Luận văn, thạc sỹ, tiến sĩ, cao học, kinh tế, nông nghiệp
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp i
Trang 2Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp i
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã đ−ợc cảm ơn và các thông tín trích dẫn trong luận văn đều đã đ−ợc chỉ
rõ các nguồn gốc
Tác giả
Lê Thị Xuân
i
Trang 4Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo Khoa Kinh
tế và Phát triển nông thôn, Khoa Sau đại học, Bộ môn Kế toán trường
Đại học Nông nghiệp I Hà Nội đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện bản luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến PGS-TS Lê Hữu ả nh
đã hướng dẫn giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Uỷ ban nhân dân huyện Nghĩa Đàn tỉnh Nghệ An, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Quỹ Tín dụng nhân dân, Phòng Thống
kê huyện Nghĩa Đàn Tôi xin chân thành cảm sự giúp đỡ của các cô chú cán bộ nông trường 1/5, các gia đình, các chủ trang trại ở các xã Nghĩa Bình, Nghĩa Lợi, Nghĩa Phú, Nghĩa Lạc mà tôi đến tiếp xúc điều tra, phỏng vấn và xin số liệu
Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn bè đồng nghiệp đã động viên khích lệ và giúp đỡ tôi hoàn thành khoá học!
Tác giả
Lê Thị Xuân
ii
Trang 51.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
2 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cho vay vốn phát triển
2.1 Một số vấn đề chung về kinh tế trang trại 62.2 Vai trò của Nhà nước và của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển đối
với kinh tế trang trại 262.3 Những vấn đề đặt ra về vay vốn ngân hàng để phát triển kinh tế
trang trại 32
3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 35
3.1 Đặc điểm cơ bản và tình tình phát triển kinh tế trang trại của
huyện Nghĩa Đàn 353.2 Phương pháp nghiên cứu 41
4 Kết Quả nghiên cứu 44
4.1 Thực trạng cho vay vốn phát triển kinh tế trang trại của Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Nghĩa Đàn 444.1.1 Công tác huy động vốn để cho vay 454.1.2 Cơ cấu nguồn vốn đầu tư trung – dài hạn của Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Nghĩa Đàn 47
iii
Trang 64.1.3 Kết quả cho vay phát triển kinh tế trang trại 494.1.4 Tổ chức và kết quả cho vay trang trại 514.1.5 Các nguyên nhân hạn chế cho vay phát triển kinh tế trang trại 574.2 Vai trò cho vay phát triển kinh tế trang trại ở Ngân hàng Đầu t− và
Phát triển Nghĩa Đàn 594.2.1 Nhu cầu vay vốn phát triển kinh tế trang trại 594.2.2 Vai trò của Ngân hàng Đầu t− và Phát triển đối với kinh tế trang
trại trong hệ thống các tổ chức tín dụng huyện Nghĩa Đàn 624.2.3 Một số kết quả đánh giá vai trò tín dụng của Ngân hàng Đầu t−
và Phát triển Nghĩa Đàn đối với phát triển kinh tế trang trại 664.3 Một số giải pháp nâng cao vai trò của Ngân hàng Đầu t− và Phát
triển cho vay phát triển kinh tế trang trại ở Nghĩa Đàn 774.3.1 Một số quan điểm cơ bản nâng cao vai trò của Ngân hàng Đầu
t− và Phát triển cho vay phát triển kinh tế trang trại ở Nghĩa Đàn 774.3.2 Các giải pháp nâng cao và mở rộng cho vay phát triển kinh tế
trang trại của Ngân hàng ĐT và PT Nghĩa Đàn 78
5 Kết luận 83 Tài liệu tham khảo 84
iv
Trang 7Danh mục các bảng
Bảng 3.1: Tổng giá trị sản lượng, cơ cấu kinh tế, tỷ lệ dân số, tình
hình chăn nuôi chủ yếu qua các năm 40Bảng 4.1 Tình hình huy động vốn của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Bảng 4.6 Doanh số cho vay - thu nợ của các tổ chức tín dụng trên
địa bàn huyện Nghĩa Đàn đối với kinh tế trang trại 63Bảng 4.7 Trang trại tiếp xúc với các tổ chức tín dụng năm 2004 64Bảng 4.8 Hiệu quả sử dụng vốn của các loại hình trang trại 67Bảng 4.9 Sự thay đổi quy mô trang trại trước và sau khi vay vốn Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Nghĩa Đàn 2004 70Bảng 4.10 Lao động gia đình và thuê của các trang trại trước và sau
Bảng 4.11 Tình hình lao động thuê của trang trại vay vốn Ngân hàng
Đầu tư huyện Nghĩa Đàn năm 2004 74Bảng 4.12 Thu nhập của trang trại trước và sau khi vay vốn Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Nghĩa Đàn 76
v
Trang 8Danh môc h×nh
H×nh 4.1 C¬ cÊu cho vay kinh tÕ trang tr¹i cña
Ng©n hµng §Çu t− vµ Ph¸t triÓn NghÜa §µn 51
vi
Trang 91 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta có tới 2/3 đất đai phù hợp để phát triển nông nghiệp Đảng và Nhà nước đã chú trọng đưa nông nghiệp lên mặt trận hàng đầu, góp phần đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế theo định hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Hơn 10 năm qua, nông nghiệp nước ta về cơ bản đã chuyển sang sản xuất hàng hóa, phát triển tương đối toàn diện, tăng trưởng khá (bình quân 4,2% năm) [24] Công nghiệp ngành nghề và dịch vụ ở nông thôn bước đầu phục hồi và phát triển, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được quan tâm đầu tư xây dựng, môi trường sinh thái và đời sống nông dân ở hầu hết các vùng được cải thiện rõ rệt Những thành tựu về phát triển nông nghiệp và nông thôn có một phần đóng góp đáng kể của kinh tế trang trại Với tính hiệu quả của kinh tế trang trại đã góp phần quan trọng vào sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, tạo thêm động lực đẩy nhanh công nghiệp hóa - hiện đại nông nghiệp và nông thôn
Mô hình kinh tế trang trại trong cơ chế thị trường đang đứng trước hàng loạt những thách thức về cơ chế chính sách, lao động, tiền vốn, Song với tính năng động và hiệu quả của loại hình tổ chức sản xuất trong nông nghiệp đã ngày càng khẳng định vị trí của nó trong sự phát triển kinh tế của đất nước
Xuất phát từ những đặc điểm về tự nhiên - xã hội trên cả nước nói chung
và ở Nghĩa Đàn nói riêng, diện tích đất nông nghiệp và đồi rừng chiếm tỷ trọng rất lớn, nhân dân ta có tập quán lâu đời trong sản xuất nông nghiệp Trong những năm qua kinh tế trang trại đã được Đảng và nhà nước cũng như chính quyền địa phương các cấp hết sức quan tâm, bước đầu đã khẳng định được tính hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất nông nghiệp
Nghĩa Đàn là một huyện miền núi thuộc vùng tây - bắc tỉnh Nghệ An, đất
đai chủ yếu là đất đỏ bazan, đất phù sa cổ, với khí hậu đặc trưng của vùng nhiệt
1
Trang 10đới nóng ẩm rất phù hợp trong việc phát triển kinh tế vườn đồi dưới dạng trang trại trồng trọt và chăn nuôi Ngay từ thời kỳ còn nằm dưới ách đô hộ của chế độ thực dân Pháp - vùng đất đỏ Phủ Quỳ, chủ yếu là Nghĩa Đàn đã được thực dân Pháp đầu tư hình thành các đồn điền cà phê, cao su xanh tốt, cho đến nay vẫn khẳng định được tính hiệu quả và ổn định của nó Các nông trường quốc doanh vùng Phủ Quỳ được hình thành phần lớn từ các đồn điền của chủ người Pháp Trong nhiều năm xây dựng và phát triển đã có công khai phá hàng ngàn ha đất hoang hóa, thu hút hàng vạn lao động về vùng đất này tạo lập nên những vườn cao su, chè, cà phê, cam, Có thời kỳ năng suất cây trồng trên diện tích rộng đã
đạt: cam 15 - 20 tấn/ha; cà phê quả tươi 10 -14 tấn/ha; cao su 8 - 10 tạ mủ khô/ha; đã cung cấp hàng tấn nông sản xuất khẩu sang thị trường các nước xã hội chủ nghĩa
Quá trình chuyển dịch từ kinh tế tập trung bao cấp của các nông trường quốc doanh và nền kinh tế tự cung tự cấp của các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp sang kinh tế thị trường đã làm cho các đơn vị sản xuất nông nghiệp sang nền kinh tế thị trường đã làm cho các đơn vị sản xuất nông nghiệp và các vùng nông thôn Nghĩa Đàn gặp không ít khó khăn Cơ chế quản lý sản xuất kinh doanh theo phương thức cũ đã trở nên lỗi thời, không đủ sức lôi cuốn thu hút lao
động làm việc có hiệu quả cao Quá trình đổi mới trong sản xuất nông nghiệp đã làm nảy sinh ra cơ chế khoán và dần giao hẳn vườn cây, đất đai, tài sản cho người lao động Từ đó người lao động tăng cường trách nhiệm, chủ động phán quyết trong sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu hiệu quả kinh tế cao nhất, các kinh tế trang trại cũng được hình thành và từng bước ổn định và phát triển
Đa số những người chủ trang trại xuất thân từ công nhân và nông dân với khả năng về vốn tích lũy không nhiều, trong khi đó để hình thành và phát triển sản xuất của một trang trại thì phải có một số vốn không nhỏ Như vậy nhu cầu
về sử dụng vốn tín dụng của ngân hàng cũng từ đó mà tăng lên theo quy mô phát triển của kinh tế trang trại
2
Trang 11Mặc dù kinh tế trang trại đã hình thành và phát triển ở Nghĩa Đàn trong nhiều năm, nhưng đây là một vấn đề khá mới mẻ và còn mang tính tự phát Những điều kiện về pháp lý chưa đồng bộ, sự chỉ đạo của các cấp, các ngành và chính quyền địa phương chưa thực sự sâu sát liên tục Vấn đề cần phải nêu lên ở
đây là kinh tế trang trại ngày càng phát triển, nhưng vẫn thiếu vốn cho sản xuất kinh doanh mà chưa khai thác thông nguồn vốn tín dụng ngân hàng có hiệu quả Các chủ trang trại mong đợi ở các ngành chức năng, các ngân hàng thương mại sớm có cơ chế, chính sách hợp lý hỗ trợ kịp thời để khẳng định tính ưu việt của kinh tế trang trại trong sản xuất nông nghiệp hàng hóa
Kinh tế trang trại ra đời là bước đi tất yếu của nền sản xuất hàng hóa, khơi dậy tiềm năng trong dân cư để chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Vì vậy tạo điều kiện thuận lợi cho loại hình kinh tế này phát triển là một chiến lược hết sức đúng
đắn, hợp với lòng dân Việc phát triển kinh tế trang trại là một bước đột phá tấn công vào nghèo đói, phát huy nội lực to lớn của Nghĩa Đàn nói riêng và của cả nước nói chung
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Nghĩa Đàn đã nhiều năm cung ứng vốn
đầu tư để hình thành nên các nông, lâm trường quốc doanh, các trang trại của vùng Phủ Quỳ Ngày nay tiếp tục tài trợ cho lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, trong đó cho vay kinh tế trang trại chiếm tỷ trọng đáng kể Qua quá trình nghiên cứu chúng tôi thấy vẫn còn những vướng mắc của các chủ trang trại
ở Nghĩa Đàn đối với nguồn tín dụng
Phương thức cho vay bằng nguồn vốn tín dụng ngân hàng như hiện nay
đối với kinh tế trang trại mặc dù đã tháo gỡ được không ít khó khăn vướng mắc, nhưng cũng bộc lộ nhiều điểm khiếm khuyết, chưa phù hợp với thực tiễn, từ đó
đã gây nên nhiều trở ngại cho các chủ trang trại cũng như phía ngân hàng Trong khi chu kỳ sản xuất kinh doanh của một trang trại kéo dài nhiều năm, nhưng các ngân hàng thường cho vay ngắn hạn và một điều tất yếu xảy ra là kỳ hạn nợ
3
Trang 12không phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn sản xuất kinh doanh Vậy các chủ
trang trại lấy vốn từ đâu? Trước hết, phải là vốn tự có của họ, sau là vốn vay
mượn bạn bè, gia đình và lớn nhất vẫn là vốn vay ngân hàng, các tổ chức tín dụng Nhưng từ thực tế đó đòi hỏi phải có nguồn vốn trung và dài hạn của ngân hàng Đầu tư và Phát triển hỗ trợ cho kinh tế trang trại phát triển
Vậy, trên địa bàn vị trí, vai trò và mức độ tham gia tín dụng của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Nghĩa Đàn đối với phát kinh tế trang trại ra sao?
Chính vì lẽ đó tôi chọn đề tài: "Vai trò của Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Nghĩa Đàn đối với phát triển kinh tế trang trại ở huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An"
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung
Đánh giá vai trò của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Nghĩa Đàn đối với phát triển kinh tế trang trại ở huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An
Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa các vấn đề tín dụng đối với phát triển kinh tế trang trại
- Đánh giá vai trò tín dụng của của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Nghĩa
Đàn đối với phát triển kinh tế trang trại Nghĩa Đàn
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Nghĩa Đàn đối với phát triển kinh tế trang trại Nghĩa Đàn
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động cho vay phát triển kinh tế trang trại
của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Nghĩa Đàn
- Khách thể nghiên cứu: Các trang trại sử dụng vốn tín dụng Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển ở huyện Nghĩa Đàn
4
Trang 13Phạm vi và thời gian nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: Địa bàn hoạt động cho vay của Chi nhánh Ngân
hàng Đầu t− và Phát triển Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An
- Thời gian nghiên cứu: Thông tin chủ yếu thu thập từ năm 2002 đến 6/2005
5
Trang 142 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cho vay vốn phát triển kinh tế trang trại
2.1 Một số vấn đề chung về kinh tế trang trại
2.1.1 Khái niệm, đặc điểm và những yếu tố tác động đến phát triển kinh tế trang trại
2.1.1.1 Khái niệm trang trại (về mặt kinh tế)
Trang trại là loại hình cơ sở sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình nông dân, hình thành và phát triển trong điều kiện nền kinh tế thị trường từ khi phương thức sản xuất tư bản thay thế phương thức sản xuất phong kiến, khi bắt
đầu cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất ở một số nước châu Âu [6]
Một số tác giả khi nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại gia đình trên thế giới cho rằng, các trang trại được hình thành từ cơ sở của các hộ tiểu nông sau khi phá vỡ vỏ bọc sản xuất tự cung cấp khép kín, vươn lên sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu thị trường trong điều kiện cạnh tranh
Tuy nhiên trang trại vẫn còn là một vấn đề mới và khó nên nhận thức về khái niệm còn nhiều mặt không giống nhau ở nhiều người Cho nên những vấn
đề lý luận về trang trại đã được các nhà khoa học và các nhà hoạt động thực tiễn
nghiên cứu trao đổi theo các quan điểm khác nhau và hoàn thiện ở đây chúng tôi xin đề cập một số quan điểm:
- Xuất phát từ quan điểm của Lênin: "ấp trại tuy vẫn là nhỏ nếu tính theo diện tích, nhưng lại hóa thành ấp trại lớn xét về quy mô sản xuất" [dẫn theo 23]
đòi hỏi khi nói về quy mô, có thể hiểu đó là quy mô tính theo diện tích nhưng cũng có thể hiểu đó là quy mô sản xuất thể hiện bằng thu nhập
- Theo Nguyễn Thế Nhã "Trang trại là một loại hình tổ chức sản xuất cơ
sở trong nông, lâm, thủy sản, có mục đích chính là sản xuất hàng hóa, có tư liệu
6
Trang 15sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tiến bộ và
trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường" [dẫn theo 19]
- Nguyễn Phượng Vỹ thì lại cho rằng "Trang trại là một hình thức tổ chức
kinh tế trong nông - lâm - ngư nghiệp, phổ biến được hình thành trên cơ sở kinh
tế hộ, nhưng mang tính sản xuất hàng hóa"[dẫn theo 32]
- Trong Nghị quyết Trung ương số 06/NQ-TW ngày 10/11/1998 cũng đã
xác định: "…trang trại gia đình, thực chất là kinh tế hộ sản xuất hàng hóa với
quy mô lớn hơn, sử dụng lao động, tiền vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất
kinh doanh có hiệu quả" [29]
Qua các ý kiến nêu trên chúng tôi cho rằng bản chất của kinh tế trang trại
là kinh tế hộ sản xuất nông nghiệp (kể cả lâm nghiệp và nuôi trồng và nuôi trồng
thủy sản) hàng hóa, có quy mô (về đất đai, vốn, lao động, thu nhập) tương đối
lớn hơn so với mức trung bình của kinh tế hộ tại địa phương, tương ứng với từng ngành sản xuất cụ thể
Ngoài hoạt động nông nghiệp, các hoạt động ngành nghề dịch vụ cũng cần phải được tính vào lĩnh vực và phạm vi hoạt động của trang trại để đảm bảo tính
hệ thống của mô hình kinh tế này
Xuất phát từ những quan quan điểm như trên chúng tôi cho rằng kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức kinh tế trong nông, lâm, ngư nghiệp được hình thành trên cơ sở kinh tế hộ nhưng mang tính sản xuất hàng hóa rõ rệt, có sự tập trung tích tụ cao hơn về các yếu tố sản xuất, có nhu cầu cao hơn về thị trường, về khoa học công nghệ, có giá trị, tỷ suất hàng hóa và thu nhập cao hơn so với mức bình quân của các hộ gia đình trong vùng
Trong điều kiện kinh tế thị trường, kinh tế trang trại mang đầy đủ và thể hiện rõ nét những đặc điểm nêu trên Tuy nhiên ở mỗi nước, trong mỗi giai đoạn
cụ thể, tuỳ theo điều kiện và trình độ phát triển cụ thể của nền kinh tế mà những
đặc điểm trên có thể biểu hiện ở mức độ khác nhau ở nước ta, nền kinh tế nói chung, nông nghiệp nói riêng đang trong bước chuyển từ trình độ tự cung tự cấp
7
Trang 16sang trình độ sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường Do vậy trong các trang
trại ở nước ta, những đặc điểm của kinh tế trang trại nêu trong khái niệm trên
nhìn chung chưa được thể hiện thật rõ nét như ở các nước có trình độ sản xuất hàng hóa cao trong nông nghiệp
2.1.1.2 Đặc trưng của kinh tế trang trại
Việc nghiên cứu những đặc trưng của kinh tế trang trại có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu cũng như trong thực tiễn quản lý Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 [16] đã đưa ra các đặc trưng như sau:
- Mục đích sản xuất của trang trại là sản xuất nông, lâm, thuỷ sản hàng hóa với quy mô lớn
- Mức độ tập trung và chuyên môn hóa các điều kiện và yếu tố sản xuất cao hơn hẳn (vượt trội) so với sản xuất nông hộ, thể hiện ở quy mô sản xuất như
đất đai, số đầu gia súc, lao động, giá trị nông thuỷ sản hàng hóa
- Chủ trang trại có kiến thức và kinh nghiệm trực tiếp điều hành sản xuất, biết áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất; sử dụng lao động gia đình và thuê lao động bên ngoài sản xuất có hiệu quả cao, có thu nhập vượt trội so với kinh tế hộ
Kinh tế tiểu nông
tự cung tự cấp
Kinh tế trang trại
Mục đích sản xuất Chủ yếu để tiêu dùng Chủ yếu để bán
Mức độ quan hệ với thị trường ít Nhiều
Khả năng tích luỹ tái sản xuất ít Nhiều
Như vậy những đặc trưng của kinh tế trang trại được xuất phát từ những điểm
8
Trang 17khác biệt mang tính bản chất của kinh tế trang trại so với các hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung và so với kinh tế nông hộ Điều này cũng được xuất phát từ khái niệm về kinh tế trang trại đã được trình bày ở trên Tuy nhiên kinh tế trang trại thực chất là một cấp độ trong quá trình phát triển của kinh tế hộ từ sản xuất tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hóa và giữa chúng có những khác nhau cơ bản
Các Mác đã phân biệt người chủ trang trại với người tiểu nông: người chủ trang trại bán ra thị trường toàn bộ sản phẩm làm ra, còn người tiểu nông thì tiêu dùng đại bộ phận sản xuất làm ra và mua bán càng ít càng tốt [dẫn theo 5]
Do đặc điểm địa lý, đặc điểm về kinh tế - xã hội của từng vùng có sự khác nhau nên việc hình thành trang trại diễn ra không đồng đều giữa các vùng Đặc
điểm hình thành các trang trại phụ thuộc vào điều kiện đất đai, dân số, cơ cấu sản xuất đang hình thành, sự phát triển của kết cấu hạ tầng, trình độ canh tác…
ở Đồng bằng Bắc bộ, diện tích ruộng đất bình quân đầu người rất thấp, việc giao đất cho các hộ nông dân cơ bản đã hoàn thành, sức ép dân số và lao
động cao nên không cho phép tập trung ruộng đất với với quy mô lớn Do vậy, việc hình thành các trang trại diễn ra chậm chạp và với quy mô diện tích nhỏ Các trang trại có quy mô diện tích ruộng đất khá thường dựa vào hình thức nhận thầu hoặc thuê các diện tích thùng đào, thùng đấu, đất hoang hóa, đất bãi ven sông, ven biển, mặt nước… Ngoài các trang trại hình thành trên cơ sở nhận thầu hoặc thuê đất, một số trang trại hình thành trên cơ sở cơ cấu lại sản xuất của nông hộ theo hướng chuyển sang các loại cây nông sản phẩm có giá trị kinh tế lớn và tỷ suất hàng hóa cao
ở Đồng bằng Nam bộ, ruộng đất bình quân đầu người bằng 3-4 lần đồng bằng Bắc bộ, là nơi có truyền thống sản xuất hàng hóa, việc chuyển nhượng đất
đai giữa các hộ nông dân tương đối thuận lợi, cho phép các hộ có vốn có thể mở rộng quy mô đất đai, thêm vào đó do diện tích đất đai rộng, cho phép áp dụng máy móc và kỹ thuật thuận lợi Do vậy trong những năm qua nhiều hộ nông dân
đã phát triển sản xuất lúa theo phương thức trang trại Ngoài sản xuất lúa ở đồng
9
Trang 18bằng sông Cửu Long còn hình thành các trang trại khác như sản xuất cây ăn
quả, chăn nuôi gia cầm, nuôi thuỷ sản…
Vùng trung du và miền núi phía bắc, các trang trại ở đây hình thành tương
đối nhanh do có nhiều đất rừng và đất trồng cây công nghiệp lâu năm Các trang trại ở vùng Đông Bắc chủ yếu phát triển cây ăn quả như cam, hồng, mận, vải và kinh doanh nông, lâm, nghiệp, trồng rừng, còn các trang trại ở vùng Tây Bắc chủ
yếu phát triển cây công nghiệp như chè, cà phê và trồng rừng Các trang trại ở
đây hình thành chủ yếu do việc giao ruộng đất cho các hộ nông dân sử dụng ổn
định lâu dài và do việc giao đất của các nông, lâm trường cho cán bộ và công nhân viên Tuy số lượng trang trại nhiều, nhưng quy mô phần lớn về diện tích nhỏ, khoảng 2 ha (trừ các trang trại trồng rừng) Nguyên nhân chủ yếu là sản phẩm sản xuất tiêu thụ không ổn định, trình độ sản xuất còn thấp, kết cấu hạ tầng về giao thông, thuỷ lợi còn còn thấp kém…
ở Tây Nguyên và Đông Nam bộ, các trang trại được hình thành do điều kiện thuận lợi về đất đai Vùng này vừa có quỹ đất rộng, vừa thuận lợi phát triển cây công nghiệp dài ngày như cao su, cà phê và trồng rừng Các trang trại ra đời nhiều nguồn gốc khác nhau như nhân dân địa phương được giao đất trồng cây lâu năm; cán bộ công nhân, lâm trường được giao đất trồng cà phê, cao su; nhân
dân từ các nơi khác đến được nhận đất mở trang trại Quy mô các trang trại ở nơi
này tương đối lớn
Xung quanh vành đai các đô thị, khu công nghiệp, nhiều hộ chuyển từ sản xuất lương thực sang trồng các nông sản có giá trị cao như các loại rau cao cấp, cây ăn quả, cây cảnh, nuôi bò sữa, nuôi cá… Những sản phẩm được sản xuất ra chủ yếu trở thành hàng hóa
Nhiều hộ gần khu công nghiệp chế biến nông sản hoặc gần trục đường giao thông thuận lợi đã chuyển từ sản xuất lương thực sang sản xuất nguyên liệu để cung cấp cho các nhà máy chế biến Tiêu biểu ở đây là trang trại vùng nguyên liệu mía, chè, cà phê, đặc biệt nổi lên là trang trại vùng nguyên liệu mía Phủ Quỳ (chủ yếu là
10
Trang 19huyện Nghĩa Đàn) của công ty liên doanh mía đường Nghệ An Tale&Lyle được
đánh giá là một trong những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) hoạt động
có hiệu quả nhất trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn
Đặc điểm kinh tế trang trại gia đình ở Nghĩa Đàn chủ yếu là trang trại
trồng cây công nghiệp lâu năm đan xen với loại cây trồng hàng năm Các trang trại được hình thành từ các hộ công nhân viên được các nông, lâm trường giao khoán thông qua hợp đồng và được trồng theo quy hoạch và kế hoạch phát triển theo vùng Ngoài ra một số trang trại được hình thành trên cơ sở tích tụ ruộng đất sang nhượng quyền sử dụng đất cho những người dân được quyền sử dụng đất nhưng vì nhiều lý do khác nhau họ sang nhượng cho một số người có khả năng phát triển kinh tế trang trại Những đối tượng trang trại hình thành qua con
đường tích tụ ruộng đất thông qua hình thức chuyển đổi thường là những người
có vốn, có kinh nghiệm sản xuất kinh doanh lĩnh vực nông nghiệp [28]
2.1.1.3 Đặc điểm phát triển trang trại
Các trang trại đã hình thành, đang và sẽ phát triển theo xu hướng chủ yếu sau:
- Tích tụ và tập trung sản xuất
Tích tụ: Bước đầu khi tham gia thị trường, các hộ bán nhứng sản phẩm thừa do mình làm ra, những lợi ích kinh tế do tham gia thị trường đã thúc đẩy các hộ tăng sản lượng hàng hóa và tỷ trọng hàng hóa bán ra Đó chính là cơ sở
để hộ gia đình tích luỹ vốn và từng bước mở rộng quy mô sản xuất
Tập trung: Nhiều hộ gia đình có những điều kiện ban đầu về nguồn vốn đầu tư (có thể do vốn góp, vốn vay, hoặc khai hoang phục hóa ) nên đã đầu tư mở rộng quy mô sản xuất và từ đó tăng sản lượng và tỷ trọng sản xuất hàng hóa [9]
Đây là một xu hướng phát triển của trang trại, tuỳ theo điều kiện cụ thể từng nơi cần có chính sách và biện pháp tác động và điều tiết phù hợp nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển
- Chuyên môn hóa sản xuất
11
Trang 20Sản xuất ngày càng đi vào chuyên môn hóa và xu hướng tất yếu trong phát triển kinh tế trang trại vì muốn sản xuất hàng hóa phải đi vào chuyên môn hóa sản xuất, nhưng do đặc điểm sản xuất nông nghiệp mà sản xuất chuyên môn hóa trong các trang trại phải kết hợp với sản xuất đa dạng một cách hợp lý mới có thể khai thác
có hiệu quả các nguồn lực đất đai, khí hậu, cơ sở vật chất và kỹ thuật, sức lao động,
đồng thời hạn chế những rủi ro về thiên tai và biến động của thị trường
Xu hướng sản xuất chuyên môn hóa của các trang trại biểu hiện tập trung
ở chỗ:
+ Trên cơ sở phân vùng quy hoạch của cả nước, của từng vùng và địa phương, các trang trại bố trí sản xuất một số sản phẩm hàng hóa chính có giá trị cao phù hợp với yêu cầu của thị trường và điều kiện mình
+ Dựa vào một sản phẩm hàng hóa chính kết hợp sản xuất một số loại sản phẩm bổ sung để hỗ trợ cho sản phẩm chính, đồng thời để sử dụng đầy đủ các
điều kiện đất đai, lao động và tư liệu sản xuất của trang trại
Phát triển theo xu hướng trên sẽ xuất hiện nhiều trang trại chuyên môn hóa sản xuất có hiệu quả cao như các trang trại chuyên môn hóa cà phê, cao su, cây ăn quả, chè, rau cao cấp, thuỷ sản, nuôi bò sữa, nuôi gia cầm, nuôi lợn,…[11]
- Nâng cao trình độ kỹ thuật và thâm canh hóa sản xuất
Quá trình tích tụ, tập trung và mở rộng quy mô sản xuất đòi hỏi các trang
trại phải nâng cao trình độ kỹ thuật và thâm canh sản xuất Xu hướng nâng cao
trình độ kỹ thuật và thâm canh sản xuất trong các trang trại là xu hướng tất yếu
và gắn liền với việc nâng cao năng suất lao động, năng suất cây trồng, vật nuôi Trang trại không thể mở rộng quy mô diện tích tới hàng chục ha hoặc phát triển
đàn lợn, đàn trâu bò lên hàng trăm, hàng ngàn con bằng lao động thủ công và cơ
sở vật chất kỹ thuật thấp kém
Để nâng cao trình độ kỹ thuật và thâm canh hóa sản xuất, các trang trại
phải đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật cho sản xuất, tăng cường áp dụng tiến bộ kỹ thuật đặc biệt là công nghệ sinh học Mặt khác, phải
12
Trang 21kết hợp xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật trong từng trang trại với phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật trên từng địa bàn của vùng Chẳng hạn việc xây dựng kênh mương tưới tiêu nước, việc làm đường điện… không thể khép kín trong từng trang trại, mà phải gắn với cả vùng theo quy hoạch thống nhất
Mỗi trang trại không thể hoàn toàn tự mình nâng cao trình độ kỹ thuật,
trình độ thâm canh sản xuất, mà phải có sự kết hợp giữa trang trại và Nhà nước khi xây dựng cơ sở hạ tầng: Nhà nước đầu tư xây dựng công trình đầu mối, các trang trại và hộ nông dân xây dựng hệ thống kênh mương dẫn nước phục vụ cho thâm canh sản xuất của các trang trại và hộ nông dân; Nhà nước hỗ trợ việc
nghiên cứu và phổ biến kỹ thuật thâm canh, các trang trại áp dụng kỹ thuật vào
sản xuất; Nhà nước giúp việc xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất đời sống như đường giao thông, thuỷ lợi, điện ở những vùng khó khăn; [11]
- Hợp tác và cạnh tranh
Các trang trại muốn sản xuất hàng hóa phải hợp tác và liên kết với nhau và với
những đơn vị và tổ chức kinh tế khác Trước hết, trang trại phải hợp tác với các trang trại khác để giúp nhau giải quyết tốt hơn những vấn đề sản xuất kinh doanh, với các
tô chức bảo vệ thực vật để phòng trừ sâu bệnh, hợp tác với các tổ chức thương mại, dịch vụ để tiêu thụ nông sản phẩm Mặt khác có những hoạt động của từng bản thân từng trang trại không thể thực hiện được do thiếu vốn, thiếu máy móc thiết bị,… mà phải liên kết với các trang trại và tổ chức khác để thực hiện như xây dựng hệ thống kênh mương, đường giao thông, chế biến, tiêu thụ nông sản phẩm Các trang trại có thể hợp tác với nhau và với nông hộ, với hợp tác xã, nông lâm trường, với các cơ sở công nghiệp, thương mại, dịch vụ, tín dụng, vật tư, thậm chí trong một số trường hợp
có thể cả đối tác nước ngoài Mối liên kết giữa các chủ trang trại tất yếu xuất hiện kinh tế tập thể, hợp tác xã ra đời
Đi đôi với hợp tác, các trang trại còn phải cạnh tranh với các tổ chức đơn
vị kinh tế khác để có thể tiêu thụ nông sản phẩm làm ra với giá cả hợp lý để có tích luỹ, tái sản xuất mở rộng Muốn vậy phải tăng năng suất sản lượng cây
13
Trang 22trồng, vật nuôi và không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm Có như vậy sản
phẩm của trang trại mới có khả năng cạnh tranh trên thị trường…[11]
2.1.1.4 Những yếu tố quan trọng tác động đến phát triển kinh tế trang trại
Vốn đầu tư thúc đẩy yếu tố khoa học - công nghệ phát triển kinh tế trang trại
Đây là vấn đề vừa có tính cấp bách trước mắt, vừa có ý nghĩa lâu dài để đảm bảo cho kinh tế trang trại phát triển ổn định, đạt hệu quả cao Sở dĩ như vậy là do phần lớn các trang trại đều trồng các loại cây dài ngày Trong đó 3.004 trang trại đã
điều tra trên phạm vi tỉnh thành năm 2004 [2], có gần 60% trang trại trồng cây lâu năm (gồm cả cây công nghiệp và cây ăn quả); 4% trang trại làm lâm nghiệp 9% trang trại làm thuỷ sản Các hướng kinh doanh đó đều yêu cầu đầu tư lớn, lãi có thể cao, nhưng nếu rủi ro xảy ra thì lỗ cũng khó lường trước Về thời gian đầu tư, các hướng kinh doanh đó kéo dài trong nhiều năm, cho nên mọi sai sót về khoa học - công nghệ đều tiềm ẩn khả năng gây ra hậu quả về sau, khó nhìn thấy để sửa ngay, khi đã bộc lộ hậu quả thì đã quá muộn để sửa sai Hiện tượng trồng mận, xoài sau ba bốn năm vẫn không quả; nuôi tôm bị dính mầm bệnh; tiêm vắc xin không đúng chất lượng gây hậu quả trên diện rộng là những cảnh báo cho sự thiếu thận trọng trong
áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ vào nông nghiệp Để tránh cho các trang trại không phải trả giá cho những sai lầm khoa học - công nghệ gây ra, theo chúng tôi cần lưu ý một số vấn đề sau đây:
- Đầu tư thoả đáng từ ngân sách cho việc phát triển công nghệ sinh học để tạo các giống cây trồng, vật nuôi có phẩm chất tốt, sản lượng cao, tìm ra và áp dụng công nghệ mới trong canh tác chế biến, bảo quản sản phẩm nông nghiệp, trước hết là các loại rau quả sản xuất trên các vùng chuyên canh
- Khuyến khích các hình thức liên kết và hợp tác trong nghiên cứu và ứng dụng khoa học - công nghệ nông nghiệp, trong đó coi trọng sự liên kết giữa các trung tâm, viện nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ khoa học - công nghệ nông nghiệp, trong đó coi trọng sự liên kết giữa các trung tâm, viện nghiên cứu với tác
14
Trang 23dụng khoa học - công nghệ nông nghiệp, trong đó coi trọng sự liên kết giữa các
tt hạt nhân trên từng vùng để nghiên cứu và chuyển và chuyển giao tiến bộ khoa học - công nghệ cho các trang trại
- Khuyến cáo cho các trang trại biết có thể bố trí cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên và sinh thái từng vùng, phù hợp với quy hoạch các vùng chuyên canh lớn của trung ương và địa phương, đặc biệt đối với các loại cây trồng dài ngày để giúp cho các trang trại, chủ hộ lựa chọn phương hướng sản xuất phù hợp từ đầu
- Cần khuyến khích các hình thức kinh tế hợp tác ứng dụng khoa học và công nghệ nông nghiệp Các tổ chức hợp tác, các hiệp hội sẽ là con đường ngắn nhất để nhân rộng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật mới mà không cần có sự đầu tư lớn của Nhà nước
- Có quy hoạch các khu chăn nuôi và quy định cụ thể về sinh thái môi trường,
đồng thời dẫn các trang trại kết hợp phát triển sản xuất kinh doanh với thực hiện các quy định bảo vệ môi trường sinh thái, nhất là các vùng đông dân cư Đối với các trang trại chăn nuôi gia súc theo phương pháp chăn thả tuỳ theo điều kiện đất đai,
đồng cỏ cụ thể của từng nơi cần có chủ trương cấp đất cho các trang trại làm bãi chăn thả, tránh tình trạng gia súc thả tự do phá hoại mùa màng ở trung du và miền núi việc phát triển kinh tế trang trại phải gắn với bảo vệ rừng, bảo vệ đất, hạn chế xói mòn, bảo đảm phát triển nền nông nghiệp sinh thái bền vững, duy trì và lập lại cân bằng sinh thái góp phần giảm thiểu các thiệt hại do thiên tai gây ra
Việc hình thành và phát triển kinh tế trang trại đòi hỏi vốn lớn so với kinh
tế hộ vì quy mô sản xuất lớn hơn, phải tiến hành khai hoang, kiến thiết đồng ruộng, mặt nước, trồng rừng, trồng cây dài ngày, chăn nuôi đại gia súc, làm thuỷ lợi, mua sắm các công cụ máy móc v.v Vốn ít, các trang trại chưa có tư cách pháp nhân nên các trang trại chỉ phát triển dần quy mô sản xuất theo phương châm "lấy ngắn nuôi dài", nhiều cơ sở hạ tầng trong trang trại không được xây dựng, công cụ sản xuất còn thô sơ Đây là nguyên nhân làm cho kinh tế trang
15
Trang 24trại những năm qua phát triển chậm, hiệu quả thấp nhất là ở những tỉnh có lượng vốn thấp, trong khi nhu cầu đầu tư để mua sắm máy móc, xây dựng các cơ sở hạ tầng của trang trại rất lớn Nếu tính toán theo yêu cầu thực tế của sản xuất, lượng vốn hiện có mới đáp ứng từ 50 - 60%, nhưng ở nhiều nơi các trang trại không muốn vay vốn của ngân hàng vì sử dụng vốn vay hiệu quả thấp, các thủ tục vay, thời điểm vay và thời hạn vay chưa hợp lý
Yếu tố phát triển kinh tế hàng hóa
Kinh tế trang trại chỉ ra đời và phát triển dựa trên nền tảng của sản xuất hàng hóa Kinh tế hộ muốn tiến trang trại phải phá vỡ vỏ bọc tự cấp tự túc vốn có của kinh tế tiểu nông để đi vào sản xuất hàng hóa theo yêu cầu của thị trường Muốn phá vỡ tự cấp tự túc để đi vào sản xuất hàng hóa, các nông hộ phải tích tụ
và tập trung sản xuất, mở rộng quy mô đất đai, tiền vốn, tư liệu sản xuất và lao
động, thay đổi kỹ thuật và tổ chức sản xuất, tạo nên quy mô sản xuất lớn hơn với trình độ sản xuất cao hơn kiểu sản xuất tiểu nông Sản xuất hàng hóa không thể thực hiện được với một nền sản xuất độc canh, phân tán với kỹ thuật và cách thức
tổ chức sản xuất của tiểu nông mà phải đi vào chuyên môn hóa sản xuất các loại nông sản hàng hóa có giá trị cao với kỹ thuật, công nghệ và cách thức tổ chức quản lý tiến bộ Trong điều kiện kinh tế thị trường các sản phẩm được sản xuất ra
từ các trang trại chủ yếu là để bán nhằm tăng thu nhập và lợi nhuận
Đối với thị trường các yếu tố vật tư đầu vào cho kinh tế trang trại ở các vùng chuyên môn hóa, Nhà nước có thể thông qua hệ thống ngân hàng, hệ thống các doanh nghiệp thương mại để định hướng cung ứng tiền vốn, vật tư đầu vào theo hướng có lợi hợp lý cho kinh tế trang trại Trong điều kiện kinh tế nhiều thành phần, nếu Nhà nước không đủ nhiều tiềm lực để giữa vai trò đối trọng với các thành phần kinh tế phi Nhà nước trên thị trường này, thì các trang trại có thể
là người "lãnh đủ" hậu quả của sự lũng đoạn thị trường của các thành phần kinh
tế phi Nhà nước Trên thực tế, các vùng cây ăn quả, vùng rừng gỗ nguyên liệu hình thành được là nhờ có trang trại đã đi tiên phong Một khi các trang trại đi
16
Trang 25tiên phong trong quá trình chuyên môn hóa thì việc cung ứng vốn, giống, kỹ thuật từ phía Nhà nước đã giữ vai trò quyết định
Với ý nghĩa thực tiễn đó, để khuyến khích kinh tế trang trại phát triển, trong lĩnh vực thị trường các yếu tố vật tư đầu vào cho các trang trại, cần cũng cố
vị thế của Nhà nước, thông qua việc cũng cố hệ thống tín dụng - ngân hàng, hệ thống các doanh nghiệp xuất nhập khẩu vật tư nông nghiệp, hệ thống các doanh nghiệp bán buôn vật tư của Nhà nước Đặc biệt lưu ý các vùng mà kinh tế trang trại đã, đang và sẽ phát triển nhiều Mục đích chủ yếu của việc củng cố hệ thống này là để chống lũng đoạn thị trường vật tư đầu vào của sản xuất nông nghiệp, làm thiệt hại đến lợi ích của các trang trại nói riêng và của nông dân nói chung
Để kinh tế trang trại không phải tar giá cho những vật tư đầu vào không đạt chất lượng, thì vai trò quản lý chất lượng các loại vật tư và dich vụ đầu vào của Nhà nước là cực kỳ quan trọng Vì rằng thị trường này đang được thực hiện bởi nhiều thành phần kinh tế với ưu thế lợi dụng kẻ hở trong quản lý Nhà nước để cung ứng các loại vật tư và dịch vụ không đạt chất lượng cho kinh tế trang trại
Trong quá trình đa dạng hóa các thành phần kinh tế tham gia vào hệ thống thị trường tiêu thụ các sản phẩm của kinh tế trang trại, nhằm tạo ra sự năng động của sự cạnh tranh lành mạnh, riêng ở nước ta trong vài năm sắp tới không thể coi nhẹ vai trò của kinh tế Nhà nước ở thị trường này
Thông tin thị trường nông sản phẩm là nhu cầu rất thiết thực và thường xuyên của các chủ trang trại Trong khi đó họ lại rất thiều thông tin, những thông tin về thị trường tiêu thụ nông sản mà các chủ trang trại nhận được phần lớn là những kênh không chính thức, chắp vá và thiếu độ tin cậy Do đó nhiều chủ trang trại quyết định lựa chọn phương hướng sản xuất ra khó tiêu thụ Chúng tôi kiến nghị Nhà nước cần
tổ chức lại hệ thống thông tin thị trường trên cơ sở giao nhiệm vụ chính thức nghiên cứu và cung cấp một cách thường xuyên các thông tin về thị trường tiêu thụ sản phẩm chủ yếu ở trong và ngoài nước cho cơ quan nghiên cứu thị trường giá cả Đồng thời phát hành riêng bản tin thị trường nông sản phẩm định kỳ để cung cấp thường xuyên
17
Trang 26và kịp thời cho các chủ trang trại, chủ nông hộ sản xuất hàng hóa cũng như các tổ chức, cá nhân kinh doanh nông sản phẩm
Tóm lại: Yếu tố kinh tế hàng hóa cho các trang trại nhiều khi không chỉ ở
khâu thị trường, mà lại xuất phát từ khâu trước đó; từ công nghệ sản xuất nông nghiệp; công nghiệp; công nghệ bảo quản sản phẩm; công nghệ chế biến sản phẩm Trong điều kiện kinh tế mở, các sản phẩm không chỉ tiêu thụ ở thị trường trong nước, và do đó yếu tố hàng hóa sẽ giúp các sản phẩm của trang trại hướng tới xuất khẩu để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Muốn kinh tế hàng hóa phát triển thì nhất thiết không thể thiếu vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh, trong đó cần ưu tiên đầu tư vào khu vực nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt là phải có các chính sách thoả đáng tài trợ cho kinh tế trang trại phát triển
2.1.2 Xu hướng phát triển của kinh tế trang trại
Trước hết phải khẳng định rằng kinh tế trang trại là một trong những hình thức
tổ chức sản xuất kinh doanh chủ yếu của nông nghiệp sản xuất hàng hóa ở nước ta
- Xét về mặt lôgíc: Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất phù hợp với những yêu cầu, đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là đặc điểm về
đất đai và đặc điểm về sinh học của sản xuất nông nghiệp Bởi vì kinh tế trang trại tuy có nhiều hình thức khác nhau, nhưng chúng có điểm chung là đều dựa trên cơ sở các nguồn lực của các trang trại là chủ yếu ở đây người chủ trang trại
đồng thời cũng là người quản lý có quan hệ trực tiếp đến người lao động, kể cả lao động làm thuê Những yêu cầu khắt khe về sinh học trong sản xuất nông
nghiệp, vì thế được tuân thủ nghiêm ngặt Trên phương diện này, kinh tế
trang trại là mô hình tổ chức rất tiết kiệm và hiệu quả
Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất lấy việc khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh phục vụ nhu cầu xã hội làm phương diện sản xuất chủ yếu Vì vậy, nó cho phép huy động, khia thác đất đat, sức lao động và các nguồn lực khác một cách đấy đủ, hợp lý và có hiệu quả [11]
- Xét về mặt lịch sử: Quá trình phát triển nông nghiệp từ tự cấp, tự túc
18
Trang 27sang sản xuất hàng hóa gắn liền với chuyển từ kinh tế hộ sang kinh tế trang trại Điều này biểu hiện rõ trên thực tế, đặc biệt là ở những nước có nền nông nghiệp phát triển
Đối với nước ta, kinh tế trang trại tuy mới phát triển, nhưng nó thể hiện tính ưu việc và tác động nhiều mặt đến sản xuất và đời sống trong nông nghiệp, nông thôn Vì vậy có thể dự báo trong những năm sắp tới trang trại sẽ là hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp hàng hóa ở nước ta
Để thúc đẩy kinh tế trang trại hình thành và phát triển cần thấy rõ các
điều kiện và tính quy luật của sự ra đời phát triển của kinh tế trang trại, từ đó chủ trang trại tạo ra các điều kiện thích hợp với điều kiện Việt Nam Có như vậy, kinh tế trang trại mới hình thành và phát triển một cách chủ động tự giác và vững chắc, những ưu việt của kinh tế trang trại mới được phát huy, những hạn chế của nó mới được khắc phục
Điều kiện ra đời và phát triển của kinh tế trang trại bao gồm 2 nhóm: Nhóm các nhân tố về môi trường kinh tế và pháp lý cho các trang trại hoạt
động; và nhóm các nhân tố về chủ các trang trại Vì vậy mọi biện pháp tác
động đến sự hình thành và phát triển của trang trại phải đến cả 2 phía: phía bên ngoài và phía bên trong của trang trại [11]
2.1.3 Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại ở một số nước trên thế giới
và Việt Nam
2.1.3.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại ở một số nước trên thế giới
Các loại hình trang trại và phương thức quản lý điều hành
- Trang trại gia đình: Đây là loại hình phổ biến nhất Loại hình này có đặc
điểm là gia đình hoàn toàn làm chủ sở hữu tất cả các tư liệu sản xuất (kể cả đất
đai), chủ trang trại cùng các thành viên của gia đình sống tại trang trại và tự quyết định mọi quá trình sản xuất từ mua sắm thiết bị, xây dựng kế hoạch sản xuất, kế hoạch bao tiêu sản phẩm Trang trại gia đình là loại hình phổ biến nhất
19
Trang 28trong các loại trang trại ở tất cả các nước ở Mỹ, trang trại gia đình chiếm 87% tổng số trang trại [6]
- Trang trại liên doanh: là kiểu trang trại do hai hoặc ba trang trại hợp
nhất một trang trại lớn hơn để tăng thêm khả năng về vốn và tư liệu sản xuất nhằm tạo ra sức cạnh tranh với các trang trại khác có quy mô lớn hơn và tận dụng định hướng ưu đãi của Nhà nước dành cho các trang trại lớn Điều đáng chú ý, từng trang trại tham gia liên doanh nhưng vẫn giữ quyền điều hành sản xuất của mình Có trường hợp do nhu cầu vốn kinh doanh, chủ trang trại ở nông thôn đã liên doanh với người có vốn ở thành phố để sản xuất kinh doanh chung
Đối tượng liên doanh thường là họ hàng thân tộc Hiện nay, loại hình trang trại
liên doanh ở Mỹ và các nước châu Âu còn chiếm tỷ lệ thấp ở Mỹ, loại hình này
chỉ chiếm 10% tổng số trang trại Đối với các nước châu á, quy mô trang trại còn nhỏ nên loại hình này hầu như rất ít [dẫn theo 6]
- Trang trại hợp doanh theo cổ phần: là loại trang trại được tổ chức theo
nguyên tắc một công ty cổ phần, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm Loại trang trại này thường có quy mô lớn và được chuyên môn hoá sản xuất, sử dụng lao động làm thuê là chủ yếu Cổ phần của trang trại gia đình liên doanh không bán trên thị trường chứng khoán Đó là sự khác biệt
giữa trang trại hợp doanh gia đình và phi gia đình ở Mỹ trang trại hợp doanh
chiếm 2,7% tổng số trang trại bình quân một cơ sở có từ 800 dến 900 ha đất
Loại hình này ít xuất hiện ở các nước khác [6]
- Trang trại uỷ thác cho người nhà, bạn bè quản lý sản xuất từng việc thường từng vụ hay liên tục nhiều vụ Hình thức này phổ biến ở Đài Loan
Những chủ trang trại này thường ít ruộng nên đã đi làm thuê cho các xí nghiệp công nghiệp, dịch vụ Về phương diện tâm lý, họ không muốn từ bỏ ruộng đất cho rằng ruộng đất cho thuê hay mướn sau này khó đòi lại được nên họ uỷ thác
lại ruộng đất cho bà con thân thuộc Đến nay, 75% số chủ trang trại gia đình ở
20
Trang 29Đài Loan đã áp dụng hình thức này Đây là biện pháp tích cực góp phần tập
trung ruộng đất tạo thành các trang trại lớn để mở rộng quy mô sản xuất [6]
Hướng kinh doanh và thu nhập của các trang trại
- Căn cứ vào đặc điểm hoạt động sản xuất của các trang trại, hướng kinh doanh của các trang trại bao gồm:
+ Loại trang trại kinh doanh tổng hợp nhiều sản phẩm (trong đó có sản
phẩm chủ yếu), có sự kết hợp giữa trồng trọt với chăn nuôi, kinh tế trang trại kết hợp nông, lâm, ngư nghiệp, kết hợp nông nghiệp với các ngành nghề ở nông thôn
+ Loại trang trại thuần nông, sản xuất tập trung vào nông nghiệp ở các nước có nền nông nghiệp phát triển như Mỹ, Canada, Tây Âu, các trang trại này
đi sâu vào chuyên môn hóa sản xuất ngũ cốc, chuyên môn hóa chăn nuôi gia súc, gia cầm, hay chuyên môn hóa trồng các loại cây thực phẩm, cây ăn quả, [6]
Thu nhập của trang trại
Nguồn thu nhập của các trang trại hiện nay đã có sự thay đổi nhiều so với các trang trại trước đây, bao gồm thu nhập từ trong trang trại và ngoài trang trại
Có thể chia thành hai loại:
- Trang trại thuần nông, nguồn thu nhập chủ yếu là từ sản xuất nông nghiệp Loại trang trại này ở các công ghiệp phát triển đang ngày càng giảm,
năm 1980 ở Pháp còn 71%, năm 1985 ở Italia còn 26% ở các nước và lãnh thổ châu á như Nhật Bản năm 1950, trang trại thuần nông còn 50% đến năm 1985 giảm xuống còn 15% trong tổng số trang trại [6] Đài Loan năm 1960 có 49,3%
số trang trại thuần nông đến 1980 còn 9% [7]
- Trang trại có thu nhập thêm từ ngoài nông nghiệp: Loại trang trại này ở
các nước ngày càng tăng và có những nước tỷ lệ số trang trại loại nàycao hơn số trang trại thuần nông ở Pháp năm 1980 chiếm 29%, Hà Lan năm 1985 chiếm 71%, ở Nhật Bản năm 1985 chiếm 85% [6], Đài Loan hiện nay có 91% trang trại
21
Trang 30có thu nhập ngoài nông nghiệp [7], ở Malaysia, thu nhập của nông dân có từ 2 nguồn: trong và ngoài nông nghiệp, trong đó phi nông nghiệp chiếm từ 45 - 47% tổng thu nhập của hộ gia đình Chính sách đa dạng hoá nông nghiệp từ 1984 ở Malaysia đã góp phần nâng cao thu nhập của mỗi hộ gia đình ở bang Pahang là 3.000 USD/năm [7] Trong toàn bộ lãnh thổ, thu nhập của các trang trại từ nông nghiệp là 41%, phi nông nghiệp là 59% Nhìn chung do nguồn thu nhập của các trang trại từ nông nghiệp là thấp nên phải thêm các ngành nghề dịch vụ ở nông thôn và thành phố để tăng thu nhập
Vị trí và vai trò của kinh tế trang trại gia đình trong quá trình phát
triển sản xuất nông nghiệp và công nghiệp hóa
Trang trại gia đình đã xuất hiện hàng trăm năm nay Trong nền sản xuất hàng hóa có cạnh tranh phân hóa, trang trại gia đình vẫn tồn tại và phát triển ở các nước công nghiệp phát triển Bên cạnh đó, ở nhiều nước đang phát triển, các
xí nghiệp - công nghiệp lớn và các hình thức nông nghiệp tập thể hoạt động kém hiệu quả đã buộc phải thay đổi phương thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp
Do vậy, trong hoàn cảnh ấy, các nước trên thế giới hiện nay, kinh tế hộ gia đình
và mức phát triển cao hơn là kinh tế trang trại gia đình tiếp tục được mở rộng,
được khuyến khích mở rộng
Trong nền nông nghiệp thế giới, trang trại gia đình đã khẳng định được vị trí và vai trò của nó trong phát triển kinh tế
Trang trại gia đình đã và đang là lực lượng chủ yếu sản xuất các loại nông
sản, đáp ứng yêu cầu đa dạng của con người Hiện nay, nước Mỹ với khoảng 2,2
triệu trang trại gia đình đã sản xuất hơn 50% sản lượng đậu tương và ngô của
toàn thế giới Nước Pháp có 980.000 trang trại gia đình sản xuất ra nông sản gấp
2,2 lần nhu cầu trong nước với tỷ suất hàng hóa về ngũ cốc là 95%, thịt sữa 70 - 80%, rau quả trên 70% và riêng năm 1981 đã xuất khẩu trên 24 triệu ngũ cốc [6] ở châu Âu, các trang trại gia đình phân tán, quy mô không lớn nhưng đã tạo
ra tỷ suất nông sản hàng hóa cao và khối lượng nông sản hàng hóa nhiều Hiện
22
Trang 31nay, Nhật Bản có 4.200.000 trang trại gia đình với quy mô nhỏ đã đảm bảo
lương thực, thực phẩm cho trên 100 triệu người, nhu cầu về gạo đạt 107%, thịt 81%, sữa 89%, rau quả 76 - 95% ở Hàn Quốc, việc chú trọng phát triển kinh tế trang trại đã chuyển hướng đa dạng hóa cơ cấu sản xuất, tăng cường các loại vật nuôi, cây trồng có giá trị kinh tế cao Sản lượng rau quả, sản phẩm chăn nuôi tăng bình quân hàng năm 8 - 10% [7]
ở Malaysia năm 1990, kinh tế trang trại gia đình đóng góp 9% kim ngạch xuất khẩu và 11% GDP, thu hút 88% lực lượng lao động nông nghiệp, góp phần
rõ rệt trong việc xoá đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập và liên kết các bang nghèo xa xôi vào sự thống nhất kinh tế đa sắc tộc của quốc gia [7]
Chính trong quá trình phát triển, trang trại gia đình đã tăng cường ứng dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật, đặc biệt là giai đoạn hiện nay Trang trại gia đình ở nhiều nước công nghiệp đã được cơ giới hóa ở mức độ cao hoặc đang thực hiện cơ giới hóa một số khâu canh tác Do vây, năng suất lao động trong
nông nghiệp ở các nước nay càng tăng Năm 1990, một số lao động trong nông
nghiệp ở Bỉ có khả năng nuôi sống 100 người, ở Anh là 95 người, Mỹ: 80 người, Canada: 55 người, Nhật Bản: 20 người [6]
Trong quá trình phát triển, kinh tế trang trại gia đình có thể đáp ứng yêu
cầu của các hình thức sỡ hữu khác nhau, với quy mô khác nhau, các trình độ khoa học - công nghệ khác nhau, thúc đẩy quá trình hiện đại hoá nông nghiệp cùng với xu hướng chuyên môn, tập trung sản xuất
Vốn đầu tư và hoạt động cho vay để phát triển kinh tế trang trại
Nguồn vốn: Vốn của các trang trại thường bao gồm vốn cố định và vốn
lưu động, vốn tự có và có vốn huy động từ các nguồn ngoài trang trại Ngoài vốn
tự có, các trang trại còn sử dụng vốn vay ngân hàng, tiền mua chịu các loại vật tư
kỹ thuật của các cửa hàng và công ty dịch vụ Nhìn chung để mở rộng sản xuất kinh doanh, các trang trại ngày càng có xu hướng sử dụng nguồn vốn vay từ bên
23
Trang 32ngoài, ở Mỹ năm 1960, tổng vốn vay của các trang trại 10 tỷ USD; năm 1970 là
54,5 tỷ USD và năm 1985 là 88,4 tỷ USD Cũng ở Mỹ, phương thức bán hàng chịu tư liệu sản xuất trong nông nghiệp cho các trang trại năm 1960 chiếm gần 70% phần tiền vật tư kỹ thuật sử dụng ở các trang trại ở Nhật Bản năm 1970, Nhà nước đã có khoản đầu tư lớn cho nông nghiệp, quỹ tài trợ cho sản xuất lúa gạo chiếm 44% ngân sách cho nông nghiệp Nhà nước cho các trang trại gia đình vay vốn tín dụng với lãi suất thấp 3,5 - 7,5%/năm để cải tạo đồng ruộng, mua sắm máy móc Nhà nước còn trợ cấp cho các trang trại 1/3 đến 1/2 giá bán các loại máy móc nông nghiệp mà Nhà nước cần khuyến khích [dẫn theo 6]
Sự ra đời và phát triển kinh tế trang trại của ác nước có nền nông nghiệp phát triển đòi hỏi phải có một nguồn vốn đầu tư từ ngân hàng Ngoài sự hỗ trợ của Nhà nước về chính sách đầu tư về kết cấu hạ tầng cho nông nghiệp, thì các chủ trang trại phải tìm kiếm nguồn vốn đầu tư trên thị trường tài chính Nếu không có nguồn vốn tài trợ từ phía ngân hàng thì quá trình tích tụ trong sản xuất nông nghiệp sẽ diễn ra chậm chạp, trong lúc các chủ trang trại cần một lượng vốn nhất định mới thực hiện được mục tiêu kinh doanh Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp các ngân hàng thương mại luôn dành một quỹ đầu tư với lãi suất ưu
đãi cho vay, bên cạnh đó ngân hàng có một đội ngũ chuyên gia am hiểu về sản xuất nông nghiệp, về thị trường tiêu thụ sản phẩm, họ có thể làm tư vấn cho các nhà đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp và kinh tế trang trại nói riêng
Đây là một bài học kinh nghiệm cho vấn đề tìm giải pháp tín dụng nâng cao vai trò ngân hàng cho việc phát triển kinh tế trang trại ở nước ta
2.1.3.2 Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam
Một số loại hình kinh tế trang trại trong lịch sử
- Thái ấp
Đây là vùng đất riêng của các quý tộc họ Trần có quy mô khoảng 1 - 2 (ví
dụ như Thái ấp Linh Giang - Chí Linh - Hải Hưng của thượng tướng Trần Phó Duyệt; Thái ấp Quắc Hương - Thành Thị - Bình Lục - Nam Hà của Thái sư Trần
24
Trang 33Thủ Độ) Lực lượng lao động của các Thái ấp chủ yếu là các gia nô Hình thức này chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ so với dân cư và đất đai sản xuất trong cả nước [23]
- Điền trang
Điền trang là một tổ chức kinh tế nông nghiệp lớn xuất hiện nhiều dưới thời Trần Chủ điền trang là quý tộc và quan lại cao cấp Năm 1266 triều đình cho phép các vương hầu, công chúa, phò mã, cung tần chiêu tập dân phiêu tán không có sản nghiệp làm nô tì đi khai khẩn ruộng hoang, lập thành điền trang Thế kỷ 14 các Tôn thất thường sai nô tì của mình đắp đê bối ở bờ biển để ngăn nước mặn, sau 2 - 3 năm khẩn thành ruộng, lấy lẫn nhau và ở luôn đấy Nhiều
điền trang ở thời kỳ này có đến hàng nghìn mẫu (còn gọi là diện) và hàng trăm
hộ Người chủ có thể chuyển nhượng ruộng đất và nông nô Cuối thế kỷ 14, chế
độ điền trang khủng hoảng, phép "hạn điền" của Hồ Quý Ly càng đẩy nhanh quá
trình tan rã Thời Lê về sau vẫn còn, nhưng số lượng ít và bị triều đình tìm cách hạn chế [23]
- Đồn điền
Đồn điền là một loại ruộng đất dưới các vương triều phong kiến Việt Nam, thường gắn liền với các công cuộc khẩn hoang, kết hợp kinh tế chính thức và quân sự do Nhà nước quản lý Năm 1344, nhà Trần chính thức lập đồn điền, đặt các chức đồn điền chánh phó sứ ở Ty khuyến nông Năm 1462, nhà Lê đặt đồn
điền ''để dùng hết tiềm lực của nghề nông, mở rộng nguồn tích trữ cho Nhà
nước" Lúc ấy cả nước có 43 sở đồn điền, chia làm 3 loại (thượng, trung, hạ)
phân bổ từ vùng đồng bằng sông Hồng đến Thăng Hoa, Từ Nghĩa (Quảng Ngãi)
Thế kỷ 17 - 18, đồn điền tồn tại cả ở Đàng ngoài và Đàng trong Thế kỷ 19, các vua đầu triều Nguyễn đã khuyến khích việc phát triển đồn điền, nhất là ở Nam
kỳ, trong đó Nguyễn Tri Phương đóng vai trò chủ chốt
Lực lượng sản xuất trong điều kiện gồm tù binh, tù phạm, nô tì, binh lính, dân chiêu mộ Họ được tập hợp thành đội ngũ để làm việc dưới sự giám sát trực tiếp của quan chức Nhà nước Cũng có khi họ được giao đất cày cấy và phải nộp thuế hàng
25
Trang 34năm cho triều đình Chính sách này đã góp phần mở rộng diện tích canh tác, tăng sản lượng nông nghiệp, kết hợp với việc nuôi quân bảo vệ biện giới
Trong thời kỳ Pháp thuộc, nhiều đồn điền được lập nên, phần lớn đồn điền
là chủ Tây Người nông dân và công dân ở các đồn điền bị bóc lột tàn bạo, đặc biệt là các đồn điền cao su [23]
2.2 Vai trò của Nhà nước và của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển đối với kinh tế trang trại
2.2.1 Vai trò Nhà nước đối với phát triển kinh tế trang trại
Kinh tế trang trại ở nước ta hình thành là tất yếu thể hiện xu hướng mới của quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với thị trường
Thực tế những khảo sát ở các địa phương cho thấy: kinh tế trang trại ở nước ta tuy mới khôi phục và phát triển mạnh những năm gần đây những đã có những tác động tích cực về kinh tế - xã hội như thu hút vốn đầu tư, thúc đẩy hình thành những vùng nông sản hàng hóa tập trung, tạo thêm việc làm những mặt tích cực của kinh tế trang trại phù hợp với những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về phát triển nông nghiệp, nông thôn ở nhiều địa phương, việc phát triển kinh tế trang trại cũng đang nảy sinh một số vấn đề cần giải quyết
Một là, thừa nhận địa vị pháp lý của kinh tế trang trại, tạo khung pháp lý
rõ ràng và thuận lợi để những người có vốn, có đầu óc quản lý kinh doanh yên tâm đầu tư phát triển kinh tế trang trại và mạnh dạn đầu tư vào hoạt động khác nhau ở vùng nông thôn theo nguyên tắc thị trường, hiểu biết của nhà đầu tư
Hai là, thống nhất quản lý Nhà nước về kinh tế trang trại, như ban hành
tiêu chí, nhận dạng, đăng ký kinh doanh để thuận tiện trao đổi giao dịch trong các hoạt động sản xuất kinh doanh
Ba là, quy hoạch tổng thể và quy hoạch cụ thể phát triển kinh tế - xã hội của
các vùng, các địa phương trong cả nước Địa phương phải chi tiết hoá và khẳng định
26
Trang 35các vùng sản xuất hàng hóa trong nông, lâm, ngư nghiệp để định hướng phát triển cho kinh tế trang trại theo khả năng lợi thế của mình và để phát triển nông sản hàng hóa trên cơ sở gắn bó giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm
Bốn là, ban hành các chính sách để tạo môi trường pháp lý cho hoạt
động kinh doanh của kinh tế trang trại Nhà nước quan tâm thúc đẩy tiêu thụ nông sản và các hàng hóa khác cho kinh tế trang trại; chính sách về thu hút vốn đầu tư, trước hết là quan tâm đến đầu tư vào kết cấu hạ tầng nông thôn, đầu tư vào khoa học công nghệ; tập trung đầu tư nâng cao trình độ quản lý của các chủ trang trại
Thông qua cơ chế chính sách của Nhà nước đối với kinh tế trang trại
để vừa thúc đẩy việc hình thành những trang trại mới ở nơi có điều kiện, vừa phát huy mặt tích cực của các trang trại hiện có và hạn chế những hiện tượng tiêu cực nảy sinh đang là vấn đề bức xúc, tất yếu của quá trình phát triển Sự tác động của Nhà nước có vai trò to lớn trong việc tạo môi trường kinh tế và pháp lý để kinh tế trang trại hình thành và phát triển
2.2.2 Vai trò của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển cho vay phát triển kinh tế trang trại
Trong quá trình phát triển kinh tế của cả nước cũng như của từng vùng, từng địa phương thì vấn đề vốn và lao động là hai yếu tố vô cùng quan trọng giữ vai trò quyết
định Muốn tăng trưởng kinh tế thì phải gia tăng đầu tư, thực hiện tái sản xuất mở rộng
Để gia tăng đầu tư, bên cạnh việc sử dụng đầu tư tín dụng của hệ thống ngân hàng dưới tác động của ngân hàng trung ương thông qua chính sách tiền tệ
Để đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn thời
kỳ 2001 - 2010 đòi hỏi sự gia tăng đầu tư hàng năm hàng chục tỷ USD Nếu có giải pháp đúng đắn về vốn kết hợp với việc giải quyết cơ sở hạ tầng nông thôn, các chính sách giao quyền sử dụng đất lâu dài ổn định, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm sẽ khai thác được tiềm năng phát triển trang trại một cách triệt để
27
Trang 36Trong các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn nói chung, kinh tế trang trại nói riêng, vốn là nguồn lực quan trọng Việc hình thành
và phát triển kinh tế trang trại đòi hỏi vốn lớn hơn so với kinh tế hộ Nhìn chung vốn tự có của các chủ trang trại thường không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh doanh Hiện nay, hầu như tất cả các trang trại, để ổn
định và phát triển sản xuất thì nhu cầu vốn ngày càng trở nên một yếu tố hết sức quan trọng Do đó ngân hàng có một vai trò hết sức quan trọng là
đáp ứng vốn cho phát triển kinh tế trang trại thông qua con đường tín dụng ngân hàng phải có chính sách riêng về tín dụng cho các trang trại Trong
động lớn thứ hai sau Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn gắn
bó với khắp các tỉnh, thành phố Vì lẽ đó trong hoạt động kinh doanh phải gắn liền với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, đây cũng là một hệ quả tất yếu của một đất nước mà nông nghiệp
28
Trang 37chiếm 80% dân số, lao động chiếm 70%
Với cơ cấu tổ chức của hệt thống ngân hàng thương mại, thì Ngân hàng Đầu tư và Phát triển đang giữ một vai trò hết sức quan trọng đối với công cuộc phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta Từ những vùng đất với cuộc sống của người dân lao động nông nghiệp thuần tuý, nguồn tích luỹ để mở rộng sản xuất phát triển kinh tế gia đình chủ yếu là nguồn nhân lực với trình độ lao độngt hủ công, lượng vôn bằng tiền và vật tư cung cấp không đáng kể thì nguồn vốn cho vay của ngân hàng sẽ là nhân tố cơ bản
đảm bảo cho việc phát triển kinh tế ở nông thôn
Thực trạng các trang trại trên cả nước khi quyết định tổ chức đầu tư phát triển, người chủ trang trại có tính toán đến khả năng thực lực của gia
đình mình, cân đối tổng nhu cầu vốn tối thiểu để có phương án bù đắp số vốn còn thiếu qua con đường chủ yếu là vốn đi vay ngân hàng Mỗi khi các chủ trang trại có nhu cầu vay vốn khẩn thiết cũng là lúc họ sử dụng cạn kiệt nguồn vốn tự co của mình Tại thời điểm trên vai trò của ngân hàng cho vay vốn để phát triển kinh tế trang trại sẽ trở thành yếu tố hết sức quan trọng nhằm hỗ trợ đắc lực và kịp thời để họ tiếp tục ổn định sản xuất, tránh những khó khăn do tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp
Chính sự tham gia đầy đủ và kịp thời nguồn vốn của ngân hàng sẽ
đảm bảo cây trồng, vật nuôi được ổn định và phát triển, hạn chế được rủi
ro, góp phần đáng kể vào việc tăng năng suất cây trồng, vật nuôi
Việc cho vay của ngân hàng còn hạn chế được tình trạng đi vay nặng lãi trong các tầng lớp dân cư, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh ở khu vực nông thôn
29
Trang 382.2.2.2 Hoạt động của ngân hàng tham gia vào quá trình huy động vốn góp phần thúc đẩy hình thành thị trường tài chính nông thôn
Thị trường tài chính nông thôn bao gồm thị trường vốn và hoạt động tín dụng, nên hoạt động cho vay của ngân hàng làm vai trò trung gian dẫn vốn giữa những người có vốn tạm thời nhàn rỗi với những người cần vốn phục vụ quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa được nhanh chóng, tạo kênh dẫn vốn linh hoạt từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn Hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển có khả năng đảm nhiệm một phần của thị trường tài chính nông thôn, góp phần quan trọng trong việc huy động vốn và cho vay ở những khu vực nông thôn có kinh tế hàng hóa phát triển
Với vai trò này, hoạt động cho vay của ngân hàng có khả năng huy
động vốn trong nông thôn phcụ vụ lại sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn nói chung và kinh tế trang trại nói riêng Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của kinh tế trang trại góp phần xoá đói giảm nghèo, tạo ra một lượng của cải vật chất đáng kể, giải quyết được công ăn việc làm cho nhiều người lao động, nguồn thu của ngân chính sách Nhà nước từ đây cũng tăng lên
2.2.2.3 Hoạt động cho vay của ngân hàng góp phần thúc đẩy nhanh quá trình tích tụ, tập trung vốn và tư bản sản xuất để đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn
Thông qua công tác huy động vốn từ nguồn tiết kiệm trong khu vực dân cư và được tập trung vào ngân hàng để tạo nên nguồn vốn cho vay ở khu vực nông thôn đáp ừng nhu cầu cần thiết cho sản xuất và đời sống Với những người chủ trang trại thông qua vốn vay ngân hàng sẽ có điều kiện đầu tư vào sản xuất kinh doanh như mua sắm thêm tư liệu sản xuất, thuê nhân cồn, ứng dụng khoa học - công nghệ mới vào sản xuất để thâm canh tăng năng suất cây trồng, vật nuôi Khi quy mô và hiệu quả kinh tế của các trang trại đem lại đáng kể thì từ nguồn tích luỹ này các chủ trang trại để có điều kiện mở rộng quy mô sản xuất
30
Trang 39theo hướng thâm canh hiện đại, tiếp cận với nền sản xuất nông nghiệp tiến tiến của các nước trên thế giới
Bằng nguồn vốn của ngân hàng đã giải quyết công ăn việc làm, góp phần xoá đói giảm nghèo Vốn ngân hàng không những tham gia vào phát triển sản xuất mà còn đáp ứng một phần vốn cùng nhân dân và Nhà nước đầu tư nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến; đầu tư cho những công trình, dự án nhằm cải tạo nhân giống mới có khả năng suất chất lượng cao phục vụ cho sản xuất, tiêu dùng và xuất khẩu Mỗi khi mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh
có hiệu quả sẽ có nguồn thu nhập và tích luỹ, thoả mãn được các nhu cầu về cuộc sống vật chất và tinh thần thì các chủ trang trại sẵn sàng tham gia đóng góp sức người, sức của để xây dựng kết cấu cơ sở hạ tầng nông thôn
2.2.2.4 Hoạt động cho vay của ngân hàng đ∙ góp phần tận dụng, khai thác tiềm năng về đất đai, lao động và tài nguyên thông qua kinh tế trang trại
Tiềm năng nông nghiệp của nước ta còn rất lớn, trong đó trung du và miền núi chiếm 3/4 diện tích của cả nước, diện tich mặt nước, ao đầm ven sông biển rất lớn Với những đặc điểm về diện tích đất tự nhiên này rất thuật lợi cho ciệc phát triển kinh tế trang trại Như vậy được đầu tư đúng mức cùng với các cơ chế chính sách của Nhà nước về lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn cùng với cơ chế cho vay của ngân hàng hợp lý thì tiềm năng về nông nghiệp của nước ta sẽ được khai thác triệt để Việc mở rộng và phát triển kinh
tế trang trại cũng đồng thời giải quyết được một số lượng lao động trong nông thôn có việc làm ổn định Với chính sách cho vay tới tận hộ gia đình đã nâng cao được hiệu quả sự dụng đất đai cũng như mở rộng diện tích cây trồng, vật nuôi, từng bước thu nhỏ đất trống đồi núi trọc và diện tích ao đầm, mặt nước chưa khai thác, tạo ra được nhiều sản phẩm hàng hóa có giá trị
31
Trang 402.3 Những vấn đề đặt ra về vay vốn ngân hàng để phát triển kinh tế trang trại
2.3.1 Đối với ngân hàng
- Khả năng sinh lời: đối với mỗi dự án của kinh tế trang trại xin vay vốn
đều được ngân hàng thẩm tra kỹ lưỡng về tính khả thi, tính hiệu quả của dự án ở bất kỳ quy mô lớn hay nhỏ Tất nhiên phân tích dự án thuộc lĩnh vực nông nghiệp rất thiếu nhiều thông tin, nên việc tính toán NPV và IR nhiều khi thiếu căn cứ, ví dụ như sản lượng phụ thuộc vào thời tiết của từng năm, giá nông sản không ổn định Nhưng dựa vào thực tế để phân tích dự án để loại trừ những yếu tố rủi ro hiệu quả hoạt động của các trang trại chính là hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, do đó khi ngân hàng có nguồn thu nhập cũng chính là nhờ hiệu quả của hoạt động cho vay phát triển kinh tế trang trại được tốt hơn Dù hoạt
động ở lĩnh vực nào thì hoạt động của ngân hàng thương mại là hướng tới lợi nhuận, khả năng sinh lợi phụ thuộc vào mức lãi suất, tỷ lệ dư nợ lành mạnh, khả năng sinh lời lớn cũng có nghĩa là thường xuyên quan tâm đến xu hướng phát triển của các chủ trang trại [30]
- Tính thanh khoản: Ngân hàng có thể chuyển đổi tiền vay thành tiền mặt tại thời điểm cần thiết, đây là một chức năng của các điều khoản và điều kiện của món vay mà người vay phải thực hiện Nhưng việc tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp thường theo thời vụ nên việc lưu chuyển tiền tệ trong sản xuất nông nghiệp không được thường xuyên Vì vậy để có dòng tiển luân chuyển ổn định thì ngân hàng phải đa dạng hoá cho vay các loại hình trang trại [30]
Nếu không có tính thanh khoản cao thì khả năng mở rộng cho vay của ngân hàng, cũng như việc trả nợ cho người gửi tiền sẽ bị ảnh hưởng xấu
- Nguyên tắc bảo toàn vốn vay: Đẻ bảo đảm an toàn vốn, đòi hỏi tiền vay phải được sử dụng vào những mục đích đưa lại hiệu quả kinh tế trả nợ sau khi nhu cầu của người vay đã được thoả mãn Ngân hàng yêu cầu phải có tài sản thế
32