc nghiệm Activote
Là hệ thống không dây, có hình quả trứng và dễ sử dụng, có chức năng như một hệ thống kiểm tra đánh giá Với khuynh hướng học và kiểm tra trắc nghiệm như hiện nay thì kết hợp câu hỏi trắc nghiệm với hệ thống phản hồi là HS có thể trả lời bằng cách chọn A, B, C hoặc D và trả lời được dạng câu hỏi đúng sai GV có thể biết được từng HS không trả lời hay trả lời, trả lời sai hay đúng, và trả lời trong giây thứ bao nhiêu Sau đó GV có thể xuất ra Excel để tổng kết lại Đây là phương pháp hiệu quả, nhanh chóng để nhận các ý kiến phản hồi từ toàn thể lớp học, tạo động lực cho cả những HS e ngại nhất và không khí lớp HS đông GV có thể đánh giá năng lực HS qua kết quả trả lời và biểu đồ kết quả ngay lập tức
c Lợi ích của hệ thống dạy học tương tác Activboard
- GV và HS có thể viết bảng trong quá trình học như với bảng đen phấn trắng chứ không phải GV trình chiếu cho HS xem
- Hệ thống phản hồi trắc nghiệm Activote giúp cho việc củng cố bài bằng hình thức trắc nghiệm được thực hiện nhanh chóng và hiệu quả
- GV không còn lệ thuộc vào máy tính khi giảng dạy (GV đứng tại bảng và tương tác trực tiếp với bảng, GV có thể đi quanh lớp để quan sát HS và sử dụng bảng dành cho GV)
- Có lợi cho sức khỏe người sử dụng vì không còn dùng phấn
- HS có thể tương tác trực tiếp trên bảng trong suốt quá trình học với GV
d Hướng dẫn sử dụng hệ thống dạy học tương tác Activboard [5]
* Hiệu chỉnh bảng Acitvboard
Trang 27Khi bảng hoặc máy chiếu bị di chuyển thì việc hiệu chỉnh này sẽ canh cho đầu Activpen khớp với con trỏ trên màn hình Có hai cách để hiệu chỉnh bảng Activboard
* Khám phá các công cụ của phần mềm ActivInspire
ActivInspire bao gồm một số công cụ giúp tạo ra những bài học sống động
nhằm thu hút các HS và sự quan tâm của các em khi học tập tại bảng Hộp công cụ chính bao gồm những công cụ phổ biến sẵn có trong menu các công cụ giúp người dùng có thể thiết kế bài giảng sinh động
Sau đây, là sự hướng dẫn khám phá một vài công cụ :
Chú thích trên màn hình nền (Annotate over Desktop): Đây là một công cụ
cho phép viết những chú thích lên màn hình nền của máy tính Trong cửa sổ của
ActivInspire, một Flipchart mờ được gọi là một Flipchart màn hình nền, được đặt
ngay trên màn hình Sau đó, có thể sử dụng các công cụ trong hộp công cụ chính để tạo ra các chú thích Có thể nhấp vào biểu tượng Chọn (Select) để mở một tài
liệu trong một ứng dụng phần mềm khác và chú thích tài liệu
Camera: Công cụ này cho phép thực hiện một bức ảnh chụp nhanh tức thời
những gì trên màn hình và đặt nó vào Flipchart, bảng ghi tạm hoặc trong thư mục
Trang 28tài nguyên của tôi (My Resources) và tài nguyên dùng chung (Shared Resources) Một loạt những tùy chọn cho phép điều chỉnh kích cỡ và hình dạng của những bức ảnh chụp nhanh phù hợp với nhu cầu
Chức năng biểu quyết (Express Poll): Công cụ này cho phép nhanh chóng
hỏi các HS một câu hỏi và ghi lại những câu trả lời của các em bằng cách sử dụng
các thiết bị Activote và ActivExpression Một công cụ hữu dụng để xác nhận sự
hiểu biết hoặc để khuyến khích khả năng tranh luận
Trình thu âm (Sound Recorder): Công cụ này cho phép ghi lại âm thanh thành 1 tập tin trong Flipchart Ví dụ, có thể tạo ra các trích đoạn âm thanh và liên
kết chúng vào các từ nhằm giúp HS phát âm hoặc ghi lại âm thanh trong khi thực hiện chức năng quay phim màn hình
Trình quay phim màn hình (Screen Recorder): Công cụ này cho phép thu
lại bất cứ những gì xảy ra trên màn hình thành 1 tập tin video (*.avi) Có thể giữ file
âm thanh trong Flipchart, hoặc lưu đến một thư mục tài nguyên và phát lại mỗi khi
cần thiết
Công cụ vén màn hình (Revealer): Công cụ này che phủ trang Flipchart Công cụ đèn chiếu điểm (Spotlight tool): Công cụ này cho phép chọn lọc ẩn
hiện các vùng trong trang Flipchart
Có thể di chuyển đèn chiếu điểm đến các vị trí khác nhau và:
- Ẩn màn hình, nhưng chỉ hiển thị vùng hình tròn hoặc hình chữ nhật của đèn
* Khám phá các trình duyệt của ActivInspire
Trang 29- Trình duyệt trang (Page Browser) : Giúp nhanh chóng kết hợp các cơ
sở cho trang Flipchart, cho phép sắp xếp lại các trang bảng lật (Flipchart) bằng
cách kéo và thả chúng trực tiếp trong trình duyệt Cũng có thể kéo các trang từ trình duyệt trang và thả chúng lên bất kỳ trang bảng lật nào để sao chép các trang giữa các bảng lật đang mở
- Trình duyệt tài nguyên (Resource Browser) : giúp nhanh chóng xem, định hướng và sử dụng các tài nguyên được cung cấp cùng ActivInspire để làm giàu Flipchart Thư viện Tài nguyên có rất nhiều trò chơi và các hoạt động, chú giải, đánh giá, hình nền, các bản đồ khái niệm, hình ảnh, hình dạng, âm thanh và những hạng mục khác
- Trình duyệt đối tượng (Object Browser) : Có tất cả 4 lớp trong trang
Flipchart:
+ Lớp trên cùng: Là các đối tượng được tạo ra bởi các công cụ Bút (Pen) ,
Bút dạ quang (Highlight) , Magic Ink
+ Lớp giữa gồm: Hình ảnh, hình dạng và các đối tượng văn bản
+ Lớp dưới cùng: Có thể kéo và thả các đối tượng khác lên tầng này
+ Lớp nền: Nền, lưới và màu trang
Nhấp chuột vào trên thanh để vào trình duyệt
đối tượng (Object Browser)
Hình 1.3 Trình duyệt đối tượng (Object Browser)
Trong trình duyệt đối tượng hiển thị tất cả các đối tượng có trên trang Flipchart dưới dạng biểu tượng đã tạo ra chúng và tên đối tượng Trình duyệt hiện
Trang 30rõ đối tượng nào ở tầng trên (Top layer), tầng giữa (Middle layer) và tầng dưới cùng (Bottom layer)
- Trình duyệt ghi chú (Note Browser) : Sử dụng trình duyệt ghi chú để bổ sung ghi chú và nhận xét cho trang Flipchart, giúp cho việc chia sẻ và tái sử dụng
được dễ dàng Nhấp chuột vào biểu tượng để mở trình duyệt ghi chú
Hình 1.4 Trình duyệt ghi chú (Note Browser)
Nhấp chuột vào khung trình duyệt ghi chú để gõ ghi chú dưới dạng văn bản đơn giản Hoặc sử dụng thanh công cụ định dạng văn bản để điều chỉnh văn bản
- Trình duyệt thuộc tính (Properties Browser) : Giúp xem sơ bộ tất cả
các thuộc tính của một đối tượng
+ Thuộc tính chứa (Container): Tạo ra các hoạt động Trong đó, các đối tượng
chứa được những đối tượng khác
+ Thuộc tính nhãn (Label): Bổ sung nhãn (các ghi chú, các chú giải) vào một
đối tượng và xác định hình thức và tính năng của nhãn
+ Thuộc tính xoay (Rotate): Điều khiển cách xoay một đối tượng trên trang
+ Bộ hạn chế (Restrictors): Đặt ra các quy tắc hạn chế sự di chuyển của các
đối tượng
- Trình duyệt thao tác (Action Browser) : Giúp liên kết nhanh chóng một
thao tác với một đối tượng Điều này có nghĩa là khi chọn đối tượng thì thao tác đã liên kết với đối tượng sẽ được thực hiện
e So sánh hệ thống dạy học tương tác Activboard và PowerPoint trong thiết kế bài giảng
Trang 31Đặc điểm Activboard PowerPoint
Ưu điểm
- Nhiều công cụ thiết kế bài giảng sinh động như tô sáng, tô màu tạo điểm nhấn, công cụ đèn chiếu điểm, màng khám phá, kính lúp, ghi âm, ghi hình, ghi lại các thao tác thực hiện trên bảng
- Tạo môi trường tương tác toàn diện
- Thu hút sự tập trung chú ý, tham gia của người học ngay cả những trẻ thụ động, e ngại nhất Kích hoạt khả năng tư duy, sáng tạo của người học
- Giúp người học có thể dễ dàng hình dung và có khái niệm chính xác về các hình ảnh, sự vật, âm thanh,…
- Khuyến khích người học hình thành kiến thức thông qua thực hiện và thử nghiệm
- Có nhiều hiệu ứng, màu sắc, kiểu chữ phong phú tiện lợi cho việc tạo bài giảng hấp dẫn, linh hoạt và sư phạm
- Khả năng sử dụng hiệu quả các hình ảnh, phim, các tư liệu dạy học một cách nhanh chóng và đảm bảo chất lượng
- Tiết kiệm nhiều thời gian viết, vẽ trên lớp
- Thuận lợi cho việc sử dụng các PPDH tích cực
Nhược điểm
- Thiếu bút chuyên dụng dẫn đến quá trình dạy học khó khăn
- Hiệu ứng hình ảnh bị hạn chế nên bài giảng thiếu tính thẩm mỹ
- Tốn nhiều thời gian cho việc sử dụng phương tiện tương tác trong giảng dạy
- Yêu cầu GV phải có khả năng
- Vấn đề kĩ thuật sử dụng máy tính, máy chiếu còn gặp khó khăn ở nhiều GV
- Nếu không có mục đích sử dụng PowerPoint một cách hiệu quả các ưu thế của phần mềm này, có thể sẽ trở thành nhược điểm lớn : HS thích
Trang 32thiết kế bài giảng phong phú, đòi hỏi hình thức tổ chức linh động
- Chi phí đầu tư trang thiết bị dạy học cao, khó triển khai một cách đồng đều ở từng khu vực, vùng miền
học vì mới lạ nhưng tâm lí bị phân tán; lạm dụng nhiều hiệu ứng khiến HS mất tập trung, không theo dõi được bài học, không ghi được nội dung cơ bản của bài học
1.2.4 Cơ sở của việc dạy học các kiến thức về “Cơ chế phân tử của hiện tượng di truyền” bằng phương tiện tương tác
a Dựa vào mục tiêu bài học
Mục tiêu tổng quát của việc dạy học cơ chế phân tử của hiện tượng di truyền – Sinh học 12, THPT nhằm hình thành cho người học những kiến thức cơ bản và có
hệ thống của các hiện tượng di truyền ở cấp độ phân tử, đồng thời giải thích một số hiện tượng di truyền trong tự nhiên Kết hợp với mục tiêu dạy học hiện nay là phải
“dạy cho HS cách học”, tức là thông qua nội dung cụ thể mà dạy cho HS phương pháp học Cụ thể hóa hai mục tiêu dạy học trên, nội dung kiến thức về “Cơ chế phân
tử của hiện tượng di truyền” – Sinh học 12, THPT cũng đã được xác định được mục tiêu rõ ràng như sau:
* Hình thành kiến thức: Những kiến thức về các cơ chế di truyền và mối quan
hệ giữa chúng Đó là quá trình nhân đôi ADN, phiên mã và dịch mã
* Phát triển tư duy:
- Phát triển năng lực quan sát
- Phát triển năng lực phân tích tổng hợp
- Phát triển năng lực khái quát hóa
* Hình thành nhân cách:
- Hình thành quan điểm biện chứng
- Hình thành thái độ, hành vi bảo vệ sức khỏe cho bản thân và cho cộng đồng
b Dựa trên đặc điểm tâm sinh lý của HS
Trong quá trình dạy học, việc tổ chức các hoạt động tương tác giữa GV và HS điều quan trọng là phải dựa vào tâm sinh lý của người học Nếu phù hợp sẽ gây
Trang 33hứng thú học tập, từ đó việc lĩnh hội tri thức sẽ được tốt hơn Nếu không, thì dù có PPDH mới, PTDH hiện đại thì kết quả học tập mang lại cũng không cao Vì vậy muốn xây dựng một hệ thống hoạt động tương tác để dạy học phải dựa trên đặc điểm tâm sinh lý của HS
Mỗi lứa tuổi khác nhau có các biểu hiện về khả năng nhận thức, tâm lý riêng Với HS – THPT thì khả năng nhận thức tư duy hơn hẳn so với các em thiếu niên Lứa tuổi này HS chín chắn hơn và có xu hướng chọn cho mình hướng đi trong tương lai Đây là lứa tuổi thích học hỏi cái mới, cái đẹp và đòi hỏi GV phải có khả năng sư phạm cao
c Dựa trên quan hệ giữa mục đích, nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học
Trong hoạt động dạy học, mục đích, nội dung, phương pháp và PTDH luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau thông qua chủ thể tương ứng là xã hội Ở đây, GV giữ vai trò chủ đạo, căn cứ vào nội dung dạy học, tình hình HS, các phương tiện hiện có, GV lựa chọn phương pháp tác động vào HS nhằm đạt được mục đích dạy học
Ngày nay với những yêu cầu của giáo dục, việc xét mối quan hệ giữa mục đích, nội dung, phương pháp và PTDH làm cơ sở để thực hiện là không thể thiếu Mặt khác những thành tựu do khoa học công nghệ mang lại cho PTDH ngày càng
có vị trí quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học ở nhà trường Nó cho phép làm cho bài học được sinh động, hấp dẫn hơn
1.2.5 Nguyên tắc thiết kế bài giảng bằng phương tiện tương tác bằng bảng tương tác dựa vào phần mềm ActivInspire [20]
Để định hướng cho việc thiết kế bài giảng bằng phương tiện tương tác bằng phần mềm ActivInspire, cần dựa vào các nguyên tắc sau:
a Đảm bảo tính sư phạm
- Tập trung được sự chú ý của HS vào bài giảng
- Màu sắc sử dụng cần hài hòa, phù hợp tâm lý HS và nội dung bài giảng
- Chữ viết đảm bảo mật độ, kích cỡ và kiểu dáng phù hợp
Trang 34- Các minh họa ngành, nghề cần thể hiện tính chuyên nghiệp và chuẩn mực, tương thích với sự kì vọng của HS
- Nội dung và minh họa thể hiện được thái độ tích cực, sử dụng tốt khả năng trình diễn thông tin Multimedia sẽ đảm bảo cho quá trình nhận thức của HS theo quy luật “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng”
- Các trang trình chiếu, các công cụ, các phương tiên phải phù hợp với mục đích dạy và học
b Đảm bảo tính hiệu quả
Xây dựng hồ sơ bài giảng bằng phần mềm ActivInspire cần phải lấy tính hiệu quả làm tiêu chí hàng đầu Việc sử dụng bài giảng phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Thực hiện được mục tiêu bài học
- HS ghi chép được bài, hiểu bài và hứng thú học tập
d Đảm bảo tính tối ưu của cấu trúc cơ sở dữ liệu
Khi thiết kế một phần mềm nói chung, bài giảng nói riêng thì việc xây dựng
cơ sở dữ liệu là một vấn đề rất quan trọng Dữ liệu ấy phải được cập nhật dễ dàng
và thuận lợi, yêu cầu kích thước lưu trữ phải tối thiểu, truy cập nhanh chóng khi cần (nhất là đối với các dữ liệu Multimedia), dễ dàng chia sẻ, dùng chung hay trao đổi giữa nhiều người dùng
Trang 35Đặc biệt với giáo dục, cấu trúc cơ sở dữ liệu phải hướng tới việc hình thành các thư viện điện tử trong tương lai, như thư viện các bài tập, đề thi; thư viện các tranh ảnh, các phim học tập; thư viện các tài liệu giáo khoa, tài liệu giáo viên,… Xây dựng các thư viện tư liệu cho môn học là vấn đề quan trọng đầu tiên cần phải làm, nó quyết định đến chất lượng của việc thiết kế, xây dựng bài giảng điện
tử
e Đảm bảo tính cập nhật nội dung kiến thức của bài giảng
Phải khai thác tối đa khả năng lưu trữ, cập nhật thông tin của máy tính Việc cập nhật để chỉnh sửa, nâng cấp và ngày càng hoàn thiện hệ thống các bài giảng là việc làm có ý nghĩa trong việc hình thành các thư viện tư liệu điện tử, những tiêu chí chuẩn mực của một nền giáo dục điện tử trong tương lai
f Đảm bảo các yêu cầu cơ bản về kĩ thuật
- Về màu sắc của hình nền: Cần tuân thủ nguyên tắc tương phản (Contrast),
chỉ nên sử dụng chữ màu sẫm (đen, xanh đậm, đỏ đậm) trên nền trắng hay nền màu sáng Ngược lại, khi dùng màu nền sậm thì chỉ nên sử dụng chữ có màu sáng hay trắng
- Về font chữ: Chỉ nên dùng các font chữ đậm, rõ và gọn (Arial, Tahoma, VNI
– Helve…) hạn chế dùng các font chữ có đuôi (VNI- times) vì dễ mất nét khi trình chiếu
- Về size chữ: GV thường muốn chứa thật nhiều thông tin trên một flipchart
nên hay có khuynh hướng dùng cỡ chữ nhỏ Thực tế, trong kỹ thuật video, khi dùng máy chiếu Project chiếu lên màn cho khoảng 50 người xem thì size chữ thích hợp phải từ cỡ 20 trở lên
- Về tính cân đối: Giữa các tiêu đề, các đoạn văn bản, các hình ảnh,…trong
một flipchart cũng như trong toàn bộ bài giảng phải có sự cân đối hài hòa với nhau
Vì một bài giảng đảm bảo được tính cân đối thì sẽ bắt mắt hơn, giúp HS dễ dàng theo dõi hơn
- Về trình bày nội dung trên nền hình: Không nên để nội dung tràn lấp đầy nên
hình từ trên xuống, từ trái qua phải, mà cần chừa ra khoảng trống đều hai bên và trên dưới theo tỷ lệ thích hợp (thường là 1/5), để đảm bảo tính mỹ thuật, sự sắc nét