Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGUYỄN QUANG ÁNH PHỐI HỢP CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌ
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN QUANG ÁNH
PHỐI HỢP CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC KHI DẠY CÁC KIẾN THỨC VỀ SÓNG ÂM (VẬT LÝ 12 - NÂNG CAO) NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NẮM VỮNG KIẾN THỨC
CỦA HỌC SINH THPT MIỀN NÚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thái Nguyên, năm 2011
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN QUANG ÁNH
PHỐI HỢP CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC KHI DẠY CÁC KIẾN THỨC VỀ SÓNG ÂM (VẬT LÝ 12 - NÂNG CAO) NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NẮM VỮNG KIẾN THỨC
CỦA HỌC SINH THPT MIỀN NÚI
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lý
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Văn Khải
Thái Nguyên, năm 2011
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS - TS Nguyễn Văn Khải đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tận tình tác giả trong suốt quá trình thực hiện bản luận văn này
Tác giả xin chân thành cảm ơn tới các thầy, cô phản biện đã đọc và cho những nhận xét quý báu đối với bản luận văn này
Tác giả chân thành cảm ơn trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, Khoa Vật lý và Khoa Sau Đại học trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tạo điều kiện tốt nhất cho tác giả hoàn thành luận văn này Tác giả chân thành cám ơn các Thầy, Cô thuộc tổ bộ môn PP khoa Vật lý trường Đại học sư phạm Thái Nguyên, đặc biệt là Th.s Cao Tiến Khoa đã cộng tác và giúp đỡ quá trình triển khai nghiên cứu thí nghiệm phần sóng cơ
Tác giả chân thành cảm ơn các trường THPT Chu Văn An, THPT Nguyễn Huệ, THPT Đại Từ của tỉnh Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả thực nghiệm sư phạm và hoàn thành luận văn
Tác giả xin tỏ lòng biết ơn tới sự giúp đỡ tận tình của các Thầy, Cô cộng tác thực nghiệm sư phạm, các anh, chị em đồng nghiệp và những người thân trong gia đình đã động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả hoàn thành luận văn này
Luận văn này được hoàn thành tại khoa sau đại học Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên
Tác giả luận văn
Nguyễn Quang Ánh
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Mục lục i
Danh mục các kí hiệu, chữ viết tắt iii
MỞ ĐẦU 1
Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHỐI HỢP CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NẮM VỮNG KIẾN THỨC CỦA HỌC SINH THPT MIỀN NÚI 7
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 7
1.2 Các phương pháp dạy học Vật lý ở trường THPT 9
1.2.1 Khái niệm phương pháp dạy học 9
1.2.2 Phân loại phương pháp dạy học 10
1.2.3 Các phương pháp dạy học tích cực ở trường THPT 12
1.3 Phương tiện trong dạy học vật lý 19
1.3.1 Khái niệm phương tiện dạy học 19
1.3.2 Phân loại phương tiện dạy học [20] 19
1.3.3 Chức năng của PTDH trong dạy học vật lý ở trường THPT 20
1.3.5 Một số định hướng chung về phương pháp sử dụng phương tiện dạy học 29
1.4 Các căn cứ đánh giá chất lượng kiến thức [22] 30
1.5 Phối hợp phương pháp và phương tiện dạy học nhằm nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh 31
1.5.1 Một số nguyên tắc lựa chọn và phối hợp các PP&PTDH 32
1.5.2 Các biện pháp phối hợp PP&PTDH nhằm nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của HS 33
1.6 Nghiên cứu thực trạng dạy học các kiến thức về “Sóng âm” ở trường THPT miền núi 33
1.6.1 Mục đích 33
1.6.2 Phương pháp tìm hiểu thực tế dạy và học 34
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 38
Chương II XÂY DỰNG TIẾN TRÌNH DẠY HỌC CÁC KIẾN THỨC PHẦN “SÓNG ÂM” (VẬT LÝ 12-NC) NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NẮM VỮNG KIẾN THỨC CỦA HỌC SINH THPT MIỀN NÚI 40
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.1 Mục tiêu và cấu trúc kiến thức về “Sóng âm” (Vật lý 12 - NC) 40
2.2 Thiết kế tiến trình dạy học các kiến thức về “Sóng âm” (Vật lý 12 - NC) theo hướng phối hợp các phương pháp và phương tiện dạy học 41
2.2.1 Các phương án phối hợp phương pháp và phương tiện dạy học khi dạy các kiến thức về “Sóng âm” 42
2.2.2 Tiến trình dạy học bài “ Sóng âm Nguồn nhạc âm” 46
2.2.3 Tiến trình dạy học bài “Hiệu ứng Đốp – ple” 60
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 67
Chương III THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 68
3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 68
3.1.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 68
3.1.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 68
3.2 Đối tượng và phương pháp thực nghiệm sư phạm 68
3.2.1 Đối tượng của thực nghiệm sư phạm 68
3.2.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 69
3.3 Khống chế các tác động ảnh hưởng đến kết quả TNSP 70
3.4 Chuẩn bị cho thực nghiệm sư phạm 70
3.4.1 Chọn lớp thực nghiệm và đối chứng 70
3.4.2 Các bài thực nghiệm sư phạm 70
3.5 Giáo viên cộng tác thực nghiệm sư phạm 71
3.6 Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 71
3.6.1 Các căn cứ để đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 71
3.6.2 Đánh giá, xếp loại 72
3.7 Tiến hành thực nghiệm sư phạm và xử lý kết quả 73
3.8 Đánh giá chung về thực nghiệm sư phạm 84
KẾT LUẬN CHƯƠNG III 86
KẾT LUẬN CHUNG 87
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 94
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
CÁC DANH MỤC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PP&PTDH Phương pháp phương tiện dạy học
PTDH Phương tiện dạy học
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở thành nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc CNH, HĐH và hội nhập quốc tế là con người, là nguồn lực người Việt Nam được phát triển về số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao Việc này cần bắt nguồn từ giáo dục phổ thông; vì vậy phải coi trọng cách chiếm lĩnh kiến thức của loài người, trên cơ sở đó mà tiếp tục học tập suốt đời Xã hộiđòi hỏi người có học vấn hiện đại không chỉ có khả năng lấy ra từ trí nhớ các tri thức dưới dạng có sẵn, đã lĩnh hội ở nhà trường phổ thông mà còn phải có năng lực chiếm lĩnh, sử dụng các tri thức mới một cách độc lập; khả năng đánh giá các sự kiện, các tư tưởng, các hiện tượng mới một cách thông minh, sáng suốt khi gặp trong cuộc sống, trong lao động và quan hệ với mọi người Vì vậy hoạt động giáo dục trong nhà trường không dừng lại ở chỗ giúp học sinh nhận thức, tiếp thu được kiến thức, kĩ năng của nhân loại mà còn phải góp phần bồi dưỡng năng lực sáng tạo những kiến thức mới, cách thức sử dụng những công cụ mới để giải quyết các vấn đề trong học tập và cuộc sống. 1
Tình hình trên đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ nền giáo dục, trong đó đổi mới về phương pháp dạy học có tầm quan trọng đặc biệt
"Giáo dục phải là ở hàng đầu và đóng vai trò chủ chốt trong phát triển xã hội tương lai" Nghị quyết hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng
Cộng sản Việt Nam khoá VII về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã
nhận định: "Con người được đào tạo thường thiếu năng động, chậm thích nghi với
nền kinh tế xã hội đang đổi mới" Từ đó đã nêu rõ một trong những quan điểm chỉ
đạo để đổi mới sự nghiệp giáo dục là phải: "Phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân
trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo những con người có kiến thức
1
Tài liệu tập huấn thay sách lớp 10,11,12
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
văn hoá khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ, sáng tạo và có tính kỷ luật, giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu CNXH, sống lành mạnh, đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước những năm 90 và chuẩn bị cho tương lai " [32]
Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương II khoá VIII chỉ rõ phải “Đổi mới PPDH,
khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến, phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh ”
Chương trình giáo dục phổ thông ban hành theo Quyết định số
16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã nêu: “Phải phát huy tính tích
cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”
Vấn đề đặt ra đối với các trường học là cần không ngừng đổi mới về nội dung và PPDH Giáo dục phải gắn chặt với yêu cầu phát triển của đất nước, phù hợp với xu thế thời đại Song nền giáo dục nước ta trong giai đoạn vừa qua chưa đáp ứng được điều đó Trong kiểm điểm việc thực hiện nghị quyết Trung ương II
khoá VIII đã chỉ rõ những yếu kém và nguyên nhân: “Hoạt động học tập trong các
nhà trường ở mọi cấp học chủ yếu vẫn là hướng vào mục đích khoa cử, chưa quan tâm làm cho người dạy, người học, người quản lý coi trọng thực hiện mục đích học tập đúng đắn Phương pháp giáo dục nặng về áp đặt thường khuyến khích tiếp thu một cách máy móc, chưa khuyến khích sự năng động, sáng tạo của người học ”
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi dân số trên 1 triệu dân, có 9 đơn vị hành chính (1 thành phố loại II, 1 thị xã và 7 đơn vị huyện; gồm có 180 xã, phường) Trong 180 xã, phường có 100 xã đặc biệt khó khăn, có 1 huyện vùng cao (Võ Nhai)
và 4 huyện miền núi (Định Hóa, Đồng Hỷ, Đại Từ, Phú Lương) Toàn tỉnh có 100
xã được nhà nước công nhận là xã vùng cao, xã được hưởng chương trình 135 và ATK của Chính phủ Trên địa bàn có hơn 8 dân tộc anh em sinh sống: Kinh, Tày,
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Nùng, Sán chí, Sán dìu, Dao, Mông, Hoa Tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 30% dân số của tỉnh. 2
Nhiều HS xuất thân từ gia đình nông nghiệp, tỉ lệ HS
là con gia đình cán bộ công nhân viên chức hay gia đình tiểu thương rất ít, kinh tế khó khăn, đặc biệt khó khăn, ở xa trường, giao thông không thuận tiện ít được tiếp xúc với những thông tin cũng như các công nghệ kĩ thuật hiện đại Cá biệt có những
HS phải đi học xa nhà từ 20km đến 25km, các em nhận thức chậm và yếu, nhút nhát, chưa mạnh dạn trong giao tiếp, học tập, chưa có thói quen lao động trí óc
Qua tìm hiểu và thực tế giảng dạy ở trường phổ thông cho thấy: Sự đổi mới PPDH ở trường phổ thông (PT) đang được tiến hành, phát triển tương đối nhanh ở các trường thuộc khu vực thành phố, song chuyển biến còn chậm ở các trường miền núi, vùng sâu Thực tế giảng dạy ở các trường THPT cho thấy phần kiến thức về
“Sóng âm” (Vật lý 12 NC) có ý nghĩa khoa học kĩ thuật quan trọng, gắn liền với
cuộc sống hàng ngày, song cũng rất trừu tượng và khó đối với học sinh(HS), các thí nghiệm phần “Sóng âm” là các thí nghiệm khá trừu tượng và khó tiến hành trong điều kiện hiện tại của hầu hết các trường THPT Điều này gây nhiều khó khăn cho giáo viên (GV) trong việc truyền thụ kiến thức cho HS Vì vậy, nếu GV chỉ chú ý truyền thụ kiến thức theo phương pháp truyền thống mà không dạy học sinh cách tiếp cận với kiến thức một cách đúng đắn thì chất lượng dạy và học ở các trường THPT miền núi còn thấp, không đáp ứng được nhu cầu nguồn nhân lực cho xã hội trong giai đoạn hiện nay Nhằm khắc phục phần nào những mặt hạn chế trong quá trình dạy học ở các trường THPT miền núi hiện nay thì việc phân tích lựa chọn các phương pháp và phương tiện dạy học (PP&PTDH) để phối hợp chúng hợp lí với từng đối tượng HS, từng bài dạy nhằm nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của
HS là rất quan trọng, cần thiết đối với mỗi GV giảng dạy bộ môn vật lý phổ thông
Ở nước ta đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về PPDH vật lý và đổi mới PPDH vật lý ở các phần khác nhau của chương trình vật lý phổ thông nhưng vấn đề
phối hợp các PP&PTDH trong việc giảng dạy một số kiến thức về Sóng âm nằm
2
Tài liệu hội nghị tổng kết năm học 2008-2009 sở GD&ĐT Thái Nguyên
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
trong chương trình lớp 12 THPT nâng cao thì hầu như chưa có đề tài nào đề cập đến Vì vậy tôi chọn vấn đề:
“Phối hợp các phương pháp và phương tiện dạy học khi dạy các kiến thức
về Sóng âm (Vật lý 12 NC) nhằm nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh THPT miền núi” làm đề tài nghiên cứu
II Khách thể và đối tượng nghiên cứu
1 Khách thể: Quá trình giảng dạy và học vật lý ở các trường THPT tỉnh Thái Nguyên
2 Đối tượng nghiên cứu: Các phương pháp và phương tiện dạy học , hoạt động dạy và học vật lý các trường THPT tỉnh Thái Nguyên
III Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn vận dụng các PP&PTDH, tìm kiếm phương
án phối hợp các phương pháp và phương tiện dạy học trong dạy học nhằm nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh THPT miền núi khi dạy các kiến thức
về “Sóng âm” (Vật lý 12 NC)
IV Giả thuyết khoa học
Nếu phối hợp các phương pháp và phương tiện dạy học một cách khoa học
phù hợp thì có thể nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức về “Sóng âm” của học
sinh góp phần nâng cao chất lượng dạy học
V Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về hoạt động nhận thức của học sinh
- Nghiên cứu lý luận về các hình thức phương pháp dạy học tích cực và phương tiện dạy học
- Khảo sát thực tiễn việc vận dụng các PP&PTDH trong dạy học vật lý ở trường THPT trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Tìm hiểu những khó khăn của GV và
HS, nguyên nhân dẫn đến các khó khăn đó để tìm cách khắc phục Khai thác được vốn hiểu biết , những quan niệm và kiến thức sẵn có của HS trong quá trình DH phần sóng âm
- Nghiên cứu giải pháp phối hợp các phương pháp và phương tiện dạy học cho học sinh THPT miền núi thông qua dạy các kiến thức phần “Sóng âm”
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Thiết kế 3 giáo án phần “Sóng âm” theo hướng phối hợp các PP &PTDH đã nêu trên
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra, đánh giá tính khả thi của đề tài
VI Phương pháp nghiên cứu
1 Nghiên cứu lý luận
- Các văn kiện của Đảng và nhà nước, của Bộ giáo dục và đào tạo có liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu
- Các sách, bài báo về khoa học Vật lý phục vụ cho đề tài
- Các sách, bài báo về giáo dục học môn Vật lý, về tâm lý học, giáo dục học phục vụ cho đề tài
- Các công trình nghiên cứu các vấn đề có liên quan trực tiếp đến đề tài (các luận văn, các chuyên đề)
- Nghiên cứu lý luận về hoạt động nhận thức
- Nghiên cứu chuẩn kiến thức kỹ năng
- Biên soạn giáo án, trao đổi với GV dạy thực nghiệm (TN)
- Tiến hành dạy thực nghiệm (So sánh các lớp TN và các lớp đối chứng (ĐC)
- Đánh giá hiệu quả sư phạm của việc dạy - học theo hướng nghiên cứu VII Kết quả và đóng góp của luận văn
- Góp phần làm cụ thể hóa lý luận về phối hợp các phương pháp và phương tiện dạy học nhằm nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Vật lý cho đối tượng học sinh các dân tộc miền núi
- Lập được sơ đồ tiến trình dạy học một số kiến thức về "Sóng âm" (SGK Vật lý 12 NC) phù hợp với trình độ của học sinh
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Kết quả của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho giáo viên phổ thông, sinh viên sư phạm về tiến trình dạy học vật lý phần kiến thức “Sóng âm” ở các trường THPT góp phần đổi mới PPDH nhằm nâng cao chất lượng DH vật lý ở các trường THPT
VIII Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục luận văn gồm 3 chương
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phối hợp các phương pháp và
phương tiện dạy học để nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh THPT miền núi
Chương II: Xây dựng tiến trình dạy học một số kiến thức về “Sóng âm”
(Vật lý 12-NC)
Chương III: Thực nghiệm sư phạm
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHỐI HỢP
CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NẮM VỮNG KIẾN THỨC CỦA HỌC SINH THPT MIỀN NÚI 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
* Những nghiên cứu về phương pháp dạy học
Dạy học là một dạng hoạt động đặc trưng của loài người nhằm truyền lại cho thế hệ sau những kinh nghiệm xã hội mà loài người đã tích luỹ được, biến chúng thành vốn liếng kinh nghiệm và phẩm chất, năng lực của cá nhân người học Hoạt động dạy học bao gồm hai hoạt động liên quan với nhau, tác động qua lại với nhau: hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS Hai hoạt động này đều có chung một mục đích cuối cùng là làm cho học sinh lĩnh hội được nội dung học, đồng thời phát triển được nhân cách, năng lực của mình Quá trình dạy học xảy ra rất phức tạp
và đa dạng, trong đó sự phối hợp hoạt động giữa giáo viên và học sinh có ý nghĩa quyết định
Các PPDH hiểu theo nghĩa rộng là chung cho các môn học trong nhà trường
PT, chúng là đối tượng nghiên cứu của lí luận DH Nhiệm vụ của lí luận DH bộ môn, trong số đó có lí luận DH vật lý, là nghiên cứu áp dụng các PPDH chung đã được nghiên cứu trong lý luận DH vào thực tiễn của môn học cụ thể, có tính đến các đặc điểm nội dung và phương pháp khoa học đặc trưng cho khoa học tương ứng
Do tầm quan trọng của nó đối với sự phát triển của các vấn đề lý thuyết và thực tiễn sư phạm, PPDH luôn luôn là trung tâm chú ý của các nhà giáo dục các nước Nhưng cho đến nay PPDH vẫn là một hiện tượng sư phạm nhiều quan điểm Các khái niệm, phạm trù, cách phân loại, xu thế phát triển cũng như nhiều vấn đề khác của PPDH còn là những vấn đề đang được tranh luận, chưa có ý kiến thống nhất
Lịch sử phát triển về bản chất và cấu trúc của phương pháp dạy học
Nhìn lại những thành quả đã đạt được, đặc biệt trong mấy chục năm gần đây, trong việc nghiên cứu PPDH là hết sức cần thiết Nhưng do tính chất rộng lớn của
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
nó mà việc giới thiệu lịch sử vấn đề cũng chỉ có giới hạn trong phạm vi kinh nghiệm Liên Xô, nơi mà trước đây vấn đề PPDH đã được tổ chức nghiên cứu một cách có hệ thống và đã đạt được những kết quả quan trọng cần học tập Cùng với việc đề cao nhiệm vụ phát triển khả năng sáng tạo của HS khi DH các môn ở trường
PT, người ta đã chú ý đến phân loại các PPDH dựa và đặc trưng hoạt động của GV
và HS M.N.Scatkin và I.I.lecner (Nga) đã phân ra năm PPDH:
- PP thông báo - thu nhận
35, 36, 38, 39, 40, 47 ] Các luận văn thạc sĩ như: Lê thị Bạch [1 ], Phạm Thị Thanh Nga [26], Lê Thị Thu Ngân [27], Nguyễn Kế Hào [17], luận án tiễn sĩ của Nguyễn Thị Thanh Hà [14]… Các tác giả đều đã làm rõ vai trò cơ bản của PPDH trong việc phát huy TTC nhận thức của HS trong quá trình dạy học Tuy nhiên việc tìm tòi những PPDH thích hợp cho mỗi bài học là hoạt động sáng tạo chủ yếu và thường xuyên của mỗi GV
* Những nghiên cứu về PP&PTDH đối với chủ đề "Sóng âm"
"Sóng âm" là một trong những chủ đề khó đối với HS THPT, khi học về
phần này HS ít được quan sát các hiện tượng bằng TN, nên chưa hiểu đầy đủ bản chất của hiện tượng Đối với GV cũng gặp không ít khó khăn khi dạy phần này Qua việc tìm hiểu ở các thư viện lớn, chúng tôi thấy rất ít luận văn nghiên cứu về lĩnh
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
vực này Ở trường đại học Đại học Giáo dục – Đại học Quốc Gia Hà Nội , có luận văn của Nguyễn Văn Hào[18] nghiên cứu dạy các kiến thức này nhưng nghiên cứu
về “Ứng dụng phần mềm Multil-Instrument và Sound card thiết kế các thí nghiệm
trong dạy học phần “Sóng âm” vật lý 12 nâng cao, trung học phổ thông” Một số
luận văn thạc sỹ khác cũng nghiên cứu phối hợp các PPDH như luận văn của Lê Thị Bạch[1]; Phạm Thị Thanh Nga[26]; Lê Thị Thu Ngân [27] nhưng thường vận dụng vào phần kiến thức khác là chủ yếu, chưa thấy luận vă n nào nghiên cứu phối hợp các PP&PTDH khi dạy các kiến thức về sóng âm chương trình lớp 12
Như vậy có thể thấy việc nghiên cứu: “Phối hợp các phương pháp và phương
tiện dạy học khi dạy các kiến thức về Sóng âm (Vật lý 12 NC) nhằm nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh THPT miền núi” là một đề tài mới
1.2 Các phương pháp dạy học Vật lý ở trường THPT
1.2.1 Khái niệm phương pháp dạy học
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về PPDH [ 11, 45]
- PPDH là cách thức tương tác giữa GV và HS nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình DH (Iu.K.Babanski 1983)
- PPDH là cách thức tương hỗ giữa thầy và trò nhằm đạt được mục đích DH Hoạt động này được thể hiện trong việc sử dụng các nguồn nhận thức, các thủ thuật lôgic, các dạng hoạt động độc lập của HS và cách thức điều khiển quá trình nhận thức của GV (I.D Dverev - 1980)
- PPDH là một hệ thống những hành động có mục đích của GV nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của HS, đảm bảo cho HS lĩnh hội nội dung học vấn (I Ia - Lecne - 1981)
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Mặc dù có rất nhiều những ý kiến về định nghĩa khái niệm PPDH, song các tác giả đều thừa nhận rằng PPDH có những dấu hiệu đặc trưng sau:
+ Phản ánh sự vận động của nội dung đã được nhà trường quy định
+ Phản ánh sự vận động của quá trình nhận thức của HS nhằm đạt được mục đích đề ra
+ Phản ánh cách thức trao đổi thông tin giữa GV và HS
+ Phản ánh cách thức điều khiển hoạt động nhận thức: Kích thích và xây dựng động cơ, tổ chức hoạt động nhận thức, KT và đánh giá kết quả hoạt động
1.2.2 Phân loại phương pháp dạy học
* Đặc điểm bộ môn Vật lý ở trường phổ thông
- Vật lý học nghiên cứu các hình thức vận động cơ bản của vật chất nên những kiến thức Vật lý là cơ sở của nhiều ngành khoa học tự nhiên như Hoá học và Sinh học
- Vật lý học ở trường PT chủ yếu là vật lý TN, PP của nó chủ yếu là PP - TN
Đó là PP nhận thức có hiệu quả trên con đường đi tìm chân lý khách quan PP - TN xuất xứ từ vật lý học nhưng ngày nay cũng được dùng rộng rãi trong nhiều ngành tự nhiên khác
- Vật lý học nghiên cứu các dạng vận động cơ bản nhất của vật chất nên nhiều kiến thức vật lý có liên quan chặt chẽ đến các vấn đề cơ bản khác của triết học, tạo điều kiện phát triển thế giới quan ở HS
- Vật lý học là một khoa học chính xác đòi hỏi vừa phải có kỹ năng quan sát tinh tế, khéo léo tác động vào tự nhiên khi làm T/N vừa phải có tư duy lôgic chặt chẽ, biện chứng, vừa phải thảo luận trao đổi để tìm ra chân lý [11, 20, 21, 40]
* Phương pháp dạy học Vật lý ở trường phổ thông
Quá trình DH là tập hợp những hành động liên tiếp của GV và HS được GV hướng dẫn Những hành động này nhằm làm cho HS tự giác nắm vững hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển được năng lực nhận thức
Lịch sử phát triển của lý luận DH chứng tỏ rằng từ trước đến nay đã có rất nhiều
ý kiến khác nhau về phân loại các PPDH tuỳ theo cấp độ, quan điểm định hướng
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
a Về cấp độ phương pháp: Cần phân biệt hai cấp độ PP:
- Cấp độ tư tưởng, quan điểm thể hiện một định hướng, bao gồm nhiều PP cụ thể
- Cấp độ PP cụ thể, thường có thể cơ bản xếp vào một định hướng, một quan
điểm nhất định
Sự phân loại của Jean Vial về các quan điểm định hướng PPDH, dựa trên tam giác DH Đó là một cách phân loại có giá trị, vừa cho thấy khái quát lịch sử tiến hóa các quan điểm lớn về PP, vừa cho thấy đặc trưng từng quan điểm
b Về 4 quan điểm định hướng PPDH:
Một ý nghĩ sẵn có đã xác định trước; HS nhắc lại Khách thể lặp lại
Trò tái hiện, tìm lại những điều thầy dạy, thụ động
Phát hiện lại một ý Khách thể tái hiện
3 QĐDH
tích cực
Thầy: Người hướng dẫn, trọng tài các tranh luận, cố vấn cho người
học
Trò hành động độc lập, tuỳ động cơ và khả năng của mình, tự
chủ thực hiện mục tiêu
HS làm việc cá nhân,
tự đề nghị một đối tượng mới Khách thể
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
một PP để giải quyết những nhiệm vụ DH có nội dung khác nhau Song cũng có nhiều trường hợp để đạt được mục đích người ta phải sử dụng nhiều PP và biện pháp khác nhau Sự phối hợp đó làm cho quá trình DH thêm sinh động, chất lượng được nâng cao nhất là khi vận dụng chúng có sự chọn lọc thích hợp
Trong DH Vật lý người GV có thể sử dụng những PP và biện pháp DH này hoặc khác Song dù sử dụng những PP hay biện pháp nào thì yêu cầu cơ bản vẫn là phát triển toàn diện TTC, tự lực, sáng tạo của HS Mỗi PPDH vật lý ở trường PT đều
có những ưu điểm và nhược điểm riêng Trong từng trường hợp cụ thể của quá trình
DH phải tính đến điều đó để phát huy TTC, loại trừ những mặt tiêu cực của nó
Trong sự nghiệp cải cách giáo dục trong bộ môn Vật lý ở nhà trường PT của
ta, việc nghiên cứu cải cách nội dung DH đã được tiến hành tương đối thấu đáo, nhưng việc nghiên cứu đổi mới PPDH mặc dù đã được triển khai nhưng chưa tương xứng với sự thay đổi của nội dung DH
Nhu cầu nghiên cứu đổi mới PPDH trong môn Vật lý ngày càng trở nên cấp bách Theo nhiều tác giả PPDH đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định hiệu quả và chất lượng của giáo dục trong nhà trường [46]
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài và qua thực tiễn giảng dạy vật lý ở trường THPT, chúng tôi xin đề cập đến giải pháp Phối hợp các phương pháp và phương tiện dạy khi dạy các kiến thức về Sóng âm (Vật lý 12 NC) nhằm nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh THPT miền núi
1.2.3 Các phương pháp dạy học tích cực ở trường THPT
* Xu hướng chủ đạo trong sự đổi mới PP giáo dục và đào tạo, về mặt quan
điểm định hướng là: Chuyển sang quan điểm DH tích cực, mà ý tưởng cốt lõi là
người học phải tự chủ trong quá trình học tập, tự chủ trí tuệ và tự chủ đạo đức, như J
Piaget đã nêu: “ Mục đích của tự chủ trí tuệ không phải là biết nhắc lại hay bảo tồn
những chân lý đã có, vì một chân lý mà người ta tái sản xuất, chỉ là một “ nửa - chân
lý ”: Đó là phải học chiếm lĩnh bằng chính bản thân mình cái “ chân lý ” đó, với sự chấp nhận chịu tốn thời gian và phải trải qua tất cả những quanh co mà hoạt động
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
thực sự đòi hỏi “Những PP tích cực cũng phục vụ một cách không thay thế được,
trong giáo dục đạo đức cũng như trong giáo dục trí tuệ: Đó là cách dẫn dắt trẻ tự xây dung cho mình những công cụ sẽ làm biến đổi bên trong, nghĩa là biến đổi thực
sự, chứ không chỉ trên bề mặt” Đó chính là giúp cho HS tự học, tự giáo dục
Yêu cầu của một PPDH tích cực
Tính tích cực của PPDH biểu thị ở mặt hành động của hoạt động DH đó là: Tính có vấn đề cao, tác động qua lại, tham gia hợp tác trong quá trình DH
* Tính có vấn đề cao trong DH
Trong quá trình DH, vấn đề học tập phải được thiết kế, xây dung ở mức độ
đủ để phát động, kích thích hoạt động nhận thức của HS Phải đưa vấn đề học tập ra dưới dạng mâu thuẫn để HS chấp nhận mâu thuẫn đó
* Tác động qua lại
Là sự thể hiện tác động tương hỗ giữa các nhân tố bên ngoài (môi trường) với những nhân tố bên trong người học (nhu cầu, năng lực, ) sự tác động trực tiếp đến người học gây ra thái độ và hành vi đáp lại của người học Trong DH đó là sự định hướng của GV đối với hoạt động học tập của HS làm cho HS tích cực hoạt động nhận thức
* Tham gia hợp tác
Được hiểu là cách tiến hành, tổ chức hoạt động học tập với sự sẵn sàng học tập của HS HS chủ động nhận nhiệm vụ, hứng khởi tìm cách giải quyết nhiệm vụ
Sự tham gia hợp tác vào quá trình học tập có thể diễn ra ở mức độ khác nhau
1 HS chỉ tham gia khi được GV yêu cầu và gợi ý
2 HS chủ động, tự giác tham gia (có mức độ)
3 GV và HS cùng tích cực tham gia vào quá trình học tập
Với mức độ tham gia hợp tác vào quá trình học tập ở trên chúng ta nhận thấy chỉ ở mức độ 3, vai trò chủ động của GV và HS là như nhau Mọi HS đều được huy động tham gia vào giải quyết nhiệm vụ học tập, GV giữ vai trò chủ đạo, định hướng hoạt động học tập của HS
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Có hai cách chiếm lĩnh tri thức [14], [42]
+ Tái hiện kiến thức: Định hướng đến hoạt động tái tạo, xây dựng trên cơ sở
HS lĩnh hội các tiêu chuẩn, hình mẫu có sẵn
+ Tìm kiếm kiến thức: Định hướng đến hoạt động sáng tạo, dẫn đến việc phát minh kiến thức và kinh nghiệm hoạt động
Nếu trong một PPDH nào mà cách một chiếm ưu thế thì PPDH đó có thể xem là
ít tích cực, vì các kiến thức cho sẵn có tính áp đặt với quá trình học tập nên có ít khả năng kích thích HS hoạt động, phát triển tư duy (chỉ ghi nhớ, tái hiện, bắt chước)
Ở cách thứ hai, kiến thức xuất hiện trước HS là dự đoán - nó có tác dụng khuyến khích, kích thích đồng thời đòi hỏi HS phải tự mình bằng những cách thức khác nhau (Làm T/N, phân tích, lập luận, thảo luận nhóm, ) KT dự đoán, quá trình học tập diễn ra theo kiểu tìm kiếm, khai thác, phát hiện HS trở thành chủ thể hoạt động tích cực hơn (tìm tòi, sáng tạo) tự kiến tạo kiến thức, kỹ năng Nếu PPDH nào
mà cách hai chiếm ưu thế thì PPDH đó được xem là tích cực
Thực tiễn DH cho thấy không có PPDH nào là tối ưu hay có khả năng TCH hoạt động nhận thức của HS một cách tuyệt đối, mỗi PPDH ở khía cạnh này hay khác đều có khả năng TCH hoạt động nhận thức của HS trong mức độ nhất định Để giúp HS lĩnh hội tri thức một cách tốt nhất, đầy đủ nhất, người GV phải biết vận dụng sáng tạo các PPDH tuỳ theo nội dung của từng bài học cụ thể; phải biết kết hợp linh hoạt, nhuần nhuyễn cả hai cách tái hiện và tìm kiếm kiến thức (trong đó cách hai chiếm ưu thế) thì sẽ có khả năng TCH hoạt động nhận thức của HS [17]
1.2.3.1 Phân tích ưu nhược điểm của các phương pháp
Sự lựa chọn PPDH thường bắt đầu từ việc xác định đặc điểm, khả năng của mỗi PP Mỗi PPDH chỉ là một công nghệ nhận thức, trong đó một hệ thống các phương tiện và cách thức, các thao tác trí tuệ và hành vi, phối hợp giữa dạy và học nhằm từng bước thực hiện mục tiêu đào tạo Mỗi PPDH đều có mặt mạnh, mặt yếu Khi sử dụng một PPDH nào đó có chỗ thuận lợi, có chỗ bất lợi [3] Sau đây chúng tôi xin nêu lên những ưu điểm, nhược điểm chính của một số PP cơ bản trong DH vật lý [45]:
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Thuyết trình
(Lời nói, SGK)
Cung cấp lượng thông tin lớn trong thời gian ngắn, phát triển tư duy trừu tượng
HS lĩnh hội khó, chóng quên không phát triển được kinh nghiệm của HS
Trực quan (mô
hình, tranh ảnh)
Biểu tượng rõ ràng nâng cao hiệu quả DH; phát triển trí nhớ, tư duy trực quan hình tượng
GV mất nhiều thời gian chuẩn
bị Tư duy trừu tượng của HS kém phát triển
Thực nghiệm
(Dụng cụ T /N)
Hình thành kỹ năng, kỹ xảo lao động; củng cố mối liên hệ lý thuyết với thực tiễn; HS hứng thú, nhớ lâu
Cần nhiều thời gian ở nhà và trên lớp, cần nhiều thiết bị, vật
Cá nhân hoá việc lĩnh hội kiến thức
KT thường xuyên quá trình lĩnh hội;
Điều khiển hợp lý và nhanh chóng quá trình lĩnh hội
Thời gian lớn, hạn chế tính giáo dục của bài học Hạn chế việc phát triển tư duy độc lập, kỹ năng tìm tòi nghiên cứu
Mất nhiều thời gian, không dùng được khi cần rèn luyện
kỹ năng, kỹ xảo thực hành Không dùng được khi tài liệu mới về nguyên tắc Khi tài liệu khó quá, không thể độc lập nghiên cứu được
Rèn kỹ năng, kỹ xảo thực hành Phát triển ý chí, nghị lực, sáng tạo
Phải tính đến sự hướng dẫn của GV trước những vấn đề phức tạp
Tốc độ dạy học chậm
1.2.3.2 Cơ sở lựa chọn phương pháp dạy học: [31], [35], [45]
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
A.V Muraviep cho rằng: "Sự lựa chọn các PPDH và các biện pháp sư phạm
trên lớp được xác định bằng nhiều nhân tố khác nhau Nó phụ thuộc vào nội dung bài học, vào trình độ nhận thức của HS, các thiết bị DH và thời gian dành cho bài học"
Theo Nguyễn Ngọc Quang: "PPDH phải được lựa chọn tuỳ theo sự quy định
của mục đích và nội dung DH Như vậy sự lựa chọn PPDH là hoàn toàn khách quan, không thể tuỳ tiện "
Theo Thái Duy Tuyên: " Để lựa chọn PPDH, không chỉ cần biết khả năng
của chúng mà còn cần nắm được đặc điểm HS, năng lực của GV, tình hinh thiết bị của trường và quan trọng hơn cả là mục đích, nhiệm vụ và nội dung bài học Cần xét tới tất cả những yếu tố đó trong mối quan hệ biện chứng, bởi vì một PPDH có thể đem lại hiệu quả cao trong khi thực hiện nhiệm vụ DH nào đó Nhưng nếu GV
và HS không có khả năng thực hiện PP đó, điều kiện vật chất của nhà trường cũng không đủ thoả mãn các yêu cầu của nó thì vẫn không thể sử dụng PP đó trong quá trình DH Ví dụ các PP làm việc độc lập, PP nghiên cứu thực hành, thường nâng cao tính tích cực, độc lập, phát triển ý trí và tư tưởng sáng tạo của HS, nhưng không phải bao giờ cũng có thể thực hiện được "
Vì vậy phải có cơ sở lựa chọn các PPDH
BẢNG LỰA CHỌN CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
Trong điều kiện
Để phát triển tính độc lập trong hoạt động học tập của HS, hình thành kĩ năng lao động học tập
Nội dung nào
Khi nội dung của đề tài bao gồm những bài tập thực hành, TN
Khi nội dung tài liệu
có độ phức tạp vừa phải (không khó lắm)
Khi tài liệu học tập vừa sức để HS tự lực học tập được
Khi HS được chuẩn bị làm việc độc lập
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
để tiến hành bài thực hành
PP nghiên cứu vấn đề đưa ra
Năng lực giáo
viên
Khi GV nắm được PP thực hành
Khi GV nắm được PP tìm kiếm khi DH
Khi GV nắm được PP tổ chức hoạt động độc lập của HS
Điều kiện vật
chất
Khi có thiết bị và thì giờ cần thiết
Khi có đủ thiết bị và thì giờ cần thiết
Khi có đủ thì giờ và phương tiện cần thiết Bảng trên nêu lên mối quan hệ giữa PP với: Nhiệm vụ DH, nội dung DH, khả năng của HS, trình độ GV, điều kiện vật chất (Thiết bị, T/N, thì giờ ) Đó là các yếu tố trực tiếp liên quan tới việc lựa chọn PPDH
1.2.3.3 Qui trình lựa chọn và phối hợp các phương pháp dạy học
Để chuẩn bị giờ lên lớp, các GV thường sử dụng thời gian không đều nhau Những người tham gia thi dạy giỏi cấp trường hoặc được cử dự thi GV dạy giỏi cấp tỉnh thường đăng kí từ đầu năm học Khoảng giữa học kì I, họ dự các kì thi dạy giỏi
ở trường, rồi cuối học kì I hoặc giữa học kì II mới dự thi ở tỉnh Như vậy thời gian suy nghĩ, chuẩn bị cho hội giảng thường kéo dài trong nhiều tháng, bốc thăm bài giảng thường trước 1 hoặc 2 ngày, tuy thì giờ đầu tư cho nó không phải liên tục Ngược lại, một số GV chỉ chuẩn bị 15 phút trước giờ lên lớp, cũng có những trường hợp không chuẩn bị Như vậy qui trình lựa chọn PP của họ không giống nhau GV trẻ, để chuẩn bị một tiết lên lớp, cần 2- 3 giờ hoặc hơn nữa Dần dần do tích luỹ kinh nghiệm nhiều năm, thời gian chuẩn bị sẽ giảm dần Quan sát hoạt động thực tế của GV dạy giỏi, có thể thấy, để xác định PP cho một bài dạy, quá trình suy nghĩ của họ gồm nhiều vòng
*Vòng 1:
a/ Xác định mục tiêu, tư tưởng của bài học căn cứ vào chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ trong chương trình
b/ Nghiên cứu kỹ SGK và các tài liệu liên quan để:
- Hiểu chính xác đầy đủ những nội dung của bài học
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Xác định những kiến thức, kỹ năng, thái độ cơ bản cần hình thành và phát triển ở HS
- Xác định trình tự logic của bài học
c/ Bổ sung vào nội dung SGK những tài liệu thực tế cần thiết nhằm làm phong
phú bài dạy, làm cho bài phù hợp với thực tế địa phương và ăn nhịp với thời đại
d/ Xây dựng cấu trúc nội dung
Đó là vấn đề quan trọng nhất trong quá trình chuẩn bị DH Cụ thể:
- Xác định mục tiêu, nhiệm vụ
- Xác định các ý chính, phụ, lô gíc nội dung bài dạy, lập sơ đồ (nếu có thể)
- Bổ sung vào nội dung những tài liệu thực tế địa phương, những thông tin hiện đại
- Lập qui trình dạy học (Mở bài, bài mới, KT )
*Vòng 2: Lựa chọn PP và PT tương ứng với nội dung Có thể tiến hành theo
trình tự:
- Câu hỏi 1: Có thể nghiên cứu đề tài này bằng PP và PT gì, làm việc độc lập của HS không? Câu hỏi này đặt ra đầu tiên, vì theo quan điểm hiện đại, thì PP tốt nhất là PP có khả năng phát triển TTC, độc lập của HS
- Câu hỏi 2: Có khả năng tổ chức, nghiên cứu đề tài này bằng PP tìm tòi, nghiên cứu không?
- Câu hỏi 3: Có khả năng tổ chức đề tài này bằng PP thực hành không?
- Câu hỏi 4: Có khả năng nghiên cứu đề tài này bằng PP diễn giảng nêu vấn
đề không?
- Câu hỏi 5: Có khả năng nghiên cứu đề tài này bằng PP trực quan không?
- Câu hỏi 6: Khi nghiên cứu đề tài này cần phương tiện gì?
Sự trả lời các câu hỏi trên giúp xác định các PP&PT dùng trong bài dạy Trong một bài dạy, không bao giờ chỉ dùng một PP Như vậy, vấn đề đặt ra
là phải phối hợp các PP như thế nào? Vấn đề phối hợp phải bắt đầu từ sự phân tích nội dung Nội dung rất đa dạng, mà mỗi PP thường chỉ giải quyết được một nội dung nhận thức nào đó Vì vậy phải sử dụng nhiều phụ thuộc nhiều vào đặc điểm của quá trình nhận thức và lứa tuổi
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
*Vòng 3: Thể hiện tất cả các vấn đề đã phân tích trong bảng thiết kế cụ thể của bài
dạy là giáo án
Nội dung giáo án có thể là:
Nội dung Đặc điểm học
sinh
Phương tiện
sử dụng
Cách làm của giáo viên
Cách làm của học sinh
- Xác định nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và pháp triển của HS
- Xác dịnh đặc điểm của nội dung: Mức độ phức tạp, cấu trúc của nội dung
- Chú ý đến khả năng của HS: Trình độ kiến thức, khả năng tư duy, thái độ đối với học tập, mức độ phát triển, khả năng làm việc (sức khoẻ)
- Chú ý đến việc mở rộng khả năng sử dụng các PP tích cực, độc lập của HS
1.3 Phương tiện trong dạy học vật lý
1.3.1 Khái niệm phương tiện dạy học
Phương tiện dạy học là các phương tiện sư phạm đối tượng - vật chất do giáo viên hoặc (và) học sinh sử dụng dưới sự chỉ đạo của giáo viên trong quá trình dạy học, tạo những điều kiện cần thiết nhằm đạt được mục đích dạy học [20]
1.3.2 Phân loại phương tiện dạy học [20]
1.3.2.1 Các phương tiện dạy học truyền thống
Trong dạy học vật lý, có thể sử dụng các phương tiện dạy học quen thuộc sau:
- Các vật thật trong đời sống và kĩ thuật
- Các thiết bị thí nghiệm dùng để tiến hành các thí nghiệm của giáo viên và
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
các thí nghiệm của học sinh
1.3.2.2 Các phương tiện dạy học hiện đại
Trong những năm gần đây, các phương tiện dạy học nghe - nhìn ngày càng thâm nhập và được sử dụng trong dạy học vật lý, như:
- Phim học tập: phim đèn chiếu, phim chiếu bóng, phim học tập trên vô tuyến truyền hình, phim video
- Các phần mền máy vi tính mô phỏng, minh hoạ các hiện tượng, quá trình vật lý, luyện tập cho học sinh giải bài tập và giải quyết các vấn đề học tập trên máy
vi tính hoặc để tiến hành các thí nghiệm với các thiết bị thí nghiệm hiện đại, trong
đó máy vi tính như là máy đo, xử lí các kết quả thí nghiệm
- Các phương tiện dạy học nghe - nhìn là các phương tiện dạy học được sử dụng trong dạy học với sự hỗ trợ của các máy móc kĩ thuật (đèn chiếu, máy chiếu phim, máy thu hình, máy sang và phát băng hình, máy thu và phát băng hình, máy chiếu LCD đa năng, máy vi tính) Lượng thông tin chứa đựng trong các phương tiện dạy học này được khai thác thông qua bộ phận phân tích quang học và (hoặc) âm thanh Chúng tác động đến HS qua hình ảnh (ảnh đứng yên hoặc chuyển động, sơ
đồ, kí hiệu, chữ viết…) và qua âm thanh (tiếng nói, nhạc điệu, tiếng động)
Sự liệt kê trên cho thấy: các phương tiện dạy học có thể sử dụng trong dạy học vật lý là đa dạng và phong phú Trong các loại phương tiện dạy học đó, các thiết bị thí nghiệm dùng cho thí nghiệm của GV và thí nghiệm của HS đứng ở vị trí hàng đầu, thể hiện đặc thù của vật lý là một môn khoa học thực nghiệm Vai trò của chúng không hề giảm sút, mặc dù các phương tiện dạy học nghe - nhìn ngày càng được sử dụng rộng rãi
1.3.3 Chức năng của PTDH trong dạy học vật lý ở trường THPT
Chỉ có thể thâu tóm đầy đủ các chức năng cuả phương tiện dạy học trong dạy
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
học vật lý, nếu xem xét việc sử dụng phương tiện dạy học một cách đồng thời trên nhiều phương diện khác nhau: trên cơ sở các quan điểm của lí luận về phương tiện dạy học, của lí luận dạy học đại cương, lí luận dạy học bộ môn và của tâm lí học học tập Nhưng dù xét theo quan điểm nào, chức năng chủ yếu của phương tiện dạy học cũng là tạo điều kiện cho học sinh nắm vững chính xác, sâu sắc các kiến thức, phát triển năng lực nhận thức và hình thành nhân cách
1.3.3.1 Các chức năng của PTDH theo quan điểm của lí luận dạy học
Theo quan điểm lí luận dạy học, các PTDH có các chức năng sau:
a Sử dụng PTDH để tạo động cơ học tập, kích thích hứng thú nhận thức của học sinh, đặc biệt trong giai đoạn định hướng mục đích nghiên cứu
Nhiều thí nghiệm vật lý đơn giản, các đoạn phim video… có thể được sử dụng để giới thiệu vấn đề học tập, tạo tình huống có vấn đề, kích thích hứng thú nhận thức, phát triển kĩ năng quan sát của HS
b Sử dụng PTDH để hình thành kiến thức, kỹ năng mới
Các PTDH như thiết bị thí nghiệm, mô hình, tranh ảnh, sách giáo khoa, phim học tập, các phần mền máy vi tính … được sử dụng để cung cấp các cứ liệu thực nghiệm nhằm khái quát hoá hoặc kiểm chứng các kiến thức về các khái niệm, định luật vật lý, mô phỏng các hiện tượng, quá trình vật lý vi mô, đề cập các ứng dụng của các kiến thức vật lý trong đời sống và kĩ thuật Cần sử dụng các thiết bị thí nghiệm thực hành ngay trong khâu nghiên cứu tài liệu mới để tăng cường hoạt động
tự lực và rèn luyện kĩ năng thí nghiệm của học sinh
c PTDH có thể được sử dụng một cách đa dạng trong quá trình củng cố (ôn tập, đào sâu, mở rộng, hệ thống hoá) kiến thức, kĩ năng của học sinh
Cần sử dụng các PTDH: các dụng cụ thí nghiệm đơn giản, các thiết bị thí nghiệm thực hành, các mô hình, các chương trình phần mền máy vi tính, các chương trình ôn tập trên vô tuyến truyền hình chưa được sử dụng khi nghiên cứu tài liệu mới
Các vật thật trong đời sống, kĩ thuật có thể được sử dụng như là xuất phát điểm của quá trình nghiên cứu các khái niệm, định luật vật lý nhưng cũng có thể được dùng như là sự vận dụng các kiến thức đã học ở khâu củng cố
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
d PTDH được sử dụng để kiểm tra kiến thức, kĩ năng mà HS đã thu được
Hiện nay, tiềm năng này của PTDH vẫn chưa được khai thác sử dụng đầy đủ trong dạy học vật lý ở trường phổ thông Việc kiểm tra kiến thức của học sinh mới chỉ thông qua các bài tập định tính và định lượng
đ PTDH góp phần phát triển năng lực nhận thức của HS; thể hiện rõ nhất
trong việc tổ chức cho HS tiến hành các thí nghiệm với các thiết bị thí nghiệm thực hành Trong quá trình thí nghiệm, HS phải tiến hành một loạt các hoạt động trí tuệ - thực tiễn: lập phương án, kế hoạch thí nghiệm, vẽ sơ đồ thí nghiệm, lập bảng giá trị
đo, bố trí và tiến hành thí nghiệm, thu nhận và xử lí kết quả thí nghiệm (bằng số, bằng đồ thị), tính toán sai số, xét nguyên nhân của sai số Thông qua đó, PTDH góp phần hình thành các phẩm chất của nhân cách HS Có thể sử dụng hình vẽ, mô hình… hỗ trợ học sinh trong quá trình thí nghiệm
e PTDH đem lại hiệu quả về mặt xúc cảm, do những đặc điểm bề ngoài (hình dạng, màu sắc), bố trí đẹp về mặt thẩm mĩ, cách thức gây tác động đến HS (tiếng động, màu sắc), do các hiện tượng, quá trình vật lý diễn ra trái với dự đoán của HS hoặc HS không nhìn thấy hàng ngày Hiệu quả xúc cảm của PTDH sẽ được tăng lên nhiều qua việc sử dụng khéo léo PTDH về mặt phương pháp và qua lời nói của GV
g PTDH được thiết kế, chế tạo và cần được GV sử dụng sao cho có tác dụng điều khiển quá trình nhận thức của HS Để khai thác tiềm năng này của PTDH, cần
sử dụng những biện pháp sau:
- Sử dụng đồng thời nhiều PTDH để điều khiển hoạt động nhận thức của HS trên nhiều mức độ trừu tượng khác nhau
- Sử dụng các thí nghiệm song song để HS (nhất là HS yếu) có thể quan sát,
so sánh theo một mục đích nhất định; nhờ đó, tạo được sự giúp đỡ có tính chất định hướng quá trình ghi chép các kết quả quan sát của học sinh
h Nhiều PTDH (mô hình tháo lắp được, máy vi tính được sử dụng như là thiết bị thu nhận và xử lí các kết quả thí nghiệm…) là những phương tiện qúi báu giúp cho việc hợp lí hoá quá trình lĩnh hội kiến thức của HS
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
i PTDH cũng góp phần vào việc thực hiện một trong những nhiệm vụ của dạy học vật lý là phát triển tối ưu từng HS
Một trong những nhiệm vụ của trường phổ thông là phát triển tối ưu từng
HS Trong dạy học, có hai khả năng cá biệt hoá HS: biến đổi mức độ yêu cầu đặt ra cho từng HS trong quá trình hoạt động trí tuệ - thực tiễn của họ và biến đổi mối quan hệ giữa hoạt động chỉ đạo của GV và hoạt động tự lực của HS Việc sử dụng PTDH trong dạy học vật lý có thể thực hiện hai khả năng cá biệt hoá HS nêu trên
- Giáo viên cần khai thác các khả năng phân hoá học sinh trong quá trình sử dụng PTDH thông qua việc lựa chọn các PTDH, việc đặt ra các nhiệm vụ khác nhau cho các loại đối tượng HS khi tiến hành các thí nghiệm, khi làm việc với sách giáo khoa, việc giúp đỡ HS yếu nhiều hơn trong quá trình HS làm thí nghiệm, giải bài tập, giải quyết các vấn đề học tập trên máy vi tính
- Ngoài ra, bản thân PTDH cũng có thể gây ra hiệu quả phân hoá học sinh
Từ việc phân tích các chức năng của PTDH trong dạy học vật lý dưới góc độ quan điểm của lí luận dạy học, có thể rút ra những kết luận sau:
- Cần sử dụng PTDH không chỉ để hình thành các kiến thức mới như hiện nay mà còn ở các khâu khác của quá trình dạy học, với nhiều mục đích khác nhau
- Việc sử dụng PTDH góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy học Tuy nhiên, hiệu quả của mỗi PTDH phụ thuộc vào phương pháp sử dụng nó trong giờ học PTDH phải là “chỗ dựa bên ngoài cho các hành động bên trong”, phải được sử dụng như là phương tiện tạo sự tranh luận trí tuệ - thực tiễn của HS với đối tượng học tập Học sinh phải được tham gia vào các giai đoạn của quá trình sử dụng PTDH với mức độ tự lực cao nhất có thể được
- Trong việc đặt kế hoạch sử dụng PTDH ở từng tiết học, GV phải lựa chọn
và xác định PTDH nào cần sử dụng, sử dụng ở khâu nào của quá trình DH và sử dụng như thế nào để khai thác hết các tiềm năng về mặt giáo dục của PTDH
1.3.3.2 Các chức năng của PTDH theo quan điểm của tâm lí học học tập
Theo quan điểm của tâm lí học học tập, hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình học tập có thể diễn ra trên các bình diện khác nhau: bình diện hành
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
động đối tƣợng - thực tiễn, bình diện trực quan trực tiếp, bình diện trực quan gián tiếp và bình diện nhận thức khái niệm- ngôn ngữ, trong đó vai trò của ngôn ngữ tăng dần và vai trò của trực quan giảm dần Học sinh chỉ có thể nắm vững sâu sắc, chính xác, bền vững và vận dụng đƣợc các kiến thức, nếu nhƣ trong quá trình học tập, hoạt động nhận thức của học sinh diễn ra trên nhiều bình diện khác nhau [20]
Nếu xem xét việc sử dụng PTDH từ quan điểm nêu trên của tâm lí học học tập, thấy rõ rằng: việc sử dụng PTDH tạo điều kiện cho quá trình nhận thức của HS trên tất cả các bình diện khác nhau, đặc biệt là trên bình diện trực quan trực tiếp và bình diện trực quan gián tiếp
Các bình diện của hoạt động
nhận thức
Các ví dụ về việc các PTDH tạo điều kiện cho hoạt
động nhận thức của học sinh Bình diện hành động đối
- Các phim hoạt hoạ
- Các phần mềm máy vi tính mô phỏng các hiện tƣợng, quá trình vật lý
- Các mô hình vật chất
- Các hình vẽ, sơ đồ Bình diện nhận thức
khái niệm - ngôn ngữ
- Sách giáo khoa, sách bài tập, sách tham khảo
- Các phần mềm máy vi tính dùng cho việc ôn tập
a PTDH tạo điều kiện cho quá trình hoạt động nhận thức của HS trên bình diện trực quan trực tiếp, nghĩa là dựa trên sự tri giác trực tiếp các sự kiện cảm tính -
cụ thể Việc sử dụng các vật thật trong đời sống và trong kĩ thuật, các bức ảnh chụp, phim học tập quay các cảnh thật, các thí nghiệm biểu diễn của giáo viên gây hiệu
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
quả đối với hoạt động nhận thức của HS trên bình diện này
b PTDH cũng tạo điều kiện cho quá trình hoạt động nhận thức của HS trên bình diện cao hơn - bình diện trực quan gián tiếp, nghĩa là dựa trên các biểu tượng
về các sự kiện cảm tính - cụ thể mà học sinh đã tri giác trực tiếp trước đó hoặc là dựa trên sự trừu tượng hoá các sự kiện này Các thí nghiệm mô hình, các phim hoạt họa, các phần mềm máy vi tính mô phỏng các hiện tượng, quá trình vật lý, các mô hình vật chất, các hình vẽ, sơ đồ trong sách giáo khoa, trên giấy là sự trừu tượng hoá các sự kiện cảm tính - cụ thể, tạo điều kiện cho hoạt động nhận thức của học sinh trên bình diện trực quan gián tiếp
c PTDH (đặc biệt là các thiết bị thí nghiệm dùng cho thí nghiệm của học sinh) tạo điều kiện cho học sinh trong quá trình làm việc trực tiếp với chúng tiến hành các hoạt động trí tuệ - thực tiễn trên bình diện hành động đối tượng thực tiễn
d PTDH (sách giáo khoa, sách bài tập, các mềm máy vi tính dùng cho việc
ôn tập…) cũng tạo điều kiện cho học sinh hoạt động nhận thức trên bình diện nhận thức khái niệm - ngôn ngữ, nghĩa là hoạt động nhận thức được tiến hành chỉ trên cơ
sở các khái niệm, các kết luận khái quát
Trong quá trình học tập, hoạt động nhận thức của học sinh trên các bình diện khác nhau diễn ra không theo một trình tự cứng nhắc, mà thường thâm nhập vào nhau Ví dụ như: Trong quá trình hoạt động nhận thức trên bình diện khái niệm - ngôn ngữ, học sinh không chỉ tiến hành các thao tác tư duy với các khái niệm, phương trình mà còn thường liên tưởng tới những mối liên hệ với các sự kiện cảm tính - cụ thể đã tri giác trực tiếp trước đó Điều đó cũng có nghĩa là: Các phương tiện dạy học cũng có thể gây hiệu quả trên nhiều bình diện khác nhau của hoạt động nhận thức
Thực tiễn dạy học vật lý ở trường phổ thông hiện nay cho thấy: hoạt động nhận thức của học sinh thường chỉ trên bình diện nhận thức khái niệm, ngôn ngữ hoặc diễn ra quá nhanh tới bình diện nhận thức này Các bình diện thấp hơn của hoạt động nhận thức chưa được đưa vào hoặc đưa vào quá trình nhận thức của học sinh quá ít Tiềm năng của PTDH trong việc tích cực hoá hoạt động nhận thức của
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
học sinh chưa được khai thác đầy đủ Đó cũng là một trong những nguyên nhân làm cho kiến thức của học sinh hời hợt, ít khả năng vận dụng
Sự phân tích trên đây việc sử dụng PTDH trong dạy học vật lý dưới góc độ quan điểm của tâm lí học học tập dẫn tới kết luận là: Cần phải sử dụng phối hợp các PTDH trong dạy học vật lý, nhất là ở các lớp dưới, tạo điều kiện cho hoạt động nhận thức của học sinh diễn ra trên nhiều bình diện khác nhau nhằm nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh
1.3.3.2 Ghi và vẽ hình trên bảng
Mặc dù hiện nay có các phương tiện kĩ thuật hỗ trợ việc dạy học của giáo viên như máy vi tính và đèn chiếu … song đối với người GV vật lý các kĩ năng ghi
và vẽ hình trên bảng vẫn rất cần thiết
a Yêu cầu nội dung và kỹ thuật ghi chép trên bảng
- Ghi chép và hình vẽ trên bảng kèm theo lời trình bày của GV là một phương tiện bổ trợ nhưng rất quan trọng và hiệu quả trong việc tập trung chú ý của
HS lên cái chính trong nội dung của bài học, nó hỗ trợ cho việc chia nhỏ và chính xác hoá các tri giác của HS, suy nghĩ trên nội dung học tập và củng cố nội dung đó trong trí nhớ của HS, khắc sâu và làm rõ lôgic các vấn đề thảo luận
Việc ghi chép và vẽ hình cẩn thận, hợp lý trên bảng trong thời gian giảng bài của giáo viên sẽ giúp cho người GV phân chia tài liệu phức tạp, khối lượng lớn của bài học thực hành ra các phần, tách ra được cái chính, thể hiện rõ ràng, trực quan các thời điểm trình bày tài liệu Nhờ đó tạo thuận lợi cho việc phát triển tư duy logic của học sinh và trí nhớ thị giác của họ Vì vậy ngoài việc sử dụng các phương tiện trực quan khác nhau như bảng, biểu mẫu, phim ảnh, đèn chiếu, người giáo viên vẫn cần phải ghi và vẽ hình trên bảng
Việc ghi bảng và vẽ hình đúng phương pháp sẽ góp một phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng của một giờ học
Trước hết, việc ghi chép trên bảng cần đảm bảo một số yếu cầu cơ bản sau:
- Việc ghi chép cần có hệ thống, phản ánh được quá trình phát triển của vấn
đề do GV trình bày
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Vạch rõ được bản chất vật lý của vấn đề nghiên cứu, nhất là các suy luận toán học
- Tập trung được sự chú ý của HS vào những vấn đề cần thiết, quan trọng
- Củng cố được tài liệu nghiên cứu trong giờ học
- Hướng dẫn được học sinh ghi chép vào vở và học tập ở nhà
b Yêu cầu về vẽ hình trên bảng
Hình vẽ mà GV thực hiện trên bảng có mục đích chủ yếu làm sáng tỏ bài giảng của GV Hình vẽ là phương tiện trực quan quan trọng bên cạnh bên cạnh lời giảng của GV Vì vậy khi vẽ hình người GV cần lưu tâm trước hết tới tính chất sư phạm của chúng, sau đó là mặt mỹ thuật của hình vẽ Sự hạn chế về thời gian trong một tiết học đòi hỏi phải vẽ hình trên bảng sao cho được nhanh chóng Vì thế trước hết cần quan tâm theo những yêu cầu cơ bản sau:
- Hình vẽ phải đơn giản rõ ràng để học sinh có thể thấy được những điểm chủ yếu, đồng thời cũng để cho giáo viên và học sinh có đủ thời gian vẽ ngay tại lớp, không ảnh hưởng tới tiến trình bài học
- Hình vẽ trước hết phải thể hiện rõ được nguyên tắc vật lý của đối tượng đang nghiên cứu sau đó đến những chi tiết về kỹ thuật
- Hình vẽ phải đúng kỹ thuật hoạ hình
- Cần phối hợp giữa việc vẽ và giới thiệu hình vẽ đồng bộ với việc trình bày bằng lời của giáo viên, hình vẽ xuất hiện đúng lúc cần thiết để minh hoạ được cho lời giải thích của giáo viên
Hiện nay máy vi tính và đèn chiếu là các phương tiện hiện đại đã được trang
bị ở hầu hết các trường phổ thông, vì vậy việc vẽ hình và sử dụng các hình vẽ tĩnh hoặc động, chiếu lên màn hình lớn là hoàn toàn có thể thực hiện được Điều này góp phần nâng cao hiệu quả trực quan trong dạy học, đồng thời giảm đáng kể thời gian dành cho việc vẽ hình, ghi bảng, người giáo viên sẽ có nhiều thời gian hơn để tổ chức các hoạt động dạy học
c Sử dụng các vật thật
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trong dạy học vật lý, các vật thật có thể được sử dụng để nghiên cứu các hiện tượng, quá trình vật lý Các vật thật có ý nghĩa quan trọng trong dạy học vật lý,
nó giúp khai thác tốt các kinh nghiệm sống hàng ngày của học sinh, đồng thời là bằng chứng sinh động về việc vận dụng các kiến thức vật lý vào thực tiễn
d Các thiết bị thí nghiệm
Các thiết bị thí nghiệm có vai trò quan trọng đối với dạy học vật lý, chúng tạo điều kiện để xây dựng các thí nghiệm nhằm nghiên cứu một cách có hệ thống, trực quan các hiện tượng, quá trình vật lý, hình thành các khái niệm, định luật vật
lý, tạo điều kiện nghiên cứu các ứng dụng kĩ thuật của vật lý
Người ta phân biệt hai loại thiết bị thí nghiệm: Thiết bị thí nghiệm biểu diễn dùng để tiến hành các thí nghiệm của giáo viên và thiết bị thí nghiệm thực hành dùng cho các thí nghiệm của học sinh
g Các tài liệu in
- Sách giáo khoa là phương tiện dạy học quan trọng của dạy học vật lý ở trường phổ thông, nó có hai chức năng: là phương tiện làm việc của học sinh (sách giáo khoa là nguồn kiến thức, phương tiện củng cố kiến thức, kĩ năng của học sinh);
là phương tiện hỗ trợ giáo viên hiểu và thực hiện chương trình dạy học đã qui định
- Sách bài tập vật lý là phương tiện học tập cơ bản vì việc giải các bài tập có
vai trò quan trọng trong việc rèn luyện cho học sinh kĩ năng áp dụng kiến thức đã
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
học vào thực tiễn Sách bài tập được dùng để bổ sung cho sách giáo khoa, tạo thành một sự hoàn chỉnh về nội dung Trong sách bài tập thường có các dạng bài tập sau: bài tập định tính, bài tập định lượng, bài tập thí nghiệm, bài tập đồ thị, bài tập sáng tạo… Các bài tập được sử dụng ở các giai đoạn khác nhau của quá trình dạy học, đặc biệt ở giai đoạn củng cố kiến thức đã học ở trên lớp hoặc tự học ở nhà, vì vậy việc giải các bài tập được xem như một phương pháp dạy học tích cực có hiệu quả
- Sách hướng dẫn thí nghiệm để đào sâu, mở rộng kiến thức, phát triển kĩ năng, kĩ xảo và năng lực sáng tạo của học sinh
- Tài liệu tham khảo là các sách viết về các vấn đề gắn liền với nội dung môn học, có mục đích mở rộng, hệ thống hóa kiến thức, hoặc trình bày sâu về một vấn
đề vừa sức với học sinh Sử dụng các tài liệu tham khảo nhằm phát triển hứng thú học tập vật lý, tích cực hóa hoạt động nhận thức, đào sâu và mở rộng kiến thức, kĩ năng của học sinh Các tài liệu tham khảo góp phần quan trọng thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ dạy học vật lý như giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng, giáo dục kĩ thuật tổng hợp và hướng nghiệp cho học sinh
1.3.5 Một số định hướng chung về phương pháp sử dụng phương tiện dạy học
Từ các chức năng của PTDH đã nêu ở trên, có thể rút ra một số định hướng chung về phương pháp sử dụng PTDH trong dạy học vật lý ở nhà trường phổ thông
1.3.4.1 Ở các khâu khác nhau của quá trình dạy học cần sử dụng phối hợp các PTDH trên các bình diện khác nhau của hoạt động nhận thức Chẳng hạn, khi dạy học các ứng dụng kiến thức vật lý trong đời sống và kĩ thuật, cần sử dụng phối hợp các PTDH: vật thật hoặc bức ảnh chụp vật thật, thí nghiệm của GV hoặc của
HS về nguyên tắc hoạt động của thiết bị, mô hình chức năng của thiết bị, hình vẽ về
sơ đồ bố trí thí nghiệm, về nguyên tắc hoạt động của thiết bị (tranh vẽ hoặc tấm bản trong chiếu lên tường nhờ máy chiếu) hoặc phần mền máy vi tính minh họa cấu tạo, nguyên tắc hoạt động của thiết bị
1.3.4.2 Gắn việc sử dụng PTDH với các hoạt động trí tuệ - thực tiễn của học sinh, tạo ra các kích thích đa dạng về mặt cơ học, âm học, quang học…phù hợp với
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
quá trình thu nhận và xử lí thông tin của học sinh, kích thích sự tranh luận tích cực của học sinh về đối tượng nhận thức
1.3.4.3 Việc sử dụng phương tiện dạy học trong quá trình hình thành và vận dụng kiến thức phải góp phần làm sáng tỏ tính biện chứng giữa cái chung và những cái riêng, cái giống nhau và cái khác nhau của các hiện tượng, quá trình vật lý
1.3.4.4 Việc sử dụng PTDH phải góp phần làm tăng tính chính xác và tính
hệ thống của các kiến thức mà HS lĩnh hội Đặc biệt, khi sử dụng nhiều lần một số PTDH ở nhiều chương, mhiều phần khác nhau của chương trình vật lý sẽ tạo điều kiện làm nổi bật mối liên hệ giữa các kiến thức mà học sinh đã lĩnh hội
1.4 Các căn cứ đánh giá chất lượng kiến thức [22]
1.4.1 Tính chính xác của kiến thức
Dấu hiệu chất lượng đặc trưng bởi mức độ tương ứng mà học sinh lĩnh hội được các khái niệm, các định luật, các lí thuyết và tư tưởng vật lý chủ yếu của chương trình vật lý phổ thông ở từng cấp, từng ban với nội dung khoa học của chúng Nghĩa là các luận điểm khoa học của vật lý được chuẩn bị kĩ cả về nội dung
và phương pháp truyền thụ, nó không chỉ đảm bảo tính khoa học chính xác mà còn đáp ứng được trình độ phát triển trí tuệ, hiểu biết và kinh nghiệm của học sinh Mức
độ chính xác của kiến thức vật lý của học sinh biểu hiện ở sự phát biểu miệng và ngôn ngữ viết ở hình thức trình bày rõ ràng và đúng đắn về mặt khoa học
1.4.2 Tính hệ thống của kiến thức
Những hiểu biết riêng lẻ về các hiện tượng, các khái niệm vật lý được hệ thống hoá thành một hệ thống các khái niệm có đung lượng lớn hớn cả về nội dung khoa học và cách thức biểu hiện Kiến thức vật lý rất phong phú, cách thức biểu hiện đa dạng, vì thế cần phải liên kết lại thành những hệ thống ngày càng tổng quát hơn Quá trình đó tạo điều kiện cho sự thấu hiểu kiến thức và phát triển năng lực trí tuệ, đặc biệt là các thao tác khái quát hoá và trừu tượng hoá Tính hệ thống của kiến thức còn biểu hiện mối liên hệ logic và phát triển của các khái niệm, định luật, lí thuyết và những ứng dụng của vật lý
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.4.3 Tính khái quát của kiến thức
Học sinh không chỉ hiểu việc mô tả các đối tượng, hiện tượng vật lý mà cần phải hiểu được bản chất của nó Mặt khác việc chuyển từ sự khảo sát một số lớn các đối tượng riêng lẻ tới việc nghiên cứu các mô hình tổng quát đặc trưng cho các quá trình hiện tại cần phải trừu tượng hoá và khái quát hoá Mức khái quát của kiến thức tạo cho học sinh khả năng khảo sát các quá trình, các đối tượng và hiện lượng vật lý cùng loại hoặc tương tự, nó biểu hiện năng lực tư duy khái quát của học sinh
1.4.4 Tính bền vững của kiến thức
Quá trình dạy học vật lý cần quan tâm đến việc ôn luyện và khắc sâu hệ thống kiến thức cho học sinh với các cấp độ nắm vững kiến thức: Hiểu, nhớ và vận dụng (hay nhận biết, tái hiện, kĩ năng và sáng tạo) Tính bền vững của kiến thức gắn liền với việc phát triển tư duy dựa trên sự lĩnh hội vững chắc các sự kiện vật lý nền tảng, các kiến thức vật lý điển hình Mức độ bền vững của kiến thức sẽ có sức sáng tạo cao, là tiền đề trí tuệ cho học sinh tự học và vươn lên trong khoa học
1.4.5 Tính áp dụng được của kiến thức và khả năng vận dụng chúng
Mục đích của việc học tập là nhằm áp dụng vốn kiến thức vào hoạt động thực tiễn để hiểu thế giới xung quanh và có khả năng biến đổi nó vì lợi ích của cộng đồng Ở đây việc giải các bài toán vật lý, thực hiện các thí nghiệm, nghiên cứu cấu
tạo nguyên tắc hoạt động của các dụng cụ, thiết bị kĩ thuật có ý nghĩa đặc biệt
trong quá trình lĩnh hội và vận dụng kiến thức Nó góp phần phát triển tính năng động và sáng tạo của tư duy Học sinh làm quen với việc khảo sát bất kì hiện tượng hay quá trình nào ở nhiều khía cạnh, trong điều kiện nhất định và bằng các phương
pháp phù hợp Tính áp dụng được của kiến thức và khả năng vận dụng chúng là
dấu hiệu bản chất của chất lượng tình hội kiến thức, là cơ sở phát triển năng lực tư duy sáng tạo, kĩ năng và thói quen vận dụng kiến thức vật lý vào thực tiễn đời sống sản xuất
1.4.6 Chuẩn kiến thức kĩ năng
1.5 Phối hợp phương pháp và phương tiện dạy học nhằm nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh
Cơ sở để phối hợp các PP&PT: Nội dung kiến thức trong một bài dạy là đa
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
dạng, mà mỗi PP&PT thường chỉ giải quyết được một nội dung nhận thức nào đó,
vì vậy phải sử dụng phối hợp nhiều PP&PTDH, trong sự phối hợp này bao giờ cũng
có một phương pháp chủ đạo, phương pháp khác chỉ là phương pháp hỗ trợ cho phương pháp chủ đạo
Việc phối hợp các PP&PTDH phải đảm bảo tính đồng bộ giữa thiết bị, nội dung, phương pháp và đặc điểm của giáo viên và học sinh
1.5.1 Một số nguyên tắc lựa chọn và phối hợp các PP&PTDH
Nguyên tắc 1: Phối hợp các phương pháp và phương tiện dạy học cần
+ Nghiên cứu lôgic nội dung của bài học
+ Nghiên cứu tâm sinh lí lứa tuổi và trình độ tiếp thu của học sinh
+ Trình độ của giáo viên
+ Điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường, các phương tiện dạy học phục vụ cho nội dung bài học
Nguyên tắc 2: Phối hợp các phương tiện dạy học cần: đúng lúc, đúng chỗ và
đủ cường độ
- Sử dụng PTDH đúng lúc có nghĩa là trình bày phương tiện vào lúc cần thiết, lúc học sinh mong muốn nhất được quan sát, gợi nhớ trong trạng thái tâm lí thuận lợi nhất
- Phương tiện dạy học phát huy hiệu quả nếu nó xuất hiện vào đúng lúc nội dung và phương pháp dạy học cần đến nó Cần đưa phương tiện theo trình tự bài giảng, phương tiện dạy học phải được đưa ra biểu diễn và cất đi đúng lúc
- Cùng một PTDH cũng cần phân biệt thời điểm sử dụng của chúng Khi nào đưa ra giới thiệu trong giờ học, trong buổi ngoại khoá, …
- Sử dụng phương tiện dạy học đúng chỗ là tìm vị trí để giới thiệu phương tiện trên lớp học hợp lí nhất, giúp cho HS có thể sử dụng nhiều giác quan nhất để tiếp xúc với phương tiện một cách đồng đều ở mọi vị trí trong lớp
- Tìm vị trí lắp đặt sao cho cả lớp có thể quan sát rõ ràng Các phương tiện được giới thiệu ở những vị trí an toàn cho giáo viên và học sinh
- Sử dụng phương tiện dạy học đủ cường độ, nếu kéo dài việc trình diễn hoặc lặp lại một phương tiện quá nhiều sẽ làm cho hiệu quả giảm sút
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.5.2 Các biện pháp phối hợp PP&PTDH nhằm nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của HS
Biện pháp 1: Xây dựng tình huống, giao nhiệm vụ học tập, tổ chức thảo luận
theo nhóm để các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới để HS hình thành hoặc điều chỉnh kiến thức để đáp ứng nhu cầu của môi trường chứ GV không áp đặt Huy động tư duy nhằm huy động những ý tưởng mới, độc đáo của các thành viên Các thành viên được cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng HS độc lập hoạt động, khi không thể giải quyết được vấn đề, GV can thiệp thông qua các câu hỏi gợi ý
Biện pháp 2: Sử dụng công nghệ thông tin; phần mềm hỗ trợ bài giảng,
minh họa trên lớp với Projetor với vai trò phương tiện dạy học Sử dụng các phương tiện trực quan để hỗ trợ cho quá trình dạy và học của GV và HS Phương tiện trực quan có tác động trực tiếp đến giác quan người học, qua đó thông tin được HS tiếp thu và xử lí nâng cao cường độ lao động học tập của HS
Biện pháp 3: Phân hóa HS theo đối tượng HS yếu kém, đối tượng HS trung
bình và đối tượng HS khá giỏi Đối tượng HS yếu kém cần có sự quan tâm giúp đỡ nhiều hơn của GV, các câu hỏi vấn đáp cần có gợi mở, chẻ nhỏ, còn đối tượng học khá giỏi cũng được quan tâm song có hạn chế nhằm phát huy tối đa tính tự giác, độc lập của họ Trong việc kiểm tra, đánh giá cũng cần có sự phân hóa; yêu cầu cao hơn với HS khá giỏi, hạ thấp yêu cầu đối với HS yếu kém
Biện pháp 4: Kiểm tra đánh giá là một công cụ quan trọng, chủ yếu xác định
năng lực nhận thức của người học, điều chỉnh quá trình dạy và học
1.6 Nghiên cứu thực trạng dạy học các kiến thức về “Sóng âm” ở trường THPT miền núi
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
HS trong học tập vật lý, phát hiện những nguyên nhân, khó khăn của HS trong quá trình nhận thức vật lý từ đó tìm ra các giải pháp khắc phục và có cơ sở để tổ chức hoạt động học tập phù hợp cho HS , nhằm nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức,
hiệu quả dạy - học vật lý nói chung và phần kiến thức Sóng âm lớp 12 nói riêng
1.6.2 Phương pháp tìm hiểu thực tế dạy và học
Chúng tôi sử dụng các PP:
+ Thăm dò GV (dùng phiếu điều tra, trao đổi, dự giờ)
+ Điều tra HS (dùng phiếu điều tra, dự giờ, trao đổi trực tiếp)
+ Trao đổi với tổ trưởng bộ môn, cốt cán bộ môn, tham quan phòng T/N vật
- Cách thức học vật lý của HS, việc sử dụng sách của HS trong học tập vật
lý, mức độ hứng thú nhận thức vật lý của HS, nguyên nhân ảnh hưởng đến khả năng nhận thức vật lý của HS
Kết quả điều tra:
* Về cơ sở vật chất, đồ dùng DH của GV:
- Ba trường chúng tôi điều tra (Trường THPT Chu Văn An , trường THPT Đại Từ, trường THPT Nguyễn Huệ ) Nhìn chung các trường đều có các phòng học (đảm bảo điều kiện về bàn ghế , bảng, ánh sáng, điện .); Trường THPT Chu Văn
An HS học một ca , thời gian còn lại dành cho tự học và các sinh hoạt tập thể khác , còn tr ường THPT Đại Từ và THPT Nguyễn Huệ HS vẫn ph ải học hai ca Kích thước phòng học không phù hợp với việc triển khai DH theo nhóm, có T/N đồng loạt hoặc có sử dụng phương tiện DH hiện đại (riêng trường THPT Chu Văn An tất
cả các phòng học đều lắp thiết bị DH đa phương tiện, trị giá mỗi phòng học gần 40 triệu đồng đáp ứng khả năng học tập, phát triển tư duy của HS)