1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lịch sử địa phương: Phần 1 - Nguyễn Cảnh Minh

66 29 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch Sử Địa Phương: Phần 1 - Nguyễn Cảnh Minh
Tác giả Nguyễn Cảnh Minh
Trường học Đại Học Huế
Chuyên ngành Lịch Sử
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2007
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 409,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần 1 của cuốn sách Lịch sử địa phương do Nguyễn Cảnh Minh biên soạn gồm 3 chương đầu. Nội dung của 3 chương đầu sẽ giới thiệu đến người đọc một số kiến thức về: đối tượng, nhiệm vụ và nội dung cơ bản của công tác nghiên cứu lịch sử địa phương, phương pháp nghiên cứu lịch sử địa phương, tổ chức nghiên cứu và biên soạn lịch sử địa phương.

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

đại học huế trung tâm đào tạo từ xa nguyễn cảnh minh

Huế - 2007

Trang 2

Mục lục

Chương I: đ ối tượng, nhiệm vụ và nội dung cơ bản Của công tác

nghiên cứu lịch sử địa Phương 4

i khái niệm “địa phương” và lịch sử địa phương 4

ii đối tượng, nhiệm vụ và nội dung cơ bản của công tác nghiên cứu lịch sử địa phương 4

Iii vị trí của công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử địa phương 5

iv tình hình nghiên cứu lịch sử địa phương hiện nay 7

Hướng dẫn học tập 12

Câu hỏi hướng dẫn học tập 12

Chương II: phương pháp nghiên cứu lịch sử địa phương 13

i công tác sưu tầm tư liệu 13

II giám định các nguồn tư liệu 37

III biên soạn lịch sử địa phương 39

hướng dẫn học tập 48

Câu hỏi hướng dẫn học tập 48

Chương III: tổ chức nghiên cứu và biên soạn lịch sử địa phương 49

I xác định mục đích, yêu cầu của một đợt đi nghiên cứu 49

II các khâu chuẩn bị 50

III những công việc cần làm ở địa phương 52

hướng dẫn học tập chương III 66

Câu hỏi hướng dẫn học tập 66

Chương IV: biên soạn và giảng dạy lịch sử địa phương ở trường phổ thông và biên soạn lịch sử nhà trường 67

I vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc dạy, học lịch sử địa phương ở trường phổ thông cơ sở và trung học 67

II Biên soạn bài giảng lịch sử địa phương ở trường phổ thông 69 III dạy học một bài lịch sử địa phương tại thực địa 82

IV biên soạn lịch sử nhà trường 85

v mấy vấn đề cần lưu ý trong việc biên soạn lịch sử nhà trường 86

vi xây dựng phòng truyền thống, phòng lịch sử của nhà trường và của địa phương 88

hướng dẫn học tập chương iv 93

Câu hỏi hướng dẫn học tập 93

Trang 3

Chương V: hướng dẫn thực hành 94

i về các tiết giảng ở lớp 6, lớp 8: giới thiệu và tham quan các di tích lịch sử, cách mạng ở địa phương 94

ii về các tiết giảng lịch sử địa phương ở lớp 7 và lớp 9 97

Câu hỏi hướng dẫn ôn tập 102

tài liệu tham khảo 106

Trang 4

Chương I

đối tượng, nhiệm vụ và nội dung cơ bản Của công tác nghiên cứu

lịch sử địa Phương

i khái niệm “địa phương” và lịch sử địa phương

Có thể hiểu một cách đơn giản “địa phương ” là những vùng đất khác nhau, riêng rẽ

của đất nước, có ranh giới riêng, hình thành từ lâu đời (làng, xã, huyện, phường, quận, tỉnh, thành phố, bản, mường, châu ) Khái niệm “ranh giới” chủ yếu là ranh giới địa lý

tự nhiên Như vậy khái niệm “địa phương” ở đây không phải chỉ được dùng cho các tỉnh, thành phố, ngoài thủ đô mà còn cho các vùng khác nhau trong thủ đô và ngay cả bản thân thủ đô, nhằm để phân biệt với “cả nước”, “quốc gia”, “trung ương” Địa phương có những mối liên hệ với cả nước và là một bộ phận cấu thành của đất nước, đồng thời cũng

có những nét riêng, tạo nên sắc thái riêng của vùng mình

Cũng cần thấy rằng xét về mặt phạm vi địa lý, lịch sử và các mối quan hệ với quốc gia, trung ương thì các trường học, nhà máy, xí nghiệp đều mang tính địa phương, song bản thân nó lại có một nội dung có tính chất chuyên môn, kỹ thuật, do đó thông thường người ta xếp nó vào thể loại các chuyên ngành trong nghiên cứu lịch sử

ii đối tượng, nhiệm vụ và nội dung cơ bản của công tác nghiên cứu lịch sử địa phương

1 Lịch sử địa phương có hai đối tượng nghiên cứu chính

a Thứ nhất, lịch sử các đơn vị hành chính: quá trình hình thành và phát triển của

nó, những hoạt động về các mặt của nó (kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, giáo dục), trong bối cảnh chung của đất nước, dân tộc Những truyền thống chung và riêng, những thành tựu, ưu điểm, những hạn chế của địa phương so với cái chung và toàn quốc Trên cơ sở đó đúc rút những cống hiến của địa phương và lịch sử cả nước, những điều cần giáo dục cho các thế hệ hiện tại và mai sau

Trong việc nghiên cứu lịch sử địa phương, có thể phân thành nhiều thể loại khác nhau: thông sử (bao gồm mọi mặt hoạt động của đời sống xã hội của địa phương), lịch sử

Đảng, lịch sử đấu tranh cách mạng, lịch sử xây dựng kinh tế, văn hoá, giáo dục, các

đoàn thể thanh niên, phụ nữ (chuyên nghiệp)

Trang 5

b Thứ hai, các sự kiện lịch sử riêng lẻ có quan hệ chặt chẽ đến biến cố lịch sử chung của dân tộc, quốc gia (một cuộc khởi nghĩa, một giai đoạn kháng chiến, một trận đánh lớn, một khu vực văn hoá, một cơ sở giáo dục ) Nghiên cứu các sự kiện lịch sử địa phương này vừa có ý nghĩa bổ sung, làm sáng tỏ, đính chính lịch sử dân tộc và vừa có ý nghĩa góp phần xây dựng lịch sử địa phương

2 Nội dung cơ bản của công tác nghiên cứu lịch sử địa phương

Nghiên cứu lịch sử địa phương là một bộ phận của công tác nghiên cứu lịch sử nói chung Bởi vậy, người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử địa phương cần phải

có những hiểu biết cơ bản, đúng đắn về lịch sử nhân loại, lịch sử dân tộc, đất nước, phương pháp luận sử học chung và các phương pháp nghiên cứu lịch sử cụ thể Ngoài

ra, lịch sử địa phương đòi hỏi người nghiên cứu phải biết tổ chức nghiên cứu, làm công tác quần chúng phục vụ nghiên cứu, biết xử lý, xác minh, giám định các nguồn sử liệu thu thập được ở địa phương

Sau khi hoàn tất bước làm tư liệu theo một chủ đề (thông sử, chuyên ngành ) người nghiên cứu phải biết biên soạn cuốn sử theo những đề mục cần thiết phù hợp với đề tài

và thể loại

Một nhiệm vụ rất quan trọng và cần thiết của người giáo viên lịch sử là trên cơ sở tập tư liệu hay cuốn lịch sử địa phương đã thu thập, biên soạn phải biết biên soạn thành những bài giảng lịch sử địa phương phù hợp với yêu cầu của nhà trường và chương trình giảng dạy lịch sử địa phương của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Những chương tiếp theo sẽ trình bày cụ thể các mặt hoạt động nói trên của công tác nghiên cứu, biên soạn và giảng dạy lịch sử địa phương

Iii vị trí của công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử địa phương 1

Lịch sử địa phương là một bộ phận hợp thành và làm phong phú lịch sử dân tộc, do

đó nghiên cứu lịch sử địa phương sẽ góp phần tích cực bổ sung sử liệu cho việc xây dựng lịch sử dân tộc, làm cụ thể hoá, cá thể hoá một số nội dung cơ bản của lịch sử dân tộc, làm phong phú lịch sử đất nước Lịch sử địa phương làm sáng tỏ thêm những đóng góp to lớn của nhân dân vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước, làm nổi rõ mối quan hệ hữu cơ giữa các địa phương trong quốc gia

Lịch sử địa phương là một bộ phận của chương trình dạy học lịch sử ở trường phổ thông và đại học xã hội - nhân văn, đại học sư phạm (các khoa lịch sử) và còn là một phần quan trọng của môn Địa phương học Nó góp phần thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ

1 Xem thêm " Khái quát về lịch sử địa phương " của Trương Hữu Quýnh trong " Lịch sử địa phương " , Nxb Giáo dục, 1989, tr 5-12

Trang 6

đào tạo, giáo dục của nhà trường xã hội chủ nghĩa Lịch sử địa phương giảng dạy trong nhà trường phổ thông là một trong những nguồn quan trọng làm phong phú tri thức của học sinh về quê hương, qua đó giáo dục lòng yêu quý, gắn bó quê hương cho học sinh, hình thành những khái niệm về nghĩa vụ đối với quê hương, đất nước, nhận thức đúng

đắn mối liên hệ giữa lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc

Giảng dạy lịch sử địa phương có tác dụng to lớn giáo dục tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ

và ý thức lao động cho thế hệ trẻ, góp phần hình thành lòng yêu nước xã hội chủ nghĩa Bởi lẽ, nguồn gốc của lòng yêu Tổ quốc bắt nguồn từ tuổi ấu thơ, từ lòng yêu quê hương của các em

Dạy - học lịch sử địa phương còn làm cho thế hệ trẻ thấy rõ ý nghĩa lịch sử tiến bộ của chế độ xã hội chủ nghĩa và công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, tổ chức, lãnh đạo đang được thực hiện và đem lại nhiều thành tựu ở khắp mọi miền trên đất nước từ những địa phương cụ thể (quê hương của các em) Từ đó càng thêm yêu quý quê hương, đất nước, tin tưởng vào tương lai của dân tộc, quê hương mình Việc nghiên cứu, giảng dạy lịch sử địa phương còn góp phần giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, trước hết là bảo vệ những di tích lịch sử Thấy rõ vai trò của con người tác

động tích cực đến việc cải tạo và chinh phục tự nhiên một cách hợp quy luật

Đối với người giáo viên lịch sử ở các trường phổ thông tiểu học và trung học, lịch sử

địa phương là cái cầu nối với quần chúng nhân dân địa phương nơi họ làm việc, tạo nên tình cảm và quan hệ gắn bó cuộc sống và con người địa phương, từ đó bồi dưỡng quan

điểm và ý thức công tác quần chúng, rèn luyện khả năng, phương pháp nghiên cứu, gắn liền lịch sử dân tộc với lịch sử địa phương, nâng cao chất lượng giáo dục và giảng dạy Những tài liệu địa phương cụ thể, phong phú, sinh động sẽ làm cho bài giảng về lịch sử thêm hấp dẫn, truyền cảm, gây hứng thú học tập bộ môn lịch sử, tạo nên được những xúc cảm thực, sâu sắc của học sinh và thầy giáo trong bài giảng lịch sử Đó là một trong những giá trị cơ bản của bộ môn lịch sử ở nhà trường Người giáo viên lịch sử qua công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử địa phương có thể hoàn thành có kết quả những tác phẩm sử học, những đề tài nghiên cứu khoa học, những luận án có giá trị cao về mặt khoa học

Rõ ràng, việc nghiên cứu, giảng dạy lịch sử địa phương có tác dụng rất to lớn về giáo dưỡng và giáo dục, kết hợp học tập với lao động sản xuất theo ngành nghề, với nghiên cứu khoa học phục vụ xã hội Từ đó chúng ta thấy rõ tầm quan trọng và sự cần thiết của công tác nghiên cứu, biên soạn, giảng dạy lịch sử địa phương

Mặt khác có rất nhiều sự kiện lịch sử địa phương gắn liền với lịch sử dân tộc còn bao hàm cả sự hiểu biết cần thiết về lịch sử địa phương, lịch sử quê hương, xứ sở Hoạt động

Trang 7

nghiên cứu lịch sử địa phương như cầu nối tình cảm của giáo viên, học sinh của nhà trường với nhân dân địa phương cũng là biện pháp để khai thác sức sáng tạo tiềm tàng của nhân dân địa phương Nguồn tài liệu lịch sử địa phương, với những loại hình đa dạng phong phú, sinh động là cơ sở cho việc tạo những biểu tượng lịch sử và hiểu sâu sắc các khái niệm, các sự kiện, hiện tượng ở bài học lịch sử Tri thức lịch sử địa phương

có ý nghĩa giáo dục sâu sắc lòng tự hào chân chính về những truyền thống tốt đẹp của

địa phương, tình yêu quê hương, xứ sở, ý thức bảo vệ giữ gìn di sản văn hoá, di tích lịch

sử v.v

Với những ý nghĩa đó, nghiên cứu lịch sử địa phương giữ vị trí quan trọng trong nhà trường Mỗi địa phương luôn là nguồn cảm hứng đối với việc nghiên cứu lịch sử

iv tình hình nghiên cứu lịch sử địa phương hiện nay

1 Việc nghiên cứu lịch sử địa phương ở một số nước trên thế giới

ở các nước phát triển, công tác nghiên cứu về địa phương rất được chú trọng Ngành

“địa phương học” đã thu hút hoạt động nghiên cứu trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã

hội, điều kiện tự nhiên ở các địa phương Các chuyên ngành nghiên cứu về lịch sử, dân tộc học, ngôn ngữ, văn học dân gian, địa lý v.v của môn “địa phương học” đã đem lại những kết quả chính xác , là cơ sở đáng tin cậy cho việc hoạch định và thực thi những nhiệm vụ kinh tế - xã hội của từng địa phương trong chiến lược tổng thể của quốc gia Nghiên cứu địa phương không chỉ là hoạt động riêng của các nhà khoa học thuộc các chuyên ngành mà còn thu hút đông đảo lực lượng giáo viên, học sinh và những người yêu thích, am tường về địa phương, các khu vực, các lĩnh vực tham gia Những hội nghị khoa học về địa phương đều chú ý tới phương pháp luận của việc nghiên cứu, phương pháp sưu tầm và xử lý các nguồn tài liệu, phương pháp ứng dụng kết quả nghiên cứu để giải quyết những yêu cầu của thực tiễn ở nhiều nước, đặc biệt là khu vực Đông Nam á, lịch sử địa phương đã gắn chặt với hoạt động của ngành du lịch, chính vì vậy môi trường sinh thái nói chung, môi trường văn hoá nói riêng được bảo vệ chặt chẽ, vốn văn hoá độc

đáo đặc thù trong lịch sử được khai thác một cách hợp lý, vừa có ý nghĩa lớn về mặt chính trị vừa có hiệu quả kinh tế cao

Liên bang Nga là một trong những nước tiến hành việc nghiên cứu về địa phương từ rất sớm Từ đầu thế kỷ XVIII, vua Pie đệ nhất đã ra chỉ thị: “Mọi sự tìm kiếm của các nhà nghiên cứu đều phải báo lên Nga hoàng và nhà vua sẽ trọng thưởng cho những ai có công tìm ra các cổ vật trong phạm vi vương quốc Nga” Trong thời gian này, Rêmêdốp (1642 - 1720) đã soạn thảo cuốn “Lịch sử Xibia” đặt cơ sở cho việc nghiên cứu của mỗi miền riêng biệt M.V.lômônôxôp (1711 - 1765) đã tiến hành làm bản đồ nước Nga, biên soạn một cuốn sách gồm các vấn đề về lịch sử của từng thành phố và từng tỉnh Đến cuối

Trang 8

thế kỷ XVIII đã xuất hiện những chuyên khảo nghiên cứu về các vùng, miền riêng biệt (Chẳng hạn như cuốn sách “Địa hình vùng Orenbua” của P.I.Rứtcốp; “Những kiến thức lịch sử sơ giản về dân tộc Đơvin” (1784); “Sơ yếu lịch sử thành phố áckhanghen” của V.V.Crếtxtinhin )

Bên cạnh việc nghiên cứu địa phương của các nhà khoa học, còn có hoạt động nghiên cứu lịch sử địa phương trong nhà trường M.Lômônôxốp đã thu hút học sinh ở vùng nông thôn sưu tầm nghiên cứu các mỏ đá và kim loại quý N.P.Bunacốp - một giáo viên trường trung học đã viết 20 cuốn sách về lịch sử địa phương, các nhà văn, nhà giáo dục nổi tiếng như I.N.Léptônxtôi, K.Đ.Usinxki đã ủng hộ tích cực việc sử dụng tài liệu lịch sử địa phương để giáo dục học sinh trong nhà trường phổ thông

Hoạt động nghiên cứu lịch sử địa phương được đẩy mạnh trong các trường đại học Cadan, Khắccốp, Kiép, Ôđetxa v.v Các hội nghiên cứu khoa học lần lượt được thành lập

Từ cuối thế kỷ XIX, đặc biệt đầu thế kỷ XX, việc nghiên cứu lịch sử địa phương không những được đẩy mạnh mà còn có nhiều tiến bộ về phương pháp luận của việc nghiên cứu Những người Bônsêvích chân chính bị chính phủ Nga hoàng đày đi Xibia đã nghiên cứu tình hình địa phương một cách toàn diện về các mặt dựa trên quan điểm duy vật và biện chứng V.I.Lênin trong thời gian bị lưu đày đã nghiên cứu kỹ tình hình địa phương và sau này đã phân tích kỹ tài liệu ấy, khái quát hoá, góp phần hoàn thành tác phẩm nổi tiếng: “Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga” Từ sau Cách mạng XHCN tháng Mười (1917), dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, những người Bônsêvích chân chính đã lãnh đạo nhân dân tiếp thu di sản của chế độ xã hội cũ với thái độ phê phán nghiêm túc, lựa chọn để thừa kế và phát huy Tư tưởng đó được thể hiện trong lời kêu gọi của ủy ban hành pháp Xô viết đại biểu công nhân và binh lính Pêtơrôgrát tháng 11 - 1917: “Hỡi đồng bào! Bọn chủ đã cút đi để lại di sản to lớn Giờ

đây, di sản đó thuộc về toàn thể nhân dân Hỡi đồng bào! Hãy giữ gìn tài sản này, bảo quản những bức tranh, tượng, lâu đài Đó là biểu hiệu sức mạnh tinh thần của chúng ta

Trang 9

Theo chỉ thị của Lênin, văn kiện giáo dục đầu tiên của Liên bang cộng hoà XHCN Xô viết Nga (1918) đã yêu cầu sử dụng hình thức và phương pháp dạy học lịch sử địa phương trong giờ nội khoá ở trường phổ thông Từ năm học 1920 - 1921, địa phương học

đã đưa vào chương trình dạy học ở nhà trường và sau đó trở thành tài liệu bắt buộc ở trường trung học

Đến năm 1930, địa phương học được đưa vào giảng dạy ở các trường Đại học sư phạm Từ những năm 50 trở đi, với việc thành lập các “Hội bảo tàng địa phương”, “Hội bảo vệ các di tích lịch sử và văn hoá” (1966), hoạt động nghiên cứu lịch sử địa phương càng được đẩy mạnh Nguồn tài liệu địa phương đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ trong nhà trường Xô viết trước đây

ở Hungari, công tác nghiên cứu, sưu tầm lịch sử địa phương cũng rất được coi trọng Nhà trường kết hợp với các cơ quan chuyên môn lịch sử và văn hoá, tổ chức học sinh sưu tầm tài liệu để xây dựng những “làng bảo tàng” địa phương ở đó, người ta trưng bày những hiện vật lịch sử, những kiến thức độc đáo, những nét đặc thù trong đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân các địa phương

2 Việc nghiên cứu lịch sử địa phương ở Việt Nam

ở nước ta từ trước Cách mạng tháng Tám đã có những tài liệu nghiên cứu về lịch sử

địa phương như các gia phả, thần phả, địa phương chí, đinh bạ, địa bạ và nhiều truyền thuyết lịch sử v.v 1

Từ sau ngày hoà bình lập lại (1955), công tác nghiên cứu lịch sử địa phương ở miền Bắc được chú ý, Viện Sử học đã nhấn mạnh vị trí, tầm quan trọng của công tác nghiên cứu lịch sử địa phương và sau đó Hội nghị về công tác nghiên cứu, phương pháp biên soạn lịch sử địa phương và chuyên ngành được triệu tập (1962) Trong những năm chống chiến tranh phá hoại, một số trường phổ thông ở miền Bắc đã có những cố gắng trong công tác sưu tầm và sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử Một số trường đại học, trung học sư phạm ở những nơi sơ tán cũng đã yêu cầu đội ngũ cán bộ giảng dạy và sinh viên, chịu trách nhiệm khảo cứu, biên soạn một số công trình lịch sử

địa phương Tuy nhiên do hoàn cảnh thời chiến, việc nghiên cứu chưa được tiến hành

đều đặn, thường bị gián đoạn, kết quả cũng còn nhiều hạn chế

ở miền Nam dưới thời Mỹ - nguỵ cũng xuất hiện một số chuyên khảo về lịch sử địa phương Tuy nhiên, những công trình đó được phản ánh dưới nhãn quan và mục tiêu chính trị của giai cấp tư sản Chẳng hạn cuốn “Phong quang Đắc Lắc”, “Cao nguyên

1 Phan Ngọc Liên, Nguyễn Phan Quang, Trần Văn Trị: Công tác ngoại khoá thực hành môn lịch sử ở trường phổ thông cấp 2-3, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1968

Trang 10

miền Thượng” của tác giả Cửu Long và Toan ánh hay cuốn “Nước non Bình Định” không đúng khi đề cập tới Mai Xuân Thưởng - một thủ lĩnh của phong trào khởi nghĩa hưởng ứng chiếu “Cần vương” ở Nam Trung bộ Nhiều lần thực dân Pháp tìm cách bao vây, đàn áp, bắt mẹ của ông hòng uy hiếp tinh thần đấu tranh, bức ông đầu hàng, song

ông cùng với nghĩa quân vẫn kiên quyết chiến đấu cho tới khi rơi vào tay giặc, nhưng tác giả lại viết, Mai Xuân Thưởng đầu hàng để “giữ tròn chữ hiếu”

Từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, việc nghiên cứu lịch sử địa phương mới được tiến hành rộng khắp trên phạm vi cả nước Các ban nghiên cứu lịch sử của

Đảng ở các địa phương được thành lập, nhiều lớp bồi dưỡng nghiên cứu lịch sử, cán bộ sinh viên các trường đại học (ngành sử), cao đẳng sư phạm đã góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu, biên soạn lịch sử huyện, xã, các ngành v.v

Hầu hết các tỉnh đã biên soạn được lịch sử Đảng bộ, nhiều tỉnh đã biên soạn lịch sử các huyện như Hà Nội, Hải Phòng, Nghệ An, Quảng Nam, Đà Nẵng, Thái Nguyên ở nhiều nơi đã tiến hành biên soạn lịch sử các xã (Hà Nội, Hà Tây, Bắc Ninh, Hà Nam, Thanh Hoá) Các hội nghị lịch sử địa phương được tổ chức ở các tỉnh (Hải Phòng, Hà Nam, Thanh Hoá, Cao Bằng v.v ) đã thu hút sự tham gia đông đảo của các nhà nghiên cứu ở cả trung ương và địa phương Một số trường phổ thông đã trở thành đơn vị tiêu biểu của phong trào nghiên cứu và dạy học lịch sử địa phương: trường trung học cơ sở Bắc Lý, phổ thông trung học Lê Hồng Phong (Nam Định), trung học cơ sở Trương Vương, Thăng Long, phổ thông trung học Chu Văn An, Việt Đức (Hà Nội), phổ thông trung học Thái Phiên, Ngô Quyền (Hải Phòng) v.v 1

Tuy vậy, việc nghiên cứu lịch sử

địa phương chưa được tiến hành đều khắp trong phạm vi cả nước Hiệu quả giáo dục, giáo dưỡng của tài liệu lịch sử địa phương trong nhà trường đã được nâng lên, song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác giáo dục hiện nay ở các trường phổ thông trung học ở miền núi, việc nghiên cứu và giảng dạy lịch sử địa phương chưa được chú trọng đúng mức Giáo viên phổ thông mới chỉ tập trung vào giảng dạy các bài lịch sử nội khoá, còn công tác thực hành, ngoại khoá, nhiều nơi thực hiện tuỳ tiện, thậm chí không thực hiện Nhiều trường phổ thông chưa tiến hành nghiên cứu và giảng dạy lịch sử địa phương Những tiết lịch sử địa phương mới được một số trường tiến hành

Hiện trạng trên là do nguồn tài liệu lịch sử địa phương ở các tỉnh chưa được sưu tầm

và chỉnh lý, biên soạn một cách hệ thống Nhiều địa phương đến nay chưa biên soạn

được lịch sử các huyện Lịch sử của nhiều xã chưa được nghiên cứu, biên soạn để giảng dạy trong nhà trường, nhất là ở miền núi do điều kiện để nghiên cứu lịch sử địa phương

1 Phan Kim Ngọc, Lại Đức Thu Về việc giảng dạy lịch sử địa phương ở trường phổ thông hiện nay Cục các trường sư phạm, Hà Nội, 1985

Trang 11

còn gặp rất nhiều khó khăn; (điều kiện địa hình phức tạp, phương tiện giao thông thiếu thốn, cơ sở vật chất nghèo nàn, thiếu đội ngũ cán bộ chuyên môn có năng lực, có trình

Trang 12

Hướng dẫn học tập

Những nội dung quan trọng cần nắm vững ở chương I:

1 Cần nắm chắc, chính xác khái niệm Địa phương khác với khái niệm lịch sử địa phương Khái niệm Địa phương để chỉ những đơn vị hành chính để phân biệt với khái niệm “cả nước”, “quốc gia”, “trung ương”

2 Nắm vững đối tượng, nhiệm vụ và nội dung cơ bản của công tác nghiên cứu lịch sử

địa phương có những điểm nào giống và khác với lịch sử chung của cả nước

3 Trên cơ sở đó, phân tích cho người học hiểu được sâu sắc vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử địa phương trong sự nghiệp giáo dục,

đào tạo con người mới, góp phần xây dựng quê hương, xứ sở của mình

Câu hỏi hướng dẫn học tập

1 Khái niệm “Địa phương” và “Lịch sử địa phương” nên hiểu như thế nào?

2 Lịch sử địa phương có những đối tượng và nhiệm vụ nào?

3 Công tác nghiên cứu lịch sử địa phương có vị trí, tầm quan trọng như thế nào?

4 Công tác nghiên cứu lịch sử địa phương có những nội dung cơ bản gì?

Trang 13

Chương II Phương pháp nghiên cứu lịch sử địa phương

đủ, chính xác trong các bộ lịch sử cũ Điều kiện đầu tiên để bảo đảm tính Đảng, tính khoa học của một công trình biên soạn lịch sử là cần phải sưu tầm, phát hiện được một khối lượng lớn tư liệu từ các nguồn khác nhau tiềm tàng ở các địa phương Lịch sử là hoạt động của con người diễn ra trong quá trình đấu tranh xã hội để sinh tồn và phát triển, đấu tranh chống ngoại xâm để bảo vệ độc lập, tự do, và thống nhất đất nước, lao

động sáng tạo để xây dựng quê hương, đất nước Bản thân lịch sử là sự vận động của

đời sống xã hội hiện thực, hoàn toàn khách quan Sự kiện lịch sử diễn ra trong những thời gian và không gian nhất định với những diễn biến phong phú, cụ thể, đa dạng được bộc lộ thông qua vô số hiện tượng

Muốn dựng lại được bức tranh chân thực của lịch sử, rõ ràng là không thể chỉ có một

ít tư liệu, sự kiện mà làm được “Muốn nó trở thành cơ sở thực sự, cần phải xét không chút ngoại lệ toàn bộ các sự kiện có liên quan tới vấn đề nghiên cứu, chứ không phải lấy những sự kiện cá biệt Nếu không người ta sẽ hoài nghi có lý rằng những sự kiện ấy được sưu tầm một cách tuỳ tiện, thay mối quan hệ khách quan bằng chủ nghĩa chủ quan” V.I Lênin đã chỉ cho chúng ta thấy quá trình tìm tòi và làm rõ sự thật lịch sử trong công tác biên soạn là một quá trình vô cùng công phu, gian khổ, phức tạp để sưu tầm, phát hiện các nguồn tư liệu khác nhau Việc thu thập và sử dụng nhiều nguồn sử liệu (sau khi đã

được giám định) chính là điều kiện quan trọng giúp cho người làm công tác biên soạn

Trang 14

hiểu được bản chất của một sự kiện lịch sử này hay một sự kiện lịch sử khác, nó cho phép chúng ta tiếp cận từ nhiều phía với sự kiện được xem xét, với nhiều loại hình sử liệu khác nhau Thực tế cho thấy nhờ dựa vào nguồn tư liệu sưu tầm được qua các đợt

điều tra điền dã, các nhà sử học nước ta đã làm sáng tỏ và phong phú thêm nhiều vấn đề liên quan đến trận đại thắng quân Mông - Nguyên ở cửa sông Bạch Đằng năm 1288 1 ; bổ sung và khắc phục được nhiều thiếu sót của sử liệu trong thư tịch về cuộc chiến đấu mười năm gian khổ và anh hùng của nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo 2 ; khôi phục lại được bộ mặt tương đối đầy đủ và chân thực nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân trong thời kỳ lịch sử phong kiến dân tộc

Để tiến hành công cuộc sưu tầm tư liệu lịch sử địa phương có kết quả, cần thấy rõ công tác tổ chức sưu tầm tư liệu có mối quan hệ chặt chẽ với công tác biên soạn Nội dung chủ đề và thể loại của một tác phẩm lịch sử địa phương sẽ chi phối và quyết định cách thức, nội dung tư liệu cần sưu tầm Thông thường, trong công tác biên soạn lịch sử

địa phương, các chủ đề về truyền thống lịch sử xã, phường, quận, huyện, tỉnh, hoặc lịch

sử chuyên ngành như lịch sử Đảng bộ, lịch sử Đoàn của một địa phương Các chủ đề này có đối tượng, nội dung phương pháp sưu tầm tư liệu cụ thể khác nhau, không thể

đồng nhất với nhau Lịch sử của một địa phương (thường gọi là thông sử) bao gồm mọi mặt sinh hoạt của nhân dân trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, còn lịch sử

Đảng bộ của một địa phương thì tập trung chủ yếu vào quá trình ra đời, hoạt động của

Đảng bộ, tác dụng của sự lãnh đạo của Đảng bộ đối với sự phát triển của địa phương, lịch sử Đoàn cơ sở lại trình bày quá trình ra đời, hoạt động của Đoàn dưới sự lãnh đạo, giáo dục của Đảng bộ địa phương Bên cạnh các chủ đề trên (thông sử và chuyên ngành) trong thực tế do yêu cầu của công việc học tập, giảng dạy, nghiên cứu, phục vụ xã hội, chúng ta cũng đã biên soạn các chuyên đề khác nhau như “Cách mạng tháng Mười”,

“Làng chiến đấu”, “Phong trào du kích chống Pháp”, “Vành đai diệt Mỹ” của một địa

phương thậm chí còn mở rộng phạm vi và quy mô nghiên cứu các chuyên đề nói trên đến những địa phương khác nhau

a Sự kiện, sự kiện lịch sử và tư liệu lịch sử (hay sử liệu)

Trước khi tìm hiểu các nguồn tư liệu trong nghiên cứu lịch sử địa phương cần hiểu rõ:

- Sự kiện lịch sử - những điểm giống và khác nhau

Sự kiện: nguồn gốc khái niệm và nội dung

1 Nhiều tác giả, Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc, NXB QĐND, Hà Nội, 1976, tr 84 - 151

2 Phan Huy Lê, Vài thể nghiệm phương pháp khảo sát điền dã qua nghiên cứu khởi nghĩa Lam Sơn (Báo cáo tại hội nghị khoa học "Lịch sử địa phương" do khoa Lịch sử ĐHSP Hà Nội I tổ chức ngày 04-11-1985)

Trang 15

Nguồn gốc thuật ngữ “Sự kiện”

Từ “sự kiện” có nguồn gốc từ chữ Latinh “Factum” lấy từ động từ “facere” nghĩa là làm Tóm lại, từ sự kiện có nội dung:

Sự kiện có nội dung: chỉ hành động, sự vật đã xảy ra, những hiện tượng, sự việc thuộc về quá khứ

Sự kiện lịch sử:

Khái niệm: Sự kiện lịch sử là những hiện tượng, sự việc, biến cố xảy ra trong quá khứ

được ghi lại bằng tư liệu do hoạt động nhận thức của con người, mang theo nó dấu vết của ý thức xã hội Như vậy khái niệm sự kiện lịch sử bao gồm hai mặt:

Thứ nhất, sự kiện lịch sử là bản thân, hiện tượng, biến cố đã xảy ra trong lịch sử Thứ hai, sự kiện lịch sử phản ánh những hiện tượng, biến cố lịch sử vào nhận thức của con người một cách khách quan

Sự kiện lịch sử về bản chất có tính chất xã hội, là sản phẩm của sự phát triển lịch sử - xã hội, kết quả của sự hoạt động sản xuất vật chất và tinh thần của con người trong quá khứ

Về mặt nhận thức, sự kiện lịch sử là những gì xảy ra trong quá khứ được ghi lại trên cơ sở các nguồn tư liệu Nó là sự thống nhất biện chứng giữa khách quan và chủ quan có trong bản thân hiện tượng lịch sử, cũng như trong nhận thức lịch sử phản ánh hiện thực

đó

Tóm lại, theo quan điểm mác xít thì sự kiện lịch sử là hiện tượng, biến cố xảy ra trong quá khứ được ghi lại bằng tư liệu do hoạt động nhận thức của con người, mang theo nó dấu vết của ý thức xã hội

- Mối quan hệ giữa khái niệm sự kiện và sự kiện lịch sử

Sự kiện là bản thân hiện thực lịch sử nên được gọi là sự kiện hiện tượng Còn sự kiện lịch sử thường được gọi là sự kiện tri thức Sự kiện tri thức là sự phản ánh của sự kiện hiện tượng có tính khách quan đã được con người nhận thức thì sự hiểu biết của con người về quá khứ mới được xác định Khi nào nhà sử học phản ánh đúng hiện thực khách quan thì lúc bấy giờ sự kiện tri thức mới là sự kiện lịch sử thực sự khách quan khoa học, mới có giá trị là cơ sở đáng tin cậy cho nhận xét, khái quát, hiểu đúng với bản chất của sự kiện đã xảy ra Bởi vậy, một yêu cầu đối với người làm công tác nghiên cứu lịch sử là trong khi dựng lại hiện thực lịch sử khách quan, tức là từ sự kiện hiện tượng thành sự kiện tri thức khoa học đòi hỏi phải làm cho tư duy lịch sử phù hợp với hiện thực lịch sử Sự kiện lịch sử là cái gì hiện thực, tồn tại thực không bịa đặt, trái với ảo tưởng

Sự kiện lịch sử là cái gì cụ thể trái với trừu tượng Sự kiện lịch sử còn là một khái niệm

Trang 16

chung chỉ một quá trình các mối quan hệ và toàn bộ những hiện tượng cùng loại có liên quan với nhau như sự kiện lịch sử “Cách mạng tháng 8/1945”, “Cải cách Hồ Quý Ly”

Sự kiện lịch sử luôn luôn có tính khách quan Trong trường hợp người chép sử cố tình xuyên tạc, bóp méo sự kiện lịch sử thì sự kiện tri thức sẽ không còn giá trị, không còn tính khoa học Người xuyên tạc lịch sử không sử dụng đúng sự kiện chân xác mà sử dụng một sự kiện bóp méo, cố dựng lên thì những kết luận nêu lên không còn giá trị nữa (ví dụ một số trường hợp sử dụng sự kiện đã xuyên tạc về Tây Sơn )

Tóm lại, quan điểm mác xít khẳng định rằng sự kiện lịch sử gắn liền với hiện thực, phản ánh hiện thực, có những đặc trưng như tính khách quan, cụ thể, tính kế thừa, tính miêu tả

Mác trong lời nói đầu “Tư bản luận”, “Sự kiện là điểm xuất phát, chỗ dựa của việc nghiên cứu chứ không phải ý tưởng Nó là hiện thực khách quan, bên ngoài Phân tích phê phán một sự kiện không phải so sánh nó với ý tưởng mà với những sự kiện khác” F.Ăngghen “Không hiểu đúng những sự kiện lịch sử, quyết định trong một thời gian,

dù tự xưng là mác xít thì thực chất chẳng hiểu gì về chủ nghĩa Mác” V.I.Lênin “chủ nghĩa Mác đứng vững trên cơ sở sự kiện chứ không phải trên cơ sở khả năng” “Những người mác xít chỉ đem tất cả sức lực của mình để nghiên cứu một cách khoa học những

sự kiện làm cơ sở cho đường lối, chính sách của chúng ta” (V.I Lênin toàn tập, T.5, tr 254)

Sự khác nhau và giống nhau giữa khái niệm sự kiện lịch sử và biến cố lịch sử giống nhau nhưng không đồng nhất

Điểm giống nhau căn bản giữa hai khái niệm trên là ở chỗ đều phản ánh hiện thực quá khứ và hiện thực được phản ánh qua ý thức con người nghiên cứu, tồn tại độc lập với

ý thức, ý muốn chủ quan và con người nghiên cứu Sự kiện lịch sử, biến cố lịch sử chỉ có giá trị khoa học, phản ánh đúng bản chất của nó khi người nghiên cứu phản ánh nó một cách khách quan khoa học, không bị xuyên tạc

Tính hiện thực của sự kiện là bản thể luận, thông qua con người ghi chép biên soạn

nó là nhận thức Bản thể luận là chủ thể, nhận thức là khách thể

Ví dụ: Nền văn minh sông Hồng là hiện thực khách quan, có thực đã tồn tại cách ngày nay từ 2700 năm, nhưng đối với chúng ta ở những năm 60 - 70 thế kỷ XX mới thực

sự trở thành sự kiện lịch sử khi có nhiều thành tựu nghiên cứu nền văn minh đó

Trong một số trường hợp, khái niệm sự kiện lịch sử được dùng đồng nghĩa với biến cố lịch sử Ví dụ: trận đánh ở Oatéclô

Trang 17

Sự kiện lịch sử cần hiểu nó ở hai mặt: thứ nhất, sự kiện lịch sử là bản thân hiện tượng và biến cố lịch sử; thứ hai, sự kiện lịch sử là sự phản ánh những biến cố, hiện tượng lịch sử vào nhận thức người nghiên cứu một cách đúng đắn: tư liệu lịch sử, khái niệm, quy luật hình thành

Có những quan điểm không chuẩn xác về khái niệm tư liệu lịch sử

Trước đây có người quan niệm tư liệu lịch sử chỉ là những tài liệu chữ viết (hạn hẹp);

có người lại quá mở rộng khái niệm này, cho rằng tư liệu lịch sử bao gồm tất cả những gì còn lại của cuộc sống đã qua Cũng có người lại coi nó như một phạm trù triết học, biểu hiện đặc tính phản ánh của hiện vật

Cần hiểu tư liệu lịch sử là những dấu tích, di tích, sự kiện, sự việc của quá khứ đã diễn ra, xuất hiện như sản phẩm của các quan hệ xã hội nhất định, mang trong mình nó những dấu vết của quan hệ ấy, phản ánh trực tiếp và trừu tượng một mặt hoạt động nào

đó của con người Tư liệu lịch sử chứa đựng các sự kiện hiện tượng Tư liệu lịch sử là những sản phẩm hoạt động của con người xuất hiện như một hiện tượng xã hội Nó không thể thiếu đối với khoa học lịch sử, song nó hoàn toàn bị động, bị chế biến thành các sản phẩm khác nếu người nghiên cứu không khách quan, cố tình bóp méo Nói cách khác, tư liệu lịch sử là nguyên liệu để chế ra các sản phẩm khác trong nghiên cứu sử học Chất lượng chế biến trước hết tuỳ thuộc vào tư liệu lịch sử có chân xác, đúng không hay đã bị bóp méo, nhào nặn

Lênin: “nghiên cứu thì phải nắm lấy tất cả những sự kiện tư liệu lịch sử có liên quan

đến vấn đề nghiên cứu, nếu không, người ta có thể hoài nghi có cơ sở rằng thay cho chủ nghĩa khách quan khoa học bằng chủ nghĩa chủ quan áp đặt”

Như vậy, giữa tư liệu lịch sử và sự kiện lịch sử có điểm giống nhau là đều xuất hiện

và tồn tại độc lập khách quan ngoài ý muốn chủ quan của người nghiên cứu Vì vậy, chúng ta thường quan niệm tư liệu lịch sử và sự kiện lịch sử là một (không sai cũng được nhưng không hoàn toàn) Nó có điểm khác nhau ở chỗ khái niệm tư liệu lịch sử bao hàm phạm vi rộng hơn, tư liệu lịch sử chứa đựng các sự kiện lịch sử

Ví dụ, nguồn tư liệu lịch sử thành văn trong nghiên cứu sử học gồm có rất nhiều các

sự kiện lịch sử khác nhau trên nhiều mặt hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội mà các nhà

sử học thường gọi là các sự kiện lịch sử về kinh tế, sự kiện chính trị, sự kiện về hệ tư tưởng

Quy luật hình thành tư liệu lịch sử Các tư liệu lịch sử được hình thành bởi nhiều quy luật phát triển:

Trang 18

Quy luật tư liệu phản ánh quan điểm giai cấp của tác giả và ảnh hưởng của quan

điểm ấy đối với nội dung của tư liệu (ví dự: tư liệu về khái niệm nông dân trong chế độ phong kiến)

Quy luật ảnh hưởng của hoàn cảnh cụ thể, của nhu cầu và mục đích ra đời của tư liệu đối với nội dung và hình thức của tư liệu (ví dụ trong lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp mở rộng đẩy mạnh chiến tranh xâm lược Việt Nam, vì vậy một nội dung bao trùm chi phối về tư liệu lịch sử bấy giờ là về các phong trào kháng chiến vũ trang chống Pháp xâm lược, về nội dung tư liệu lịch sử cũng rất phong phú dưới nhiều dạng, nhiều nguồn: văn, thơ, sự kiện lịch sử )

Quy luật phản ánh sự phù hợp giữa tính đúng đắn, đầy đủ của tư liệu đối với ý thức, khả năng chủ quan hay khách quan của tác giả tư liệu khi phản ánh các sự kiện lịch sử vào tác phẩm của mình (tức là tư liệu lịch sử được hình thành, được viết ra có đúng với hiện thực khách quan hay không tuỳ thuộc vào năng lực, ý thức của nhà sử học) Bởi vậy, bản thân sự kiện hiện tượng là khách quan nhưng khi được dựng lại, viết nên thì không còn đúng với hiện thực khách quan, tức là tư liệu lịch sử không còn giá trị khoa học nữa (ví dụ có nhiều: như 1558, Nguyễn Hoàng trấn thủ Thuận Hoá, sức mạnh Đại Việt chuyển từ Bắc Hà vào Nam Hà) Dựng lên một tư liệu lịch sử không có thực trong một công trình nghiên cứu, bịa đặt không có thực, tức là không phù hợp giữa hiện thực khách quan với ý muốn chủ quan Sách Hậu Hán thư chép một tư liệu lịch sử về trạng thái văn hoá văn minh không đúng ở nước ta là thời Văn Lang Âu Lạc “con gái đi ngoài

đường thành từng đàn, không có áo quần”, “không biết ăn hỏi, cưới xin” ĐVSKTT của Ngô Sĩ Liên chép tư liệu lịch sử không đúng đã viết: “Triệu Đà là đế vương mở đầu quốc thống nhất nước ta, là triều đại mở đầu cho lịch sử nước ta”

Đại Nam Thực lục triều biên của tiền Nguyễn viết về cái chết của vua Quang Trung

Sự kiện Nguyễn ánh thoát chết khi bị đoàn thuyền của Trương Văn Đa đuổi v.v

Quy luật về sự liên quan và phụ thuộc lẫn nhau của các tư liệu này đối với các tư liệu khác Tư liệu lịch sử không chỉ là một sự kiện hiện tượng mà có khi lại gồm có nhiều sự kiện hiện tượng xảy ra liên tiếp có mối liên hệ nhân quả chặt chẽ Hệ thống các kiến thức hiện tượng đó tạo thành một tư liệu lịch sử hoàn chỉnh, phản ánh bản chất lịch sử Muốn hiểu đúng bản chất của lịch sử, dựng lại lịch sử đúng đắn khách quan phải nghiên cứu toàn bộ các kiến thức hiện tượng có liên quan

Ví dụ: sự kiện lịch sử cách mạng tháng Tám năm 1945 bao gồm một chuỗi các sự kiện hiện tượng diễn ra ở nhiều nơi, trong nhiều ngày nói lên bản chất của cách mạng tháng Tám năm 1945 là cuộc cách mạng của toàn dân kết hợp bạo lực của quần chúng với lực lượng vũ trang, giữa nổi dậy của quần chúng với lực lượng quân chính quy

Trang 19

Từ các quy luật hình thành và phản ánh của tư liệu lịch sử, đòi hỏi chúng ta cần chú

ý một số điểm khi sử dụng các tư liệu lịch sử:

Tư liệu lịch sử bao giờ cũng nghèo nàn, kém phong phú, kém sinh động hơn bản thân hiện tượng lịch sử, vì tư liệu lịch sử không phải là bản thân lịch sử, nó chỉ là lăng kính phản ánh lịch sử tuỳ thuộc vào ý thức trách nhiệm khoa học, quan điểm, trình độ người biên soạn lịch sử Vì vậy, lịch sử không chỉ là những gì có trong tư liệu lịch sử Phải

được sưu tầm, phát hiện, bổ sung nhiều nguồn tư liệu lịch sử trong nghiên cứu lịch sử

ý nghĩa cụ thể của từng tư liệu đối với từng vấn đề lịch sử không giống nhau, có tư liệu chỉ phản ánh được một mặt, có tư liệu phản ánh nhiều mặt, có tư liệu phản ánh được cái cơ bản, điển hình, qui luật, có tư liệu chỉ phản ánh cái đặc thù, vì vậy, trong quá trình nghiên cứu và sử dụng tư liệu lịch sử cần phải chú ý:

Nghiên cứu phải căn cứ vào nội dung phản ánh và tính chất của tư liệu để trong sưu tầm tư liệu cho phù hợp với yêu cầu, nội dung của đề tài nghiên cứu

Tránh chất đống tài liệu (những sự kiện vụn vặt, lẫn lộn giữa tài liệu chính, phụ, cơ bản, không cơ bản, điển hình, chính xác, cùng loại để đối chiếu)

Tránh chỉ sưu tầm sử dụng những tư liệu thuộc loại giai thoại, dật sử

2 Các nguồn tư liệu trong nghiên cứu lịch sử địa phương

Trong việc nghiên cứu lịch sử địa phương, công việc đầu tiên là sưu tầm, chỉnh lý tư liệu Sự phát triển của khoa học lịch sử gắn liền với việc mở rộng các nguồn tư liệu lịch

sử địa phương và hoàn thiện phương pháp phân tích, giám định tư liệu Dưới đây là các nguồn sử liệu cần sưu tầm trong nghiên cứu lịch sử địa phương

a Sử liệu hiện vật hay sử liệu vật chất bao gồm những dị vật khảo cổ, những công trình kiến trúc, nghệ thuật, các di tích lịch sử, cách mạng ở địa phương Những sử liệu vật chất có giá trị chân thực, giúp chúng ta xác định một số vấn đề đặt ra đối với những thời đại xa xưa khi chữ viết chưa ra đời Nó là biểu hiện của hoạt động lao động sáng tạo của con người đương thời, qua những tư liệu đó người nghiên cứu hình dung được trạng thái của sản xuất, đời sống và văn hoá Nó tạo khả năng suy đoán về các mối quan hệ kinh tế và văn hoá giữa các dân tộc, giúp các nhà nghiên cứu xác minh những sự kiện

được ghi chép trong các tài liệu khác Muốn sử dụng nguồn sử liệu này bảo đảm tính chính xác, khoa học đòi hỏi phải có một trình độ hiểu biết về các khoa học hỗ trợ, nhất

là khảo cổ học

Sử liệu tượng hình cũng là một loại sử liệu vật chất Đó là những công trình nghệ thuật như đền, đình, chùa, tháp, cung điện, những bức chạm nổi Loại sử liệu tượng hình cho phép nhà nghiên cứu lịch sử địa phương tìm hiểu trình độ văn hoá tinh thần

Trang 20

của cư dân đương thời, qua đó hiểu được quan niệm của người xưa về thế giới, vũ trụ, xác định trình độ chính trị, đặc điểm văn hoá, nghệ thuật của các địa phương ở mỗi giai

đoạn lịch sử

b Sử liệu thành văn hay sử liệu viết: đây là nguồn tư liệu giữ vị trí quan trọng hàng

đầu trong các nguồn tư liệu lịch sử địa phương Nguồn tư liệu này rất phong phú, đa dạng gồm nhiều loại như xã hội càng phát triển thì nguồn sử liệu thành văn càng phong phú ở mỗi giai đoạn lịch sử, tuỳ theo sự phát triển của khoa học kỹ thuật mà sử liệu thành văn mang thêm những dạng khác nhau và có mức độ phong phú không giống nhau Cũng cần thấy rằng sử liệu thành văn ra đời cùng với chữ viết, vì bản thân chữ viết cũng được ra đời trên cơ sở yêu cầu ghi nhớ của con người Tuy vậy, ở giai đoạn đầu của lịch sử được ghi chép, sử liệu thành văn mới chỉ phản ánh một mặt hoạt động của một bộ phận xã hội, chủ yếu là tầng lớp trên, giai cấp thống trị Càng ngày, nhất là từ khi khoa học kỹ thuật phát triển, sử liệu thành văn ngày càng chứa đựng nhiều thông tin

về các hoạt động của con người ở các địa phương qua các thời kỳ lịch sử của sản xuất vật chất đến văn hoá tinh thần

Nguồn tư liệu thành văn bao gồm những loại chính yếu như sau:

- Văn bia, minh chuông ở khắp mọi miền của đất nước, địa phương nào cũng có những ngôi đình, đền , chùa và ở những di tích lịch sử đó đều có các bia đá, chuông

đồng cổ, khánh đồng cổ, mộ chí trên đó có khắc ghi nhiều chữ cổ (Hán, Nôm)

Thông thường văn bia gồm có hai loại (bia “hậu” và bia sự kiện) Bia “hậu” là loại bia

đá khắc ghi tên tuổi những người trong một địa phương đóng góp tiền, của cho làng, xã

để xây dựng lại một đình, chùa hoặc để thanh toán một khoản thuế lớn cho địa phương

đối với nhà nước Với công đóng góp đó, sau khi chết, những người này được dân làng ghi nhớ, lưu tên tuổi trên một tấm bia ở đình, chùa và được trở thành hậu thần, bia đá loại này được gọi là bia hậu Bia “sự kiện” khác bia hậu ở chỗ trên tiêu đề tấm bia không

có chữ hậu Về nội dung bia “sự kiện” ghi lại sự nghiệp của một nhân vật lịch sử, về một trận chiến đấu quan trọng của nhân dân địa phương và của dân tộc thuở trước, về tài sản ruộng đất của các quan chức, về việc thành lập chợ búa địa phương hoặc về lịch sử một

vị thành hoàng Minh Chuông là các bài khắc trên các chuông và thông thường là chuông đồng để ở các chùa thờ Phật Nội dung chủ yếu của các bài minh chuông nói về

sự tích các nhà chùa và các vị tu hành ở chùa

Văn bia và minh chuông chứa đựng những tư liệu có giá trị để góp phần nghiên cứu, biên soạn, giảng dạy lịch sử địa phương trên một số khía cạnh về kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội, nếu chúng ta biết khai thác và sử dụng Mỗi tấm bia, chuông đều có khắc một

Trang 21

bài văn bằng chữ Hán - Nôm ít nhiều có giá trị về mặt sử liệu, nghiên cứu biên soạn lịch

sử của địa phương đó

Việc nghiên cứu các nguồn sử liệu này đã trở thành một nhu cầu, một khoa học,

được gọi là bia ký học (Kim Thạch di văn) và minh văn học (khoa học nghiên cứu về minh chuông)

Người làm lịch sử địa phương cần chú ý đến việc phát hiện các nguồn sử liệu này để phân loại và sử dụng chúng

Khi sưu tầm các văn bia cần chú ý mấy điểm sau:

Về hình thức, văn bia có độ dài, ngắn khác nhau được khắc ghi trên các tấm bia đá

để ở đình, chùa, miếu, nhà thờ Bia đá có hai loại chính: loại phiến đá mỏng (dày khoảng 20cm), hình chữ nhật, được khắc chữ một hoặc cả hai mặt Loại thứ hai hình khối chữ nhật, bên trên bia có mái, khắc chữ cả bốn mặt Khi phát hiện thấy một tấm bia

đá ở một địa điểm nào đó, việc trước tiên là phải phân loại nó thuộc loại nào, được khắc vào thời điểm nào Mỗi tấm bia đều có khắc ghi năm, tháng, ngày, khắc chữ trên bia đá Thông thường mặt chính của bia có ba phần: phần trên cùng của mặt bia có trang trí hoa văn, tiêu đề của bia (chữ to hơn)

Tiêu đề của bia giúp ta phân loại để sử dụng khi nội dung của bia phù hợp với chủ đề nghiên cứu, biên soạn Phần hai, phần chủ yếu của văn bia, khắc ghi nội dung cụ thể, phần ba ghi tên họ người khắc soạn văn bia và năm, tháng, ngày khắc bia

Về nội dung, cũng có thể chia văn bia làm hai loại theo nội dung khắc trên văn bia,

đó là bia hậu và bia sự kiện Bia hậu là loại bia thường có các tiêu đề như “Hậu thần bi ký”, “Hậu Phật bi ký” Bao giờ cũng có chữ “Hậu”, có nghĩa là người đời sau nối đời thờ cúng Cũng có những bia hậu kèm theo địa danh xã, thôn nơi có bia

Bia hậu có giá trị ở chỗ cho chúng ta biết về tên tuổi, năm tháng của những người đã

đóng góp tiền của vào việc xây dựng, tu sửa ngôi đình, chùa Loại bia “sự kiện” không có chữ “hậu” ở tiêu đề văn bia, mà là ghi rõ nội dung của văn bia là gì, có khi là ghi về công trạng, sự nghiệp của một nhân vật lịch sử có liên quan đến địa phương, hoặc ghi về sự tích thành lập chợ ở địa phương, một trận chiến đấu của dân làng, về ruộng đất của quan chức có liên quan đến địa phương dựng bia v.v

Bia sự kiện là loại bia đá rất quý, cung cấp cho người nghiên cứu biết được khá chính xác niên đại, sự kiện lịch sử đã diễn ra có quan hệ đến địa phương mà chúng ta

đang tìm hiểu, biên soạn lịch sử ở địa phương đó

- Gia phả là một nguồn sử liệu thành văn quý giá, khá phổ biến ở các địa phương Nhiều gia phả các dòng họ lớn được tập trung ở một số thư viện quốc gia, phòng lưu trữ

Trang 22

Gia phả là cuốn sử của mỗi dân tộc Bởi vậy còn được gọi là tộc phả Nhân dân ta có truyền thống hay là ghi nhớ và thờ cúng tổ tiên để ghi nhớ công ơn và giáo dục lòng tự hào về gốc tích, truyền thống của tổ tông, gia đình cho hậu thế Loại sử liệu thành văn rất quý đối với công tác nghiên cứu lịch sử địa phương, góp phần làm sáng tỏ một số vấn

đề quan trọng về lịch sử của từng địa phương hay từng chủ đề, chuyên đề nghiên cứu về

địa phương

Gia phả là tài sản riêng, quý, trân trọng trong các dòng họ, được lưu giữ rất cẩn thận Trong các tài liệu lịch sử địa phương, việc phát hiện và sử dụng gia phả là rất cần thiết và làm phong phú thêm một cuốn lịch sử địa phương hay một bài giảng lịch sử địa phương

Song, gia phả cũng có một số hạn chế, một số sự việc, sự kiện được ghi chép trong gia phả có thể chưa chính xác, do đó, sử dụng tài liệu trong gia phả phải có sự so sánh,

đối chiếu với các nguồn sử liệu khác

Qua sổ đinh có thể nắm được tình hình thay đổi dân số của địa phương qua các thời

kỳ hay trong một thời kỳ

Địa bạ còn gọi là sổ điền, nó ghi lại tình hình các loại ruộng đất của làng xã Đây là nguồn sử liệu rất quý hiếm giúp chúng ta hiểu được cụ thể tình hình chế độ chiếm hữu

và sở hữu ruộng đất, nông nghiệp đời sống của cư dân mỗi địa phương Nếu chúng ta đối chiếu các số liệu ruộng đất của địa phương có sổ địa bạ mà ta nghiên cứu với các số liệu khác ta có thể nắm được quá trình phân hoá tài sản ở nông thôn trong các thế kỷ XVIII, XIX, và nửa đầu thế kỷ XX

Hiện nay, sổ địa bạ còn được lưu giữ ở thư viện, trong nhân dân, chủ yếu được làm

ra ở triều Nguyễn

Mỗi địa bạ thường ghi chép thành 3 phần:

- Cương giới (chữ viết nhỏ hơn ở phần khác) ghi rõ ranh giới 4 mặt của địa phương với các làng xã chung quanh kèm theo tổng số ruộng đất của địa phương gồm tổng diện tích đất công, tổng diện tích ruộng đất tư

Trang 23

- Phần thứ hai ghi chép các loại ruộng công, số thửa và diện tích của từng thửa, cách phân chia và hình thức sử dụng (chia cho dân cày, để sử dụng vào việc chung của làng như học điền, bãi thả trâu v.v )

- Phần thứ ba ghi chép về số ruộng đất tư gồm tổng số, diện tích từng thửa và người

sở hữu nó

Ngoài ra, còn ghi các phần đất sử dụng làm đường sá, đất ở (thổ cư) Địa bạ có niên

đại càng xa xưa càng quý nhưng rất hiếm Còn địa bạ thời Nguyễn thì có giá trị nhất là loại được biên soạn dưới thời Gia Long (vào năm Gia Long 4, tức 1805) và thời Minh Mạng (năm 1830, 1831)

Cũng có nhiều địa bạ chỉ ghi tổng số diện tích đất ruộng đất công, tư mà thiếu ghi cụ thể Thông thường địa bạ đều có dấu (triện) của chính quyền địa phương, nhưng cá biệt cũng có địa bạ không có triện, đây là loại địa bạ của riêng địa phương đó ghi đúng số ruộng đất thực có của làng xã kể cả số ruộng đất ẩn lận không đóng thuế cho nhà nước Văn bản chính quyền, Đảng bộ, các đoàn thể địa phương

Nghiên cứu và biên soạn lịch sử địa phương giai đoạn lịch sử cận hiện đại không thể thiếu nguồn tài liệu này

Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi, các tài liệu của Đảng, chính quyền

và đoàn thể địa phương đều viết bằng chữ quốc ngữ, đây là một thuận lợi cho người sưu tầm, biên soạn lịch sử địa phương Nguồn tài liệu này có nhiều loại, tính chính xác cũng khác nhau, nên khi sưu tầm, sử dụng cần lưu ý:

Loại văn bản các nghị quyết, kế hoạch, quy định về các mặt hoạt động có tính chính xác cao vì đã được tập thể thông qua, loại tài liệu này đáng tin cậy và sử dụng được hay không phải mất nhiều thời gian để kiểm tra, so sánh, đối chiếu

Loại văn bản tổng kết, sơ kết thường phải kiểm tra, đối chiếu, so sánh với các tài liệu khác cẩn thận

Trong công tác sưu tầm tài liệu ở giai đoạn cận hiện đại ở các địa phương, các nghị quyết của Đảng bộ và chính quyền địa phương, các số liệu về thành tích xây dựng kinh

tế, văn hoá, giáo dục, quân sự là rất cần thiết phải lưu ý thu thập Bên cạnh đó, cũng cần sưu tầm thêm các tài liệu bổ sung như sổ sách, biên bản, các bằng khen, giấy chứng nhận huân, huy chương v.v vì đó là thành tích, những mốc đánh dấu bước phát triển của địa phương

- Hồi ký Đây là một loại sách kể lại cuộc đời và hoạt động của một cá nhân thường là của những cán bộ, chiến sĩ cách mạng lão thành của địa phương Hồi ký cũng là một nguồn sử liệu có giá trị để nghiên cứu, biên soạn lịch sử địa phương, cung cấp thêm

Trang 24

nhiều sự kiện có quan hệ đến lịch sử các làng xã, huyện, tỉnh, nói lên được các hoạt

động liên tục, có hệ thống theo diễn biến thời gian của địa phương, nhất là trong lịch sử chống ngoại xâm, xây dựng quê hương, giúp chúng ta biên soạn lịch sử địa phương sinh

động, phong phú, hấp dẫn Những sử liệu trong các cuốn hồi ký có sự đối chiếu, kiểm tra lại bằng những thông tin qua các cuốn hồi ký khác cùng thời hoặc qua các buổi toạ đàm

để xác minh sử liệu của các cuốn hồi ký trước khi sử dụng để biên soạn bài giảng hay cuốn sử địa phương

c Các nguồn sử liệu truyền miệng hay còn gọi là chuyện kể dân gian 1

Sử liệu truyền miệng là một nguồn tư liệu vô cùng phong phú, giúp các nhà nghiên cứu lịch sử nói chung, lịch sử địa phương nói riêng biên soạn và giảng dạy lịch sử có sức hấp dẫn, truyền cảm Sử liệu truyền miệng bao gồm nhiều loại như truyện kể dân gian, lễ hội - hội làng (lễ nghi nông nghiệp, hội phồn thực, giao duyên, hội vui chơi, hội thi tài, hội lịch sử v.v )

- Truyện kể dân gian Đây là một loại sáng tác tập thể, có sự biến đổi tuỳ theo từng vùng, từng thời gian khác nhau Nó được lưu hành từ địa phương này đến địa phương khác qua các thế hệ bằng phương tiện truyền miệng là chính Do đó, cùng một cốt truyện

ở mỗi địa phương, mỗi thời kỳ lịch sử cũng có những chi tiết khác nhau, chúng ta thường gọi là những dị bản

Truyện kể dân gian không quan tâm đến thời gian, không gian Phổ biến mở đầu cho câu chuyện là những từ “ngày xửa, ngày xưa hay ở một vùng nọ, truyện kể rằng ” Một đặc điểm của loại truyện kể dân gian là bao giờ cũng xen vào những yếu tố kỳ dị, hoang đường, thần thoại rất cuốn hút sự chú ý của người nghe với các nhân vật ông Bụt, cô Tiên, mụ phù thuỷ, con quỷ, yêu tinh ma quái với những phép lạ v.v Truyện kể dân gian do đó không hoàn toàn là những sử liệu chính xác, song nó có chức năng phản ánh, giáo dục, và thẩm mĩ Nó phản ánh hiện thực lịch sử theo phương thức riêng, có nguồn gốc thực tại khách quan

Vì vậy, nếu gạt bỏ những yếu tố hư cấu, hoang đường, vẫn có thể tìm thấy cốt lõi lịch

sử của nó

Trong truyện An Dương Vương xây thành Cổ Loa, nếu chúng ta gạt bỏ những yếu tố hoang đường, kỳ dị về các nàng tiên gánh đất xây thành, con Kê tinh phá thành, thần Kim Quy bày kế giúp ta có cốt lõi lịch sử của truyện là vừa xây đắp thành Cổ Loa đồ sộ

và kiên cố trên một vùng đất trũng là rất khó khăn, lâu dài, vất vả, công phu và khi tìm

được biện pháp xây thành thích hợp mới xây thành công

1 Theo “Lịch sử địa phương”, NXB Giáo dục, 1983, của Trương Hữu Quýnh, Phan Ngọc Liên, Nguyễn Cảnh

Minh, Nguyễn Thái Hoàng

Trang 25

Truyện nỏ thần của An Dương Vương cũng có nét thần thánh hoá loại vũ khí của người Âu Lạc bấy giờ là tên thần nhưng chứa đựng cái cốt lõi là thời An Dương Vương, nước Âu Lạc có quân đội mạnh, vũ khí tốt nên nhiều lần đánh bại quân xâm lược của Triệu Đà nước Nam Việt ở vùng Tiên Sơn, Bắc Ninh có nhiều truyện kể về Lý Công Uẩn Nếu loại trừ những yếu tố hoang đường như bà mẹ quan hệ với thần mà sinh ra, lúc sinh có rồng che phủ, đi tu làm tiểu mà có thể điều khiển các tượng Phật trên chùa v.v thì chúng ta thấy chuyện kể này có cái cốt lõi lịch sử là Lý Công Uẩn đã sinh ra ở Đình Bảng, lúc nhỏ là chú tiểu ở chùa Tiên Sơn được nhà sư Lý Khánh Văn nuôi dạy, nhà sư Vạn Hạnh đỡ đầu

ở nhiều làng có nghề thủ công truyền thống khắp cả nước đều có sự tích về các tổ nghề Mỗi nghề đều có sự tích về ông tổ nghề và thường được dân làng nghề thờ như câu chuyện về ông tổ nghề đúc là Khổng Lộ, Minh Không ở làng Ngũ Xã (Hà Nội), Đại Bái (Bắc Ninh) ở Chương Mỹ có sự tích về ông tổ nghề khảm trai v.v

Những ông tổ nghề thường là người có công sáng lập ra nghề hoặc đem kỷ thuật làm nghề từ nơi khác về truyền lại cho dân làng, thôn ấp Các sự tích về các ông, bà tổ nghề phản ánh tấm lòng biết ơn của những người thợ thủ công đối với tổ tiên, những người sáng lập hoặc truyền bá nghề cho họ Bởi vậy, ở những sự tích về các ông tổ sư nghề bên cạnh cái cốt lõi là cho ta biết xuất xứ của nghề thủ công của mỗi địa phương để góp phần nghiên cứu quá trình phát triển về kinh tế, văn hoá của địa phương, kết cấu giai cấp và truyền thống của nhân dân ở địa phương ta nghiên cứu, biên soạn lịch sử, ngoài cái đó ra, những câu truyện này với một nội dung phong phú của nó không phải đều là những chứng cứ, tài liệu hoàn toàn đáng tin cậy Bởi vậy, khi sử dụng loại tài liệu này cần thận trọng, cân nhắc và nhất thiết phải so sánh, đối chiếu với các nguồn tài liệu khác ở địa phương Nếu không, có khi ta căn cứ vào truyện để viết về một nghề thủ công nào đó của địa phương, làm mất đi cái sáng tạo trong lao động, cái truyền thống lâu đời của nghề thủ công của nhân dân địa phương ta nghiên cứu, biên soạn lịch sử, mà đây là

điều ta cần làm đậm nét trong một cuốn sử, bài giảng lịch sử địa phương Đúng như vậy,

ví như, ở một số làng, ấp khi kể về sự tích ông tổ nghề ở địa phương này thì cho đó là người Trung Quốc hoặc các quan người Việt đi sứ về học được nghề mang về dạy cho dân Chẳng hạn nghề dệt lĩnh ở làng Bưởi (Hà Nội) và Làng Trích Sài thờ ông tổ làng nghề là người Trung Quốc (thời Minh) hay là Công chúa Chăm Pa thời Lê Sơ Điều này chẳng những không đúng với sự thật mà còn phản ánh tâm lý “vọng ngoại” của người

đương thời Thực tế lịch sử cho biết nghề này đã có ở đây từ thời nhà Lý

- Ca dao, hò vè, tục ngữ địa phương Đây là loại tài liệu rất quí, rất phong phú cần

được chú ý khai thác khi nghiên cứu, biên soạn lịch sử địa phương Nhiều bài ca dao, tục

Trang 26

ngữ cho ta những thông tin có giá trị về mặt lịch sử, để biên soạn lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc, nhất là để biên soạn, giảng dạy lịch sử văn hoá, xã hội ở địa phương phong phú, sinh động hơn, giúp ta khi biên soạn một cuốn sử địa phương hay bài giảng lịch sử địa phương làm rõ nét đặc trưng về kinh tế, văn hoá v.v của địa phương Ví dụ như có những câu tục ngữ địa phương cho ta biết những sản phẩm có nghề thủ công truyền thống nỗi tiếng “Lĩnh Hoa Yên Thái”, đồ gốm Bát Tràng, thợ vàng Định Công, thợ

đồng Ngũ Xá” hoặc “Ai về Đông Tĩnh, Huê Cầu, Đông Tĩnh bán thuốc (thuốc Lào), Huê Cầu nhuộm thâm (nhuộm đen)”

Khi sử dụng ca dao, tục ngữ để biên soạn lịch sử địa phương phải chú ý đối chứng với thực tế ngay tại địa phương mới có độ tin cậy chính xác

d Lễ hội - Hội làng

Lễ hội nói chung hay hội làng của người Việt là sinh hoạt văn hoá tinh thần tổng hợp

và đa dạng của một địa phương Lễ hội đáp ứng yêu cầu về tín ngưỡng, về giải trí của một cộng đồng người nhất định Cư dân nông nghiệp vốn có tập quán chăm chỉ lao động, ham văn nghệ cộng đồng, có tinh thần thượng võ Tất cả những cái đó được biểu hiện trong các lễ hội, hội làng Thông qua các hội làng và nội dung của lễ hội làng cho ta hiểu thêm về quá trình và thời điểm ra đời của mỗi làng, xã, thôn, ấp

Hội làng ban đầu được tổ chức vào mùa thu Sách Hán Thư (Trung Quốc thời Hán) ghi “người Việt (Lạc Việt) tháng tám (âm lịch) mở hội (làng)” Dần dần có thêm hội Xuân (tổ chức vào mùa Xuân)

Hội làng thường diễn ra ở chùa, đền, đình (chùa thờ Phật, đền thờ thần, đình làng thờ thành hoàng - người có công khai phá, lập ra làng, ấp) gồm có hai phần: phần lễ (tế thần, rước thần, thành hoàng với các nghi thức trang trọng) và phần hội (hát xướng; giao duyên, chèo, múa rối, các trò chơi: bơi thuyền, đánh vật, đu tiên, thi bài, nấu cơm, thổi xôi, mổ lợn làm cỗ v.v

Chúng ta có thể khai thác để sử dụng nguồn tài liệu này sau khi đã giám định dựa vào sự phân chia hội làng thành các loại hình có những đặc trưng khác nhau như:

- Lễ nghi nông nghiệp

Hội làng diễn ra thường có quan hệ đến nghề nông trồng lúa nước Nghi lễ có rước

bó lúa, làm các loại bánh từ lúa gạo (bánh chưng, bánh dày) Trong lễ thường có việc tiến hành rất long trọng lễ rước nước (múa nước giếng hoặc chèo thuyền ra giữa sông nước rước về đình làng) Các trò diễn nghệ thuật cũng phản ánh nội dung này Cũng có một số địa phương còn có những nội dung riêng của địa phương mình như Lễ trình nghề

ở Phú Thọ, trò chiềng ở Thanh Hoá, trò bách công bách nghề ở Bắc Ninh Cũng có một

Trang 27

số cuộc thi ở phần hội làng như thi săn bắt các thú vật (bắt cá, bịt mắt bắt vịt, đuổi và bắt con cuốc, đánh chuột, đánh hổ v.v )

- Hội phồn thực, giao duyên

Hội làng lưu lại dấu tích tín ngưỡng nguyên thuỷ Xuất phát từ tình hình con người không hiểu biết được khả năng huyền bí của tạo hoá trong việc sinh sản Từ đó dẫn đến việc thờ sinh thực khí, thờ đá được cách điệu tượng trưng cho cơ quan sinh dục trong hậu cung của đình làng với những nghi lễ đầy bí ẩn, khó hiểu Trong ngày hội còn có tiếp xúc nam nữ, hát giao duyên, như lễ rước “36 nõ nường” ở Phú Thọ Có hội làng còn kèm theo lễ tế bánh dày Cuối mỗi hội giao duyên là lễ rước sinh thực khí Ví dụ như ở Hội Dương (Vĩnh Phú) có trò trai gái ôm nhau cùng bắt chạch trong chum Ngày rã đám (tam hội) giao duyên ở làng La Khê có lệ tắt đèn một giờ

- Hội vui chơi, giải trí văn nghệ

Từ nhu cầu sinh hoạt tập thể, cộng đồng, nhu cầu thẩm mỹ, sáng tạo, các hội làng có một phần phản ánh tín ngưỡng của nhân dân các làng, xã, nhưng chủ yếu là rèn luyện, thử thách khả năng văn nghệ và giao lưu tình cảm lứa đôi Đây cũng là nơi bảo lưu và phát triển văn nghệ dân gian - một nguồn tư liệu địa phương phong phú, đa dạng rất quí cho công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử địa phương

- Hội thi tài Đây là dịp để các thành viên trong cộng đồng thể hiện tài năng của mình

và cũng là hình thức giáo dục rất có ý nghĩa của cộng đồng làng xã cho các thành viên của mình Đối tượng chủ yếu trong hội thi là nam nữ thanh, thiếu niên

- Hội lịch sử Trong hội làng có những nơi tổ chức các trò diễn xướng nhắc lại, tái tạo lại, khôi phục lại một sự tích, chiến tích trong lịch sử xây dựng và bảo vệ làng, xã của nhân dân địa phương

Nét phổ biến là Hội làng đã trở thành một tập quán phổ biến trong sinh hoạt văn hoá của nhân dân ta khắp cả nước Mỗi làng có một nội dung chính, nhưng trong các lễ hội thường xen lẫn với những nội dung khác, tạo nên một phức hợp văn hoá Chẳng hạn, hội Dóng có lễ ra sông Đuống lấy nước thờ, đây là lễ nghi nông nghiệp Làng Chiềng có trò bách nghệ của nghi lễ nông nghiệp, lại kết thúc bằng trận đấu voi hay ngựa (nam đóng) của một sự tích lịch sử v.v

Khi sử dụng tư liệu về lễ hội cần chú ý tới hiện tượng lịch sử hoá văn hoá và văn hoá lịch sử Một hiện tượng văn hoá được gán ghép vào một sự kiện lịch sử hay nhân vật lịch

sử Mặt khác, một sự kiện lịch sử lại được bảo lưu nhờ có hình thức văn hoá lễ hội

Từ trong hội làng có thể khai thác được những tài liệu lịch sử quí giá để biên soạn lịch sử địa phương, nhất là lễ hội lịch sử Ví dụ như trong lễ hội suy tôn và tưởng niệm

Trang 28

Trần Hưng Đạo có thể khai thác sử dụng những tài liệu lịch sử về các cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông thời Trần và về thân thế, sự nghiệp của Trần Quốc Tuấn qua các lễ hội Kiếp Bạc (Hải Dương), lễ hội đền Yên Cư (Ninh Bình), lễ hội đền Bảo Lộc (Nam Định), lễ hội làng Phù ủng (Hưng Yên), lễ hội đền Hạ Bì (Hải Dương) v.v Hoặc qua các lễ hội về sự kiện lịch sử Quang Trung đại phá quân Thanh ở nhiều địa phương,

có thể khai thác được những tài liệu lịch sử địa phương để làm phong phú thêm cho nguồn tài liệu lịch sử ở các làng, xã Thông qua các lễ hội như lễ hội Tây Sơn (Bình

Định), lễ hội Đống Đa (Hà Nội) với nghi lễ rước “Rồng lửa”, chúng ta có thể rút ra một

số tài liệu lý thú, khá chính xác về nghệ thuật quân sự của Quang Trung và các tướng lĩnh trong trận Đống Đa lịch sử ngày 5 Tết Kỷ Dậu (1789) về đóng góp cụ thể của nhân dân trong chống xâm lược Thanh

Lễ hội - Hội làng còn thể hiện khá đậm nét bản sắc văn hoá dân tộc, nét đặc trưng, đa dạng của văn hoá địa phương, làm phong phú cho văn hoá dân tộc và cũng phản ánh khá rõ nét tính sáng tạo của nhân dân, các thành phần dân tộc trong văn hoá Bởi vậy,

từ các lễ hội - hội làng nếu chú ý khai thác, sẽ giúp chúng ta bổ sung tài liệu lịch sử để làm đậm nét về truyền thống văn hoá của địa phương cũng như nét đặc trưng của văn hoá địa phương, nhưng đồng thời cũng làm rõ được những đóng góp của địa phương trong việc bảo tồn, phát triển bản sắc văn hoá dân tộc

Có thể nói, nội dung của các lễ hội đều có một nét chung, đó là đều phản ánh hiện thực lịch sử, hàm chứa nhiều tài liệu, phù hợp, bổ sung và làm phong phú thêm các nguồn sử liệu khác, cần lưu ý khi nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn lịch sử địa phương Những sử liệu chứa đựng trong các lễ hội cần chú ý khai thác đó là:

- Những sự kiện, sử liệu về các nhân vật lịch sử, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá, những người có công trạng đối với địa phương (thần thành hoàng)

- Trong các thần tích, bức hoành phi, câu đối tại nơi thờ cúng thần linh cùng với những hình thức diễn xướng trong lễ hội

- Sử liệu về các đối tượng kỷ niệm, suy tôn (nội dung các diễn biến lịch sử đã diễn ra)

- Sử liệu về phong tục, tập quán của dân tộc, địa phương

Để có thể khai thác được nguồn tài liệu này cần lưu ý quan sát, ghi chép tỉ mỉ, rõ ràng từng nghi lễ thờ cúng nhất là tục kiêng kị, tục hèm kết hợp với việc tìm hiểu ý nghĩa tượng trưng của chúng Xem xét ghi chép miêu tả các trò diễn, nghi lễ, các trò chơi dân gian

Trang 29

đ Nguồn tài liệu địa danh

Đến mỗi địa phương chúng ta cần chú ý ngay tới tên gọi của từng làng, xóm, thôn,

ấp, tên núi, sông, cánh đồng, tên chợ Đây là nguồn tài liệu quí cho việc nghiên cứu lịch sử địa phương, là một thứ “biên niên sử độc đáo” cần khai thác sử dụng

Địa danh có nhiều loại, chủ yếu là nguồn tài liệu địa danh về làng, xã (tên làng, xã .) Tên làng nào cũng có một hình thức ngôn ngữ học và một nội dung xã hội học

đ.1 Về hình thức ngôn ngữ của tên làng:

Tên làng thường có hai loại, nhất là làng cổ Một loại có tên thuần chữ, thường gọi là tên Hán - Việt như Văn Điển, Giáp Bát, Ngọc Hà Một loại vừa có tên chữ vừa có tên dân gian, thường gọi là tên Nôm như Làng Yên Lãng (Hà Nội), còn có tên gọi là làng Láng Làng Dịch Vọng (Hà Nội) còn có tên gọi là làng Vòng

Thông thường khi mỗi làng có cả hai tên gọi thì có lịch sử lâu đời hơn những làng chỉ

có một tên chữ đơn thuần Những làng chỉ có tên chữ, mà tên làng lại là tên đẹp (mỹ tự) hay tên các nhân vật lịch sử thì ra đời muộn hơn Điều này giúp ta trong việc nghiên cứu quá trình ra đời của làng xã

Cũng cần lưu ý thêm rằng đối với những làng có cả hai tên gọi (tên chữ và tên dân gian), thường hai tên đó có quan hệ đồng nghĩa với nhau Ví dụ: Làng Núi có tên nữa là Nghĩa Sơn (Sơn có nghĩa là núi), làng Bến có tên là Phương Độ (Độ là bến đò), làng Bãi

Đông có tên gọi khác là Đồng Châu (Châu có nghĩa là bãi) (thường là dịch nghĩa hay phiên âm) Nhìn chung, những làng có tên phiên âm có số lượng lớn hơn nhiều so với những làng có tên dịch nghĩa Tên, phiên âm khó hiểu, tên dân gian càng khó hiểu hơn Tên chữ phiên âm thường gần với tên gọi dân gian Ví dụ tên làng An Ki là phiên âm từ Ghi, tên làng Phù Lập phiên âm từ Sập Còn nhiều làng xã qua các thời kỳ lịch sử có tên chữ khác hẳn với tên dân gian gốc (từ đầu) mà lý do là bởi có sự biến đổi về chính trị, do phải kiêng tên của vua, chúa, hoặc cho phù hợp với tình hình chính trị và yêu cầu của mỗi thời kỳ lịch sử Ví dụ như làng Đầm sau có tên gọi là Phù Khê (tên chữ), làng Đăm

có tên chữ là Tây Tựa, làng Chim có tên chữ là Đồng Trực Làng Đăm cũng đã trải qua một quá trình đổi tên gọi: Kẻ Đăm - Cổ Đàm - Tây Đam - Tây Tựa

Dựa vào sự thay đổi tên làng chúng ta có thể tìm hiểu được thời gian xuất hiện của tên làng Ví dụ: làng Sa có tên chữ là Xuân La, làng Sang - Khả Lang, làng Sẻ - Khả Lẽ, làng Sửu - Thổ Lỗi là chuyển từ âm s sang âm l Các nhà ngôn ngữ học đã vạch ra khung thời gian chuyển biến âm này có trước thế kỷ XII Trước thế kỷ XV, chưa có âm gi

mà chỉ có âm k Ta có thể vạch ra một số cặp âm Việt và Hán Việt kiểu như vậy, từ đó giúp ta khôi phục tên làng và đoán định được thời gian xuất hiện của tên làng

Trang 30

đ.2 Về ý nghĩa của tên làng cần lưu ý trong nghiên cứu lịch sử địa phương

- Tên làng phản ánh cảnh trí thiên nhiên, đặc sản của địa phương Ví dụ, các làng có tên như Phù Khê, Châu Giang có liên quan đến sông, khe, lạch Nhiều làng có tên

Đàm (Đàm có nghĩa là đầm nước), như Côi Đàm, Phù Đàm, Cát Đàm v.v

- Có những tên làng nói lên đặc sản của vùng mình, địa phương mình như Làng Mía, tổng Cam Giá, Quất Lâm, làng Diêm Điền, Diêm Tỉnh, Diêm Trường là những làng làm nghề muối

- Tên làng phản ánh các mối quan hệ xã hội, quá trình hình thành và xây dựng quê hương

Nhiều tên làng gắn bó với một dòng họ có công khai phá, xây dựng làng thường có chữ Gia và phần lớn là Xá kèm theo sau tên họ người có công Ví dụ làng Khương Xá là quê của hai anh em họ Khương (Khương Công Phụ và Khương Công Phục, làng Dương Xá là quê của Dương Đình Nghệ, Lưu Xá là quê của Lưu Khánh Đàm thời Lý)

Sự di chuyển tên làng từ vùng này sang vùng khác phản ánh quá trình mở rộng thêm làng hoặc dân làng dời quê hương đi xây dựng một làng mới ở địa phương khác

Những làng có các từ như Sở, ấp, Trang, Trại phần lớn có liên quan đến chế độ ruộng đất, chính sách nông nghiệp dưới thời phong kiến như Quán La Sử, Tô Trang

- Tên còn phản ánh những biến động xã hội, những sự kiện lịch sử đáng ghi nhớ đối với nhân dân địa phương

Làng A Sào (Thái Bình) trước đó mang tên là A Cảo (Cảo tiếng Việt là gạo) Nơi đây

có kho gạo lớn của nhà Trần Nơi để kho nay là làng Đại Lẫm Hàng loạt tên làng có tên

đệm như Đệ nhất, Đệ nhị, Đệ Tam, Lưu Viên, Hòe Nhai ở Nam Định cho ta thấy trước

đây, thời Trần là vùng đất của Cung Thiên Trường - tức Mặc Sự di chuyển hàng loạt tên làng từ vùng này sang vùng khác cũng phản ánh một số biến cố lớn trong việc di dân Như vậy, tên làng xuất hiện không phải ngẫu nhiên mà là có qui luật của nó Do đó, khi khai thác, sử dụng nguồn tài liệu địa danh tên làng nói riêng, địa danh học nói chung cần chú ý vừa dựa vào truyền thuyết do dân làng kể vừa phải tránh duy danh định nghĩa mà phải đối chiếu với qui luật ngôn ngữ và các nguồn tài liệu liên quan khác có liên quan

e Nguồn tài liệu dân tộc học

Sưu tầm và nghiên cứu lịch sử địa phương thường tiếp xúc với nhiều hiện tượng dân tộc học, nói đúng hơn là một phức hợp văn hóa dân tộc học

Trang 31

Để nghiên cứu, khai thác tài liệu này, người ta thường phân loại ra thành ba bộ phận: văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, văn hóa xã hội Cả ba bộ phận này đều có liên quan chặt chẽ với nhau

- Văn hóa vật chất - khai thác nguồn tài liệu dân tộc học ở mặt này cần chú ý mấy khía cạnh:

+ Phương tiện cư trú, điều kiện cư trú của cư dân Tức là nhìn một cách tổng thể vị trí một làng, xóm, thôn, ấp ví cảnh trí thiên nhiên, đất đai, môi trường Đây chính là cách tiếp cận sinh thái học mà trước đây người nghiên cứu lịch sử địa phương thường ít chú ý khai thác Làng ở ven núi, đồi, vùng đồng bằng, cạnh sông, ven biển đều có hình thể khác nhau, có tác động đến quá trình phát triển lịch sử của làng, thôn, ấp mà ta nghiên cứu, đến đời sống văn hóa, xã hội của mỗi địa phương trong vùng

+ Nhà cửa, kiểu nhà, hướng nhà

+ Cách chế biến thực phẩm, các món ăn, bánh trái, đặc sản địa phương

+ Quần áo thường ngày, trong ngày lễ hội (màu sắc, kiểu cách)

Từ văn hóa vật chất biểu hiện ở những khía cạch trên đã phản ánh quan niệm của cư dân đó đối với nhân sinh, phản ánh đặc trưng văn hóa địa phương

- Văn hóa tinh thần thể hiện tính cộng đồng trong đời sống cần lưu ý mấy khía cạnh khi khai thác tài liệu về mặt này như:

+ Tín ngưỡng

+ Tôn giáo thông qua đền, chùa, đình, nhà thờ, quán, điện, am v.v

h Khai thác nguồn tài liệu ở lĩnh vực văn hóa xã hội bao gồm phong tục tập quán, nghi lễ ma chay, cưới xin, lệ vào giáp, lên lão, tục kết chạ (kết nghĩa anh em giữa các làng) Từ những khía cạnh này cho ta những thông tin quý giá để tìm hiểu bản sắc văn hóa dân tộc, mối quan hệ về xã hội, văn hóa giữa các làng xã với nhau trong lịch sử, quá trình hình thành của các làng, ấp để làm rõ hơn những nét đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc của các địa phương mà ta nghiên cứu

i Nguồn tài liệu các di tích, chứng tích lịch sử, cách mạng

Việc phát hiện, nghiên cứu các di tích lịch sử ở địa phương trong công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử địa phương cần chú ý đến một số loại di tích lịch sử sau đây:

- Các di tích lịch sử ngoài trời như các công trình kiến trúc, điêu khắc (đình, chùa,

đền, lăng mộ, thành lũy, pháo đài, lô cốt, hầm, hào chiến đấu, công sự, chiến lũy, địa

đạo, tượng đài kỷ niệm v.v )

Trang 32

- Các di tích khảo cổ, mộ táng, nhà bia, mộ chí

- Những vật tự nhiên có ý nghĩa lịch sử như cây đa cổ thụ, cột mốc

- Các di vật trong nhà mỗi gia đình, tộc họ (các cánh cửa có chạm trổ, bệ đá có trang trí, các bức hoành phi, câu đối )

Khi khai thác nguồn tài liệu này cần nghiên cứu, ghi chép những đặc điểm của các loại nói trên (đặc điểm nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, cách trang trí, hoa văn trên các

di vật, niên đại xây dựng, ra đời, trùng tu, bị phá hủy, cách bố trí hiện vật trong công trình)

Đối với các di chỉ khảo cổ đã được khai quật cần xác định chính xác niên đại, đặc

điểm hiện vật

Dĩ nhiên trong một cuốn sử địa phương, việc mô tả tỉ mỉ các di tích lịch sử là không cần thiết, song thông qua những di tích lịch sử (sẽ để ở phần phụ lục của cuốn sử địa phương) sẽ giúp chúng ta xác định được nhiều sự kiện mà tài liệu thành văn hay truyền miệng chưa đủ tin cậy, hoặc giúp chúng ta phát hiện được những điều ẩn dấu (chẳng hạn như ngôi chùa cổ ở một địa phương) có thể cho chúng ta hiểu biết thêm nhiều điều

về lịch sử làng, xã, về tôn giáo, tín ngưỡng, về sinh hoạt, nghề nghiệp của cư dân địa phương ta cần nghiên cứu

3 Phương pháp sưu tầm lịch sử địa phương

- Xác định không gian và thời gian có liên quan đến nội dung chủ đề nghiên cứu Nếu là lịch sử xã, huyện, phường, quận (thông sử) thì không gian sưu tầm chủ yếu là phạm vi của địa phương đó theo địa giới hành chính hiện tại, nhưng cũng cần có những tìm tòi tài liệu ở những địa phương có liên quan (huyện, tỉnh khác hoặc ở trung ương) Nếu nội dung sưu tầm, nghiên cứu là một chuyên đề như chống ngoại xâm, khởi nghĩa nông dân thì phạm vi không gian phải bao gồm những địa phương trước đây là địa bàn hoạt động của phong trào đó Đối với một chủ đề nghiên cứu, biên soạn là một vấn đề chuyên sâu thì thời gian xác định để sưu tầm tư liệu không nên thu hẹp thời gian diễn biến của sự việc mà phải mở rộng ra cả thời gian chuẩn bị cũng như sau khi sự kiện đã kết thúc Như vậy chúng ta mới hiểu và viết đúng toàn bộ sự việc, kết quả, ý nghĩa của

nó Chẳng hạn như nghiên cứu và biên soạn một cuốn lịch sử Đảng bộ một địa phương, không thể chỉ sưu tầm những tư liệu từ khi Đảng bộ đó ra đời, mà phải sưu tầm cả những tài liệu nói về tình hình các mặt đời sống của nhân dân và những truyền thống của địa phương đó để làm rõ được những yếu tố đưa đến sự ra đời của Đảng bộ đó khác với những địa phương khác

Trang 33

- Cách thức sưu tầm tư liệu Công tác sưu tầm tư liệu sử địa phương có thể tiến hành theo hai cách: theo hệ thống dọc hoặc theo hệ thống ngang Theo hệ thống dọc là sưu tầm tư liệu theo từng chủ đề, chuyên đề Tất cả lực lượng tham gia công tác sưu tầm tư liệu được phân ra từng nhóm nhỏ để tập trung toàn bộ lực lượng sưu tầm tư liệu về chủ

đề đó như các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, các nghề thủ công truyền thống Ngay trong việc chuẩn bị các nguồn, loại tư liệu biên soạn cuốn thông sử một địa phương cũng có thể tổ chức sưu tầm theo cách này, nhưng phương pháp sưu tầm theo hệ thống dọc phù hợp với việc nghiên cứu, biên soạn các chuyên đề hơn

Theo hệ thống ngang là sưu tầm tư liệu về mọi mặt từng giai đoạn lịch sử địa phương như giai đoạn trước và sau Cách mạng tháng Tám 1945, giai đoạn kháng chiến chống

Mỹ, xây dựng chủ nghĩa xã hội, công cuộc đổi mới của địa phương từ sau Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam đến nay

Dù theo cách nào, việc sưu tầm tư liệu vẫn không được giới hạn ở mức độ thấp, mà phải cố gắng sưu tầm được càng nhiều tư liệu càng tốt Đối với nhà trường các cấp đóng

ở các địa phương thì việc sưu tầm tư liệu lịch sử địa phương là một trong những biện pháp gắn liền nhà trường với đời sống, giáo dục tư tưởng cho học sinh Vì vậy trong khi sưu tầm tư liệu, giáo viên và học sinh cần kết hợp một số hoạt động xã hội như tham gia một số buổi lao động sản xuất với nhân dân tạo điều kiện thâm nhập địa phương

Việc sưu tầm tư liệu lịch sử địa phương có thể tiến hành thường xuyên trong quá trình giảng dạy, học tập trên cơ sở có kế hoạch đã xây dựng từ đầu Sử dụng thời gian ngoài giờ chính khóa Đối với các trường phổ thông các cấp việc sưu tầm tư liệu thường xuyên có những thuận lợi riêng, sử dụng được lực lượng học sinh đông đảo ở nhiều địa phương khai thác tư liệu trong nhân dân Đối với các nhà nghiên cứu, giáo viên trường

Đại học xã hội - nhân văn, sư phạm thì thông thường việc sưu tầm tư liệu được thực hiện thông qua các đợt đi thực tế chuyên môn, khảo sát điền dã Cũng có những tư liệu quý sưu tầm được do nhân dân, thanh thiếu niên ở địa phương ngẫu nhiên phát hiện

Trong công tác sưu tầm tư liệu cần chú ý tránh tư tưởng cầu toàn chờ cho tới khi có

đầy đủ tư liệu mới bắt tay biên soạn Không thể ngay một lúc có thể sưu tầm được đầy đủ tư liệu, mà chỉ cần có đủ những tư liệu cơ bản đã có thể bắt tay vào bước khởi thảo việc biên soạn đồng thời tiếp tục bổ sung, làm phong phú thêm tư liệu trong các lần biên soạn hoàn chỉnh

Cũng cần tránh khuynh hướng sơ lược, giản đơn, nóng vội trong công tác tư liệu Chưa có đủ tư liệu cơ bản, cần thiết đã vội vàng biên soạn Một cuốn lịch sử địa phương hay bài giảng lịch sử địa phương có tính khoa học hay không, giá trị của nó tùy thuộc vào tác phẩm đó có phản ánh trung thành sự thật lịch sử hay không, vì rằng nếu không

Ngày đăng: 14/05/2021, 08:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w