1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

sang kien kinh nghiem hay

25 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 32,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ViÖc d¹y tiÕng ViÖt trong nhµ trêng ph¶i ®Æt ra môc ®Ých cuèi cïng kh«ng ph¶i lµ trang bÞ cho häc sinh nh÷ng kiÕn thøc vÒ tiÕng ViÖt mµ lµ h×nh thµnh vµ rÌn luyÖn cho häc sinh c¸c kü n¨n[r]

Trang 1

Lời cảm ơn

Trong mấy năm học vừa qua, nhờ có các thầy giáo, cô giáo của TrờngCĐSP Hà Nội và ĐHSP Hà Nội em đã có thêm rất nhiều những kiến thức quýgiá Những kiến thức đó đã giúp em rất nhiều để em vững bớc tự tin hơn trên con

đờng sự nghiệp giáo dục trong giai đoạn cách mạng hiện nay, giúp em thêm yêunghề và sống hết mình với nghề “trồng ngời”, mà mình đã lựa chọn

Nhân dịp thể hiện luận văn này, em xin chân thành cảm ơn các thầy, côgiáo của trờng CĐSP Hà Nội và ĐHSP Hà Nội Chính sự tận tụy của các thầy,các cô đã thắp sáng trong em niềm tin Cảm ơn các bạn đồng nghiệp ở trờng Tiểuhọc Nghĩa Đô đã giúp tôi hoàn thành đề tài này:

Đặc biệt là Tiến sĩ Đặng Kim Nga- ngời đã tận tình hớng dẫn và giúp đỡ

em tự tin hơn khi lựa chọn và hoàn thành đề tài này

Trong luận văn này bản thân em với kiên thúc và kinh nghiệm cha đủ cộngvới thời gian không nhiều nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rấtmong nhận đợc sự góp ý của các thầy, các cô cùng các bạn để đề tài này đợchoàn chỉnh hơn

Hà Nội ngày 26 tháng 5 năm 2007

Ngời viết

Hoàng Thị Tuyết Mai

Trang 2

PHầN Mở Đầu

Lý do chọn đề tài

1 Xuất phát từ nhiệm vụ của môn tiếng Việt trong trờng học.

Từ khi xuất hiện trên trái đất, để có thể tồn tại và phát triển, loài ng ời đãkhông ngừng nhận thức thể giới xung quanh Nhờ đó loài ngời dần phát triển vànắm vững nhiều quy luật của các sự vật, hiện tợng khách quan, tích luỹ đợc trithức, kinh nghiệm, thành tựu văn hoá Sự tích lũy đó từ xa đến nay đều đợc ghilại bằng chữ viết “Ngôn ngữ là phơng tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài ng-ời” (Lê Nin), "Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của t tởng” (Mác) thiếu ngôn ngữcon ngời không thể tham gia vào cuộc sống xã hội hiện đại, vào sản xuất, vào sựphát triển của văn hóa nghệ thuật Chức năng quan trọng của ngôn ngữ đã quy

định sự cần thiết của việc nghiên cứu sâu sắc tiếng mẹ đẻ trong nhà trờng

"Trẻ em đi vào trong đời sống tinh thần của mọi ngời xung quanh và duynhất thông qua phơng tiện tiếng mẹ đẻ và ngợc lại, thế giới bao quanh đứa trẻ đ-

ợc phản ánh trong nó chỉ thông qua chính công cụ này” (K.A Usinxki) Tiếng

mẹ đẻ đóng vai trò to lớn trong việc hình thành những phẩm chất quan trọng nhấtcủa con ngời và trong việc thực hiện những nhiệm vụ trong hệ thống giáo dụcquốc dân Nắm ngôn ngữ và lời nói là điều kiện thiết yếu của việc hình thànhtính tích cực xã hội của nhân cách Không có một khoa học nào mà con ngờinghiên cứu trong tơng lai, không một phạm vi hoạt động xã hội nào lại không

đòi hỏi một sự hiểu biết sâu sắc về tiếng mẹ đẻ Trình độ trau dồi ngôn ngữ củamột ngời nào đó là tấm gơng phản chiếu trình độ nuôi dỡng tâm hồn anh ta.Chính vì vậy, trong hệ thống giáo dục Việt Nam, bậc tiểu học - một bậc học cơbản, nền tảng- tiếng mẹ đẻ là môn học trung tâm

Đặc trng cơ bản của tiếng mẹ đẻ với t cách là một môn học ở trờng tiểu

học là ở chỗ nó vừa là đối tợng nghiên cứu vừa là công cụ để học tập tất cả cácmôn học khác

Nh vậy, tiếng Việt thể hiện rõ là một môn học chính của trờng tiểu học

n-ớc ta .

Mục đích của dạy học môn tiếng Việt ở trờng tiểu học là:- Hình thành vàphát triển cho học sinh các kỹ năng sử dụng tiếng Việt: nghe, nói, đọc, viết đểhọc tập và giao tiếp trong các môi trờng hoạt động của lứa tuổi Thông qua việcdạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác t duy cho học sinh.Cungcấp cho học sinh những kiến thức sơ giảng về xã hội, tự nhiên và con ngời, vềvăn hoá, văn học Việt Nam và nớc ngoài

- Bồi dỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trongsáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con ngời Việt NamXHCN

Trang 3

Môn tiếng Việt rèn luyện cho học sinh tiếu học những kĩ năng cần thiết là

điều kiện và là phơng tiện học tập của học sinh Nói một cách khác, trẻ em muốnnắm kĩ năng học tập trớc hết cần nghiên cứu tiếng mẹ đẻ- chìa khoá của nhậnthức, của học vấn của sự phát triển trí tuệ đúng đắn

Nh vậy, sở dĩ tiếng mẹ đẻ giữ vai trò đặc biệt giữa các môn học khác trong

nhà trờng tiểu học là vì một mặt do ý nghĩa của những kiến thức phổ thông mà

môn học này đa lại cho học sinh: mặt khác những kĩ năng, kĩ xảo mà nó hìnhthành trong giờ học tiếng mẹ đẻ là những kỹ năng cằn thiết trong cuộc sống củahọc sinh, không phụ thuộc vào nghe nghiệp tơng lai của các em Với vai trò vàchức năng nh vậy, môn tiếng Việt trong trờng tiểu học đợc coi trọng và giành đ-

Đối với lớp 3, chơng trình tiếng Việt đặt ra nhiệm vụ cho phân môn tậplàm văn Phân môn tập làm văn rèn cả 4 kĩ năng: nghe, nói, đọc viết Trong giờtập làm văn, học sinh đợc cung cấp kiến thức về cách làm bài và làm các bàiluyện tập (nói, viết), xây dựng các loại văn bản và các bộ phận cấu thành vănbản Bên cạnh đó, học sinh còn tập kể lại những mẩu chuyện đợc nghe thầy, cô

kể trên lớp

Nói:

- Biết dùng lời nói phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp trong sinh hoạt gia

đình, trong các cuộc họp Đội, họp lớp và các hình thức sinh hoạt khác ở nhà ờng

tr Biết giới thiệu các thành viên, các hoạt động của tổ, của lớp ; biết kể lạimột câu chuyện đã nghe, đã đọc Nghe hiểu nội dung lời nói ý kiến thảo luậntrong các buổi sinh hoạt Nghe- hiểu và kể lại đợc nội dung các mẩu chuyệnngắn, biết nhận xét về nhân vật trong các câu chuyện

Viết:

Trang 4

- Biết viết đơn, viết tờ khai theo mẫu, viết một bức th ngắn để báo tin tức,

để hỏi thăm ngời thân, tập trình bày phong bì th hoặc kể lại một việc đã làm biết

kể lại nội dung một bức tranh đã xem, một văn bản đã đọc

- Trau dồi thái độ ứng xử có văn hoá, tinh thần trách nhiệm trong côngviệc Bồi dỡng những tình cảm lành mạnh, tốt đẹp qua nội dung bài dạy

3 Xuất phát từ nội dung dạy học và các hình thức luyện tập của phân môn tập làm văn.

a Nội dung dạy học:

- Trang bị cho học sinh một số hiểu biết và kỹ năng phục vụ học tập, đờisống hàng ngày nh: điền vào các tờ giấy in sẵn, viết th, làm đơn, tổ chức họpphát biểu trong cuộc họp, giới thiệu hoạt động của tổ, lớp, trờng, ghi chép sổtay…

- Tiếp tục rèn luyện kỹ năng kể chuyện, miêu tả: kể về một sự việc đơngiản, tả sơ lợc về ngời, vật xung quanh theo gợi ý bằng tranh, bằng câu hỏi

- Rèn luyện kĩ năng nghe thông qua các bài tập nghe –kể và các hoạt

+ Tổ chức, điều khiển cuộc họp, phát biểu trong cuộc họp

+ Kể hoặc tả miệng về ngời thân, gia đình, trờng, lớp, quê hơng, lễ hội,hoạt động thể thao văn nghệ

- Bài tập viết:

+ Điền vào giấy tờ in sẵn

+ Viết một số giấy tờ theo mẫu

Nhằm thực hiện mục tiêu “hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng

sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết), để học tập và giao tiếp trong các môi ờng hoạt động của lứa tuổi", sách giáo khoa Tiếng Việt 3 nói chung và phân mônlập làm văn nói riêng tiếp tục lấy nguyên tắc dạy giao tiếp làm định hớng cơbản Quan điểm dạy giao tiếp đợc thể 'hiện trên cả 2 phơng diện: nội dung và ph-

tr-ơng pháp dạy học

Trang 5

a Những thuận lợi:

- Nhìn chung học sinh lớp 3 về cơ bản đã đợc rèn luyện kĩ năng tập làmvăn nói, giao tiếp thông qua các tình huống cụ thể nhng đòi hỏi ở học sinh kĩnăng cao hơn

- Cấu trúc nội dung và chơng trình của phân môn tiếng Việt hay có nhiềuthuận lợi cho dạy tập làm văn theo định hớng phát triển kĩ năng giao tiếp Họcsinh đợc tăng cờng rèn luyện kĩ năng nói thông qua hình thức nghe- kể, tăng c-ờng các hình thức sinh hoạt tập thể tự nhiên nhiên họp nhóm họp tổ… rất gầngũi với các em, giúp các em rèn luyện đợc tính tự tin trớc đám đông

- Trong thời gian gần đây, việc hình thành kĩ năng dạy tập làm văn nói chogiáo viên đã đợc chú trọng thông qua các hội thi giáo viên dạy giỏi các cấp, giúpgiáo viên đợc cọ sát, có cơ hội trau dồi kinh nghiệm với đồng nghiệp

b Những khó khăn.

- Việc áp dụng chơng trình thay sách giáo khoa cho học sinh lớp 3 mới

đ-ợc áp dụng một vài năm nên khó khăn trớc hết là nhận thức của ngời dạy và ngờihọc, nhận thức của cha mẹ học sinh cha thấy hết đợc vị trí, vai trò tầm quantrọng và sự tác động qua lại của các môn học

- Trong một thời gian khá dài việc chú trọng rèn luyện kĩ năng giao tiếpcho học sinh thông qua môn tập làm văn đã bị xem nhẹ, những giáo viên cha chútrọng phát triển vốn từ và cách diễn đạt cho học sinh thông qua giờ tập làm vănmiệng mà mới chỉ dừng lại ở việc giúp học sinh có đợc một bài viết hoàn chỉnh

- Mặt khác, môn tập làm văn đòi hỏi ngời giáo viên phải có một vốn từ và

cách diễn đạt phong phú, biết cách gợi mở để từng học sinh có thể bộc lộ khiếuthẩm mỹ, khả năng rung động trớc cái hay, cái đẹp của xung quanh thông quamôn tập làm văn Vì vậy một số giáo viên có xu hớng tâm lý là ngại dạy tập làmvăn đặc biệt là tập làm văn miệng, chỉ cốt đa ra bài mẫu, câu mẫu để từ đó họcsinh có thể hoàn thành bài làm của mình Việc này đã phần nào làm giảm tínhsáng tạo, sự sinh động, khả năng rèn luyện kĩ năng sản sinh ngôn bản vốn có domôn tập làm văn đem lại cho ngời học

Xuất phát từ những lý do trên, cộng thêm với điều kiện chủ quan là tôi đã

có một số năm tìm tòi tham khảo một số phơng pháp dạy tập làm văn cho học

sinh nên trong luận văn này tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Một só biện pháp rèn luyện kỹ năng nói trong phân môn tập làm văn cho học sinh lớp 3

Trang 6

Phần nội dungChơng I Cơ sở lý luận của đề tài.

1 Cơ sở lý luận:

a Cơ sở triết học Mác- Lê nin

Triết học Mác- Lê nin là cơ sở quyết định phơng hớng chung của phơngpháp dạy học tiếng Việt Nó giúp chúng ta hiểu đợc đối tợng của khoa học ngônngữ một cách sâu sắc trang bị cho chúng ta phơng pháp nghiên cứu đúng đắn.Sau đây chúng ta xem xét một vài luận điểm của chủ nghĩa Mác- Lê nin về ngônngữ, quá trình nhận thức có ảnh hởng quan trọng, trực tiếp đối với phơng phápdạy tiếng Việt, là cơ sở lý thuyết quan trọng để giải quyết các nhiệm vụ thực tiễncủa dạy học tiếng Việt nói chung và dạy tập làm văn nói riêng

"Ngôn ngữ là phơng tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài ngời” (Lê nin).Luận điểm này không chỉ đơn thuần khẳng định ngôn ngữ là phơngtiện giao tiếp

mà còn là phơng tiện giao tiếp quan trọng nhất và là phơng tiện giao tiếp đặc

tr-ng của loài tr-ngời Khôtr-ng có tr-ngôn tr-ngữ xã hội khôtr-ng thể phát triển Mục đíchnghiên cứu ngôn ngữ trong nhà trờng là phải làm cho họ có thể sử dụng ngônngữ làm phơng tiện sắc bén để giao tiếp Vì vậy, phát triển lời nói là nhiệm vụquan trọng nhất của dạy học nói trong nhà trờng Tất cả các giờ dạy môn tiếngViệt (cả dạy đọc, viết ) phải đi theo khuynh hớng này Học sinh cần hiểu rõ ng-

ời ta nói và viết không chỉ để cho mình mà cho ngời khác nên ngôn ngữ phảichính xác, rõ ràng, đúng đắn, dễ hiểu Mặt khác vì ngôn ngữ là phơng tiện giaotiếp nên phải lấy hành động giao tiếp làm phơng tiện để dạy học tiếng Việt nóichung và môn tập làm văn nói riêng

Ngôn ngữ luôn gắn bó chặt chẽ với t duy, “ngôn ngữ là hiện thực trựctiếp của t tởng" (Mác) Ngôn ngữ là phơng tiện của nhận thực lôgic, lí tính Tduy của con ngời “không thể phát triển nếu thiếu ngôn ngữ” Việc chiếm lĩnhngôn ngữ nhằm tạo ra những tiền đề phát triển t duy Từ đây ngời ta rút ra nhữngkết luận có tính chất phơng pháp: kiến thức, kĩ năng ngôn ngữ phải đợc xem xét

nh là những yếu tố của phát triển t duy Các hệ thống dạy học tiếng Việt cần bảo

đảm mối quan hệ giữa lời nói, t duy, phải thờng xuyên luyện tập cho học sinh kỹnăng diễn đạt t tởng của mình bằng những hình thức ngôn ngữ khác nhau Trongdạy tiếng Việt phải đi từ t duy đến ngôn ngữ (ví dụ: từ một ý viết thành nhiều câukhác nhau)

Nhận thức luận của chủ nghĩa Mác- Lê nin dạy rằng: con đờng biện chứngcủa nhận thức chân lý đi qua 2 giai đoạn (nhận thức cảm tính và nhận thức lýtính), đồng thời chỉ ra thực tiễn là cội nguồn, động lực của nhận thức, là tiêuchuẩn của chân lý

Đứa trẻ nhận thức thế giới xung quanh một cách cảm tính (bằng mắt, bằngtai ) gắn với màu sắc, âm thanh cụ thể Do đó, nhiệm vụ đầu tiên của nhà trờng

Trang 7

trong dạy tiếng là phải dựa trên kinh nghiệm sống và kinh nghiệm lời nói củahọc sinh Học sinh sẽ đi từ việc quan sát tiếng nói trong đời sống của nó, thôngqua việc phân tích, tổng hợp đến khái quát hoá và từ đó quay về thực tiễn giaotiếp thể hiện sống động dới dạng nói và dạng viết Cách làm việc của học sinhvới tiếng mẹ đẻ trong nhà trờng không chỉ tuân thủ những quy luật chung củaquá trình nhận thức chân lý của loài ngời mà còn đáp ứng đợc những đòi hỏi của

lý luận dạy học hiện đại Đó là con đờng nghiên cứu, phát minh- khuynh hớngcủa phơng pháp dạy học hiện đại nói chung, của phơng pháp dạy tiếng Việt nóiriêng

Phơng pháp dạy học tiếng Việt còn dựa vào một loạt khoa học có liênquan khác Nó nghiên cứu vấn đề dạy học tiếng, đứng trớc một hiện tợng gồm 3yếu tố: Tiếng Việt, ngời học và dạy học theo phơng pháp nhất định Phơng phápdạy học tiếng Việt phải xuất phát từ chung quy luật vận động của những yếu tố

đó mới có cơ sở khoa học

Việc dạy tiếng Việt trong nhà trờng phải đặt ra mục đích cuối cùng khôngphải là trang bị cho học sinh những kiến thức về tiếng Việt mà là hình thành vàrèn luyện cho học sinh các kỹ năng sử dụng tiếng Việt làm phơng tiện giao tiếpquan trọng nhất của các em Kết quả của việc dạy học tiếng Việt trong nhà trờngchính là việc sử dụng tiếng Việt của các em nh thế nào trong giao tiếp ở nhà tr-ờng, gia đình và xã hội

b Cơ sở tâm lý học:

Quan hệ của phơng pháp dạy học tiếng Việt và tâm lý học, đặc biệt là tâm

lý học lứa tuổi rất chặt chẽ Không có kiến thức về quá trình tâm lý ở con ng òinói chung và ở trẻ em lứa tuổi tiểu học nói riêng thì không thể giảng dạy tốt đ -

ợc Phơng pháp dạy học tiếng Việt vận dụng rất nhiều kết quả tâm lý học Đó làcác quy luật tiếp thu tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo Những nghiên cứu tâm

lý cho phép xác định mức đọ vừa sức của tài liệu học tập

Mối quan hệ của phơng pháp dạy học tiếng Việt với tâm lý ngữ học, mộtkhoa học trẻ nằm giữa tâm lý và ngôn ngữ, càng nỗi rõ hơn Tâm lý ngữ học đemlại cho phơng pháp ngôn ngữ số liệu về lời nói nh một hoạt động (VD nh việcnhận định tình huống nói năng, các giai đoạn sản sinh lời nói )

c Cơ sở ngôn ngữ học:

Ngôn ngữ nói chung, tiếng Việt nói riêng có quan hệ mật thiết với phơngpháp dạy học tiếng Việt Từ mối quan hệ này có ý kiến cho rằng phơng pháp dạyhọc tiếng Việt là ngôn ngữ học ứng dụng Ngôn ngữ tiếng Việt tạo nên nền tảngcủa môn học tiếng Việt và lôgic khoa học của ngôn ngữ quyết định logic mônhọc tiếng Việt Phơng pháp dạy học tiếng Việt phải phát hiện đợc những quy luậtriêng, đặc thù của dạy học tiếng Việt Chính khoa học ngôn ngữ quy định đặcthù này

Trang 8

Những hiểu biết về bản chất của ngôn ngữ, của tiếng Việt có vai trò quantrọng trong việc định ra các nguyên tắc, nội dung và phơng pháp dạy học tiếngViệt

Ví dụ: Từ bản chất tín hiệu của ngôn ngữ, dạy học tiếng phải làm cho họcsinh nắm đợc giá trị của từng yêu tố ngôn ngữ, tính hệ thống của ngôn ngữ là cơ

sở để xây dựng các bài tập yêu cầu học sinh tìm các yếu tố khi biết một yếu tốkhác, nó cũng là cơ sở cung cấp từ theo chủ đề ở tiểu học

Các bộ phận ngôn ngữ học (từ vựng, ngữ âm ) có vai trò quan trọng trongviệc xác định nội dung và phơng pháp dạy học Ngữ âm trong quan hệ qua lạivới chữ viết là cơ sở của việc soạn thảo phơng pháp dạy đọc, viết, cơ sở của việchình thành kỹ năng đọc sơ bộ Ngữ pháp quan trọng cả trong việc phát triển lờinói vì nó đảm bảo quan hệ giữa các từ, cụm từ và việc viết câu đúng Gần đây,trong phơng pháp dạy tiếng ngời ta dựa nhiều hơn vào phong cách học (VD: ởtiểu học ngời ta dựa vào phân định ranh giới của ngôn ngữ hội thoại và ngôn ngữviết để dạy nói cho học sinh lớp 1)

Tóm lại, ngôn ngữ học nói chung, Việt ngữ học nói riêng, quy định cả nộidung dạy học, trình tự sắp xếp nội dung môn học và cả phơng pháp làm việc củathầy và trò trong giờ Tiếng Việt

d Cơ sở giáo dục học:

Phơng pháp dạy học tiếng Việt là một bộ phận của khoa học giáo dục nên

nó phụ thuộc vào chung quy luật chung của khoa học này Giáo dục học nóichung, lý luận dạy học đại cơng nói riêng cung cấp cho phơng pháp dạy họctiếng Việt những hiểu biết về các quy luật chung của việc dạy học các môn học

Có thể nói, phơng pháp dạy học tiếng Việt là một khoa học sinh ra từ sự tích hợpbiện chứng của Việt ngữ học và lý luận dạy học đại cơng Mục đích của phơngpháp dạy học tiếng Việt cũng nh các khoa học giáo dục nói chung là tổ chức sựphát triển tâm hồn và thể chất của học sinh, chuẩn bị cho các em đi vào cuộcsống trong xã hội mới

Quan hệ của phơng pháp dạy học tiếng Việt với khoa học giáo dục đợc thểhiện ở chỗ phơng pháp đợc một hệ thống giáo dục tạo ra và làm cơ sở Phơngpháp dạy học tiếng Việt hoàn toàn sử dụng các khái niệm, thuật ngữ của giáodục học Nó hiện thực hóa mục tiêu, nhiệm vụ do giáo dục học đề ra (phát triểntrí tuệ, hình thành thể giới quan khoa học, phát triển duy sáng tạo cho học sinh,giáo dục t tởng đạo đức, phát triển óc thẩm mỹ, giáo dục tổng hợp và giáo dụclao động) Trong phơng pháp dạy học tiếng Việt có thể tìm thấy các nguyên tắccơ bản của lý luận dạy học (nguyên tắc giáo dục và phát triển của dạy học,nguyên tắc vừa sức, nguyên tắc khoa học, nguyên tắc hệ thống, nguyên tắc gắnliền lý thuyết với thực hành, nguyên tắc trực quan, nguyên tắc tích cực hoá quátrình nhận thức của học sinh, nguyên tắc tiếp cận cụ thể và phân hoá trong quá

Trang 9

trình dạy học ) Phơng pháp dạy học tiếng Việt vận dụng nguyên tắc này theo

- Tập làm văn có tính chất thực hành toàn diện, tổng hợp và sáng tạo Tậplàm văn mang tính chất thực hành vi nhiệm vụ chủ yếu của nó là hình thành chohọc sinh kỹ năng nói và viết văn bản Mang tính toàn diện, tổng hợp vì tập làmvăn đợc xây dựng trên thành tựu của nhiều môn khoa học, trong đó nổi bật là lýthuyết hoạt động lời nói, các hiểu biết về ngôn ngữ pháp văn bản, logic hoặc !ýluận văn học , vì tập làm văn đòi hỏi học sinh huy động vốn kiến thức nhiềumặt từ các hiểu biết về cuộc sống đến tri thức về văn học, khoa học thờng thức ,vì tập làm văn đòi hỏi học sinh không chỉ vận dụng các hiểu biết lý luận mà còncả cảm xúc tình cảm khi làm bài; Vì tập làm văn sử dụng nhiều loại kỹ năng

từ kỹ năng dùng từ đặt câu đến kỹ năng dựng đoạn Các kỹ năng này là do nhiềuphân môn của môn tiếng Việt rèn luyện

- Bài tập làm văn còn là sản phẩm không lặp lại của mỗi học sinh trớcnhững đề tài cụ thể Điều đó giải thích cho tính sáng tạo của tập làm văn

- Tập làm văn giúp cho học sinh sau quá trình luyện tập lâu dài và có ýthức, học sinh dần dần nắm đợc cách viết và cách nói các bài văn theo nhiềuphong cách khác nhau

- Tập làm văn góp phần bổ sung kiến thức, rèn luyện t duy và hình thànhnhân cách cho học sinh

Ví dụ: Để làm đợc đề bài của tuần 12: "Nói, viết về cảnh đẹp đất nớc,(dựa vào tranh, ảnh), kiến thức của các em đợc mở rộng Do diễn đạt các ýthành đoạn, trình độ t duy và ngôn ngữ của các em đợc nâng lên Bên cạnh đóqua việc quan sát tranh ảnh, qua việc quan sát để miêu tả tình cảm gắn bó yêumến thiên nhiên đợc nảy nở Nói cách khác, con ngời, nhân cách các em pháttriển qua việc học tập làm văn

Trang 10

2 Những yêu cầu cơ bản của việc dạy tập làm văn lớp 3:

Rèn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết Trang bị cho học sinh một số hiểu biết

và kỹ năng phục vụ học tập và đời sống hàng ngày Điền vào giấy tờ in sẵn, viết

th, làm đơn, tổ chức họp và phát biểu trong cuộc họp, giới thiệu hoạt động của

tổ, lớp) trờng, ghi chép sổ tay

- Tiếp tục rèn kỹ năng kể chuyện và miêu tả: kể sự việc đơn giản, tả sơ lợc

về ngời, vật xung quanh theo gợi ý bằng tranh, bằng câu hỏi

- Rèn luyện kỹ năng nghe thông qua các bài tập nghe- kể và các hoạt độnghọc tập trên lớp

3 Về chơng trình tập làm văn lớp 3:

Mỗi tuần có 1 tiết, mỗi tiết 40 phút Chơng trình đợc phân phối trong 35tuần Ngoài ra học sinh còn đợc rèn luyện kỹ năng nói qua các tiết kể chuyện,tập đọc

- Về tập làm văn nói: học sinh đợc học, đợc luyện tập cả độc thoại và hộithoại (kể một câu chuyện ngắn đã nghe, tổ chức các cuộc họp ) Để phù hợp với

đặc điểm tâm lý và trình độ nhận thức của học sinh chơng trình hớng chủ yếuvào các cuộc thoại đơn giản và có tính chất nghi thức Đề tài các cuộc hội thoại

đợc lựa chọn trong cuộc sống nhà trờng, cuộc sống gia đình, cuộc sống xã hộitrong phạm vi hẹp (cộng đồng dân ở làng xã, phờng xóm )

- Về tập làm văn viết: học sinh bớc đầu đợc làm quen với dạng sản sinhvăn bản ngắn (viết đoạn văn), bớc đầu nắm đợc cấu trúc một đoạn văn, cách diễn

đạt mối quan hệ giữa các ý trong đoạn Ngoài ra các em còn đợc làm quen vớimột số văn bản hành chính đơn giản (tập điền vào các văn bàn cho sẵn)

4 Tìm hiểu nội dung phân môn tập làm văn trong sách giáo khoa tiếng Việt lớp 3

Qua quá trình tìm hiểu sách giáo khoa tiếng Việt lớp 3, tôi nhận thấy rằngcác đề tập làm văn không chia thành dạng, kiểu bài nh chơng trình cũ mà nó đợcphân phối theo chủ đề 35 tuần học trừ 4 tuần ôn tập giữa học kỳ và cuối học kỳ,các tuần còn lại đợc phân phối 2 tuần một chủ đề, riêng chủ đề “ngôi nhà chung"

ở học kỳ 2 đợc học trong 3 tuần Các chủ đề này đều rất gần gũi với học sinh nh:gia đình, môi trờng, cộng đồng, trờng học Trong mỗi chủ đề, các nội dung củatiết tập làm văn đợc xây dựng gắn chặt với tên chủ đề và có sự hỗ trợ đắc lực củacác phân môn khác nh tập đọc, từ và câu kể chuyện có thể liệt kê một số dạngbài tập làm văn ở lớp 3 nh sau:

Trang 11

- Kể lại một sự kiện đã đợc chứng kiến.

- Ghi chép sổ tay Trong đó thề loại nói theo chủ đề chiếm tỉ lệ cao (10/35 tuần) Nh vậy cóthể thấy chơng trình tập làm văn lớp 3 giúp học sinh rèn luyện kỹ năng nói, giaotiếp là chủ yếu Sau đó các em sẽ tập diễn đạt những điều đã đợc trao đổi với bạndới dạng văn bản viết (đoạn văn) Đây là một cấu trúc chơng trình hợp lý, chặtchẽ, phù hợp với lứa tuổi, vì ở lứa tuổi này các em đang tích luỹ vốn từ bằng hìnhthức nghe- nói là chủ yếu

5 Mối quan hệ giũa tập làm văn, tập đọc, kể chuyện

a Về phơng diện ngôn ngữ:

Khi sử dụng tiếng Việt, học sinh cần đợc luyện tập thành thạo trên 2

ph-ơng diện: hiểu, tiếp nhận đúng, đủ thông tin và diễn đạt chính xác và đầy đủnhững gì cần nói ra viết ra

- Muốn giao tiếp có hiệu quả, ngời nghe hoặc đọc phải hiểu đúng và đủnội dung, ý nghĩa thông tin của các ngôn bản nghe và đọc ở tiểu học, khi họccác phân môn tập đọc, kể chuyện, lúc nghe cô giảng bài khi nghe kể chuyện, đọctruyện học sinh đợc rèn luyện đễ lĩnh hội ngôn bản thông qua nghe hiểu và đọchiểu nội dung

- Khi tham gia giao tiếp, mỗi ngời có nhu cầu diễn đạt ý nghĩ, nội dungcần trao đổi Nói hoặc viết không đầy đủ, chính xác các nội dung cần thiết,nguời nghe hoặc đọc sẽ không hiểu đúng và đủ các thông tin cần trao đổi

Trong môn tiếng Việt khi trả lời câu hỏi trong bài học, tập đọc, khi tập kể

chuyện, đặc biệt là khi học tập làm văn, học sinh đợc luyện tập đễ có thể sảnsinh ngôn bản có hiệu quả trong giao tiếp Giữa lĩnh hội ngôn bản và sản sinhngôn bản có mối quan hệ khăng khít

Các kết luận rút ra:

- Quan hệ giữa tập làm văn, tập đọc, kể chuyện là mối quan hệ giữa các

kỹ năng sử dụng tiếng Việt

- Tập đọc, kể chuyện có nhiệm vụ chủ yếu là rèn luyện kỹ năng, kỹ năng

đọc và đọc hiểu, nghe và nghe hiểu các ngôn bản nh bài tập đọc, câu chuyện kể.Bên cạnh đó, các phân môn này cũng góp phần rèn luyện kỹ năng sản sinh ngônbản qua việc trả lời câu hỏi hoặc tập kể lại câu chuyện

- Tập làm văn có nhiệm vụ chủ yếu là rèn luyện kỹ năng sản sinh ngônbản nói và viết Không học tốt tập làm văn, kỹ năng nói và viết ngôn bản của họcsinh sẽ bị hạn chế

Ngoài mối quan hệ trên, tập đọc, kể chuyện còn là kho tàng quý, cung cắpcho học sinh vốn từ phong phú, đa dạng các ví dụ điển hình về nghệ thuật dùng

từ đặt câu, viết đoạn để các em vận dụng vào bài tập làm văn Khi đọc các bài

Trang 12

văn các bài thơ miêu tả hay nh: “ Nhớ lại buổi đầu đi học", "Những chiếcchuông reo", “Anh đom đóm", "Âm thanh thành phô", "Hội đua voi ở TâyNguyên” các bài kể chuyện sinh động gợi cảm nh “Chiếc áo len, “Ngời mẹ”,

"Ngời lính dũng cảm" , các em sẽ học đợc cách dùng tính từ, động từ; học đợccách dùng phép so sánh nhận hoá để chắp thêm cánh cho trí tởng tợng, liên t-ởng khi làm văn Do đó tập làm văn đợc thừa hởng và cần phải tận dụng vốn từvựng nghệ thuật dùng từ, đặt câu mà học sinh thu nhận đợc từ các bài tập đọc,

kể chuyện

b Về phơng diện nhận thức, tình cảm:

Các bài tập đọc, kể chuyện do đặc điểm đa dạng về thể loại, về đề tài nên

có khả năng cung cấp thêm cho học sinh những vốn sống, bồi dỡng cảm xúclành mạnh, trong sáng Chẳng hạn các bài tập đọc "Nắng phơng Nam", "Ngờicon của Tây Nguyên", "Ông tổ nghề thêu', "Sự tích lễ hội Chử Đồng Tử" đã mở

ra trớc mặt học sinh cuộc sống muôn màu muôn vẻ về phong tục tập quán,phong cảnh trên đất nớc ta và nhiều nớc trên thế giới Những tình cảm nhânhậu, yêu thơng con ngời, chan hoà cùng cỏ cây, muôn loài những tình cảmgiàu chất nhân văn từ các bài tập đọc, các câu chuyện về danh nhân văn hoá,khoa học nh dòng suối mát lành làm tâm hồn các em thêm phong phú, cao đẹp.Chính những tình cảm cao đẹp đó kết hợp với vốn sống trực tiếp giúp các em cóthêm hiểu biết và cảm xúc để làm bài tập làm văn miêu tả, kể chuyện

Cấu trúc chơng trình sách giáo khoa tiếng Việt lớp 3 chơng trình mới còn

có đặc điểm u việt hơn chơng trình cũ ở chỗ 1 tuần có 3 tiết tập đọc trong đó có

1 bài tập đọc gắn với nội dung của tiết kể chuyện Nh vậy có thuận lợi là các emvừa đợc tìm hiểu ngữ liệu để đọc hay, để cảm thụ, đồng thời qua nội dung cảmthụ đợc sẽ tập diễn đạt lại câu chuyện bằng ngôn ngữ của mình Mối quan hệnày có thể nhận thấy rất rõ trong cấu trúc chơng trình sách giáo khoa:

6 Quan hệ giữa tập làm văn với luyện từ và câu:

Chơng trình luyện từ câu và câu ở lớp 3 có những nội dung chủ yếu là hệthống hoá, tích cực hoá và mở rộng vốn từ cho học sinh qua các bài tập theo chủ

điểm Vốn từ và chủ đề “Thiếu nhi”, “Gia đình”, “Trờng học”, “Cộng đồng”,

“Quê hơng”… ợc nhắc lại, giải nghĩa, đợc đa vào các tình huống cụ thể để các đ

em tập sử dụng Nhờ thế vốn từ của các em tăng lên và cùng với nó, cách nghĩtheo hệ thống, theo sự phân hoá lại…hình thành giúp các em có thêm công vụ về

t duy để khám phá những giá trị mới mẻ của vốn từ tiếng Việt, tự nhân vốn từcủa mình lên thông qua hoạt động giao tiếp và vận dụng vào bài tập làm văn

Chơng trình luyện từ và câu là những kiến thức sơ giản về cách sử dụngdấu câu danh từ chỉ hoạt động, chỉ đặc điềm, các biện pháp nghệ thuật so sánh,nhân hoá Những kiến thức này giúp cho học sinh không chỉ dùng tiếng Việtdựa trên cảm quan của ngời bản ngữ mà dần có ý thức, có cơ sở lý thuyết Điều

Ngày đăng: 23/05/2021, 17:55

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w