Mời các bạn cùng tham khảo phần 2 Tài liệu Văn học địa phương tỉnh Đồng Nai. Nội dung Tài liệu trình bày các kiến thức về văn học địa phương tỉnh Đồng Nai, lịch sử địa phương tỉnh Đồng Nai, địa lý địa phương tỉnh Đồng Nai.
Trang 1Bài đọc thêm: NÉT KIẾN TRÚC ĐÌNH Ở BIÊN HÒA
Người Việt đã đến vùng đất Biên Hòa từ rất sớm để khai khẩn lập nghiệp Có thểvào khoảng những năm trong thế kỷ XVI Trong quá trình khẩn hoang lập nghiệp trênvùng đất mới, họ từng bước khẳng định sự tồn tại của cộng đồng bằng việc ra sức xâydựng một cuộc sống ổn định Trong đời sống tinh thần, người Việt hình thành những cơ
sở tín ngưỡng sinh hoạt cộng đồng để gắn kết cộng đồng, thỏa mãn nhu cầu tâm linh
Từ lúc ban đầu, đình làng được dựng lên với quy mô nhỏ, bằng những vật liệu vốnsẵn có tại chỗ như tre, lá, cây gỗ Thường thì nhóm cộng cộng đồng dân cư tại một vùngchung sức nhau để dựng lên Về sau, trong quá trình phát triển, những cơ sở tín ngưỡngđược nâng cấp lên cả quy mô lẫn hì nh thức do sự lớn mạnh của chính cộng đồng dân cư
cư trú tại chỗ
Có thể nói, đình làng là một dấu ấn xác định sự hình thành của cộng đồng ngườiViệt trên vùng Biên Hòa Trải qua bao thời kỳ, qua bao thay đổi về đia lý hành chánh haytác động của xã hội thì ngôi đình vẫn tồn tại và ẩn chứa những giá trị nhiều đa dạng.Thông thường, mỗi làng người Việt đều có một ngôi đình Người xưa chọn đất dựng đìnhthờ thần cho nhu cầu tâm linh làng xã nhưng cũng chính là ước vọng sự sung túc, thịnhvượng của cả cộng đồng
Phần lớn những ngôi đình ở Biên Hòa được xây dựng theo kiểu thức kiến trúc nhà
tứ trụ Đây là kiểu thức nhà rường nhưng gian trung tâm gồm 4 cột cái bố trí cách đều; từbốn cột cái, các kèo đấm, kèo quyết đưa ra bốn hướng nhau tạo không gian vuông vức Đây chính là không gian thiêng, trung tâm cho việc thờ tự chính trong đình Ngoài chánhđiện, tùy nơi mà ngôi đình có nhà Võ (Vỏ ca), nhà hội, nhà trù (bếp) Theo truyền thống,trên cuộc đất rộng thì ngôi đình bố trí theo thứ tự như: cổng đình, bình phon g, nhà Võ,chánh điện, nhà hội, nhà trù Nhưng, cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều ngôi đình ởBiên Hòa không theo thứ tự này hoặc không có những nếp nhà ngoài khu chánh điện Tùynơi mà quy mô và các nếp nhà, vật liệu xây dựng, tôn tạo khác nhau nhưng cơ bản chánhđiện những ngôi đình vẫn giữ được dạng kiến trúc truyền thống này Hiện nay trên địabàn Biên Hòa có nhiều ngôi đình được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa Trong năm, lễcácngôi đình thường tổ chức lễ Kỳ yên/ Cầu an rất độc đáo Những ngôi đì nh với những giátrị ẩn chứa trong nó đã làm phong phú thêm những sắc thái văn hóa, đáp ứng được nhucầu tinh thần của người dân Biên Hòa
-Bài đọc thêm : VĂN MIẾU TRẤN BIÊN
Văn miếu Trấn Biên hình thành sớm n hất ở Nam Bộ (năm Ất Mùi – 1715) Lý dochúa Nguyễn Phúc Chu sai Trấn thủ dinh Trấn Biên và Ký lục Phạm Khánh Đức lựa thônTân Lại, tổng Phước Vĩnh (nay là phường Bửu Long, Biên Hòa) để xây dựng Văn miếuTrấn Biên có thể hiểu là vì khi đó Biên Hòa đã là nơi dân cư ổn định, phát triển nhiềumặt
Trang 2Việc hình thành Văn miếu Trấn Biên đối với chúa Nguyễn có ý nghĩa như là sựkhẳng định những giá trị văn hóa và cả chính trị ở một vùng đất mới Gắn liền với Vănmiếu Trấn Biên là một nền giáo dục phát triển khá sớm ở Biên Hòa - Đồng Nai lúc bấygiờ Trên nền giáo dục ấy cũng đã sản sinh ra những tên tuổi làm rạng rỡ vùng đất phươngNam, đồng thời tô điểm thêm truyên thống văn hóa ngàn năm của dân tộc ta như: VõTrường Toản, Trịnh Hòai Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Địn h, Nguyễn Đình Chiểu.
Cũng như những Văn miếu khác, Văn miếu Trấn Biên thờ Khổng Tử, vị khai sángcủa Nho giáo và Nho học Vì thế ngay từ buổi đầu, Văn miếu Trấn Biên trước hết là nơitôn vinh những giá trị của nền giáo dục Nho học Đầu đời trung hưng (trước năm 1802),đích thân chúa Nguyễn đến Văn miếu Trấn Biên để hành lễ hàng n ăm vào ngày đinh mùaxuân và mùa thu Từ đó về sau (khi nhà Nguyễn đã được thiết lập), khâm mạng vua, quanTổng trấn thành Gia Định đến hành lễ cùng với Trấn quan Biên Hòa và quan Đốc học (vịquan xem việc học ở Trấn Biên Hòa ) Lệ đặt mỗi kỳ là 50 lễ lanh và 50 miếu phụ
Bên cạnh là nơi thờ cúng, Văn miếu ở kinh sư (thủ đô) còn có Quốc tử giám đểgiảng dạy học trò Ở Biên Hòa, bên cạnh V ăn miếu là Tỉnh học (trường tỉnh Biên Hòa).Trường học lớn của cả tỉnh này, mãi đến đời vua Minh Mạng mới dời về thôn Tân Lại(phường Hòa Bình, Biên Hòa) Cũng vào thời vua Minh Mạng, Tr ường phủ Phước Long
đã được thành lập ở thôn Bình Lợi, tổng phước Vĩnh (nay là huyện Vĩnh Cửu) Như vậy,Văn miếu Trấn Biên đã đóng vai trò như một trung tâm văn hóa, giáo dục của tỉnh BiênHòa xưa Bởi vậy, khi đáo nhậm (trở lại làm nhiệm vụ cũ), n ăm 1840, quan Bố chánh tỉnhBiên Hòa Ngô Văn Địch đã hết lời ca ngợi Văn miếu Trấn Biên
Do thời gian và những biến cố lịch sử, Văn miếu Trấn Biên bị tàn phá không cònlại dấu vết (theo “Biên Hòa sử lược” của nhà nghiên cứu Lương Văn Lựu, năm 1861 khitiến chiếm Biên Hòa, quân Pháp đã đốt phá Văn miếu Trấn Biên), người đời nay chỉ hìnhdung Văn miếu Trấn Biên xưa qua sử sách Song với những gì được mô tả và người đờilúc bấy giờ xưng tụng, người Biên Hòa -Đồng Nai hôm nay rất đỗi tự hào về ngôi đền Vănmiếu của mình
Năm 1998, kỷ niệm “300 năm hình thành và phát triển vùng đất Biên Hòa - ĐồngNai”, tỉnh Đồng Nai khởi công xây dựng tái tạo công trình Văn miếu Trấn Biên Côpngtrình Văn miếu Trấn Biên đựơc khánh thành vào năm 2002 Việc phỏng dựng lại Vănmiếu Trấn Biên không chỉ là việc làm hướng về cội nguồn, truyền thống, đáp ứng đượclòng mong mỏi của nhân dân mà còn gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa Công trình Vănmiếu Trấn Biên là nơi bảo tồn, gìn giữ và tôn vinh các giá trị văn hóa giáo dục xưa và naycủa dân tộc và của địa phương; đồng thời là một thiết chế văn hóa, du lịch gắn với khudanh thắng Bửu Long đã được côn g nhận là di tích quốc gia Từ khi khánh thành đến nay,Văn miếu Trấn Biên trở thành địa điểm sinh hoạt văn hoá, du lịch thu hút nhiều ng ười.Tại Văn miếu Trấn Biên thường tổ chức tuyên dương cho các cá nhân, tập thể đạt thànhtích đặc biệt của Đồng Nai; đặc biệt trên lĩnh vực văn hóa giáo dục
Trang 3
-ĐỒNG NAI TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP ( 1861 – 1954)
I Thực dân Pháp tấn công và chiếm đóng Biên Hòa
Tháng 8-1858, lấy cớ triều Nguyễn “cấm và sát đạo”, thực dân Pháp với sự hỗ trợcủa quân Tây Ban Nha đã ngang nhiên kéo đến xâm lược nước ta, nơi chúng đánh chiếmđầu tiên là cửa biển Đà Nẵng
Âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của Pháp bị thất bại do sự kháng cự mạnh mẽcủa quân dân Đà Nẵng Sau 5 tháng giằng co sa lầy ở mặt trận Đà Nẵng, Pháp quyết địnhchuyển hướng đánh chiếm Nam Bộ
1 Quân Pháp đánh chiếm Biên Hòa
Tháng 2-1859, sau khi liên quân Pháp – Tây Ban Nha đã chiếm được toàn bộ thànhGia Định Quân Pháp 2 lần tổ chức càn vào khu vực suối Sâu (nay thuộc tỉnh BìnhDương) đều bị quân dân Biên Hòa đánh lui
Tháng 10-1861, phó đô đốc Bonard đã quyết tâm đánh chiếm Biên Hòa bằng
đường thủy và đường bộ.Ngày 13-12-1861, Bonard gửi tối hậu thư cho khâm sai đại thầnNguyễn Bá Nghi đòi quân triều đình triệt thoái các ph áo đài và các vật cản trên sôngĐồng Nai Chưa nhận được trả lời, sáng sớm ngày 14-12-1861 Bonard ra lệnh tiến quânvào Biên Hòa theo bốn ngả Đến ngày 18-12-1861, chỉ sau 4 ngày, với khoảng 1.000quân, thực dân Pháp đã dễ dàng chiếm lấy Tỉnh Biên Hòa, tro ng lúc quan quân triều đìnhnhà Nguyễn ở Biên Hòa có đến 15.000 quân phòng giữ
2 Các phong trào buổi đầu chống Pháp
Ngay từ khi quân Pháp kéo đến Biên Hòa, các tầng lớp nhân dân đã sát cánh bêncạnh triều đình trong cuộc kháng chiến với nhiều hình thức khác nhau Khi triều đình Huếtừng bước nhượng bộ và đầu hàng thực dân Pháp, thì cuộc chiến tranh nhân dân vẫnkhông vì thế mà suy yếu Nhân dân anh dũng đánh giặc ở mọi lúc mọi n ơi khiến cho giặcgặp nhiều tổn thất và khó khăn Tiêu biểu là các phong trào của :
- Một số văn thân ở Biên Hòa như Nguyễn Thành Ý, Phan Trung, mỗi người đã
mộ được 2.000 quân hợp tác với nghĩa quân Trương Định đã nhiều lần tổ chức tấn côngvào các đồn lũy, tàu bè, các toán tuần tra của địch
- Đầu tháng 1 năm 1863, nghĩa quân ở Biên Hòa, gồm cả người Việt và người cácdân tộc thiểu số liên tục tấn công các vị trí quân Pháp ở Đông Bắc Biên Hòa, đã gây rấtnhiều khó khăn và thiệt hại cho Pháp, làm cho chúng không dám ra khỏi đồn lũy
Quân Pháp phải vất vả bình định lại c ác vùng đã bình định trước đó vì tinh thần bấtkhuất và ý chí độc lập của nhân dân Biên Hòa, tình đoàn kết giữa đồng bào Kinh, Th ượngtrong cuộc kháng chiến đánh đuổi kẻ thù xâm lược Nhiều đồn lũy của Pháp ở Biên Hòa
bị tấn công, nhiều nơi quân Pháp phải bỏ đồn rút về Sài Gòn, Pháp phải tăng thêm viện
Trang 4binh giải vây tình thế cho thành Biên Hòa Biên Hòa đ ược xem như một trung tâm xuấtphát của phong trào dân chúng nổi dậy đánh Pháp xâm l ược và lan tỏa về các tỉnh khác ởNam Kỳ.
II Cách mạng tháng Tám 1945 ở Biên Hòa
Ngày 14 tháng Tám, năm 1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng quân Đồng Minh
vô điều kiện Bọn sĩ quan và binh lính Nhật ở Biên Hòa hoang mang rệu rã, chúng án binhbất động ở các địa điểm đóng quân Chính quyền bù nhìn của Nhật ở Biên Hòa hoàn toàn
tê liệt Trong khí thế cách mạng sục sôi của cả nước, nhiều địa phương đã khởi nghĩa vàgiành được chính quyền Thời cơ cách mạng đã chín muồi, ngày 23 tháng 8 năm 1945, tạicăn nhà 62 dãy phố Sáu Sử xã Bình Trước quận Châu Thành, Biên Hòa ( nay thuộc quốc
lộ 1 Phường Trung Dũng, TP Biên Hòa ), đồng chí Hoàng Minh Châu chủ trì cuộc họp,bàn kế hoạch khởi nghĩa giành chính quyền tại Tỉnh lỵ Biên Hòa Thực hiện sự chỉ đạocủa Xứ ủy, Hội nghị đã bàn bạc thống nhất và quyết định một số việc cấp bách chuẩn bịcho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền Trong đó có việc thành lập Ủy ban khởi nghĩa dođồng chí Hoàng Minh Châu phụ trách và dự kiến thành phần Ủy ban nhân dân cách mạnglâm thời tỉnh Biên Hòa
Ngay trong đêm 23 và rạng sáng ngày 24 tháng 8 năm 1945, trong nội ô tỉnh lỵ,nhân dân đã treo cờ đỏ sao vàng, cờ đỏ búa liềm, dán khẩu hiệu khắp các phố chợ trụ sở
Ủy ban khởi nghĩa đặt gần ga xe lửa Biên Hòa luôn tấp nập các đoàn cán bộ ở các địaphương về nhận các chỉ thị khởi nghĩa Hầu hết các tầng lớp nhân dân đều sục sôi cáchmạng, tinh thần quyết tâm giành độc lập dâng cao
Đêm 24 tháng 8, nội ô Biên Hòa và các xã vùng ven như Tam Hiệp, Tân Mai, TânPhong, Bửu Long, Hiệp Hòa, Hóa An, Tân Hạnh, lực lượng cách mạng đã hoàn toàn làmchủ Ngày 25 tháng 8 tin Sài Gòn khởi nghĩa thắng lợi nhanh chóng bay về Biên Hòa, đãlàm nức lòng cán bộ và nhân dân trong toàn tỉnh Sáng sớm ngày 26 tháng 8 năm 1945, lá
cờ đỏ sao vàng đã phấp phới tung bay trên dinh tỉnh tr ưởng, cơ quan đầu não của giặc.Đến 11 giờ trưa cùng ngày, tỉnh trưởng Nguyễn Văn Quý cùng những viên chức đứng đầucác công sở trong toàn tỉnh bàn giao chính quyền cho cách mạng
Sáng sớm ngày 27 tháng 8 năm 1945, tại Quảng trường Sông Phố, một cuộc míttinh lớn được tổ chức Gần một vạn người từ khắp các quận về dự lễ, đồng chí HoàngMinh Châu - trưởng ban khởi nghĩa đã đọc diễn văn tuyên bố chính quyền về tay nhândân và công bố thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Biên Hòa, gồm cácđồng chí: Hoàng Minh Châu - Chủ tịch; Huỳnh Văn Hớn - Phó chủ tịch kiêm trưởng bantuyên truyền; Kết thúc cuộc mít tinh là lễ tuyên thệ H ơn một vạn người thay mặt cho 15vạn đồng bào trong tỉnh đã tuyên thệ, sẵn sàng hy sinh tính mạng tài sản, kiên quyết bảo
vệ nền độc lập tự do cho Tổ quốc Quần chúng phấn khởi hô vang các khẩu hiệu: “ ViệtNam độc lập muôn năm”; “ Việt minh muôn năm” Khắp các nẻo đường đâu đâu cũngsôi động cả một rừng người và cờ, ai cũng hân hoan và cảm động Từ thân phận nô lệ lầmthan, nhân dân tỉnh Biên Hòa dưới sự lãnh đạo của Đảng đã c ùng cả nước vùng dậy đập
Trang 5tan ách thống trị của đế quốc thực dân giành độc lập tự do cho Tổ quốc.
III Thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954)
Đêm 22 rạng sáng ngày 23-9 -1945, được sự giúp đỡ của quân Anh, thực dân Pháp
nổ súng tấn công Sài Gòn mở đầu cuộc tấn công xâm lược nước ta lần thứ hai Tin thựcdân Pháp đánh chiếm Sài Gòn làm nhân dân Biên Hòa sục sôi ý chí chiến đấu “thà chết
tự do còn hơn sống nô lệ” Một lần nữa nhân dân Biên Hòa lại bước vào cuộc kháng chiếnvới một ý chí quyết tâm cao, kiên quyết bảo vệ độc lập tự do cho Tổ quốc
1 Những trận đánh tiêu biểu
a Những trận đánh giao thông
Tháng 12 – 1946 cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ Trên chiến tr ường miềnĐông Nam bộ, do phải mở rộng chiến trường ra miền Bắc, thực dân Pháp phải rút bớtnhiều đồn bốt đóng sâu trong vùng căn cứ của ta để có lực lượng chi viện
Ban Thường vụ Trung ương Đảng chỉ đạo cho Xứ ủy Nam bộ “ không để cho giặcPháp lấy của cướp được ở Nam bộ ra đánh Trung và Bắc bộ” Biên Hòa nằm trên cáctuyến đường chiến lược quan trọng như quốc lộ 20, quốc lộ 1, đường sắt xuyên Việt, lànhững đường giao thông vận chuyển quân sự của địch từ Nam ra Bắc Chi đội 10 (tươngđương Trung đoàn) là lực lượng vũ trang của tỉnh Biên Hòa, thành lập vào tháng 6-1946.Ban chỉ huy Chi đội 10 chủ trương mở một loạt trận đánh giao thông để tiêu hao sinh lựcđịch Đơn vị có 1.100 quân, với 3 đại đội A,B,C hoạt động ở các huyện Tân Uyên, ChâuThành, Xuân Lộc và Long Thành
Chi đội đề ra cách đánh là kết hợp dùng mìn chế tạo từ đầu đạn pháo 75 l y, vớiviệc tháo ốc vít các thanh tà vẹt, đ ường ray, chờ khi xe lửa địch đến thì nổ mìn đồng thờicột dây kéo mạnh đường ray làm đầu xe lửa trật bánh phải dừng lại để bộ đội xung phong.Tiêu biểu là các trận đánh đường sắt tại Xuân Lộc, Bảo Chánh I, Bảo Chánh II, Bàu Cá
ta đã tiêu diệt được nhiều sinh lực địch và thu được nhiều vũ khí đạn dược
Từng trung đội, đại đội, của chi đội 10 tổ chức một số trận đánh giao thông trêncác liên tỉnh lộ số 2, liên tỉnh lộ 24, quốc lộ 15, đồng thời tiến công một số đồn bốt lẻ củađịch như Cây Gáo, Bình lộc (1 – 1947), bốt cầu La Ngà (6 – 1947) Các trận đánh giaothông đường bộ từ quy mô nhỏ nâng dần lên đánh tập trung lớn Tiêu biểu là hai trậnđánh giao thông ở Phước Cang – Long Thành ( tháng 11-1947) và trận giao thông ĐồngXoài quốc lộ 14 ( ngày 19 – 12 – 1947)
Trang 6Đà Lạt, có một đoàn xe đưa cán bộ, sĩ quan cao cấp của thực dân và ngụy quyền tay sai từSài Gòn đi dự hội nghị Đà Lạt.
Cân nhắc kỹ các điều kiện cần thiết, Ban chỉ huy Chi đội quyết định tổ chức trậnphục kích giao thông trên quốc lộ 20 để đánh đoàn xe này Theo dõi, nắm chắc quy luật tổchức đội hình của các đoàn xe trong các chuyến công tác của địch đi về Biên Hòa, Đà Lạt,Ban chỉ huy chi đội quyết định tổ chức trận địa dài 9 km trên quốc lộ 20 chia làm 3 trậnđịa A, B, C, đảm bảo chặn đầu khóa đuôi của đoàn xe Sáng 1 – 3 – 1948 , trên toàn tuyếntrận địa, các chiến sĩ Chi đội 10 Biên Hòa đã sẵn sàng chiến đấu trong trạng thái căngthẳng chờ đợi địch
Sáng đó đoàn xe của địch gồm 70 chiếc, có xe thiết giáp đi đầu khởi hành từ SàiGòn Đến 14 giờ 20 phút đoàn xe đến La Ngà, 15 giờ 02 phút, chiếc thiết giáp đi đầu bịtrúng mìn ở trận địa A bốc cháy Đoàn xe địch phía sau vẫn tiếp tục tiến sâu vào trận địa
Đến 15 giờ 17 phút, mìn ở trận địa C lại nổ khóa đuôi đoàn xe của địch Cả đoàn
xe của địch bị cắt làm ba khúc Chi đội 10 và liên quân 17 từ các điểm cao dọc lộ xungphong mãnh liệt Địch hoàn toàn bất ngờ , chống trả yếu ớt Đại liên, trung liên, lựu đạn của bộ đội làm cháy cả chục xe địch ngay từ phút đầu Một số xe còn lại phía sau hốthoảng quay đầu rút chạy về phía cầu La Ngà Đoàn xe quân sự của địch như con rồng uốnkhúc trên quốc lộ 20, vật vã, lồng lộn, oằn oại, bốc cháy ngả nghiêng Xác quân Phápngổn ngang trên xe, dưới đường
Trận đánh diễn ra quyết liệt và nhanh chóng trong vòng 55 phút, 150 lính lê dương
và 25 sĩ quan Pháp bỏ mạng, trong đó có cả đại tá De Sérigné chỉ huy Lữ đoàn lê dươngthứ 13 của Pháp, đại tá Patrius phó Tham mưu trưởng quân Pháp ở Nam Đông Dương
Chiến thắng La Ngà là thắng lợi lớn diệt gọn đoàn xe quân sự của địch, bắt sống nhiều tù binh La Ngà là chiến thắng giao thông lớn nhất ở miền Đông lúc bấy giờ; trậnđánh đồng thời thể hiện được sự chính nghĩa và chủ nghĩa nhân đạo của cách mạng ViệtNam, có tiếng vang lớn trong nước và thế giới
2 Phối hợp chiến trường cả nước giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Pháp
Phối hợp với chiến trường chung của cả nước, trong Đông Xuân 1953 – 1954, lựclượng vũ trang toàn tỉnh thực hiện 137 trận đánh lớn nhỏ, đã loại khỏi vòng chiến đấu1.148 tên địch, làm bị th ương 194 tên, bắt sống 11 tên , thu 183 súng các loại, phá hủy 19
xe, đánh sập 3 bốt, 5 tháp canh, bức rút 25 tháp canh khác Các đội vũ trang tuyên truyền
tổ chức 147 cuộc đột nhập tuyên truyền, diệt tề trừ gian vùng bị tạm c hiếm Căn cứ chiếnkhu Đ hoàn toàn do ta làm chủ, mở ra giáp sông Đồng Nai về phía Nam, phía Bắc vượtqua sông Bé, phía Tây giáp lộ 16
Ngày 7 tháng 5 năm 1954, chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, cứ điểm kiên cốcủa địch bị đập tan, buộc thực dân Pháp phải đàm phán với Chính phủ Việt Nam Ngày 21– 7 – 1954 , Hiệp định Giơne vơ được ký kết Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành
Trang 7Hiệp định, Tỉnh ủy chỉ đạo đình chỉ mọi hoạt động vũ trang trên địa bàn tỉnh.
Quân dân Biên Hòa – Đồng Nai , qua chín năm kháng chiến với bao gian khổ hysinh, mất mát đau thương, vượt bao thử thách góp phần vào thắng lợi chung của cả nướctrong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược, làm rạng danh vùng đất “ Miền Đông gianlao mà anh dũng”của Nam bộ thành đồng Tổ quốc, mà Bác Hồ đã phong tặng từ nhữngngày đầu của cuộc kháng chiến
-Bài đọc thêm CHIẾN KHU Đ CÒN, SÀI GÒN MẤT
Suốt chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, câu “Chiến khu Đ còn– Sài Gòn mất”, là lời thú n hận của kẻ thù với một vùng căn cứ cách mạng ở Biên Hòa ,thể hiện rõ vai trò vị trí và sự lợi hại của căn cứ này với toàn bộ cuộc kháng chiến ở miềnĐông và Nam bộ
Khởi phát của căn cứ địa cách mạng Chiến khu Đ là các xã Mỹ Lộc, Tân Hòa, TânTịch, Thường Lang, Lạc An của huyện Tân Uyên (nay thuộc tỉnh Bình D ương) Nơi đây
từ năm 1940, đã hình thành đội du kích Nam Kỳ khởi nghĩa của tỉnh Biên Hòa Khi cuộckhởi nghĩa thất bại, đội du kích do ông Nguyễn Văn Quỳ chỉ huy rút vào khu vực rừngTân Uyên, bảo toàn lực lượng cho đến khi cách mạng tháng Tám thành công
Khi thực dân Pháp chiếm tỉnh lỵ Biên Hòa (25 -10-1945), một bộ phận của Ủy bankháng chiến miền Đông do Huỳnh Văn Nghệ chỉ huy về Tân Tịch, kết hợp cùng đội dukích Nam Kỳ khởi nghĩa và trại du kích V ĩnh Cửu, hình thành Vệ quốc đoàn Biên Hòa
Tháng 12-1945, Chiến khu 7 ra đời do Nguyễn Bình làm Tư lệnh về đóng tại Lạc
An Tháng 2-1946, sau hội nghị quân sự khu Đông, Bộ tư lệnh quyết định xây dựng căn
cứ địa và đặt tên là chiến khu Đ (theo thứ tự vùng c ăn cứ A, B, C, Đ) trung tâm là xã Lạc
An Từ tháng 3-1946, Bộ tư lệnh khu 7 dời về Đông Thành, chiến khu Đ trở thành căn cứđịa kháng chiến của tỉnh Biên Hòa Phạm vi chiến khu Đ gồm 5 xã, nam giáp sông ĐồngNai, bắc giáp Sông Bé, tây giáp tỉnh lộ 16
Chiến khu Đ là nơi đóng cơ quan lãnh đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban Kháng chiến hànhchính tỉnh Biên Hòa-Thủ Biên; các cơ quan Dân, Chính, Đảng của tỉnh, của huyện TânUyên; chi đội 10, trung đoàn 310, liên trung đoàn 301 – 310 cùng các cơ quan binh côngxưởng, quân nhu với một hệ thống sản xuất gồm các nông trường ở Lạc An, Giáp Lạc
Rừng bao la, dầy đặc nhiều suối với đủ loại cây, trái rừng, củ rừng, xen kẽ nhữngtrảng trống và đủ loại thú rừng, các giống chim, thú bò sát đảm bảo đ ược một phần nhucầu lương thực, thực phẩm cho chiến khu lúc khó khăn Rừng chiến khu Đ trải dài từ BắcBiên Hòa nối liền rừng Tây Nguyên, tạo thành một hành lang nối liền miền Đông Nam bộvới Liên khu 5 và ra hậu phương lớn Chiến khu Đ lại chỉ cách Biên Hòa – trung tâm chỉhuy đầu não của địch ở miền Đông, Sài Gòn thủ phủ ngụy quyền Sài Gòn không xa Bằng
Trang 8đường giao liên bí mật, công khai, các lực lượng kháng chiến xâm nhập vào các thị xã, thịtrấn, vùng tạm chiếm, tiến công các cơ quan đầu não, kho tàng của thực dân.
Từ Tân Uyên, đêm mùng 1- 1- 1946, các lực lượng vũ trang Biên Hòa, miền Đông
tổ chức cuộc tiến công đầu tiên vào các công sở, nơi đóng quân của thực dân Pháp trongtỉnh lị Biên Hòa Đòn tiến công bất ngờ này gây tiến vang lớn ở Nam Bộ
Từ căn cứ địa chiến khu Đ, chi đội 10 Biên Hòa đã mở hàng loạt trận đánh giaothông đường bộ, đường sắt, phối hợp nhịp nhàng với chiến trường chung đánh bại cuộchành quân của thực dân Pháp đó là các trận Gia Huynh, Trảng Táo, Bàu Cá, trận ĐồngXoài…, nổi tiếng nhất là trận phục kích La Ngà trên quốc lộ 20
Chiến khu Đ là nơi sản sinh ra cách đánh đặc công, lực lượng đặc công và phổ biến
kỹ thuật tác chiến mới ra cả nước, cơ sở để hình thành binh chủng đặc công sau này
Trong kháng chiến 9 năm chống Pháp, Biên Hòa là nơi đóng các cơ quan đầu nãocủa địch ở miền Đông, chiến khu Đ tồn tại là mối đe dọa lớn cho thực dân Pháp ở BiênHòa và Sài Gòn Kẻ thù kiếp sợ chiến khu Đ chính là vì thế trận “thiên la địa võng” củacăn cứ Làng kháng chiến đã hình thành khắp n ơi trong căn cứ với hàng trăm loại cạm bẫy: chông tre, chông đinh, lựu đạn gài, mìn gài đã đánh bại bao cuộc hành quân càn quétlớn của địch vào căn cứ Kẻ thù lấn chiếm, phong tỏa, bao vây, đánh phá chiến khu bằngbom đạn, triệt phá kinh tế, biệt kích gián điệp hòng tiêu diệt cơ quan đầu não, dự trữkinh tế kháng chiến nhưng đều bị thất bại, lại hao binh tổn tướng Trận càn tháng 2- 1948với 2000 quân của Pháp có hải quân, pháo binh, máy bay yểm trợ đã bị thất bại ê chề.Phương tiện, chiến lợi phẩm ta tịch thu được của địch trong trận này góp phần tăng thêmsức mạnh để bộ đội Biên Hòa làm nên chiến thắng La Ngà
Thực dân Pháp trong quá trình xâm lược miền Đông Nam bộ, luôn xem chiến khu
Đ là trọng điểm phải tiêu diệt Chúng dùng đủ mọi thủ đoạn để đánh phá nh ưng đều thấtbại Đặc biệt lợi dụng bão lụt tháng 10 – 1952, thực dân Pháp mở cuộc đánh phá vàochiến khu Đ liên tục trong 52 ngày đêm Cán bộ, chiến sĩ, đồng bào ở chiến khu Đ bámtrụ vừa khắc phục bão lụt vừa chống địch để giữ vững căn cứ Sau thất bại của cuộc cànlớn này, hầu như quân Pháp không còn mở được một cuộc hành quân lớn nào vào chiếnkhu Những thất bại của địch ở chiến khu Đ, bọn thực dân, tay sai đã phải tổng kết và rút
ra kết luận “Chiến khu Đ còn, Sài Gòn mất” và:
Khu Đ đi dễ khó về.
Lính đi mất mạng, quan về mất lon.
Chiến khu Đ là hình ảnh một xã hội mới trong kháng chiến 9 năm Nơi đây dânquân đoàn kết một lòng chống giặc Các phong trào văn hóa, nh ư xây dựng nếp sống mớixóa mù chữ, bổ túc văn hóa, lao động sản xuất thu hút được nhân dân từ các vùng.Cuộc sống mới ở căn cứ đã biến chiến khu Đ thành biểu t ượng của lòng tin vào cuộckháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta
Trang 9
-CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC CỦA
NHÂN DÂN ĐỒNG NAI (1954-1975)
Tháng 7- 1954, cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp của nhân dân ta kếtthúc thắng lợi, chiến tranh kết thúc, nhưng thắng lợi chưa trọn vẹn Theo Hiệp định Giơ -ne-vơ (Genève), đất nước ta tạm thời chia làm hai miền: Miền Bắc, từ vĩ tuyến 17 trở rađược hoàn toàn giải phóng và đi lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tạm thời do thực dânPháp kiểm soát, và sau 2 năm, đến ngày 20 – 7 – 1956 sẽ tổ chức tổng tuyển cử trongtoàn quốc để thống nhất đất nước Trên thực tế, đế quốc Mỹ âm mưu phá hoại Hiệp định,hất chân thực dân Pháp, trực tiếp can thiệp vào miền Nam Kể từ đó nhân dân miền Namlại tiếp tục kháng chiến với kẻ thù mới là bọn xâm lược Mỹ, một tên đế quốc đầu sỏ vàsen đầm quốc tế ròng rã suốt 21 năm trời
Thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới,biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của chúng ở vùng Đông Nam
Á, đế quốc Mỹ đã sớm tổ chức xây dựng bộ máy phục vụ chiến tranh khá đồ sộ trên toànmiền Nam Ngày 7 – 7 – 1954, chúng đưa Ngô Đình Diệm về miền Nam lập Chính phủ
bù nhìn Tiếp đó, tháng 11 – 1954, cử tướng Cô-Lin (Colins) sang miền Nam làm đại sứ
và thực hiện kế hoạch 6 điểm của chính quyền Ai-xen-hao về xâm lược miền Nam Chỉtrong vòng chưa đầy 2 năm 1955 – 1956, Mỹ ngụy đã tổ chức bộ máy kìm kẹp các cấp ởhầu khắp các địa phương
1 Quá trình xâm lược của Mỹ vào Đồng Nai
Đồng Nai, vùng đất của miền Đông Nam bộ chỉ cách sào huyệt của chính quyềnSài Gòn 30 km, một vị trí quan trọng, có 3 vùng chiến lược rừng núi, đồng bằng nôngthôn và đô thị; có rừng tự nhiên, hệ thống đường giao thông thuận tiện (đường bộ, đườngthủy, đường sắt) nối liền với cực Nam Trung bộ, Tây Nguyên và Sài Gòn, miền Tây Nambộ…Vì vậy, trong kháng chiến chống Mỹ, kẻ thù quyết tâm biến Đồng Nai thành chỗ dựavững chắc, hậu phương an toàn của chúng
Để bảo vệ sào huyệt của chế độ ngụy quyền Sài Gòn, và ngăn chặn bước tiến củaquân giải phóng, đế quốc Mỹ và tay sai trong 21 năm tiến hành chiến tranh xâm lược, đãlấy Biên Hòa - Đồng Nai để xây dựng những cơ quan đầu não chỉ huy của chúng ở miềnĐông Nam bộ Nhiều căn cứ quân sự lớn, hệ thống kho tàng hậu cần phục vụ chiến tranhxâm lược, tổ chức ngụy quân, ngụy quyền với bộ máy kìm kẹp dày đặc, hệ thống căn cứquân sự kiên cố cùng các đơn vị tinh nhuệ, với sự yểm trợ của nhiều lực lượng và phươngtiện, vũ khí hiện đại Tại đây, quân viễn chinh Mỹ, quân chư hầu, ngụy quân, ngụy quyền
đã sử dụng nhiều âm mưu, thủ đoạn thâm độc và phương tiện chiến tranh đánh phá ác liệtphong trào cách mạng hòng tiêu diệt và đánh bật lực l ượng kháng chiến ra khỏi địa bànĐồng Nai Kẻ địch đánh phá cách mạng bằng những âm mưu, thủ đoạn chính trị, kinh tế,văn hóa thâm độc; sử dụng bom, pháo, chất độc hóa học hủy diệt môi trường, tàn phánông thôn với cường độ rất cao
Trang 10Về quân sự, những năm đầu sau tháng 7 – 1954 chúng tổ chức các tổng đoàn dân
vệ, sau đó chuyển thành dân vệ xã, bảo an thuộc quận, tỉnh Khi loại đượ c thực dân Pháp
và các thế lực thân Pháp ở miền Nam, Mỹ tiến hành củng cố, tổ chức lại ngụy quân, loại
bỏ số sĩ quan không ăn cánh, cho nghỉ những tên lớn tuổi thuộc các đơn vị ngụy binh củathực dân Pháp trước đây Chúng ra sức bắt lính xây dựng đội quân bán nước gồm chủ lực,bảo an, dân vệ do Mỹ huấn luyện và trang bị, hoạt động theo ý đồ xâm lược của chúng
Hệ thống đồn bốt, căn cứ quân sự của địch trên địa bàn Biên Hòa nhanh chóng được xâydựng lại và mở rộng thêm
Về bố trí lực lượng, địch tổ chức xây dựng nhiều căn cứ quân sự mang tính chiếnlược, bố trí nhiều đơn vị tinh nhuệ hòng ngăn chặn sự tiến công của bộ đội ta: Mở rộngsân bay Biên Hòa thành sân bay quân sự lớn nhất Đông Dương và nhiều sân bay dã chiếnkhác, xây dựng Tổng kho quân sự Long Bình thành kho dự trữ chiến lược, nơi tàng trữ,cung cấp các lọai vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại cho các chiến trường, kho đạnThành Tuy Hạ (Nhơn Trạch) Về lực lượng có Nha cảnh sát miền Đông, quân đoàn 3, sưđoàn 18 ngụy, Bộ tư lệnh dã chiến II Mỹ, Bộ Tư lệnh hậu cần số 1 Mỹ
2 Phong trào đấu tranh chống Mỹ - ngụy của nhân dân Đồng Nai
Về phía cách mạng, Đồng Nai là mảnh đất của “miền Đông gian lao mà anh dũng”, lừng danh trong kháng chiến chống thực dân Pháp, nhiều phen làm kẻ thù phải bạt
vía kinh hồn Đồng Nai có chiến khu Đ, chiến khu Rừng Sác - những căn cứ địa cáchmạng quan trọng ở miền Đông Đây là địa bàn đứng chân của cơ quan Trung ương Cụcmiền Nam, Xứ ủy, Khu ủy miền Đông; nơi ra đời những đơn vị quân chủ lực, nơi đứngchân tác chiến thuận lợi của các binh đoàn, tấn công các cơ quan đầu não địch trong thànhphố Với chiến khu Đ, còn là nơi tiếp nhận lực lượng, vũ khí từ hậu phương lớn miền Bắcchi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam Thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đánh giá Biên Hòa có
vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, chúng khẳng định để mất Biên Hòa là mất Sài Gòn
Về chính trị, Đồng Nai gồm nhiều thành phần dân tộc gắn bó, đoàn kết từ lâu đời,đại bộ phận là nông dân lao động, giai cấp công nhân hình thành sớm, bị bóc lột nặng nềnên có tinh thần giác ngộ dân tộc và giai cấp, lại sớm có Đảng lãnh đạo Những yếu tố đótạo nên sức mạnh vững chắc trong cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc Đồng Nai cótài nguyên phong phú, được thiên nhiên ưu đãi, có nhiều cơ sở kinh tế, do đó có thể xâydựng nền kinh tế tại chỗ đảm bảo một phần quan trọng về hậu cần phục vụ kháng chiến
Với một vị trí chiến lược quan trọng như vậy, nên trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ, Đồng Nai nhìn chung là một chiến trường rất ác liệt, nơi đối đầu trực tiếp, quyết liệtgiữa bạo lực cách mạng và bạo lực phản cách mạng của Mỹ ngụy và tay sai Nhận thức vàđánh giá đúng tính chất, vị trí chiến lược của chiến trường, Đảng bộ Đồng Nai trên cơ sởquán triệt đường lối cách mạng của Trung ương Đảng, Trung ương Cục miền Nam, đãvận dụng, tổ chức thực hiện thắng lợi cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện phát huy tinhthần tự lực tự cường để giành thắng lợi Đảng bộ Đồng Nai đã đề ra những chủ trương chỉđạo phù hợp, phát huy tinh thần tự lực tự cường; kết hợp hai lực lượng bên trong, bên
Trang 11ngoài; kết hợp lực lượng tại chỗ với lực lượng chi viện của cấp trên; kết hợp 3 mũi đấutranh vũ trang, chính trị, binh vận; tổ chức đặc công, biệt động, đánh địch trên cả 3 vùngchiến lược để giành thắng lợi Phát huy truyền thống chống giặc ngoại xâm, q uân và dânĐồng Nai trong kháng chiến chống Mĩ tiếp tục viết nên những trang sử vàng chói lọi, gópphần cùng quân dân cả nước đánh bại giặc Mĩ xâm lược, giải phóng hoàn toàn miền Namthống nhất đất nước.
Thời kì đầu của cuộc kháng chiến, nhân dân Đồng Nai tiến hành đấu tranh chính trịchống kẻ thù mới là đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Nhiệm vụ thời kì này đặt ra là đấu tranhđòi dân sinh, dân chủ, đòi kẻ thù thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ Nhiều cuộcđấu tranh của nông dân, công nhân được tổ chức chống lại bọn cường hào, tư sản và ngụyquyền cướp ruộng đất nổ ra ở hầu hết các huyện trong tỉnh Nổi bật là cuộc biểu tình ngày1– 5– 1955 của Nghiệp đoàn lao động nhà máy cưa BIF tổ chức tại Biên Hòa, lôi cuốnđược công nhân, thợ thuyền và nhân dân Biên Hòa tham gia Cuộc biểu tình ngày 7– 7–
1956 của hàng ngàn công nhân cao su ở các đồn điền Cẩm Mỹ, Ông Quế, Hàng Gòn,Bình Lộc, nông dân các xã Bảo Vinh, Gia Ray, Bảo Chánh tuần hành về thị xã LongKhánh biểu tình đòi hiệp thương tổng tuyển cử, thống nhất đ ất nước
Bọn địch ngày càng lộ rõ bản chất dã man, tăng cường khủng bố, giết hại cán bộ,lực lượng cách mạng ngày càng tổn thất nghiêm trọng Không thể ảo tưởng “đấu tranhchính trị” đơn thuần đối với kẻ thù, mà phải chuyển dần từ đấu tranh chính trị sang kếthợp đấu tranh vũ trang Cách mạng miền Nam chuyển sang thế trận mới, từ đây nhiềucuộc nổi dậy, tấn công kẻ thù đã diễn ra khắp địa bàn tỉnh
Mở đầu là cuộc nổi dậy phá khám Tân Hiệp (nay thuộc phường Tân Tiến, thànhphố Biên Hòa) vào ngày 2 -12-1956 Nơi đây địch giam giữ gần 1900 cán bộ, đảng viên vàđồng bào yêu nước Cuộc phá khám đã giải thoát gần 500 cán bộ, đảng viên, thu 41 khẩusúng các loại, là nguồn bổ sung vô giá cho phong trào vũ trang cách mạng của miền Nam
và của Đồng Nai Đây là cuộc phá khám để tự giải phóng có qui mô lớn nhất
Để ngăn chăn hành động tội ác của giặc mà đầu sỏ chỉ huy là bọn cố vấn Mỹ, banlãnh đạo Liên tỉnh ủy miền Đông quyết định tập kích trụ sở phái đoàn cố vấn quân sự Mỹ(MAAG) có trụ sở tại Nhà Xanh (nay thuộc trường Cao đẳng Nghề Đồng Nai) 19 giờngày 7-7-1959, phân đội vũ trang xuất phát từ chiến khu Đ gồm 6 đồng chí đã tổ chức tậpkích Nhà Xanh, tiêu diệt Thiếu tá D.Buis và Trung sĩ C.Ovmand quân đội Mỹ Trận đánhphái đoàn cố vấn quân sự tại Nhà Xanh là trận đánh Mỹ đầu tiên của lực lượng vũ trangmiền Đông trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.Trên bức tường đá ở thủ đô nước
Mỹ, ghi tên quân nhân Mỹ chết trận tại Việt Nam theo thứ tự thời gian thì D.Buis vàC.Ovmand là hai lính Mỹ đầu tiên trong danh sách
3 Những trận đánh lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở Đồng Nai:
a Các trận đánh vào sân bay Biên Hòa
Sân bay Biên Hòa là căn cứ quân sự quan trọng của địch đối với cả miền Nam, đây
Trang 12là nơi xuất phát các đợt máy bay bắn phá, rải chất độc hóa học xuống các làng mạc trêntoàn miền Nam, sau này là đánh phá cả miền Bắc Trận đánh đầu tiên là đêm 31 – 10 –
1964, đoàn pháo binh U80 miền Đông, tập kích sân bay phá hủy và làm hư hại 59 máybay các loại, 1 kho đạn pháo, 1 đài quan sát, giết nhiều sĩ quan, binh lính địch Chiếnthắng này có nghĩa quan trọng, góp phần làm phá sản chiến lược chiến tranh đặc biệt củađịch
Đêm 3 – 2 – 1967 đặc công U1 đột nhập sân bay Biên Hòa đặt mìn làm nổ tungkho nhiên liệu, đốt cháy 10 triệu lít xăng dầu của địch Đêm 12 – 5– 1967, các đơn vịtrung đoàn pháo 274, trung đoàn 3 bộ binh, tiểu đoàn Phú Lợi đồng lọat nổ súng vào sânbay phá hủy 150 máy bay, nhiều phương tiện chiến tranh và sinh lực Mỹ ngụy
b Các trận đánh Tổng kho Long Bình
Nơi đây còn là bản doanh Bộ Tư lệnh dã chiến II Mỹ, Bộ Tư lệnh Hậu cần số 1
Mỹ, là kho bom đạn lớn nhất của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, được xây dựng từ năm
1965, lực lượng Mỹ ngụy thường xuyên có 2.000 tên
Ngày 23– 6– 1966 bộ đội đặc công đánh vào Tổng kho gây thiệt hại nặng cho địc h,hủy diệt 40.000 quả đạn pháo các loại Đây là trận đánh đặc công đầu tiên của đặc côngBiên Hòa, mở đầu cho hàng loạt trận đánh sau này Cuối năm 1966 vào các tháng 10, 11,
12 bộ đội đặc công U1 đã 3 lần tấn công Tổng kho Long Bình, phá hủy 353.000 đạn pháo
và các loại bom Đêm 3/2/1967 bộ đội đặc công U1 đột nhập Tổng kho đặt mìn hẹn giờ,làm nổ tung 40 dãy kho, phá hủy 800.000 quả đạn pháo
c Đánh địch trên sông Lòng Tàu
Tháng 7– 1966 bộ đội đặc công rừng Sác tổ chức đánh tàu địch trên sông LòngTàu, bắn cháy 1 tàu 10.000 tấn, 4 tàu tuần tiễu, 2 tàu quét mìn, 1 tàu hộ tống Ngày 28 – 8– 1966 đoàn 10 đặc công đánh chìm tàu Victory và 7 chiếc khác Tàu Victory là tàu hậucần của sư đoàn 4 Mỹ, có 45 thủy thủ, trên tầu chở 100 xe thiết giáp M113, 3 máy b ayphản lực chưa lắp ráp, một số quân dụng, lương thực đủ dùng cho 1 sư đoàn Mỹ trongsuốt một mùa khô
d Cuộc tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968
Đây là cuộc Tổng tấn công và nổi dậy khắp các địa phương trong tỉnh, sự phối hợpcác lưc lượng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân, du kích và nhân dân nhịpnhàng gây cho địch nhiều tổn thất, và là lần đầu tiên ta tấn công vào hang ổ kẻ thù Tuykhông giành được thắng lợi quyết định, giành quyền làm chủ hoàn toàn, nhưng đã thểhiện tinh thần quyết tâm, sự hiệp đồng chiến đấu của các lực lượng của quân dân, chuẩn
bị cho chiến dịch toàn thắng sau này
e Chiến dịch Xuân Lộc giải phóng Thị xã Long Khánh
Lo sợ trước khí thế tấn công của Quân giải phóng, ngày 28 – 3 – 1975 tướng Uâyoen, Tham mưu trưởng lục quân Mỹ ra Xuân Lộc (Long Khánh ngày nay) khảo sát chiếntrường, hình thành “Bức tường thép Xuân Lộc”, giao nhiệm vụ cho các tướng ngụy Sài
Trang 13Gòn “tử thủ” Xuân Lộc Về phía ta, thực hiện chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chỉ huy Miềnquyết định mở chiến dịch Xuân Lộc, đập tan tuyến phòng thủ của địch phía Đông SàiGòn Chiến dịch mở màn từ 5h30 ngày 9 – 4 – 1975 bằng việc pháo tầm xa 130 li từ TúcTrưng, Bảo Vinh dội bão lửa vào Xuân Lộc Các đơn vị quân giải phóng sư đoàn 341, sưđoàn 7, sư đoàn 6, tiểu đoàn 445 đồng loạt tấn công từ các hướng Chiến sự xảy ra vôcùng ác liệt nhất là ở trung tâm Thị xã, địch bị thiệt hại năng nề, chúng tăng cường chomáy bay ném bom, bắn phá nhằm chia cắt lực lượng bộ đội ta, đồng thời tổ chức nhiềulực lượng tiếp viện.
Một giờ sáng ngày 21– 4– 1975, quân ta mở đợt tấn công cuối cùng, nhưng toàn bộ
Sư đoàn 18 ngụy đã rút chạy khỏi Xuân Lộc từ 10 giờ đêm 20 – 4 Trên hướng tỉnh lộ số
2, đại đội 41 quân giải phóng chặn đánh tàn quân địch bắt sống hàng trăm tên, trong đó cóĐại tá Phạm Văn Phúc, tỉnh trưởng Long Khánh Tám giờ sáng ngày 21– 4– 1975, ngụyquân, ngụy quyền Thị xã Long Khánh tháo chạy, tan rã hoàn toàn Tuyến phòng thủ cuốicùng của địch bị đập tan, cửa ngõ tiến quân vào Sài Gòn của đại quân ta ở hướng Đôngđược mở, kết thúc chiến dịch lịch sử Xuân Lộc Sau thất bại ở Xuân Lộc, ngày 23– 4–
1975, Tổng thống Mỹ tuyên bố: “Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã chấm dứt đối với ngườiMỹ”
g Tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng toàn tỉnh
Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai thực hiện phương châm chỉ đạo “các địa phương nổidậy, xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện”, các địa ph ương trong tỉnh lần lượt nổidậy giành chính quyền về tay nhân dân: Ngày 20– 3– 1975, giải phóng huyện Tân Phú,Định Quán Ngày 21– 4– 1975, giải phóng Long Khánh, Xuân Lộc Ngày 28– 4– 1975,giải phóng huyện Thống Nhất Ngày 29– 4– 1975, giải phóng huyện Long Thành, NhơnTrạch Ngày 30 – 4 – 1975, giải phóng Biên Hòa, Vĩnh Cửu
Ngày 16– 4– 1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch giải
phóng Sài Gòn- Gia Định, mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh Chiến dịch bắt đầu từ ngày
26 – 4 – 1975 Trên địa bàn Đồng Nai hình thành 2 mũi tiến công của hai quân đoàn chủlực: Quân đoàn 4 tiến vào Sài Gòn theo hướng Quốc lộ 1 và xa lộ Biên Hòa, quân đoàn 2theo hướng Quốc lộ 15 và phà Cát Lái
Chiều 29-4-1975, khu Kĩ nghệ Biên Hòa và một số ấp lân cận hoàn toàn giảiphóng, toàn bộ địch ở Long Thành - Nhơn Trạch bị quét sạch 10 giờ 30 phút ngày 30 – 4– 1975, Ủy ban Quân quản Biên Hòa, trung đoàn 5 vào tiếp quản Tòa Hành chính BiênHòa
Lịch sử đã lặp lại một cách kì diệu: Ngày 26 – 8 – 1945, nhân dân Biên Hòa chiếmTòa bố giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám Ba mươi năm sau, ngày 30 – 4 –
1975 cũng tại nơi đây, quân dân Biên Hòa chiếm Tòa Hành chính, giải phóng hoàn toànquê hương, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 21 năm, mở ra kỉ nguyên mớicho đất nước: Độc lập, thống nhất đất nước, đi lên chủ nghĩa xã hội
Trang 14
-Bài đọc thêm: CHIẾN KHU RỪNG SÁC
Rừng Sác là vùng rừng ngập mặn hàng ngàn km vuông nằm ở phía Đông Nam tỉnh Đồng Nai, thuộc địa phận các huyện Nhơn Trạch, Long Thành, nối liền một dải với rừngSác Cần Giờ của thành phố Hồ Chí Minh Rừng Sác có thảm thực vật nước mặn rất phongphú với nhiều loại cây đước, da, sú, có, mắm, bần…đan níu nhau thành nhiều tầng lớp vàrất lắm cá tôm Đây là vùng địa hình sình lầy, mênh mông sông nước với hằng trăm sônglạch đan nhau chằng chịt
Vùng Rừng Sác trở thành căn cứ địa cách mạng ngay từ những năm đầu tiên khángPháp Nơi đây cũng từng là chứng tích cho các cuộc rải thảm bom B52, chất độc hóa học,các cuộc càn quét qui mô lớn với sự tham gia của nhiều binh chủng, tàu chiến và vũ khíhiện đại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ Nhưng cũng chính nơi đây đã kh ẳng địnhchân lý, niềm tin và ý chí con người là vượt lên tất cả Từng dòng sông, con lạch, giồngđất nơi đây đều lấp lánh chiến công: Tàu quân sự của Pháp bị chìm, tàu Victory hàng vạntấn của Mỹ cùng chung số phận, kho bom thành Tuy Hạ, Kho xăng Nhà bè b ốc cháy…
Về phía ta, rừng Sác cũng là một căn cứ nổi tiếng từ thời chống Pháp Năm 1963,nơi đây đã hình thành một trạm tiếp nhận hàng quân sự từ miền Bắc vào (vòng xuống BếnTre rồi trở lên) và từ năm 1964 đã có phân đội đánh tàu của Bộ Tham mưu Miền, c ắmchốt ở đây, tiếp đó có đội công binh thủy từ miền bắc vào, hợp nhất lấy danh là đoàn 125,rồi đoàn 5001 Tháng 1 năm 1996, đoàn 125 phát triển lấy mật danh mới là đoàn 43 Ngày
17 tháng 3 năm 1996, bằng súng ĐKZ, đoàn 43 đánh cháy một tàu chở dầu trọng tải 8.000tấn trên sông Lòng Tàu
Trước năm 1968, Đặc khu Rừng Sác của ta là tổ chức quân sự cấp Trung đoàn trựcthuộc Bộ tham mưu Miền: lực lượng bao gồm chủ lực của Đặc khu, các lực lượng chiếntranh nhân dân tại chỗ, hệ thống dân chính đảng 10 xã ở rừng Sác 1 Nhiệm vụ của Đặckhu là: tập trung "chặn cổ" sông Lòng Tàu, đồng thời đánh các quân cảng, kho tàng, gópphần đánh vào "thủ đô" địch, phát triển chiến tranh nhân dân tại chỗ, giữ căn cứ, bàn đạp,đảm ảo hành lang vận chuyển Chỉ huy trưởng kiêm chín h ủy đầu tiên của Đặc khu làLương Văn Nho tức Hai Nhã Sau khi hình thành, Đặc khu Rừng Sác chú trọng ngay việcxây dựng thực lực toàn diện Chỉ sau một thời gian đã có lực lượng tập trung địa phương,mỗi xã đều có một tiểu đội du kích
Nếu nói địa đạo Củ Chi là "căn cứ chìm" thì Rừng Sác là "căn cứ nổi" Trong điềukiện vô cùng khắc nghiệt của một chiến khu trên mặt nước, lại ở vị trí "sân sau" quân thù,
để đảm bảo sự tồn tại và tiến công được, lực lượng Đặc khu Rừng Sác phải xây dựng theohướng đặc công hóa toàn bộ về tổ chức và hoạt động Do đó, từ một tổ chức quân sự toàndiện phụ trách cả quân dân chính đảng địa phương, bộ đội đặc công Rừng Sác chuyển dầnchuyên môn hóa (đặc công nước, đặc công bộ, pháo đặc công ) và trở thành một Trungđoàn đặc công gọi là "Đoàn 10 Rừng Sác" Sự tồn tại của một lực lượng quân sự "xuấtquỷ nhập thần" ở một chiến khu trên mặt nước đã buộc Westmoreland phải thừa nhận:những người lính Mỹ ở đây đã gặp phải "một cuộc chiến đấu kỳ lạ trong một cuộc chiếntranh kỳ lạ"
Trang 15Trong cuộc đọ sức dài ngày với kẻ thù ở một vùng sông nước đặc biệt này, 625 liệt
sĩ Đoàn 10 và 1.400 liệt sĩ của 12 xã huyện Nhơn Trạch đã ngã xuống tại chiến trườngđặc khu Rừng Sác Để tưởng nhớ công ơn và chiến tích anh hùng của cha anh, đền thờLiệt sĩ Nhơn Trạch được xây dựng tại xã Long Thọ, huyện Nhơn Trạch, nơi cửa ngõ bướcvào chiến khu Rừng Sác năm xưa
Chiến tranh đã lùi xa hơn 30 năm, Nhơn Trạch đã trở lại thanh bình và đang làvùng đất sôi động của thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nhơn Trạch phát triển rấtnhanh, đặc biệt là thu hút đầu tư nước ngòai Tương lai về một thành phố công nghiệpNhơn Trạch hiện đại đang từng bước đến gần Về Nhơn Trạch ngày nay không chỉ về vớivùng công nghiệp phát triển, mà còn là để những giây phút sâu lắng về những chiến sĩ đặccông quả cảm Rừng Sác năm xưa, nay đang trở thành khu du lịch sinh thái hấp dẫn, conthuyền nhỏ đưa du khách qua những kênh rạch chằng chịt, mà đâu đó vẫn còn in dấu cácanh…
-Bài đọc thêm: BÁC HỒ VỚI ĐỒNG NAI, ĐỒNG NAI VỚI BÁC HỒ
Trong những năm dài kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, Bác Hồ khôngphút giây nào không nhớ đến miền Nam “Miền Nam luôn ở trong trái tim tôi”, vui buồncủa Bác luôn hòa quyện cùng với 14 triệu con tim của đồng bào và chiến sĩ miền Namyêu quý, chiến công từ tiền tuyến vọng về là một liều thuốc quý làm tăng thêm sức khỏe
và năng lực công tác của Người Đáp lại nghĩa tình sâu nặng đó, đồng bào và chiến sĩmiền Nam đã đạp bằng mọi gian khổ hy sinh, chiến đấu ngoan cường, đánh đuổi quânxâm lược để sớm đón Bác vào thăm quê hương “Thành đồng Tổ Quốc”
Như thường lệ, mọi năm cứ đến dịp sinh nhật Bác Hồ, đồng bào và chiến sĩ miềnNam hăng hái thi đua lập công dâng Bác Vào mùa sinh nhật mừng Bác Hồ tròn 75 tuổi,quân và dân Biên Hòa, Bà Rịa-Long Khánh sôi nổi với quyết tâm giành thắng lợi lớn Từngày 7-5 đến ngày 14-5-1965 bộ đội chủ lực quân khu miền Đông phối hợp với bộ đội địaphương dân quân du kích tỉnh Bà Rịa-Long Khánh liên tiếp đánh địch giành nhiều thắnglợi ở Tà Lài, Ba Sa, chi khu Định Quán Ta làm chủ quốc lộ 20, buộc địch phải lập cầukhông vận Sài Gòn-Đà Lạt Hòng giành lại con đường chiến lược quan trọng này, ngày15-5-1965 địch đã đưa lực lượng từ Long Khánh lên giải tỏa mở đường Bộ đội ta phụckích diệt địch trên đoạn đường gần cầu La Ngà (từ cây số 109 đến 111), nơi cách đây 17năm ngày 1-3-1948 chi đội 10 bộ đội Biên Hòa đã lập nên chiến công oanh liệt đánh tanmột đoàn xe quân sự và bắt sống hàng trăm tên giặc Pháp xâm lược Trên tuyến đườngdài hơn 2km, toàn bộ quân ứng cứu của địch đã lọt vào trận địa phục kích của bộ đội ta.Tiến không được, lui không kịp, cả tiểu đoàn biệt động quân và một đại đội bảo an bị tiêudiệt, hơn mười xe quân sự bị bắn cháy Nhân dân và bộ đội miền Đông gọi chiến thắngnày là chiến thắng La Ngà 2 Cũng trong ngày này, (15-8-1965) Bác Hồ bắt đầu lên máybay thực hiện chuyến đi công tác kết hợp dưỡng bệnh ở Trung Quốc Mặc dầu ở xa Tổ
Trang 16Quốc, bộn bề với trăm công nghìn việc khác, nhưng không lúc nào Người không lo nghĩ
về nước nhà, nhất là tình hình chiến sự ở miền Nam Sáng ngày 19-5-1965, trong mộtbiệt thự thuộc khu quân sự Ngọc Tuyền gần Di Hòa Viên, một thắng cảnh nổi tiếng ởngay giữa thủ đô Bắc Kinh, từ sáng sớm Bác Hồ đã thức dậy và ngồi vào bàn làm việc.Đồng chí Vũ Kỳ, thư ký riêng của Người, đẩy nhẹ cửa bước vào mang hoa tặng Bác Bácđưa cả hai tay đón nhận lấy bó hoa, vẻ xúc động hiện lên trên nét mặt Bác thân mật bảođồng chí Vũ Kỳ ngồi xuống bên cạnh và báo cáo với Bác những nét chính tình hình ở nhà
từ ngày ra đi Sau khi trình bày những trận không kích của giặc Mỹ ở miền Bắc, đồng chítiếp tục báo cáo tình hình chiến sự ở miền Nam, trước hết đồng chí báo cáo với Bác vềtrận phục kích của quân giải phóng miền Đông Nam Bộ trên tuyến đường 20 (La Ngà-Định Quán)… Hãng UPI ngày 16-5 đưa tin thêm về trận quân giải phóng tiêu diệt gọnmột đoàn xe quân sự 12 chiếc trên đường 20 (Sài Gòn- Đà Lạt) Một phát ngôn quân sự
Mỹ nói : “Quân du kích đã chiếm đoàn xe trong một trận phục kích giữa ban ngày Họ đãđánh nhanh rút nhanh đến các máy bay lên thẳng và máy bay ném bom đến cứu nhưngkhông tìm thấy bóng dáng nào của du kích nữa” Bác cười rất vui nói: “Chú thấy không,đôi chân của quân giải phóng còn nhanh hơn cả máy bay địch”
Đồng chí báo cáo thêm với Bác về trận đánh sân bay Biên Hòa Đêm 16-5 ta pháhủy 42 máy bay, làm chết và bị thương 150 tên Mỹ Sáng ngày 17-5 một quả bom 250 kglại nổ trong sân bay làm cho bọn Mỹ rất hốt hoảng Theo hãng UPI, bọn chóp bu Mỹ đangnơm nớp lo sẽ còn nhiều vụ nổ lớn xảy ra, ở căn cứ không quân Tân Sơn Nhất cũng chịuchung số phận như thế… Tên thiếu tướng Mỹ M.Casơ chỉ huy lữ đoàn lính thủy đánh bộ
Mỹ số 9 được giao nhiệm vụ bảo vệ căn cứ Đà Nẵng đã thú nhận rằng quân của hắn sẽ
“Không thể ngăn chặn được những cuộc tiến công bằng súng cối của Việt Cộng…” Ngheđến đây Bác nói: “Thượng sách là rủ nhau cuốn khỏi Việt Nam…” Thấy đồng chí ngừnglại một hồi lâu, Bác tiếp tục hỏi: “Hết rồi hả? Các mặt trận khác ra sao?”
Thời gian có hạn, buổi sáng nay còn nhiều công việc khác nên đồng chí chuyểnsang phần mừng sinh nhật Bác ở bên nhà… Bác im lặng đưa mắt nhìn ra cửa sổ Rõ ràngBác thích nghe tin chiến thắng của quân dân hai miền hơn là nghe những thư, điện chúctụng Trong những tháng năm này đối với Bác Hồ, có lẽ không có niềm vui nào lớn hơn làniềm vui nhận được tin chiến thắng của hai miền Nam Bắc
Một vinh dự lớn của quân và dân Biên Hòa, Bà Rịa-Long Khánh là những đóa hoachiến công dâng Bác, chiến thắng La Ngà 2, chiến thắng sân bay Biên Hòa đã đến kịpthời với Bác đúng vào ngày 19-5-1965, mừng Bác Hồ kính yêu tròn 75 tuổi
Trang 17
-THÀNH TỰU PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI TỈNH ĐỒNG NAI TỪ 30/4/1975 ĐẾN NAY
1 Giai đoạn từ 1975 đến trước thời kỳ đổi mới năm 1986
Với chiến thắng 30 – 4 – 1975 lịch sử, Đồng Nai bước vào thời kỳ mới: Khắc phụchậu quả chiến tranh, cùng cả nước bắt tay xây dựng chủ nghĩa xã hội Tháng 1 – 1976,Trung ương quyết định thành lập tỉnh Đồng Nai trên cơ sở sáp nhập 3 tỉnh: Biên Hòa, BàRịa - Long Khánh, Tân Phú với diện tích 8.360 km2, số dân 1.223.683 người, gồm 10 đơn
vị hành chính cấp huyện Hơn 30 năm qua, Đồng Nai đã vượt qua nhiều khó khăn thửthách, đạt nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế xã hội Đặc biệt từ năm 1986, thực hiện
sự nghiệp đổi mới, Đồng Nai luôn là tỉnh năng động, sáng tạo, một trong những địaphương đi đầu cả nước về phát triển kinh tế
Sau giải phóng chính quyền cách mạng đứng trước khó khăn gay gắt: Cơ sở kinh
tế, hạ tầng của chế độ cũ xây dựng chủ yếu để phục vụ cho chiến tranh, đời sống, công ănviệc làm của hơn 1 triệu dân trong tỉnh mà phần lớn là đồng bào vùng tạm chiếm sốngdựa vào trợ cấp của chế độ cũ, không quen lao động Lương thực thiếu nghiêm trọng, bìnhquân đầu người năm 1975 của tỉnh chỉ đạt 89 kg, các nhu yếu phẩm cho đời sống thườngngày thiếu gay gắt do sản xuất chưa hồi phục Về nông nghiệp các công trình thủy lợichưa có gì, năng suất cây trồng, vật nuôi rất thấp Sản xuất công nghiệp khó khăn dothiếu nguyên liệu, vật tư, phụ tùng thay thế, một số giới chủ và công nhân lành nghề đã bỏ
Phát huy truyền thống cách mạng của chiến khu Đ và miền Đông, đã được thửthách qua 2 cuộc kháng chiến, nhân dân Đồng Nai đã vượt qua mọi thử thách: Nhanhchóng khôi phục sản xuất, đảm bảo đời sống nhân dân, từng bước giải quyết công ăn việclàm, xây dựng nền văn hóa mới Về nông nghiệp nhiều công trình thủy lợi được xâydựng, đưa nông dân vào con đường làm ăn tập thể bằng nhiều hình thức: tổ vần công, tậpđoàn sản xuất, hợp tác xã Năm 1981, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị 100 CT -TW và sau
đó là Chỉ thị 10/CT-TW về khoán sản phẩm trong nông nghiệp đến nhóm và người laođộng, phong trào sản xuất nông nghiệp có bước phát triển mới Đến năm 1984 cả tỉnh có
1143 hợp tác xã và tập đoàn sản xuất Về công nghiệp sau thời gian ngắn, 76/92 nhà máy,
Trang 18xí nghiệp Khu công nghiệp Biên Hòa đã trở lại hoạt động Tỉnh chủ trương ph át triểncông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nhằm tạo công ăn việc làm cho nhân dân Cuối năm
1984 toàn tỉnh có 243 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thu hút trên 40.000 lao động.Năm 1982 nhà nước đầu tư xây dựng nhà máy thuỷ điện Trị An, nhà máy thủy đ iện lớnnhất ở phía Nam Giáo dục được đầu tư phát triển, các lớp xoá nạn mù chữ, bổ túc vănhóa được mở khắp các phường, xã, thị trấn đảm bảo nhu cầu học tập của nhân dân Trạm
y tế được xây dựng, công tác chăm sóc sức khỏe được quan tâm
2 Giai đoạn từ năm 1986 đến nay
Từ năm 1986, Đảng ta nhận thức phải đổi mới, đó là con đường duy nhất đưa đấtnước đi lên Đại hội VI của Đảng tháng 12 – 1986 đã vạch ra con đường đổi mới, chủtrương đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế, xoá bỏ cơ chế hành chí nh, tập trungquan liêu, chuyển sang hạch toán kinh tế, xây dựng đất nước theo cơ chế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa
Bên cạnh những khó khăn, nền kinh tế của tỉnh bắt đầu xuất hiện nhiều nhân tốtích cực Một số cơ sở năng động làm ăn có hiệu quả , trong nông nghiệp “khoán 100”, rồi
“khoán 10” đã mang lại sức sống mới, có những điển hình mới trong nông nghiệp, đã tạođược khí thế mới trong sản xuất Đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa trongquan hệ, với tinh thần “Việt Nam muốn làm bạn v ới các nước” đã dần dần phá vỡ thế baovây cấm vận của kẻ thù Chính nhờ đường lối ngoại giao đúng đắn, mềm dẻo, nhiều nước
đã lập lại quan hệ ngoại giao với Việt Nam, năm 1995 Mỹ chính thức bình thường hóaquan hệ với Việt Nam Năm 1990 tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợpquốc (UNESCO) tuyên dương Chủ tịch Hồ Chí Minh “Anh hùng giải phóng dân tộc,danh nhân văn hóa thế giới”, là sự kiện quan trọng, có ý nghĩa lớn
Năm 1988, Quốc hội ban hành Luật Đầu tư nước ngoài, Đồng Nai nhanh chóngnắm bắt thời cơ, chủ trương thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển công nghiệp, tạo điềukiện cho các ngành kinh tế khác phát triển Cuối năm 1995 Đồng Nai đã thu hút 143 dự
án đầu tư nước ngoài, với số vốn đầu tư 2,4 tỷ USD của 17 quốc gia và vùng lãnh thổ,hình thành được 11 khu công nghiệp tập trung Từ việc chủ động thu hút đầu tư nướcngoài, đã thúc đẩy phát triển công nghiệp địa phương, tiểu thủ công nghiệp, tiến hànhcông nghiệp hóa nông nghiệp- nông thôn và có điều kiện để phát triển sự nghiệp văn hóa -
xã hội
Thực hiện sự nghiệp đổi mới từ năm 1986 với những bước đi chập chững ban đầu,quyết tâm vượt qua giai đoạn cực kỳ khó khăn của những năm 90 của thế kỷ XX, ĐồngNai đã tạo được khí thế mới, trở thành tỉnh trọng điểm kinh tế phía Nam, tạo được khởisắc của quá trình phát triển
Lĩnh vực kinh tế, Đồng Nai đã phát huy tiềm năng, thế mạnh của mình, huy độngđược các nguồn lực sẵn có Thực tế đã chứng minh, chọn ưu tiên phát triển công nghiệpcủa tỉnh là đúng hướng Từ phát triển công nghiệp đã đưa nền ki nh tế của tỉnh phát triểnvới nhịp độ cao, có điều kiện để phát triển các lĩnh vực khác, góp phần chuyển dịch cơ
Trang 19cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa Bước sang thiên niên kỉ mới, nền kinh tế củatỉnh tiếp tục giữ nhịp độ tăng trưởng cao, ổn định và khá bền vững Năm 2008 tốc độ tăngtrưởng GDP đạt 15,4%, hơn hai lần so với mức tăng trưởng của toàn quốc Nền kinh tếtiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm dần tỉ trọng kinh tế nông lâm thủy sản,tăng tỉ trọng kinh tế dịch vụ: Tỉ trọng kinh tế công nghiệp, xây dựng chiếm 57,9%, kinh tếdịch vụ chiếm 31,5%, nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm 10,6% Thu nhập bình quânđầu người đạt hơn 21 triệu đồng Toàn tỉnh đã qui hoạch xây dựng 27 Khu công nghiệptập trung, thu hút 946 dự án đầu tư nước ngoài, với số vốn đăng ký hơn 14 tỷ đô la Mỹ,Đồng Nai đứng thứ 3 cả nước về thu hút đầu tư nước ngòai.
Các thành phấn kinh tế tiếp tục phát triển: Kinh tế nhà nước được củng cố theohướng tích tụ và tập trung vốn, hình thành các Tổng công ty qui mô lớn, nâng cao đượchiệu quả quản lí, sản xuất kinh doanh Kinh tế tập thể phát triển cả số lượng và chấtlượng, đổi mới mô hình và phương thức hoạt động Kinh tế tư nhân phát triển nhanh về sốlượng và cơ cấu ngành nghề, góp phần huy động khá cao về nguồn vốn và nhân lực chophát triển Kim ngạch xuất nhập khẩu đạt khá, nhiều mặt hàng xuất khẩu số lượng lớn nhưcao su, hạt điều, sản phẩm điện, điện tử, hàng may mặc, đồ gỗ…
Sự nghiệp giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường đạt đượcnhiều tiến bộ, việc chăm sóc sức khỏe nhân dân, chăm lo đời sống văn hóa, tinh thần,công tác đền ơn đáp nghĩa, chăm lo đối tượng chính sách, đặc biệt là chương trình xóa đóigiảm nghèo đạt kết quả khả quan Năm 1998 thực hiện xong xoá mù chữ và phổ cập giáodục Tiểu học, năm 2004 hoàn thành phổ cập Trung học cơ sở, năm 2006 thực hiện phổcập Tiểu học đúng độ tuổi, đến 2008 có 70% xã phường đạt tỉ lệ tốt nghiệp THPT vàtương đương theo chuẩn phổ cập bậc Trung học 100% số xã có trạm y tế cơ sở 100% ấp,khu phố có cán bộ y tế, các dịch bệnh được đẩy lùi, hơn 40% số dân tham gia bảo hiểm y
tế Trẻ em dưới 6 tuổi được khám chữa bệnh miễn phí Số hộ nghèo năm 2008 giảm còn4,83%, hàng năm có hơn 50.000 lao động được đào tạo nghề, nâng tỉ lệ lao động đượcđào tạo của tỉnh lên 37,5% Toàn tỉnh có gần 90% số ấp và số hộ đạt tiêu chuẩn ấp, giađình văn hóa Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, thế trận anninh nhân dân được củng cố vững chắc
Nhiều phong trào của quần chúng đã được phát động như xây dựng gia đình v ănhóa, khu phố văn hóa, toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, xoá đóigiảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa thực hiện khá hiệu quả, được mọi người nhiệt tình ủng hộ.Khẩu hiệu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” đã đi vào lòngngười
Trang 20
-ĐỒNG NAI –VÙNG ĐẤT MỞ TRONG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
Khi nghiên cứu về văn hoá cổ ở Đồng Nai, các nhà khoa học đã phát hiện nhiềudấu tích của những công xưởng chế tạo công cụ lao động cách đây hàng nghìn năm Bêncạnh những di chỉ cư trú , nhiều địa điểm cho thấy người cổ đã tập trung sản xuất công cụlao động để trao đổi giữa cư dân của khu vực này với khu vực khác Trên những tiểuvùng địa lý từ vùng đồi núi cho đến ven sông, ven biển, xã hội ng ười cổ Đồng Nai đãchuyên môn hoá công đoạn sản xuất thể hiện những ý niệm trong phát triển kinh tế trongchuyên môn hoá lao động, thực hiện sự trao đổi giao lưu hàng hoá với nhau dầu rằng mức
độ trong một chừng mực của thời điểm cách đây hàng nghìn năm Nhưng đó là những cơ
sở tích cực của cư dân Đồng Nai thời Tiền sơ sử, đã góp phần cho nền văn minh lưu vựcsông Đồng Nai phát triển mạnh mẽ
Những phát hiện khảo cổ học cũng cho thấy, trước khi những lớp di dân Việt, Hoađến khai khẩn, trên vùng đất Biên Hoà – Đồng Nai đã hình thành những địa điểm vensông Đồng Nai phát triển thương mại Nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng đưa ra mô hìnhvới hệ thống đền đài, thành quách – thành trì - cảng thị phát triển dọc theo trục lộ sôngĐồng Nai của những lớp cư dân xưa Những dấu tích xưa giờ vẫn còn đó trong chừngmực của cuộc sống hiện tại Đó là những cơ sở cho thấy vùng đất Đồng Nai là một trongnhững địa bàn có ưu thế phát triển kinh tế hàng hoá với tính chất giao th ương mạnh mẽcủa một thời lịch sử
Hiện nay, Đồng Nai được xem như vùng đất mở, thu hút đầu tư và phát triển côngnghiệp, đẩy mạnh giao thương kinh tế với quy mô rộng lớn Đồng Nai là địa bàn có quátrình hội nhập, phát triển công nghiệp mạnh trên địa bàn miền Đông Nam Bộ Với vị tríđịa lý, tiềm năng và những cơ sở nền từ một quá trình phát triển trước đây, Đồng Nai cónhững điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập, phát triển Đặc biệt, từ sau giai đoạn đổimới đến nay, quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài, sự hìn h thành các khu công nghiệp,việc định hướng quy hoạch phát triển đến năm 2020 phấn đấu cơ bản trở thành tỉnh côngnghiệp phát triển cho thấy một xu thế đẩy mạnh phát triển của Đồng Nai - nhất là quátrình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá
Từ những thập niên đầu thế kỷ XX, sau khi cơ bản hoàn thành các cuộc bình định,chính quyền thuộc địa Pháp đã bắt tay vào đầu tư và khai thác trên vùng Đồng Nai Từđây, bắt đầu cho một thời kỳ phát triển trên lãnh vực công nghiệp ở Đồng Nai Tất nhiên,trong quá trình đầu tư này, chính quyền thuộc địa và tư bản Pháp chú trọng đầu tư và khaithác đối với những ngành nhanh chóng thu lợi nhuận như gỗ, cao su….cùng các nhà máy,
xí nghiệp kỹ thuật có liên quan Đây là một trong những cơ sở tác động cho sự phát triểncông nghiệp của Đồng Nai cho những thời kỳ lịch sử tiếp theo mà hiện nay hệ thống cácnông trường cao su, các cơ sở lâm nghiệp kế thừa
Từ giữa thập niên 50 của thế kỷ XX, địa bàn Đồng Nai được đầu tư và phát triểncông nghiêp khá mạnh mẽ Chính quyền Sài Gòn được sự viện trợ của Hoa Kỳ đã thựchiện những đợt đầu tư với quy mô lớn trong thời điểm bấy giờ để phát triển công nghiệp,
đô thị hóa Nhiều cơ sở công nghiệp của thời kỳ lịch sử trước được tiếp tục duy trì phát
Trang 21triển, nhiều khu nhà máy, xí nghiệp được hình thành với nhiều ngành nghề Tại Đồng Nai
đã hình thành nên một Khu kỹ nghệ Biên Hòa từ những năm 1959 Sau khi hoàn thành, đivào hoạt động thì Khu Kỹ nghệ Biên Hòa trở thành một đại bản doanh công nghiệp lớnnhất Việt Nam thời bấy giờ
Khu kỹ nghệ Biên Hòa được hình thành bên cạnh căn cứ quân sự với Tổng khoLong Bình – một tổng kho vũ khí quân nhu, quân dụng lớn nhất Đông Nam Á của Mỹ vớimột số nhà máy, xí nghiệp có liên quan đến hoạt động của Tổng kho Bên cạnh mục đíchcho việc phục vụ trực tiếp hay gián tiếp cho yêu cầu chiến tranh thì hoạt động của Khu Kỹnghệ Biên Hòa cũng đa dạng hóa với nhiều ngành nghề kinh tế mà nguồn đầu tư cũng rất
đa dạng Vì vậy, nếu nhìn từ những góc độ khác, sự phát triển của khu Kỹ nghệ Biên Hòatrong chiến lược phát triển kinh tế - có thể nói là phát triển công nghiệp của chính quyềnSài Gòn Và quan trọng là việc hình thành này Khu kỹ nghệ Biên Hòa đã thể hiện vị trí,vai trò quan trọng của địa phương này trong chiến lược phát triển chung của miền Nam.Đây cũng là một cơ sở nền mang yếu tố tích cực tác động đến quá trình phát triển nóichung của Đồng Nai và trong lãnh vực Công nghiệp hoá - hiện đại hoá trong những giaiđọan về sau Một “nguồn vốn quý” từ khu Kỹ nghệ Biên Hòa được thể chế chính quyềncách mạng sau này kế thừa không chỉ từ cơ sở vật chất mà còn ở đội ngũ, kinh nghiệmcho hoạt động khi nắm quyền lãnh đạo, thực hiện những chủ trương phát triển kinh tế địaphương
Từ tháng 4 năm 1975, chính quyền cách mạng địa phương bắt tay ngay vào việctiếp quản và ổn định xã hội, đời sống cho người dân Trong quản lý và phát triển kinh tế,chính quyền địa phương tiếp quản ngay khu Kỹ nghệ Biên Hòa Trong tình hình thời gianđầu giải phóng, toàn khu kỹ nghệ Biên Hòa chỉ còn 38/94 nhà máy, xí nghiệp hoạt động
Có nhiều yếu tố tác động đến việc tiếp quản, điều hành và đưa vào hoạt động của khu kỹnghệ: nguồn nhân lực thiếu, nguồn đầu tư không có, nguyên liệu khan hiếm, hạn chếtrong chính sách sử dụng bộ máy quản lý, điều hành …Dầu có những khó khăn, songKhu kỹ nghệ Biên Hòa là nguồn vốn “sẵn có” để Đồng Nai từng bước đưa vào hoạt độngcho yêu cầu phát triển kinh tế của địa phương
Từ năm 1975 cho đến nay, vấn đề phát triển công nghiệp nói riêng hay quá trìnhCNH – HĐH được Đồng Nai chú trọng Điều này thể hiện rõ nét với những xác định cótính chất mục tiêu, phương hướng và các giải pháp thực hiện được nêu lên cụ thể trongcác Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh; đặc biệt, trong giai đọan đất nước đổi mới (1986) vàthời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH bắt đầu từ năm 1995 trở đi Bước vào giai đoạn thực hiệnđường lối đổi mới, với tiềm năng, lợi thế địa phương, Đồng Nai xác định mục tiêu địnhhướng phát triển kinh tế: Huy động mọi nguồn lực, tập trung đầu tư đẩy mạnh phát triểnsản xuất công nghiệp; tạo động lực thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và chuyểndịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh cơ cấu ngành công nghiệp Đồng Nai đã triểnkhai nghiên cứu, quy hoạch xây dựng các khu công nghiệp tập trung, các cụm côngnghiệp; đồng thời xác định chủ trương đúng, biện pháp tích cực để thu hút ngày càngnhiều các dự án đầu tư nước ngoài
Việc kế thừa và xác định mục tiêu phát triển, đẩy mạnh phát triển công nghiệp trên
cơ sở thực tiễn địa phương, từng bước đúc kết từ kinh nghiệm của quá trình thực hiện làmột yếu tố rất quan trọng cho quá trình CNH – HĐH ở Đồng Nai Quy hoạch tổng thể
Trang 22phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai thời kỳ 2006 - 2020 đã được thông qua (tại kỳhọp thứ 9- Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai khóa VII) Trong đó, mục tiêu mà Đồng Naiđặt ra là đến năm 2020 sẽ phấn đấu trở thành tỉnh công nghiệp hóa Với chủ trương, mụctiêu và các giải pháp đề ra trong lịch trình này là một thuận lớn cho quá trình CNH –HĐH của Đồng Nai Trong quá trình đó, tỉnh Đồng Nai cũng được xác định là một địabàn trọng điểm, động lực của phía Nam với những đặc thù với những yêu tố của lịch sửtác động.
Qúa trình CNH – HĐH đã đem lại cho Đồng Nai có những biến chuyển tốt trongphát triển kinh tế, xã hội với những thành quả đã đạt được Trong điều kiện của thời kỳhội nhập, phát triển, tiếp tục đẩy mạnh quá trình này, Đồng Nai chắc chắn sẽ có nhiềuthuận lợi với nền tảng của một thực tiễn công nghiệp hóa, hiện đại hóa sinh động Song,bên cạnh đó, chắc chắn quá trình CNH – HĐH cũng đứng trước những nguy cơ, tháchthức, ảnh hưởng đến nhiều mặt… cần phải có những giải pháp đồng bộ, tích cực và mộtchiến lược phát triển tòan diện hơn đòi một chiến l ược và những giải pháp cụ thể để bảođảm tính phát triển bền vững
-DI TÍCH LỊCH SỬ ĐỒNG NAI
Di tích là di sản văn hoá vật thể, là tài sản vô giá của thế hệ cha ông để lại cho thế
hệ hôm nay Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, đến năm 2009, có 35 di tích đ ược xếp hạng.Trong số những di tích được xếp hạng có nhiều loại hình khác nhau; trong đó có loại hình
di tích lịch sử
Di tích lịch sử trên địa bàn Đồng Nai gắn liền với những sự kiện lịch sử quan trọngcủa quân và dân Đồng Nai trong quá trình đấu tranh chống ngoại xâm Những di tích nầyphản ánh những địa điểm, dấu ấn, sự kiện tiêu biểu, quan trọng trong những thời kỳ lịch
sử của Đồng Nai
1.Di tích Quảng trường Sông Phố
Quảng trường Sông Phố khu vực giao lộ của hai tuyến đường Cách mạng thángTám và đường 30 tháng 4 thuộc địa phận phường Thành Bình, thành phố Biên Hoà.Người dân quen gọi là Quảng trường Sông Phố với tên thân thương Bùng binh Trung tâm
vì nó tọa lạc gần các công sở của tỉnh Đồng Nai và từ Sau khi đánh chiếm và bình địnhBiên Hòa, vào đấu thế kỷ XX, thực dân Pháp đã tiến hành xây dựng nhiều công sở trênvùng đất nầy để phục vụ cho chính quyền thuộc địa Quảng trường Sông Phố được xâydựng cùng với kiến trúc của Toà Bố Biên Hòa (kiến trúc này đự ơc thay thế bởi công trìnhcủa Trụ sở làm việc của Khối nhà nước), Dinh tỉnhtrưởng (nay là Nhà thiếu nhi tỉnh ĐồngNai ) tạo nên một khung cảnh kiến trúc hài hòa ở một thành phố có qui mô vừa phải bênsông Đồng Nai thơ mộng
Trang 23Tại khu vực giao lộ, một hồ nước được xây dựng kiên cố nhưng hài hòa trong cảnhquan chung của các tuyến giao thông.
Quảng trường Sông Phố đã đi vào lịch sử xứ Biên Hòa từ những ngày sôi động khiquần chúng nổi dậy cướp chính quyền mùa thu tháng Tám năm 1945 Ngày 27/8/1945,nơi đây đã diễn ra cuộc mít tinh trọng thể chào mừng chính quyền cách mạng lâm thờiđầu tiên của tỉnh Biên Hòa
Trong khí thế cách mạng của tháng Tám lịch sử trên cả nước, người dân Biên Hòahăng hái tham gia vào cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền Sau khi nhận được chủtrương của Xứ ủy Nam kỳ, Ủy ban khởi nghĩa của tỉnh Biên Hòa được thành lập và nhanhchóng tập hợp, lãnh đạo quần chúng khởi nghĩa Trong những ngày cuối tháng Tám năm
1945, trước làn sóng cách mạng dâng cao, bộ máy chính quyền thuộc địa ở Biên Hòa hầunhư bị tê liệt Các lực lượng cách mạng, yêu nước được tập họp: Thanh niên Tiền Phong,
tự vệ chiến đấu, quần chúng yêu nước dưới sự lãnh đạo của Ủy ban khởi nghĩa Biên Hòanhanh chóng chiếm lấy các cơ sở địch Ngày 26/8/1945, đồng chí Nguyễn Văn Nghĩa tậptrung hàng trăm quần chúng tiến vào Toà Bố Biên Hòa treo lá cờ đỏ sao vàng Nhân dânBiên Hòa vui mừng, reo hò vang dậy, ngắm lá cờ Tổ quốc tung bay Ủy ban khởi nghĩaBiên Hòa buộc chính quyền thuộc địa bàn giao chính quyền cho cách mạng
Buổi sáng ngày 27/8/1945, tại Quảng trường Sông Phố, một cuộc mít tinh lớn được
tổ chức với hơn một vạn người tham dự Trong không khí trào dâ ng của thắng lợi cáchmạng, đồng chí Dương Bạch Mai – cán bộ Xứ ủy Nam kỳ đại diện mặt trận Việt Minh ởNam Bộ diễn thuyết về đường lối cách mạng, của Đảng được quần chúng hoan nghênhnhiệt liệt Đồng chí Hoàng Minh Châu, trưởng ban khởi nghĩa, tuyên bố ch ính quyền vềtay nhân dân và công bố Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Biên Hòa
Kết thúc cuộc mít tinh, dòng người tham dự chia làm nhiều đoàn diễu hành, biểudương lực lượng trên các ngả phố Biên Hoà Đoàn người tuần hành vừa đi vừa hát những
Quảng trường Sông Phố (ảnh chụp năm 1995)
Trang 24bài ca cách mạng, thể hiện lòng yêu nước trong niềm vui tự do, độc lập, thoát khỏi áchxâm lược của ngoại xâm.
2 Di tích Chiến thắng La Ngà
Di tích Chiến thắng La Ngà thuộc địa bàn xã La Ngà huyện Định Quán Hiện nay,tại ngọn đồi cao tả ngạn sông La Ngà (km 107), có công trình tượng đài được xây dựngghi dấu chiến thắng của trận tấn công oanh liệt vào quân địch Di tích được Bộ Văn hoáxấp hạng theo quyết định số 235/ VH-QĐ ngày 12 tháng 12 năm 1986
Di tích gắn liền với sự kiện lịch sử thời kỳ kháng chếin chống Pháp Ngày 1 tháng
3 năm 1948, sau một thời gian dài chuẩn bị, Chi đội 10 và Liên quân 17 (Khu 7) phụckích đoạn đường dài 9 km từ cây số 104 đến 113 trên quốc lộ 20 để tấn công đoàn xequân sự Pháp di chuyển đến Đà Lạt Đây là đoạn đường rải nhựa bằng phẳng nhưng uốnlượn quanh co khúc khuỷu, có nhiều đoạn dốc kéo dài thuộc địa bàn Định Quán
Quân ta bố trí thành 3 trận địa theo mật danh A, B, C Trận địa A có nhiệm vụchặn đầu, trận địa C khoá đuôi và trận địa B tấn công vào giữa đội hình xe của địch Cáctrận địa được cài địa lôi bằng hình thức nguỵ trang dưới những đống phân voi tránh sựphát hiện của địch Đến 15 giờ 02 phút, đoàn xe của địch lọt vào trận địa phục kích Chiếc
xe dẫn đầu đội hình xe của địch lọt vào trận địa A, ta cho nổ địa lôi tấn công Chiếc thiếtgiáp bị đẩy hất lên nằm chắn ngang đường rồi bốc cháy làm tên chỉ huy đoàn xe cùng bộphận thông tin chết tại chỗ Quân ta dùng hoả lực mạnh tấn công tiêu diệt quân lính Số
xe địch đi sau lọt hẳn vào trận địa không nhận được tin tức về bộ phận dẫn đầu đoàn xe bịtiêu diệt Từ trận địa B và C, quân ta tập trung hỏa lực tấn công vào những xe quân sựđịch và nhanh chóng làm chủ trận địa Quân địch bị tấn công bất ngờ Lúc 16 giờ trậnđánh kết thúc, 59 xe địch bị tiêu diệt hoàn toàn, 150 lính lê dương đi hộ tống, 25 sĩ quanPháp, trong đó có đại tá De Sérigné (Đờ-xê-ri-nhê) - chỉ huy lữ đoàn lê dương thứ 13 vàđại tá Patruit (Pa-tơ-rút) - phó tham mưu trưởng thứ nhất quân viễn chinh Pháp ở ĐôngDương bị thiệt mạng, trung úy Joeffrey (Dép-phây) - chỉ huy đội hộ tống bị bắt sống
Cùng với bộ đội Chi đội 10 và liên quân 17, lực lượng vũ trang địa phương thamgia trận đánh rút về căn cứ an toàn Chiến thắng La Ngà gây một tiếng vang lớn trong cảnước ta, làm chấn động dư luận nước Pháp Đây l à trận đánh giao thông giành thắng lợilớn nhất trong cuộc kháng chiến chống Pháp của lực lượng vũ trang Biên Hòa nói riêng,lực lượng vũ trang Miền Đông Nam bộ nói chung Các đơn vị tham gia trận đánh đượcvinh dự nhận Huân chương Quân công hạng II do Bác Hồ trao tặng
3 Di tích Trung ương Cục miền Nam (1961 - 1962)
Địa điểm thành lập Trung ương Cục miền Nam (1961 – 1962) thuộc địa phận Phântrường 4, lâm trường Vĩnh An, xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai Di tích được
Bộ Văn hoá Thông tin ra quyết định công nhận số 02/ 2004/ QĐ.BVHTT ngày 19 tháng 1năm 2004
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, vào năm 1960, phong trào Đồng Khởi ở miềnNam dâng cao, cách mạng miền Nam chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công.Trước yêu cầu mới của cuộc cách m ạng, ngày 23 tháng 01 năm 1961, Bộ Chính trị Trungương Đảng ra quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam Trung ương Cục miềnNam được giao nhiệm vụ lãnh đạo toàn bộ chiến trường miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào
Trang 25Ngày 10 tháng 10 năm 1961, Hội nghị Trung ương Cục lần thứ nhất tại Mã Đà được tổchức Sự hình thành của Trung ương Cục miền Nam tại chiến khu Đ tạo ra một bướcngoặt mới trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Đảng bộ và quân dân miềnNam.
Di tích Trung ương Cục miền Nam tọa lạc cặp theo sông Mã Đà, Suối Nhung, suốiNứa (suối Mum) trên ngọn đồi đất sỏi bằng phẳng, có độ dốc thoải thoải với diện tíchkhoảng 20 héc- ta ở độ cao 20m so với mặt sông Mã Đà Bốn phía đều giáp sông suối tạonên ưu thế về mặt quân sự cũng như phản ánh được tầm nh ìn chiến lược trong việc chọnđịa bàn đứng chân của Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1961 – 1962
Tuy chỉ tồn tại trong hai năm 1961 – 1962, nhưng căn cứ Trung ương Cục miềnNam ở Mã Đà (Chiến khu Đ) là căn cứ chính thức đầu tiên đuợc xây dựng cho cơ qua nlãnh đạo cách mạng ở miền Nam sau phong trào Đồng Khởi (1960) Tại căn cứ này đãhình thành bộ máy tham mưu phục vụ cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo phong trào chiếntranh nhân dân ở miền Nam; xây dựng và phát triển các lực lượng vũ trang, lực lượngchính trị trên cơ sở tiếp nhận nguồn chi viện từ hậu phương lớn miền Bắc, làm cơ sở choviệc đẩy mạnh cuộc chiến tranh nhân dân trong sự nghiệp giải phóng đất nước
Sau khi Trung ương Cục miền Nam di chuyển về Bắc Tây Ninh, căn cứ này tiếptục tồn tại, là địa bà n đứng chân của nhiều cơ quan quân sự, hậu cần của Khu miền Đông
và của Miền Những dấu vết di tích được lưu lại bởi các bộ phận chính: Hệ thống giaothông hào, Hầm trú ẩn, Nền nhà, hầm…Các bộ phận này được phân bố rộng khắp trênthực địa ở bốn khu vực chính do các đơn vị Ban Giao liên, Ban An ninh, Ban chỉ huy(Văn phòng Trung ương Cục), Ban Tổ chức - Tuyên huấn đóng trước đây
Năm 2004, di tích Trung ương Cục miền Nam (1961 – 1962) được tiến hành trùng
tu, tôn tạo Tại khu di tích xây dựng Bia kỷ niệm Căn cứ Trung ương Cục và một số cácBan như trực thuộc: Bộ Chỉ huy Quân Giải phóng, Ban Bảo vệ An ninh, Ban Tuyên huấn,Ban Tổ chức, Ban Thông tin liên lạc, Đài phát thanh Giải phóng và Thông tấn xã, Bộphận Văn phòng TWC, Ban Giao - bưu - vận, Ban thông tin liên lạc, nhà làm việc, Hộitrường, một số giao thông hào, hầm trú ẩn; phục hồi con đường xuyên rừng dẫn vào khu
di tích, cải tạo cảnh quan thiên nhiên gắn với việc bảo vệ rừng và môi trường sinhthái…Trong phạm vi di tích, xây dựng một Nhà lưu niệm trưng bày những tư liệu hìnhảnh về quá trình thành lập, hoạt động của căn cứ cách mạng
-DI TÍCH KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT ĐỒNG NAI
Đồng Nai là địa bàn có đông dân cư sinh sống Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử,những cộng đồng cư dân đã xây dựng nhà ở, cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo (như đình, chùa,miếu…) đáp ứng được nhu cầu cư trú, sinh hoạt và đời sống tinh thần Hệ thống nhà ở, cơ
sở tín ngưỡng, tôn giáo ở Đồng Nai khá phong phú với nhiều loại hình, quy mô và kiểuthức có giá trị kiến trúc nghệ thuật đã được nhà nước xếp hạng là di tích kiến trúc nghệthuật
Trang 261 Kiến trúc nhà cổ
Vùng đất Biên Hoà – Đồng Nai có nhiều kiến trúc nhà cổ Nhiều ngôi nhà đ ượcxây dựng từ thế kỷ 18 Mặc dầu trải qua nhiều giai đoạn, được trùng tu song một số nhàbảo lưu những dạng kiến trúc cổ Ngoài công năng để làm n ơi cư trú, sinh hoạt, nhiềungôi nhà cổ ở Biên Hoà là những công trình kiến trúc có giá trị nghệ thuật cao Tổng thểcủa các cấu kết kiến trúc của nhà cổ thường được làm bằng những loại gỗ quý Đặc biệt,việc sắp đặt không gian, sự bài trí trong nội thất của nhà cổ phản ánh những nếp tập quánxưa Những bức hoành phi, bao lam, liễn đối, khám thờ hay các khung kiến trúc (kèo, cột,đầu đao…) được chạm khắc tinh tế, sắc sảo và đa dạng về đề tài thể hiện những ước vọngcủa con người về cuộc sống
+ Di tích nhà cổ Trần Ngọc Du
Ngôi nhà cổ Trần Ngọc Du thuộc địa phận khóm 1, phường Tân Vạn, thành phốBiên Hoà Đây là ngôi nhà cổ đầu tiên được xếp hạng di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuậttheo quyết định số 3524/QĐ.UBND của Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Nai vào ngày 10tháng 10 năm 2005
Ngôi nhà được ông Trần Ngọc Du xây dựng năm 1900 Kiến trúc nhà được xâydựng theo kiều thức nhà rọi – một trong những dạng kiến trúc nhà truyền thống của ngườiViệt vùng nông thôn Nam Bộ Nhà có 3 gian, hai chái, mái lợp ngói âm dương, nền lótgạch tàu Điều đặc biệt là những thành tố cấu thành kiến trúc cho ngôi nhà chủ yếu bằng
gỗ quí, được thợ điểu khắc chạm trỗ tinh xảo
Ngôi nhà có 36 cây cột gỗ căm-xe đen bóng chia làm 6 hàng với gốc được kê trênnhững tảng đá xanh Toàn bộ cột, kèo, xuyên, đòn tay, rui…được liên kết với nhau tạonên bộ khung bằng hệ thống mộng chốt liên hoàn Các cây xuyên được chạy chỉ thẳng,các vì kèo được tạo dáng uyển chuyển, được chạm khắc nổi hai bên và phía dưới Phầnkiến trúc là dung ở mỗi đoạn kèo tạo nét thanh thoát Hầu hết các phần gỗ với chức nănggiữ chắc cho bộ khung kiến trúc đều được chạm khắc nổi những đề tài dân gian một cách tinh tế
Phía trong nội thất, những mảng kiến trúc với đồ án trang trí truyền thống như trúctước, mai điểu, cúc kê, tùng lộc, dây hoa lá, cúc bướm, phật thủ, hạc mây, cuốn thư, hồivăn… được thể hiện trên khuông bông, cánh én, khánh thờ với thủ pháp điêu luyện củangười thợ chạm khắc gỗ Ngoài chức năng của một nơi cư trú, ngôi nhà cổ Trần Ngọc Ducòn là một công trình kiến trúc nghệ thuật khá độc đáo Kiến trúc nhà với những mảngkiến trúc theo mô típ dân gian thể hiện cách nhìn, cảm nghĩ của người xưa với ước vọngtốt đẹp cho con cháu, dòng họ qua ẩ n ngữ của các đề tài thể hiện theo chủ đích định sẵncủa chủ nhà
Di tích nhà cổ Trần Ngọc Du là một trong 5 ngôi nhà cổ truyền thống ở Việt Namđược quỹ tài trợ của Chính phủ Nhật Bản đầu tư kinh phí để bảo tồn Kiến trúc nhà cổ toạlạc trên một vị thế thiên nhiên hữu tình, phía trước nối ra bờ sông Đồng Nai là một trongnhững điểm du lịch dọc sông Đồng Nai khá lý thú
2 Di tích đình làng
Đình là cơ sở tín ngưỡng của cộng đồng dân cư Tên gọi của các ngôi đình gắn liền với tên gọi của làng xã Người dân quen gọi là đình làng Đình là nơi thờ Thần hoàng bổn
Trang 27cảnh – tức vị thần đựơc xem là bảo vệ dân làng Có những vị thần được thờ là những conngười có công với làng xã, đất nước.
Quy mô kiến trúc những ngôi đình lớn dần theo tỷ lệ thuận với sự mở mang thịnhvượng của cộng đồng Phần lớn những ngôi đình ở Đồng Nai được xây dựng theo kiểuthức kiến trúc nhà tứ trụ Đây là kiểu thức có gian trung tâm gồm 4 cột cái bố trí cách đều;
từ bốn cột cái, các kèo đấm, kèo quyết đưa ra bốn hướng nhau tạo không gian vuông vức.Đây chính là không gian thiêng, trung tâm cho việc thờ tự chính trong đình
Ngoài chánh điện, tùy nơi mà ngôi đình có nếp nhà hay được gọi là Võ ca, nhà hội,nhà trù (bếp) Mái đình thường được lợp ngói vảy cá trên giàn khung bằng rui gỗ Trên
nóc đình thường được trang trí cặp rồng chầu mặt trời ( lưỡng long triều nhựt) hay tranh quả châu (lưỡng long tranh châu) Một số đường mái được trang trí tượng gốm Cá hóa
rồng hay lân chầu Mặt tiền đình thường hướng ra sông, rạch hay các con đường
Tùy thuộc vào các nếp nhà được dựng trong tổng thể quy mô của đình mà nhậndạng lối kiến trúc Những dạng kiến trúc của đình thường theo lối chữ nhất, chữ nhị, chữtam, chữ đinh, chữ công…(tiếng Hán/Trung Quốc) Đối tượng thờ trong đình rất phongphú Đó là tập hợp nhũng thần linh mà dân làng tôn thờ và thể hiện trong việc bài trí trongkhuôn viên đình và nội thất của đình, gồm có Thành Hoàng, Phúc Thần, Thần linh vànhững người có công khai khẩn, xây dựng làng xã đã mất
Phần chánh điện của đình thường có bài trí tượng thờ, liễn đối, những bức hoànhphi đại tự , các bàn thờ được chạm khắc công phu trở thành những tác phẩm có giá trịnghệ thuật cao Đặc biệt, những ngôi đình còn bảo lưu những kiến trúc xưa, thường cónhững hàng cột lớn vốn là các loại danh mộc nh ư sao, dầu, gõ Các mảng trang trí chạmkhắc trên các bộ phận kiến trúc thể hiện nhiều đề tài dân gian kháphong phú
Gắn với đình làng là những lễ hội trong năm của cộng đồng dân cư Hằng năm, ởđình có lễ Cầu an với nhiều nghi thức, mục đích cầu cho mùa màng tươi tốt, quốc thái dânan thu hút nhiều người tham dự Đây là nét sinh hoạt văn hóa tốt đẹp của nhân dân ta
+ Đình An Hoà
Đình An Hòa là một công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo ở làng Bến Gỗ, xã AnHòa, huyện Long Thành Bến Gỗ là một làng cổ danh tiếng trong diễn trình phát triển củavùng đất Biên Hòa – Đồng Nai Chưa có tư liệu khảo chứng minh xác cho niên đại thànhlập đình An Hòa, nhưng chắc chắn, với việc lập làng sớm, đình An Hòa là một trongnhững cơ sở tín ngưỡng lâu đời của người dân thuở đến đây khai khẩn lập làng Nguyênthủy của đình là miếu thờ thần của làng Sự phát triển nhiều mặt của cộng đồng cư dân ởđây đã góp phần trong việc tu bổ, xây dựng nhiều cơ sở tín ngưỡng; trong đó, miếu củalàng được xây dựng trở thành ngôi đình làng vào năm 1792 Từ khi thành lập cho đếnnay, đình An Hòa trải qua niều lần trùng tu, tôn tạo lớn
Đình An Hòa được xây theo hướng đông nam, kiểu chữ nhị (=); gồm chính điện vànhà tiền bái Từ phần chính của kiến trúc này, về sau, người dân địa phương xây dựng,
mở rộng thêm nhà cầu (nơi hành lễ), nhà bái, vỏ ca Chánh điện được dựng theo kiến nhàvuông ở khu trung tâm thờ Thần trong không gian nhà ba gian hai chái Những hàng cột
gỗ vốn được chọn từ những loại danh mộc, to lớn Đặc biệt, trong các bộ phận cấu thànhnội thất kiến trúc chánh điện, những hương án được chạm khắc tinh vi Các vì kèo được
Trang 28chặm khắc hình học, liên hoa, hồi văn đối xứng, hình tượng xương cá đao vần trong mâycách điệu, hoa lá Toàn bộ các đầu dư, trụ đỡ, xà ngang, lá dung củ a đình được tạc hìnhtượng đầu rồng và lưỡng long chầu nhật, cúc liên chi, mây sóng nước, ngũ phúc lâmmôn thể hiện cái nhìn tinh tế, bàn tay tài hoa và nói lên ước vọng tốt đẹp của con ngườitrong quan niệm xưa Trên những hàng cột của đình có nhiều li ễn đối sơn son thếp vàng,phía các khung nhà có những hoành phi đại tự ca ngợi công đức của linh thần, các bậctiền hiền, hậu hiền có công lao đối với làng xã, những ước vọng, phong tục tốt đẹp củacon người.
Đối tượng thờ của đình là Thần thành hoàng bổn cảnh Một vị thần mà người dân địaphương tôn làm phúc thần để cầu an, bảo vệ cộng đồng người dân – tín ngưỡng dân giancủa cư dân Việt trên vùng đất Nam Bộ Điện thờ chính là biểu thị là chữ Thần bằng Hán
tự Đình An Hòa có sắc thần được phong vào triều vua Tự Đức với các mỹ tự Bảo An, Chính Trực, Hữu Thiện, Đôn Ngưng (hàm ý giúp nước, giúp dân, giữ gìn sự yên ổn,
khuôn phép ngay thẳng, trợ giúp dân làm điều thiện, điều tốt lành )
Trong kiến trúc đình An Hòa, có nhà vỏ ca được được xây riêng biệt ở sân đình,mặt tiền đối diện với chánh điện Nhà võ ca xây dựng đơn giản không có tường baoquanh, chỉ có một sân khấu để diễn hát bội và nghi lễ cúng thần
Đây là nơi diễn ra những cuộc ca xướng (hát bội) trong các dịp lễ Kỳ yên Tại Bến
Gỗ – An Hòa, người dân thành lập đoàn hát bội để phục vụ cho các dịp lễ hội của đình Đây là một nét sinh hoạt văn hóa độc đáo mà không phải địa phương nào cũng có được.Hằng năm, đình An Hòa tổ chức lễ Kỳ yên vào tháng tám (âm lịch) Đáo lệ ba nă m, đình
An Hòa tổ chức đại lễ Kỳ yên, cuôn hút nhiều người tham dự, trở thành một sinh hoạt vănhóa lành mạnh, đáp ứng nhu tinh thần cho người dân
Đình An Hòa là một trong những di tích kiến trúc nghệ thuật độc đáo ở Đồng Nai,bảo tồn khá nguyên vẹn nhữn g đặc điểm nghệ thuật chạm khắc gỗ Những giá trị lịch sử,
Ảnh: Di tích chùa Đại Giác – xã Hiệp Hoà, Biên Hoà
Trang 29nghệ thuật, văn hóa của đình là cơ sở để cơ sở tín ngưỡng này được liệt hạng di tích lịch
sử cấp quốc gia vào năm 1989
3 Di tích chùa
Chùa là cơ sở thờ Phật, đồng thời phối tự nhiều thần linh khác Đồng Nai là mộttrong những trung tâm truyền bá đạo Phật ở Nam Bộ Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử,cùng với sự phát triển kinh tế với nhu cầu của cộng đồng dân cư, chùa được sửa chữa,trùng tu nhiều lần Kiến trúc chùa được mở rộng hoặc xây dựng th êm Dạng thức nhà tứtrụ trong
chánh điện là kiểu thức kiến trúc truyền thống của chùa xưa ở Đồng Nai Trên địa bànĐồng Nai có nhiều chùa; trong số đó, có một số chùa với giá trị lịch sử, văn hoá, nghệthuật đã được xếp hạng di tích lịch sử
+ Chùa Hoa trên đất Biên Hoà
Chùa Ông là tên gọi dân gian chỉ Thất phủ cổ miếu ở Cù lao Phố thuộc xã HiệpHoà, thành phố Biên Hoà Đây là cơ sở tín ngưỡng do bảy phủ người Hoa: Phước Châu,Chương Châu, Quảng Châu, Triều Châu, Quỳnh Châu và Ninh Ba đóng góp công của xâydựng vào năm 1684
Tổng thể kiến trúc của di tích có kiểu hình chữ khẩu được bố trí theo “nội côngngoại quốc” Trong chùa lưu giữ một tập hợp tượng thờ về hệ thống thần linh chính yếucủa người Hoa sinh sống trên đất Biên Hòa Đó là tín ngưỡng thờ Q uan Công/ QuanThánh đế quân, thờ Bà Thiên Hậu, Mẹ Sanh mẹ Độ, Phúc thần, Tài thần… Nội thất chùađược trang trí với những mảng kiến trúc đa dạng như bao lam, liễn đối, khám thờ đượcchạm trổ tinh tế, thể hiện những điển tích, hình ảnh của các thần linh, vật linh, cảnh trí,sinh hoạt… trong quan niệm của người Hoa Bên cạnh đó là những mảng văn tự chữ Hánbiểu thị với trình độ chạm khắc tinh xảo, thủ pháp nghệ thuật tinh tế Phía sau chánh điện
là lầu thờ Quan Âm, được xây dựng vào năm 1927, sau nầy được tôn tạo mới và phối thờnhiều tượng thờ có tính dung hợp dân gian
Kiến trúc bên ngoài của di tích là một công trình nghệ thuật khá độc đáo và thểhiện nét đặc trưng của cơ sở tín ngưỡng Hoa Hai tượng ông Nhựt, bà Nguyệt đặt trên bờnóc tiền điện là một tro ng những đặc trưng cơ bản tạo nên nghi dung của một ngôi chùaHoa Bên cạnh đó, trên mái chùa là một quần thể tượng gốm liên hoành, sắc sảo Nhữngmảng tượng gốm với các đề tài lễ hội tiêu biểu như hát tuồng, múa cung đình, đá cầu,chuyện tích dân gian…được thể hiện sinh động Những mảng chất liệu bằng đá được thiết
kế bằng các tượng thú, hoa văn mỹ thuật đa dạng vừa là cấu kiện của kiến trúc vừa là mộttác phẩm nghệ thuật điêu khắc làm cho chùa độc đáo so với các di tích tín ngưỡng trênvùng Cù lao Phố
Kể từ khi xây dựng đến nay, chùa Ông đã trải qua nhiều đợt trùng tu, tôn tạo Vìvậy, những thành tố cấu kết kiến trúc di tích hiện tồn bao gồm những những thành tốkhông đồng nhất về niên đại và cũng không thuần nhất về phong cách, kiểu thức nghệthuật Là một cơ sở tín ngưỡng có niên đại khá sớm, đồng thời với kiến trúc hiện tồn độcđáo trên vùng đất vốn phát triển sầm uất với tính chất cảng thị lớn của Nam Bộ, chùa Ông
Trang 30là điểm thu hút nhiều du khách đến tham quan, nghiên cứu Hằng năm, vào các dịp lễ hội,nhiều người đến chiêm bái, cầu lộc dập dìu cả một mạn nam bờ sông Cù lao Phố.
DANH NHÂN ĐỒNG NAI
-Trong quá trình hình thành và phát triển, vùng đất Biên Hoà - Đồng Nai vinh dự gắn liền với những con người tiêu biểu, họ đã có nhiều cống hiến lớn lao trong công cuộc khai phá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần tạo dựng nên những cơ sở vững chắc cho vùng đất này đi lên trong nhiều lĩnh vực: kinh tế, xã hội, văn hóa…
1 Nguyễn Hữu Cảnh (1650 - 1700) - người đặt nền móng hành chánh đầu tiên
Lịch sử khẩn hoang Đồng Nai nói riêng và Nam Bộ nói chung được nhắc đến vớicột mốc thời gian 1698 bằng chuyến kinh lược của Nguyễn Hữu Cảnh Bằng những việclàm có ý nghĩa thiết thực trong một thời điểm lịch sử quan trọng, ông trở thành con ngườiđặt nền móng hành chánh đầu tiên trên vùng đất mới Đồng Nai
Đầu thế kỉ 16, chế độ phong kiến nước ta bước vào thời kì khủng hoảng Cuộcchiến tranh Nam - Bắc triều bùng nổ Từ thế kỷ 17, xảy ra cuộc chiến tranh Trịnh -Nguyễn (kéo dài từ năm 1627 đến 1672) Đất nước bi chia làm hai: Đàng Trong và ĐàngNgoài Chúa Trịnh thống trị Đàng Ngoài, chúa Nguyễn cai quản Đàng Trong Chiến tranhgiữa tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn khiến đời sống người dân chịu nhiểu khổ cực
Vùng đất Đồng Nai về phía Nam của đất nước bấy giờ còn hoang hóa đã thu hútnhiều người dân từ các nơi đến tìm kế sinh nhai, lập nghiệp Những lưu dân người Việt,một bộ phận người Hoa đến Đồng Nai rất sớm Họ kề vai sát cánh cùng các sắc dân bảnđịa Chơro, Mạ, Xtiêng tiến hành kh ai hoang, lập ấp Vùng đất Đồng Nai trở thành một nơiphát triển với số dân ngày càng đông ; đặc biệt lớp cư dân người Việt Nhằm tiến hànhquản lý và ổn định cho những lớp cư dân trên vùng đất này, chúa Nguyễn Phúc Chu cửNguyễn Hữu Cảnh kinh lược để sắp đặt nền hành chánh
Nguyễn Hữu Cảnh còn có tên là Nguyễn Hữu Thành, húy Cảnh (Kính), sinh nămCanh Dần tại xã Chương Tín, huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình Ông là con thứ ba củaChiêu Vũ hầu Nguyễn Hữu Dật, quê ở Gia Miêu, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Là một trong những tướng tài của nhà Nguyễn, Nguyễn Hữu Cảnh được chúaNguyễn Phúc Chu tin dùng Đầu năm Nhâm Thân (1692), ông được cử lãnh đạo quân línhbình định biên cương Sau đó được thăng chức từ Thống binh lên Chưởng cơ, trấn thủBình Khương (nay là huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa)
Mùa xuân năm Mậu Dần (1698) Nguyễn Hữu Cảnh được chúa Nguyễn Phúc Chu
cử vào kinh lược vùng đất Đồng Nai – Nam Bộ Đây là vùng đất được người Việt vàokhai khẩn đầu thế kỷ XVII Năm 1679, các đoàn người Hoa theo Trần Thượng Xuyên,Dương Ngạn Địch từ Trung Quốc đến thần phục Nam triều, được chúa Nguyễn cho phépđịnh cư ở Đồng Nai Họ cùng người Việt lập nên thương cảng cù lao Phố sầm uất bấy giờ.Nguyễn Hữu Cảnh dừng chân ở Cù lao Phố (nay thuộc thành phố Biên Hòa) bắt tay và oviệc tổ chức hành chính, xác định biên cương, lãnh thổ, lập thành làng xã, thôn xóm, qui
Trang 31định các thứ thuế đinh điền và chỉ đạo phát triển kinh tế ở vùng đất mới Nguyễn HữuCảnh chia xứ Đồng Nai (bao gồm cả Nam Bộ bấy giờ) ra làm hai huyện thuộc phủ GiaĐịnh, bao gồm : huyện Phước Long (Biên Hòa) có dinh Trấn Biên và huyện Tân Bình(Sài Gòn) có dinh Phiên Trấn Đối với người Hoa, ông cho nhập hộ tịch và chia thành hainhóm xã Thanh Hà tại Đông Phố thuộc Trấn Biên và xã Minh Hương tại Gia Định thuộcPhiên Trấn Ông khuyến khích dân chúng khai phá ruộng đất, trồng lúa, lập vườn, chănnuôi,… Chẳng bao lâu, vùng đất hoang sơ này trù phú, người dân có cuộc sống sung túc,nhà cửa mọc lên nhiều, đất đai mở rộng ngàn dặm vuông… là nền tảng cho việc phát triển
về sau
Cuối năm 1698, ông trở về Bình Khương (Khánh Hòa), công việc kinh lược vùngđất mới phía Nam cơ bản đã hoàn thành, Đồng Nai trở thành một địa phận hành chính vàchính thức có tên trên bản đồ quốc gia Đại Việt Tháng 7 năm Kỷ Mão (1699) NguyễnHữu Cảnh lại được cử đi dẹp loạn ở vùng biên cương miền Tây Nam bộ Sau khi dẹp loạnxong, đoàn quân của ông kéo về đến đồn Cây Sao (cù lao ông Chưởng ở An Giang) thì bịnạn bệnh dịch lớn xảy ra Nguyễn Hữu Cảnh bị nhiễm bệnh nặng không thể cứu chữa.Đến Rạch Gầm (tức nơi ngã ba sông Tiền) thì ông qua đời vào ngày 16 tháng 5 năm 1700,hưởng dương 50 tuổi
Trên đường đưa thi hài ông về Quảng Bình, quan tài ông đã tạm dừng vài ngày tại
Cù lao Phố, nơi ông đặt bản doanh trước đó Tại nơi này, người dân Biên Hòa đã xâ y ngôiquyền mộ vọng tưởng ông Chúa Nguyễn đã truy tặng ông là Hiệp tán công thần, đặc tiếnchưởng Dinh, Tráng hoàn hầu Đời vua Minh Mạng, ông được truy tặng “Khai quốc côngthần Tráng Võ Tướng Quân Vĩnh An Hầu”
Nguyễn Hữu Cảnh là “vị công thần trên đườ ng gian lao mở nước” và được nhân dân khắp nơi tôn kính lập đền thờ phụng (Đồng Nai, An Giang, Huế, Quảng Bình…)
Đối với vùng đất Đồng Nai – Gia Định, Nguyễn Hữu Cảnh là bậc “Khai quốc côngthần” Ở đây, ông đặt tổng hành dinh, cho di dân lập ấp, dựng th ành dinh trấn, mở đườngcho việc khuếch trương kinh tế, thương mại Người dân Đồng Nai trân trọng công lao củaông đã cải đình Bình Hoành thành Bình Kính thờ ông với lòng ngưỡng vọng sâu sắc, ghinhớ công lao của Nguyễn Hữu Cảnh với sự nghiệp khai sáng đất Đồng Nai
2 Nguyễn Tri Phương (1800 - 1873) - tấm gương hy sinh quên mình vì nước
Nguyễn Tri Phương- người anh hùng dân tộc đã cống hiến cả cuộc đời mình cho
sự tồn vong của đất nước trong những thời kì lịch sử đầy biến động, cam go Sự hy sinh tiết nghĩa của ông trở thành biểu trưng cho tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh chống ngoai xâm, bảo vệ đất nước.
Nguyễn Tri Phương là danh tướng nhà Nguyễn thời cận đại, sinh trưởng trong giađình làm ruộng và thợ mộc, song thân là Nguyễn Văn Đảng và Nguyễn Thị Thể, quê làngĐường Long (Chí Long), tổng Chánh Lộc, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên
Nguyễn Tri Phương tên thật là Nguyễn Văn Chương Thuở thiếu thời, ông là ngườitài trí và thông minh nên được sung vào bộ máy triều đình nhà Nguyễn, Nguyễn TriPhương đã tỏ rõ là một người tài cao trí lược, xứng đáng là một trong những bậc danhthần của triều đình Ông được cử đi kinh lược và dẹp loạn khắp trong Nam ra Bắc Năm
1850, vua Tự Đức cải tên ông là Nguyễn Tri Phương, ý lấy câu “Dõ ng thả tri phương”
Trang 32nghĩa là dũng mãnh và lắm mưu chước, ông được sung chức Khâm sai đại thần Tổngthống quân vụ kiêm Tổng đốc các tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, AnGiang, Hà Tiên,… Năm 1853, ông được thăng chức Điện hàm Đông các đại học s ĩ vàlãnh chức kinh lược xứ Nam kỳ, trong thời gian này, ông có công lập nhiều đồn điền, khaihoang lập ấp ở các tỉnh Nam bộ, làm cho dân cư ở địa phương no ấm, an cư lạc nghiệp.
Năm 1858, khi Pháp nổ súng tấn công vào cửa biển Đà Nẵng mở đầu cho mưu đồxâm lược nước ta, triều đình lâm nguy, tổng quân vụ đại thần Lê Đình Lý tử trận, NguyễnTri Phương đã nhận lãnh trách nhiệm chống giặc, ông cho nhân dân địa phương tham giađẩy lùi bước tiến của quân thù
Tháng 02 năm 1859, thành Gia Định bị Pháp tiến đánh, vua Tự Đức phái NguyễnDuy cùng với Tôn Thất Cáp và Phan Tịnh vào ứng cứu cho Nguyễn Tri Phương Ông đãcùng với quân dân tổ chức đắp lũy đóng đồn Chí Hòa (Kỳ Hòa) để phòng thủ thành GiaĐịnh Ngày 25-02-1861, thế giặc mạnh như vũ bão, chúng tấn công đại đ ồn Chí Hòa,quân triều đình chống trả dũng cảm nhưng không kháng cự nổi với những vũ khí tối tâncủa Pháp Quân ta bị tổn thất lớn, đại đồn thất thủ, Nguyễn Tri Phương bị thương nặngvàphải rút về lập đồn cản phá ở sông Đồng Nai-Biên Hòa Trên sông Đồng Nai, Nguyễn TriPhương cho đắp “cản” bằng đá ong để ngăn tàu địch Chỗ đắp cản quan trọng nhất làkhúc sông Long Đại, độ phân nửa đường sông Nhà Bè-Biên Hòa Hễ dưới sông có đá cảnthì trên bờ có đồn lũy, đại bác Hiện nay phía trước đền thờ Nguyên Tri Phương còn một
số cản bằng đá dưới sông tương truyền đó là dấu tích của việc lập cản ngăn tàu Pháp củaông trước kia
Năm 1862, sau khi triều đình Huế ký hòa ước Nhâm Tuất, Nguyễn Tri Phươngđược cử ra Bắc làm Tổng thống Hải An quân vụ và xem xét việc quân sự ở Bắc kỳ Năm
1873, nhân tên lái sung Jean Depuis hoành hành ở Bắc, Soái phủ Nam kỳ phái FrancirGarnier đem quân ra đánh úp thành Hà Nội Chiến sự xẩy ra quyết liệt, con trai ông là phò
mã Nguyễn Lâm tử trận, phần ông lại bị trọng thương và một lần nữa thảm cảnh khốncùng “nạn nước đã trở thành tang gia tộc Nguyễn” Vị tướng già trong cơn nước lửa, sứccùng lực kiệt đã từ chối được cứu chữa để khẳng khái tuyệt thực suốt gần một tháng vàmất ngày 20-11-1873 (tức ngày 01 tháng 11 âm lịch) thọ 73 tuổi
Cái chết của Nguyễn Tri Phương biểu trưng cho tinh thần bất khuất, nghĩa khí cantrường, là gương sáng soi chung Uy danh cũng như công trạng của ông còn sống mãi vớinhân dân Việt Nam
Đất Đồng Nai vinh dự đón Nguyễn Tri Phương vào tháng 2/1861, khi đại đồn C híHòa thất thủ, đại bộ phận quân ta rút về lập tuyến phòng thủ tại Biên Hòa, trong khi côngviệc phòng thủ đang gấp rút tiến hành thì triều đình có lệnh triệu hồi ông Nhân dân BiênHoà thương kính, tin yêu đã cản đầu ngựa, khẩn cầu ông ở lại đánh giặc cho đến cùng.Sau này, khi nghe Nguyễn Tri Phương hy sinh tại Hà Nội (1873), để tỏ lòng ngưỡng mộ
và thương tiếc vị anh hùng có công với xứ sở, người dân Biên Hoà đã tạc tượng và thờông tại đền Mỹ Khánh Sau đổi tên thành đền thờ Nguyễn Tri Phương
Năm mươi ba năm phụng sự đất nước, trải qua ba triều đại (Minh Mạng, ThiệuTrị, Tự Đức), Nguyễn Tri Phương luôn được tin dùng và liên tục giữ nhiều trọng tráchquốc gia Vì sứ mạng thiêng liêng của tổ quốc, Nguyễn Tri Phương đã đặt chân khắp