1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tóm tắt luận án: Tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bình Định

25 408 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 223 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời gian qua,mỗi địa phương ở các vùng, miền khác nhau của nước ta, việc phát triển các hìnhthức tổ chức lãnh thổ kinh tế TCLTKT hết sức đa dạng.. Đồng thời, thấy được mốiliên hệ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Sự phân hoá theo lãnh thổ về tự nhiên, dân cư, kinh tế, xã hội là một tất yếukhách quan Tổ chức lãnh thổ (TCLT) là một trong những biểu hiện gắn kết cáchoạt động kinh tế nhằm đảm bảo cho việc khai thác các tiềm năng và lợi thế ngàycàng tốt hơn, góp phần đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế của địa phương Đồngthời tạo nên mối liên kết giữa các khu vực hành chính, tự nhiên khác nhau trongcùng một địa phương cũng như giữa các địa phương với nhau Trong thời gian qua,mỗi địa phương ở các vùng, miền khác nhau của nước ta, việc phát triển các hìnhthức tổ chức lãnh thổ kinh tế (TCLTKT) hết sức đa dạng

Tỉnh Bình Định nằm trong vùng kinh tế Duyên hải Nam Trung Bộ và thuộcđịa bàn kinh tế trọng điểm (KTTĐ) miền Trung Việc nghiên cứu về TCLTKT tỉnhBình Định sẽ có ý nghĩa rất lớn trong việc sắp xếp, bố trí các hoạt động kinh tếdựa trên cơ sở sử dụng có hiệu quả nhất sự phân bố khác nhau theo lãnh thổ cácđiều kiện tự nhiên, dân cư, kinh tế, xã hội ở địa phương Đồng thời, thấy được mốiliên hệ mật thiết của các hình thức TCLTKT đảm bảo cho việc khai thác lãnh thổngày càng bền vững; sớm đưa Bình Định trở thành một trong những cực kinh tếphát triển mạnh trong khu vực miền Trung và Tây Nguyên theo Nghị quyết màĐại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XVIII đề ra

Từ những lí do trên, tác giả đã lựa chọn vấn đề: “Tổ chức lãnh thổ kinh

tế tỉnh Bình Định” làm đề tài luận án tiến sĩ

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu

Vận dụng và làm sáng tỏ cơ sở lí luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ kinh tế

để phân tích, đánh giá về thực trạng TCLTKT tỉnh Bình Định Từ đó, đề xuất các giảipháp về TCLTKT tỉnh Bình Định trong tương lai

2.2 Nhiệm vụ

- Tổng quan có chọn lọc những vấn đề lí luận và thực tiễn cơ bản vềTCLTKT, từ đó vận dụng vào việc nghiên cứu TCLTKT trên địa bàn một địaphương cụ thể ở nước ta

- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của các nhân tố ảnh hưởng đếnTCLTKT của tỉnh Bình Định và thực trạng phát triển kinh tế tỉnh Bình Định

- Phân tích thực trạng TCLT theo ngành kinh tế và theo không gian ở tỉnhBình Định

- Xác định cơ sở và định hướng TCLTKT tỉnh Bình Định đến năm 2015,tầm nhìn đến năm 2020 và dề xuất các giải pháp TCLTKT tỉnh Bình Định cóhiệu quả và bền vững

3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

3.1 Nội dung: Tập trung phân tích, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến TCLTKT

tỉnh Bình Định Đồng thời, vận dụng các lí thuyết TCLTKT nhằm bước đầu pháthiện một số hình thức TCLTKT tỉnh Bình Định theo ngành và theo không gian

Trang 2

- TCLT theo ngành kinh tế: TCLTNN: trang trại, vùng chuyên canh (lúa,mía, mì, dừa và thủy sản); TCLTCN: điểm công nghiệp, khu công nghiệp, cụmcông nghiệp, trung tâm công nghiệp; TCLTDL: điểm du lịch, khu du lịch, trungtâm du lịch

- TCLTKT theo không gian: đô thị, KKT Nhơn Hội, HLKT quốc lộ 19 vàtiểu vùng kinh tế

3.2 Lãnh thổ: Nghiên cứu toàn bộ phạm vi lãnh thổ tỉnh Bình Định, lấy ranh giới

cấp huyện để phân tích một số hình thức có ý nghĩa quan trọng đối với TCLTKTtỉnh Bình Định và đặt lãnh thổ nghiên cứu trong mối quan hệ với vùng kinh tếtrọng điểm miền Trung

3.3 Thời gian: Luận án sử dụng nguồn số liệu giai đoạn 2000 - 2008 và tầm nhìn

đến năm 2020

4 Lịch sử nghiên cứu

Luận án tiến hành tổng quan các nghiên cứu về TCLTKT trên thế giới và ởViệt Nam, từ đó vận dụng các lí thuyết phát triển không gian vào việc phân tíchTCLTKT cấp tỉnh - tỉnh Bình Định

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

5.1 Quan điểm nghiên cứu: bao gồm quan điểm hệ thống và lãnh thổ, quan

điểm tổng hợp, quan điểm phát triển bền vững và quan điểm lịch sử, viễn cảnh

5.2 Phương pháp nghiên cứu: bao gồm phương pháp thu thập nguồn tài liệu, số

liệu, phương pháp xử lí nguồn tài liệu kết hợp phân tích và đánh giá tổng hợp,phương pháp bản đồ và sử dụng hệ thông tin Địa lí (GIS) và phương pháp khảosát, điều tra thực địa, thực tế kết hợp phương pháp chuyên gia

6 Đóng góp mới của luận án

- Đúc kết và làm sáng tỏ thêm lí luận và thực tiễn về TCLTKT trong điều kiện

cụ thể của Việt Nam và để vận dụng vào việc nghiên cứu TCLTKT cho cấp tỉnh

- Đánh giá được thế mạnh và hạn chế của các điều kiện tự nhiên, KT -XHcho việc TCLTKT tỉnh Bình Định và thực trạng phát triển kinh tế tỉnh Bình Định

- Phân tích thực trạng TCLTKT tỉnh Bình Định theo ngành và theo khônggian, làm rõ những mặt được và chưa được, làm căn cứ cho việc TCLTKT có hiệuquả hơn

- Đề xuất những định hướng chủ yếu đối với TCLTKT tỉnh Bình Định vàcác nhóm giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện TCLTKT theo hướng bền vững

7 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, các bản

đồ, biểu đồ, bảng biểu, tranh ảnh minh hoạ, phần nội dung của luận án đượctrình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về TCLTKT

Chương 2: Thực trạng tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bình Định

Chương 3: Định hướng và giải pháp về TCLTKT tỉnh Bình Định đến năm 2015

và tầm nhìn đến năm 2020

Trang 3

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ 1.1 Cơ sở lí luận về tổ chức lãnh thổ, tổ chức lãnh thổ kinh tế

1.1.1 Khái niệm về tổ chức lãnh thổ

“Tổ chức lãnh thổ, về đại thể là sự kiến thiết lãnh thổ Trong một lãnh thổ

có rất nhiều thành phần (bộ phận) về tự nhiên, dân cư, kinh tế, xã hội Vấn đềchính là ở chỗ phải tổ chức như thế nào để đạt được mục tiêu phát triển KT-XH.Trên cơ sở đó, tổ chức lãnh thổ được hiểu là sự sắp xếp các thành phần (đã,đang hoặc dự kiến sẽ có) trong mối liên hệ đa ngành, đa lãnh thổ ở một vùngnhằm sử dụng hợp lí các nguồn lực để đạt hiệu quả cao nhất về các mặt kinh tế,

xã hội, môi trường và phát triển bền vững” [42, tr.188]

Các nhà khoa học thuộc Liên Xô cũ trước đây, người ta đã sử dụng kháiniệm phân bố lực lượng sản xuất [66] Về bản chất, khái niệm đó gần giống vớikhái niệm tổ chức không gian kinh tế của các nước phương Tây Họ coi TCLT

là sự sắp xếp, bố trí (phân bố) và phối hợp các đối tượng có mối liên hệ qua lạigiữa các hệ thống sản xuất, hệ thống tự nhiên và hệ thống dân cư nhằm sử dụngmột cách hợp lý các tiềm năng tự nhiên, cơ sở vật chất kĩ thuật của lãnh thổ đểđạt hiệu quả cao về kinh tế, xã hội, môi trường và nâng cao mức sống dân cưcủa lãnh thổ đó

Các nhà khoa học của các quốc gia phát triển ở phương Tây theo hướngkinh tế thị trường lại sử dụng phổ biến thuật ngữ “tổ chức không gian” Họ chorằng: tổ chức không gian ra đời từ cuối thế kỷ XIX và đã trở thành một khoahọc kinh tế lãnh thổ Tổ chức không gian được xem như là lựa chọn nghệ thuật

sử dụng lãnh thổ một cách đúng đắn và có hiệu quả (Jean Pean Paul DeGaudemar.1992) [66]

Ở góc độ Địa lý học, TCLT được xem như là một hành động có chủ ýhướng tới sự công bằng về mặt không gian giữa trung tâm và ngoại vi, giữa cáccực và các không gian ảnh hưởng, nhằm giải quyết ổn định công ăn việc làm, cânđối giữa quần cư nông thôn và quần cư thành thị, bảo vệ môi trường sống [68]

Như vậy, TCLT là tổ chức các hoạt động kinh tế, xã hội và cả môi trường trên

bề mặt lãnh thổ một cách đúng đắn, có căn cứ khoa học và mang lại hiệu quả cao

1.1.2 Khái niệm, bản chất của tổ chức lãnh thổ kinh tế

1.1.2.1 Khái niệm về tổ chức lãnh thổ kinh tế

"Tổ chức lãnh thổ kinh tế là sự "sắp xếp" và " phối hợp" các đối tượngtrong mối liên hệ đa ngành và đa lãnh thổ trong một vùng cụ thể, nhằm sử dụngmột cách hợp lý các tiềm năng tự nhiên, lao động, vị trí địa lý kinh tế - chính trị

và cơ sở vật chất kỹ thuật đã và sẽ được tạo dựng, để đem lại hiệu quả kinh tế

-xã hội cao và nâng cao mức sống dân cư, đảm bảo sự phát triển bền vững củamột lãnh thổ" [66, tr.366]

Như vậy, TCLTKT là việc tổ chức các hoạt động kinh tế một cách có căn

cứ khoa học Nó bao gồm TCLT các ngành kinh tế, dựa trên cơ sở đó là điềukiện hình thành các hình thức TCLT nông nghiệp, TCLT công nghiệp và TCLT

Trang 4

dịch vụ TCLTKT theo không gian dựa trên cơ sở đó là điều kiện hình thànhcác khu vực đăc biệt (vùng KTTĐ, HLKT, KKT, đô thị )

1.1.2.2 Bản chất của tổ chức lãnh thổ kinh tế

Bản chất của TCLTKT là tìm ra phương án hợp lí nhất về kiến thiết lãnhthổ làm sao cho trong quá trình phát triển của các ngành, lĩnh vực theo cùnghướng và liên hệ mật thiết với nhau tạo ra tính nhất quán cần thiết nhằm đạtđược hiệu quả KT - XH cao, có được sự phát triển bền vững cho lãnh thổ vàcho cả hệ thống lớn hơn

1.1.3 Đối tượng của tổ chức lãnh thổ kinh tế

Lãnh thổ với tư cách là đối tượng của TCLTKT Nó có ranh giới xác định.Ranh giới đó có thể có ý nghĩa pháp lý và cũng có thể chỉ có ý nghĩa ước lệ Lãnhthổ [68] - một vùng hữu hạn về phạm vi, ở đó có các yếu tố tự nhiên, nơi sinh sốngcủa một cộng đồng dân cư và có những hành vi tác động vào tự nhiên, trực tiếphoạt động kinh tế, xã hội theo đường lối, chủ trương phát triển KT - XH của đấtnước và tất cả các đối tượng đó có liên hệ mật thiết với hệ thống lãnh thổ khác

1.1.4 Các nguyên tắc tổ chức lãnh thổ kinh tế

Tổ chức lãnh thổ kinh tế cần đảm bảo 4 nguyên tắc [68]:

- Phải thoả mãn yêu cầu về khả năng tài nguyên và nhu cầu thị trường, đảmbảo lợi ích của cộng đồng và đạt hiệu quả kinh tế, xã hội cao

- Hài hoà, tương tác, hỗ trợ cùng phát triển đảm bảo hiệu quả kinh tế - xãhội cho tổng thể

- Phải kiến thiết cho được những khu nhân (những trung tâm đô thị, thànhphố, khu vực ngoại vi) để tạo nền văn minh ở trình độ cao hơn trong TCLTKT

- Phải phù hợp với trình độ nguồn nhân lực và trình độ khoa học công nghệ

Nó được xem như là sự kế thừa thành tựu của nhân loại để hướng tới hiện đại

1.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế

1.1.6.1 Nhóm các nhân tố bên trong

Nhóm các nhân tố này bao gồm toàn bộ các nhân tố tự nhiên, KT - XH cóbên trong phạm vi lãnh thổ Đây là các nhân tố có ảnh hưởng lớn đến TCLTKT.Bởi vì, sự phát triển kinh tế trên một không gian, đòi hỏi phải có mối quan hệchặt chẽ giữa sản xuất và điều kiện sản xuất Những yếu tố trên đây được coi

như “đầu vào” hình thành TCLTKT Bao gồm: vị trí địa lý, các điều kiện tự

nhiên và TNTN, các điều kiện kinh tế - xã hội

1.1.6.2 Nhóm các nhân tố bên ngoài

Đây là nhóm các nhân tố tác động mạnh đến TCLTKT trong cơ chế kinh

tế thị trường Quan trọng nhất và có tác động mạnh nhất phải kể đến: thị trường

và các mối liên hệ kinh tế liên vùng, nguồn đầu tư từ bên ngoài, tác động củacác hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội trong khu vực và quốc tế cũng có nhữngảnh hưởng đến TCLTKT

1.1.7 Một số hình thức cơ bản của tổ chức lãnh thổ kinh tế

1.1.7.1 Một số hình thức TCLT các ngành kinh tế

Trang 5

i) Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp: bao gồm các hình thức: hộ gia đình, trang trại,hợp tác xã nông nghiệp, vùng chuyên môn hoá nông, lâm, ngư nghiệp và vùng

1.1.7.2 Một số hình thức TCLTKT theo không gian

i) Vùng kinh tế

Vùng kinh tế được xem như là một thực thể khách quan, sự tồn tại của nó

là do yêu cầu phát triển KT - XH của mỗi quốc gia quyết định Nó được đặctrưng bởi các điều kiện tự nhiên, kinh tế và chuyên môn hoá sản xuất trên cơ sởphân công lao động địa lí cũng như bởi các mối liên hệ kinh tế nội vùng ổn định.Vùng kinh tế còn là một khâu cơ bản trong việc TCLT nền sản xuất xã hội, là đốitượng chủ yếu của chính sách vùng và kế hoạch hoá lãnh thổ ” [37, tr.9]

ii) Các khu vực (lãnh thổ) đặc biệt

- Vùng kinh tế trọng điểm [37] là vùng hội tụ đầy đủ nhất các điều kiệnphát triển và đóng vai trò quyết định đối với nền kinh tế cả nước Vùng KTTĐ

là đối tượng trọng điểm về đầu tư nhằm tạo ra ‘‘cú hích’’cho toàn bộ nền kinh

tế đất nước ” [37, tr.21]

- Hành lang kinh tế [66] hình thành dựa trên một tuyến trục giao thônghuyết mạch với sự tập trung các cơ sở công nghiệp và dịch vụ dọc hai bên tuyếntrục đó Do có sự phát triển tập trung các cơ sở kinh tế, lợi dụng triệt để để vậnchuyển thuận lợi nên các hoạt động kinh tế thường đem lại hiệu quả cao hơn.Đây là hình thức TCLTKT có triển vọng và chỉ mang tính ước lệ

- Khu kinh tế [7], [66] là một địa bàn lãnh thổ, được vận hành theo khungkhổ pháp lý riêng (thường là theo thông lệ quốc tế), chính quyền sở tại được phâncấp nhiều quyền hạn hơn và trên đó được áp dụng những cơ chế, chính sách đặcbiệt thông thoáng hơn so với những khu vực khác của quốc gia, tạo điều kiệnthuận lợi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào đầu tư phát triển sản xuất -kinh doanh - dịch vụ, khuyến khích xuất khẩu để tạo động lực mới cho nền kinhtế

- Đô thị [15], [42]: với vai trò là những hạt nhân tạo vùng, các đô thị liênkết với nhau trong một không gian nhất định làm cho không gian đô thị trởthành những lãnh thổ có kinh tế đô thị phát triển mang ý nghĩa to lớn

1.2 Cơ sở thực tiễn về tổ chức lãnh thổ kinh tế

1.2.1 Khái quát về tổ chức lãnh thổ kinh tế ở Việt Nam

1.2.1.1 Vùng kinh tế

Trang 6

“Ở nước ta, vùng kinh tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhưng khôngphải là bất biến Nó có thể thay đổi, phụ thuộc chủ yếu vào trình độ phát triển

KT - XH ở từng giai đoạn nhất định của đất nước” [44, tr.3] Hệ thống 6 vùngkinh tế vẫn được sử dụng để xây dựng phương án phát triển và tổ chức KT -

XH của đất nước theo lãnh thổ từ năm 2004 đến nay

1.2.1.3 Hành lang kinh tế

Trong xu thế hội nhập nền kinh tế thế giới theo xu hướng toàn cầu hóa,việc hình thành và phát triển các HLKT được xem như là một bộ phận cấuthành trong chiến lược kinh tế đối ngoại của đất nước Đồng thời, tăng cườngmối quan hệ giao lưu phát triển KT - XH và cải thiện đời sống dân cư của cáclãnh thổ dọc theo các hành lang Từ việc nhận thức được ý nghĩa và tầm quantrọng như vậy, trong thời gian gần đây nước ta đã hình thành một số HLKTquan trọng trong nước và có sự liên kết, hợp tác với một số nước láng giềng

1.2.1.4 Khu kinh tế

Ở Việt Nam loại hình KKT mới ra đời trong thời gian gần đây, có thể tập

hợp lại thành hai nhóm chính Một là các khu kinh tế mang một chức năng riêng biệt; Hai là các khu kinh tế mang chức năng tổng hợp, bao gồm: KKT ven

biển, KKT cửa khẩu, KKT quốc phòng

1.2.1.5 Đô thị

Gần đây ở Việt Nam, đô thị đã được phát triển cả về số lượng, chất lượng

và phân bố tương đối rộng khắp trên phạm vi cả nước Nhiều đô thị đã và đangchuyển dần từ chức năng hành chính thuần tuý sang cả chức năng kinh tế, tuỳtheo các cấp độ khác nhau mà đảm nhận các chức năng trung tâm chính trị, kinh

tế, văn hoá

1.2.1.6 Trang trại

Ở Việt Nam, trang trại mới phát triển từ đầu thập niên 90 của thế kỉ XX, song

đã tạo ra những biến chuyển mới trong nông nghiệp, nông thôn, tạo điều kiện đểnông nghiệp nước ta chuyển nhanh sang sản xuất hàng hoá Hiện nay, kinh tếtrang trại đã phát triển mạnh ở hầu khắp các địa phương trong cả nước, hìnhthành mô hình sản xuất mới trong nông nghiệp và nông thôn nước ta

1.2.1.7 Khu công nghiệp

Ở nước ta, KCN được hình thành vào đầu thập niên 90 của thế kỉ XX.KCN đã và đang được hình thành có tác động tích cực đến sự phát triển ngànhcông nghiệp nói riêng và của các vùng kinh tế nói chung Các KCN phân bốkhông đồng đều theo lãnh thổ, tập trung nhất là ở Đông Nam Bộ

1.2.1.8 Khu du lịch

Trang 7

Ngày nay, khu du lịch đang được các tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương quan tâm phát triển, tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng Thôngthường, các khu du lịch có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có diện tích cần thiết đểxây dựng các công trình, cơ sở dịch vụ, có kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kĩthuật đồng bộ và có khả năng thu hút lượng khách du lịch đông đảo.

1.2.2 Khái quát về tổ chức lãnh thổ kinh tế vùng kinh tế Duyên hải Nam Trung Bộ

Vùng kinh tế Duyên hải Nam Trung Bộ có địa bàn phân bố kéo dài từ ĐàNẵng đến Bình Thuận Các hình thức TCLTKT nổi bật ở vùng này, đó là: vùngKTTĐ miền Trung, HLKT quốc lộ 19, KKT, đô thị, trang trại, KCN và khu du lịch

1.2.2.1 Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

Vùng KTTĐ này có những đặc điểm nổi bật, đó là: nằm ở vào trung độcủa đất nước, là một trong ba đầu mối giao thông quốc tế quan trọng nhất cảnước Có nguồn tài nguyên tương đối đa dạng, phong phú, có nhiều tiềm năngnổi trội về đất, biển, rừng, khoáng sản, đặc biệt là tất cả các tỉnh, thành đều giápbiển cho phép phát triển kinh tế biển tổng hợp Trong vùng đã hình thành mộtdải các đô thị ven biển phân bố đều trên lãnh thổ Hệ thống đô thị cùng với cácKKT, khu du lịch - đó là những hạt nhân tạo vùng, có tác động lớn đến sự pháttriển KT - XH của vùng trong tương lai

1.2.2.2 Hành lang kinh tế quốc lộ 19

Đây là HLKT Đông - Tây quan trọng gắn kết giữa Tây Nguyên và phầnlãnh thổ phía Nam của vùng KTTĐ miền Trung - là một trọng điểm đầu tư [1].HLKT quốc lộ 19 còn là một trong các hành lang có vai trò quan trọng trong liênkết thúc đẩy phát triển vùng biên giới ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia vàthực hiện chiến lược phát triển liên vùng trong Tiểu khu vực sông Mekong

1.2.2.3 Khu kinh tế

Vùng kinh tế Duyên hải Nam Trung Bộ có nhiều KKT đã được hìnhthành và đang đi vào hoạt động (xem bảng 1 phụ lục 2) Cùng với việc hìnhthành KKT Chu Lai, KKT Dung Quất, KKT Nhơn Hội, KKT Nam Phú Yên,KKT Vân Phong cũng đã được hình thành, đặc biệt KKT Dung Quất

1.2.2.4 Đô thị

Hệ thống đô thị của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ được hình thành vàgắn liền với quá trình khai thác và phát triển KT - XH vùng, tạo thành mộtkhông gian tuyến - điểm từ Bắc xuống Nam dọc theo đường bờ biển, theo quốc

lộ 1A và theo các lưu vực sông Do đặc thù về hình dạng lãnh thổ kéo dài vàtương đối hẹp ngang, do đó chuỗi đô thị thuộc vùng này thường xuất hiện thànhdãi dọc ven biển và gắn liền với hệ thống cảng biển

1.2.2.5 Trang trại

Khác với các vùng kinh tế có trang trại phát triển nổi bật ở nước ta, vùngDuyên hải Nam Trung Bộ có một số đặc điểm liên quan với sự hình thành vàphát triển KTTT: đây là vùng “đất chật, người đông”, khả năng mở rộng diệntích rất hạn chế trong khi áp lực về việc làm cho người dân luôn tăng cao; vẫn

Trang 8

còn tồn tại tính cộng đồng làng xã rất cao của nông thôn Việt Nam Việc pháttriển KTTT nên đi theo trình tự từ đơn giản đến hiện đại, lấy việc phát triểnkinh tế hộ làm tiền đề để hình thành KTTT, tránh sử dụng các công cụ kíchthích kinh tế trực tiếp để tạo ra một hệ thống các trang trại phong trào, không cótính ổn định và bền vững [72].

1.2.2.6 Khu công nghiệp

Cùng với xu thế phát triển chung của cả nước, các KCN ở vùng này cũng

đã được hình thành dựa vào điều kiện thuận lợi về vị trí, địa hình, địa chất, khảnăng cấp điện, nước, giao thông, nguồn lao động…Các KCN chủ yếu phân bốdọc theo dải ven biển, dọc theo quốc lộ, gắn với cảng biển Đây là điều kiệnthuận lợi cho việc thu hút đầu tư phát triển công nghiệp và hệ thống đô thị trongtương lai

1.2.2.7 Khu du lịch

Du lịch được xem như là ngành kinh tế mũi nhọn của vùng Duyên hảiNam Trung Bộ, có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch của cảnước Đáng chú ý nhất là các khu du lịch biển tổng hợp và khu du lịch chuyên

đề Một số địa phương cho phép khách du lịch Caravan (khách du lịch đi bằng ôtô) và bằng đường biển qua các cảng Đà Nẵng, Nha Trang và Quy Nhơn

1.3 Hướng tiếp cận trong nghiên cứu các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh

tế cấp tỉnh - tỉnh Bình Định

Dựa trên cơ sở nghiên cứu có chọn lọc những vấn đề lí luận và thực tiễn

cơ bản về TCLTKT, trong quá trình thực hiện việc nghiên cứu các hình thức tổchức lãnh thổ kinh tế cấp tỉnh - tỉnh Bình Định, bước đầu tác giả đã tập trungphân tích các nhân tố ảnh hưởng đến TCLTKT của tỉnh Sự phân hoá lãnh thổBình Định được biểu hiện một cách khá rõ nét theo 2 bộ phận chính, đó là bộphận phía Đông và bộ phận phía Tây với những lợi thế nổi bật có ý nghĩa đốivới việc hình thành và phát triển các hình thức TCLTKT

- Bộ phận Đồng bằng, ven biển phía Đông (huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, An Nhơn, Tuy phước và thành phố Quy Nhơn)

Tiềm năng phát triển kinh tế nổi trội của bộ phận phía Đông là phát triểnsản xuất nông, ngư nghiệp, khai thác khoáng sản kết hợp với một số ngành côngnghiệp chế biến, phát triển du lịch biển - đảo, nghĩ dưỡng kết hợp du lịch thamquan, tìm hiểu các di tích văn hoá, lịch sử và phát triển giao thông đường biển

- Bộ phận Trung du, miền núi phía Tây (huyện Tây Sơn, Hoài Ân, An Lão, Vĩnh Thạnh và Vân Canh)

Tiềm năng phát triển kinh tế nổi trội của bộ phận phía Tây chính là pháttriển thuỷ điện, phát triển mô hình sản xuất nông - lâm kết hợp và du lịchsinh thái

Ngoài ra, Bình Định còn có một lợi thế hết sức nổi bật đó là vị trí địa lí,gắn cảng biển với HLKT quốc lộ 19, nằm ở cực Nam của vùng KTTĐ miềnTrung, dọc theo tuyến giao thông huyết mạch Bắc - Nam với các đầu mối giaothông quan trọng như đường sắt, đường biển, đường bộ Việc tiến hành xem xét

Trang 9

các công trình và phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc, hệ thốngcác công trình cấp điện, cấp thoát nước, các công trình công cộng…là hết sứccần thiết đối với việc hình thành các hình thức TCLTKT

Tác giả đồng tình với quan điểm của Viện Chiến lược phát triển về việcvận dụng một số lí thuyết phát triển không gian trong nghiên cứu TCLTKT.Trong số các lí thuyết phát triển không gian, có một số lí thuyết quan trọng hơn

cả và mang giá trị thực tiễn đối với Việt Nam nói chung và lãnh thổ cấp tỉnh nóiriêng [68] Đó là:

- Lí thuyết trung tâm của W.Christaller: nhà khoa học người Mỹ này coi trọng

vai trò của các đô thị trung tâm đối với quá trình phát triển vùng Ông cho rằngchức năng cơ bản của các đô thị này là công nghiệp và dịch vụ vì thế chúngđược xem như là những trung tâm hạt nhân tạo vùng

- Lí thuyết cực của Francoi Perroux: nhà khoa học người Pháp này coi các

trung tâm đô thị là những cực có tác động lôi kéo sự phát triển chung cho lãnhthổ Ông cho rằng trong các loại đô thị trung tâm luôn có 2 loại là cực tăngtrưởng và cực phát triển Cực tăng trưởng là những trung tâm đô thị mới hìnhthành và đang trong quá trình phát triển hoàn thiện Cực phát triển là nhữngtrung tâm đô thị đã hoàn thiện hoặc tương đối hoàn thiện về chức năng và sựphát triển, nó có tác dụng cung cấp các dịch vụ cho khu vực xung quanh và thuhút từ khu vực xung quanh những nhu cầu cần thiết cho bản thân đô thị

- Lí thuyết vành đai nông nghiệp của Von Thunen: nhà khoa học người Đức này

đã đưa ra lí thuyết hình thành vành đai sản xuất nông nghiệp xung quanh mỗi

đô thị trung tâm Lí thuyết này cho rằng xung quanh mỗi đô thị trung tâm cómột số vành đai sản xuất nông nghiệp

- Lí thuyết phát triển phi cân đối: lí thuyết này do người Trung Quốc đề xướng,

chủ trương phát triển vùng ven biển để tạo động lực Nền kinh tế của mỗi quốcgia sẽ có những ngành, lĩnh vực có lợi thế để phát triển thành những ngànhmũi nhọn; có những lãnh thổ do có sự hội tụ về điều kiện thuận lợi, nếu tậptrung đầu tư sẽ trở thành lãnh thổ động lực làm đầu tàu lôi kéo sự phát triểnchung, tạo sự đột phá trên toàn lãnh thổ

- Lí thuyết phát triển chuỗi hay chùm đô thị: tuỳ theo điều kiện cho phép có thể

hình thành nên chuỗi hoặc chùm đô thị Sự kết nối các đô thị theo tuyến sẽ hìnhthành nên chuỗi đô thị, trên cơ sở đó tạo ra các HLKT rất hữu ích Chuỗi đô thịthường hình thành ở những khu vực có hình dáng lãnh thổ hẹp ngang và kéo dài(như dải miền Trung Việt Nam) Còn chùm đô thị thường được hình thành ởnhững vùng đồng bằng châu thổ hoặc đồng bằng ven biển có diện tích tươngđối rộng Trong mỗi chùm đô thị sẽ có một đô thị hạt nhân, gắn với nó là hàngloạt các đô thị xung quanh làm vệ tinh

- Lí thuyết phát triển tập trung vào những lãnh thổ cụ thể mang chức năng

chuyên môn hoá: lí thuyết này được ứng dụng khá phổ biến ở lãnh thổ có khả

năng hình thành các vùng nguyên liệu gắn với công nghiệp chế biến, vùng nôngnghiệp công nghệ cao, các khu kinh tế tổng hợp hay chuyên ngành, các khu

Trang 10

công nghiệp hay khu du lịch Lí thuyết này coi trọng cả điều kiện tự nhiên, kinh

tế, xã hội, đặc biệt coi trọng yếu tố thị trường

Trên đây là những căn cứ quan trọng để xác định hai tiểu vùng kinh tế(tiểu vùng phía Đông và tiểu vùng phía Tây) và các hình thức TCLTKT cấptỉnh - tỉnh Bình Định Cụ thể, đó là: trang trại, vùng chuyên canh (lúa, mía, mì,dừa và thủy sản); điểm công nghiệp, KCN, CCN, trung tâm công nghiệp; điểm

du lịch, khu du lịch, trung tâm du lịch; đô thị, KKT và HLKT

Mặt khác, khi lựa chọn phương án TCLTKT cấp tỉnh - tỉnh Bình Định, tácgiả đã dựa vào một số căn cứ, đó là: kết quả đánh giá những mặt đã đạt được vàchưa đạt được về thực trạng TCLTKT tỉnh Bình Định; tính liên tục về mặt khônggian Địa lí theo các tiểu vùng; bối cảnh trong nước, khu vực và quy hoạch pháttriển KT - XH của tỉnh Bình Định đến năm 2020 Phương án TCLTKT tỉnh BìnhĐịnh được thể hiện theo 3 tiểu vùng kinh tế: tiểu vùng phía Nam, tiểu vùng phíaĐông và tiểu vùng phía Tây Đối với mỗi tiểu vùng, các hình thức TCLTKT, cáccực kinh tế và hướng ưu tiên phát triển sẽ được xác định một cách cụ thể

Đồng thời, tác giả đã tiến hành biên tập, xây dựng hệ thống các bản đồ thànhphần: bản đồ hành chính, bản đồ nguồn lực tự nhiên, bản đồ nguồn lực KT - XH;bản đồ TCLTNN, TCLTCN, TCLTDL; bản đồ thưc trạng TCLTKT, bản đồ địnhhướng TCLTKT tỉnh Bình Định Qua đó, thể hiện một cách trực quan các hình thứcTCLTKT cấp tỉnh - tỉnh Bình Định

Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ TỈNH BÌNH ĐỊNH 2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bình Định

i) Thuận lợi

- Bình Định là tỉnh nằm ở phía Nam của vùng kinh tế trọng điểm miềnTrung, có vị trí địa lý gắn với cảng biển và HLKT Đông - Tây, đó là: đầu mốiphía Đông HLKT đường 19, đầu mối giao thương về đường sắt, đường bộ,đường biển, đường hàng không theo chiều Bắc - Nam và Đông - Tây, gắn kếtchặt chẽ kinh tế biển với sự phát triển của Tây Nguyên, Nam Lào, Đông BắcCampuchia và Thái Lan

- Bình Định có một hệ thống cảnh quan biển - đảo, núi, đầm và hồ, cùngvới 150 điểm di tích, danh thắng và tiềm năng văn hóa phi vật thể nổi tiếng nhưmôn phái võ thuật Tây Sơn, nghệ thuật hát Tuồng và tuyến du lịch Phương Mai

- Núi Bà chạy dọc ven biển đã được Trung ương xác định là tuyến trọng điểmquốc gia Đó là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch, hòa nhập vào cácchương trình du lịch liên vùng như: “Con đường Di sản miền Trung” và “Conđường Xanh Tây Nguyên”

- Sự đa dạng về địa hình và đất đai cho phép hình thành trên địa bàn tỉnh BìnhĐịnh nhiều vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau, các loại hình trang trại và cókhả năng sản xuất hàng hoá

Trang 11

- Hệ thống kết cấu hạ tầng KT - XH đã bước đầu được đầu tư phát triển vàtăng cường năng lực hoạt động của hệ thống đường biển, đường bộ, đường sắt,đường hàng không, đặc biệt là các đầu mối giao thông Nhân tố này cộng với vịtrí địa lí đã hình thành nên một số địa bàn và tuyến - lực trọng điểm, đó là cácKCN, khu du lịch, KKT Nhơn Hội, các đô thị và HLKT Từ đó, tạo điều kiệnthuận lợi trong việc TCLTKT ngày càng hợp lí hơn.

ii) Khó khăn

- Do nằm khá xa hai trung tâm kinh tế sôi động và phát triển mạnh là thànhphố Hồ Chí Minh và Hà Nội nên Bình Định vẫn còn những hạn chế nhất định,nhất là trong các lĩnh vực: thông tin kinh tế, thông tin thị trường và công nghệ

- Cơ cấu lao động chuyển dịch chậm, tỷ trọng lao động nông nghiệp trong

cơ cấu lao động làm việc trong nền kinh tế quốc dân còn cao (trên 65%) Thiếulao động có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ giỏi

- Nguồn lực đầu tư phát triển của địa phương còn hạn hẹp, đặc biệt cònthiếu sức hấp dẫn đối với đầu tư bên ngoài

2.2 Thực trạng phát triển kinh tế tỉnh Bình Định

2.2.1 Khái quát chung nền kinh tế tỉnh Bình Định

Về quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế: Bình Định là địa phương có tốc

độ tăng trưởng kinh tế hàng năm thường cao hơn mức trung bình chung của cảnước Nhịp độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2000 - 2008 bình quân hàng năm là9,8%, trong đó khu vực công nghiệp và xây dựng tăng bình quân cao nhất16,1%, tiếp đến khu vực dịch vụ tăng bình quân 10,7%, còn lại khu vực nông,lâm, thủy sản tăng bình quân thấp nhất 6,1%

Về cơ cấu kinh tế: có sự chuyển dịch theo hướng khai thác lợi thế củatừng ngành, phù hợp với xu thế chung của cả nước Khu vực I giảm từ 42,2%(năm 2000) xuống còn 37% (năm 2008), khu vực II tăng từ 22,6 % (năm 2000)lên 27,1% (năm 2008), khu vực III tăng từ 35,2% (năm 2000) lên 35,9% (năm2008) Cơ cấu GDP phân theo thành phần kinh tế có sự chuyển dịch theo hướngkhuyến khích mọi thành phần kinh tế cùng phát triển

Về cơ cấu vốn đầu tư cũng có những chuyển biến tích cực Xét theo khu vựckinh tế, cơ cấu vốn đầu tư đối với khu vực dịch vụ chiếm tỉ trọng khá cao, từ 50 -65% và đang có chiều hướng giảm Trong khi đó, khu vực CN & XD chiếm từ 20

- 40%, có chiều hướng gia tăng Còn khu vực nông, lâm, thuỷ sản chỉ chiếmkhoảng 10% cơ cấu vốn đầu tư của tỉnh Xét theo cấu thành, cơ cấu vốn đầu tưtrong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản chiếm tỉ trọng rất cao, từ 80 - 85%

2.2.2 Các ngành kinh tế

2.2.2.1 Nông, lâm, thủy sản

Sản xuất nông, lâm, thủy sản phát triển tương đối toàn diện và có nhữngchuyển biến tích cực từ một nền nông nghiệp mang tính tự cấp, tự túc đãchuyển mạnh sang nông nghiệp hàng hoá theo hướng công nghiệp hóa, hiện đạihóa Trong giai đoạn 2000 - 2008, giá trị xản xuất của cả 3 ngành nông nghiệp,lâm nghiệp và thuỷ sản đang có chiều hướng gia tăng mạnh

Trang 12

2.2.2.2 Công nghiệp

Ngành công nghiệp của tỉnh tuy còn nhiều khó khăn nhưng tiếp tục tăng

trưởng và phát triển khá Năm 2008, giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh đạt

12807,3 tỷ đồng tăng gấp 1,9 lần năm 2005 Trong đó, giá trị sản xuất của nhómngành công nghiệp chế biến thường chiếm tỉ trọng rất cao, gần 90% Các ngànhcông nghiệp chủ lực của địa phương đều thuộc nhóm ngành công nghiệp chế biến

2.2.2.3 Dịch vụ

Các ngành dịch vụ, du lịch có những chuyển biến với nhiều loại hình hoạtđộng và có nhiều thành phần kinh tế tham gia Kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh,năm 2008 gấp 2 lần năm 2005 và 4,2 lần năm 2000 Cơ sở hạ tầng du lịch đượcnâng cấp, chất lượng dịch vụ du lịch được nâng lên khá rõ Công tác quy hoạch,đầu tư hạ tầng, quảng bá và xúc tiến du lịch được chú trọng

Năm 2008, diện tích đất đai trang trại chiếm 1,3% diện tích đất nôngnghiệp của tỉnh Trong đó, bình quân diện tích đất đai trên một trang trại lớnnhất thuộc về loại hình trang trại lâm nghiệp (8,6 ha/trang trại), nhỏ nhất là loạihình trang trại chăn nuôi (1,5 ha/trang trại) Lao động trang trại chỉ chiếmkhoảng 0,7% lao động đang làm việc trong khu vực nông, lâm, thủy sản Thunhập của trang trại khoảng 30,8 ti đồng

Mặc dù, diện tích đất đai, lao động và thu nhập trang trại ở tỉnh BìnhĐịnh chiếm tỉ trọng rất thấp so với các chỉ tiêu nông nghiệp toàn tỉnh, nhưngcác trang trại nơi đây mang ý nghĩa rất lớn cả về mặt kinh tế, xã hội và môi trường.Kinh tế trang trại đã góp phần hạn chế sự thoái hoá đất, phủ xanh đất trống, đồi trọc,biến những vùng đất khô cằn thành những vùng đất có độ phì nhiêu ngày càng tăng,sản xuất được nhiều loại nông sản hàng hoá, nhất là đối với các huyện Phù Mỹ, PhùCát, Hoài Ân và thành phố Quy Nhơn Mặt khác, phần lớn các trang trại đều có ýthức sử dụng lao động hợp lí, tận dụng tối đa lao động gia đình Việc hình thành vàphân bổ các loại hình trang trại trên địa bàn tỉnh đã biết dựa vào lợi thế so sánh củatừng vùng và kinh nghiệm sản xuất truyền thống của hộ nông dân để hình thành loạihình trang trại đạt hiệu quả, đặc biệt trang trại nuôi trồng thủy sản và trang trạitrồng cây lâu năm

ii) Vùng chuyên canh cây trồng và thủy sản

Ngày đăng: 12/06/2015, 23:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w