Hoạt động chủ yếu của hệ thần kinh là hoạt động phản xạ. Phản xạ là phản ứng trả lời của cơ thể lên sự biến đổi của môi trường bên trong hay môi trường bên ngoài cơ thể, dưới tác dụng [r]
Trang 1SINH LÝ HỆ THẦN KINH TRUNG ƯƠNG
I - Hoạt động phản xạ của hệ thần kinh
Hoạt động chủ yếu của hệ thần kinh là hoạt động phản xạ Phản xạ là phản ứng trả lời của cơ thể lên sự biến đổi của môi trường bên trong hay môi trường bên ngoài cơ thể, dưới tác dụng của các kích thích lên thụ quan
Môi trường sống luôn thay đổi, nhờ có phản xạ mà cơ thể thích nghi được Muốn thực hiện phản xạ phải có 1 cung phản xạ Cung là con đường mà các xung thần kinh chạy từ thụ quan đến tác quan Cung có nhiều tế bào, nhưng ít nhất cũng phải có 2 nơron là nơron cảm giác và nơron vận động nối với nhau bằng xináp Thực tế có nhiều nơron trung gian Trung ương thần kinh là phần quan trọng nhất của cung
II - Các đặc điểm hưng phấn trong trung ương thần kinh
2.1.Tính dẫn truyền một chiều
Đó là sự dẫn truyền qua xináp - dẫn truyền nơron cảm giác đến nơ ron vận động Thí nghiệm : nếu kích thích vào dây cảm giác ở rễ sau thần kinh tuỷ, thì hưng phấn xuất hiện ở rễ trước của dây vận động ; nếu ngược lại, kích thích ở
rễ trước thì phần rễ sau (dây cảm giác) không xuất hiện điện thế hoạt động Chứng tỏ xung khi qua xináp chỉ đi theo một chiều
2.2 Hiện tượng cộng các xung động
a) Cộng hưng phấn theo thời gian:
Trong thí nghiệm trên một chế phẩm thần kinh cơ ếch, nếu ta kích thích một lực dưới ngưỡng thì gây hưng phấn (cơ không co), nhưng nếu liền ngay sau khi kích thích yếu đó, ta kích thích cùng với lực dưới ngưỡng thì có sự co cơ trả lời Xetrenốp đã giải thích rằng : kích thích đầu dù không gây hưng phấn lan truyền nhưng có xảy ra hưng phấn cục bộ làm cho tính hưng phấn của tế bào thần kinh tăng lên nên khi kích thích sau rơi đúng vào thời điểm đang hưng phấn cục bộ
đó thì 2 hưng phấn đó cộng lại làm cho kích thích qua khỏi ngưỡng để có hưng phấn lan truyền Nếu kích thích sau xảy ra chậm thì không gây được hưng phấn,
vì kích thích sau rơi không đúng vào thời điểm hưng phấn của kích thích trước gây ra Tất nhiên tính hưng phấn của thần kinh càng cao thì ngưỡng kích thích
Trang 2càng thấp Nơron cảm giác có tính hưng phấn cao gấp 3 lần so với nơron vận động
b) Cộng hưng phấn theo không gian
Khi có nhiều kích thích dưới ngưỡng được xảy ra đồng thời và ở nhiều vị trí
có thể gây hưng phấn Ví dụ : 1 sợi tóc không làm ta có cảm giác khi chạm vào gót chân, nhưng nếu có nhiều sợi hợp lại như một bàn chải chạm vào cả nửa bàn chân - ta có ngay cảm giác xúc giác
2.3 Hiện tượng thay đổi nhịp kích thích
Bất cứ một kích thích nào tác động đến thần kinh đều phải chịu sự thay đổi khi đi qua hệ nơron trung gian
Ví dụ, khi ta kích thích ở điểm D của đường cảm giác A, từ cảm giác A đến vận động B phải qua nhiều nơron trung gian, khi xung động đến bộ phận C (tác quan - cơ quan trả lời phản ứng) thì nhịp đổi hẳn ở D kích thích với tần số 550
ta ghi được ở dao động kế O gắn trên dây vận động với tần số 70 nhịp Nếu kích thích ở D chỉ 200 nhịp, thì ở dao động kế cũng ghi được 70 nhịp Còn nếu ta kích thích ở D với tần số 1 kích thích trong 1 giây thì trên dao động kế ghi được
40 nhịp Như vậy, phần lớn số xung động chuyển đến dây vận động không phụ thuộc vào tần số kích thích, nhưng đối với một kích thích một nhịp bất kỳ nào
hệ thần kinh trung ương vẫn chuyển ra hàng loạt xung đến cơ quan trả lời Bởi vậy, trong cơ thể thường thấy quá trình co cơ ở dạng co rung trơn (co cứng) chứ không thấy hiện tượng co cơ đơn độc (co cơ đơn độc chỉ khi cơ tách khỏi hệ thần kinh trung ương)
2.4 Thời gian dẫn truyền xung qua thần kinh trung ương
Từ khi kích thích đến khi có phản ứng trả lời phải trải qua một thời gian nhất định, gọi là thời gian tiềm tàng hay thời gian phản xạ Thời gian đó bao gồm các loại sau :
- Thời gian từ khi kích thích đến khi xảy ra hưng phấn của bộ phận nhận cảm (A)
- Thời gian hưng phấn truyền qua sợi cảm giác (B)
- Thời gian hưng phấn truyền qua các nơron trung gian (C)
- Thời gian hưng phấn truyền qua dây vận động (D)
Trang 3- Thời gian qua xináp thần kinh - cơ (Đ)
- Thời gian hưng phấn ở bộ phận trả lời phản ứng (tác quan - E)
Vậy thời gian tiềm tàng P = A + B + C + D + Đ + E
2.5 Tính chất tác dụng kéo dài của kích thích, hay còn gọi là hiện
tượng tác dụng hậu quả của hưng phấn
Khi ngừng kích thích nhưng hưng phấn vẫn còn truyền qua các nơron trung gian Ví dụ : tay chạm phải lửa, ta đã rút tay ra khỏi mà sau đó vẫn còn cảm giác nóng - làm các cơ tay vẫn thể hiện hoạt động co rút Chứng tỏ kích thích nóng vẫn còn truyền qua các nơron trung gian đến thần kinh vận động và đến tác quan
2.6 Hiện tượng ức chế
Năm 1962 Xetrenốp đã tìm ra hiện tượng ức chế ở trong thần kinh trung ương Cụ thể ở não trung gian Khi kích thích bằng 1 tinh thể muối ăn vào não trung gian - gây hưng phấn ở đó, làm xung động truyền xuống tuỷ và gây cản trở phản xạ tuỷ - làm phản xạ co chân bị kìm hãm Nếu rửa sạch muối, thời gian phản xạ trở lại như cũ
III - Quá trình hưng phấn và ức chế trong hệ thần kinh trung ương
Hệ thần kinh trung ương thực hiện chức phận của nó bằng 2 quá trình đối lập : hưng phấn và ức chế Đó là hai mặt của một quá trình thần kinh Chúng điều hoà, hỗ trợ và thăng bằng lẫn nhau Hiện tượng ức chế có thể xảy ra ở bất
cứ phần nào của hệ thần kinh trung ương khi có hai hay một số kích thích xảy
ra đồng thời Lúc đó phản ứng nào có ý nghĩa sinh học cấp thời thì trung ương thần kinh tập trung điều khiển để có phản ứng xảy ra, và cũng làm ức chế phản
xạ khác chưa cần thiết cho lúc đó
Có một số nhà nghiên cứu cho rằng, trong hệ thần kinh trung ương có những cấu trúc đặc biệt chuyên làm nhiệm vụ ức chế Nhưng cũng có quan điểm cho rằng, ức chế trong hệ thần kinh trung ương do sự mâu thuẫn ở các quá trình hưng phấn tạo ra hay do sự kéo dài của hưng phấn quá mức Theo quan điểm 1, người ta đã phát hiện ra các tế bào Renso chuyên làm nhiệm vụ ức chế,
nó nằm xen kẽ với các tế bào hưng phấn ở tuỷ cũng như ở các phần khác nhau của não Ví dụ, ở tuỷ sống các nơron vận động trước khi ra khỏi sừng trước đã
Trang 4phát ra một hay một số nhánh kết thúc trên các tế bào Renso, sợi trục của tế bào Renso lại kết thúc trên các nơron vận động bằng những xináp ức chế Nhờ vậy
mà nơron vận động tránh được hưng phấn quá mức Chất môi giới ở xi náp Renso không phải là acetycholin adrênalin, mà là các axit béo, γ aminobytyric
3.1 Bản chất của quá trình ức chế
a) ức chế sau xináp
Diễn ra ở màng sau xináp ở xináp ức chế, chất môi giới là axit aminobutyric Khi có xung đến, nó được giải phóng ra và đập vào màng sau ở đây quá trình thấm Na+ bị giảm xuống - tăng Cl- và K+ đi ra, tạo ra hiện tượng phân cực - nên hình thành điện thế ức chế sau xináp, làm ức chế nguồn tin cần lan truyền Điện thế ức chế sau xináp xảy ra với thời gian ngắn Đối với một số kích thích đơn độc thì thời gian đó không quá 10 giây Chất Stricnin có thể loại
bỏ ức chế này Chất này có khả năng gây hiện tượng mất phân cực để xuất hiện điện thế hoạt động nhưng cũng xảy ra thời gian ngắn
b) ức chế trước xináp
Chẳng hạn có xung thần kinh theo sợi 1 đến gây hưng phấn ở tế bào A (hình 36) và các xung theo sợi 2 đến gây hưng phấn ở tế bào ức chế B, tại B sẽ xuất hiện các xung ức chế đi đến sợi trục C làm ức chế ngay vùng trước, ngăn
cản quá trình dẫn truyền
c) ức chế bất lợi nhất (Pessimum)
Đây là dạng ức chế không có cấu trúc nào tham gia Nó xảy ra do tác dụng của nhiều xung (quá mức) chạy đến màng trước xináp, làm cho màng trước không tiết được chất môi giới - gây ức chế
3.2 Sự phân bố thần kinh đối lập của các phản xạ có phối hợp
Sheringtơn đã phát hiện ra rằng khi có một kích thích tác động vào một dây thần kinh thì ức chế hoạt động dây thần kinh đối lập (hiện tượng này do tính chất cảm ứng âm gây ra) Trong động tác đi bộ ta thấy rõ điều đó Khi chân trái
co, thì cơ co co, cơ duỗi giãn, còn chân phải ở trạng thái chưa nhấc lên - thì cơ
co giãn, cơ duỗi co Hiện tượng cảm ứng còn có loại theo thời gia, khi một hưng phấn truyền đến cơ - cơ co, khi hưng phấn đi qua thì ức chế lại đến - cơ giãn
Trang 5Cảm ứng theo không gian là hiện tượng khi có sự ức chế và hưng phấn cùng một lúc xảy ra của các nhóm cơ đối lập ở trên Như vậy những hoạt động nào của cơ thể do cảm ứng qua lại thì diễn ra tuần tự đều đặn Ví dụ nuốt và thở, đi bộ, đi xe đạp Đấy là chức năng của tuỷ, nếu cơ não tham gia thì tính chất tuỳ ý rõ rệt, ví dụ đang đi bình thường thấy vũng nước - co hai chân nhảy qua, hoặc có thể tập thở sâu, dài, nín thở…
3.3 Nguyên tắc con đường chung sau cùng của Sheringtơn
Mỗi loại dây cảm giác chuyên truyền một loại cảm giác nhất định Ví dụ, cảm giác thị giác do dây thị giác truyền - Trái lại các dây vận động thì không truyền riêng lẻ, không chuyên chức như sợi cảm giác Mỗi nơron vận động của một phản xạ nào đó là một con đường công cộng trên đó tập trung nhiều xung động từ nhiều sợi cảm giác khác nhau Đường vận động đó gọi là con đường chung sau cùng Và cách truyền như vậy gọi là nguyên tắc con đường chung sau cùng của Sheringtơn Nó là con đường chung sau cùng của nhiều cung phản
xạ Ví dụ, từ nhiều kích thích bên ngoài như ánh sáng khó chịu (thị giác), ngửi mùi khó chịu (khứu giác), da mặt chạm phải hơi nóng (xúc giác)… đều thể hiện động tác quay mặt sang hướng khác Mặt khác một nơron cảm giác liên hệ với rất nhiều nơron vận động Ví dụ, khi nghe nói có thú dữ thì có thể chạy trốn, hoặc cầm vũ khí chống lại, hoặc sợ hãi mà kêu khóc, ngất xỉu Chứng tỏ chỉ có thính giác hưng phấn mà nơron vận động tay, chân, mắt, thanh quản… hoạt động
3.4 Hiện tượng khuếch tán và tập trung trong hệ thần kinh trung ương
Khi có kích thích gây hưng phấn hay ức chế và tuỳ vào lực kích thích đó
mà xảy ra hiện tượng khuếch tán hưng phấn hay khuếch tán ức chế Trái lại với hiện tượng khuếch tán là hiện tượng tập trung, đó là quá trình thu hẹp lại dần khoảng không gian hưng phấn hay ức chế vào nơi xuất phát của chúng Như vậy, bất kỳ một quá trình thần kinh nào, hưng phấn hay ức chế, đầu tiên diễn ra quá trình khuếch tán sau đó đến quá trình tập trung Đó là quy luật hoạt động của thần kinh trung ương
Hiện tượng khuếch tán rộng hay hẹp phụ thuộc vào lực kích thích
Trang 6Ví dụ : lấy kim chích nhẹ vào chân con mèo thì chỉ có bàn chân con mèo co lại, nếu chích mạnh hơn - làm đầu gối sẽ co và khi chích mạnh hơn nữa thì co khớp bẹn
3.5 Nguyên tắc ưu thế của Ukhtomxki
Khi có 1 cứ điểm hưng phấn mạnh thì nó có khả năng thu hút về nó những hưng phấn khác yếu hơn xảy ra đồng thời làm cho nó càng có hưng phấn mạnh thêm và đồng thời các vùng xung quanh bị ức chế đi Bản chất của quá trình đó
là do quá trình cảm ứng âm Cứ điểm hưng phấn mạnh là cứ điểm ưu thế Ví dụ,
ta đang ngồi học bỗng có tiếng nổ lớn gần đó - làm ta ngừng học để chạy ra xem có chuyện gì
3.6 Nguyên tắc mối liên hệ ngược của Sheringtơn
Tức là mối liên hệ từ các cơ quan hoạt động có các đường thần kinh hướng tâm trở về trung ương thần kinh, gọi là dòng xung động thần kinh hướng tâm thứ cấp Nó các tác dụng để trung ương thần kinh điều chỉnh cường độ phản xạ cho chính xác, nghĩa là cần tăng hoặc giảm, hay giữ mức cũ
IV - Sinh lý tuỷ sống
Tuỷ sống là một bộ phận của thần kinh trung ương nằm trong ống xương sống Tuỷ vừa là trung ương phản xạ vừa là bộ phận dẫn truyền Đường dẫn truyền lên phân bố ở cột sau và cột bên, đường dẫn truyền xuống phân bố ở cột trước và cột bên
4.1 Chức năng phản xạ của tủy
Từ tủy, các dây thần kinh phổ biến đến hầu hết các cơ xương, trừ các cơ ở
cổ và đầu do thần kinh não phổ biến đến Tất cả các phản xạ của tủy là phản xạ không điều kiện (bẩm sinh) Thí nghiệm trên con ếch tủy (ếch đã bị cắt ở phần đầu não ) - khi nhúng chân vào axit - chân co, chứng tỏ quá trình đó phải đi qua một cung phản xạ cố định (bẩm sinh) Từ thụ quan (da chân) - đến thần kinh cảm giác - đến trung ương thần kinh ở tuỷ - thần kinh vận động - cơ quan thực hiện phản ứng (làm co chân) Nếu thí nghiệm đó tiến hành trên cơ thể ếch nguyên vẹn thì phản xạ tuỷ đi từ vỏ não Nhưng đối với phản xạ trương lực thì trên con ếch nguyên vẹn thể hiện mạnh hơn là nhờ quá trình điều khiển từ não
Trang 7Do ảnh hưởng của não mà phản xạ tuỷ có thể bị mất đi hoặc tăng cường thêm (do hoạt động của hệ thần kinh cao cấp) Lấy ví dụ : tay ta sẽ co giật mạnh nếu ai chích, nhưng nếu ta ốm phải tiêm thuốc thì ta không co tay lại Hoặc ở đứa trẻ bị tiêm quá nhiều, ta chỉ cần đưa cho thấy ống tiêm nó đã khóc thét như
bị tiêm vậy
Ngoài ra, ảnh hưởng của não đến tuỷ còn thể hiện hiện tượng choáng tuỷ
Ví dụ : khi vật thí nghiệm bị cắt ngang ở cổ hoặc người bị thương ở cột sống thì các cơ mất hết khả năng trương lực, mất phản xạ, huyết áp giảm đột ngột Như vậy khi bị mất não con vật và người mất các xung từ não đến hiệp trợ củng cố cho tuỷ Bấy giờ trên con vật bị mất não đó, nếu ta cắt thêm một lần nữa nhưng
ở phía dưới nhát cắt trước thì hiện tượng choáng tuỷ không còn nữa Lúc đó các phản xạ tuỷ lại được tăng cường
Để kiểm tra xem tuỷ còn lành mạnh không, người ta đã thử phản xạ da bàn chân - Lấy que kéo nhẹ từ gót bàn chân lên ngón út, nếu thấy 5 ngón đều co quắp thì chứng tỏ tuỷ bình thường Nếu 5 ngón đó lật ngược lên - chứng tỏ tuỷ
bị tổn thương hoặc chưa có phản xạ hoàn thiện Dấu hiệu 5 ngón chân lật ngược lên gọi là dấu hiệu Babinskin ở trẻ em do tuỷ sống chưa phát triển hoàn thiện
mà thường gặp dấu hiệu đó
4 2 Chức năng dẫn truyền của tuỷ
a) Các thông tin thu nhận được từ các thụ quan truyền lên phần cao theo các
đường đi lên, đường lên phân bố ở cột sau và cột bên của tuỷ Mỗi loại cảm giác truyền theo một đường nhất định Các sợi đó hợp lại thành bó sợi:
- Bó Goll và bó Burdach sau khi qua hành tuỷ thì bắt chéo - nó truyền các xung giác
- Bó Dezơrin hay còn gọi là bó tuỷ đồi thị - bắt chéo ở tuỷ rồi chạy thẳng lên đồi thị - đến vỏ não - đưa cảm giác đau và nóng ở bệnh nhân bị mất đường chạy chéo (vì hóc tuỷ) làm mất phản xạ đau và nóng
- Bó Flechxic hay còn gọi là bó tuỷ tiểu não lên thẳng
- Bó Gauơ, hay tuỷ tiểu não bắt chéo Hai bó này chuyển lên não các cảm giác trương lực cơ, để điều hoà trương lực
b) Đường vận động truyền xuống
Trang 8Nhằm truyền các xung đột từ phần cao xuống đến các nơron vận động ở sừng trước của tuỷ
Gồm hai con đường lớn (truyền xuống) :
- Đường bó tháp
- Đường ngoài bó tháp
+ Đường bó tháp gồm những nơron vùng thuỳ trán đi xuống đến hành tuỷ
thì chia đôi : Một phần đến dải chất trắng phía trước, sau đó chéo qua sừng trước đối diện để tiếp xúc với các nơron vận động đó để đến các cơ quan (tác quan) Gọi là đường tháp thẳng, vì nó chạy xuống đến tuỷ mới bắt chéo Các đường này có đường kính lớn nên vận tốc chuyển xung lớn Đường tháp chéo là đường từ vỏ não xuống đến hành tuỷ thì bắt chéo, rồi chạy thẳng xuống tuỷ đến cột trước và cột bên để nối với các nơron vận động Do sự bắt chéo đó mà khi kích thích ở bán cầu này thì gây hoạt động ở nửa thân bên kia Các đường bó tháp đảm bảo những cử động tuỳ ý
+ Đường ngoài bó tháp : Các đường này điều khiển những vận động không
tuỳ ý và những phản xạ thăng bằng Các đường này phát sinh từ các vùng dưới
vỏ gồm 2 bó :
* Bó tiền đình tuỷ- xuất phát từ hành tuỷ ở ngay nhân Đêtơ, phân bố xuống các nơron vận động, nhằm bảo đảm trương lực, tư thế của cơ thể
* Bó nhân đỏ tủy, xuất phát từ nhân đỏ ở phía trên cuống đại não Sau đó chạy sang phía đối diện, rồi chạy thẳng xuống sừng trước tủy Nhằm điều hoà trương lực cơ vì nó đối lập (về chức năng) với bó tiền đình tủy Nếu cắt bó này thì gây hiện tượng "cứng mất não", tất cả các cơ đều ở trạng thái trương lực
V - Sinh lý hành tuỷ
Hành tuỷ nối tiếp với tủy sống cho đến não cầu (cầu Varôn) Hai phần này gọi là não sau Nó đảm bảo những phản xạ căn bản của sự sống
ở chất xám của hành tủy phát xuất các dây thần kinh não như dây số IX - dây lưỡi hầu ; dây số X - dây phế vị ; dây XII - dây lưỡi ; dây số VI - dây vận ngoại nhãn cầu ; dây số VII - dây mặt ; dây VIII - dây thích giác
Hành tủy đảm nhận chức năng dẫn truyền xung và chức năng phản xạ Tất
cả các đường truyền xuống, truyền lên từ tủy đến não (vỏ não) đều đi qua hành
Trang 9tủy Trong hành tủy có các trung khu hô hấp, tim mạch, tiêu hoá, tiết mồ hôi, điều khiển hoạt động của cơ mặt, nhai, bú, nuốt, nôn mửa, hắt hơi, ho… Ngoài
ra, nó còn tham gia phản xạ định hướng trong không gian của mắt, tai và điều hoà trương lực cơ
ở vật thí nghiệm, nếu cắt não ở phía trên hành tủy - gọi là vật "cương cứng mất não" Lúc đó ta đã cắt đường liên lạc giữa nhân đỏ và hành tủy - xuất hiện trạng thái trương lực tối đa của các cơ Lúc đó các cơ duỗi và cơ co đều co Nếu lát cắt về phía dưới hành tủy thì không xuất hiện hiện tượng đó Như vậy, từ nhân đỏ đến nhân tiền đình, có những xung tới làm cho hưng phấn trương lực của nhân tiền đình (Đêtơ) giảm xuống Khi cắt hoặc phá nhân đỏ, nhân tiền đình không bị kìm hãm, càng phát ra những xung đến rễ trước - Các nơron vận động càng hưng phấn - các cơ đều cứng (cơ duỗi và cơ co đều co) Như một quy luật khi cơ co căng làm cho các thụ quan bản thể càng hưng phấn càng xuất hiện nhiều xung theo đường cảm giác bản thể mà vào tủy lên nhân Đêtơ - lại càng kích thích để nhân Đêtơ càng hưng phấn… cứ như vậy mà trạng thái trương lực của tủy và tiền đình vẫn giữ cho trạng thái "cứng mất não" vẫn tiếp diễn Nếu cắt các rễ trước làm mất xung bản thể hướng tâm - sẽ không có hiện tượng "cứng mất não" nữa
VI - Não giữa
Não giữa gồm cuống đại não và củ não sinh tư (ở đó não gồm 4 thuỳ) là phần nối từ cầu Varôn đến đồi thị ở não giữa có các nhân phát ra đôi thần kinh
số III (dây vận chung nhãn cầu) có chất đen, nhân đỏ và củ não sinh tư
Hai thuỳ trước của củ não sinh tư là những trung khu thị giác sơ cấp đảm bảo cho các phản xạ định hướng ánh sáng Hai thùy sau là trung khu thính giác
sơ cấp để định hướng âm thanh (vểnh tai, xoay đầu…) và còn thực hiện một số phản xạ thuộc hệ thần kinh thực vật như thay đổi nhịp tim Thay đổi áp lực động mạch
- Chất đen có tác dụng phối hợp các động tác nuốt, nhai và điều hoà trương lực
- Nhân đỏ có tác dụng điều hoà trương lực cơ khi liên hệ với nhân tiền đình
VII Đồi thị - não trung gian (Thalamus)
Trang 10Đó là những phần của chất đáy não gồm 2 nhóm chất xám nằm hai bên bán cầu đại não Đồi thị là trạm cuối cùng trước khi lên vỏ não của tất cả các con đường cảm giác của cơ thể
7.1 Hoạt động phản xạ của con vật đồi thị
Nghiên cứu trên con vật bị cắt phần đại não, chỉ để lại phần đồi thị trở xuống ở con vật này còn giữ lại mối điều hoà nhiệt độ Điều hoà nhiều phản xạ khác, giữ được trương lực gần như bình thường (không có hiện tượng cứng mất não) Vẫn giữ được phản xạ lập chính là phản xạ bảo đảm vị trí xác định tư thế của cơ thể khi ở độ cao, nghiêng trên con vật đồi thị tiến hành phá bỏ mê cung (cơ quan thăng bằng cơ thể ở tai trong) Nếu phá một bên mê cung thì đầu con vật nghiêng về phía đối diện Khi kích thích bên mê cung còn lại, con vật sẽ xoay tròn (động vật thấp) Nếu phá cả 2 mê cung thì phản xạ thăng bằng bị mất, con vật không ngẩng đầu lên được
- Phản xạ lập chính bị giảm : Mất phản ứng lay tròng mắt sau khi quay vòng
cả cơ thể (ở vũ nữ)
- ở con vật đồi thị vẫn giữ được phản xạ chỉnh thể : Đó là phản xạ tổng hợp giữ cho con vật có khả năng trở về vị trí thăng bằng khi bị ngả nghiêng, lộn ngược Có được phản xạ đó là nhờ khi ở tư thế không bình thường đã phát sinh những xung động kích thích vào mê cung, vào thụ quan bản thể (thụ quan của
cơ và gân) vào bộ phận nhận cảm của da Trung tâm này ở củ não sinh tư Như vậy mê cung đảm bảo việc điều hoà tư thế Nếu bó bột ở cổ và phá hủy cả 2 mê cung thì con vật không còn phản xạ điều hoà tư thế được nữa
7.2 Vai trò của đồi thị trong chức phận cảm giác
Có 5 nhóm nhân ở đồi thị làm nhiệm vụ nhận cảm giác : nhân trước, nhân giữa, nhân đường giữa, nhân bên và nhân sau hay nhân chẩm
- Nhân trước nhận xung động của khứu giác rồi phát xung đến phần giữa của bán cầu não
- Nhân giữa là trung tâm của cảm giác dễ chịu hay khó chịu, chuyên nhận những xung từ đồi thị bên đối diện, từ vùng dưới đồi, từ thân não (thân não tính
từ cấu trúc lưới đến đồi thị), từ tủy
- Nhân đường giữa nhận cảm giác của phủ tạng