1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thành phố hội an thời pháp thuộc (1897 – 1945)

63 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy được xây dựng dưới chế dộ thuộc địa, với ý đồ chính phục vụ cho sự thống trị của thực dân Pháp, nhưng Hội An thời Pháp thuộc cũng đã có một diện mạo mới với những hoạt động kinh tế n

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA LỊCH SỬ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

THÀNH PHỐ HỘI AN THỜI PHÁP THUỘC (1897 - 1945)

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian thu thập, nghiên cứu tư liệu, tôi đã hoàn thành xong khóa

luận tốt nghiệp với đề tài “Thành phố Hội An thời Pháp thuộc (1897 – 1945) Ngoài

sự nổ lực của bản thân thì tôi còn nhận được sự giúp đỡ từ rất nhiều phía

Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn, TS Nguyễn Duy Phương, người đã gợi mở đề tài và luôn theo sát chỉ dẫn tôi, giúp đỡ tôi đi đúng hướng trong quá trình thực hiện nghiên cứu

Tiếp theo cho phép tôi được gửi lời cảm ơn đến các Thầy, Cô trong khoa Lịch

sử trường Đại học sư phạm – Đại học Đà Nẵng, Thư viện Thành phố Hội An, Trung tâm bảo tồn di tích thành phố Hội An, đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong việc tìm kiếm tài liệu liên quan đến đề tài

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, người thân đã luôn bên cạnh tôi, quan tâm, động viên và đưa ra những lời khuyên bổ ích, nhờ vậy mà khóa luận tốt nghiệp được hoàn chỉnh hơn

Đà Nẵng, ngày 25 tháng 4 năm 2018

Sinh viên thực hiện

Phạm Xuân Quý

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Đóng góp đề tài 4

7 Cấu trúc đề tài 4

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HỘI AN TRƯỚC THỜI PHÁP THUỘC 5

1.1 Điều kiện tự nhiên 5

1.2 Khái quát lịch sử vùng đất Hội An trước thời Pháp thuộc 8

1.3 Hội An thương cảng quan trọng đối với phương Tây 11

CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC BỘ MÁY CHÍNH QUYỀN VÀ CƠ SỞ HẠ TẦNG THÀNH PHỐ HỘI AN THỜI PHÁP THUỘC (1897 – 1945) 17

2.1 Tổ chức bộ máy chính quyền thành phố Hội An 17

2.2 Quy hoạch và kiến trúc đô thị 21

2.2.1 Quy hoạch đô thị 21

2.2.2 Kiến trúc đô thị 21

2.4 Hệ thống cơ sở hạ tầng 26

CHƯƠNG 3: TÌNH HÌNH KINH TẾ, VĂN HÓA, XÃ HỘI THÀNH PHỐ HỘI AN THỜI PHÁP THUỘC (1897 – 1945) 29

3.1 Kinh tế 29

3.1.1 Thương mại, dịch vụ 29

3.1.2 Công nghiệp và thủ công nghiệp 33

Trang 4

3.1.3 Nông nghiệp 35

3.2 Văn hóa – Xã hội 38

3.3 Phong trào đấu tranh của nhân dân Hội An thời Pháp thuộc 44

KẾT LUẬN 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

PHỤ LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hội An, một trong những đô thị cổ xưa nhất của Việt Nam, có một chiều dài lịch sử hơn bốn trăm năm, ra đời dưới thời các chúa Nguyễn, có vị trí trung tâm, đặc biệt quan trọng cho việc phát triển kinh tế, văn hóa thời bấy giờ Chính vì thế, ngay

từ những ngày đầu đặt chân đến Việt Nam, thực dân Pháp đã tìm mọi cách thôn tính

và biến nơi đây thành một đô thị có vị trí quan trọng trong thể chế thuộc địa của thực dân Pháp ở Đông Dương

Tuy được xây dựng dưới chế dộ thuộc địa, với ý đồ chính phục vụ cho sự thống trị của thực dân Pháp, nhưng Hội An thời Pháp thuộc cũng đã có một diện mạo mới với những hoạt động kinh tế ngày càng sôi động, trở thành một trong những đô thị lớn đầu tiên ở Việt Nam

Cùng với công cuộc kiến thiết của thực dân Pháp, văn hóa, xã hội của Hội An trong giai đoạn này cũng có nhiều biến đổi Bên cạnh yếu tố văn hóa truyền thống, văn minh phương Tây cũng đã bắt đầu du nhập và ảnh hưởng đến văn hóa bản địa, làm thay đổi thói quen sinh hoạt của người dân nơi đây Và cũng từ đó, những tư tưởng, trào lưu cách mạng trên thế giới dễ dàng tác động đến tinh thần yêu nước của nhữn người con nơi phổ cổ, làm cho phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Hội An thời Pháp thuộc mang những sắc thái mới

Hiện nay, thành phố Hội An đã trở thành một điểm du lịch nổi tiếng của nước

ta, tuy chỉ chiếm một khoảng không gian chừng hai cây số nhưng miền đất cổ xưa này lại có sức vẫy gọi kì lạ, không chỉ đối với người dân ở mọi miền đất nước Việt Nam mà cả đối với các du khách và với các nhà nghiên cứu ở nhiều quốc gia của các châu lục trên thế giới Vì thế mà trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu văn hóa của Việt Nam và thế giới rất quan tâm tới việc nghiên cứu về khu phố cổ Hội An với hàng loạt các công trình nghiên cứu khoa học Cùng với đó, Sở Văn hóa

du lịch Quảng Nam cũng đang có những phương án để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa và tiềm năng du lịch của Hội An Vì vậy, việc tìm hiểu thành phố này trong quá khứ, nhất là giai đoạn Pháp thuộc là rất cần thiết, có ý nghĩa thiết thực trong công cuộc bảo tồn và phát triển của thành phố hiện nay

Trang 6

Xuất phát từ tính cấp thiết đó, tôi chọn đề tài “Thành phố Hội An thời Pháp thuộc (1897 – 1945)” để làm khóa luận tốt nghiệp Thực hiện đề tài này, tôi mong muốn góp phần hoàn thiện hơn việc tìm hiểu về thành phố cổ Hội An, nhất là giai đoạn Pháp thuộc để phục vụ cho công cuộc phát triển giá trị du lịch của thành phố, cũng như trong công tác giáo dục lịch sử cho thế hệ trẻ hôm nay

2 Lịch sử vấn đề

Đề tài “Hội An thời Pháp thuộc” là một đề tài thuộc về lịch sử địa phương Từ trước đến nay cũng có những công trình, bài viết đề cập ít nhiều Sau đây, chúng tôi xin nêu ra một số tài liệu có liên quan

Trong tác phẩm“Quảng Nam đất nước và nhân vật” của tác giả Nguyễn

Quang Thắng, nhà xuất bản Văn học (1996) Nội dung cuốn sách đã viết khá sâu sắc về các nhân vật lịch sử và vùng đất Quảng Nam

Tác phẩm“Xứ Đàng Trong, lịch sử kinh tế - xã hội thế kỉ XVII – XVIII” của tác

giả LiTaNa (bản dịch của Nguyễn Nghị) của NXB Trẻ (1999) Nội dung cuốn sách phản ánh sâu sắc về tình hình kinh tế - xã hội của xứ Đàng Trong vào thế kỉ XVII - XVIII Trong đó, tác giả có đề cập đến các vùng đất Quảng Nam – Đà Nẵng

Tác phẩm“Quảng Nam trong hành trình mở cõi và giữ nước” của tác giả

Nguyễn Quang Thắng, NXB Tổng hợp TPHCM (2002) Nội dung cuốn sách đã trình bày khá rõ nét quá trình hình thành vùng đất Quảng Đà nhìn từ góc độ văn hóa, giúp chúng ta hiểu sâu hơn về truyền thống mở cõi của tiền nhân ta suốt mấy trăm năm qua

Các bài báo, bài viết được in trên các tạp chí: Tạp chí Dân tộc học, Phan Đại Doãn, Làng quê – Thành thị, một thể thống nhất về kinh tế - xã hội, số 1, năm 1982; Tạp chí văn hóa nghệ thuật, Trần Quốc Vượng Việt Nam cái nhìn địa – văn hóa, NXB Văn hóa dân tộc, (2013); Tạp chí nghiên cứu lịch sử, Trần Quốc Vượng , Đà Nẵng qua cái nhìn địa lý – văn hóa – lịch sử, số 6, (1998),… Các công trình này đã giúp chúng tôi tìm hiểu được ít nhiều vấn đề cần nghiên cứu một cách tổng quan khái quát nhất để từ đó làm nền tảng, cơ sở đề đi sâu hơn vào vấn đề trọng tâm Nói chung, tất cả những công trình này đã trình bày một giai đoạn hoặc trình bày thông sử miền Thuận – Quảng xưa Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên

Trang 7

cứu trực tiếp về phố cổ Hội An, mặc dù vậy những công trình này đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong công việc cung cấp nguồn tư liệu, cũng như tạo điều kiện cho chúng tôi tiếp cận khai lược mảnh đất con người và những giá trị của làng để nghiên cứu làng một cách toàn diện và có hệ thống hơn

3 Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu quá trình thiết lập, xây dựng, quản lí, khai thác thành phố Hội An của thực dân Pháp cùng những biến chuyển về kinh tế, chính trị, xã hội của thành phố trong giai đoạn này

3.2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu “Hội An thời Pháp thuộc” nhằm dựng lại bức tranh lịch sử sinh động

về một thành phố khá hiện đại dưới chế độ cai trị của thực dân Pháp Qua đó, một lần nữa khẳng định vị trí chiến lược và tầm quan trọng của thành phố này trong quá khứ lẫn hiện tại và tương lai

Mục tiêu tối thượng của bất kì một nước đế quốc thực dân xâm lược nào cũng

là khai thác, bóc lột thuộc địa nhằm mang lại lợi nhuận cao nhất cho chúng Việc xây dựng và phát triển thành phố Hội An của thực dân Pháp cũng không nằm ngoài mục tiêu này Vì vậy, khóa luận này còn có mục đích cho chúng ta thấy được những thủ đoạn bóc lột và bản chất chế độ thuộc địa của thực dân Pháp

Đặc biệt, đề tài sẽ cố gắng phục dựng lại diện mạo của thành phố trong giai đoạn Pháp thuộc, như về quy hoạch đô thị, cơ sở hạ tầng, hoạt động kinh tế…

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Về thời gian: từ năm 1897 đến năm 1945

Không gian: Hội An dưới thời Pháp thuộc

4 Nguồn tư liệu

Để làm đề tài này chúng tôi đã sử dụng nhiều nguồn tư liệu khác nhau:

Các tư liệu thành văn: Các sách chuyên ngành, sách chuyên khảo, các sách tham khảo, báo chí, gia phả, các công trình nghiên cứu, khóa luận tốt nghiệp, … có liên quan đến phố cổ Hội An

Trang 8

Cùng với đó là thu thập dữ liệu qua công tác điền dã ở địa phương trên địa bàn Hội An

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng nhiều phương pháp khác nhau: Phương pháp chính: phương pháp lịch sử và phương pháp logic

Các phương pháp khác: Sưu tầm tài liệu, phỏng vấn những người am hiểu về lịch sử địa phương trên địa bàn Hội An, trên cơ sở đó đối chiếu, so sánh để khách quan hóa nguồn tư liệu

Ngoài ra, phương pháp điền dã, thực địa cũng được chú ý đúng mức

7 Cấu trúc đề tài

Đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, phần nội dung gồm có 3 chương:

Chương 1: Khái quát về Hội An trước thời Pháp thuộc

Chương 2: Tổ chức bộ máy chính quyền và cơ sở hạ tầng Hội An thời Pháp

thuộc (1897 – 1945)

Chương 3: Tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội thành phố Hội An thời Pháp

thuộc

Trang 9

CHƯƠNG 1

KHÁI QUÁT VỀ HỘI AN TRƯỚC THỜI PHÁP THUỘC

1.1 Điều kiện tự nhiên

Hội An nằm ở vị trí 15º53’ vĩ độ Bắc, 108º20’ kinh độ đông Với tọa độ, Hội

An gần như là trung độ của đất nước, chỉ cách thành phố Đà Nẵng về phía Đông Nam 25 km và cách dinh trấn Quảng Nam – thủ phủ thứ 2 của Đàng Trong (trong các thế kỷ XVII, XVIII) khoảng 8 km Vì vậy, ngay dưới thời Champa và thời Chúa Nguyễn, Hội An đã được xem là cửa ngõ quan yếu của tỉnh Quảng Nam nói riêng

và Đàng Trong nói chung

Không chỉ có vị trí chiến lược, Hội An còn có nhiều yếu tố tự nhiên độc đáo của một vùng đất cửa sông – ven biển

Phía Tây và Tây Bắc Hội An giáp với huyện Điện Bàn, phía Tây Nam giáp huyện Duy Xuyên Nhờ vào vị trí này, Hội An có điều kiện thông thương với các vùng khác của xứ Quảng Từ Hội An ngược dòng Thu Bồn, Vu Gia có thể đến được các vùng trung du, miền núi phía Tây tỉnh Quảng Nam; theo đó có thể vươn ra phía Bắc nối thông Cửa Đại – Hội An với cửa Hàn – Đà Nẵng Đồng thời, Điện Bàn và Duy Xuyên cũng là hai huyện có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nông ngiệp, lại rất giàu có về nông lâm thổ sản, với nhiều chủng loại rất phong phú là nơi cung cấp nhiều hàng hóa, sản vật đáp ứng nhu cầu của các thương nhân đến buôn bán ở Hội An trong nhiều thế kỷ

Phía Đông Hội An giáp với biển Đông, là nơi có Đại Chiêm Hải Khẩu (nay là Cửa Đại) vừa rộng, vừa sâu rất thuận lợi cho thương thuyền ra vào Từ đây theo đường biển có thể lan tỏa, giao lưu với cả nước và cả thế giới

Cách Cửa Đại khoảng 8 hải lý là cụm đảo Cù Lao Chàm, gồm 8 đảo lớn nhỏ là hòn Ông, hòn Tai, hòn Lao, hòn Dài, hòn Mồ, hòn Lá, hòn Khô mẹ và hòn Khô con; với tổng diện tích của các đảo hơn 15 km², trong đó diện tích rừng chiếm khoảng 90% Hơn 3000 năm trước, tại Cù Lao Chàm đã có con người cư trú, với nhiều dấu vết, di chỉ thuộc văn hóa Tiền Sa Huỳnh Từ khoảng thế kỷ X- XI, Cù Lao Chàm đã trở thành tiền tiêu của Cửa Đại, là điểm dừng chân lấy nước ngọt, trú

Trang 10

bão cho các thương thuyền trên con đường hàng hải cũng như khi đến buôn bán với

Hội An và Đàng Trong Sách Đại Nam nhất thống chí viết “ Cách huyện Duyên

Phước 68 dặm về phía Đông, ngất ngưỡng giữa biển, gọi là đảo Ngọa Long, cũng còn gọi là Hòn Cù Lao, có tên nữa là Tiêm Bút, tên cổ là Chiêm Bất Lao, làm trấn sơn của cửa biển Đại Chiêm; Dân phường Tân Hiệp ở phía Nam núi”.[20]

Hội An có một phức hệ sông ngòi, đầm, bàu khá dày đặc, chúng tạo thành những “ngã tư nước” Trong đó hệ thống sông Thu Bồn đóng vai trò là chủ đạo, nối liền hai miền xuôi ngược và nối thêm cả hai chiều vận chuyển Bắc – Nam, kết thành một mạng lưới giao thông thủy nội địa giữa Hội An và các vùng trong tỉnh Hệ sông này có đỉnh từ ngọn núi Ngọc Linh chảy theo một chiều dài hơn 200 km, diện tích lưu vực khoảng 10.350 km², có hình rẻ quạt ở vùng đồng bằng hạ lưu, rồi lại tập trung thành một dòng chảy ra hướng Cửa Đại qua khu vực Hội An Cùng với hệ thống sông Thu Bồn, sông Cổ Cò, trong các thế kỷ XVI – XIX là huyết mạch giao thông chính nối liền Cửa Đại (Hội An) với Cửa Hàn (Đà Nẵng) Con sông này đã

được sách Đại Nam nhất thống chí ghi lại như sau: “ Lộ Cảnh Giang ở cuối hai

huyện Diên Phước và Hòa Vang, sông này từ xã Thanh Châu chảy ra phía Bắc đến phía Tây núi Tam Thai (Non Nước) nhập với sông Cẩm Lệ, nay nước sông cạn, ghe thuyền không đi được”[18] Trước khi bị bồi lấp vào nửa sau thế kỷ XIX, sông Cổ

Cò là một lộ trình giao thông đường thủy thuận lợi, được nhiều thương khách sử dụng khi đến giao thương với Hội An Có thể nói, các nguồn sông này đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - văn hóa Hội An Đó là huyết mạch giao thông, là nguồn phù sa bồi đắp nên nhiều vùng đất trù phú thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đồng thời đây cũng là nguồn nước tưới dồi dào cho hoạt động sản xuất của cư dân nơi đây

Tuy nhiên, hệ thống sông ở Hội An cũng có một số điểm hạn chế mà trong

bản đồ vẽ năm 1787 của Le Floch de la Cariere đã có ghi chú “ Con sông Hội An

cũng có những bất tiện y như con sông ở kinh đô (sông Hương), một dải cát ngầm trải ngang trên sông làm cho sông cạn, chỉ cho phép tàu nhỏ vào được mà thôi”

“các tàu có trọng tải lớn không thể vào Hội An nên phải xuống hàng ở Đà Nẵng”

Đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự suy tàn của thương cảng Hội An vào cuối thế kỷ XIX

Trang 11

Hội An có hai mùa rõ rệt, mùa khô kéo dài từ khoảng tháng 2 đến tháng 8; mùa mưa kéo dài từ tháng 9, tháng 10 đến tháng giêng năm sau Mùa đông nhiệt độ trung bình khoảng 23 - 24ºC Mùa hạ, nhiệt độ trong các tháng tương đối đồng đều nhau từ 28º - 30ºC Số giờ nắng trung bình trong năm 2.158 giờ Độ ẩm không khí

82 – 84%, mùa hạ giảm còn 75 – 78% Lượng mưa trung bình hàng năm 2.069 mm, phần lớn tập trung vào mùa đông, trung bình mỗi năm có 120 – 140 ngày mưa Tháng có mưa nhiều nhất là tháng 9, 10 Vào thời gian này hàng năm, Hội An thường xuyên phải chịu cảnh lụt lội, ngập nước gây ảnh hưởng lớn đến đời sống dân sinh, đặc biệt là hoạt động sản xuất nông nghiệp của nông dân.[18]

Địa hình, đất đai ở Hội An rất đa dạng, gồm đủ các loại hình sông, biển, đầm lầy, hồ nhưng chủ yếu vẫn là địa hình có nguồn gốc sông và biển Tuy không có những đồng bằng rộng lớn như các vùng khác trong tỉnh, nhưng ở đây lại có một số vùng đất bồi (Cẩm Kim, Cẩm Thanh, Cẩm Nam) rất màu mỡ, phù hợp với nhiều loại cây lương thực và rau màu Do địa hình ở đây chủ yếu có nguồn gốc sông và biển nên phần lớn đất đai thường bị chua, mặn, bạc màu Người nông dân phải tốn rất nhiều công sức cải tạo Hơn nữa, do đất đai bị chia nhỏ thành nhiều loại ở những khu vực không tập trung đã khiến cho nông nghiệp ở Hội An khó có thể tổ chức trồng trọt quy mô lớn với một loại cây trồng nhất định nhưng bù lại cây trồng ở đây lại có sự phong phú về chủng loại và đa dạng về các hoạt động sản xuất nông nghiệp Hiểu rõ đặc tính đó người nông dân Hội An đã sớm khắc phục những hạn chế của đất đai, địa hình đưa nông nghiệp phát triển cùng các nghành kinh tế khác Nhìn chung, Hội An có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, cùng nhiều yếu tố

tự nhiên thuận lợi, từ đó đã tạo cho Hội An có vai trò quan trọng trên mọi phương diện kinh tế, chính trị, quân sự đối với tỉnh Quảng Nam nói riêng và Đàng Trong (trong các thế kỷ XVI – XIX) nói chung Chính vì vậy, ngay từ thời Champa và các thời các Chúa Nguyễn, Hội An đã là một thương cảng vô cùng hấp dẫn đối với các nhà buôn và hàng hải phương Tây cũng như các nước trong khu vực Đông Nam Á; Trong suốt thời Pháp thuộc cũng như thời kì Mỹ - ngụy, Hội An luôn được chọn làm nơi đặt các cơ quan đầu não của chính quyền tay sai và là trung tâm của tỉnh lỵ Quảng Nam Tuy nhiên, điều kiện tự nhiên của Hội An cũng có nhiều điểm bất lợi Địa hình, địa mạo bị chia cắt bởi khá nhiều kênh rạch, sông lớn, sông nhỏ, đầm, bàu nước cùng với diện tích khá lớn của nỗng, doi, bãi cát khiến cho diện tích đất trồng

Trang 12

quá ít so với diện tích đất tự nhiên Thiên tai, lụt lội diễn ra hàng năm tàn phá nhà cửa, hoa màu Đặc điểm tự nhiên này đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống sinh hoạt

và sản xuất của người dân Hội An, góp phần hình thành ở nơi đây nhiều đặc thù về tính cách, tư duy kinh tế và sắc thái văn hóa rất riêng biệt mang đậm chất “Hội An”

1.2 Khái quát lịch sử vùng đất Hội An trước thời Pháp thuộc

Hội An là mảnh đất giàu truyền thống lịch sử và văn hóa, được kết tinh qua nhiều thời đại và từng nổi tiếng trên thương trường quốc tế với nhiều tên gọi khác nhau như Faifo, Hoài Phố, Hội An

Do có đặc điểm địa lý thuận lợi nên từ 2000 năm trước mảnh đất này đã tồn tại

và phát triển nền văn hóa Sa Huỳnh muộn Kế tiếp văn hóa Sa Huỳnh là hơn ngàn năm nền văn hóa Champa rực rỡ

Vào năm 1036, vua Champa là Chế Mân lấy hai châu Ô, Lý (đất từ Quảng Trị đến bờ bắc sông Thu Bồn tỉnh Quảng Nam ngày nay) làm lễ sính cưới công chúa Huyền Trân của Đại Việt Vua Trần Anh Tông đổi Châu Ô thành Thuận Châu (bao gồm các huyện Triệu Phong, Hải Lăng của Quảng Trị và Quảng Điền, Hương Trà của Thừa Thiên Huế ngày nay) và Châu Lý làm Hóa Châu (gồm các huyện Phú Vang, Phú Lộc của Thừa Thiên Huế và Hòa Vang (Đà Nẵng), Đại Lộc, Điện Bàn của Quảng Nam ngày nay) Đến thời nhà Hồ, cương giới phía Nam Đại Việt mở rộng đến Chiêm Động – Cỗ Lũy (tỉnh Quảng Nam – Quảng Ngãi ngày nay) Hồ Quý Ly lấy đất đó chia thành các châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa và thực thi nhiều chính sách, vừa động viên khuyến khích, vừa bằng hành chính kiên quyết để người Việt vào định cư khai khẩn Từ đây, Hội An đã trở thành một phần lãnh thổ của nước Đại Việt, nhưng trên thực tế, vì những vùng đất này quá xa tầm kiểm sát của nhà Hồ, cộng thêm sự tranh chấp, quấy phá liên tục của người Champa nên những vùng đất mới này vẫn chỉ có cư dân Champa sinh sống còn người Việt tuy đã có nhưng rất ít ỏi và cũng chưa thể định hình tổ chức làng xã một cách rõ ràng

Thời Lê, sau khi vua Lê Thánh Tông sáp nhập vùng Vijaya (Bình Định, Phú Yên) vào Đại Việt thì các châu Thuận Hóa, Quảng Nam mới thực sự được yên ổn

để xây dựng và củng cố Lúc này vua Lê Thánh Tông cho đổi hai châu Thuận, Hóa thành Thừa tuyên Thuận Hóa trên cơ sở địa giới cũ, gồm 2 phủ 8 huyện Và lập đạo Thừa tuyên Quảng Nam từ đất Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa cũ đến Hoài Nhơn, gồm 3

Trang 13

phủ 9 huyện, trải dài từ bờ Nam sông Thu Bồn đến tỉnh Bình Định ngày nay Những cải cách hành chính của vua Lê Thánh Tông càng thúc đẩy làn sóng di cư vào phương nam của dân Việt trở nên ồ ạt hơn Những vùng đất phì nhiêu chưa khai phá tiếp tục là đối tượng được chọn lựa trước Trong gia phả các tộc họ tiền hiền ở các làng xã Cẩm Thanh, Thanh Hà, Cẩm Nam đều ghi rằng tổ tiên của họ là người

từ phương Bắc theo vua Lê Thánh Tông đi bình Chiêm, rồi ở lại Hội An khai khẩn lập làng

Việc di dân, lập làng ở Hội An và Đàng Trong tiếp tục được diễn ra mạnh mẽ gắn với kế hoạch tạo nghiệp lâu dài của các Chúa Nguyễn bắt đầu từ thế kỷ XVI Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa Nhằm củng cố thế lực cát cứ chống lại chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và tiến dân về phía Nam, năm 1602, Nguyễn Hoàng cho lập Trấn dinh Quảng Nam Sau đó chúa cho chia đặt lại hệ thống đơn vị hành chính của Thuận Quảng, tách huyện Điện Bàn của phủ Triệu Phong ra để lập phủ Điện Bàn Từ đây cả vùng đất rộng lớn từ đèo Hải Vân đến núi Đá Bia (Phú Yên) mới trở nên yên ổn, thu hút đông đảo dân cư chủ yếu ở vùng Thanh – Nghệ vào khai khẩn đất đai, tạo ấp, lập làng, xây dựng cuộc sống mới Vào thời điểm này quá trình tụ cư của cư dân Đại Việt trên đất Hội An cũng đang định hình Đây chính

là điều kiện thuận lợi để Hội An (Quảng Nam) tiếp nhận luồng di dân mới từ phía Bắc vào lập nghiệp Tấm bia mộ cụ tổ tộc Lê , một trong 4 tộc tiền hiền của làng

Cẩm Phô có viết: “ đời truyền trước Gia Dũ Hoàng Đế (tức Nguyễn Hoàng) khai

khẩn Thuận, Quảng, cụ từ miền Bắc vào (không ghi rõ tỉnh) cùng thời các cụ trong tộc họ: Huỳnh, Trần, Nguyễn đến khai phá đất Thuận, Quảng Các cụ khai khẩn mấy trăm mẫu ruộng đất, phía Đông, Tây có sông bao bọc trở thành một làng tuyệt đẹp”[18] Cũng trong giai đoạn này theo các tài liệu điền dã, đồ tịch, thư tịch, bia

ký thì tên làng/xã Hội An bắt đầu xuất hiện

Cùng với việc định cư, lập làng của người Việt, trong thế kỷ XVII, do nhiều nguyên nhân, Hội An nổi lên như một trung tâm thương mại nổi tiếng không chỉ trong nước mà cả quốc tế với sự có mặt của thương thuyền các nước Trung, Nhật,

Ấn Độ, Xiêm, Bồ, Hà, Anh, Pháp đến giao thương mậu dịch Trong số các thương nhân đến buôn bán ở Hội An, có thương nhân người Trung Hoa và Nhật Bản đã được Chúa Nguyễn ưu ái cho lập phố định cư sống và buôn bán lâu dài trên đất Hội

An C Borri năm 1618 đã ghi chép sự kiện này như sau: “Vì cho tiện việc hội chợ,

Trang 14

Chúa Nguyễn đã cho phép người Trung Quốc và Nhật Bản làm nhà cửa theo tỷ lệ với số người của họ để dựng lên một đô thị Đô thị này gọi là Faifo và nó khá lớn Chúng ta có thể nói có hai thành phố, một của Trung Quốc, một của Nhật Bản Họ sống riêng biệt đặt quan cai trị riêng và theo phong tục tập quán mỗi nước” Như

vậy cùng với người Việt, người Trung Hoa và Nhật Bản đã góp phần thúc đẩy mạnh

mẽ thương cảng quốc tế Hội An phát triển và trở thành thành phần quan trọng trong cộng đồng cư dân Hội An thế kỷ XVII

Đến cuối thế kỷ XIX, hệ thống sông nước ở Hội An có nhiều biến động lớn, Cửa Đại di chuyển vị trí thường xuyên, ngày càng nông và có xu hướng hẹp dần; sông Cổ Cò – con đường thủy nội địa nối Hội An với cảng Đà Nẵng trong nhiều thế

kỷ trước bị bồi lấp, sự phát triển và bành trướng của hệ thống giao thông đường bộ, quốc lộ I, con đường giao thông huyết mạch của cả nước không đi qua Hội An khiến cho Hội An bị biệt lập Hơn nữa trước âm mưu xâm chiếm của chủ nghĩa tư

bản, triều Nguyễn đã thực hiện chính sách “bế quan tỏa cảng” Những lí do đó đã

dần làm mất đi vai trò quan trọng của thương cảng Hội An vào đầu thế kỷ XX Nhưng chính trong thời gian này, số dân cư ở Hội An cũng tăng nhanh, diện tích đất khai phá cũng được mở rộng, do đó nhiều làng xã mới được hình thành như Hòa Yên, Tân Hòa Đồng thời vào thời điểm này, một số làng quy mô dân số, diện tích đất phát triển đã tách ra thành các làng nhỏ như làng Thanh Châu tách thành Thanh Đông, Thanh Tây, Thanh Nam; làng Kim Bồng tách thành Kim Bồng Đông , Kim Bông Tây Hoặc dưới làng hình thành các thôn, sau đó thành ấp như làng Thanh Hà gồm 13 ấp (Hậu Xá, Thanh Chiếm, An Bang, Bộc Thủy, Nam Diêu, Cửa Suối, Bầu

Ốc, Trảng Kèo, Trảng sỏi, Đồng Nà, Trà Quế, Cồn Động, Bến Trễ)

Dưới thời Pháp thuộc, Hội An là tỉnh lỵ, nơi đặt hầu hết các cơ quan đầu não của chính quyền tay sai Ngày 20-10-1898, dưới sức ép của thực dân Pháp, vua Thành Thái ra chỉ dụ thành lập thị xã Faifo (Hội An) làm tỉnh lỵ Quảng Nam Đạo

dụ này được toàn quyền Đông Dương giới hạn phạm vi hành chính của thị xã gồm Hội An, Cẩm Phô, Minh Hương, Sơn Phong

Khái quát lại, đặc điểm về địa lý và diễn trình lịch sử của vùng đất Hội An vừa mang đậm những yếu tố chung của bản sắc dân tộc, vừa thể hiện những nét đặc thù sinh động Hội An sớm khẳng định vị thế của mình với vai trò là một đô thị - thương cảng quốc tế hưng thịnh suốt nhiều thế kỷ, là một trung tâm chính trị tỉnh lỵ

Trang 15

trong nhiều thời kỳ lịch sử Hội An cũng là một trong những địa bàn trọng điểm của các phong trào vận động đấu tranh giải phóng dân tộc theo nhiều khuynh hướng diễn ra liên tục cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Đó là bằng chứng lịch sử sinh động cho thấy cùng với những nét đặc sắc về lịch sử văn hóa mảnh đất con người Hội An còn đậm đà truyền thống yêu nước

1.3 Hội An thương cảng quan trọng đối với phương Tây

Nhờ những thành tựu kỹ thuật của nghành hàng hải, những phát kiến địa lý vào thế kỷ XV, đã mở đầu kỷ nguyên đại hàng hải của nhân loại, dẫn giai cấp tư sản châu Âu đi khắp thế giới và chủ nghĩa tư bản bắt đầu đến phương Đông, tiến hành xâm chiếm, tạo lập các thuộc địa, thị trường làm cho nền thương mại vốn có ở đây sôi động phát triển mạnh mẽ, trong đó có Faifo – Hội An, một vị trí quan trọng trên con đường thương mại hàng hải này Quan hệ thương mại ở Hội An – Đàng Trong thực tế không chỉ có thương nhân phương Tây mà còn có thương nhân ở nhiều nước châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, các nước Đông Nam Á Từ những vấn đề ở trên cho thấy Hội An không chỉ quan trọng trong cái nhìn của Pháp mà còn là thương cảng quan trọng mà các nước tư bản Phương Tây đều nhòm ngó

Đầu tiên phải kể đến đó là Bồ Đào Nha, đó là một quốc gia có kỹ thuật hàng hải phát triển nhất ở phương Tây; có những hàng hải nổi tiếng thế giới; giữ vai trò độc quyền truyền đạo Gia tô ở toàn phương Đông của giáo hội thời Trung Đại chính vì thế qua nhiều nguồn tư liệu có thể khẳng định người Bồ Đào Nha đóng vai trò đi tiên phong mở đường sang các nước phương Đông; năm 1948 chiếm Calicut, rồi năm 1510 chiếm Goa của Ấn Độ; Năm 1521 lập thương điếm ở Maluccu (Indonesia); Năm 1542 đến Hirado (Nhật Bản); Năm 1563 chiếm Ao Môn (Macao – Trung Quốc) Những nhà hàng hải Bồ Đào Nha sớm có mặt ở Hội An, họ là đại diện đầu tiên của chủ nghĩa tư bản phương Tây đặt chân lên bờ biển Việt Nam Năm

1523, Duarte Coelho đến vùng biển Hội An đã tạc lên đảo Cù Lao Chàm một hình thánh giá lớn làm lưu niệm nhưng lại không nói việc buôn bán có diễn ra ở vùng này Năm 1535 thuyền trưởng tàu Albuquenque là Antonie de Faria ghé vào vùng

biển Hội An – Đà Nẵng, ông thấy “một thành phố có tường bao quanh gần 10.000

nóc nhà, có 40 chiếc thuyền buồm lớn đến hai hay ba cầu tàu và xung quanh có khoảng 2.000 thuyền buồm với nhiều kích thước khác nhau”[6, tr98] Từ đó ông

quyết định xem Hội An như là một trung tâm mậu dịch và hàng hải khác của Bồ

Trang 16

Đào Nha Ông ta muốn biến Hội An thành một thành trì kiên cố như Goa (1510), Malacca (1511), nhưng đã không thực hiện được

Từ 1525 – 1540, Hội An đã nổi tiếng trên tuyến thương mại quốc tế, thời điểm này người Bồ đã có quan hệ buôn bán ở Hội An nhưng chưa thường xuyên Vào năm 1584, đã có một số người Bồ Đào Nha sống tại Đàng Trong, nhưng thương mại giữa Bồ với vùng đất Đàng Trong kém và rất phụ thuộc vào quan hệ buôn bán với Macao, Nhật Bản vào đầu thế kỷ XVII Về phía người Bồ Đào Nha việc buôn bán với Đàng Trong chỉ trở nên quan trọng từ 1640 khi họ không còn được buôn bán với Nhật vì vậy họ đã đến Đông Nam Á , Macassar và Larantuke – Solor – Timo Đầu thế kỉ XVII, người Bồ cùng với người NHật là thương nhân nước ngoài chủ yếu của thị trường Hội An Thuyền của họ chủ yếu từ Macao đến đầu kì mậu dịch mang theo các hàng đồ sành, sứ, bạc thoi, diêm sinh, lưu huỳnh, chì kẽm, vải nỉ màu xanh, đỏ Trong số hàng hóa thu được lãi cao nhất là các hợp kim Người Bồ mua tổ yến, trầm hương, vải lụa, tơ, gỗ quý, quế, dường, Chở về Macao hay Malacca Họ chịu một khoản thuế thương chính cao nhất trong số thương thuyền đến Hội An

Điểm riêng biệt so với thương nhân các nước phương Tây khác là người Bồ không đặt thương điếm và cũng không có tập đoàn thương mại như kiểu công ty

Đông Ấn ở Hội An, mà họ chỉ dùng tầng lớp “mại biện” và cho đại diện ở lại để thu mua hàng hóa trong những tháng “áp đông” để chuẩn bị cho mùa mậu dịch năm

sau Họ sử dụng những thông môn, liên lạc người bản xứ trong suốt mùa bôn bán Mặc dù số thương nhân có thay đổi theo mùa, nhưng lái buôn Bồ vẫn duy trì lâu dài mối quan hệ thân thiện với các hoạt động địa phương để bảo lãnh và thuận lợi cho hoạt động buôn bán

Đặc biệt việc người Bồ giúp chúa Nguyễn đúc súng ở Thuận Hóa khiến họ được sự trọng vọng trong buôn bán, bảo vệ được các nhà truyền đạo Lợi dụng thuận lợi này, người Bồ tìm mọi cách tranh cướp thị trường với các thương nhân khác trong khi họ là những chiến binh dày dạn kinh nghiệm trên biển, chiếm hữu thị trường từ bờ biển Châu Phi, Ấn Độ cho đến Indonesia Cộng với cách thức buôn bán khôn khéo, ngoài việc duy trì thuận lợi trong buôn bán ở Hội An, họ cũng là kẻ duy nhất có thể hoạt động đều đặn lâu nhất trong khi các nước như Nhật, Hà Lan, đã giảm sút vào những thế kỷ sau này

Trang 17

Sau Bồ Đào Nha, đó là những thương nhân Hà Lan, sau cách mạng tư sản kinh tế tư bản chủ nghĩa Hà Lan phát triển nhanh chóng, chẳng bao lâu chiếm được vị trí hàng đầu trong nền thương mại thế giới Thương thuyền Hà Lan được

mệnh danh “người chở xe hàng trên mặt biển”, bởi họ làm vận chuyển hàng cho

tất cả các nước Vào đầu thế kỷ XVII, người Hà Lan bắt đầu tìm cách tạo thuận lợi cho việc buôn bán ở Đàng Trong, lúc này họ gọi là Quinam Những nỗ lực đầu tiên được thực hiện vào năm 1601 hai thương gia người Hà Lan, nhân viên của VOC tên là Jeronimus Wonderer và Aibert Cornelis Ruyll, đã bỏ ra hai tháng trời để tạo mối quan hệ buôn bán và mua hồ tiêu tại Đàng Trong Mặc dù họ đã được chúa tiếp nhưng xem ra họ vẫn chưa gặp thời Khác với người Bồ hoạt dộng thương mại của Hà Lan chủ yếu dưới sự điều khiển của công ty Thực chất

ở thời kỳ này, Hà Lan muốn mua tơ lụa của Trung Quốc để bán sang Nhật, song những xích mích Hà Lan và Trung quốc khiến thương nhân Hà Lan phải chọn một thị trường vừa tiêu thụ hàng hóa mà vẫn mua được hàng Trung Quốc Do đó,

họ nhằm vào Hội An một nơi có nhiều tàu thuyền Trung Quốc Hơn nữa, Hội An

là nơi bán tơ lụa và các đặc sản quý khác của Đàng Trong thời đó Sau nhiều cố gắng, năm 1636 Hà Lan lập thương điếm tại Faifo – Hội An do Abraham Duijcker quản lý Từ năm 1636 -1637 mỗi năm có hai tàu Hà Lan đến Cochinchina – Đàng Trong Việc đặt thương điếm ở Hội An có nhiều thuận lợi trong buôn bán của người Hà Lan, việc tiêu thụ hàng hóa trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn Thương điếm cũng là nơi các thương nhân trú ngụ mỗi khi bão hay gió mùa đến Mặt hàng của người Hà Lan bán ra là thủy tinh, nén, chì, vải, và chủ yếu mua về vàng, tơ lụa, đường, buôn bán tiền đúc Do người Hà Lan đặt quan hệ buôn bán cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài, hơn nữa họ ngã về

phía chúa Trịnh, ba lần liên minh quân sự đánh chiếm chúa Nguyễn ( thời chúa

Thượng Nguyễn Phúc Lan, 1635-1648) nhưng đều thất bại

Đến thời chúa HIền Vương ( Nguyễn Phúc Tần, 1648-1687) lên nắm quyền,

mục đích muốn có lợi cho mình, xóa bỏ mối hận cũ, nối lại quan hệ với Hà Lan, ông đã tìm cách thuyết phục các nhà cầm quyền Hà Lan ký hòa ước ngày 8/12/1651 – thỏa thuận này một lần nữa lại cho phép hà Lan “ tự do – công khai” không bị kiểm tra, miễn thuế xuất nhập khẩu mà những người Bồ, người Trung Hoa và

những người khác phải trả và cho họ một đặc ân “ chọn ở đô thị một khoảng đất

Trang 18

thích hợp và xây dựng một ngôi nhà để dựng thương điếm trên đất Hội An” Nhưng

đến năm 1654 thì người Hà Lan đóng cửa đại lý của họ ở Faifo – Hội An

Tiếp đến đó chính là thương nhân Anh :

Từ đầu thế kỷ XVII, theo bước chân của người Hà Lan, người Anh sau khi lập công ty ở Ấn Độ, Nhật Bản, họ muốn lập thêm một thương điếm nữa ở ven bán đảo Đông Dương để làm trục giao hàng cho cả Phương Đông Nỗ lực đầu tiên cuả người Anh trong việc thiết lập mối quan hệ thương mại với Đàng Trong diễn ra vào năm

1613 Tempest Peacocks và Walter Cawarden là hai thương gia được Richard

Cocks cầm đầu đại lý của công ty Đông Ấn Anh mới được thiết lập tại Hirado (

Nhật Bản ) phái tới Đàng Trong Hai thương gia này đến Failo trong một chuyễn

mạo hiểm thương mại trên một chiếc thuyền của người Nhật ( tên là Roquan ) Họ

mang theo một bức thư của vua James I và lễ vật trình lên chúa Nguyễn xin đặt quan hệ giao thương Phái đoàn của Peacocks được đón tiếp tử tế nhưng bị giới thương nhân tại chỗ tranh dành và hành hung nên người Anh không dám đưa thuyền đến buôn bán với lái buôn Anh và nó cũng gây khó khăn không nhỏ trong việc người Anh thiết lập mối quan hệ buôn bán với Đàng Trong Năm 1617, Richard cocks lại cử Edmond Sayer và William Adam đến Faifo, tuy nhiên, chuyến

đi này cả hai thương nhân người Anh không đạt được kết quả

Thị trường Hội An – Đàng Trong lôi cuốn thương nhân Anh bởi mặt hàng tơ

lụa Richard Cocks ghi lại : “ chắc chắn là hàng năm có gấp đôi số lụa tơ tằm được

đưa đến Đang Trong ( từ Trung Hoa ) so với lụa đến từ ba nơi cộng lại là Bantan, Pattania và Xiêm, không muốn thứ vải nào khác” [6, tr102] Ngoài ra ở Đàng Trong

còn có các mặt hàng của Trung Quốc, Ấn Độ mà người Anh rất ưa thích

Năm 1695 công ty Đông Ấn Anh đã cử sứ giả Thomas Bowyear đến thăm thú

và đàm phán với chúa Nguyễn ở Đàng Trong về việc xin cho mở thương điếm ở Hội An, tuy nhiên cuộc đàm phán thất bại Năm 1777, công ty Anh lại cử Chapman đến điều tra, đồng thời tìm cánh đặt quan hệ buôn bán với Đàng Trong và tiếp theo năm 1793, Barrow cũng đến Đàng Trong Nhưng thời gian này diễn ra cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn và Nguyễn – Tây Sơn nên việc buôn bán ở Hội An không có kết quả

Trang 19

Thực tế thương mại mậu dịch Anh với Hội An, tuy có nhiều thương nhân và

sứ giả của công ty Đông Ấn – Anh đến vào cuố thế kỷ XVII và XVIII nhưng việc giao thương buôn bán ở Hội An rất hạn chế, gián đoạn, gặp nhiều trở ngại và sớm chấm dứt vào cuối thế kỷ XVIII

Tiếp đến là các thương nhân Pháp:

Trong số các thương nhân phương Tây đến Hội An thì Pháp đến muộn hơn hết , nhưng xem ra họ chuẩn bị rất chu đáo Năm 1664 công ty Đông Ấn – Pháp mới được thành lập và hoạt động chủ yếu ở Đàng Ngoài Qua thế kỷ XVIII mới nghiên cứu thị trường Đàng Trong Thương nhân Pháp đến Hội An ngoài việc thương mại,

họ còn mang theo cả kế hoạch giành thuộc địa với người Anh và xâm lược

Sau khi thân hành đến xem xét tình hình buôn bán ở Đàng Trong năm 1742, chủ nhiệm công ty Đông Ấn Pháp là Dumont về nước đã lập bản phúc trình gửi lên chính phủ nêu lệ những yếu tố thuận lợi của vùng đất này và đề nghị chính phủ có biện pháp ứng xử Theo ông ta cần phải chiếm Cù Lao Chàm, mở thương điếm tại đây để quản lý hoạt động ngoại thương tại cảng Hội An Năm đó, chính phủ Pháp

cử thương nhân và giáo sĩ Pierre Poivre đến Đàng Trong để điều tra thêm tình hình Poivre bề ngoài với nghi lễ ngoại giao, nhưng ông ta đã làm việc hết sức nhiệt

thành, điều tra tỉ mỉ, chính xác về tình hình mọi mặt ở Đàng Trong ( điều kiện tự

nhiên, bối cảnh kinh tế, xã hội, thương mại, ) Poivre rất chú ý đến Hội An, ông

viết : “ bến tàu sâu, tàu bè đậu được an toàn, rất thuận lợi cho thương khách Tàu

có thể đậu ngay trước thương điếm Số Hoa Kiều ở đây có tới 6.000 người và là những đại thương gia ở Hội An có hai giáo đường Thiên chúa giáo, một của các cha Dòng Tên, người Bồ Đào Nha, một của các cha dòng Fanciscains, người Tây Ban Nha Cũng ở Hội An thuê nhà làm thương quán rất dễ dàng, nhà lớn nhất chỉ cần trả độ 100 đồng trong suốt mấy tháng gió mùa”[6, tr104]

Năm 1744, một lái buôn khác người Pháp tên là Friell đến Đàng Trong và

được chúa Nguyễn (Nguyễn Phúc Khoát ) cấp giấy phép buôn bán và xây kho ở

đây Friell còn vận động được toàn quyền đất Ấn thuộc Pháp là Dupleix giúp đỡ cho chương trình thương mại này Năm 1748 Pierre Poivre lại được cử đến Đàng Trong, mặc dù được chúa Nguyễn tiếp kiếp nhưng việc kinh doanh vẫn gặp khó khăn, bởi

sau khi mua hàng hóa ở Hội An ( chủ yếu là chất nhuộm, lụa, đường) pierre Poivre

Trang 20

đã bắt cóc một phiên dịch người Việt Nam lên tàu chở đi Để trừng trị chúa Nguyễn

đã áp giải giáo sĩ Pháp là Lefebvre để đuổi theo Pierre Poivre và trục xuất hết các giáo sĩ khác Từ đó ý đồ lập thương điếm ở Hội An, quan hệ thương mại với Đàng Trong không được thực hiện

Sau cuộc khởi nghĩa Tây sơn bùng nỗ, toàn quyền đất Ấn thuộc Pháp giúp chúa Nguyễn khôi phục lại ngôi chúa, tạo tiền đề cho việc thâm nhập buôn bán và xâm lược Việt Nam sau này của chủ nghĩa thực dân Pháp mở đầu vào năm 1858 Như vậy, với những lợi thế của mình, Hội An đã sớm thu hút các nước tư bản phương Tây tìm đến và thiết lập quan hệ giao thương Vì muốn đảm bảo độc lập chủ quyền nên triều Nguyễn đã rất dè dặt, hạn chế trong quan hệ với các nước này khiến cho mong muốn của các nhà tư bản không được thỏa mãn Trong khi Bồ Đào Nha, Hà Lan, , Anh…đều bỏ cuộc thì Pháp đã dùng đến vũ lực để xâm lược Việt Nam

Trang 21

CHƯƠNG 2

TỔ CHỨC BỘ MÁY CHÍNH QUYỀN VÀ CƠ SỞ HẠ TẦNG THÀNH PHỐ HỘI AN THỜI PHÁP THUỘC (1897 – 1945)

2.1 Tổ chức bộ máy chính quyền thành phố Hội An

Dưới thời Pháp thuộc tỉnh Quảng Nam được hưởng quy chế bảo hộ Bên cạnh chính quyền Nam triều còn có chính quyền bảo hộ của thực dân Pháp, mà đứng đầu

là công sứ Pháp kiêm nhiệm Chủ tịch Hội đồng tỉnh Quảng Nam, đóng tòa sứ tại Hội An cùng các cơ quan đầu não của bộ máy chính quyền bảo hộ Trong các thời

kỳ tiếp sau, Hội An được chọn làm tỉnh lị của Quảng Nam

Năm 1898, vua Thành Thái ra chỉ dụ thành lập thị xã Faifo làm tỉnh lỵ Quảng Nam Đến ngày 30 tháng 8 năm 1899, Toàn quyền Đông Dương của Pháp lúc đó là Foures ký chuẩn y đạo dụ trên và gọi thị xã Hội An là “Ville Faifo” với phạm vi hành chính bao gồm các địa bàn trung tâm của phố cổ Hội An (tương ứng phường Minh An và một phần các phường Cẩm Phô, Sơn Phong ngày nay)

Qua khảo sát các tư liệu văn tự tập trung vào thế kỷ XIX ở Hội An, mặc dù theo thời gian, không gian khác nhau mà tên gọi của từng loại chức sắc có thể khác nhau nhưng tựu trung lại có thể chia làm hai loại: Bộ máy hành chính – Chức dịch

và bộ máy tự quản – Sắc mục, gọi chung là chức sắc

- Chức dịch: gồm xã trưởng/ lý trưởng, tri thu, trùm trưởng, ấp trưởng là bộ phận chức sắc quản lý làng – xã nằm trong hệ thống tổ chức hành chính của nhà nước được nhà nước công nhận chính thức

- Sắc mục: gồm Hương mục, hương lão, cựu xã trưởng/lý trưởng, cựu phó lý trưởng, cựu phó lý trưởng, cựu ấp trưởng, dịch mục, lão tín là những người đại diện cho cộng đồng thuộc bộ máy tự quản của làng xã, không do chính quyền cấp trên chấp nhận và giao nhiệm vụ, nhưng lại có quyền lực thực sự trong cộng đồng làng xã Tuy 2 loại chức sắc này có phân biệt nhưng quan hệ mật thiết với nhau trong chức năng quản lý làng xã Ví dụ, trong các văn bản : địa bạ họ cùng ghi tên và điểm chỉ chịu trách nhiệm trước nhà nước về những nội dung đã được điểm chỉ liên quan đến tô, thuế, phu phen, tạp dịch, đát đai (ruộng vườn) Bộ máy hành chính –

Trang 22

chức dịch tuy có vai trò như thế nhưng hầu như họ chỉ là những người bị cường hào, địa chủ - bộ máy tự quản làng xã – sắc mục chi phối , thao túng

Đến thời Pháp thuộc, ở Hội An nói riêng và cả Trung Kỳ nói chung, theo chỉ

dụ của triều Nguyễn, làng xã thành lập Hội đồng Kỳ hào Đây là cơ quan quyết nghị gồm những người có phẩm hàm, có khoa cử, các tổng, lý, ngũ hương hiện đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu Bên cạnh có đó Ủy ban thường trực Hội đồng Kỳ hào quản trị các việc trong làng xã Ủy ban này gồm:

- Lý trưởng

- 5 viên chức (ngũ hương) có:

+ Hương bộ: quản thủ các sổ địa bạ

+ Hương bản: giữ và quản lý quỹ xã, có quyền thu các sắc thuế hàng xã, các khoản xã được quyền thu, cấp phát biên lai

+ Hương kiểm: thực hiện nhiệm vụ cảnh sát, tuần phòng trong xã, ngang hàng với phó lý

+ Hương mục: trông coi đường sá, cầu cống của xã hoặc đi qua xã

+ Hương dịch: thông báo bằng cách rao mõ cho dân làng, mệnh lệnh cấp trên

Muốn nắm được các chức này trong làng, trên thực tế hầu hết phải là những người có ít nhất một trong những điều kiện sau: xuất thân là quan lại; gia đình có

của, đứng tên trong bộ đất (địa bạ/bộ); dòng dõi tộc/họ tiền – hậu hiền có công khai

khẩn, khai cơ làng – xã; có đỗ đạt Những người thuộc thành phần trên chọn lựa lẫn nhau, chia giữ các chức sắc trong làng Kể cả việc chăm sóc việc cúng tế tại các

thiết chế văn hóa tín ngưỡng (đình, miếu, lăng ) của làng xã, cũng đều do các chức

sắc này trực tiếp phân chia, lo quản lý.[34, tr165-167]

Ở Hội An, xuất phát từ nhiều yếu tố lịch sử dân cư và điều kiện đất đai, đến trước năm 1945, về quy mô làng xã hầu như không có xã bao gồm nhiều làng mà

chủ yếu là hình thức tổ chức làng tương đương với tổ chức xã (cùng một địa giới,

khu vực dân cư) Dưới làng xã không có hình thức tổ chức thôn Trường hợp những

làng – xã có diện tích rộng, dân cư đông thì dưới làng xã có hình thức tổ chức xóm

và phổ biến là hình thức ấp, châu Như Thanh Hà có 13 ấp; Cẩm Phô có 3 ấp, 3

Trang 23

châu, hoặc chia tách thành thành 2 – 3 làng (ví dụ như: Kim Bồng chia thành Kim

Bồng Đông và Kim Bồng Tây; Thanh Châu chia thành Thanh Đông , Thanh Tây và Thanh Nam, )[34, tr167]

Ngoài ra ở Hội An, được sự cho phép của nhà nước phong kiến có làng về

mặt tổ chức quản lý hành chính nhà nước không gọi là xã mà gọi là phường (như

phường Xuân Mỹ, phường Tân Hiệp – Cù Lao Chàm) Tức là về cấp hành chính

thì phường này tương đương với xã, nhưng về quy mô diện tích thì nhỏ, dân số ít So với quy định tối thiểu của Làng – Xã và hoạt động kinh tế của làng cũng khá thuần nhất, cơ bản một nghề Mặt khác có lịch sử hình thành, khu vực cư trú khá riêng biệt

Trong các làng – xã ở Hội An, ngoài các tổ chức tự quản làng của các sắc mục, tổ chức quản lý hành chính xã của các chức dịch hoặc các tổ chức quản lý thôn, xóm, ấp, châu đã trình bày ở trên tùy thuộc vào đặc điểm lịch sử hình thành,

điều kiện hoạt động kinh tế (nghề nghiệp) mà có rất nhiều các hình thức kết cấu tổ

chức xã hội tự nguyện, tự quản khác đáng lưu ý

- Tổ chức của dân đinh (giáp hay phe) tuỳ thuộc vào từng khu vực lưu trú, tất

cả các nam giới (ở tuổi dân đinh, từ 18 đến 40, 50 hoặc 60, cũng tùy vào tình hình

số lượng dân đinh của mỗi khu vực dân cư mà quy định) đều được tham gia vào các

giáp – phe để có trách nhiệm gánh vác như việc của giáp – phe theo thống nhất

chung (khoán ước) như việc hiếu, hỉ (tang ma, cưới xin) hoặc những công việc khó

khăn cần đến dân đinh hoặc sự giúp đỡ của cộng đồng dân cư ở khu vực cư trú gần

nhất (tức giáp – phe) Ngày nay những việc này thì do thôn hoặc phổ biến nhất là xóm đảm nhiệm (ngoài các tổ chức đoàn thể - xã hội của nhà nước).[34,tr168]

- Tổ chức theo nghề nghiệp (phổ hoặc vạn): Phổ là đối với nhóm khu vực dân

cư làm nghề thủ công, dịch vụ, buôn bán như các nghề gốm ở Nam Diêu, Thanh Hà, Vạn là đối với nhóm khu vực dân cư ngư nghiệp Phổ hoặc Vạn ngoài chức năng liên kết tương trợ giúp đỡ lẫn nhau của nhóm cư dân cùng nghề nghiệp trong làm ăn/hoạt động kinh tế, nó còn thực hiện chức năng tiến hành các nghi lễ liên quan đến tín nghưỡng nghề nghiệp

- Tổ chức theo tín ngưỡng ( Hội hay phổ): Hội văn thân, có nơi gọi là hội tư văn, hội này vừa có tính chất xã hội, vừa gắn với thờ cúng, song ở đây chỉ thờ đức

Trang 24

Khổng Tử, Tứ Phối, Thất Thập Nhị Hiền (72 ông) - những bậc thánh về Nho học Tuy nhiên, chỉ là – xã nào có học hành thịnh vượng, có người đỗ đạt (cử nhân, tiến

sĩ ) thì học mới thành lập hội Văn Thân/Tư Văn, chọn người đỗ đạt cao làm hội

chủ, xuống dưới nữa thì chức nhỏ hơn, còn học trò, thí sinh , khóa sinh, sính đồ, Nho sĩ làm hội viên; Hội Chùa: những làng không có chùa nhưng có nhiều người theo đạo phật họ đứng ra lập thành hội/phổ như An Phổ, Xứ Long Hội, Hoa Nghiêm

Phổ ; hội hay phổ bà gồm những người cùng tín ngưỡng thờ bà nữ thần (ngũ hành

tiên nương, hoặc bà Chúa Tiên, Cửu Thiên Huyền Nữ ); Hội hay phổ Ông của

nhóm người cùng tôn chỉ thờ Quan Công ( Quan Vân Trường – một nhân vật theo

tích truyện tam quốc chí của Trung Quốc) với lòng trung, tín, tiết, nghĩa mà xưa nay

người ta đều mến mộ; Phổ Nghĩa Thiên, nhằm thờ cúng, săn sóc mồ mả những kẻ

vô thừa nhận, chết không người chôn (ăn mày, kẻ chết trôi dạt )

Tuy nhiên, các tổ chức giáp/phe, Phổ Hội Vạn nói trên vẫn phải tôn trọng, chịu sự quản lý của tổ chức làng – xã cũng như phải mọi ngượi vụ - trách nhiệm của mình đối với làng xã

Việc quản lý làng xã, cả chức sắc chủ yếu có hai số: sổ đinh và sổ điền Riêng

đối với các phổ, vạn làm nghề thì chỉ cần sổ đinh (vì những người làm nghề chỉ

đóng thuế thân – theo dân đinh mà thôi) Ngôi thứ trong làng xã được phân định rõ

ràng theo quan điểm: “ Triều đình nhượng ư tước; Hương đẳng nhượng ư sĩ; gia tộc

nhượng ư thế” hoặc “tôn lão, kính trưởng” Nhìn chung, những người có vị trí cao

trong làng xã là những người thân hào, nhân sĩ, bậc cao niên, thực tế bao gồm những người có bằng cấp phẩm hàm, chức tước, tài sản và tuổi tác Thường khi về

làng hoặc khi lên chức đều có “lễ làng” – Tuy không bắt buộc chặt chẽ, linh đình

như ở đồng bằng Bắc Bộ, nhưng phải có và theo khả năng của mỗi người đề dâng

lễ Thứ đến là dân chánh/chính cư, cư dân ít nhất phải có ba đời trong làng/xóm

Cuối cùng mới đến dân ngụ cư (hay còn gọi là dân tứ chánh) – quan niệm: “đò dọc

phải trách đồ ngang dân ngụ phải tránh dân làng cho xa” Dân ngụ cư không được sinh hoạt trong các phe/giáp nhưng phải lo phục dịch, nhất là những ngày có việc

tế lễ hội làng Trong khi đó, họ vẫn phải thực hiện các nghĩa vụ của dân làng, của dân đinh: đi phu, đi lính, sưu dịch, nộp thuế [34,tr170]

Trang 25

2.2 Quy hoạch và kiến trúc đô thị

2.2.1 Quy hoạch đô thị

Việc tổ chức xây dựng Hội An phát triển trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam không chỉ thể hiện trên bề mặt của các thiết chế quản lý hành chính, mà còn được người Pháp thực hiện trên bề mặt của cấu trúc đô thị

Với tầm nhìn chiến lược về kinh tế, chính trị, quân sự của văn minh đô thị

đã trải qua hàng trăm năm, người Pháp nhận thấy vị thế của Hội An trong phát triển đô thị

Để kiến thiết Hội An trở thành trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam nơi

mà người Pháp đặt cơ quan đầu não, người Pháp đã xây dựng ở đây hệ thống các đường giao thông hiện đại, với con đường khá dài, rộng, vỉa hè khá lớn đảm bảo cho việc lưu thông, đi lại của các phố xá Đầu các con đường ở các ngã ba ngã

tư, người Pháp gắn hai biển bê tông trên trụ đường để chỉ tên đường Mật độ cột đèn đường không cao và chỉ được đặt ở những tuyến đường chính: đèn đường là loại bóng tròn gắn trên trụ có độ chiếu sáng yếu Việc đặt tên đường, tên phố và đánh số nhà, qui hoạch theo kiểu song song hoặc vuông góc tạo ra các ngã ba, ngã tư là một kiểu quy hoạch đô thị hoàn toàn mới mẻ đối với người dân Việt Nam nói chung, Hội An nói riêng, tạo nên một bộ mặt mới cho thành phố Hội An,

là biểu hiện của hạ tầng hiện đại

Người Pháp còn quy hoạch mở rộng diện mạo đô thị Hội An về phía Đông, Đông Bắc khu phố cổ bằng nhiều công sở mà hiện nay là trụ sở Khách sạn Hội An, trụ sở của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hội An Tuyến đường sắt Hội An - Đà Nẵng cũng được người Pháp xây dựng từ năm 1905 để thúc đẩy giao thông hiện đại ở Hội An, Đà Nẵng phát triển Tuyến đường này hoạt động đến năm

1916 thì bị đình trệ vì thiên tai

2.2.2 Kiến trúc đô thị

Người Pháp đã để lại một hình thức kiến trúc ở Việt Nam, mà phổ biến là phong cách kiến trúc Pháp thời thuộc địa (còn gọi là phong cách Pháp thời Đông Dương) - kéo dài cả thế kỷ (từ nửa cuối thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20) Bên cạnh những di tích kiến trúc ở Hà Nội, Sài Gòn thì ở Đà Nẵng, Hội An các di tích kiến

Trang 26

trúc mang phong cách kiến trúc Pháp thời thuộc địa cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 cũng đã tô điểm thêm những nét đặc sắc của thẩm mỹ cảnh quan đô thị

Khu phố cổ Hội An ngày nay được xem như một cảng thị lịch sử điển hình đặc biệt ở Đông Nam Á được giữ gìn một cách toàn vẹn và chu đáo Phần lớn những di tích ở đây là những công trình kiến trúc truyền thống được xây dựng vào những thế kỷ XVII đến thế kỷ XX gồm nhiều loại hình như Hội quán, đình, chùa, miếu, nhà thờ, nhà ở… Bên cạnh các di tích mang đậm phong cách kiến trúc của người Hoa, các công trình mang phong cách kiến trúc xen lẫn giữa Nhật, Hoa, Việt thì các công trình kiến trúc kiểu Pháp cũng đóng vai trò quan trọng góp phần tạo nên vẽ đẹp “không trùng lặp” của khu phố cổ như ngày nay

Theo những tài liệu lịch sử về Hội An xưa, vào thế kỷ 19, khi cửa sông và các dòng chảy của sông Cửa Đại và sông Cổ Cò không còn thuận lợi cho sự giao lưu buôn bán của các thuyền buôn nước ngoài Từ đó, Hội An xưa dần suy thoái và mất

đi vị thế cảng thị quốc tế quan trọng Tuy vậy, do sự ảnh hưởng vai trò của một thương cảng cũ, hơn nữa nơi đây vẫn còn là một trung tâm thương nghiệp lớn là những cơ sở để Hội An vẫn được đầu tư phát triển trong thời điểm bấy giờ, trong đó

đô thị được xây dựng mở rộng chủ yếu về phía Nam, đây là thời điểm các phố Nguyễn Thái Học và Bạch Đằng được hình thành Đến năm 1888, khi Đà Nẵng trở thành nhượng địa của Pháp, nhiều người Hoa đến đó để lập nghiệp, trong khi đó một số khác tiếp tục sinh sống và mở rộng kinh doanh ở Hội An Tuy trong giai đoạn này, vị thế Hội An không còn được phồn thịnh như trước nhưng theo nhận định lịch sử và dựa trên diện mạo kiến trúc còn tồn tại cho đến ngày nay ta có thể nhận thấy phần lớn các công trình kiến trúc trong khu phố cổ được hình thành chủ yếu ở giai đoạn này và đây cũng là thời điểm bắt đầu cho sự tham gia của các công trình kiến trúc kiểu Pháp ở Hội An

Theo nhận định của các nhà nghiên cứu trong nước, kiến trúc kiểu Pháp tại Việt Nam đã phát triển qua 3 giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất từ 1860 đến 1880, là thời kỳ kiến trúc hàng hải và quân sự Giai đoạn thứ hai từ 1880 đến 1920 Trong thời kỳ này, kiến trúc mang phong cách Pháp được thay đổi để phù hợp với khí hậu ở Việt Nam vốn khác biệt hoàn toàn với khí hậu của nước Pháp Các công trình trong giai đoạn này thường sử dụng

Trang 27

nguyên tắc bố cục mặt bằng, hình khối đối xứng, nhấn mạnh diện khu vực trung tâm hoặc xử lý các hình khối hai bên cao hơn hình khối chính, phần lớn sử dụng các chi tiết trang trí kiến trúc mang phong cách cổ điển

Giai đoạn thứ ba từ 1920 đến 1945 Các kiểu kiến trúc từ nhiều vùng miền nước Pháp được các kiến trúc sư Việt Nam vận dụng, thay đổi biến thành những kiến trúc mang đậm những đặc điểm văn hóa, phù hợp với kiến trúc, điều kiện thiên nhiên, khí hậu của địa phương

Từ các cơ sở nêu trên bằng phương pháp đối chiếu, so sánh, theo nhận định cá nhân thì phần lớn các di tích kiến trúc kiểu Pháp ở Hội An còn tồn tại cho đến ngày nay có thể số ít được hình thành ở cuối giai đoạn thứ hai và chủ yếu vào giai đoạn thứ ba với phong cách hướng về những đặc điểm văn hóa, kiến trúc, điều kiện thiên nhiên và phù hợp với khí hậu của địa phương trong sáng tác kiến trúc Các di tích kiến trúc kiểu Pháp ở Hội An gồm các thể loại: nhà ở, chợ, công sở, nhà thờ trong

đó, chiếm số lượng nhiều nhất là thể loại di tích nhà ở lô phố Có thể thấy các công trình này tập trung phần lớn ở phía Tây phố Nguyễn Thái Học, phía Đông khu phố

cổ trên phố Phan Bội Châu, nơi đây từng là nhà ở của các công chức dưới thời Pháp thuộc Các ngôi nhà trên các tuyến phố này được xây dựng san sát nhau tạo thành

“tuyến phố Pháp”, phần lớn một tầng Ngoài ra còn rất nhiều các ngôi nhà khác được xây dựng đơn lẽ, không liên tục trên các phố Trần Phú, Lê lợi, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Duy Hiệu, Bạch Đằng, một số khác được xây dựng tại các vùng ven của khu phố cổ Cùng với thể loại nhà ở theo kiểu lô phố, nhà ở biệt thự, nhà vườn cũng được xây dựng, tuy số lượng không lớn nhưng cũng góp phần tạo sự đa dạng về thể loại đối với di tích kiến trúc kiểu Pháp ở Hội An.[47]

Khi khu phố được đầu tư chỉnh trang cải tạo các con đường cũ thành những con đường mới thẳng và đều hơn, quan sát thực tế các ngôi nhà trên các tuyến đường chính trong khu phố cổ ta có thể thấy các ngôi nhà có niên đại xây dựng sớm, phía trước mặt nhà thường không có không gian vỉa hè hoặc bị phá bỏ bớt một phần phía trước để nhường không gian lại cho việc chỉnh trang, mở rộng đường phố, trong khi đó các di tích kiến trúc pháp có phần vỉa hè rộng hơn thậm chí có bố trí cả phần sân trước, chiều cao tầng nhà cao hơn, rộng hơn, chính những yếu tố này ngoài việc tạo sự thông thoáng cho công trình, còn góp phần tạo nên diện mạo riêng

Trang 28

cho khu phố cổ và phần nào lý giải cho những quy định tiến bộ được vận dụng từ các nước Phương Tây trong công tác quảnlý - quy hoạch đô thị ở giai đoạn này Qua khảo sát có thể thống kê được các đặc điểm diện mạo kiến trúc các di tích nhà ở mang phong cách kiến trúc kiểu Pháp ở Hội An như sau:

Kiến trúc mặt đứng công trình: Được sử dụng ngôn ngữ kiến trúc theo bố cục đối xứng, mặt trước ngôi nhà được xây tường gạch, phần lớn được bố trí ban công, phần hiên có bố trí cột, tùy theo chiều ngang ngôi nhà mà công trình được bố trí hai cột hoặc bốn cột chia mặt đứng công trình thành một hoặc ba gian Giữa các cột hiên được trang trí bởi các vòm cuốn, với các công trình được xây dựng ở giai đoạn muộn hơn thường sử dụng các dầm thẳng được xử lý chi tiết ở hai đầu vị trí tiếp xúc với cột bằng các hình thức vác góc hoặc những đường cong đặc trưng tạo sự mềm mại cho công trình Hệ cửa được sử dụng thông thường là một bộ cửa đi ở giữa và hai bộ cửa sổ hai bên Hệ mái thông thường là hai mái, độ dốc lớn, được lợp bằng ngói âm dương, một số ít sử dụng ngói vẩy cá, phần lớn có bố trí sê-nô chắn nước Đối với các nhà ở biệt thự, nhà vườn các chi tiết được sử dụng đa dạng hơn chủ yếu theo phong cách cổ điển

Về tầng cao và kích thước công trình Những ngôi nhà kiểu Pháp ở Hội An cao từ 1 đến 2 tầng, có chiều rộng từ 6m đến 9m, một vài trường hợp đặc biệt có thể cao hơn, chiều sâu từ 30m đến 40m được thay đổi theo từng tuyến phố

Đặc điểm tổ chức không gian: Các nhà ở lô phố được xây dựng trên dãy đất có chiều ngang hẹp, bố cục tổ chức không gian được bố trí theo chiều sâu, tầng 1 gồm không gian hiên (sân trước nếu có) - không gian kinh doanh buôn bán, không gian thờ (đối với nhà một tầng) - nhà cầu nối kết hợp với sân trong - không gian ăn, sinh hoạt gia đình, phòng ngủ (đối với nhà một tầng) - bếp, khu vệ sinh kết hợp bố trí sân sau; Tầng 2 thông thường được bố trí phòng thờ phía trước và các phòng ngủ phía sau Với thể loại nhà ở biệt thự và nhà vườn được xây dựng trên diện tích đất rộng, công trình thường được bố trí ở vị trí giữa khu đất, xung quanh là vườn, phía trước là khoảng sân rộng

Cấu trúc công trình: Tường xây gạch kết hợp hệ cột gỗ hoặc gạch chịu lực, có

bố trí các hệ dầm chính, dầm phụ đỡ sàn Phần diện tích sàn tiếp xúc trực tiếp với không gian bên ngoài thường bị ảnh hưởng của thời tiết nên phần lớn thường được

Trang 29

sử dụng vật liệu bê tông thay cho vật liệu gỗ truyền thống hệ khung gỗ đỡ mái thường được sử dụng chủ yếu là hệ kèo kẻ suốt

Vật liệu sử dụng: Chủ yếu sử dụng vật liệu gạch, gỗ, bê tông và đá được sử dụng ít hơn

Hình thức trang trí: Đơn giản, chủ yếu là trang trí mặt trước công trình bằng các phào chỉ, vòm cuốn, các hoa văn đơn giản gần gũi với thiên nhiên, con người như hoa, lá, đắp vẽ các pannô, sử dụng các cấu kiện khuôn hoa đúc sẵn

Bên cạnh các di tích kiến trúc Pháp thuộc thể loại nhà ở, các di tích thuộc thể loại công cộng như chợ, công sở… cũng có những diện mạo kiến trúc tương tự về phong cách, bố cục mặt đứng, chi tiết trang trí, sử dụng vật liệu… Các công trình thuộc thể loại này ở Hội An còn rất ít, hiện đã bị phá bỏ một phần hoặc hoàn toàn như các công trình Chợ Hội An (đã được đầu tư phục hồi), Tòa Khâm sứ (nay là khách sạn Hội An)…[47]

Từ những diện mạo được nêu trên cho ta thấy các công trình kiến trúc kiểu pháp ở Hội An ngoài việc sử dụng hình thức trang trí mặt đứng theo phong cách kiến trúc Pháp, các thành phần khác của công trình từ bố cục tổ chức không gian, cấu trúc công trình, sử dụng vật liệu phần lớn được địa phương hóa ngay từ những thời điểm hình thành vừa tạo cho các công trình kiến trúc kiểu Pháp có một diện mạo mới góp phần nêu bật sự giao lưu Văn hóa, đồng thời đảm bảo sự hài hòa giữa con người, thiên nhiên, công trình kiến trúc và cảnh quan đô thị

Trong nội dung bài viết này có thể chưa thật sự nêu hết được các giá trị nổi bật

về vai trò của kiến trúc kiểu Pháp ở Hội An Nhưng với những gì hiện hữu, chúng ta phải thừa nhận rằng các di tích kiến trúc kiểu Pháp ở Hội An đã trở thành một phần không thể thiếu trong quần thể kiến trúc đô thị lịch sử của thành phố ngày nay Mặc

dù được hình thành trong giai đoạn muộn hơn so với các kiểu kiến trúc khác, song xét một cách toàn diện, bản thân nó đã được kết hợp một cách nhuần nhuyễn với các thành phần kiến trúc khác cùng cảnh quan đô thị truyền thống tạo nên một diện mạo đô thị độc đáo và đã trở thành di sản kiến trúc có giá trị to lớn Vì vậy, giá trị kiến trúc độc đáo ấy cần phải được đánh giá một cách đầy đủ hơn từ đó đặt ra kế hoạch phù hợp trong bối cảnh hiện nay

Trang 30

2.4 Hệ thống cơ sở hạ tầng

Sau khi bình định được phong trào kháng Pháp của nhân dân Việt Nam (1896), thực dân Pháp bắt đầu khai thác thuộc địa một cách quy mô Năm 1897, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer xây dựng một chương trình khai thác thuộc địa, mà lịch sử gọi là cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất Một trọng tâm của chương trình này là xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật phục vụ cho việc khai thác kinh tế thuộc địa

Theo báo cáo của Phòng thương mại Đà Nẵng cho biết khoảng 1891, các xà lúp thương mại (chaloupe de commerca) có thể đi lại dễ dàng trên con sông nối liền

Đà Nẵng và Hội An Nhưng rồi con sông Cổ Cò sau đó bị bồi lấp và đến 10 năm sau, năm 1902, những thuyền tam bản đáy sâu cỡ 30cm cũng bắt buộc chờ thủy triều lên cao mới đi được từ Đà Nẵng đến Hội An, một trong những trung tâm thương mại quan trọng” [43]

Trước tình trạng cần báo động đó, Phòng thương mại đề nghị chọn 1 trong 2 biện pháp:

- Vét sông Cổ Cò và các sông khác

- Thực hiện một con đường sắt Đà Nẵng - Hội An Giải pháp thứ nhất không thực hiện nổi Người ta chọn giải pháp thứ 2 vì thế năm 1904 đường sắt Đà Nẵng - Hội An được hoàn thành và đưa vào sử dụng vận tải hàng hóa Đường sắt khởi từ phía tây bán đảo Tiên Sa chạy men theo hữu ngạn sông Hàn, ngang qua Ngũ Hành Sơn và vào đến Hội An.[43]

Ngày 9/10/1905 đường sắt Decauville Tourano- Faifo (hay Tramway de L’llot

de L’Observatoire à Faifo) mở ra cho hành khách sử dụng

Con đường này được duy trì cho đến ngày 27/10/1916 khi một cơn bão lớn thổi bay mấy đoạn đường ray Và năm sau, 1917, nhà nước phát mãi luôn một đầu máy, các toa tàu và con đường sắt đứt khúc

Thời gian hoạt động của đường sắt Decauville chính là: thời gian Đà Nẵng còn cần dựa vào Hội An để phát triển Có người muốn ví con sông Cổ Cò và sau đó đường sắt Decauville như là cuống nhau nối bà mẹ Hội An và thai nhi Đà Nẵng Nhưng 30 năm (1888 - 1917) là thời gian quá đủ cho Đà Nẵng trưởng thành: Thu

Trang 31

hút thương nhân Pháp, Hoa, Việt đến kinh doanh và kiện toàn các cơ sở cùng phương tiện kinh doanh

Sông Cổ Cò bị bồi lấp Đường sắt được thiết lập rồi hủy bỏ Những sự kiện ấy đánh dấu một giai đoạn trong quá trình phát triển của Đà Nẵng, đồng thời cũng báo hiệu chấm dứt thời kỳ thịnh đạt của Hội An

Đà Nẵng với lợi thế hàng hải đã tạo điều kiện cho Hội An trở thành một trung tâm thương mại phồn thịnh sầm uất trong mấy trăm năm Đến lượt nó, Đà Nẵng đã dựa vào Hội An trên bước đường trưởng thành để trở nên một thương cảng bậc nhất của miền Trung

Đường bộ ở thời gian này khá phát triển Đường quốc lộ số 1(nay là quốc lộ IA), đường chiến lược số 14, chạy xuyên qua địa phận của các tỉnh từ bắc đến Nam Các đường tỉnh lộ chạy từ đường quốc lộ số 1 đến các huyện và những nơi trọng yếu trong tỉnh Quảng Nam, trong đó có Hội An Đường chiến lược số 14 chạy dài phía Tây từ KonTum vào địa phận Quảng Nam qua Đắc Nhe, Bến Giằng và nối liền với đương quốc lộ 1 bởi hai con đường tỉnh lộ số 100 và 101 được gọi là đường 14B nối với đường 14 với quốc lộ số 1 tại Hòa Cầm ( được gọi là ngã ba Hòa Cầm) Hội An có một con đường từ thị xã đến cửa Đại, một đường từ La Nghi rồi gặp lại đường Quốc lộ số 1

Mối quan hệ gắn bó lâu đời và máu thịt giữa hai thành phố đất Quảng này, ngày nay càng có cơ sở phát triển mà chẳng cần đến một con sông Cổ Cò hay con

đường sắt Tourane - Faifo

Khi mạng lưới đường đô thị đã được quy hoạch và xây dựng thì các công trình nhà cửa và các công trình công cộng theo đó cũng được xây dựng để tạo thành không gian đô thị Các cơ quan xây dựng sớm nhất trên đất Hội An sẽ là những cơ sở phục

vụ cho mục đích cai trị và khai thác đặc biệt Hội An đóng vai trò là tỉnh lỵ của Quảng Nam

Các cơ quan xây dựng sớm nhất trên đất Hội An sẽ là những cơ sở phục vụ cho mục đích cai trị và khai thác Bộ máy cai trị thực dân ở Đà Nẵng có hàng chục

cơ quan công sở khác nhau như sở mật thám, sở thương chánh, sở đạc điền, đồn lính khố xanh, đồn cảnh sát, Tất cả các cơ quan này đều được cấp đất xây dựng công sở

Ngày đăng: 10/05/2021, 13:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w