1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

sang kien kinh nghiem

23 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 162 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thùc nghiÖm ®îc tiÕn hµnh víi 45 trÎ ë nhãm thùc nghiÖm, cßn nhãm ®èi chøng th× ®Ó gi¸o viªn tù tæ chøc theo c¸ch th«ng thêng hä vÉn lµm ë nhãm thùc nghiÖm khi tæ chøc ¸p dông nh÷ng biÖn[r]

Trang 1

Trờng đại học s phạm hà nội khoa giáo dục mầm non

-*** -Bài tập Nghiệp vụ cuối khoá



đề tài:

Một số biện pháp tăng cờng giao tiếp Tiếng Việt cho

trẻ Mẫu giáo 5 tuổi ngời dân tộc thiểu số.

Môn làm quen chữ viết ở Trờng Mầm Non Số 1 Mờng

Mô - Mờng Tè - Lai Châu

1

Trang 2

V Đối tợng và khách thể nghiêm cứu 5

1 Cơ sở lý luận chung về ngôn ngữ

2 Vai trò của ngôn ngữ

II Thực trạng trong hoạt động làm quen chữ viết của trẻ mẫu giáo 5 tuổi

ngời dân tộc thiểu số ở trờng mầm non Số 1 Mờng Mô - Mờng Tè- Lai

Đại học S phạm Hà Nội đã tận tình hớng dẫn giúp đỡ em hoàn thành bài tập nghiệp

vụ cuối khoá

Em xin hân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa giáo dục Mầm non đã cungcấp kiến thức, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập Và toàn thể Ban giám hiệu,các cô giáo, các cháu trờng mầm non Số 1 Mờng Mô - Mờng Tè - Lai Châu đã giúp

em có thêm t liệu hoàn thành bài tập này

Vì bớc đầu nghiên cứu, kinh nghiệm và năng lực bản thân còn nhiều hạn chếnên bài tập này không tránh khỏi thiếu sót Kính mong nhận đợc những ý kiến

đóng góp của thầy để đề tài đợc hoàn thiện hơn

Lai Châu, tháng 8 năm 2009

Trần Thị Sợi

Trang 3

A Phần mở đầu

Trẻ em là nguồn hạnh phúc lớn của mỗi gia đình ,là tơng lai của quốc gia dântộc Vì vậy, việc chăm sóc giáo dục bảo vệ trẻ em đã trở thành nghĩa vụ và tráchnhiệm của gia đình và của toàn xã hội là mối quan tâm hàng đầu của nhiều ngànhkhoa học ,của nhiều nhà nghiên cứu trên nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam ởViệt Nam hiện nay việc quan tâm ,chăm sóc giáo dục bảo vệ trẻ đã đợc đề cậptrong “Luật giáo dục ” và ở điều 19 có nêu : “Mục tiêu củo giáo dục mầm non làgiúp trẻ phát triển thể chất ,tình cảm ,trí tuệ ,thẩm mỹ ,hình thành những yếu tố đầutiên của nhân cách ,chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1phổ thông ”

Có thể nói rằng giáo dục mầm non là một thâu quan trọng của hệ thống giáoquốc dân ,là bậc học chuẩn bị tiên đề cho giáo dục phổ thông theo mục tiêu giáodục toàn diện ,nó sẽ ảnh hởng lớn đến quá trình phát triển nhân cách con ngời ,vậyvấn đề đặt ra trong lứa tuổi này là phải quan tâm đầy đủ đến giáo dục thể chất ,trítuệ và tinh thần cho trẻ nh C.Mác đã từng khẳng định “ Việc kết hợp giáo dục ,trítuệ ,và thể chất không chỉ là một phơng tiện tăng thêm sản xuất xã hội mà còn làphơng tiện duy nhất để phát triển con ngời toàn diện ”

Ngành học mầm non trong những năm qua có những chuyển biến về chất lợngchăm sóc nuôi dỡng và giáo dục trẻ không những ở các thành phố lớn ,thị xã ,thịtrấn mà còn đợc nhân dân ở các vùng ven ,miền núi ,đặc biệt là vùng đồng bào dântộc thiểu số cũng đang từng bớc đợc củng cố Để thực hiện đợc vấn đề này mộtcách có hiệu quả nâng cao chất lợng giao tiếp bằng tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu

số thì cần phải phát triển ngôn ngữ , bởi vì tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai của trẻ ,sựphát triển ngôn ngữ là giúp trẻ tham gia trực tiếp vào các hoạt độngkhác ,vì ngônngữ là phơng tiện để giao lu tình cảm ,về mối quan hệ và cách ứng xử trong xãhội ,là sự tìm tòi ,khám phá thế giới tự nhiên ,cuộc sống xung quanh trẻ Nh ng đốivới ngời đồng bào dân tộc quả là một vấn đề bức xúc ,vận động con em đến tuổi ralớp không ít khó khăn ,họ có lối sống biệt lập giữa các dân tộc nên ít có điều kiệngiao tiếp ,cách suy nghĩ và khả năng tiếp thu còn hạn chế Thêm vào đó sự bất đồng

về ngôn ngữ giữa cô và trẻ đã gây nhiều khó khăn trong việc giao tiếp ,mặt khác họcha hiểu đúng đắn về vấn đề học tập ,con cái muốn học hành nh thế nào cũng đ-

ợc ,và muốn ở nhà giữ em vì con cái đông Đối với trẻ thì không muốn đi học vì đihọc sẽ bị gò bó trong khuôn khổ ,trẻ thích theo cha mẹ lên rẫy để săn bắn chim,chăn trâu ,chăn bò

Vì vậy để nâng cao mục tiêu phát triển ngôn ngữ bằng tiếng Việt cho trẻ mẫugiáo 5 tuổi dân tộc thiểu số qua môn làm quen chữ viết này thì ngời giáo viên trớchết phải tạo ra cho trẻ hứng thú ham thích đi học ,và tạo cho trẻ hứng thú học tiếngViệt làm tiền đề để thích ứng với việc tập đọc ,tập viết cần tạo đợc mọi cơ hộikhuyến khích trẻ bộc lộ khả năng sáng tạo của cá nhân mình Cần có những bài thơ,câu chuyện ,bài thơ tranh chữ to ,tranh minh hoạ ,có tác dụng thúc đẩy sự pháttriển bớc đầu bằng ngôn ngữ đọc ,ngôn ngữ viết ở trẻ

Song việc chuẩn bị cho quá trình giao tiếp bằng tiếng Việt thông qua tất cả cácmôn học ,thông qua mọi hoạt động của trẻ ,việc giao tiếp diễn ra ở mọi lúc ,mọi nơicần phải tạo đợc môi trờng cho trẻ hoạt động ,tổ chức tiết học Nh vậy việc trẻ

đợc hoà lẫn trong các hoạt động vui chơi tự nhiên đầy hứng thú ,nh một chủ thểtích cực Thông qua các hoạt động trực tiếp với các sự vật ,hiện tợng ,qua giao tiếpxã hội mà trẻ làm quen đợc chữ cái

Trong những năm qua chuyên đề tăng cờng kỹ năng giao tiếp tiếng Việt cho họcsinh mẫu giáo 5 tuổi vùng dân tộc thiểu số đã đợc sở ,phòng mở các lớp tậphuấn ,hội thảo ,tổ chức thi giáo giỏi các cấp ,làm và thi đồ dùng tự tạo phục vụ chochuyên đề này đạt kết quả cao Tuy nhiên việc dạy tiếng Việt cho trẻ dân tộc không

3

Trang 4

phải là dễ ,mà còn rất nhiều phức tạp bởi vì thời gian trẻ tiếp xúc với cô trên lớpquá ít ,chỉ có một buổi ,thời gian ở nhà là chính ,trẻ lại giao tiếp bằng tiếng dântộc ,tiếng Việt không có ai để giao tiếp cho nên trẻ rất mau quên ,trẻ phát âm khôngchuẩn ,viết chữ không đợc

Từ những khó khăn nh trên của trẻ học sinh mẫu giáo 5 tuổi ngời dân tộc giaotiếp bằng tiếng Việt Để khắc phục đợc vấn đề này và giúp trẻ tiếp thu đợc kiếnthức mới ,học tiếng Việt một cách dễ dàng ,đồng thời tạo hứng thú cho trẻ đến tr-ờng mạnh dạn ,tự tin và tích cực hoạt động ,nâng cao khả năng nhận thức cho trẻ,vốn kinh nghiệm của trẻ đợc kích thích trẻ phát triển và tiếp xúc giao tiếp với mọingời xung quanh một cách dễ dàng hơn ,đó chính là lý do tôi chọn đề tài này

II Mục đích nghiên cứu:

Xây dựng biện pháp dạy tiếng Việt trong hoạt động làm quen chữ viết chohọc sinh ngời dân tộc thiểu số

III Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về dạy giao tiếp tiếng Việt trong hoạt động làmquen chữ viết cho học sinh dân tộc thiểu số

- Nghiên cứu thực trạng công tác dạy tiếng Việt và tiếp thu của trẻ ở trờngmầm non Số 1 Mờng Mô - Mờng Tè

- Đề xuất những biện pháp dạy trẻ mẫu giáo 5 tuổi ngời dân tộc thiểu số họctiếng Việt trong hoạt động làm quen chữ viết

IV Phơng pháp nghiên cứu:

- Nghiên cứu tài liệu về cho trẻ làm quen chữ viết nh qua sách báo, tranh ảnh

- Quan sát hoạt động của trẻ làm quen chữ viết

- Điều tra bằng phiếu đối tợng là giáo viên về việc dạy làm quen chữ viết chotrẻ

- Tìm tài liệu tổng kết, báo cáo về chuyên đề dạy làm quen chữ viết ở trẻmẫu giáo 5 tuổi ngời dân tộc

- Lấy ý kiến chuyên gia, giáo viên dạy giỏi, ý kiến đóng góp của các nhàquản lý chỉ đạo cấp trên về chuyên đề này

- Thực nghiệm về một số biện pháp

V Đối tợng khách thể nghiên cứu:

- Khách thể: Là hoạt động làm quen chữ viết cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi ngờidân tộc thiểu số

- Đối tợng: Là những biện pháp để dạy làm quen chữ viết cho trẻ mẫu giáo 5tuổi ngời dân tộc thiểu số

VI Giả thuyết khoa học:

Nếu xây dựng đợc các biện pháp tốt, phù hợp trong hoạt động làm quen chẽviết cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi ngời dân tộc thiểu số thì chất lợng sẽ đợc nâng lên giúptrẻ tự tin khi bớc vào học lớp 1

VII Đóng góp của đề tài:

- Hy vọng đề tài này thành công sẽ giúp cho nhà trờng nâng cao chất lợngtrong hoạt động làm quen chữ viết cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi ngời dân tộc thiểu số vàlàm nền tảng cho trẻ vào lớp 1 phổ thông đợc dễ dàng

B Nội dung nghiên cứu

Trang 5

I Cơ sở lý luận của đề tài:

Giáo dục mầm non là vấn đề có tầm chiến lợc lâu dài, ảnh hởng to lớn đến sựphát triển giáo dục phổ thông, đây là bậc học đầu tiên là nền tảng để các em họclên các lớp trên, chuẩn bị tâm thế cho trẻ vào lớp 1 Góp phần phổ cập giáo dục tiểuhọc đúng độ tuổi và phổ cập THCS đến năm 2010 Đồng thời mục tiêu của giáo dụcmầm non là giúp trẻ phát triển nhận thức, phát triển ngôn ngữ, phát triển tình cảm -quan hệ xã hội

Song vị trí của phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non tơng đối đặc biệt vì từ

sự phát triển ngôn ngữ sẽ tham gia trực tiếp vào phát triển các lĩnh vực khác Bởingôn ngữ là phơng tiện giao lu tình cảm, phơng tiện để trẻ nhận thức, khám phá tựnhiên

1.Cơ sở lý luận chung về ngôn ngữ.

-Ngôn ngữ:

Con ngời có khả năng truyền đạt kinh nghiệm cá nhân cho ngời khác và sửdụng kinh nghiệm của ngời khác vào hoạt động của mình, làm cho mình có nhữngkhả năng to lớn, nhận thức và nắm vững đợc những lực lợng bản chất tự nhiên, xãhội và bản thân… chính là nhờ ngôn ngữ

Ngôn ngữ là một hiện tợng xã hội - lịch sử Do sống và làm việc (hoạt động)cùng nhau nên con ngời có nhu cầu phải giao tiếp (thông báo) với nhau và nhậnthức (khái quát hoá) hiện thực Trong quá trình lao động (hoạt động) cùng nhau haiquá trình giao tiếp và nhận thức đó không tách rời nhau: để lao động phải thôngbáo cho nhau về sự vật, hiện tợng đó vào trong một lớp, một nhóm các sự vật, hiệntợng nhất định, cùng loại Ngôn ngữ đã ra đời và thoả mãn đợc nhu cầu thống nhấtcác hoạt động đó1

2 Vai trò của ngôn ngữ đối với nhận thức:

Từ những điều đã trình bày ở trên cho thấy khá rõ ngôn ngữ, lời nói (hoạt

động lời nói) có vai trò rất to lớn trong đời sống tâm lý con ngời Ngôn ngữ là mộttrong hai yếu tố (cùng với lao động) đã làm cho con vật trở thành con ngời (F.Anghen) Nói cách khác, ngôn ngữ đã góp phần tích cực làm cho các quá trình tâm

lý của con ngời có chất lợng khác hẳn với con vật Ngôn ngữ đã cố định lại nhữngkinh nghiệm lịch sử xã hội lời ngời, nhờ đó thế hệ sau có đợc các sức mạnh tinhthần của thế hệ trớc Ngôn ngữ là hình thức tồn tại của ý thức, ngôn ngữ là "ý thứcthực tại" của con ngời (C Mác)… Có thể nói ngôn ngữ liên quan đến tất cả các quátrình tâm lý của con ngời, là thành tố quan trọng nhất về mặt nội dung và cấu trúccủa tâm lý ngời, đặc biệt là của các quá trình nhận thức

2.1 Vai trò của ngôn ngữ trong nhận thức cảm tính

Ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng đối với các quá trình nhận thức cảm tính,

nó làm cho các quá trình này ở ngời mang một chất lợng mới

a Đối với cảm giác.

Ngôn ngữ ảnh hởng mạnh đến ngỡng nhạy cảm của cảm giác, làm cho cảmgiác đợc thu nhận rõ ràng, đậm nét hơn Thí dụ, nghe những ngời khác suýt xoa

"trời lạnh quá!" ta dễ cảm thấy lạnh hơn Khi cảm nhận các thuộc tính của sự vật,hiện tợng ở xung quanh (mầu sắc, âm thanh, mùi vị…) ta thờng "gọi thầm" tên cácthuộc tính đó ở trong đầu, điều này làm cho cảm giác của ta về thuộc tính ấy mạnhhơn, chính xác hơn

b Đối với tri giác.

Ngôn ngữ làm cho quá trình tri giác diễn ra dễ dàng, nhanh chóng hơn vàlàm cho những cái tri giác đợc trở thành khách quan, đầy đủ và rõ ràng hơn Thí dụviệc tách đối tợng ra khỏi bối cảnh (quy luật về tính lựa chọn của tri giác), việc ây

1 Vgốtxki L X T duy và lời nói Trong: Những nghiên cứu tâm lý học chọn lọc M "GD", 1956

5

Trang 6

dựng một hình ảnh trọn vẹn về đối tợng tuỳ theo nhiệm vụ của tri giác (quy luật vềtính trọn vẹn của tri giác) nếu đợc kèm theo bằng lời nói thầm hay nói thành tiếngthì diễn biến sẽ nhanh hơn và kết quả sẽ rõ hơn.

Vai trò của ngôn ngữ đối với quá trình quan sát càng cần thiết hơn, vì quansát là tri giác tích cực, có chủ định và có mục đích (tức có ý thức) Tính có ý thức,

có mục đích, có chủ định đó đợc biểu đạt và điều khiển, điều chỉnh nhờ ngôn ngữ.Không có ngôn ngữ thì tri giác của con ngời vẫn là tri giác của con vật Tính có ýnghĩa trong tri giác của con ngời là một chất lợng mới làm cho tri giác ngời khác xatri giác của con vật Chất lợng mới này chỉ đợc hình thành và đợc biểu đạt thôngqua ngôn ngữ

c Đối với trí nhớ:

Ngôn ngữ cũng có ảnh hởng quan trọng đối với trí nhớ của con ngời Nótham gia tích cực vào các quá trình trí nhớ, gắn chặt với các quá trình đó Thí dụ,việc ghi nhớ sẽ dễ dàng và có kết quả tốt hơn nếu ta nói lên thành lời điều cần ghinhớ Không có ngôn ngữ thì không thể thực hiện ghi nhớ có chủ định, sự ghi nhớ

có ý nghĩa và kể cả sự ghi nhớ máy móc (học thuộc lòng…) Ngôn ngữ là một ph

-ơng tiện để ghi nhớ, là một hình thức để lu giữ những kết quả cần nhớ Nhờ ngônngữ con ngời có thể chuyển hẳn những thông tin cần nhớ ra bên ngoài đầu óc conngời Chính bằng cách này con ngời lu giữ và truyền đạt đợc kinh nghiệm của loàingời cho thế hệ sau

2.2 Vai trò của ngôn ngữ trong nhận thức lý tính

a Đối với t duy

Ngôn ngữ liên quan chặt chẽ với t duy của con ngời Ngôn ngữ và t duykhông có mối quan hệ song song Ngôn ngữ càng không phải là t duy và ngợc lại tduy cũng không phải là ngôn ngữ Mối quan hệ chặt chẽ giữa ngôn ngữ với t duy là

ở chỗ t duy dùng ngôn ngữ làm phơng tiện, công cụ của t duy, chính nhờ điều này

t duy của con ngời khác về chất so với t duy của con vật: con ngời có t duy trừu ợng Không có ngôn ngữ thì con ngời không thể t duy có trừu tợng và khái quát đ-

t-ợc Mối quan hệ không tách rời của t duy và ngôn ngữ đợc thể hiện trong ý nghĩacủa các từ Mỗi từ đều có quan hệ với một lớp sự vật, hiện tợng nhất định và gọi tênlớp sự vật, hiện tợng đó Khi gọi tên các sự vật, từ tựa nh thay thế chúng và nhờ đótạo ra những điều kiện với các vật ấy kể cả khi các vật ấy vắng mặt (tức là thao tácvới các vật thay thế, với ký hiệu từ ngữ hay là với ngôn ngữ) Tuy nhiên từ khôngchỉ gọi tên sự vật, nhờ vật t duy ngôn ngữ trừu tợng hoá đợc những thuộc tínhkhông bản chất của sự vật và khái quát hoá đợc những thuộc tính bản chất của nó.Không có ngôn ngữ thì không thể có t duy khái quát - logic đợc

Lời nói bên trong là công cụ quan trọng của t duy, đặc biệt khi giải quyết cácnhiệm vụ khó khăn, phức tạp Lúc này lời nói bên trong có xu hớng chuyển từng bộphận thành lời nói thầm (khi nghĩ ngời ta hay nói lẩm nhẩm là vì thế) Nếu nhiệm

vụ quá phức tạp thì ngôn ngữ bên trong chuyển thành lời nói bên ngoài Ngời ta nói

to lên thì thấy t duy rõ ràng và thuận lợi hơn Những điều đó chứng tỏ không cóngôn ngữ, đặc biệt không có lời nói bên trong thì ý nghĩ, t tởng không thể hìnhthành đợc, tức không thể t duy trừu tợng đợc

2.3 Mục đích ý nghĩa của việc cho trẻ làm quen với chữ:

Trang 7

Mục đích của việc cho trẻ làm quen với chữ không chỉ nhằm giúp trẻ nhậnbiết đợc các mặt chữ để phát âm chính xác khi nói mà còn tạo cho trẻ hứng thú họctiếng mẹ đẻ, làm tiền đề cho trẻ thích ứng với việc tập đọc, tập viết ở lớp 1.

Làm quen với chẽ không phải là một môn học độc lập, riêng biệt mà nó làmột phần, một bộ phận của việc phát triển ngôn ngữ trong chơng trình chăm sóc,giáo dục trẻ 5 - 6 tuổi Vì vậy nó có ý nghĩa trực tiếp trong việc phát triển ngôn ngữcho trẻ Trớc hết là rèn luyện kỹ năng nghe nói và giúp trẻ phân biệt đợc các âmkhó, thông qua các chữ cái, ví dụ nh: x - s; l - n Sau khi đã học các âm riêng lẻ cầngiúp trẻ phân biệt đợc các âm trong từ, bằng cách đa ra một chữ cái bất kỳ, yêu cầutrẻ gọi tên đồ vật có những âm đầu bằng chữ cái đã cho để trẻ phân biệt

Ví dụ: Khi cho trẻ làm quen với chữ l - n Sau khi trẻ đã phân biệt đợc từng

âm riêng lẻ l và n, cô giáo yêu cầu trẻ tìm đồ vật có tên gọi các âm vừa học để trẻphân biệt nh: cái làn, cái lợc; cái nón, cái nơ

Thông qua việc làm quen với chữ, vốn từ của trẻ đợc nâng cao, bởi vì khi làmquen với chẽ, trẻ không chỉ làm quen với các chữ ở dạng tồn tại tự nhiên của chữviết, mà các chữ đó đợc gắn vào các từ, thông qua các đối tợng cụ thể, các từ đó cócác âm đầu là các chữ cái đã học, nhằm rèn luyện cách phát âm cho trẻ Cho trẻlàm quen với chữ viết còn giúp cho trẻ hiểu đợc mối quan hệ giữa ngôn ngữ nói vớingôn ngữ viết, trẻ hiểu thế nào là "đọc và viết" sau này ở trờng phổ thông Thôngqua việc tìm kiếm các chữ cái khác nhau ở các vị trí khác nhau của từ giúp trẻ pháttriển óc quan sát, ghi nhớ, chú ý có chủ định

Cho trẻ làm quen với chẽ còn góp phần kích thích, phát triển t duy, thể hiện ởchỗ trẻ đã xác định đợc tính chất đặc điểm của chữ đó bằng cách tìm kiếm các từ,tiếng thông qua các đồ vật Trẻ tìm đúng các âm theo các chữ mà trẻ đã nhận ra

Nh vậy trẻ nhận ra chữ đó thông qua việc phát âm chữ không phải chỉ thông quamặt chữ Ví dụ qua trò chơi: "Tai ai thính", "Tìm chữ cho tranh".v.v… Đây là cơ sởquan trọng để trẻ tiếp nhận tri thức của trờng phổ thông

Trong khi cho trẻ làm quen với chữ và chữ cái, cần giúp trẻ một số kỹ năngcầm bút, cầm sách, mở từng trang sách, t thế ngồi của một học sinh

Việc cho trẻ làm quen với chữ không chỉ thông qua các tiết học mà đối vớitrẻ mẫu giáo phải thông qua nhiều hoạt động khác nhau nh hoạt động tạo hình (vẽ,

xé, cắt dán các chữ cái) Đặc biệt là các trò chơi Những trò chơi phát triển giácquan, phát triển các cơ nhỏ của ngón tay, là điều quan trọng để trẻ cầm bút sau này

Cho trẻ làm quen với chữ phải tạo ra đợc hứng thú, ham muốn đi học, tránhlàm thay cho công việc của lớp 1 Thật sai lầm khi bắt trẻ tập viết vào một khuônkhổ nhất định, trong khi trẻ cha chuẩn bị đợc những kỹ năng cần thiết trớc khi tậpviết, nh vẽ các nét giống với chữ viết đợc gọi là "tiền chữ viết" Còn tập viết thực sự

là nhiệm vụ của lớp 1 và chỉ đến lớp 1 trẻ mới có thể làm việc này một cách có kếtquả Không nên dạy trớc những gì mà trẻ phải học một cách bài bản ở phổ thông

2.4 Nội dung làm quen với chữ.

- Dạy trẻ nhận biết và phát âm đúng 29 chữ cái tiếng Việt

- Dạy trẻ nhận biết các chữ cái thông qua việc tri giác bằng âm thanh

- Dạy trẻ nhận biết các kiểu chữ (in thờng, viết thờng)

- Dạy trẻ cách liên hệ các chữ cái với các từ đã học và tìm ra các chẽ cái cótrong các từ đó

- Dạy trẻ làm quen với cách tách âm, ghép âm thông qua cho trẻ làm quenvới các vị trí của các âm trong từ

- Dạy trẻ làm quen với các kỹ năng ban đầu về tiền tập đọc, tiền tập viết:cách ngồi, cách cầm bút, mở sách, đọc…

7

Trang 8

bằng tiếng Việt cần chuẩn bị vốn tiếng Việt cho trẻ ngay từ tuổi mầm non (trích

"Sơ kết ba năm thực hiện chuyên đề: Tăng cờng kỹ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số từ năm 2008 - 2009 của Sở Giáo dục Đào tạo tỉnh Lai Châu).

"Dạy trẻ nói tiếng Việt là nội dung quan trọng của giáo dục mầm non, thực

tế cho ta thấy rằng chất lợng học tập của học sinh tiểu học ở vùng này phụ thuộclớn vào trình độ tiếng Việt của các em

Đối với lứa tuổi mầm non trớc khi vào lớp 1 trẻ chỉ đợc học ít tiếng Việt ởlớp mẫu giáo theo lối truyền khẩu Trong giao tiếp ở gia đình và cộng đồng trẻkhông có thói quen nói tiếng Việt nên vốn tiếng Việt của trẻ nghèo nàn, khả năng

sử dụng tiếng Việt rất hạn chế (tài liệu hớng dẫn tập nói tiếng Việt cho trẻ mẫu giáovùng dân tộc thiểu số của Sở Giáo dục Đào tạo Lai Châu)

Đối với trẻ ngời dân tộc, việc học tiếng Việt đợc gọi là ngôn ngữ thứ hai.Quá trình học ngôn ngữ hai có những đặc điểm khác với quá trình ngôn ngữ mẹ đẻ

- Khác nhau ở trình độ xuất phát Nếu trẻ em ngời kinh học tiếng Việt trêncơ sở vốn kinh nghiệm tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt, thì trẻ ngời dân tộc bắt đầu họctiếng việt trên cơ sở kinh nghiệm tiếng mẹ đẻ không phải là tiếng Việt

- Khác nhau về môi trờng học tập, rèn luyện và sử dụng ngôn ngữ hai chủyếu là môi trờng nhân tạo, bị thu hẹp cả về mặt không gian lẫn thời gian (trongphạm vi trờng học môi trờng tự tạo của giáo viên

- Khác nhau về cơ chế lĩnh hội "nếu nh việc phát triển tiếng mẹ đẻ là bắt đầu

từ việc sử dụng nói một cách bột phát, tự do và kết thúc bằng sự hiểu rõ ngôn ngữ

và nắm đợc chúng thì sự phát triển tiếng ngoại ngữ (ngôn ngữ thứ hai) bắt đầu từ sựhiểu rõ đợc ngôn ngữ và nắm nó một cách chủ định và kết thúc bằng lời nói có tự

do và bột phát" (DX.Vgotky) Ngoài ra, trong quá trình học ngôn ngữ thứ hai còn

bị ảnh hởng bởi sự giao thoa ngôn ngữ, bởi những yếu tố tâm lý của ngời học bởinhững điều kiện xã hội

Tăng cờng tiếng Việt cho trẻ ở trờng lớp mầm non phải thông qua tất cả cáchoạt động và ở mọi lúc mọi nơi trong hoạt động làm quen chữ viết đòi hỏi trẻ biết

đọc thì mới biết viết… và phát âm đúng, rõ ràng, chính xác các chữ cái Trẻ biết

đọc, biết viết thì mới học đợc các môn học khác, mới tiếp thu đợc các kiến thức màcô giáo truyền thụ

Làm quen chữ viết cho trẻ 5 tuổi ngời dân tộc thiểu số là một việc làm khôn

đơn giản mà vô cùng khó khăn, phức tạp Nó đòi hỏi, kéo theo các kiến thức củamôn học khác vì trong chơng trình học mầm non hiện nay theo phơng pháp đổi mớitích hợp không gò bó cứng nhắc nh phơng pháp học trớc nên đòi hỏi giáo viên trớchết phải nắm bắt, hiểu đợc đặc điểm tâm sinh lý, t tởng, từng độ tuổi… phải biếtchắt lọc sáng tạo, nắm bắt vững chơng trình đổi mới để cung cấp, dạy trẻ tiếng Việtmột cách tự nhiên thông qua môn học làm quen chữ viết mà trẻ hiểu và nói đợc

Trang 9

tiếng Việt Dạy ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ không phải là dạy theo lối truyền khẩubắt chớc mà dạy trẻ theo khoa học.

II Thực trạng hoạt động làm quen chữ viết của trẻ mẫu giáo 5 tuổi ngời dân tộc thiểu số ở trờng mầm non

Số 1 Mờng Mô - Mờng Tè hiện nay.

1 Vài nét về địa bàn trờng.

Từ trung tâm thị xã Lai Châu, đi theo hớng Đông Nam đến trung tâm xã HoàBình là 10Km, xã có diện tích là 8.900km2 với tổng số dân là 11.175 ngời, trong đóhọc sinh dân tộc là 150 trẻ thuộc dân tộc H Mông và Thái Toàn xã có 1 trờng mầmnon với 12 lớp nằm rải rác ở 8 thôn làng

a Khó khăn:

- Đờng xa đi lại rất khó khăn, đặc biệt về mùa ma đờng xuống các thôn làngtrơn, lầy lội

- Đa số học sinh là ngời dân tộc thiểu số, ngôn ngữ bất đồng

- Nhận thức của phụ huynh học sinh còn hạn chế cha thấy đợc tầm quantrọng của việc học

- Đời sống kinh tế phụ huynh gặp nhiều khó khăn, ít có thời gian quan tâm

đến con, em

- Cơ sở vật chất, điều kiện, phơng tiện dạy học của trờng còn thiếu, tạm bợ

- Các cháu đều học một buổi nên hạn chế nhiều về vốn tiếng Việt khi cháu

đến trờng lớp, giáo viên gặp nhiều khó khăn trong việc cung cấp kiến thức, rèn kỹnăng để nâng cao chất lợng giảng dạy và vốn tiếng Việt cho trẻ

- Trình độ giáo viên không đồng đều

Nhận thức của giáo viên về việc dạy tiếng Việt trong hoạt động làm quen chữviết cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi ngời dân tộc Tổng số giáo viên trực tiếp đứng lớpgiảng dạy là 12, trong đó 12 giáo viên dạy lớp mẫu giáo ghép 3 độ tuổi (3, 4, 5tuổi) học sinh là ngời dân tộc thiểu số chiếm 100% ở 12 lớp

Có 03 giáo viên là ngời dân tộc thiểu số, trình độ chuyên môn cha đạt chuẩn

và nói tiếng Việt cũng còn cha thành thạo, tuổi đời cao ngoài 45 tuổi

Với đặc thù của trờng lớp nh vậy nên đa số giáo viên dạy lớp học sinh là

ng-ời dân tộc, nhận thức còn hạn chế và trông chờ ỷ lại cha tự giác nêu cao tinh thầntrách nhiệm trong công tác chăm sóc, giáo dục trẻ nói chung và trong việc dạy trẻtập nói tiếng Việt nói riêng

Giáo viên cha thấy đợc tầm quan trọng cấp bách phải dạy tiếng Việt cho trẻmẫu giáo 5 tuổi nên hàng ngày chỉ dạy qua loa, thiếu trực quan, đồ dùng bài soạn

9

Trang 10

rập khuôn, máy móc theo sách hớng dẫn Giáo viên ngời dân tộc thì quá lạm dụngtrong giờ dạy thờng dùng tiếng dân tộc để truyền thụ kiến thức và ngại giải thích từkhó bằng tiếng Việt cho trẻ…

Vì nhận thức của giáo viên nh vậy nên ảnh hởng đến kết quả dạy tăng cờngtiếng Việt cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi ngời dân tộc thiểu số

**Về nhận thức của phụ huynh học sinh:

Phụ huynh học sinh đa số là ngời dân tộc Ba na, Gia Rai, cuộc sống rất khókhăn, trình độ dân trí thấp, ít giao lu, đông con Nhiều gia đình không đủ cơm ăn áomặc hàng ngày vào rừng kiếm củi, bẻ măng, làm rẫy xa làng bản Chính vì vậy họcha thật sự quan tâm đến học hành của con cái muốn đến lớp hay không cũng đ ợc,còn nhiều phụ huynh khi đi làm còn đa con đi theo và ở lại rẫy đến vài ngày, vàituần mới về vì thế nên ảnh hởng không nhỏ đến công tác duy trì sĩ số học sinh dẫn

đến chất lợng chăm sóc giáo dục trẻ bị hạn chế rất nhiều

**Về nhận thức của học sinh

ở lứa tuổi này trẻ ngời dân tộc cha biết đợc tâm quan trọng của việc đi học

mà trẻ thích đến trờng bởi vì có đồ chơi, có nhiều bạn đông vui, đợc cô dạy múahát Tuỳ thuộc vào tính nết của các cháu mặc dù đợc cô giáo động viên, gần gũinhắc nhở nhng cháu vẫn không hoạt động chỉ ngồi im Nhng đa số các cháu đã biếtthực hiện theo yêu cầu của cô với sự giải thích giúp đỡ nhiều nên trong tổ chức,hoạt động làm quen chữ viết giáo viên phải tích cực dùng nhiều biện pháp sinh

động để thu hút trẻ hứng thú tham gia để phát triển thêm ngôn ngữ cho trẻ

** Việc làm của giáo viên trong việc tổ chức hoạt động

Theo chỉ đạo của ngành học mầm non thực hiện theo hớng đổi mới tích hợp,lồng ghép các môn học phải sáng tạo, linh hoạt phù hợp với nhận thức từng lứatuổi, đối tợng học sinh

Trong hoạt động làm quen chữ viết theo phân phối chơng trình 26 tuần dạytrong 3 tiết

Tiết 1: làm quen chữ cái

Tiết 2: trò chơi chữ cái

Tiết 3: tập tô chữ cái

Hết năm học yêu cầu trẻ phải nhận biết, phát âm

Viết đợc 29 chữ cái o, ô, ơ, a , ă, â, e, ê, … và viết đợc tên trẻ, sao chép từ

Thực tế giáo viên khi lên lớp về bài soạn còn cứng nhắc, rập khuôn máymóc, cung cấp kiến thức cha đầy đủ, còn làm thay trẻ Có tích hợp các môn học nh-

ng cha phù hợp… Về đồ dùng trực quan tranh ảnh, đồ dùng, thẻ chữ còn thiếu chocô và trẻ

Giáo viên lên lớp cha nhiệt tình giảng dạy mang tính chất đối phó Đối vớitrẻ cha gần gũi quan tâm, có khi còn cắt xén chơng trình giảng dạy

Tuy nhiên cũng có một số giáo viên cũng rất nhiệt tình năng nổ, gần gũi

th-ơng yêu trẻ, đã biết vận dụng phth-ơng pháp giảng dạy một cách linh hoạt ở nhữnglớp này chất lợng trẻ đạt cao hơn, khả năng sử dụng về tiếng Việt của trẻ phát triểnhơn

Giáo viên tổ chức các hoạt động làm quen chữ viết thông qua hoạt động dạyhọc Hầu hết trẻ mẫu giáo 5 tuổi ngời dân tộc không có đủ điều kiện nhng đồ dùng

đồ chơi ở trong gia đình, ở nhà lại thờng chơi tự do, không ai chỉ bảo và thờng sửdụng tiếng địa phơng để giao tiếp với những bạn cùng trang lứa và với ngời lớntrong thôn bản Chính vì vậy tất cả những kiến thức về vốn tiếng Việt cô dạy cho

Trang 11

trẻ ở trên lớp, về nhà hầu nh mai một hết mặc dù cô giáo đã cố gắng dạy trẻ phát

âm, luyện đọc và sử dụng các mẫu câu để cùng cấp, củng cố vốn từ cho trẻ

Hoạt động làm quen chữ viết giáo viên dạy tích hợp các môn học nh mônlàm quen văn học, cô dạy đọc thơ, kể chuyện, câu đố qua đó cô cung cấp thêm vốn

từ cho trẻ Nhng giáo viên cha đi sâu rèn luyện sửa sai cho trẻ kịp thời nh: rèn pháttriển ngôn ngữ luyện đọc qua câu đồng dao

"Bà còng đi chợ trời ma

Cái tôm cái tép đi đa bà còng

Tiền bà trong túi rơi ra

Tép tôm nhặt đợc trả bà mua rau"

Thờng tiếng dân tộc khi nó là không có dấu nên khi luyện trẻ đọc với tiếng

"tôm" thì đọc là "tom", "túi" đọc là "tui", "trả" đọc là "tra"…

Hay qua môn học tạo hình cô cho trẻ tô màu chữ cái in rỗng, nối chữ cái với

từ, tiếng, tô màu tranh… Qua đó cô phải cho trẻ nhận biết, làm quen; hình vẽ haymẫu tô nhng cô chỉ nói qua, không cho trẻ khắc sâu nhận biết màu tô nên trẻ thíchtô màu nào thì tô màu đó Không biết đợc tô màu hình bông hoa phải tô cánh hoamàu đỏ, hay vàng… mà trẻ sẽ tô bất cứ màu gì, có khi là màu đen, màu xanh… vìvậy, ngôn ngữ tiếng Việt trẻ hạn chế ảnh hởng nhiều đến nhận thức của trẻ

Còn qua hoạt động mọi lúc mọi nơi hay đi dạo, cô giáo cũng đã tổ chức đợcnhng cha chú ý nên trẻ nói bằng tiếng Việt Để trẻ trò chuyện với nhau hoặc nhắccho bạn bằng tiếng dân tộc

Trong tất cả các họat động cô giáo cần tăng cờng dạy trẻ nói bằng tiếng Việtbằng nhiều hình thức lặp đi, lặp lại nhiều lần để luyện tập cho trẻ và qua đó mớicủng cố đợc kiến thức cho trẻ lâu bền hơn

Hay thông qua hoạt động vui chơi cô tổ chức trò chơi nhng cha đợc linhhoạt vì đồ chơi còn ít cha phong phú đa dạng, cách thức tổ chức của cô cứng nhắc,cha phát huy hết khả năng tích cực của trẻ

Ví dụ: Trò chơi tìm chữ theo yêu cầu của cô ở những tiết đầu cô phải hớngdẫn cách chơi, luật chơi cho trẻ biết cách chơi với từ khó cô phải giải thích bằngtiếng dân tộc để trẻ hiểu cách chơi và chơi đợc, nhng những tiết sau cô cha nângcao yêu cầu đặt câu hỏi gợi mở để trẻ nói đợc cách chơi mà cô làm thay trẻ cô nóihết nh vậy, đã làm ảnh hởng rất lớn đến phát triển ngôn ngữ cho trẻ Đối với trẻ học

mà chơi, chơi mà học, đòi hỏi cô giáo phải tìm tòi sáng tạo những trò chơi phù hợpvới nhận thức của trẻ và tổ chức linh hoạt kích thích trẻ hứng thú tham gia chơi.Qua đó vừa củng cố đợc kiến thức, phát huy tinh thần tích cực cho trẻ, rèn luyệntính nhanh nhẹn, chú ý, tinh thần kỷ luật nh thông qua trò chơi "Hoa nào quả ấy"thì những cháu có hoa mang chữ a sẽ phải nhận biết tìm đúng bạn có quả mang chữcái a Hay những cháu có hoa, quả mang chữ cái ă sẽ tìm nhau và đứng về thànhtừng cặp hoa nào quả ấy Khi trẻ đã tìm đúng hoa hay quả có cùng chữ cái cô sẽ

đến và hỏi từng trẻ tên hoa, tên quả cùng chữ cái gì, yêu cầu trẻ trả lời đúng, rõràng

Ví dụ: Cô giáo hỏi bông hoa của cháu có chữ caí gì, trẻ phải trả lời: tha côbông hoa của cháu có chữ cái a

Nếu trẻ trả lời cha đúng, rõ ràng, nói cha đủ câu cô giáo phải sửa sai, luyệntrẻ nói lại và động viên trẻ kịp thời

Qua nhiều lần chơi, nhiều trò chơi cô giáo chú ý cung cấp thêm từ, mẫu câu

để trẻ có thêm vốn ngôn ngữ tiếng Việt

Hoạt động làm quen chữ viết qua khảo sát, điều tra, tổng hợp báo cáo vềchuyên đề làm quen chữ viết ở trẻ 5 tuổi ngời dân tộc thiểu số ở trờng mầm non Số

11

Ngày đăng: 14/05/2021, 10:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w