Vì thế, đã có một bộphận lớn người Việt được chính quyền thực dân đưa sang Lào và Campuchiaphục vụ trong các tổ chức bộ máy hành chính hay làm culi , công nhân trongcác hầm mỏ, trên các
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
HOÀNG THÚY VÂN
LAO ĐỘNG NGƯỜI VIỆT Ở LÀO VÀ CAMPUCHIA THỜI PHÁP THUỘC
(1897 – 1945)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử thế giới
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN THỊ TUYẾT NHUNG
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai khóa luận với đề tài: “Lao động người Việt
ở Lào và Campuchia thời Pháp thuộc (1897 - 1945)”, tôi đã nhận được sự
giúp đỡ, tạo điều kiện của Ban Chủ nhiệm cùng các thầy cô trong khoa Lịch
sử, Thư viện Quốc gia, viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam Đặc biệt
là sự tận tình chỉ bảo của giảng viên Tiến sĩ Nguyễn Thị Tuyết Nhung
Tôi xin chân thành cảm ơn đến khoa Lịch sử, các cán bộ Thư việnQuốc Gia Đặc biệt là giảng viên hướng dẫn Tiến sĩ Nguyễn Thị TuyếtNhung
Hà Nội, ngày tháng năm 1017
Sinh viên
Hoàng Thúy Vân
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp: “Lao động người Việt ở Lào và Campuchia
thời Pháp thuộc (1897 - 1945)” của tôi được hoàn thành dưới sự hướng dẫn
tận tình của giảng viên Tiến sĩ Nguyễn Thị Tuyết Nhung Tôi xin cam đoankhóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi, không trùnglặp với kết quả nghiên cứu của tác giả khác Nếu sai tôi hoàn toàn chịu tráchnhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm 1017
Sinh Viên
Hoàng Thúy Vân
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của đề tài 5
6 Bố cục khóa luận 5
NỘI DUNG 6
Chương 1: QUÁ TRÌNH DI CƯ CỦA NGƯỜI VIỆT ĐẾN LÀO VÀ CAMPUCHIA THỜI PHÁP THUỘC(1897-1945) 6
1.1 Những nhân tố tác động đến sự di cư của người Việt đến Lào và Campuchia thời Pháp thuộc 6
1.1.1 Điều kiện tự nhiên, dân cư và văn hóa 6
1.1.2 Điều kiện kinh tế- chính trị- xã hội 9
1.2 Quá trình di cư của người Việt đến Lào và Campuchia thời Pháp thuộc 18 1.2.1 Quá trình di cư của người Việt đến Lào 18
1.2.2 Quá trình di cư của người Việt đến Campuchia 25
Chương 2: LAO ĐỘNG NGƯỜI VIỆT Ở LÀO VÀ CAMPUCHIA THỜI PHÁP THUỘC (1897- 1945) 31
2.1 Lao động người Việt ở Lào thời Pháp thuộc 31
2.1.1 Các ngành nghề chính của lao động người Việt ở Lào 31
2.1.2 Sự phân bố và cuộc sống của lao động người Việt ở Lào 36
2.2 Lao động người Việt ở Campuchia thời Pháp thuộc 41
2.2.1 Các ngành nghề chính của lao động người Việt ở Campuchia 41
2.2.2.Sự phân bố và cuộc sống của lao động người Việt ở Campuchia 46
2.3 Nhận xét 48
KẾT LUẬN 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 5Việt Nam, Lào và Campuchia là ba nước láng giềng, nằm trên bán đảoĐông Dương có truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau lâu đời Trên tinhthần “ quan hệ đặc biệt và hợp tác toàn diện” thì từ rất lâu lao động ngườiViệt với nhiều lí do khác nhau đã di cư sang Lào và Campuchia để làm ănsinh sống Trong suốt chiều dài lịch sử của ba nước Đông Dương, chưa baogiờ người Việt lại di cư đến Lào và Campuchia đông đảo như thời Pháp thuộc(1897 - 1945).
Lào và Campuchia vốn là nơi đất rộng, người thưa Ở Lào núi và caonguyên chiếm trên 90% diện tích của đất nước, Campuchia 75% diện tích làđồng bằng, để có thể khai thác nguồn tài nguyên giàu có của các xứ này, thựcdân Pháp chỉ có thể dựa vào nguồn nhân công người Việt Mặt khác, chínhquyền thực dân Pháp còn muốn sử dụng người Việt vào mục đích chia để trị,nhằm chia rẽ các dân tộc trong Liên bang Đông Dương Vì thế, đã có một bộphận lớn người Việt được chính quyền thực dân đưa sang Lào và Campuchiaphục vụ trong các tổ chức bộ máy hành chính hay làm culi , công nhân trongcác hầm mỏ, trên các công trường làm đường và trong các nhà máy xí nghiệp.Đại đa số người Việt ở Lào và Campuchia trong thời Pháp thuộc là người laođộng Cuộc sống của họ nơi đất khách quê người cũng rất cực khổ với đồng
Trang 6lương ít ỏi và làm việc trong điều kiện tồi tệ, bị chính quyền thực dân phânbiệt đối xử.
Ngoài ra, nghiên cứu đề tài còn giúp hiểu rõ chính sách khai thác thịtrường lao động của chính quyền thực dân Pháp đã thực hiện ở Đông Dươngtrong thời kì Pháp thuộc Nhiều người Việt đi sang Lào và Campuchia với hivọng có thể tìm kiếm công ăn việc làm, mong muốn có cuộc sống ổn định,khá giả hơn ở quê nhà Vì vậy, họ đã làm nhiều ngành nghề khác nhau Tuynhiên, cuộc sống của họ ở nơi đất khách quê người vẫn rất cực khổ do sự ápbức bóc lột của chế độ thực dân Cho nên, những người lao động Việt ở Lào
và Campuchia đã trở thành một lực lượng quan trọng đông đảo, mạnh mẽtham gia vào công cuộc đấu tranh chống Pháp cùng với nhân dân Lào vàCampuchia trong thời Pháp thuộc
Như vậy, việc nghiên cứu đề tài “Lao động người Việt ở Lào và
Campuchia thời Pháp thuộc ( 1897 - 1945)” vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có
ý nghĩa thực tiễn
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về lịch sử Lào và Campuchia đã có nhiều nhà khoa học ởtrong và ngoài nước tìm hiểu nhưng vấn đề về lao động người Việt ở Lào vàCampuchia thời Pháp thuộc mới chỉ được các tác giả đề cập một cách kháilược:
Tác giả Phạm Đức Thành trong cuốn “Lịch sử Campuchia”, Nxb Quân
đội nhân dân - 1972 cũng đã trình bày một số vấn đề về lao động người Việt ởCampuchia: cuộc sống của lao động Việt cực khổ, phải chịu hàng trăm thứthuế cùng với sự bóc lột nặng nề của Pháp
Trong cuốn “Tư liệu lịch sử về phong trào Việt kiều yêu nước ở
Campuchia” của Câu lạc bộ truyền thống kháng chiến khối Việt kiều
Campuchia yêu nước, Nxb Mũi Cà Mau - 1998 đã nêu lên sự gắn bó của
Trang 7người Việt đối với đất nước Campuchia và mối quan hệ của người Việt ởCampuchia Sự đoàn kết giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam cũng nhưViệt kiều tại Campuchia cùng nhau tham gia kháng chiến chống thực dânPháp.
Tác giả Hoàng Văn Thái trong cuốn “Liên minh đoàn kết chiến đấu
Việt Nam – Lào – Campuchia”, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1983, đã đi sâu vào
phân tích cơ sở hình thành mối quan hệ giữa ba nước Đông Dương Đó là do
có những điểm tương đồng về địa lí, lịch sử văn hóa, truyền thống đoàn kếtđấu tranh từ trong lịch sử luôn phải đứng trước sự nhòm ngó xâm lược củacác quốc gia lớn Chính những điểm tương đồng này đã tạo nên mối quan hệđặc biệt giữa ba nước Đông Dương
Hay trong cuốn “Người Việt ở Thái Lan - Campuchia - Lào” của
Nguyễn Quốc Lộc, Nxb Văn nghệ, Tp Hồ Chí Minh - 2006, tác giả đã đề cậptới một số ngành nghề chính của người Việt ở Campuchia đó là nghề đánh bắt
cá, làm công nhân trong các đồn điền cao su và sự phân bố của lao độngngười Việt trên mảnh đất này
Cuốn “Di cư và chuyển đổi lối sống” của Nguyễn Duy Thiệu, Nxb Thế
giới, năm 2008 cũng đã tập hợp nhiều bài viết của các tác giả nghiên cứu về
người Việt ở Lào; bài viết “Nguyên nhân và các đợt di dân của người Việt
đến Lào” của Vũ Thị Vân Anh, tác giả đã đi vào phân tích những đợt di cư
chính của người Việt sang Lào trong suốt chiều dài lịch sử của hai dân tộc và
nguyên nhân dẫn đến sự di cư của người Việt Lào; bài viết “Những chuyển
đổi trong đời sống xã hội và đời sống tâm linh của cộng đồng người Việt ở Lào” của Nguyễn Duy Thiệu đề cập tới một số công việc của người Việt ở
Lào thời Pháp thuộc; phong tục, tập quán của người Việt khi di cư đến Lào
Một số cuốn sách thông sử viết về lịch sử Lào như cuốn “Lịch sử Lào” của Đặng Bích Hà; cuốn: “Đất nước Lào lịch sử và văn hóa” của Lương
Trang 8Ninh, cũng đã đề cập khái lược tới lao động người Việt ở Lào, một số nghềnghiệp chính: Culi làm đường, khai thác mỏ, công nhân trong các nhà máy, xínghiệp của Pháp.
Sự di cư của người Việt đến Lào và Campuchia đã được nghiên cứutrong các bài viết trên tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á số 2, năm 2007: Bài
viết “Cộng đồng người Việt tại Lào sinh tồn và giữ gìn bản sắc”; Bài “Cộng
đồng người Việt ở Campuchia” của Nguyễn Sỹ Tuấn, tác giả đã trình bày một
vài nét phác thảo về bức tranh cộng đồng người Việt ở Campuchia, từ sự di
cư, các ngành nghề của người Việt ở Campuchia và cuộc sống của cộng đồngngười Việt trên mảnh đất này
Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa họctrước, khóa luận làm rõ vấn đề lao động người Việt ở Lào và Campuchia thờiPháp thuộc
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của khóa luận nhằm nghiên cứu làm rõ quá trình
di cư và tìm hiểu nghề nghiệp, đời sống của người lao động Việt ở Lào vàCampuchia
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lao động người Việt ở Lào vàCampuchia thời Pháp thuộc (1897 - 1945)
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Khóa luận nghiên cứu về người Việt ở Lào và Campuchia Thời gian: Khóa luận lấy năm 1897, là năm thực dân Pháp bắt đầu tiếnhành công cuộc khai thác thuộc địa ở Đông Dương
Khi đẩy mạnh khai thác thuộc địa thực dân Pháp cần nhiều lao độnglàm việc ở Lào và Campuchia để khai thác tài nguyên ở đây vì Lào và
Trang 9Campuchia đèu là những nước ít dân Mốc kết thúc là năm 1945, sau khi quânphiệt Nhật đầu hàng Đồng minh, người Việt đã cùng nhân dân Lào vàCampuchia đứng lên giành chính quyền.
Về nội dung: Khóa luận nghiên cứu về lao động người Việt ở Lào vàCampuchia (1897 - 1945), quá trình di cư của người Việt đến Lào vàCampuchia, tìm hiểu về cuộc sống và các ngành nghề chính của người Việt ởLào và Campuchia
4 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài tác giả sử dụng một số phương pháp như: phươngpháp lịch sử, phương pháp lôgíc, phương pháp biện chứng Mặt khác, donguồn tài liệu rộng nhưng tản mạn nên trong quá trình thực hiện khóa luận tácgiả chú trọng kết hợp sử dụng phương pháp kết hợp, phương pháp thống kê,phương pháp phân tích
Trang 10-NỘI DUNG
Chương 1: QUÁ TRÌNH DI CƯ CỦA NGƯỜI VIỆT ĐẾN LÀO VÀ
CAMPUCHIA THỜI PHÁP THUỘC(1897-1945)
1.1 Những nhân tố tác động đến sự di cư của người Việt đến Lào và
Campuchia thời Pháp thuộc
1.1.1 Điều kiện tự nhiên, dân cư và văn hóa
* Lào
Lào là nước có diện tích núi rừng và cao nguyên chiếm tới 90% Giaothông đi lại rất khó khăn Để đi đến Lào bằng đường bộ hay đường thủy vàocuối thế kỉ XIX đều phải mất hàng tuần Nếu thực hiện di chuyển vào mùakhô tàu thuyền chỉ có thể lưu thông trên một phần nhỏ đoạn sông Mê Côngchảy qua Nam Vang, thì sẽ mất quá nhiều thời gian quý giá vốn phải đượcdành cho công cuộc tổ chức lại bộ máy chính quyền và nền tài chính ĐôngDương khi đó Nhưng đi tới Lào theo con đường bộ thì quả thật sẽ mất nhiềutuần đằng đẵng, cho dù theo tuyến đường nào
Người ta có thể đến miền nam Lào bằng cách men theo bờ sông và đivào thung lũng sông Mê Công, qua một vùng đất gần như hoang vắng, ít đượcbiết đến, bị cắt ngang bởi các dòng chảy theo những phương hướng khó đoán,
mà trên bản đồ vẽ lại bằng những đường chấm dứt Chuyến đi sẽ không đemlại lợi ích nào có thể bù đắp đủ cho thời gian phải mất cho nó
Có thể tới miền Trung Lào qua hai con đường dài và khó đi ngangnhau Tuyến đường đầu tiên xuất phát từ Huế và kết thúc tại Savannakhet, ởphía thượng nguồn của những ghềnh thác chảy xiết của Kemmarat nhập vàosông Mê Công trên một quãng dài cả trăm cây số; con đường này đi quaQuảng Trị, vắt qua dãy An Nam theo thung lũng Mai Lan, đèo Ai Lao, rồixuôi xuống về phía sông Mê Công theo triền dốc thoai thoải qua những cánhrừng thưa Tuyến đường thứ hai nằm lui hơn về phía bắc, xuất phát từ cảng
Trang 11Vinh qua Ha - Trai, qua một đoạn của dãy An Nam ở độ cao 1.200 mét rồidừng chân ở đoạn mở rộng của dòng sông ở gần Outhen [20;tr.452].
Lào và Việt Nam là hai nước láng giềng có chung 2.067km đường biêngiới với cơ cấu tộc người gần gũi nhau Có thể nói, Việt Nam - Lào có mốiquan hệ lâu đời từ xa xưa về địa lí, văn hóa, và dân cư Trong đó yếu tố địa líđóng vai trò quan trọng đã tác động đến mối quan hệ qua lại của nhân dân hainước, nhất là diễn ra ở dọc biên giới miền núi Tây bắc Việt Nam với các tỉnhcủa Lào từ Phôngsalỳ xuống đến Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, Khăm Muộn,thậm chí tiến sâu vào tận Luông Phabăng, kéo dài đến vùng núi Thanh Hóa vàNghệ An của Việt Nam Điều kiện địa lí thuận lợi này chính là yếu tố quantrọng dẫn đến sự hiện diện của cộng đồng người Việt trên đất Lào từ rất sớm,khoảng từ giữa thế kỉ XV kéo dài cho đến tận ngày nay
Sự hiện diện của cộng đồng người Việt ở vùng biên giới diễn ra mộtcách tự nhiên, đơn thuần là sự giao lưu qua lại giữa cư dân vùng biên giới,hoàn toàn chưa liên quan gì đến mối bang giao giữa hai vương triều phongkiến Việt Nam và Lào Lực đẩy từ phía Việt Nam hay lực hút từ phía Làokhông phải là vấn đề đặt ra đối với họ, bởi lẽ lúc này các vùng như Sầm Nưa,Xiêng Khoảng, Khăm Muộn với Lai Châu, Điện Biên, Thanh Hóa, Nghệ An,nhân dân hai dân tộc thường xuyên hay đi lại làm ăn buôn bán, thậm chí định
cư tạm thời hoặc ở hẳn đất Lào, đất Việt là chuyện thường nhật Họ tự coimình vừa là lưu dân vừa là dân bản địa, khác nhau chỉ là tính tộc người
Về mặt phân bố tộc người, Việt Nam và Lào đều là những quốc gia đadân tộc Việt Nam gồm 54 dân tộc chia thành 8 nhóm ngôn ngữ, Lào có 49dân tộc chia thành 4 nhóm ngôn ngữ Cả hai nước có những nét văn hóa,phong tục tương đối giống nhau Cư dân hai nước đều có những nét tươngđồng về văn hóa, đó là cư dân của nề sản xuất nông nghiệp lúa nước Chính
Trang 12những sự tương đồng và giao thoa giữa hai nước Việt Nam và Lào đã giúpnhững người Việt khi di cư đến Lào dễ dàng hòa nhập vào cuộc sống nơi đây.
* Campuchia
Vương quốc Campuchia là nước láng giềng của Việt Nam ở phía Tây Nam, có diện tích 181.035km Camuchia có biên giới chung với 3 nước:803km với Thái Lan, 492km với Lào và biên giới chung dài nhất với ViệtNam là 1237km Trong 20 tỉnh của Vương quốc Campuchia hiện nay có 9tỉnh giáp với Việt Nam Đó là các tỉnh: Kampot, Takeo, Kandal, Prây Veng,Svây Riêng, Kompong Chàm, Krachie, Mondolkỉi và Ratanakỉi Từ biên giớiViệt Nam - Campuchia đến thủ đô Phnom Pênh khoảng 60km, còn tính từthành phố Hồ Chí Minh đến Phnom Pênh dài 200km
-Campuchia có bờ biển dài 443km, có nhiều sông ngòi nên giao thôngđường thủy khá phát triển Cảng sông Phnom Pênh và cảng biển KompongSom là hai cửa khẩu nắm phần lớn hàng hóa xuất nhập khẩu của Campuchia.Giao thông giữaViệt Nam và Campuchia đều thuận lợi cả về đường biển,đường bộ và đường sông Sông Mê Công dài 4.800km chảy qua 6 nước, màCampuchia và Việt Nam là hai nước sau cùng Con sông lớn nhất Đông Nam
Á này không chỉ mang phù sa bồi đắp cho lưu vực rộng 155.000km2 ởCampuchia và 65.000km2 ở Việt Nam, mà còn là đường giao lưu lớn về kinh
tế và văn hóa giữa các vùng đất nó chảy qua từ thời xa xưa
Về dân cư, Campuchia là quốc gia thuần nhất về dân cư với hơn 90%dân số là người Khơmer và nói tiếng Khơmer, là ngôn ngữ chính thức Cácdân tộc thiểu số chiếm khoảng 3% dân số Dân tộc Chăm theo đạo Hồi lànhóm sắc tộc thiểu số lớn nhất Còn có nhóm người theo đạo Thiên Chúa, họ
là di tuệ của người Bồ Đào Nha Những người Khơme này chỉ có tên và họ
Bồ Đào Nha, còn về mặt thể chất họ đã đồng hóa với người Khơme Họ cư trúphần lớn ở Tây Bắc thủ đô Phnom Pênh Có nhóm sắc tộc thiểu số khác sống
Trang 13tại các khu vực miền núi và cao nguyên Ở đây còn có một số dân cư ngườiViệt và người Hoa.
Việt Nam - Lào - Campuchia gần gũi nhau về địa lý, có quan hệ lịch sửlâu đời, đều cùng là thuộc địa của Pháp trong suốt nửa sau thế kỉ XIX và nửađầu thế kỉ XX, gắn bó với nhau trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng vàkháng chiến chống thực dân Về văn hóa, Việt Nam và Campuchia đều làquốc gia nông nghiệp lâu đời, nguồn sống chính là trồng lúa, lối sống khôngkhác nhau nhiều Những điều kiện thuận lợi đó đã tạo điều kiện cho ngườiViệt đến sinh sống ở Campuchia
1.1.2 Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội
Ngay sau khi xâm chiếm và đặt ách thống trị ở các nước Đông Dương,
ngày 17/10/1887, Tống thống Pháp đã ra sắc lệnh thành lập “Liên bang Đông
Dương” Khi mới thành lập, Liên bang này gồm có Việt Nam và Campuchia.
Trong đó Việt Nam bị chia làm ba “kì”: Bắc kì, Trung Kì, Nam Kì Đến ngày
19/04/1899, nước Lào cũng bị thực dân Pháp sáp nhập vào “Liên bang Đông
Dương” [17;tr.32].
Để quản lí, thực dân Pháp chia Đông Dương thành 5 khu vực: Bắc Kì,Trung Kì, Nam Kì, Lào và Campuchia Mỗi khu vực có chế độ bảo hộ, cónhững khu vực thuộc chế độ thuộc địa
Tạo thuận lợi cho việc kiểm soát đi lại giữa các khu, thực dân Pháp đãcấp giấy thông hành đi lại cho người dân ba nước Việt Nam, Lào vàCampuchia Nhờ đó việc đi lại giữa ba nước trở nên dễ dàng hơn
* Lào
Việc thành lập “Liên bang Đông Dương” ngày 17/10/1887, đã tạo
điều kiện cho sự giao lưu văn hóa, liên kết kinh tế, thống nhất thị trường giữacác nước trong liên bang, mặt khác tạo điều kiện cho việc đi lại giữa các nướctrong liên bang trở nên dễ dàng hơn
Trang 14Dưới sự cai trị của chế độ thực dân Pháp, đời sống nhân dân Việt trởnên cự khổ, nghèo túng, không có công ăn việc làm buộc họ phải rời bỏ quêhương để đi kiếm sống.
Tình trạng mất mùa, đói kém xảy ra liên miên, cứ bảy năm lại xảy ramột nạn đói hoặc một nạn dịch lớn, làm chết nhiều người Tình hình ngập lụt
do vỡ đê cũng không tránh khỏi Những tai họa này xảy ra nhiều lần và liêntiếp đã làm bần cùng hóa người nông dân và khiến cho cuộc sống của họ trởnên khốn khó Từ năm 1900 trở đi đã xảy ra những vụ vỡ đê năm 1902, 1903,
1904, 1905, 1909, 1911, 1913, 1915, 1917, 1918, 1923, 1914, 1926 trong đó
lũ năm 1915 là đặc biệt nghiêm trọng Năm đó xảy ra 28 vụ vỡ đê và ước tínhlàm ngập lụt tới 365.000 ha, tức là một phần tư châu thổ sông Hồng[12;tr.58]
Không chỉ bị thiên tai, mất mùa mà thêm vào đó dịch bệnh cũng hoànhhành dữ dội ở nhiều tỉnh trong cả nước đặc biệt là bệnh dịch tả Thêm vào đó,hàng loạt các loại sưu cao thuế nặng được đặt ra khiến người dân càng lâmvào tình trạng đói khổ, buộc nhiều người phải chạy sang Lào tìm kế sinh nhai.Đến thời thực dân Pháp, người Bắc Kì phải đóng 50 xu còn người Trung Kì là
20 xu Sau đó với nghị định ngày 2 tháng 6 năm 1897 ở Bắc Kì và Đạo dụngày 14 tháng 8 năm 1898 ở Trung Kì đã tăng thuế đinh lên đến 2 đồng rưỡi
và 2 đồng ba tương đương với một tạ gạo thời giá lúc bấy giờ “ Ngay cả
người chết cũng không được miễn thuế, người sống phải đóng thay vì thực dân Pháp bổ khoán cho từng làng phải thu đủ mức thuế ấn định ” Có thể
thấy sự khổ cực của người dân trong việc nộp thuế như qua lời kể: “ Tôi
không có tiền nộp thuế thân mỗi người 1 đồng 2 nên phải đi làm phu đường làm cả đường 13 a và b đấy nhiều người Việt mình trước đây cũng bị bắt đi làm đường cho Pháp, nhiều lắm ”[12;tr.59].
Trang 15Như vậy, có thể thấy, đời sống cơ cực vì chế độ tô thuế, lao dịch, bệnhdịch nặng nề, hạn hán, lũ lụt thường xuyên dẫn đến mất mùa, đói kém bệnhtật liên miên đã xô đẩy hàng ngàn, hàng vạn gia đình nông dân không thểsống và bám trụ ở quê hương với mảnh đất khẩu phần ít ỏi và xương xẩu củachế độ công điển ở nửa cuối thế kỉ XIX Họ phải rời bỏ xứ sở đi lưu vongphiêu tán Trong một báo cáo viết ngày 1 tháng 9 năm 1893, De Lanesan có
viết: “ Những người bản xứ đã bỏ đồng ruộng, làng mạc ra đi Dân cư ngày
càng thưa thớt ” hay “ tôi sửng sốt về tình trạng bỏ hoang của cả một vùng Người ta chỉ nhìn thấy hai bên đường những làng mạc bị đốt phá, hoang tàn và ruộng đồng bị bỏ hoang, đầy cỏ dại ”[12;tr.59]
Có thể thấy, nạn phiêu tán đã trở thành hiện tượng phổ biến, thườngxuyên, nhất là ở Bắc Kì và Trung Kì trong ba thập niên cuối thế kỉ XIX.Nhiều người trong số họ đã di cư sang Lào sống tập trung ở miền Trung vàNam Lào
Ở Lào, nhân dân các bộ tộc Lào phải chịu đựng sự bóc lột nặng nề của
đế quốc Pháp, đó là thuế khóa và lao dịch Thực dân Pháp đã áp đặt nhiều thứthuế trực thu và gián thu lên đầu nhân dân các bộ tộc Lào ngay từ khi chúngmới đến thay chân bọn phong kiến Xiêm cai trị đất nước Lào Chúng đặt rahàng trăm thứ thuế vô lí, như thuế trâu bò, gia cầm, thuế gỗ, thuyền bè đi lạitrên sông, thuế súng săn, thuế các ngày hội, thuế nấu rượu Ở thành thị,những người buôn bán và làm nghề thủ công phải đóng thuế môn bài Đángchú ý là bọn thực dân Pháp đã đánh thuế thân vào đầu người dân Lào từ 18đến 60 và kết hợp với lao dịch Đó là sự kết hợp giữa hình thức bóc lột đếquốc và hình thức bóc lột phong kiến rất dã man
Chế độ lao dịch là chế độ đi làm “culi” cho thực dân Pháp Người dânLào phải đi làm không công ở các đồn điền, dinh thự, trại lính, đường xá,khuân vác Ngoài ra người dân Lào từ 18 đến 45 tuổi sống ở các bản mường
Trang 16đều phải đi làm không công cho bọn phong kiến, quan lại ở địa phương Thựcdân Pháp đã ban bố nghị định năm 1890 quy định ở vùng Hạ Lào:
Một người Lào phải đóng 2 đồng (đồng Đông Dương bằng bạc, sau này bằng giấy) thuế thân và làm 10 ngày lao dịch trong một năm
Một người Khạ (Lào Thơng) phải đóng 1,5 đồng thuế thân và làm 15ngày lao dịch trong một năm
Thực dân Pháp đã ban bố nghị định năm 1898 quy định ở vùng ThượngLào:
Một người Lào phải đóng 2 đồng thuế thân và làm 20 ngày lao dịchtrong một năm
Thực dân Pháp ra thông tư năm 1905 lại thống nhất cả hai vùng ThượngLào và Hạ Lào làm một và quy định:
Mỗi người Lào phải đóng 2 đồng thuế thân và làm 20 ngày lao dịchtrong một năm, chuộc 1 ngày lao dịch là 0,10 đồng
Sau này tiền thuế thân lên đến 7 đồng và số ngày lao dịch là 60 ngày đốivới một người trong một năm Tính ra mỗi người dân Lào phải đi làm khôngcông cho bọn thưc dân Pháp và phong kiến Lào khoảng 90 ngày trong mộtnăm
Nghị định năm 1901 quy định: mỗi gia đình Lào phải đóng 0,5 đồngthuế tiêu thụ rượu
Các khoản thuế khóa và lao dịch đè nặng trên lưng nhân dân các bộ tộcLào, nhiều người không đủ tiền nộp thuế phải bán mình làm “gia nô”, hoặcphải chịu làm tù phạm ở các nhà tù của thực dân Pháp, gây nên sự căm phẫnlớn trong nhân dân
Từ năm 1897 đến những năm đầu của thế kỉ XX, thực dân Pháp dướitoàn quyền Paul Doumer với nhiệm kì 1897 - 1902 đã tiến hành chính sách
Trang 17khai thác thuộc địa lần thứ nhất với tên gọi “Chương trình khai thác lần thứ
nhất”.
Sau khi đặt được ách cai trị ở Lào vào năm 1893, thực dân Pháp đãnhận thức được những khó khăn của nước Lào Đó chính là địa hình nhiều đồinúi, bị chia cắt, giao thông đi lại khó khăn, dân cư thưa thớt, lại sống rải rác ởcác vùng miền núi Vào năm 1921, mật độ dân cư trung bình của Lào là 4người/km2, một số thành phố lớn của Lào như Viêng Chăn mật độ trung bình
là 3 người/km2, Savannakhẹt là 4người/km2, cao nhất là tỉnh Bassac mật độ là
8 người/km2, trong khi đó ở Bắc Kì, mật độ trung là 59 người/km2, một sốtỉnh đông dân như Nam Định có mật độ trung bình là 551 người/km2, TháiBình là 543 người/km2 [17;tr.34]
Do vậy để tiến hành khai thác thuộc địa, thực dân Pháp khó có thể dựavào nguồn nhân lực và lao động ở Lào mà chỉ có thể dựa vào nguồn nhâncông người Việt Trong các bản báo cáo về tình hình Đông Dương Pháp
thuộc, chính quyền thực dân đều nhấn mạnh rằng: “ Vấn đề người Việt di cư
vào Lào là giải pháp hữu hiệu cần phải lập ra nếu như chính quyền muốn cho
sự phát triển kinh tế của xứ này”.
Để có thể thu hút nguồn nhân công người Việt tình nguyện sang Làolàm việc, đặc biệt ở các vùng Thượng Lào, nơi có khí hậu khắc nghiệt và trênmột hành trình đi dài ngày, đầy gian khổ, chính quyền thực dân phải đưa ranhững khoản ưu đãi về mức lương, phụ cấp cho họ
Trong kế hoạch khai thác thuộc địa Lào, thực dân Pháp đã thấy đượcvai trò quan trọng của giao thông vận tải, song chúng lại không dám đầu tưvốn vào các công trình giao thông vận tải, vì chúng biết rằng bỏ vốn vàongành này sẽ chậm thu được lãi Vì vậy giao thông ở Lào kém phát triển.Trong một thời gia dài, sông Mê Công dường như là con đường thông thươngquan trọng duy nhất để nối liền Lào với nước ngoài và cũng như miền Nam
Trang 18với miền Bắc Lào Tuy vậy cũng chỉ có khúc sông từ Viêng Chăn đếnSavannakhet là có thể sử dụng được tương đối tốt.
Trong thời gian này ở Lào, Pháp mới chỉ cải tạo, mở rộng một số conđường nhựa từ 1m đến 2m và những con đường xe bò từ 3m đến 6m Tất cảnhững việc làm này đều do lao dịch cưỡng bức của nhân dân các bộ tộc thựchiện Một số con đường ngang từ Việt Nam sang Lào cũng bắt đầu tiến hành
từ phía Việt Nam, được rải đá và chỉ chạy ô tô được một mùa
Mãi đến đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp mới bắt đầu mở một số tuyếnđường mới Năm 1904, bắt đầu làm con đường Savannakhet - Quảng Trị tứcquốc lộ 9 nhằm nối Lào với cảng Đà Nẵng, phục vụ cho việc đưa hàng hóaPháp vào bán ở Lào và chuyển nguyên liệu, sản phẩm của Lào về Pháp hoặcbán ra nước ngoài, đồng thời có thể điều động nhanh chóng lực lượng quân sựcủa chúng từ Việt Nam sang đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân Lào.Năm 1907, do gặp nhiều khó khăn, Pháp phải bỏ dở công việc và cho đếnnăm 1910, mới lại tiếp tục, năm 1926 thì hoàn thành Sau đó, một số đường
bộ khác cũng được xây dựng, nối liền Viêng Chăn - Hà Nội ( đường số 6);Luông Phabăng - Sài Gòn ( đường 13); Thà khẹt - Hạ Lào ( đường 12); LuôngPhabăng - Xiêng Khoảng ( đường số 7)
Trong giai đoạn đầu, việc xây dựng đường xá phục vụ quá trình khaithác thuộc địa gần như chiếm vị trí ưu tiên trong các chính sách của Pháp nênviệc đưa nhân công người Việt sang Lào làm công nhân đóng vai trò khá quantrọng Có thể thấy trong giai đoạn đó, hàng ngàn người Việt Nam làm phu đắpđường mở những con đường chiến lược sang Lào như đường nối liền ViêngChăn - Hà Nội; Sài Gòn - Krachiê - Pắc xế - Luông Phabăng; Thà Khẹc - HạLào; Luông Phabăng - Xiêng Khoảng - Phú Diễn và đặc biệt là con đường nổituyến đường 9 Nam Lào từ Đông Hà, Quảng Trị sang Savanakhet Hàng ngànngười Việt đến Lào là phu làm đường số 13 Các đồn điền trồng cao su, cà
Trang 19phê được lập nên ở Xiền Khoảng, ở Vientiane phần lớn công nhân là ngườiViệt Năm 1923 khi Pháp bắt đầu khai thác mỏ thiếc, mỏ chì ở Phong Tỉu, BòNèng (tỉnh Khăm Muộn) thì hàng ngàn công nhân mỏ là người Việt Nhà máy
ở Thakhet công nhân người Việt rất đông Hãng vận tải thủy bộ Manpết ởVientiane hầu hết công nhân là người Việt
Đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 số lượng người Việt ở Làokhá đông đảo Nếu như năm 1910, số lượng người Việt ở Lào chỉ là 4000người thì đến năm 1943, số lượng người Việt ở Lào đã tăng lên gấp hơn
10 lần so với năm 1910 lên đến 44.500 người [17;tr.55] Dân số nước Làohồi bấy giờ có chừng hai triệu người Người Việt có mặt tại khá nhiều tỉnhcủa Lào Ở miền Bắc Lào, người Việt sinh sống ở cố đô Luang Prabang, ởđồn điền Xiêng Khoảng và Sầm Nưa Ở miền Trung và Hạ Lào người Việt cưtrú tập trung ở các tỉnh Khăm Muộn, Savannakhét và Champasac, số ít hơn ởBolikhamxay, Saravan và Attopơ Thủ đô Vientiane là nơi có nhiều ngườiViệt nhất ở Lào
Như vậy, cho đến giữa thế kỉ XX người Việt đến Lào làm ăn sinh sốngngoài những người là nông dân nghèo đói tha phương cầu thực, cónhiều người là công nhân các nhà máy, phu làm đường, phu đồn điền, ngườilàm công, đi lính, người buôn bán và thợ thủ công
* Campuchia
Sau khi hoàn thành công cuộc bình định về quân sự, thực dân Pháptiến hành thiết lập nền thống trị của chúng ở Campuchia Trước hết, thực dânPháp tiến hành những cải tổ về mặt hành chính Hệ thống chính quyền bản
xứ vẫn được giữ lại, nhưng đã được sửa đổi theo yêu cầu của thực dân Pháp.Một bộ máy chính quyền mới do viên khâm sứ Pháp trực tiếp điều khiển đãđược thiết lập từ cấp tỉnh đến cấp trung ương bên cạnh bộ máy chính quyền
Trang 20cũ mà trong thực tế chỉ là hình thức Dưới thời thuộc Pháp, lãnh thổCampuchia được chia
Trang 21thành nhiều tỉnh Số tỉnh thay đổi theo từng thời kì Năm 1924, toàn
vương
quốc chia thành 13 tỉnh và một thành phố
Song song với việc cải tổ về hành chính, thực dân Pháp đã thi hànhchính sách khai thác kinh tế ở Campuchia Thực dân Pháp hết sức chú trọngvấn đề ruộng đất ở Campuchia Ngay trong hiệp ước 1884, Pháp đã nêu rõ:những đất đai của vương quốc cho tới nay vẫn thuộc quyền sở hữu củanhà vua sẽ có thể đem mua bán và chuyển nhượng Việc này sẽ do các nhàcầm quyền người Pháp và người bản xứ tiến hành Hoặc trong thỏa hiệp kígiữa vua Norodom và thống đốc Pháp ở Nam Kì ngày 28 - 10 1884 cũng đãghi rõ toàn bộ đất đai của vương quốc Campuchia trước đây thuộc quyền sởhữu của nhà vua, kể từ nay sẽ thuộc quyền sở hữu của nhà nước (tức chínhquyền bảo hộ Pháp)
Bước vào công cuộc khai thác thuộc địa ở Đông Dương, thực dân Phápcòn tăng thuế ruộng ở Việt Nam lên gấp rưỡi so với năm 1913 Ở Campuchia,chính quyền Pháp thay thuế 10% thu hoạch của nhà vua trên mảnh đấtchiếm hữu của nông dân thành thuế sở hữu đất đai canh tác Thực dân Phápchia ruộng đất thành ba loại để đánh thuế Loại đất màu mỡ ven sông thuậnlợi cho canh tác, qui định mỗi phiam (khoảng 2m2) từ 1 xu đến 5 đồng theomức độ màu mỡ của đất; loại ruộng trồng lúa thì mức thuế vẫn theo vẫntheo tỉ lệ thu nhập trước đây; ngoài hai loại trên mỗi phiam đất còn lại, thuế
từ 2 xu đên 5 hào, Từ năm 1894 đến 1904, thuế ruộng đất ở Campuchia tăngnăm lần Hình thức bóc lột chủ yếu của thực dân Anh ở Miến Điện là thuếhiện vật đánh vào ruộng đất Thuế này chiếm đến hơn một nửa giá trị tổng sốcác loại thuế
Ngoài ra ở Campuchia theo nghị định kí ngày 5/11/1907, tất cảdân đinh Khmer từ 21 tuổi dến 59 tuổi dều phải đóng thuế thân Bên cạnh đó
Trang 22họ còn phải chịu nhiều loại thuế gián tiếp khác để bổ sung ngân sách chochính quyền thuộc địa
Trang 23Ngay sau đó, thực dân Pháp bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa
ở Campuchia Trên mảnh đất này, thực dân Pháp đã chú ý khai thác nguồn
hồ tiêu Đây là loại cây có giá trị kinh tế cao được trồng nhiều ở Campuchia.Chúng đánh thuế hồ tiêu theo cây và thu theo sản phẩm Nhờ đó, năm1895
Pháp xuất khẩu từ Campuchia đến khoảng 1 triệu rưỡi kg hồ tiêu[25.tr.441]
Đã có nhiều công ty tư nhân của Pháp đầu tư cho việc trồng cây côngnghiệp như: Cao su Đông Dương, Cao su Kompon Thom, Cao su Tây Ninh,Cao su Đông Dương Trong trồng trọt chủ yếu dồn vào việc trồng cây cao sutrên diện rộng Campuchia có diện tích đất đỏ bazan rộng lớn, khí hậu donằm giữa đường xích đạo và đường chí tuyến nên khí hậu nóng và ẩm rấtphù hợp với việc trồng cây cao su Sự phát triển của cây cao su chắc chắn
là thành công đẹp nhất của những người trồng trọt Pháp ở Đông Dương Từnăm 1926
- 1929 diện tích đồn điền cao su ở Campuchia là 16.900 ha Đến năm 1932diện tích trồng cao su là 27.265 ha với 81 đồn điền [4;tr.149] Năm 1926, cácvùng đất nhượng cho khai khẩn diện tích khác nhau Từ năm 1937, nhờ sựtài trợ cho sản xuất, những đồn điền lớn hơn 200 ha đảm bảo hầu nhưtoàn bộ sản xuất Đông Dương về mủ cao su
Rất nhiều đồn điền cao su đã được thành lập, chính điều này đã thuhút rất nhiều nhân công lao động đặc biệt là lao động Việt Nam VìCampuchia là nơi đất rộng người thưa, không có đủ lao động để đáp ứng yêucầu khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Do vậy thực dân Pháp đã tuyểnrất nhiều người lao động từ Việt sang Mà trong lúc này, ở quê nhà cuộc sốnglao động nguời Việt hết sức khổ cực, loạn lạc do chiến tranh, dịch bệnh họtìm đường đến các nước láng giềng để mưu sinh
Trang 24Song song với việc đẩy mạnh khai thác thuộc địa, chính quyền thựcdân Pháp đẩy mạnh xây dựng đường xá ở Đông Dương Tuy nhiên đến năm
1912 chưa có những đường giao thông thuộc lợi ích chung nối liền cácnước của
Trang 25Liên bang Chính lúc này, dưới sự đôn đốc của Toàn quyền Albert Sarraut,quy hoạch về mạng lưới đường bộ rộng lớn theo một chương trìnhchung được quyết định Nghị định ngày 18/06/1918 quy định việc sắpxếp các đường thuộc địa.
Những đường thuộc địa, về tầm quan trọng tương ứng vớinhững đường quốc lộ của nước Pháp Nó tạo thành những mạch giao thônglớn của mạng lưới đường xá thuộc địa Mạng lưới đường thuộc địa được xâydựng từ trước đại chiến và được phát triển chủ yếu trong thời gian từ 1920đến 1930, khi ô tô được thông dụng Hệ thống đường bộ Đông Dươngtính gần
33.600km vào năm 1934, trong đó gần 15.300 km được rải đá và 18.500km
đắp đất Ở Campuhia chiều dài đường thuộc địa là 2.592 km
Trang 26Dung cướp ngôi nhà Lê, các quần thần nhà Lê đã chạy sang Lào xin cư trú ởSầm Châu( tỉnh Sầm Nưa ngày nay).
Trang 27Người Việt tìm đường sang đất Lào sinh sống là những người nghèokhó, mưu sinh Họ rời bỏ quê hương vì chiến tranh loạn lạc vì dịch bệnh, đóinghèo Cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn hồi thế kỉ XVII với 7 trận đánh nhauvào các năm 1627, 1630, 1635, 1648, 1655, 1661, và 1672 Sau nhiều thập kỉgiao tranh bất phân thắng bại, sông Gianh trở thành ranh giới của hai miền.Dân tình chết chóc, ly tán, sưu cao thuế nặng, quê hương bị tàn phá nhiềungười dân đã sang Lào để sinh sống.
Năm 1681, xảy ra nạn đói lớn ở Thanh Hóa, Nghệ An và lan ra các tỉnhlân cận Dân chúng tán loạn, nhiều làng bỏ đi gần hết, đồng ruộng xác xơ,tiêu điều Nhiều người tìm đường sang Lào mưu sinh, không ít người đã chếtđói dọc đường, bỏ xác giữa Trường Sơn Năm 1820, ở Việt Nam phát bệnhdịch tả, hoành hành đến năm 1827 Số người chết rất nhiều Ở Hưng Yên vỡ
đê 18 năm liền, đồng ruộng bỏ hoang, nhân dân thất nghiệp, đói khổ Dịchbệnh, nghèo đói, giặc giã loạn lạc làm cho dòng người phải tha hương cầuthực càng đông Và con đường sang phía tây Trường Sơn đến nước Lào lánggiềng mưu sinh là nơi lựa chọn Bởi đến phía Đông là Biển, nên đến phíatây, nơi đất rộng người thưa, những người cơ cực hi vọng kiếm sống quangày
Nếu người Việt do đói nghèo tìm đường qua Lào làm ăn là sự lựa chọnmưu sinh, thì số người Việt ra đi để tránh khủng bố, giết chóc, tùđày sang đất Lào có núi cao, rừng dày là sự lựa chọn tìm nơi ẩn náu và chờđợi thời cơ Đó là số khá đông người Việt, nhất là ở vùng Thanh Hóa, Nghệ
An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên chạy sang Lào hồi cuối thế kỉXIX đầu thế kỉ XX
Trong một thời kì dài từ năm 1858 đến năm 1896, thực dân Pháp tiếnhành xâm lược và bình định Đông Dương Sau khi ổn định xong Đông Dươngđặc biệt ở các vùng trung du Bắc Bộ và Trung Bộ, từ năm 1897 đến những
Trang 28năm đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp dưới thời toàn quyền Paul Doumer vớinhiệm kì 1897- 1902 đã tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất.
Trong thời kì này, số lượng người Việt di cư sang Lào đã tăng lênnhanh chóng cả chính thức và phi chính thức do Pháp điều động đưa ngườisang hoặc do di dân tự phát Nhiều dòng người di cư Việt Nam đổ sang Lào,tập trung ở các tỉnh Trung và Nam Lào Theo các con đường khác nhau màngười Việt đã di cư sang Lào theo nhiều giai đoạn trong thời kì Pháp thuộc.Các giai đoạn đó có thể chia ra từ khi bắt đầu khai thác thuộc địa cho đến khiđẩy mạnh khai thác trên toàn cõi Đông Dương của thực dân Pháp Đểtiến hành khai thác thuộc địa, thực dân Pháp khó có thể đưa nguồn nhân lực
và lao động ở Lào bởi ở đây là nơi đất rộng người thưa, thiếu nguồn nhâncông và lao động không giống như Việt Nam Thời Liên bang Đông Dương,thực dân Pháp không chỉ đưa người Việt đi khai thác thuộc địa ở hải ngoạihay Châu Phi mà ngay cả những thuộc địa gần cũng cần nhân lực người Việttrong quá trình khai phá và xây dựng của Pháp thời kì này Có thể thấy, giaiđoạn này nhân công người Việt đưa sang Lào với số lượng đông đảo, laođộng trong hầu hết các lĩnh vực đặc biệt trong xây dựng cơ sở hạ tầng,đường xá
Trong một thời kì dài từ năm 1858 đến năm 1896, thực dân Pháp tiếnhành xâm lược và bình định Đông Dương Sau khi ổn định xong ĐôngDương, thực dân Pháp tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lầnthứ nhất Trong thời kì này số lượng người Việt di cư sang Lào đã tăng lênnhanh chóng cả chính thức và phi chính thức do Pháp điều động đưangười sang hoặc do di dân tự phát, Nhiều dòng người di cư đổ sang Lào, tậptrung tại các tỉnh Trung và Nam Lào Để tiến hành khai thác thuộc địa, thựcdân Pháp khó có thể dựa vào nguồn nhân lực và lao động ở Lào bởi ở đây
từ xưa đến nay vẫn là nơi đất rộng người thưa, thiếu nguồn nhân công và lao
Trang 29động không giống như Việt Nam Thời liên bang Đông Dương, thực dânPháp không chỉ
Trang 30đưa người Việt đi khai thác thuộc địa ở hải ngoại hay châu Phi mà ngay cảnhững thuộc địa gần cũng cần nhân lực người Việt Nam trong quá trình khaiphá và xây dựng của Pháp thời kì này.
Có thể thấy giai đoạn này, nhân công người Việt được Pháp đưa sangLào với số lượng đông đảo, lao động trong hầu hết các lĩnh vực đặc biệttrong xây dựng cơ sở hạ tầng, đường xá và không chỉ có lao động mà Phápcòn đưa sang cả những người quản lí lao động người Việt Hàng ngàn ngườiViệt Nam làm phu đắp đường mở những con đường chiến lược sang Lào nhưđường nối liền Viêng Chăn - Hà Nội; Sài Gòn - Krachiê - Pắc xế - LuôngPhabăng; Thà Khệt - Hạ Lào; đặc biệt là con đường nổi tiếng đường 9 NamLào từ Đông Hà, Quảng Trị sang Savannakhet Hệ thống đường xá thuộc địanói chung của Đông Dương chưa phát triển thì hệ thống đó tại xứ Lào lại lànơi kém phát triển nhất trong toàn bộ các xứ và các kỳ thuộc Pháp Chính vìvậy, Pháp đã phải tăng cường nhiều nhân công đặc biệt là đưa nhân côngngười Việt sang Lào làm phu đường nhằm mở mang đường xá phục vụcho công cuộc khai thác thuộc địa tại xứ Lào Để khai thác thuộc địa, thựcdân Pháp đã tận dụng mọi nguồn lực sẵn có Nhưng dường như nguồn laođộng từ người Việt di dân là không đủ nên việc bóc lột sức lao động của tùnhân cũng được coi trọng Những cụ già còn sống vẫn lưu giữ nhiều kí ức về
ngày xa xưa đấy “Hồi đó, người Việt mình không làm buôn bán nhiều mà chủ
yếu là làm nghề và làm thuê cho Pháp Người Việt cũng làm công nhân đồn điền, làm culi cho các đồn điền của Pháp như đồn điền cây số 6 trồng chè rồi đào, lê nữa Hồi ấy, Pháp cũng đưa nhiều tù binh người Việt bị xích đi qua phố dắt về các đồn
điền làm việc rồi làm đường nữa [12;tr.65].
Trang 31Đi liền với việc sử dụng lao động tù nhân và để củng cố cho bộ máy caitrị, Pháp bắt nhiều lính người Việt sang Lào để phục vụ và bảo vệ quyền lợicho chính quyền thực dân Ngoài ra đi giám sát đội quân culi là những đội
Trang 32quân binh lính khố xanh khố đỏ để quản lí và kiểm soát đóng tại các đồn bốtcủa Pháp ở Lào Thời gian ấy cũng là thời gian Pháp tăng cường bắt lính trêntoàn cõi Đông Dương Nhiều binh lính, viên chức người Việt khi sang Làolàm việc đã chọn sống định cư ở xứ Lào và cùng đi với họ là vợ con và ngườithân của họ Tính đến năm 1910 người Việt mới chỉ có tất cả 4000.
Tuy nhiên, Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ làm gián đoạn đoạncông cuộc khai thác thuộc địa đầu tiên của Pháp ở Đông Dương Giai đoạnđầu của quá trình thực dân hóa của Pháp ở các nước thuộc địa nói chung và
ở Lào nói riêng bị đình đốn Mặc dù vậy, thời gian ngưng trệ và trì hoãnkhông kéo dài, quá trình này được khởi động lại và tăng cường mạnh mẽ hơnngay sau khi chiến tranh kết thúc
1.2.1.2 Giai đoạn 1919 - 1945
Lào là một xứ giàu tài nguyên thiên nhiên, có các cánh rừng nhiệt đớivới các loại gỗ quý như trắc, tếch, lim có thể phục vụ cho các ngành xâydựng dân dụng, đóng tàu và làm tà vẹt đường sắt; rừng thông cận ôn đớicung cấp các loại cánh kiến tốt nhất cho thị trường thế giới, đặc biệt vùngTrung Lào nổi tiếng với mỏ thiếc Phông Tịu, Bò Nèng thuộc tỉnh Khăm Muộn.Tuy nhiên có một thực tế là do địa hình đồi núi chia cắt, giao thông đi lại
bị cản trở nặng nề, đặc biệt do thiếu trầm trọng nguồn nhân lực, nên khithực dân Pháp đặt được ách thống trị ở Lào và bắt tay vào công cuộc khaithác thuộc địa lần thứ nhất ở ba xứ Đông Dương thì thực dân Pháp chỉ coi
lào là “thuộc địa dự trữ”, chưa phải để khai thác ngay Việc đẩy mạnh khai
thác xứ Lào chỉ được bắt đầu sau khi Chiến tranh thế giới thế giới thứ nhấtkết thúc, gắn với thời của Toàn quyền Albert Sarraut nhiệm kì 2 (1917 - 1919)[17;tr.47]
Sau khi Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, với việc đẩy mạnh côngcuộc khai thác thuộc địa ở Lào, thực dân Pháp đã tăng cường việc tuyển
Trang 33mộ lao động người Việt sang xứ sở này Cũng từ năm 1919 trở đi, trong quátrình
Trang 34khai thác thuộc địa trên toàn cõi Đông Dương, thực dân Pháp tiến hành khaithác các mỏ khoáng sản quý có trữ lượng cao ở Lào như vàng, thiếc, chì Trong quá trình khai thác thuộc địa người Pháp cho xây dựng một số khaikhoáng với trang thiết bị hết sức thô sơ Tuy nhiên các cơ sở đó cũng đã thuhút được một số lượng đáng kể người Việt sang Lào làm việc Những ngườicông nhân đó đều do các ông chủ người pháp tuyển mộ từ Việt Nam sang.Người Pháp đánh giá tay nghề và sự cần cù của công nhân người Việt caohơn công nhân người Lào Năm 1912 số lượng người Việt ở Lào là4.000người Năm 1921, số lượng người Việt là 9.500 người Năm 1931 là19.000 người,
1936 là 27.000 người, đến năm 1943, số lượng người Việt ở Lào đã tăng lêngấp 10 lần so với năm 1912 lên đén 44.500 [16;tr.3] Đánh dấu sự gia tăng lànsóng nhập cư của người Việt vào Lào
Những người này sống cộng cư thành làng xóm riêng của người Việtngay trong lòng các huyện lỵ, thị xã, thành phố như làng An Nam ở cây số 6,làng Săngphin ở giữa thủ đô Viên Chăn đồng thời duy trì một cách có ý thứcvăn hóa Việt trong nội bộ cộng đồng Trong số những đô thị phát triển vàsầm uất thời đó của Lào, người Việt chọn định cư ở Viêng Chăn là đông hơn
cả Người Việt ở Viêng Chăn có đủ thành phần, đại đa số là dân lao động, thợthuyền Ngoài ra, để phục vụ quá trình đẩy mạnh khai thác thuộc địa ở Lào,thực dân Pháp đã đưa nhiều người Việt sang làm công chức trong bộ máychính quyền thuộc địa ở Lào Trong cơ chế chính quyền thuộc địa thì caonhất là người Pháp còn dưới đó hầu hết là các công chức người Việt
Đến năm 1937, người Việt vẫn chiếm đến hơn 47% số các vị trí côngchức cao cấp người bản xứ trong bộ máy hành chính thuộc địa tại Lào trừLuông Phabăng Các trung tâm đô thị ở Lào không nhiều và tương đối nhỏ,
Trang 35trừ ở Luông Phabăng ra còn lại tại các đô thị khác thì người Việt chiếm đa số.Những năm cuối năm 1930, số dân người Việt ở các đô thị của Lào đã tăng
Trang 36lên gấp đôi do những bất ổn về chính trị và xã hội ở Việt Nam thêm vào đó lạikhông có hạn chế đối với quá trình di cư sang Lào bởi cùng thuộc Liên bangĐông Dương.
Chính vì để thực hiện quá trình đẩy mạnh khai thác thuộc địa ở Lào,một bộ phận người Việt được chính quyền thực dân đưa tới Lào để làm côngchức trong bộ máy chính quyền thuộc địa chẳng hạn như trong cácngành thuế, bưu điện và nhiều ngành nghề khác nữa
Như vậy, có thể nói bộ phận công chức người Việt đã chiếm một vị tríquan trọng trong hầu hết nếu không nói là mọi lĩnh vực hoạt động của Chínhquyền thuộc địa ở Lào Các công chức này chủ yếu được điều động và thuyênchuyển công tác từ những chức vụ và công việc đang làm ở Việt Nam sangLào để bổ sung và xây dựng bộ máy cai trị của Pháp ở Lào do người bản xứ ởđây, theo người Pháp đánh giá khó có thể đáp ứng và quen với công việcnhư người Việt Chính vì vậy mà trong giai đoạn khai thác thuộc địa ở Lào,Pháp đã đưa nhiều công chức người Việt sang đây Cùng với họ là gia đình vợcon cùng di cư sang Lào sinh sống cho đến nhiều đời sau nay
Sau giai đoạn Pháp đưa nhiều người Việt sang để phục vụ cho quátrình khai thác thuộc địa ở Lào, nhiều làn sóng di cư khác cũng di dân tự phátđến Lào tạo thành những cộng đồng đông đảo đặc biệt khi Việt Nam xảy ranạn đói năm 1945 Đó là thời điểm vô cùng khó khăn đối với nhiều ngườiViệt Nam đặc biệt người dân Bắc và Trung Kì Một số lượng lớn người Việtphải tha phương cầu thực, bỏ làng quê đi mưu sinh và tìm kế sinh nhai Họ
đã tạo nên nhiều đợt di cư, chủ yếu là di dân tự phát sang các nước lâncận trong hoặc ngoài Đông Dương
Nạn đói năm 1945 do Nhật, Pháp gây ra ở miền Bắc và đặc biệt ở miềnTrung Việt Nam đã đẩy nhiều người Việt từ các tỉnh Trung Bộ ở Nghệ Tĩnh,Quảng Bình, Quảng Trị theo đường số 8 sang tỉnh Thà Khẹt và theo đường
Trang 37số 9 sang tỉnh Savannakhet Người Việt gồng gánh, dắt dìu nhau nhau chạyqua Lào, dọc đường chết đói và chết vì bệnh tật cũng khá nhiều, còn nhữngngười sống sót được thường tập trung định cư ở các thị trấn và khu vực dọcsông Mê Công cũng như ở cùng với người Lào tại các làng bản thị trấn dọc
Băng hiện nay “Chúng tôi toàn là nông dân nghèo hồi năm 45 đói kém
quá, cả làng lê lết từ miền Bắc, đi từ Hưng Hà, Thái Bình đón xe đến Diễn Châu rồi qua Lào” [12;tr.70].
Có thể nói, trải qua các giai đoạn di dân đến thời kì này, các cộng đồngViệt kiều ở Lào đã dần hình thành và ổn định Cho đến ngày nay nhiều ngườikhông còn định cư ở chỗ đầu tiên họ di cư sang mà đã chuyển cư hoặc di
cư đi nơi khác trong phạm vi nước Lào hoặc sang nước thứ ba và cũng cónhiều bộ phận người có thể tạm gọi là người Việt mới di cư sang Lào ởnhững thời kì gần hơn bắt đầu từ thời Lào và Việt Nam cùng chống Pháp và
Mỹ cho đến ngày giải phóng và xây dựng đất nước với thời kì đổi mới hiệnnay
1.2.2 Quá trình di cư của người Việt đến Campuchia
1.2.2.1 Giai đoạn từ 1897 - 1918
Đầu thế kỉ XVI đã có một số người Việt ngược sông Mê Công bằngghe xuồng lên Campuchia làm nghề đánh cá, trồng trọt Từ giữa thế kỉ XVII,
Trang 38đất nước Campuchia ngày càng suy yếu Các thế lực cầm quyền ở Campuchialúc thì dựa vào phong kiến Thái, lúc lại cầu cứu Chúa Nguyễn để bảo vệ
Trang 39quyền lợi Chúa Nguyễn đã nhiều lần hỗ trợ cho Campuchia, đồng thời ngăncản bớt tham vọng của Thái đối với Campuchia và khu vực Trong thế kỉXVII và sau đó người Việt đến Campuchia ngày càng nhiều, một số nơi lậpthành làng riêng Các làng Việt ở Campuchia hồi thế kỉ XVII - XIX do các hươngchức người Việt cai quản Mỗi làng có một Méphum, xã có Mékhum và cóbốn Chùm tụp giúp việc Cho đến khi Pháp đô hộ cai trị Campuchia, ở nhữngnơi có đông người Việt cư trú, chính quyền Pháp cũng cử người cai quản làngười Việt.
Vào thời vua Tự Đức, do chính sách cấm và bắt đạo nên một số ngườiViệt đã lánh nạn sang đất Campuchia Ở Phnom Pênh, gần khu vực Cầu Lầu
có xóm Hoa Lang gồm những gia đình người Việt đến sinh sống vào khoảng
1855 - 1856 Đầu năm 1862, Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ Ngày11/08/1863 đô đốc Pháp là De La Grandiere đã buộc vua Norodom củaCampchia kí hiệp ước nhận sự bảo hộ của Pháp Theo hiệp ước đó,người Pháp được tự do đi lại, truyền đạo, buôn bán và cư trú trên đất nướcCampuchia Pháp đã cắt nhường cho Thái Lan hai tỉnh Battambang và SiemRiệp của Campuchia để nước này cùng công nhận sự bảo hộ Campuchia củaPháp
Đêm 17 tháng 6 năm 1884, Pháp đánh chiếm Lào, đặt ba nước ViệtNam, Lào và Campuchia dưới quyền cai trị của Toàn quyền Đông Dương.Thực dân Pháp từ đó đặt ba nước trong một thực thể gọi là Đông Dươngthuộc Pháp gồm 5 xứ: Bắc Kì, Nam Kì, Trung Kì, Ai Lao và Cao Miên, với mộtguồng máy cai trị chung, có một đồng tiền chung Trong thời kì nàychính quyền thực dân điều động khá nhiều công chức người Việt thuộc nhiềulĩnh vực sang làm việc ở Campuchia Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, người Việtđến sinh sống ở Campuchia tăng nhiều về số lượng, đa dạng hơn vềthành phần và mở rộng các địa bàn cư trú
Trang 40Trong thời gian chiến tranh thế giới thứ nhất 1914 - 1918, thựcdân Pháp vơ vét tiền của và thanh niên Campuchia đưa về Pháp phục vụtham vọng chiến tranh đế quốc của chúng Dân số Campuchia hồi nàychỉ còn
1.800.000 người, đã phải đóng công trái 30 triệu đồng Chính vì vậy, sau khichiến tranh thế giới kết thúc, để thực hiện tốt việc khai thác thuộc địa ởCampuchia thực dân Pháp đã tuyển mộ rất nhiều lao động người Việt sangđất nước này Nhiều cuộc bạo động chống Pháp đã nổ ra trên đất Campuchia
Đến lúc người Pháp chiếm Đông Dương, công cuộc mở mang lãnh thổCampuchia rất cần người Việt điều khiển tất cả mọi ngành hoạt động, nênchính phủ bảo hộ rước một số đông công chức ở Việt Nam bổ sung vào các
cơ quan hành chính và quân sự Đồng thời, đồng bào ta rủ nhau sang đất bạntìm sinh kế và định cư, lập nghiệp từ thủ đô đến các tỉnh lỵ, các làng mạc xaxôi Cũng do nội chiến, chiến tranh của các triều đình phong kiến Campuchia,Việt Nam và chính sách khai thác thuộc địa của Pháp, một bộ phậnngười Việt đã bị bắt sang Campuchia trồng cao su, một số sang làm
ăn buôn bán…đã sớm hình thành cộng đồng người Việt Nam tại Campuchia
Nhiều người Việt vì hoàn cảnh khó khăn tại quê hương bản quán, vìchiến tranh, vì nạn đói, nhất là các tỉnh giáp với Campuchia đã tìm cách sangCampuchia làm ăn sinh sống Và, trong dòng người sớm sang Campuchia còn
có một số tín đồ đạo Thiên Chúa lánh nạn tôn giáo dưới triều vua Tự Đức Sốdân di cư này chủ yếu làm các nghề tự do, sản xuất nông nghiệp, buônbán nhỏ hoặc đánh bắt cá dọc sông Mê Công hay Tôn Lê Sáp
Ngoài số cư dân lên làm ăn sinh sống theo con đường tự do nóitrên còn có một bộ phận người Việt Nam được Pháp tuyển mộ lênCampuchia Những người này được chia làm hai loại Những người có họcvấn cao hay có chuyên môn được tuyển chọn sang phục vụ trong bộ máy