Trên cơ sở nghiên cứu về thành phần loài, đặc điểm phân bố và dự báo quy luật diễn thế sinh thái của hệ thực vật bậc cao ở bãi bồi trong nhằm đề ra các giải pháp quản lí, bảo vệ hiệu qu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VÕ VĂN MINH
ĐÀ NẴNG - NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Xin cam đoan rằng tất cả các số liệu và ý tưởng khoa học trong bản luận văn này là của chính tôi thu thập và nghiên cứu Các tài liệu đã công bố được sử dụng để so sánh, trích dẫn được liệt kê đầy đủ trong phần tài liệu tham khảo Nếu
có gì sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Tác giả
Lê Thị Thắm
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
4 Cấu trúc luận văn 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 THÀNH PHẦN VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CÁC LOÀI THỰC VẬT BẬC CAO Ở CÁC BÃI BỒI VÙNG CỬA SÔNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 4
1.1.1 Trên thế giới 4
1.1.2 Ở Việt Nam 6
1.2 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÀNH VÀ DIỄN THẾ SINH THÁI THỰC VẬT BẬC CAO Ở KHU VỰC BÃI BỒI VÙNG CỬA SÔNG 11
1.2.1 Đặc điểm hình thành hệ thực vật bậc cao ở khu vực bãi bồi vùng cửa sông 11
1.2.2 Quá trình diễn thế sinh thái của thực vật bậc cao ở vùng cửa sông 13
1.3 VAI TRÒ CỦA HỆ THỰC VẬT BẬC CAO KHU VỰC BÃI BỒI VÙNG CỬA SÔNG 15
1.3.1 Nơi cư trú, nuôi dưỡng các loài động vật, các loài thủy sản 15
1.3.2 Tác dụng trong việc bảo vệ đất bồi, chống xói lở, hạn chế xâm nhập mặn 16
1.3.3 Tác dụng đối với môi trường sinh thái 17
1.3.4 Tác dụng trong việc giảm thiểu tác hại của sóng thần 17
Trang 51.4 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI TẠI KHU VỰC
NGHIÊN CỨU 18
1.4.1 Điều kiện tự nhiên 18
1.4.2 Tình hình kinh tế - xã hội 24
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 26
2.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 26
2.2.1 Thời gian nghiên cứu 26
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 26
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 27
2.3.2 Phương pháp điều tra thực địa 27
2.3.3 Phương pháp lập ô tiêu chuẩn 28
2.3.4 Phương pháp thu mẫu và xử lý mẫu ngoài thực địa 28
2.3.5 Phương pháp xử lý mẫu trong phòng thí nghiệm 29
2.3.6 Phương pháp xác định danh tính khoa học 30
2.3.7 Phương pháp xử lí số liệu 30
2.3.8 Phương pháp lập bản đồ 31
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 32
3.1 THÀNH PHẦN LOÀI THỰC VẬT BẬC CAO Ở BÃI BỒI HẠ LƯU SÔNG THU BỒN 32
3.1.1 Danh mục thành phần loài thực vật ở khu vực nghiên cứu 32
3.1.2 Đa dạng về nhóm thực vật ở bãi bồi hạ lưu sông Thu Bồn 38
3.1.3 Đa dạng về dạng sống của thực vật bậc cao ở các bãi bồi 41
3.2 ĐIỀU KIỆN MÔI TRƯỜNG SỐNG 42
3.2.1 Độ pH 42
3.2.2 Độ mặn 43
Trang 63.2.3 Chế độ thủy triều 45
3.3 TÌNH HÌNH PHÂN BỐ CỦA THỰC VẬT Ở CÁC BÃI BỒI 46
3.3.1 Đặc điểm phân bố của thực vật trên các bãi bồi 46
3.3.3 Đặc điểm sinh học và sinh thái của một số loài thực vật có giá trị ở khu vực nghiên cứu 60
3.4 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÂN BỐ CỦA TVBC TRÊN CÁC BÃI BỒI 68
3.4.1 Địa hình – khí hậu 68
3.4.2 Chế độ thủy triều, độ mặn 69
3.4.3 Tác động của con người 69
3.5 DỰ BÁO XU THẾ DIỄN THẾ SINH THÁI CỦA TVBC TRÊN BÃI BỒI HẠ LƯU SÔNG THU BỒN 71
3.6 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO VỆ HỆ THỰC VẬT BẬC CAO KHU VỰC BÃI BỒI HẠ LƯU SÔNG THU BỒN – HỘI AN 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
Trang 82.1 Các vị trí thu mẫu vùng hạ lưu sông Thu Bồn 27
3.1 Danh mục thành phần loài TVBC ở bãi bồi hạ lưu
3.2 Các họ đa dạng nhất của hệ TV ở bãi bồi hạ lưu sông
3.3 Số lượng loài, chi, họ ở các nhóm thực vật 383.4 Số lượng nhóm cây ngập mặn ở các khu vực 393.5 Phân bố các taxon trong nhóm TVNM ở các khu vực 403.6 Độ pH của đất và nước tại các điểm nghiên cứu 43
3.7 Nồng độ muối trong đất và nước tại các điểm nghiên
3.10 Thành phần loài thực vật ở khu vực 3 543.11 Sự phân bố của các loài thực vật theo vùng triều 72
Trang 101.2 Sơ đồ vị trí địa lý vùng hạ lưu sông Thu Bồn 18
1.3 Biểu đồ mô tả lượng mưa trung bình các tháng trong
3.5 Một số loài TV ở bãi bồi V1- khu vực 1 49
3.7 Sự phân bố của loài Lau ở bãi bồi V4 - khu vực 2 53
3.11 Biểu đồ phân bố các dạng sống của TVBC tại các khu
Trang 113.18 Tra hoa vàng - Hibiscus tilliaceus L 65
3.21 Hiện trạng canh tác nông nghiệp ở bãi bồi V4 70
3.22 Hiện trạng canh tác nông nghiệp ở bãi bồi V1 và V2
3.23 Diễn thế tự nhiên của các cây ngập mặn 73
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vùng cửa sông là nơi chuyển tiếp giữa sông và biển, nơi thường xuyên
có sự biến đổi mực nước, độ mặn theo hoạt động của thủy triều Ở nước ta hầu hết các con sông đều đổ ra biển lại phân bố ở địa hình khác nhau tạo nên vùng cửa sông các đầm phá, đất ngập nước, cồn cát,… Chính những khu hệ khác nhau này cùng với sự pha trộn giữa môi trường nước biển và nước ngọt
đã tạo ra nguồn lợi thủy sản vô cùng đa dạng và phong phú [31]
Ở các khu vực bãi bồi vùng cửa sông ven biển, thực vật bậc cao có vai trò quan trọng đối với nhiều loài sinh vật: nơi sinh sống và kiếm ăn của nhiều loài chim biển, trong đó có nhiều loài chim di cư, nơi đẻ trứng của nhiều loài thủy sinh vật Bên cạnh các giá trị về mặt sinh học, hệ thực vật bậc cao khu bãi bồi ở vùng cửa sông ven biển còn có vai trò trong việc điều hòa khí hậu, bảo vệ bờ, hạn chế bão lũ, triều cường, xâm nhập mặn và bảo vệ nước ngầm [35]
Thế nhưng đây cũng là vùng vô cùng nhạy cảm, dễ bị tổn thương bởi tác động của các hiện tượng tự nhiên cũng như các hoạt động khác nhau của con người như việc chuyển đổi các vùng đất ngập nước thành đất canh tác nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản [14], [43] Nếu không được bảo vệ sẽ dẫn đến suy thoái kéo theo các tác động như xâm nhập mặn, lũ lụt, mất nơi cư trú của nhiều loài sinh vật,… làm ảnh hưởng đến cấu trúc và chức năng hệ sinh thái cửa sông đồng thời có nguy cơ tác động đến các hệ sinh thái lân cận như
hệ sinh thái nông nghiệp
Nằm cuối dòng sông Thu Bồn, thành phố Hội An được thừa hưởng một
sự đa dạng các hệ sinh thái vùng cửa sông và ven bờ Các nhánh sông Ba Chươm, sông Cổ Cò, sông Đình, sông Đò nối với sông Thu Bồn tạo ra nhiều
Trang 13bãi bồi, cồn cát kéo dài từ cầu Câu Lâu đến biển Cửa Đại như Thuận Tình, cồn Tiến, cồn 3 xã,… tạo cho khu vực hạ lưu sông Thu Bồn một sinh cảnh rất đặc biệt, đặc trưng của hệ sinh thái nhiệt đới [14] Trên các bãi bồi vai trò của
hệ thực vật bậc cao rất quan trọng đối với môi trường và nguồn lợi sinh vật, không chỉ riêng cho vùng Hội An mà cho cả vùng biển phía ngoài Cửa Đại, các vùng biển lân cận Cù Lao Chàm [15] Chính vì thế, khu vực này luôn chịu tác động bởi các phương thức đánh b t, sự đi lại của tàu thuyền, khai thác cát,… của người dân địa phương
Cho đến nay, có nhiều đề tài nghiên cứu được thực hiện ở khu vực này như hiện trạng tài nguyên dừa nước (Nguyễn Hữu Đại, 2008), hiện trạng thảm
cỏ biển (Cao Văn Lương, 2010),… Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ, toàn diện về hệ thực vật ở các khu bãi bồi Cửa Đại Xuất phát từ
thực tiễn trên, việc tiến hành đề tài: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo vệ hệ thực vật bậc cao khu vực bãi bồi thuộc hạ lưu sông Thu Bồn, Thành phố Hội An” là cần thiết, cấp bách Trên cơ sở nghiên cứu về
thành phần loài, đặc điểm phân bố và dự báo quy luật diễn thế sinh thái của hệ thực vật bậc cao ở bãi bồi trong nhằm đề ra các giải pháp quản lí, bảo vệ hiệu quả góp phần thực hiện kết nối giữa khu Bảo tồn Cù Lao Chàm và vùng hạ lưu sông Thu Bồn trở thành hành lang Bảo tồn thiên nhiên và đẩy mạnh phát triển du lịch sinh thái đa dạng bền vững.3
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu về thành phần loài, điều kiện môi trường sống
và các yếu tố tác động đến hệ thực vật bậc cao, xác định được quy luật diễn thế sinh thái thực vật bậc cao khu bãi bồi Cửa Đại thuộc sông Thu Bồn từ đó
đề xuất các giải pháp bảo vệ thích hợp và hiệu quả
Trang 14- Dự báo được xu thế diễn thế sinh thái hệ thực vật bậc cao ở bãi bồi
- Đề xuất được các giải pháp khả thi và hiệu quả để bảo vệ hệ thực vật bậc cao
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Mở đầu: gồm 3 trang (trang 1 – 3)
Chương 1: Tổng quan tài liệu: 22 trang (4 – 25)
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 6 trang (26 - 31) Chương 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận: 48 trang (32 – 79)
Kết luận và kiến nghị: 2 trang (80 – 81)
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 THÀNH PHẦN VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CÁC LOÀI THỰC VẬT BẬC CAO Ở CÁC BÃI BỒI VÙNG CỬA SÔNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.1.1 Trên thế giới
Vùng cửa sông là một bộ phận của đới biển ven bờ, nơi chuyển tiếp giữa nước ngọt và nước mặn với độ muối biến thiên trong khoảng 0,5 – 30 (32)‰ Vùng cửa sông luôn được tiếp nhận các nguồn dinh dưỡng từ thượng nguồn cũng như từ biển đổ về, cùng với tác động của thủy triều đã tạo nên hệ sinh thái rất đa dạng đặc trưng [31]
Dựa trên mô tả phân bố thực vật của Duke (1992) và Saenger (2002), Spalding và cộng sự (2010) đã xây dựng bản đồ phân bố thực vật vùng cửa sông trên thế giới Qua bản đồ này cho thấy số lượng loài và vĩ độ có mối quan hệ với nhau Các thực vật vùng cửa sông tập trung, sinh trưởng tốt trên thế giới là vùng mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới ẩm nằm trong giới hạn từ đường xích đạo lên phía b c, tới đường đẳng nhiệt 20oC
trong tháng 1 (mùa đông, tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất trong năm) và từ đường xích đạo
về phía nam tới đường đẳng nhiệt 20oC trong tháng 7 hay nói cách khác các vùng này có khí hậu quanh năm ấm áp; khi vĩ độ tăng dần thì số lượng phân
bố thực vật vùng của sông càng sụt giảm [1], [6]
Theo tạp chí Science Daily và đánh giá của Hutching và Seanger (1987) cho rằng thực vật vùng cửa sông phân bố ở 118 lãnh thổ quốc gia, chủ yếu ở châu Á, châu Mỹ, châu Phi và châu Úc, có thể chia thành 6 vùng khác nhau đó là [1],[6],[35]:
- Vùng phía tây châu Mỹ
Trang 16- Vùng phía đông châu Mỹ
- Vùng phía tây châu Phi
- Vùng phía đông châu Phi
- Vùng Ấn Độ - Malaysia
- Vùng châu Úc
Như vậy, có thể nhận thấy thực vật vùng cửa sông phân bố chủ yếu ở vùng xích đạo và nhiệt đới 2 bán cầu, yếu tố nhiệt độ có ảnh hưởng rất lớn đến sự có mặt của chúng Do đó có thể hiểu ở vùng cửa sông khu vực châu
Âu có khí hậu lạnh, nhiệt độ thấp không thích hợp cho sự phân bố của thực vật đặc biệt là các cây ngập mặn Tuy nhiên, thực tế cho thấy có một số loài
mở rộng khu phân bố lên phía B c tới Bermunda (32o20’ B c) và Nhật Bản (31o22’ B c) như Trang, Vẹt dù, Đâng, Cóc vàng Giới hạn phía Nam của cây ngập mặn lag New Zealand (38o03’ Nam) và phía Nam Australia (38o43’ Nam) Ở những vùng này do khí hậu mùa đông lạnh nên thường chỉ còn loài
M m biển [21]
Hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về thành phần loài và sự phân bố của thực vật vùng cửa sông trên thế giới đặc biệt là các loài ngập mặn của các tác giả như Hutching và Seanger (1987), Anaclara Guido và các cộng
sự, K Sakthivel và cộng sự,… và đã xác định có khoảng hơn 100 loài thực vật ngập mặn [37],[39],[40] Tuy nhiên, do mỗi vùng, mỗi châu lục lại bị chia
c t bởi đại dương và đất liền nên sự phân bố của thực vật ở vùng cửa sông đặc biệt là các cây ngập mặn có sự khác nhau và đặc trưng cho từng vùng Tomlinson (1986) đã phân chia các quần xã RNM làm 2 nhóm có thành phần loài cây khác nhau:
- Nhóm phía đông tương ứng với vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương với
số loài đa dạng, phong phú
- Nhóm phía tây gồm bờ biển nhiệt đới châu Phi, châu Mỹ và cả Đại
Trang 17Tây Dương, Thái Bình Dương Số loài ở đây chỉ bằng 1/5 ở phía đông; chủ yếu là Đước đỏ, M m Tuy nhiên kích thước của một số loài cây lại lớn hơn nhóm phía đông; như ở Brazil Đước đỏ cao trên 50m và ở Ecuador loài này cao trên 60m [41]
Ở Malaysia, thành phần loài cây ngập mặn có sự khác nhau ở hai bờ biển phía tây và phía đông Trên bờ biển phía tây ở Sementa, Soepadmo and Pandi Mat Zain (1989) đã tìm thấy 32 loài trong khi đó ở bờ biển phía đông, đặc biệt ở Terengganu, Mohd Lokman and Sulong (2001) đã liệt kê 55 loài với 29 loài đặc hữu [42]
Như vậy, qua các công trình nghiên cứu của các tác giả cho thấy, sự đa dạng về thành phần loài của thực vật ở một vùng cửa sông nào đó trên thế giới tùy thuộc vào điều kiện sinh thái trong khu vực như nhiệt độ, lượng mưa và nền đất đóng vai trò quyết định
1.1.2 Ở Việt Nam
Vùng cửa sông nước ta trải dài suốt dọc bờ biển từ 8o30’ đến 21o30 vĩ
độ B c tạo nên một vùng nước lợ rộng lớn Các hệ cửa sông nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa với sự phân hóa sâu s c theo mùa trong năm: mùa gió đông b c và mùa gió tây nam Nhiệt độ trung bình năm trên lãnh thổ nước ta cao, từ 23,4 – 26,9o
C, tăng dần từ B c xuống Nam trong cả 2 mùa Dọc duyên hải nước ta có số ngày n ng cao, thuận lợi cho quá trình sinh trưởng và phát triển của thực vật [31]
Theo Phan Nguyên Hồng, thành phần thảm thực vật ở vùng cửa sông
thường gồm những loài cây nước lợ điển hình như cây Bần tr ng (Sonneratia
alba Sm), Dừa nước (Nypa fruticans),…
Ở Việt Nam, hệ thực vật vùng cửa sông có khoảng 29 họ thực vật bậc cao (TVBC) với 61 loài [13] Nhóm quyết thực vật chỉ có một họ và một loài Nhóm một lá mầm có 6 họ với 15 loài; còn lại là nhóm 2 lá mầm- trong đó họ
Trang 18Đước chiếm ưu thế với 4 chi và 10 loài gồm những cây thân gỗ quan trọng, tiếp theo là họ Bần với 3 loài, Ngọc nữ 3 loài Các họ còn lại chỉ có vài cá thể cây thân gỗ như Xu, Tra,… mọc lẻ tẻ trong rừng ngập mặn (RNM) hoặc các cây bụi và cỏ (Ráng đại, Sú, Cóc kèn,…)
Các loài cây ngập mặn (CNM) có biên độ thích nghi rất rộng với khí hậu, đất đai, nước, độ mặn Độ mặn là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, tỷ lệ sống của các loài và sự phân bố RNM Loại rừng này phát triển tốt ở nơi có nồng độ muối trong nước 10-25o/oo Kích thước cây và số loài giảm đi khi độ mặn cao (40-80 o
/oo) (Blasco, 1984), ở độ mặn 90 o/oo chỉ có vài loài m m sống được nhưng sinh trưởng rất chậm (Rao, 1986) [22] Nhưng nơi có độ mặn quá thấp (<4 o/oo) cũng không còn cây ngập mặn mọc tự nhiên
Theo một nhóm các tác giả: Phan Nguyên Hồng và Hoàng Thị Sản (1983), Phan Nguyên Hồng (1991), Phạm Hoàng Hộ (1991-1993), Phan Nguyên Hồng, L.Đ.Tuấn, Đ.V.Nhượng (1996) thì TVBC vùng cửa sông chủ yếu là CNM phân bố tập trung ở 2 vùng chính:
- Ở các bãi lầy ngập triều định kỳ: chủ yếu là nhóm cây ngập mặn chính thức
- Trên đất chỉ ngập triều cao: có nhóm cây tham gia ngập mặn và một
số cây du nhập
Theo một số tác giả, trung tâm hình thành cây ngập mặn là Indonesia
và Malaysia (Cương, 1964; Chapman, 1975) từ đó phát tán ra các nơi khác Theo Phan Nguyên Hồng (1991) quá trình vận chuyển nguồn giống vào Việt Nam chủ yếu do các dòng chảy đại dương và dòng chảy ven bờ [21] Gió mùa Tây Nam vào mùa hè đưa dòng chảy mang nguồn giống từ phía Nam lên, nhưng khi đến vĩ độ 12, dòng chảy chuyển hướng ra khơi nên một số loài không phát tán đến bờ biển phía B c Chính vì vậy, nhiều loài phong phú ở
Trang 19phía Nam như: Bần tr ng, Bần ổi, Dà, Đưng, Đước, Vẹt trụ, Vẹt tách, Dừa nước, M m đen, M m tr ng,… không có mặt ở phía B c Cũng có thể một số
ít loài đó trôi nổi trên biển một thời gian vài 3 tháng và vào được bờ biển vịnh
B c Bộ nhưng vì thời kỳ sinh trưởng của chúng trùng vào mùa đông nên chúng không sống được
Ở Việt Nam, các tài liệu về hệ sinh thái RNM từ thời Pháp thuộc rất hiếm, chủ yếu là hệ thực vật và khai thác tài nguyên từ RNM Một số nhà khoa học như Thái Văn Trừng, Vũ Trung Tạng, Lê Công Kiệt và cs trong các nghiên cứu của mình cũng có đề cập một phần nhỏ đến hệ sinh thái RNM
Đến 1975, có tất cả 97 báo cáo và tài liệu khác nhau về RNM (theo Rollet)
Sau 1975, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành ở RNM miền Nam Việt Nam, chủ yếu là của Viện Điều tra Quy hoạch rừng thuộc Bộ lâm nghiệp và của Trung tâm Tài nguyên Môi trường Đại học Quốc gia Hà Nội do GS.TS Phan Nguyên Hồng chủ trì
Theo Phan Nguyên Hồng sự phân bố của thực vật ở vùng cửa sông được chia thành 4 khu vực [19], [20], [21]:
* Khu vực 1: Ven biển Đông bắc, từ mũi Ngọc đến Đồ Sơn
Đây là khu vực phức tạp nhất, thể hiện trong các đặc điểm về địa mạo, thủy văn và khí hậu Địa hình bị chia c t tạo nên các vịnh ven bờ và các cửa sông hình phễu Khu vực này có những mặt thuận lợi cho sự phân bố RNM, nhưng cũng có những nhân tố hạn chế sự sinh trưởng và mức độ phong phú của các loài cây Hệ thực vật ở khu vực này gồm những loài chịu mặn cao, không có các loài ưa nước lợ điển hình, trừ một số bãi lầy nằm sâu trong nội địa như Yên Lập và một phần phía nam sông Bạch Đằng do chịu ảnh hưởng mạnh của dòng chảy, hệ sông lớn Ở đây có những loài phổ biến như Vẹt dù, Trang, Đâng
Trang 20* Khu vực 2: Ven biển đồng bằng Bắc Bộ, từ mũi Đồ Sơn đến mũi Lạch Trường
Khu vực này thuộc tam giác châu hiện đại, nằm trong phạm vi bồi tụ chính của sông Hồng, sông Thái Bình, bãi bồi rộng ở cả cửa sông và ven biển Tuy nhiên, hình dạng và xu thế phát triển của khu vực này không đồng nhất
do xuất hiện cả quá trình bồi tụ và xói lở Tác động lớn nhất là chế độ gió Do nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão, không có đảo che ch n nên bão và gió mùa đông b c đã gây ra sóng lớn, làm cho nước biển dâng cao
Ở đây chỉ còn những quần xã thực vật ngập mặn gồm những loài ưa nước lợ trong đó loài ưu thế nhất là Bần chua phân bố vùng cửa sông, Ngoài ra, còn
* Khu vực 4: Ven biển Nam Bộ, từ mũi Vũng Tàu đến mũi Nại, Hà Tiên
Vùng ven biển Nam Bộ có địa hình thấp, bằng phẳng, nằm trong phạm
Trang 21vi bồi tụ của hệ thống sông Cửu Long và sông Đồng Nai, có nhiều phụ lưu và kênh rạch chằng chịt, hằng năm đã chuyển ra biển hàng triệu tấn phù sa giàu chất dinh dưỡng, cùng với lượng nước ngọt rất lớn Các điều kiện sinh thái ở khu vực này thuận lợi cho các thảm thực vật ngập mặn sinh trưởng và phân
bố rộng Thêm vào đó, khu vực này gần các quần đảo Malaysia và Indonesia – là nơi xuất phát của cây ngập mặn Do đó, thành phần của hệ thực vật ngập mặn ở khu vực này phong phú nhất và kích thước cây cũng lớn hơn các khu vực khác ở nước ta
Sau Phan Nguyên Hồng cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thành phần loài và sự phân bố thực vật ngập mặn vùng cửa sông ở các địa phương của các tác giả như: Phạm Văn Ngọt, Nguyễn Thanh Nhân [28], Hoàng Công Tín, Mai Văn Phô [32], Phạm Ngọc Dũng, Tôn Thất Pháp [12],
Lê Bá Khoa [24], Đặng Văn Sơn [30],… Ngoài nghiên cứu về các loài ngập mặn ở vùng cửa sông thì gần đây, Đặng Văn Sơn, Phạm Văn Ngọt đã có công trình nghiên cứu đề cập đến thành phần loài cây du nhập rừng ngập mặn Cần Giờ [29] Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các tác giả trên đều cho thấy sự phân bố, độ nhiều của các loài thực vật vùng cửa sông của nước ta phần lớn đều nằm ở ven biển Nam Bộ rồi đến B c Bộ và miền Trung
Riêng ở Quảng Nam, trong những năm gần đây có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả như Cao Văn Lương [27], Nguyễn Hữu Đại [15],… Các công trình này chủ yếu tập trung đến một số loài có giá trị như Dừa nước, Cỏ biển, RNM ở Cẩm Thanh và một số xã lân cận gần cửa sông Tuy nhiên, từ trước đến nay chưa có một có công trình nào đề cập đến chi tiết
hệ TVBC trên các bãi bồi cũng như diễn thế sinh thái của thực vật ở vùng cửa sông Do vậy, đề tài này không những cung cấp thêm những dẫn liệu về đa dạng thành phần loài TVBC mà còn đưa ra những dự báo về xu thế diễn thế sinh thái của TVBC trên các bãi bồi trong tương lai, nhằm giúp cho cơ quan
Trang 22quản lí có cơ sở khoa học trong việc quy hoạch, bảo vệ và phát triển bền vững nguồn tài nguyên ở vùng cửa sông
1.2 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÀNH VÀ DIỄN THẾ SINH THÁI THỰC VẬT BẬC CAO Ở KHU VỰC BÃI BỒI VÙNG CỬA SÔNG
1.2.1 Đặc điểm hình thành hệ thực vật bậc cao ở khu vực bãi bồi vùng cửa sông
Sự phối hợp hoạt động của các dòng sông và dòng biển gây ra do sóng, thủy triều và hải lưu ven bờ đã ảnh hưởng rất mạnh đến cấu trúc và đời sống của vùng cửa sông Sự xáo trộn của nước sông, nước biển, sự biến thiên của
độ muối và sự phân bố, l ng đọng các trầm tích đã đưa đến sự xuất hiện những dải cát và sa khoáng, những bãi ngầm có cấp độ hạt khác nhau Ở trước các cửa sông có nhiều phù sa, các bãi ngầm lần lượt ngày một nâng lên, thường tạo thành các cồn, đảo ch n lấy cửa sông, buộc sông phải phân dòng
để đưa nước ra biển Chính sự phân nhánh của các hệ thống sông đã hình thành nên các cồn, đảo cửa sông
Với sự dao động lớn về độ muối và tác động của thủy triều, vùng cửa sông được chia thành các phần khác nhau, ở đó tồn tại các nhóm sinh vật với những đặc tính sinh thái khác nhau Dựa vào mức độ ngập nước của vùng bờ,
hệ cửa sông có thể chia thành 3 vùng:
- Vùng trên triều: là phần đất phía trên, cao hơn mực nước triều cực đại, bao gồm phần đất quần cư, đất canh tác, đất tự nhiên phủ bởi hệ thực vật hoang dại Đây là vùng đất mà thành phần các loài du nhập chiếm khá lớn, các nhóm cây ngập mặn phân bố rải rác trên bãi bồi và thường tập trung nhiều
ở khu vực ven bờ như Lau, Sậy,… Tuy nhiên, hoạt động của con người lên vùng này rất mãnh liệt nhằm cải tạo đất, sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản,…
- Vùng triều: là nơi ngập nước có chu kì, các bãi bùn, bãi cát phẳng, nơi
Trang 23đây tập trung nhiều các loài ngập mặn như Dừa nước, Đước, Trang,…
- Vùng dưới triều: là vùng luôn ngập nước, nhóm thực vật phân bố ở vùng này là các loài ngập mặn như Đước, Vẹt, Sú,…
Xét theo chiều thẳng đứng, cấu trúc của TVBC ở vùng cửa sông không nhiều tầng như các kiểu rừng khác, gồm một vài tầng cây gỗ, cây bụi nghèo
Ở các vùng dưới triều và vùng triều, tầng cây thảo ít gặp
Theo Phan Nguyên Hồng và các cộng sự (1984) cho rằng hệ thực vật ở vùng cửa sông không đa dạng và sự phân bố của thực vật trên các bãi bồi ở mỗi nơi mỗi khác Ở nước ta sự phân bố của thực vật vùng cửa sông ở Nam
Bộ đa dạng hơn so với khu vực miền B c và miền Trung có thể do nhiều nhân
tố chi phối Tuy gồm nhiều họ khác nhau nhưng các TVNM phân bố ở vùng cửa sông đều thích hợp với đất chua mặn, phần lớn chịu tác động của thủy triều
Các vùng ven biển phía Nam gần với các trung tâm xuất nguồn giống (Malaysia, Úc), theo giả thuyết trôi dạt lục địa thì trước đây là những dải đất nối liền Chế độ nhiệt ở các vùng phía Nam cũng gần nơi tổ tiên mà nó xuất phát, đó là khí hậu ôn hòa, biên độ dao động nhiệt không lớn, hầu như không
có mùa đông, lượng mưa nhiều,…; các vùng ven biển này đều nông, nhiều phù sa tạo nên bãi bồi rộng lớn rất thích hợp cho sự phát triển của thực vật đặc biệt là các cây ngập mặn
Trong khi đó ở khu vực miền Trung, các bãi bồi đều hẹp, ng n, địa hình trống trải, ít có các đảo che ch n ở phía ngoài, nền đất nhiều cát, lượng mưa ít hơn, luôn chịu ảnh hưởng của gió bão và gió mùa Đông b c và các yếu
tố bất lợi khác nên số lượng loài và cấu trúc nghèo nàn hơn [31], [35]
Mặt khác, khi xét theo nhiệt độ người ta nhận thấy nếu nhiệt độ nước biển từ 16 – 18oC thì chỉ có rừng M m phát triển Nhiệt độ nước biển từ 18 –
20oC, xuất hiện rừng Trang Khi nhiệt độ của nước biển lớn hơn 20oC mới
Trang 24xuất hiện rừng Đước
Như vậy, các yếu tố của điều kiện môi trường như nhiệt độ, độ mặn, chế độ ngập triều, nền đáy và địa mạo của vùng cửa sông đã tác động đến sự phân bố và mức độ đa dạng của TVBC trên các bãi bồi Do đó chúng tạo nên các đới phân bố rất rõ rệt trong không gian vùng cửa sông [31]
1.2.2 Quá trình diễn thế sinh thái của thực vật bậc cao ở vùng cửa sông
Vùng cửa sông ven biển là một hệ sinh thái động nối liền với biển khơi
Sự thay đổi nhanh chóng các nhân tố môi trường ở vùng cửa sông ven biển do hoạt động của thủy triều và lưu lượng sông khiến cho đất bồi hoặc xói lở nhanh chóng đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân bố của các loài và có sự thay thế loài này bằng loài khác [35]
Thông thường, một khi bãi triều được hình thành sẽ có các cây tiên phong cố định giữ đất, giữ phù sa và trầm tích lại, bùn đất ngày càng chặt hơn, độ ngập triều dài, lượng nước ngọt được tăng cường đã tạo điều kiện cho các loài đến sau sinh trưởng thuận lợi hơn, số loài phong phú dần lên Nhưng đến một mức phát triển nhất định lại nảy sinh sự cạnh tranh về thức ăn, ánh sáng nên những loài đến trước yếu thế hơn sẽ bị tiêu diệt dần để cho các loài đến sau ưu thế phát triển Do đó, ở các giai đoạn ổn định về sau các quần xã
sẽ đơn giản hơn về thành phần loài và cấu trúc quần xã Trong giai đoạn cuối, khi đất không còn ngập triều, bùn khô, pyrite bị oxi hóa thành đất axit sunphat thì diễn thế chuyển sang dạng thoái hóa do môi trường đã thay đổi không phù hợp với cây ngập mặn nữa Giai đoạn sau đó diễn ra hết sức phức tạp tùy thuộc vào mức độ can thiệp của con người và thiên nhiên [35]
Duke và các cộng sự (1988) dựa trên độ mặn của nước và độ dốc của địa hình đã đưa ra các kiểu hình phân vùng của thực vật ở vùng cửa sông Daintree như sau: Vùng thượng nguồn có độ mặn từ 0 - 3‰, nhóm thực vật
Trang 25tiên phong là loài Bần chua (Sc), ở khu vực vùng triều có các loài Vẹt khang (Bs) và ở khu vực có độ dốc cao hơn thì xuất hiện các loài Giá (Ea) Vùng trung nguồn có độ mặn từ 0 - 30‰, nhóm tiên phong lại là Sú (Ac), tiếp đến
là Đưng (Rm), Bần chua (Sc), Vẹt tách (Bp) và cuối cùng là loài Cui biển (Hi) Ở vùng hạ nguồn có độ mặn từ 15 -32‰, Bần tr ng (Sa) lại là nhóm tiên phong, tiếp đến là các loài M m biển (Am), Đước vòi (Rs), Đước (Ra), Vẹt
dù (Bg), Dà vôi (Ct) (hình 1.1)
Hình 1.1 Các kiểu hình phân vùng của sông Daintree, Đông Bắc Úc
Trong những nghiên cứu của Phan Nguyên Hồng và cộng sự đã chỉ ra rằng, ở nơi cao, ít nước thuộc vùng trên triều, phân bố các loài chịu hạn như
Tra (Habiseus tiliaceus), Dứa dại (Pandanus tectorius), Vạng hôi (Clerodendron inerme), Muống (Ipromoea pescaprae), Cỏ … Trên các bãi
đất mới bồi, nền chưa ổn định, yếm khí, xuất hiện những loài tiên phong như
M m (Avicennia), Sú (Aegiceras) Khi nền được tôn cao hơn, đông đặc hơn,
Trang 26nơi có độ muối tương đối cao, hàng loạt các loài như Đước đôi (Rh
apiculata), Bần (Senneratia alba) cùng với nhiều cây ưa mặn khác quần tụ,
phát triển phát tán thành rừng [19]
Tại nơi độ muối thấp và biến động mạnh, nhất là cửa các con sông, những loài trên thường giảm và thay vào đó là các loài Đước bộp
(Rh.mucronata), M m qu n (A.lunata),… Đi vào trong, phía thượng lưu, nền
đất càng chặt lại, độ muối càng giảm nhanh, điều kiện sống càng thuận lợi cho
sự phát triển thay thế của các nhóm cây khác như Giá (Excoecaria
agallocha), Dừa nước (Nypa fruticans), Sậy (Phragmites communis), Lác
(Cyperus cephalotus),… những cây đặc trưng cho đất đầm lầy chua mặn của
phần trên cùng vùng cửa sông [19]
Như vậy, sự phân bố của TVBC ở vùng cửa sông có liên quan chặt chẽ đến các yếu tố môi trường như độ mặn, thể nền và chế độ thủy triều Đặc biệt khi
độ mặn thay đổi có thể dẫn đến sự thay thế sự phân bố của các nhóm thực vật
1.3 VAI TRÒ CỦA HỆ THỰC VẬT BẬC CAO KHU VỰC BÃI BỒI VÙNG CỬA SÔNG
Hệ thực vật bậc cao phân bố trên các bãi bồi, đặc biệt là các TVNM đóng vai trò rất lớn đối với vùng cửa sông Ngoài vai trò là nơi cư trú, nuôi dưỡng các loài thủy sản còn có tác dụng lớn trong việc bảo vệ bờ biển, điều hòa khí hậu, hạn chế sự xâm nhập mặn, nước biển dâng
1.3.1 Nơi cư trú, nuôi dưỡng các loài động vật, các loài thủy sản
Hệ thực vật bậc cao ở vùng cửa sông không những là nguồn cung cấp thức ăn mà còn là nơi cư trú, nuôi dưỡng con non của nhiều loài thủy sản có giá trị Trong vòng đời của một số lớn các loài cá, tôm, cua,… có một hoặc nhiều giai đoạn b t buộc phải sống trong các vùng nước nông, cửa sông có TVNM Những loài giáp xác như tôm, cua sinh ra ở biển khơi, ấu trùng của chúng được dòng chảy trong đại dương đưa chúng vào rừng ngập mặn, nơi
Trang 27đây chúng sinh trưởng đến lúc sinh sản chúng lại di cư trở lại ở vùng nước sâu
để đẻ Mặt khác, rừng ngập mặn và bãi bồi còn là nơi sinh sống và kiếm ăn của nhiều loài chim nước và chim di cư, tạo thành các sân chim lớn với hàng vạn con và dơi quạ RNM Việt Nam có nhiều loài chim quí hiếm của thế giới như các loài cò mỏ thìa, già dẫy, hạc cổ tr ng (Võ Quý, 1984) Như vậy, vùng bãi bồi là một m t xích quan trọng trong chuỗi các nơi cư trú của các
loài chim biển di cư của thế giới
1.3.2 Tác dụng trong việc bảo vệ đất bồi, chống xói lở, hạn chế xâm nhập mặn
Hệ thực vật bậc cao ở các bãi bồi vùng cửa sông được xem như là một công cụ lấn biển tự nhiên, đặc biệt các TVNM được ví như một “bức tường xanh” trước biển, góp phần quan trọng trong việc phòng chống và giảm thiểu thiệt hại thiên tai, có khả năng hạn chế xâm nhập mặn và bảo vệ nước ngầm
Hệ rễ cây chằng chịt trên mặt đất làm giảm cường độ của sóng nên hạn chế dòng chảy vào nội địa khi triều cường Mặt khác, chúng vừa ngăn chặn có hiệu quả hoạt động công phá bờ biển của sóng, đồng thời là vật cản làm cho trầm tích l ng đọng, bồi tụ nhanh hơn, hạn chế xói lở và quá trình xâm thực
bờ biển Ví dụ như, hàng năm vùng cửa sông Hồng tại Ba Lạt tiến ra biển 60÷70m, một số xã ở tỉnh Tiền giang, Bến tre đất bồi ra biển 25÷30m, Trà
vinh, Sóc trăng 15÷30m, Bạc liêu, Cà mau 30÷40m (Phân viện Điều tra Quy
hoạch rừng Nam Bộ, 2006)
Ở vùng cửa sông lớn như hệ thống sông Hồng, sông Cửu Long, phù sa thường ngưng đọng trên lòng sông và ngoài cửa sông tạo nên những hòn đảo nổi Nếu điều kiện thuận lợi thì chỉ sau một thời gian, các loài cây ngập mặn tiên phong sẽ đến cư trú tạo môi trường cho những loài cây đến sau và đất bồi được nâng dần lên, như Cồn Ngạn, Cồn Lu ở Giao Thủy - Nam Định, Cồn Vành ở Thái Bình, Cồn Ngoài và Cồn Trong ở Tây Nam mũi Cà Mau
Trang 281.3.3 Tác dụng đối với môi trường sinh thái
Theo Blassco (1975), hệ thực vật ngập mặn là một tác nhân làm cho khí hậu dịu mát hơn, giảm nhiệt độ tối đa và biên độ nhiệt do nó làm giảm cường
độ bốc hơi nước Sau khi thảm thực vật không còn thì cường độ bốc hơi nước tăng làm cho độ mặn của nước và đất tăng theo Ở những nơi không có RNM thì tốc độ gió tại đó sẽ tăng đột ngột, gây nên hiện tượng sa mạc hóa do cát di chuyển vùi lấp kênh rạch và đồng ruộng Tốc độ gió tăng gây ra sóng lớn làm
vỡ đê đập, xói lở bờ biển Mất RNM sẽ ảnh hưởng đến lượng mưa của tiểu khu vực, kèm theo đó là ô nhiễm, dịch bệnh lan tràn,…
Do đó, hệ thực vật bậc cao ở bãi bồi vùng cửa sông góp phần điều hòa khí hậu trong vùng, làm cho khí hậu dịu mát hơn Chẳng hạn như RNM Cần giờ, TP Hồ Chí Minh được xem như lá phổi xanh của thành phố
Các chất độc hại và ô nhiễm từ các khu công nghiệp, đô thị thải vào sông suối, hòa tan trong nước hoặc l ng xuống đáy được nước sông mang ra các vùng cửa sông ven biển RNM hấp thụ các chất này và tạo ra các hợp chất ít độc hại hơn đối với con người Ở một số nơi sau khi thảm thực vật ngập mặn bị tàn phá thì cường độ bốc hơi nước tăng, làm cho độ mặn của nước và đất tăng theo [35]
1.3.4 Tác dụng trong việc giảm thiểu tác hại của sóng thần
Hệ thực vật bậc cao ở bãi bồi vùng cửa sông, đặc biệt là các cây ngập mặn có chức năng chống lại sự tàn phá của sóng thần nhờ hai phương thức khác nhau Thứ nhất, khi năng lượng sóng thần ở mức trung bình, những cây ngập mặn vẫn có thể đứng vững, bảo vệ hệ sinh thái của chính mình và bảo vệ cộng đồng dân cư sinh sống đằng sau chúng Có được như vậy là vì các cây ngập mặn mọc đan xen lẫn nhau, rễ cây phát triển cả trên và dưới mặt đất cộng với thân và tán lá cây cùng kết hợp để phân tán sức mạnh của sóng thần Thứ hai, khi năng lượng sóng thần đủ lớn để có thể cuốn trôi những cánh RNM thì chúng vẫn có thể hấp thụ nguồn năng lượng khổng lồ của sóng thần
Trang 29bằng cách hy sinh chính mình để bảo vệ cuộc sống con người Rễ cây ngập mặn có khả năng phát triển mạnh mẽ cả về mức độ rậm rạp và sự dàn trải Khi cây ngập mặn bị đổ xuống thì rễ cây dưới mặt đất tạo ra một hệ thống dày đặc ngăn cản dòng nước [35]
1.4 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.4.1 Điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lý
Vùng hạ lưu sông Thu Bồn nằm ở vùng cửa sông - ven biển, cuối tả ngạn sông Thu Bồn, từ 15026’0” đến 15015’15” độ vĩ B c và từ 108023’10” đến 108017’08” độ kinh Đông Với diện tích tự nhiên: 6.146,88 ha, trong đó đất liền chỉ có 4.597,76 ha (chiếm 73,50%) [36]
Phía Đông giáp biển Đông
Phía Tây giáp huyện Điện Bàn và huyện Duy Xuyên
Phía Nam giáp huyện Duy Xuyên
Phía B c giáp huyện Điện Bàn
Hình 1.2 Sơ đồ vị trí địa lý vùng hạ lưu sông Thu Bồn
Trang 30b Khí hậu
Vùng hạ lưu sông Thu Bồn (VHLSTB) nói riêng và tỉnh Quảng Nam nói chung nằm trong khí hậu nhiệt đới gió mùa - vùng chuyển tiếp giữa khí hậu Miền B c và Miền Nam N ng nóng vào mùa hè, chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam, mưa nhiều, lũ lụt vào mùa thu và mùa đông lạnh Khí hậu, thời tiết
là một nhân tố quyết định đến cảnh quan tự nhiên và đời sống của sinh vật Cùng với địa hình, khí hậu tác động đến đa dạng sinh học, chế độ thủy văn của vùng hạ lưu sông [36]
* Lượng mưa
Mưa là một trong những thành phần của cán cân nước, có mối quan hệ mật thiết đến chế độ thủy học và ngư nghiệp
Mùa mưa năm 2013, ở Quảng Nam tập trung vào 3 tháng là tháng 9, 10
và 11 chiếm 70 lượng mưa cả năm, lũ lớn cũng xuất hiện trong thời gian này Thời kỳ ít mưa tập trung từ tháng 3 đến tháng 8, lượng mưa trong 5 tháng này chỉ chiếm khoảng 10 - 16 lượng mưa cả năm [36]
B ng ư ng mưa trung nh c c th ng v ng nghi n c u trong n m
Trang 31
nh 3 Biểu đồ mô t lư ng mưa trung nh c c th ng trong n m
* S giờ nắng lượng b c hơi
N ng là yếu tố khí hậu có liên quan chặt chẽ với bức xạ mặt trời và phụ thuộc vào chế độ mưa, lượng mây, là điều kiện cơ bản cho quá trình quang hợp, hô hấp của thực vật và ảnh hưởng trực tiếp đến thủy sinh vật trong vùng
hạ lưu sông
Số giờ n ng và lượng bốc hơi ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn có sự chênh lệch giữa mùa hè và mùa đông, tháng 5 có giờ n ng cao nhất, tháng 12 có giờ
n ng thấp nhất Trong năm số giờ n ng tăng nhanh nhất vào tháng 5 và tháng
6, giảm nhanh từ tháng 10 đến tháng 11, đây chính là giai đoạn giao mùa [36]
B ng 2 S gi nắng trung nh c c th ng trong n m, t nh Qu ng Nam
Trang 32nh Đồ thị iểu thị s gi nắng c c th ng trong n m
* Nhiệt độ
Nhiệt độ là một yếu tố sinh thái tác động rất lớn đến đời sống của sinh vật
Sự phân bố nhiệt độ phụ thuộc vào không gian (địa hình, vị trí địa lí) và thời gian (mùa, tháng) Ở tỉnh Quảng Nam, nhiệt độ cao nhất vào mùa hè (27,0 - 27,4)0C, nhiệt độ thấp vào mùa đông (19,9 - 21,1)0
Trang 33Sông Thu Bồn - Vu Gia theo trục Đông - Tây (đoạn sông Thu Bồn chảy qua Hội An được gọi là sông Cái hoặc sông Hội An, với chiều dài qua địa
phận thành phố là 8,5 km) Sông Thu Bồn là một trong 2 dòng chính của hệ
thống sông Vu Gia - Thu Bồn và cũng là sông lớn nhất tỉnh Quảng Nam Diện tích lưu vực tính đến Giao Thủy (cách Hội An 30km) là 3.825km2
Vào mùa nước lớn có sự xâm nhập của nước biển nên vùng cửa sông là vùng nước lợ - mặn với hệ thủy sinh vật rất phong phú
Trang 34định Trong mỗi tháng thông thường có 2 kỳ triều cường và 2 kỳ triều kém;
kỳ triều cường xảy ra vào những ngày trăng tối và trăng tròn, biên độ triều lớn nhất xuất hiện vào thời kỳ này Nhờ chế độ bán nhật triều đó, VHLSTB luôn nhận được lượng nước từ biển Đông làm thay đổi độ mặn theo không gian và thời gian [36]
* Dòng chảy
Ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn có chế độ dòng chảy chịu ảnh hưởng dòng triều Sự biến đổi về dòng chảy theo thời gian chịu sự chi phối trực tiếp của dòng chảy từ thượng nguồn đổ về và dòng triều từ biển chảy ngược lên
Trong mùa cạn, dòng chảy từ thượng nguồn đổ về ít biến đổi nên tốc độ, lưu lượng dòng chảy ở đây chủ yếu là do dòng triều chi phối Dòng chảy ở vùng hạ lưu sông có hai chiều thay đổi phụ thuộc vào quy luật lên xuống của
thuỷ triều
Vào mùa lũ, do lưu lượng dòng chảy từ thượng nguồn lớn nên tốc độ dòng triều lên giảm đi và tốc độ dòng chảy xuôi tăng lên đáng kể Khi có lũ lớn thì sự ảnh hưởng của thuỷ triều sẽ giảm dần, dòng chảy ngược sẽ không còn, biên độ dao động mực nước triều cũng giảm dần Khi đó dòng chảy trên sông chỉ hoàn toàn là dòng chảy lũ Các dòng nước từ sông đổ ra biển đã hình
thành các dòng hội tụ tạo ra nguồn thức ăn phong phú cho các thủy sinh vật
d Độ mặn
Mức độ xâm nhập mặn trên VHLSTB phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó dòng chảy thượng nguồn đóng vai trò chính Vào mùa cạn, lưu lượng dòng chảy thượng nguồn nhỏ, độ mặn xâm nhập vào trong sông lớn và khá ổn định Nồng độ muối ở đây thay đổi theo mùa rõ rệt, biên độ giao động giữa mùa mưa và mùa khô tại các thủy vực của vùng hạ lưu sông thay đổi khá lớn
từ 0,00
/00 - 8,80/00 Đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến toàn bộ sinh vật sống trên vùng hạ lưu sông, đặc biệt là ảnh hưởng đến sự phân bố của các
Trang 35TVBC trên các bãi bồi
1.4.2 Tình hình kinh tế - xã hội
a Dân s
Theo Niên giám Thống kê tỉnh Quảng Nam (2014), tính đến hết năm
2013, dân số của huyện Duy Xuyên và thành phố Hội An là 216.380 người (bảng 1.4) Thành phố Hội An có diện tích nhỏ nhưng mật độ dân số cao nguyên nhân là do ngoài dân số tăng tự nhiên tại chỗ, hằng năm ở Hội An tốc
độ gia tăng dân số cơ học khá cao, hàng ngày có một lượng du khách khá lớn đến tham quan du lịch, nhiều lao động từ các địa phương khác trong và ngoài tỉnh đến buôn bán làm ăn và không ít các nhà khoa học, cán bộ, công chức, viên chức, nghệ sĩ, đến nghiên cứu, công tác [10]
B ng Diện tích, ân s , mật độ n m 20 theo huyện, thành ph
Địa phương Diện tích (Km²) Dân số trung bình
(người)
Mật độ dân số (người/km²)
Ngành DL-DV-TM tăng trưởng mạnh, phát huy vai trò là ngành mũi nhọn của thành phố với GDP hiện hành đạt hơn 2.087 tỷ đồng, tăng hơn 16 , chiếm tỷ trọng 68,73% tổng GDP toàn thành phố Năm 2013, có 1.610.000 lượt du khách đến Hội An, trong đó có 1.170.000 lượt khách tham quan, tăng 14,9 ; đặc biệt, khách tham quan Cù Lao Chàm tăng đột biến với 711.500
Trang 36lượt, tăng 63,2 Về thương mại, doanh thu thương mại đạt hơn 1.210 tỷ đồng, tăng 12,3 , tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 10,743 triệu USD, tăng 66 Đối với ngành CN-TTCN-Xây dựng, GDP hiện hành đạt 593,23 tỷ đồng, tăng 9,56 , chiếm tỷ trọng 19,53 tổng GDP toàn thành phố Trên lĩnh vực Nông - Ngư nghiệp do ảnh hưởng bất lợi của thời tiết nên có mặt giảm sút, GDP đạt 365,3 tỷ đồng, bằng 98,64% so với năm trước Tuy nhiên, tốc độ và quy mô tăng trưởng Du lịch - dịch vụ chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế vốn có; sản phẩm du lịch chưa đủ sức giữ chân du khách dài ngày và chưa khai thác, quản lý tốt các bãi biển Sản xuất CN-TTCN gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ,… Đời sống của người dân ở một số xã ven biển còn gặp nhiều khó khăn, riêng xã Cẩm Thanh có tỉ lệ hộ nghèo chiếm tỉ lệ 4,4 % và có
số lượng lao động thủy sản chiếm tỷ lệ cao nhất thành phố, tiếp đến là xã Cẩm
Hà và xã Cẩm Châu có số lượng lao động nông nghiệp chiếm tỉ lệ cao [11]
Trang 37CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Các loài thực vật bậc cao phân bố ở các bãi bồi thuộc hạ lưu sông Thu
Bồn – Thành phố Hội An
2.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thời gian nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi đã nghiên cứu từ tháng 01/2015 đến tháng 10/2015 Trong đó, chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sát 3 đợt thu mẫu:
Đợt 1: Từ ngày 23 - 25/5/2015
Đợt 2: Từ ngày 30 - 31/5/2015
Đợt 3: Từ ngày 19 - 21/9/2015
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành thu mẫu trên các bãi bồi dọc theo sông Thu Bồn –
TP Hội An Tổng cộng có 7 điểm lấy mẫu tương ứng ở 7 bãi bồi (cồn, gò)
nh 2 Sơ đồ c c điểm nghiên c u bãi bồi hạ lưu sông Thu Bồn
Trang 38B ng 2 c vị trí thu m u v ng hạ lưu sông Thu Bồn
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Kế thừa các tài liệu, số liệu điều tra về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
về diện tích đất đai và bản đồ hiện trạng khu vực nghiên cứu, các tài liệu tham khảo liên quan đến đề tài của các tác giả trong và ngoài nước Sử dụng các kiến thức và số liệu có liên quan tới hướng nghiên cứu do các nhà khoa học trước đã đưa ra để làm cơ sở cho nghiên cứu
2.3.2 Phương pháp điều tra thực địa
Đo đạc, lấy mẫu ngoài hiện trường và phân tích trong phòng thí nghiệm nhằm xác định các thông số để đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường khu
Trang 39vực trong thời gian nghiên cứu Một số thiết bị được dùng trong khi khảo sát:
GPS, máy ảnh
2.3.3 Phương pháp lập ô tiêu chuẩn
Để tiến hành thu thập các số liệu về thành phần loài của hệ TVBC trên các bãi bồi chúng tôi sử dụng phương pháp lập ô tiêu chuẩn [34] Lập 7 ô tiêu chuẩn có kích thước 10m x 10m (100m2
) tại 7 khu vực nghiên cứu tương ứng với 7 bãi bồi, ô được tính từ mép nước vào bờ 10m và chiều dài 10m, được đánh dấu tọa độ ô tiêu chuẩn bằng máy GPS Trong ô tiêu chuẩn (A) tiến hành đo đếm tất cả các cây thân bụi và thân gỗ Trong mỗi ô A, lập 1 ô nhỏ hơn (ô B) với kích thước là 5m x 5m (25m2), trong đó tiến hành đo đếm tất cả các cây thân thảo
và nơi lấy, các đặc điểm quan trọng: Dạng thân; màu s c lá, hoa, quả; mùi vị
Trang 40đặc trưng (nếu có); có nhựa mủ hay không; môi trường sống
Cách xử lý mẫu: Mẫu vật được xử lý ngay sau mỗi đợt thu mẫu, ép tạm thời bằng giấy báo, buộc chặt, cho vào túi nilon và tẩm cồn 70%
Chụp ảnh: sử dụng máy ảnh để ghi lại hình ảnh của các loài cây, đặc điểm phân bố và những hoạt động của tập thể trong quá trình nghiên cứu
b Đ i với các mẫu đất và nước
Mẫu nước được thu trực tiếp vào can nhựa hoặc lọ nhựa PE đã được xử
lý trước bằng dung dịch HNO3 PA và nước cất 2 lần, được tráng kỹ bằng nước mẫu tại chỗ trước khi đựng mẫu
- Các mẫu nước: Sử dụng gàu lấy nước ở độ sâu 1,5m và cho vào chai
có ghi sẵn khu vực thu mẫu Mẫu nước phân tích các yếu tố pH, độ mặn được giữ lạnh và phân tích trong ngày
- Các mẫu đất: Tiến hành lấy mẫu đất ở các khu vực nghiên cứu và cho vào chai nhựa có ghi sẵn vị trí và thời gian lấy mẫu Mẫu được bảo quản và gửi đến phòng phân tích môi trường xử lý
2.3.5 Phương pháp xử lý mẫu trong phòng thí nghiệm
gỗ ép chặt mẫu và bó lại
Sấy mẫu: Sau khi ép mẫu thì tiến hành sấy ngay, mẫu được sấy trong tủ sấy ở điều kiện nhiệt độ 60 – 800C, trong khoảng thời gian từ 3 – 5 ngày tùy