1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tính thời vụ trong hoạt động du lịch ở đảo cù lao chàm, thành phố hội an và đề xuất giải pháp hạn chế

86 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử nghiên cứu đề tài Tính thời vụ trong du lịch là một trong những hạn chế lớn làm ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh cũng như các vấn đề về môi trường,… tại nơi diễn ra hoạt đ

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

BỘ MÔN: ĐỊA LÍ KINH TẾ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của tôi, ngoài những phần được tham khảo từ các nguồn tài liệu tham khảo thì những phần còn lại là do chính tôi tự nghiên cứu, không sao chép của bất kì một công trình nào khác

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2015

Kí tên

(Người thực hiện)

Nguyễn Thị Tươi

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin gửi lời cảm

ơn sâu sắc đến quý thầy cô giáo trong khoa Địa lí đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu Đặc biệt là thầy giáo – Thạc sĩ Nguyễn Thanh Tưởng là thầy giáo trực tiếp hướng dẫn tôi nghiên cứu Khóa luận tốt nghiệp này

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2015

Kí tên

(Người thực hiện)

Nguyễn Thị Tươi

Trang 4

Số lượng doanh nghiệp và các phương tiện giao thông

khai thác tuyến du lịch Hội An – Cù Lao Chàm năm

2.7 Doanh thu từ hoạt động kinh doanh du lịch của các

2.8 Công suất sử dụng phòng các tháng trong năm 2014 tại

Trang 5

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Số hiệu

biểu đồ

2.1 Biểu đồ thể hiện các loại hình du lịch được ưa

2.2 Biểu đồ thể hiện tình hình khách đến du lịch tại Cù

Lao Chàm và Hội An giai đoạn 2010 – 2014 46

2.3 Biểu đồ thể hiện tình hình khách quốc tế đến du lịch

tại Cù Lao Chàm và Hội An và giai đoạn 2010 - 2014 48

2.5 Biểu đồ thể hiện sự biến đổi số lượng du khách đến

Cù Lao chàm qua các tháng trong năm 2014 49

2.6 Biểu đồ thể hiện chi tiêu của khách đến Cù Lao

2.7 Biểu đồ thể hiện cơ cấu lao động của xã đảo Tân

Trang 6

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 2

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Quan điểm nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 4

2.1 Khái quát về hoạt động du lịch ở Cù Lao Chàm 26

2.1.1 Giới thiệu chung về Cù Lao Chàm 26

2.1.2 Tiềm năng du lịch ở đảo Cù Lao Chàm 27

2.1.3 Các loại hình du lịch chủ yếu 37

2.1.4 Cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch 41

2.1.5 Chính sách phát triển du lịch của địa phương 44

Trang 7

2.2 Tính thời vụ trong hoạt động du lịch ở đảo Cù Lao Chàm 45 2.2.1 Biểu hiện tính thời vụ trong hoạt động du lịch ở đảo Cù Lao Chàm 45 2.2.2 Ảnh hưởng của tính thời vụ đối với hoạt động du lịch ở đảo Cù Lao

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TÍNH THỜI VỤ ĐẾN HOẠT ĐỘNG

DU LỊCH Ở ĐẢO CÙ LAO CHÀM, THÀNH PHỐ HỘI AN

3.1 Cơ sở đưa ra giải pháp 62 3.1.1 Những lợi thế trong hoạt động du lịch ở đảo Cù Lao Chàm 62 3.1.2 Những hạn chế trong hoạt động du lịch ở đảo Cù Lao Chàm 63 3.1.3 Mục tiêu phát triển du lịch ở đảo Cù Lao Chàm 64 3.1.4 Định hướng phát triển du lịch ở đảo Cù Lao Chàm 64 3.2 Một số giải pháp hạn chế tính thời vụ đến hoạt động du lịch ở đảo Cù Lao

3.2.1 Phát triển sản phẩm du lịch 67 3.2.2 Phát triển hệ thống hạ tầng và cơ sở vât chất kĩ thuật phục

3.2.3 Phát triển thị trường, xúc tiến quảng bá và thương hiệu du lịch 68 3.2.4 Đào tạo phát triển nguồn nhân lực, nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ vào lĩnh vực du lịch 70 3.2.5 Tăng cường quản lí của nhà nước về du lịch 71

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Từ xa xưa, trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được coi như một nhu cầu thiết yếu của con người Ngày nay, hoạt động du lịch đang được phát triển mạnh

mẽ và trở thành một ngành kinh tế quan trọng trên thế giới Với các ưu điểm nổi

bật của mình, ngành du lịch được xem là “ngành công nghiệp không khói” mang lại lợi nhuận cao mà bất kì một quốc gia nào trên thế giới cũng đều mong muốn có được và Việt Nam cũng không phải trường hợp ngoại lệ Ngành du lịch của Việt Nam đang từng bước vươn lên để trở thành một ngành quan trọng trong nền kinh

tế quốc dân, góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, khai thác có hiệu quả những tiềm năng sẵn có

Tỉnh Quảng Nam là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, với những ưu thế nổi bật và tiềm năng sẵn có, tỉnh đang được Nhà nước ưu tiên và khuyến khích phát triển, trong đó chú trọng hơn cả là ngành du lịch Có thể nói, Quảng Nam có nguồn tài nguyên du lịch khá phong phú và nổi bật với hai

di sản văn hóa thế giới là: Đô thị cổ Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn là những tài nguyên du lịch nhân văn độc đáo; đặc biệt, tỉnh còn có cụm đảo Cù Lao Chàm được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới vào ngày 29 tháng 5 năm 2009 trong phiên họp thứ 21 của Ủy ban điều phối Quốc tế chương trình con người và sinh quyển diễn ra tại đảo Jeju (Hàn Quốc)

Cù Lao Chàm gồm 8 đảo lớn nhỏ, là một di tích văn hóa lịch sử gắn với sự hình thành và phát triển của đô thị thương cảng Hội An Tại đây còn nhiều di tích thuộc các nền văn hóa Sa Huỳnh, Chămpa, Đại Việt, với các công trình kiến trúc

cổ của người Chăm và người Việt có niên đại vài trăm năm Cù Lao Chàm còn là địa điểm du lịch lí tưởng với khí hậu quanh năm mát mẻ, hệ động thực vật phong phú, đặc biệt là nguồn hải sản và nguồn tài nguyên yến sào quý hiếm Các rạn san

hô ở khu vực biển Cù Lao Chàm cũng được các nhà khoa học đánh giá cao và đưa vào danh sách bảo vệ Tháng 10 năm 2003, Khu Bảo tồn thiên nhiên Cù Lao Chàm được thành lập để giữ gìn sinh vật hoang dã trên đảo, là một trong 15 Khu Bảo tồn biển của Việt Nam vào thời điểm năm 2007 Với những thế mạnh như vậy, Cù Lao Chàm đã thu hút được rất nhiều khách du lịch đến tham quan và phát triển du lịch mạnh mẽ, tên tuổi Cù Lao Chàm càng ngày càng được bạn bè khắp trong và ngoài nước biết đến Tuy nhiên, hoạt động du lịch tại Cù Lao Chàm chỉ diễn ra ồ ạt và sôi động vào mùa vụ nên gây ra một số tác động bất lợi đến nhiều lĩnh vực như: kinh tế - xã hội, cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch, tài nguyên du lịch,… Vào mùa vụ, lượng khách du lịch đến Cù Lao Chàm quá đông tạo nên nhiều sức

Trang 9

ép về nơi ở, điều kiện cơ sở vật chất, chất lượng dịch vụ,… trong khi đó, ngoài thời gian này, lượng khách giảm đáng kể, thậm chí có một số hoạt động du lịch phải tạm nghỉ

Với lí do như vậy, tôi quyết định chọn đề tài: “Nghiên cứu tính thời vụ trong hoạt động du lịch ở đảo Cù Lao Chàm, Thành phố Hội An và đề xuất giải pháp hạn chế” Với đề tài này, tôi mong muốn được góp công sức nhỏ bé của

mình vào việc xây dựng một khu du lịch Cù Lao Chàm phát triển bền vững và hiệu quả hơn

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Tính thời vụ trong du lịch là một trong những hạn chế lớn làm ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh cũng như các vấn đề về môi trường,… tại nơi diễn

ra hoạt động du lịch Vì thế các nhà nghiên cứu cũng rất quan tâm tới việc tìm ra giải pháp hạn chế những bất lợi mà tính thời vụ gây ra Minh chứng là các công trình nghiên cứu về tính thời vụ trong du lịch là khá nhiều, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu về tính thời vụ trong du lịch như:

- Công trình “Nghiên cứu tính thời vụ trong hoạt động du lịch biển Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng” (do sinh viên Hoàng Thị Thùy Trang nghiên cứu làm Khóa

luận tốt nghiệp)

- Đề tài “Nghiên cứu tính thời vụ trong du lịch” (do nhóm sinh viên khoa

Môi trường và Tài nguyên, trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh nghiên cứu)

- Đề tài “Nghiên cứu tính thời vụ trong du lịch và các biện pháp khắc phục tại công ty cổ phần Du lịch Ao Vua”,…

Cù Lao Chàm là khu du lịch nổi tiếng với đa dạng các loại hình du lịch như: Du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng,… là sự thu hút lớn không chỉ đối với du khách mà còn thu hút cả sự quan tâm của rất nhiều nhà khoa học, các chuyên gia nghiên cứu về Cù Lao Chàm Có thể kể đến một số công trình như:

- Đề tài “Nghiên cứu tiềm năng phát triển du lịch và đề xuất giải pháp du lịch sinh thái bền vững tại xã đảo Cù Lao Chàm, Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam” (do sinh viên Bùi Xuân Trường nghiên cứu làm Khóa luận tốt nghiệp”

- Đề tài “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ phục hồi san hô cứng ở một số khu bảo tồn biển trọng điểm” (do PGS.TS Võ Sĩ Tuấn – Viện Hải Dương học

nghiên cứu)

Trang 10

- Đề tài “Nghiên cứu nguồn lợi giáp xác liên quan đến phát triển kinh tế cho cộng đồng dân cư tại Cù Lao Chàm” (do sinh viên Dương Thị Mỹ Ly, khoa

Sinh – Môi trường, trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng thực hiện),…

Tuy nhiên, tính cho tới thời điểm hiện tại chưa có công trình nào nghiên cứu về tính thời vụ trong hoạt động du lịch ở Cù Lao Chàm

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu

Nghiên cứu tính thời vụ trong hoạt động du lịch và đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng bất lợi của tính thời vụ trong hoạt động du lịch ở Cù Lao Chàm, thành phố Hội An

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tƣợng

Du lịch là một lĩnh vực có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa khá cao, tuy nhiên trong đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu tính thời vụ trong du lịch và ảnh hưởng bất lợi của tính thời vụ đến hoạt động kinh doanh du lịch tại Cù Lao Chàm

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian nghiên cứu: Đảo Cù Lao Chàm, thành phố Hội An

- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2010 đến năm 2014 Định hướng và giải pháp đến phát triển năm 2020

- Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu tính thời vụ trong hoạt động du lịch ở đảo Cù Lao Chàm, Thành phố Hội An và đề xuất giải pháp hạn chế

5 Quan điểm nghiên cứu

5.1 Quan điểm hệ thống

Trang 11

Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ các hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hoặc tập thể ở ngoài nơi

cư trú thường xuyên của họ hoặc ngoài nước họ với mục đích hòa bình Như vậy các điều kiện và nhân tố du lịch tồn tại và phát triển của các thành phần: tự nhiên, kinh tế- xã hội và các quy luật cơ bản của các loại hình du lịch Do đó, khi nghiên cứu hoạt động du lịch cần phải nghiên cứu một cách toàn diện trên nhiều mặt dựa vào việc phân tích các bộ phận của nó, từ đó xác định mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận đó cũng như mối quan hệ trong hoạt động du lịch với các hoạt động kinh tế - xã hội khác Đây cũng là quan điểm chủ đạo trong quá trình nghiên cứu

và thực hiện đề tài

5.2 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh

Cũng như các hoạt động khác, hoạt động du lịch cũng có nguồn gốc phát sinh phát triển và nó gắn với hoạt động của con người Do đó khi nghiên cứu hoạt động du lịch trong một thời gian nhất định phải tìm hiểu tình hình phát triển của

nó trong giai đoạn trước đó để có thể tìm ra quy luật phát triển chung nhất

5.3 Quan điểm tổng hợp

Các yếu tố của du lịch không thể tách rời khỏi không gian lãnh thổ nhất định

mà chúng liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành một hệ thống với các loại tài nguyên và các cơ sở dịch vụ phục vụ cho du lịch Quan điểm này được vận dụng sau khi đã phân tích hoạt động của từng thành phần trong tổng thể

5.4 Quan điểm kinh tế - sinh thái bền vững

Cũng như các thành phần kinh tế khác, tiêu chuẩn đánh giá sự phát triển của ngành du lịch chính là hiệu quả kinh tế mà nó mang lại cho mỗi quốc gia, dân tộc Đồng thời, việc phát triển du lịch phải gắn với công tác bảo vệ môi trường sinh thái được bền vững

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp thu thập, phân tích, so sánh tổng hợp

Đây là phương pháp nhằm định hướng, thống kê các số liệu nhằm minh chứng cho tính thời vụ trong hoạt động du lịch ở Cù Lao Chàm, Thành phố Hội

An Phân tích mối tương quan để phát hiện ra các yếu tố và sự ảnh hưởng của yếu

tố thời vụ đến hoạt động du lịch, đánh giá số lượng và chất lượng các yếu tố đúng đắn mang tính khách quan Kết quả của phương pháp này là cơ sở khoa học cho việc xây dựng, thực hiện các mục tiêu và đề xuất các giải pháp hạn chế

Trang 12

6.2 Phương pháp khảo sát thực địa

Đây là phương pháp nghiên cứu truyền thống để khảo sát thực tế, áp dụng việc nghiên cứu lý luận gắn với thực tiễn, bổ sung cho lý luận ngày càng hoàn chỉnh hơn Việc có mặt tại thực địa trực tiếp quan sát và tìm hiểu thông tin từ những người có trách nhiệm là rất cần thiết Quá trình thực địa giúp cho tài liệu thu thập được phong phú hơn, giúp cho việc học tập nghiên cứu đạt hiệu quả cao

và có một tầm nhìn khách quan để nghiên cứu đề tài Đây là phương pháp vô cùng quan trọng để thu thập được những thông tin xác thực cho đề tài tăng tính thuyết phục Phương pháp này giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn khách quan và có những đánh giá đúng đắn về vấn đề nghiên cứu Hiểu vấn đề một cách sâu sắc và tránh được tính phiến diện trong khi nghiên cứu

6.3 Phương pháp điều tra xã hội học

Là phương pháp lấy ý kiến của khách du lịch về chất lượng dịch vụ, chi tiêu của khách du lịch trong quá trình du lịch tại Cù Lao Chàm; điều tra thái độ, khả năng đóng góp của cộng đồng trong quá trình bảo tồn, tôn tạo, khai thác tài nguyên nhằm phát hiện ra những mâu thuẫn tiềm ẩn về quyền lợi; Phỏng vấn, lấy

ý kiến các nhà lãnh đạo để thấy rõ nhận thức của họ về vấn đề tôn tạo, bảo vệ tài nguyên du lịch, cũng như các biện pháp quản lí các tác động của hoạt động du lịch đến môi trường Bên cạnh đó, còn phỏng vấn các đối tượng khác để lấy ý kiến cộng đồng như: du khách, các thành viên tham gia vào các hoạt động du lịch

6.4 Phương pháp sử dụng bản đồ, biểu đồ

Đây là phương pháp đặc thù của khoa học Địa lý Phương pháp này cho phép thu thập thông tin về số lượng, chất lượng, phân bố, thực trạng khai thác của khu vực nghiên cứu Đồng thời sau khi nghiên cứu, điều tra, đánh giá thì phương pháp bản đồ còn được sử dụng để thể hiện sự phân bố về số lượng, chất lượng, khả năng tồn tại và khai thác của đối tượng nghiên cứu Chính vì vậy, cần phải sử dụng bản đồ để hỗ trợ việc nghiên cứu Bên cạnh đó, sử dụng nhiều biểu đồ nhằm trực quan hóa các số liệu, cho chúng ta thấy rõ tình hình hoạt động du lịch của địa phương Đây là cơ sở dữ liệu nhằm đưa ra những nhận xét khách quan về khu vực nghiên cứu

7 Bố cục của Khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị Phần nội dung của Khóa luận có

3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn tính thời vụ trong du lịch

Trang 13

Chương 2: Tính thời vụ trong hoạt động du lịch ở đảo Cù Lao Chàm, Thành phố Hội An

Chương 3: Giải pháp hạn chế tính thời vụ đến hoạt động du lịch ở đảo Cù Lao Chàm, Thành phố Hội An

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TÍNH THỜI VỤ TRONG

DU LỊCH 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.1 Những khái niệm cơ bản về du lịch

1.1.1.1 Khái niệm du lịch

Mặc dù hoạt động du lịch đã có nguồn gốc hình thành từ rất lâu và phát triển với tốc độ rất nhanh như vậy, song cho đến nay, khái niệm “du lịch” vẫn được hiểu rất khác nhau tại các quốc gia khác nhau và dưới nhiều góc độ khác nhau

Hiện nay, trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, tuy chưa có một nhận thức thống nhất về khái niệm “du lịch”, song trước thực tế phát triển của ngành du lịch về mặt kinh tế, xã hội cũng như trong lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu, thảo luận để đi đến thống nhất khái niệm “du lịch” cũng như một số khái niệm cơ bản khác về du lịch là một đòi hỏi khách quan

Du lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp và trong quá trình phát triển, nội dung của nó không ngừng được mở rộng và càng ngày càng trở nên phong phú hơn Để đưa ra một định nghĩa về du lịch sao cho vừa đảm bảo tính chất khái quát, vừa đảm bảo tính chất lí luận và thực tiễn, các tác giả đã gặp không

ít khó khăn như: Do tồn tại các cách tiếp cận khác nhau và dưới góc độ nhìn nhận khác nhau, hay do sự khác nhau về ngôn ngữ và cách hiểu khác nhau về du lịch ở các nước khác nhau và do tính chất đặc thù của hoạt động du lịch mà các tác giả

có các định nghĩa khác nhau về du lịch Chính sự tồn tại của các khó khăn khách quan và chủ quan trong quá trình tìm ra một định nghĩa thống nhất về du lịch nên cho đến nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch của các tác giả khác nhau

Bản thân khái niệm “du lịch” có ý nghĩa đầu tiên là việc đi lại của từng cá nhân hoặc một nhóm người rời khỏi chỗ ở của mình trong một khoảng thời gian ngắn và đi đến các vùng xung quanh để nghỉ ngơi, giải trí hay chữa bệnh Ngày nay, người ta đã thống nhất rằng: Về cơ bản, tất cả các hoạt động di chuyển của con người ở trong hay ngoài nước, trừ việc cư trú chính trị, tìm việc làm và xâm lược thì đều mang ý nghĩa du lịch

Trang 15

Năm 1811, lần đầu tiên có định nghĩa về du lịch tại Anh như sau: “Du lịch

là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lí thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí Ở đây, sự giải trí là động cơ chính”

Giáo sư, tiến sĩ Hunziker và Giáo sư, tiến sĩ Krapf – hai người được coi là những người đặt nền móng cho lí thuyết về cung du lịch đưa ra định nghĩa như sau: “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không dính dáng tới hoạt động kiếm lời” Định nghĩa này đã được chấp nhận làm cơ sở cho môn khoa học du lịch, được nhiều nhà kinh tế sử dụng để giải thích từng mặt và các hiện tượng du lịch nhưng định nghĩa này vẫn chưa giới hạn được đầy đủ đặc trưng về lĩnh vực của các hiện tượng và của mối quan hệ du lịch Ngoài ra, định nghĩa còn bỏ sót hoạt động của các công ty giữ nhiệm vụ trung gian; nhiệm vụ tổ chức du lịch và nhiệm vụ sản xuất hàng hóa và các dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách du lịch

Liên Hiệp Quốc (1963), định nghĩa về du lịch như sau: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ ở với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”

Trong Pháp lệnh Du lịch của Việt Nam, tại điều 10, thuật ngữ du lịch được hiểu như sau: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”

Theo Pirojnik (1985): “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan tới sự di chuyển và lưu trú tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình

độ nhận thức – văn hóa hoặc thể thao, kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hóa”

Khi nghiên cứu các định nghĩa về du lịch, chúng ta có thể thấy được sự biến đổi trong nhận thức về nội dung thuật ngữ du lịch Có người cho rằng, du lịch là một hiện tượng xã hội, có người lại cho rằng đó phải là hoạt động kinh tế Tóm lược các ý của những định nghĩa trên, du lịch có thể được hiểu như là:

- Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sứ khỏe, nâng cao nhận

Trang 16

thức về thế giới xung quanh, có hoặc không việc kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng

- Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của

cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh

Việc phân định rõ ràng hai nội dung của khái niệm có ý nghĩa góp phần thúc đẩy sự phát triển của du lịch Cho đến nay, không ít người, thậm chí cả cán

bộ, nhân viên đang làm việc trong ngành du lịch cũng cho rằng du lịch là một ngành kinh tế Do đó, mục tiêu được quan tâm hàng đầu là mang lại hiệu quả kinh

tế Điều đó có thể đồng nghĩa với việc sử dụng triệt để mọi nguồn tài nguyên, mọi

cơ hội để kinh doanh Trong khi đó, du lịch còn là một hiện tượng xã hội góp phần nâng cao dân trí, phục hồi sức khỏe cộng đồng, giáo dục lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết… Chính vì vậy mà toàn xã hội phải có trách nhiệm đóng góp, hỗ trợ, đầu

tư cho du lịch phát triển (Theo Trần Đức Thanh và Nguyễn Minh Tuệ, 1999)

1.1.1.2 Khái niệm khách du lịch

Định nghĩa về “khách du lịch” xuất hiện lần đầu tiên vào cuối thế kỉ thứ XVIII tại Pháp Thời bấy giờ, các cuộc hành trình của người Đức, người Đan Mạch, người Bồ Đào Nha, người Hà Lan và người Anh trên đất Pháp được chia làm 2 loại là: Cuộc hành trình nhỏ (kéo dài từ Paris đến miền Đông Nam nước Pháp) và cuộc hành trình lớn (kéo dài từ bờ Địa Trung Hải, xuống phía Tây Nam nước Pháp và vùng Bourgone Từ đó, người Pháp đưa ra định nghĩa: “Khách du lịch là người thực hiện một cuộc hành trình lớn”

Giáo sư Khadginicolov – một trong những nhà tiền bối về du lịch của Bulgarie đưa ra định nghĩa về khách du lịch như sau: “Khách du lịch là người hành trình tự nguyện với những mục đích hòa bình Trong cuộc hành trình của mình, người đó đi qua những chặng đường khác nhau và thay đổi nơi lưu trú của mình một hoặc nhiều lần”

Các định nghĩa nêu trên đều mang tính phiến diện, chưa đầy đủ, chủ yếu mang tính chất phản ánh sự phát triển của du lịch đương thời và xem xét không đầy đủ, hạn chế nội dung thực của khái niệm - khách du lịch

Để nghiên cứu một cách đầy đủ và có cơ sở đáng tin cậy, cần tìm hiểu và phân tích một số định nghĩa về “khách du lịch” được đưa ra từ các hội nghị quốc

tế về du lịch hay của các tổ chức quốc tế có quan tâm đến các vấn đề về du lịch

Trang 17

Nhìn chung, việc xác định ai là du khách và việc phân biệt giữa du khách

và những người lữ hành khác đều dựa vào 3 tiêu chí:

- Mục đích chuyến đi

- Thời gian chuyến đi

- Không gian chuyến đi

Năm 1937, Ủy Ban thống kê của Hội Quốc Liên (tiền thân của Liên Hợp

Quốc ngày nay) đã đưa ra khái niệm về du khách quốc tế như sau:

“Du khách quốc tế là những người viếng thăm một quốc gia ngoài quốc gia

cư trú thường xuyên của mình trong thời gian ít nhất là 24 giờ”

Như vậy, với khái niệm trên đây, về mặt thời gian, du khách quốc tế là những người có thời gian viếng thăm (lưu lại) ở quốc gia khác ít nhất là 24 giờ (trừ những người tham gia các chuyến du lịch vòng quanh biển) Sở dĩ người ta chọn mốc thời gian 24 giờ là cơ bản vì các du khách ấy phải nghỉ qua đêm, phải chi tiêu một khoản tiền đáng kể cho nhu cầu lưu trú

Tuy nhiên, một vấn đề khác đó là số lượng người tham quan, giải trí trong khoảng thời gian dưới 24 giờ ngày càng nhiều và không thể không tính đến tiêu dùng của họ trong thống kê du lịch Như vậy, xuất hiện một khái niệm mới

“Khách tham quan” – là những người vui chơi giải trí trong khoảng thời gian dưới 24 giờ

Trong thực tiễn hoạt động kinh doanh cũng như trong lí luận, không nên phân biệt và tách rời hai khái niệm “Du khách” và “Khách tham quan” Để thống nhất hai khái niệm này, năm 1963 tại Hội nghị của Liên Hợp Quốc về du hành và

du lịch, tổ chức ở Rome, Ủy Ban thống kê của Liên Hiệp Quốc đã đưa ra một khái niệm về “khách du lịch” như sau:

“Khách du lịch quốc tế là người thăm viếng một số nước khác ngoài nước

cư trú của mình cho bất kì lí do nào ngoài mục đích hành nghề để nhận thu nhập

từ nước được viếng thăm”

Về mặt kinh doanh du lịch, điểm khác biệt giữa “du khách” và “khách tham quan” là việc họ có lưu lại qua đêm hay không

Những khái niệm trên khá rõ ràng và chi tiết nhưng vẫn chưa xác định được giới hạn trên của thời gian mà du khách lưu lại Đứng trước tình trạng số lượng người nhập cư từ các nước đang phát triển ngày càng nhiều, cần phân biệt họ với khách du lịch để tránh việc người nhập cư lại được hưởng những ưu đãi của khách du lịch Năm 1989, Hội nghị Liên minh Quốc hội về du lịch tổ chức ở

Trang 18

Lahaye (Hà Lan) đã ra “Tuyên bố Lahaye về du lịch”, trong đó đưa ra khái niệm

về “Visitor” trên tinh thần khái niệm được đưa ra ở Rome (năm 1963) và xác định giới hạn trên của thời gian mà du khách lưu lại Điều IV ghi rõ:

Những người không được coi là khách du lịch quốc tế là: Những người

không thỏa mãn những điều kiện trên Đặc biệt là những người sau khi đã vào một nước nào đó với tư cách là khách tham quan hay lưu trú du lịch lại tìm cách kéo dài thời gian lưu trú của mình để ở lại hẳn nước này”

Hiện nay, định nghĩa này được nhiều nước trên thế giới công nhận và sử dụng Ở Việt Nam, khách du lịch quốc tế là: “Những người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đến Việt Nam và lưu trú lại qua đêm trên lãnh thổ Việt Nam”

Nếu khái niệm về “khách du lịch quốc tế” đã được thống nhất thì đến nay, khái niệm về “khách du lịch nội địa” ở các nước khác nhau vẫn chưa có cùng quan điểm

Xét một cách tổng quát, khách du lịch nội địa được phân biệt với khách du lịch quốc tế ở chỗ, nơi đến của họ cũng chính là nước họ cư trú thường xuyên Họ cũng được phân biệt với những người lữ hành khác trong nước ở mục đích chuyến đi, khoảng cách chuyến đi và thời gian lưu trú (tùy theo chuẩn mực của từng quốc gia)

Ví dụ:

+ Đối với nước Pháp, du khách là tất cả những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình ít nhất là 24 giờ (hay qua đêm) và nhiều nhất là 4 tháng theo một trong các lí do sau: Giải trí (nghỉ hè, nghỉ phép,…), sức khỏe (liệu pháp chữa bệnh bằng nước khoáng, liệu pháp biển,…), công tác và hội họp dưới mọi

Trang 19

hình thức (hội nghị, hội thảo, hành hương tôn giáo, các ngày hội thể thao và các cuộc hành trình công vụ khác)

+ Người Mĩ thì cho rằng: Khách du lịch nội địa là những người đi đến một nơi xa, ít nhất 50 dặm (tính trên một chiều) với những mục đích khác nhau ngoài việc đi làm hàng ngày

+ Ở Canada thì cũng có quan điểm như Mĩ nhưng với khoảng cách ngắn hơn: Khách du lịch nội địa là những người đi đến một nơi xa, ít nhất 25 dặm và

có thể nghỉ lại đêm hoặc rời khỏi thành phố và nghỉ lại đêm

+ Ở nước ta, khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam đi tham quan và lưu lại qua đêm tại một địa điểm lưu trú của cơ sở du lịch trong nước

1.1.1.3 Khái niệm cung – cầu du lịch

Quan hệ cung – cầu trong du lịch là mối quan hệ cơ bản của thị trường du lịch Cũng như thị trường các loại hàng hóa khác, thị trường du lịch là lĩnh vực thực hiện sự mua bán sản phẩm du lịch vì mục đích thỏa mãn nhu cầu, mong muốn và sức mua của khách hàng Thể hiện mối quan hệ giữa một bên là nhu cầu

có khả năng thanh toán của các nhóm khách hàng nhưng chưa được đáp ứng và một bên là khả năng thỏa mãn nhu cầu (khả năng cung ứng) của bên cung cấp sản phẩm du lịch Đó thực chất là mối quan hệ cung – cầu trong du lịch

Cũng như đối với các loại sản phẩm hàng hóa khác, cung – cầu trên thị trường du lịch có mối quan hệ ràng buộc và tác động qua lại lẫn nhau Cung tác động lên cầu thông qua khối lượng và cơ cấu của nó Ngược lại, cầu ảnh hưởng đến sự phát triển của cung, kích thích hay hạn chế sự phát triển của cung thông qua giá cả và sự biến động của nó giữa các vùng qua các thời kì

Quan hệ cung – cầu trong du lịch có những đặc điểm cơ bản sau:

- Nhu cầu du lịch có tính thời vụ rõ rệt

- Nguồn cung du lịch có tính thời vụ tương đối

Với những đặc điểm như trên, quan hệ cung – cầu trong du lịch phụ thuộc nhiều vào sự dao động của nhu cầu du lịch qua các năm và đặc biệt là các tháng trong năm Do vậy, quan hệ cung – cầu trong du lịch cần phải được xem xét, giải quyết trong một phạm vi nhất định về không gian và thời gian Về không gian, ta xét mối quan hệ cung – cầu trên thị trường du lịch nơi đến (vì nguồn cung du lịch

có tính cố định) Về mặt thời gian, ta xét quan hệ cung - cầu dưới ảnh hưởng của

sự dao động nhu cầu du lịch giữa các tháng trong năm (thể hiện quy luật thời vụ

du lịch)

Trang 20

Trên cơ sở đó, quan hệ cung – cầu du lịch đòi hỏi trong ngành du lịch cần phải cố gắng giảm các dao động thời vụ càng nhiều càng tốt Ngoài ra, vấn đề cần quan tâm là tuyển chọn một mức cung thích hợp nhất với các mức cầu đang dao động

1.1.1.4 Khái niệm tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch là loại tài nguyên có những đặc điểm giống những loại tài nguyên nói chung, song có một số đặc điểm riêng gắn với sự phát triển của ngành Du lịch

Theo quan điểm của Pirojnik: “Tài nguyên du lịch là những tổng thể tự nhiên, văn hóa – lịch sử và những thành phần của chúng, tạo điều kiện cho việc phục hồi và phát triển thể lực tinh thần của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ, trong cấu trúc nhu cầu du lịch hiện tại và tương lai, trong khả năng kinh tế kĩ thuật cho phép, chúng được dùng để trực tiếp và gián tiếp sản xuất ra những dịch vụ du lịch và nghỉ ngơi”

Cùng quan điểm với Pirojnik, Nguyễn Minh Tuệ cũng cho rằng: “Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục, phát triển thể lực, trí tuệ của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ Những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp, cho việc sản xuất dịch vụ du lịch”

Khoản 4 (Điều 4, chương 1) Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 quy định:

“Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”

1.1.1.5 Sản phẩm du lịch

Khi đề cập đến bất cứ hoạt động kinh doanh nào, chúng ta không thể không nhắc đến sản phẩm của hoạt động đó Trong hoạt động du lịch cũng vậy, khi tìm hiểu về du lịch, chúng ta cũng phải tìm hiểu xem thế nào là sản phẩm du lịch và những nét đặc trưng cơ bản của nó

a Khái niệm

Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: Cơ sở vật chất kĩ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay

Trang 21

một quốc gia nào đó nhằm cung cấp cho du khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng

b Những bộ phận hợp thành sản phẩm du lịch

Qua khái niệm trên, chúng ta có thể thấy sản phẩm du lịch bao gồm cả những yếu tố hữu hình và những yếu tố vô hình Trong đó,yếu tố hữu hình là hàng hóa, yếu tố vô hình là các dịch vụ

Xét theo quá trình tiêu dùng của khách du lịch trên chuyến hành trình du lịch thì chúng ta có thể tổng hợp các thành phần của sản phẩm du lịch theo các nhóm cơ bản sau:

- Dịch vụ vận chuyển

- Dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống

- Dịch vụ tham quan, giải trí

- Hàng hóa tiêu dùng và đồ lưu niệm

Thứ ba là sản phẩm du lịch về cơ bản là không cụ thể cũng không tồn tại dưới dạng vật thể Thành phần chính của sản phẩm du lịch là dịch vụ (thường chiếm 80 – 90% về mặt giá trị), hàng hóa chiếm tỉ trọng nhỏ Thực ra, sản phẩm

du lịch là một kinh nghiệm du lịch hơn là một món hàng cụ thể, dù trong cấu thành sản phẩm du lịch có cả hàng hóa Sản phẩm du lịch là không cụ thể, do đó không thể đặt ra vấn đề nhãn hiệu như hàng hóa cụ thể Vì vậy mà sản phẩm du

Trang 22

lịch rất dễ bị bắt chước, người ta có thể sao chép những chương trình du lịch đã đặt ra, bắt chước cách bày trí phòng, quy trình phục vụ được nghiên cứu công phu Mặt khác, do tính chất không cụ thể nên khách hàng không thể kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi mua Vì vậy, nhiều người chưa từng đi du lịch sẽ phân vân khi chọn sản phẩm du lịch Chính vì vậy, vấn đề quảng cáo trong du lịch là rất quan trọng

Thứ tư, việc tiêu dùng sản phẩm du lịch xảy ra cùng một thời gian và địa điểm với việc sản xuất ra chúng Do đó, sản phẩm du lịch về cơ bản là không thể

dự trữ được Khi một buồng trong khách sạn không được thuê trong đêm nay đồng nghĩa với việc khách sạn sẽ mất doanh thu chứ không thể để dành lưu kho rồi cộng thêm số buồng cho thuê trong đêm mai được Như vậy, khách du lịch không thể thấy sản phẩm trước khi mua Thêm vào đó, chúng ta không thể vận chuyển sản phẩm du lịch tới cho khách hàng mà khách hàng phải tự đến nơi sản xuất ra sản phẩm du lịch

Đặc điểm cuối cùng của sản phẩm du lịch là việc tiêu dùng sản phẩm du lịch có tính thời vụ Đây là hiện tượng bất ổn định trong quan hệ cung – cầu du lịch Khi thì lượng cầu quá cao tới mức cung không đáp ứng được cầu Khi thì lượng cầu lại quá thấp làm hao phí nguồn cung Nguyên nhân chính là do trong

du lịch, lượng cung khá ổn định trong thời gian tương đối dài trong khi đó nhu cầu của khách hàng thì thường xuyên thay đổi, làm nảy sinh độ chênh lệch thời

vụ giữa cung và cầu Chính vì vậy mà trong kinh doanh du lịch có tính thời vụ Đúng như Giáo sư, Tiến sĩ Berneker – một chuyên gia hàng đầu về du lịch thế giới đã nhận định: “Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa”

Trang 23

Từ sau Chiến tranh thế giới thứ 2 cho đến cuối những năm 60 của thế kỉ trước, việc nghiên cứu tính thời vụ trong du lịch tập trung chủ yếu vào nguồn gốc, bản chất, đặc điểm của thời vụ du lịch và những nhân tố quyết định độ dài của thời

vụ du lịch

Thời gian gần đây, tuy vẫn quan tâm đến khía cạnh lý thuyết của vấn đề này, song các tổ chức quốc gia và quốc tế về du lịch tập trung nhiều hơn vào việc soạn thảo, thực nghiệm và ứng dụng những kế hoạch tổng hợp nhằm hạn chế những tác động bất lợi của tính thời vụ du lịch, kéo dài đáng kể thời vụ trong du lịch

Theo Tiến sĩ Trần Văn Thông: “Thời vụ du lịch được hiểu là những biến động lặp đi, lặp lại hàng năm của cung và cầu các dịch vụ hàng hóa du lịch dưới tác động của một số nhân tố xác định”

Theo PGS.TS Trần Đức Thanh: “Tại một điểm du lịch cụ thể, có thể quan sát thấy cường độ hoạt động của du lịch không đồng đều theo thời gian Có những lúc, hầu như không có khách, ngược lại, có những giai đoạn nhất định, dòng du khách đổ về quá sức chịu tải của khu vực Hiện tượng có hoạt động du lịch lặp lại khá đều đặn vào một số thời điểm trong năm gọi là mùa hay thời vụ du lịch”

Cho đến nay, nhiều tác giả có chung quan điểm về tính thời vụ trong du lịch như sau: Tính thời vụ trong du lịch là sự dao động lặp đi, lặp lại đối với cung và cầu của các dịch vụ và hàng hóa du lịch, xảy ra dưới tác động của các nhân tố nhất định Thời vụ du lịch là khoảng thời gian của một chu kì kinh doanh, mà tại đó có

sự tập trung cao nhất của cung và cầu du lịch

Ở đây phải nhấn mạnh rằng: Việc xác định thời vụ của từng loại hình du lịch: du lịch nghỉ núi, du lịch nghỉ biển, du lịch chữa bệnh, du lịch hội thảo,… được thực hiện dễ hơn, bởi các dao động của từng loại hình du lịch thường chỉ diễn ra một lần trong năm

Trên thực tế, tính thời vụ du lịch của một trung tâm, một đất nước nào đó là tập hợp và sự tác động tương hỗ giữa các dao động theo mùa của cung và cầu của các loại hình du lịch được kinh doanh tại đó

Sự chênh lệch về thời gian giữa các thể loại du lịch và cường độ biểu hiện của từng thể loại du lịch chính là nguyên nhân tạo ra đường cong thể hiện các dao động thời vụ của toàn bộ hoạt động du lịch

Thời gian của mùa vụ du lịch là một đại lượng thay đổi chứ không phải là bất biến Nó phụ thuộc vào tính chất và xu hướng phát triển của hoạt động du lịch

Trang 24

b) Các mùa trong du lịch

Cường độ nhu cầu du lịch không giống nhau giữa các tháng trong năm tạo

ra các thời kì có lượng cầu khác nhau, đó là các mùa trong du lịch

- Mùa chính du lịch là khoảng thời gian có cường độ tiếp nhận khách du lịch cao nhất

- Mùa trái du lịch là khoảng thời gian có cường độ thu hút khách du lịch thấp nhất (còn gọi là mùa chết)

Ngoài ra, người ta còn xác định khoảng thời gian kề trước và kề sau mùa chính du lịch:

- Trước mùa du lịch là khoảng thời gian có cường độ thấp hơn mùa chính, xảy ra trước mùa chính du lịch

- Sau mùa du lịch là khoảng thời gian có cường độ thấp hơn mùa chính , xảy ra sau mùa du lịch

1.1.2.2 Đặc điểm tính thời vụ trong du lịch

Như đã trình bày ở phần trên, thời gian và cường độ của thời vụ du lịch không phải là cố định mà chúng biến đổi dưới tác động của nhiều nhân tố Dưới sự tác động của các nhân tố khác nhau, thời vụ du lịch có những đặc điểm riêng:

a) Tính thời vụ trong du lịch là một hiện tượng phổ biến và khách quan ở hầu hết tất cả các nước, các vùng có hoạt động du lịch

Về mặt lý thuyết, nếu một vùng du lịch kinh doanh nhiều loại hình du lịch

và đảm bảo được cường độ hoạt động đều đặn trong các tháng của năm (luôn giữ được lượng khách và doanh thu nhất định) thì tại vùng đó, tính thời vụ du lịch là không tồn tại Tuy nhiên, khả năng này là rất khó thực hiện vì có rất nhiều yếu tố tác động đến hoạt động du lịch (lượt khách, doanh thu,…) làm cho hoạt động đó khó có thể đảm bảo được cường độ hoạt động đều đặn trong năm Vì vậy, tính thời

vụ trong du lịch là hiện tượng phổ biến và tất yếu

b) Thời gian và cường độ các mùa có sự khác biệt, phụ thuộc vào từng loại khách du lịch Các trung tâm dành cho du lịch thanh niên thường có mùa ngắn hơn

và có cường độ mạnh hơn so với những trung tâm an dưỡng Nguyên nhân ở đây

là do thanh, thiếu niên thường hay đi theo đoàn, hội và vào các dịp nghỉ hè, nghỉ tết ngắn hạn

c) Thời gian và cường độ các mùa có sự khác biệt, phụ thuộc vào mức độ khai thác tài nguyên du lịch và điều kiện đón tiếp phục vụ khách du lịch Ở những

Trang 25

nơi có các cơ sở lưu trú chính xây dựng dưới dạng những công trình ổn định và kiên cố (khách sạn, motel, khu điều dưỡng,…) thì mùa du lịch kéo dài hơn và cường độ của mùa du lịch chính không chênh lệch quá cao so với thời gian còn lại

Và ngược lại, ở đâu sử dụng nhiều nhà trọ hoặc cơ sở lưu trú dưới dạng camping thì ở đó mùa du lịch ngắn hơn và cường độ khá cao

Đặc điểm này là hậu quả của nhiều nguyên nhân khác nhau như:

Những nơi có chủ yếu là các cơ sở lưu trú chính thì việc đầu tư và bảo dưỡng sẽ tốn kém hơn đẫn đến các nhà kinh doanh phải có các biện pháp kéo dài thời vụ du lịch hơn Ngược lại, những nơi có thời vụ du lịch ngắn hơn thì nhu cầu đầu tư và xây dựng các cơ sở lưu trú chính ít hơn Vì vậy, các cơ sở lưu trú dạng nghỉ trọ hay camping là lựa chọn phù hợp, vừa linh hoạt và vừa tốn ít chi phí hơn

d) Với từng loại hình du lịch khác nhau thì thời gian và cường độ các mùa

du lịch cũng khác nhau Ví dụ như: Du lịch chữa bệnh thường có mùa dài hơn và cường độ vào mùa chính yếu hơn so với loại hình du lịch nghỉ ngơi vùng biển thường có mùa du lịch ngắn hơn nhưng với cường độ mạnh hơn

e) Thời gian và cường độ du lịch khác nhau tùy thuộc vào điều kiện phát triển du lịch và kinh nghiệm kinh doanh du lịch của từng quốc gia, từng vùng

Nếu cùng kinh doanh một loại hình du lịch, với các điều kiện về tài nguyên

du lịch tương đối như nhau thì ở các nước, các vùng phát triển hơn, có kinh nghiệm kinh doanh du lịch nhiều hơn thì thời vụ du lịch thường được kéo dài hơn

và cường độ của mùa du lịch yếu hơn Ngược lại, tại các nước, các vùng mới phát triển và có ít kinh nghiệm kinh doanh du lịch (chính sách tiếp thị, quảng cáo chưa tốt) thì thường có mùa du lịch ngắn hơn và cường độ mùa du lịch chính là mạnh hơn

f) Một nước hoặc một vùng du lịch có thể có một hoặc nhiều mùa du lịch phụ thuộc vào khả năng đa dạng hóa các loại hình du lịch ở đó

Một nước hay một vùng chỉ phát triển một loại hình du lịch là chủ yếu như nghỉ biển hay nghỉ núi thì ở đó chỉ có một mùa du lịch là vào mùa hè hoặc mùa đông Nhưng nếu tại một khu nghỉ mát biển lại có nhiều nguồn nước khoáng có giá trị thì ở đó sẽ phát triển mạnh hai thể loại du lịch: du lịch nghỉ biển vào mùa hè

và du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh vào mùa đông Như vậy, tại nơi đó có hai mùa

du lịch trong một năm

VD: Những địa điểm du lịch ở Việt Nam thường có một mùa du lịch trong

năm như: Sa Pa (mùa đông), Tam Đảo (mùa đông), Cù Lao Chàm (mùa hè),…

Trang 26

Một số địa điểm du lịch phát triển du lịch trong cả hai mùa như: Hồ Hoàn Kiếm, Thánh địa Mỹ Sơn, tháp bà Ponaga,…

1.1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tính thời vụ trong du lịch

Tính thời vụ trong du lịch được hình thành và chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố đa dạng: Có nhân tố mang tính tự nhiên, có nhân tố mang tính kinh tế - xã hội, nhân tố tổ chức, kĩ thuật, có nhân tố mang tính tâm lí,… Một số nhân tố có ảnh hưởng chủ yếu đến cung, một số lại chủ yếu ảnh hưởng đến cầu, một số khác lại ảnh hưởng đến cả hai bộ phận cấu thành của thị trường du lịch Tất cả những sự ảnh hưởng phối hợp đó tạo nên tính thời vụ trong du lịch

Các nhân tố tác động đến tính thời vụ trong du lịch được thể hiện qua sơ đồ sau:

a) Nhân tố mang tính tự nhiên

Trong các nhân tố tự nhiên, khí hậu là nhân tố chủ yếu quyết định đến tính thời vụ trong kinh doanh du lịch Thông thường, khí hậu tác động lên cả cung và cầu trong du lịch Tuy nhiên, ở từng vùng khí hậu cụ thể thì mức độ tác động có khác nhau

Trang 27

Ở đây, cần nhấn mạnh rằng hướng ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của nhân tố khí hậu là khác nhau đối với các loại hình kinh doanh du lịch khác nhau

du lịch

Đối với các thể loại du lịch khác (du lịch chữa bệnh, du lịch văn hóa, du lịch công vụ,…) thì khí hậu không có ảnh hưởng trực tiếp lên tài nguyên du lịch (chất lượng của tài nguyên nhân văn: tượng, viện bảo tàng,… cũng không thay đổi trong suốt năm) Mặt khác, tài nguyên du lịch lại có ảnh hưởng trực tiếp lên nhu cầu du lịch (mặc dù ảnh hưởng của khí hậu không khắt khe như đối với du lịch nghỉ biển) Khách du lịch của các loại hình du lịch này thường chọn đi du lịch vào các mùa có thời tiết thuận lợi (mùa xuân, mùa thu hay mùa khô) để thực hiện các cuộc hành trình du lịch Do đó, biểu hiện cường độ khách tập trung chủ yếu vào một số thời gian trong năm

Như vậy, nhân tố khí hậu có ý nghĩa lớn đối với tính thời vụ trong du lịch (đối với loại hình du lịch nghỉ biển, du lịch nghỉ núi,…); khí hậu đóng vai trò quyết định những điều kiện thích hợp cho các cuộc hành trình du lịch Đối với các loại hình du lịch khác, khí hậu đóng vai trò hiệu chỉnh sự cân bằng của các cuộc hành trình du lịch và việc sử dụng các tài nguyên theo thời gian

b) Nhân tố mang tính kinh tế - xã hội

Có nhiều nhân tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến tính thời vụ trong du lịch nhưng nổi bật hơn cả là các yếu tố như: Thời gian nhàn rỗi, phong tục tập quán, điều kiện về tài nguyên du lịch

Thứ nhất là yếu tố thời gian nhàn rỗi: Là yếu tố ảnh hưởng đến sự phân bổ không đều của nhu cầu du lịch Khi xem xét tác động của thời gian nhàn rỗi đến tính thời vụ trong kinh doanh du lịch, cần phải xét các khía cạnh sau:

Trang 28

Điều đầu tiên là xem xét thời gian nghỉ phép (của những người có đi làm và được trả lương) Thời gian nghỉ phép này có tác động lên thời vụ du lịch do độ dài của thời hạn phép và sự phân bố thời gian sử dụng phép Thực tế cho thấy, ở những quốc gia có thời gian nghỉ phép của năm ngắn thì người dân thường chỉ có thể đi du lịch một lần trong năm Khi đó, họ có xu hướng chọn thời gian chính vụ

để đi du lịch với mong muốn được tận hưởng những gì tốt nhất cho những ngày nghỉ phép quý giá Do vậy, sự tập trung của cầu du lịch sẽ thường cao vào thời vụ

du lịch chính Ngược lại, nếu số ngày nghỉ phép trong năm được kéo dài thì con người sẽ có nhiều cơ hội đi du lịch hơn và đi được nhiều lần hơn trong một năm Khi đó, tỉ trọng tương đối của nhu cầu du lịch tập trung vào thời vụ chính sẽ giảm

và góp phần giảm cường độ thời vụ trong mùa chính đồng thời tăng cường độ thu hút nhu cầu ngoài mùa Như vậy, sự gia tăng thời gian nhàn rỗi góp phần làm giảm cường độ của thời vụ du lịch chính và tăng cường độ tập trung nhu cầu vào ngoài thời vụ du lịch truyền thống

Khía cạnh thứ hai của thời gian nhàn rỗi là thời gian nghỉ của các trường học Thời gian nghỉ của trường học tác động đến thời gian nhàn rỗi của học sinh

và phụ huynh học sinh và qua đó đóng vai trò giới hạn trong việc lựa chọn thời gian đi du lịch của các bậc cha mẹ có con từ 6 đến 15 tuổi Tác động của thời gian nghỉ của các trường học cũng phải được nghiên cứu trên hai mặt là: độ dài của thời gian nghỉ và sự phân bố của thời gian nghỉ trong năm Ở hầu hết các nước, nghỉ hè

là kì nghỉ dài nhất của học sinh (một số nước có khí hậu lạnh thì ngoài kì nghỉ hè còn có kì nghỉ đông nhưng thời gian cũng không dài bằng nghỉ hè) Do vậy, đối với những nơi phát triển du lịch nghỉ biển, du lịch nghỉ núi thì tác động của nhân

tố thời gian nghỉ của các trường học lên tính thời vụ du lịch biểu hiện khá rõ nét

Khía cạnh thứ ba của thời gian nhàn rỗi là thời gian nghỉ của những người hưu trí, bộ phận này không phụ thuộc vào thời gian nghỉ phép hay thời gian nghỉ của các trường học Số lượng hưu trí ngày càng tăng sẽ là một trong những nguồn

dự trữ để phân bố hợp lí hơn nhu cầu du lịch trong năm

Tóm lại, nhân tố thời gian rỗi có xu hướng biến đổi thuận lợi như sau: Xu hướng tăng độ dài thời gian nghỉ để có thể phân bố nhiều kì nghỉ trong một năm;

Tỉ trọng người ở độ tuổi hưu trí ngày càng tăng, họ là những người có thời gian đi nghỉ linh hoạt, không bị bó buộc; Xu hướng giảm tỉ trọng gia đình có con trong độ tuổi đi học Những xu hướng này là những điều kiện thuận lợi để hạn chế sự tập trung nhu cầu du lịch vào thời vụ chính

Yếu tố mang tính kinh tế - xã hội thứ hai tác động đến thời vụ du lịch là phong tục tập quán Qua điều tra xã hội học của Hoa Kỳ và một số nước ở Tây Âu

Trang 29

cho thấy: phong tục, tập quán là những nhân tố tác động trực tiếp lên cầu du lịch

và tạo nên sự tập trung của cầu du lịch vào những thời vụ nhất định Thông thường, các phong tục, tập quán có tính chất lịch sử và bền vững Cùng với sự thay đổi của các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội có thể sẽ tạo thêm những phong tục mới nhưng khó có thể xóa bỏ được những phong tục cũ

VD: Ở Việt Nam, tác động của yếu tố phong tục lên tính thời vụ du lịch khá

mạnh mẽ và rõ ràng: Theo phong tục thì những tháng đầu năm là những tháng hội

hè, lễ bái Vào khoảng thời gian tháng hai, tháng ba âm lịch là lễ hội của hầu hết các đình chùa, các đền và các vùng nổi tiếng bất kể thời tiết ẩm ướt hay mưa dầm: Hội Chùa Hương, Đền Hùng, Chùa Thầy,…

Yếu tố mang tính kinh tế - xã hội thứ ba tác động đến tính thời vụ du lịch là các điều kiện về tài nguyên du lịch Đây là nhân tố tác động mạnh mẽ lên cung trong du lịch Một vùng có thể khai thác nhiều loại hình du lịch khác nhau phụ thuộc vào tài nguyên du lịch của mình Các loại hình du lịch khác nhau có tính thời vụ cao thấp khác nhau Vì vậy, đối với một vùng, độ dài của thời vụ du lịch ở

đó phụ thuộc vào sự đa dạng của các thể loại du lịch có thể phát triển ở đó

VD: Một vùng có điều kiện phát triển du lịch nghỉ biển thì thời vụ du lịch sẽ

ngắn hơn những vùng khác vừa có thể phát triển du lịch biển kết hợp với phát triển

du lịch chữa bệnh, du lịch văn hóa,…

c) Nhân tố mang tính tổ chức – kĩ thuật

Nhân tố này được thể hiện rất rõ qua sự sẵn sàng đón tiếp khách du lịch Đây là nhân tố ảnh hưởng đến độ dài thời vụ du lịch thông qua cung trong du lịch

Cơ cấu của cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch và cách tổ chức hoạt động trong cơ sở

du lịch có ảnh hưởng đến việc phân bố nhu cầu theo thời gian

VD: Các cơ sở lưu trú kiên cố thường có thời gian kinh doanh dài hơn các

cơ sở lưu trú tạm bợ (motel, nhà nghỉ trọ,…) Việc xây dựng các khách sạn lớn có hội trường, bể bơi, các trung tâm chữa bệnh,… cũng tạo điều kiện cho việc sử dụng các cơ sở này quanh năm Các cơ sở ăn uống, giải trí có mái che và ngoài trời cũng có vai trò nhất định trong việc sử dụng chúng vào thời vụ du lịch, nhất là trong những ngày thời tiết xấu

Ngoài ra, việc phân bố hợp lí các hoạt động vui chơi giải trí có tổ chức cho

du khách cũng có ảnh hưởng nhất định đến việc khắc phục sự tập trung những nhân tố tác động đến thời vụ du lịch Các chính sách giá cả của cơ quan du lịch ở từng nước, từng vùng, các hoạt động tuyên truyền quảng cáo cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến sự phân bố của luồng khách du lịch

Trang 30

Thông thường, các nhân tố nêu trên vừa có tác động riêng lẻ vừa có tác động đồng thời Các nhân tố thường tác động cùng một lúc, ngoài ra tác động của từng nhân tố có thể giảm đi khi có các nhân tố khác tác động theo hướng ngược lại Điều đó chứng tỏ rằng, nếu chỉ nghiên cứu cường độ và hướng tác động của từng nhân tố là chưa đủ mà cần xác lập các mối liên hệ và ràng buộc qua lại giữa chúng, xác lập toàn bộ tác động của chúng lên thời vụ của từng thể loại du lịch Có như vậy mới lập ra được khả năng kéo dài mùa kinh doanh du lịch, sử dụng hợp lí hơn nguồn lao động trong cả năm, nâng cao chất lượng phục vụ du lịch và tăng nguồn thu nhập từ du lịch

1.1.2.4 Ảnh hưởng tính thời vụ đối với hoạt động du lịch

Tính thời vụ trong du lịch có ảnh hưởng bất lợi đến tất cả các thành phần của quá trình du lịch: ảnh hưởng đến dân cư sở tại, đến chính quyền địa phương

và đặc biệt là ảnh hưởng bất lợi cho khách du lịch và nhà kinh doanh du lịch

Các tác động bất lợi của thời vụ du lịch đến dân cư sở tại:

Khi cầu du lịch tập trung quá lớn gây nên sự mất cân đối, mất ổn định với các phương tiện giao thông đại chúng, đối với mạng lưới phục vụ xã hội (giao thông công chính, điện, nước, mạng lưới thương nghiệp,…) làm ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của nhân dân địa phương

Khi cầu du lịch giảm xuống và giảm tới mức bằng không thì những người làm hợp đồng theo thời vụ sẽ không còn việc, thậm chí cả những nhân viên cố định thì vào thời gian ngoài thời vụ cũng sẽ có thu nhập thấp hơn

Các tác động bất lợi của thời vụ du lịch đến chính quyền địa phương:

Khi cầu du lịch tập trung quá lớn sẽ gây ra không ít những khó khăn, làm mất thăng bằng cho việc bảo vệ trật tự an ninh và an toàn xã hội Ở mức độ nhất định, tính thời vụ gây ra những khó khăn cho việc quản lí nhà nước đối với hoạt động du lịch (ở cả cấp trung ương và địa phương)

Khi cầu giảm xuống và giảm tới mức bằng không thì những khoản thu nhập từ thuế và lệ phí do du lịch mang lại cũng giảm

Các tác động bất lợi của thời vụ du lịch đến môi trường:

Khi lượng cầu tăng quá mức sẽ tạo nên sức ép với môi trường như: xả rác quá nhiều,…

Các tác động bất lợi của thời vụ du lịch đến khách du lịch:

Trang 31

Khi cầu du lịch tập trung lớn sẽ làm hạn chế khả năng tìm chỗ nghỉ thích hợp với thời gian tự chọn theo ý muốn Ngoài ra, vào mùa du lịch chính thường xảy ra tình trạng tập trung nhiều khách du lịch trên phương tiện giao thông, trong các cơ sở lưu trú tại các nơi du lịch Điều đó làm giảm độ tiện nghi trong việc đi lại và lưu trú của khách Do vậy, dẫn đến việc giảm chất lượng phục vụ khách du lịch

Các tác động bất lợi của thời vụ du lịch đến nhà kinh doanh du lịch:

Các bất lợi khi cầu du lịch tăng tới mức vượt quá khả năng cung cấp của các cơ sở kinh doanh du lịch nhiều lần thì áp lực lớn đặt ra là: Đối với chất lượng phục vụ du lịch, đối với việc tổ chức và sử dụng nhân lực; Đối với việc tổ chức các hoạt động cung ứng, các ngành kinh tế và dịch vụ có liên quan; Đối với việc

tổ chức hạch toán; Đối với tài nguyên du lịch và cơ sở vật chất kĩ thuật

Khi cầu du lịch giảm xuống và giảm xuống tới mức bằng không thì các bất lợi tác động tới chất lượng phục vụ; Tác động tới hiệu quả kinh tế trong kinh doanh; Tác động tới việc tổ chức và sử dụng nhân lực; Tác động tới việc tổ chức hạch toán; Đối với tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất kĩ thuật

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN TÍNH THỜI VỤ TRONG DU LỊCH

1.2.1 Ở Quảng Nam

Quảng Nam là một tỉnh thuộc vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ (Việt Nam),

là vùng đất còn lưu giữ nhiều dấu tích của nền Văn hóa Chămpa Phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng và tỉnh Thừa Thiên - Huế, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Kon Tum, phía Đông giáp biển Đông, phía tây giáp tỉnh Xekong của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Tam

Kỳ

Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, chỉ có 2 mùa là mùa mưa và mùa khô, chịu ảnh hưởng của mùa đông lạnh miền Bắc Mưa tập trung vào các tháng 9 - 12, chiếm 80% lượng mưa cả năm; mùa mưa trùng với mùa bão, nên các cơn bão đổ vào miền Trung thường gây ra lở đất, lũ quét ở các huyện trung du miền núi và gây ngập lũ ở các vùng ven sông Vì vậy, du lịch trong tỉnh cũng có

sự phân hóa theo mùa, mùa du lịch thường tập trung vào các tháng là tháng 5, tháng 6, tháng 7, tháng 8 Những tháng còn lại, du lịch thường ít phát triển, thậm chí không có khách du lịch (tháng 9, tháng 10, tháng 11, tháng 12) do vào mùa mưa bão

Trang 32

Quảng Nam nổi tiếng với nhiều làng nghề truyền thống và nhiều lễ hội nổi tiếng Một số làng nghề truyền thống như: làng gốm Thanh Hà, làng mộc Kim Bồng, làng đúc đồng Phước Kiều (xã Điện Phương, huyện Điện Bàn), làng dệt Mã Châu, làng dâu tằm Đông Yên - Thi Lai (xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên), làng dệt chiếu cói Bàn Thạch, làng rau Trà Quế, làng trống Lam Yên (xã Đại Minh, huyện Đại Lộc)

Ngoài ra, tỉnh Quảng Nam còn có những di tích lịch sử lâu đời như phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, với nhiều lễ hội văn hóa đặc sắc: Lễ hội Bà Thu Bồn, Carneval Hội An, Lễ Hội Đêm Rằm Phố Cổ,…

Những điểm du lịch nổi tiếng ở Quảng Nam như: Cù lao Chàm, Biển Cửa Đại, Phố cổ Hội An, Khu đền tháp Mỹ Sơn,…

1.2.2 Ở Hội An

Hội An, nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam, là thành phố du lịch nổi tiếng với tên thường gọi “Phố cổ Hội An” Là nơi có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch bao gồm cả tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn Tuy nhiên do ảnh hưởng của các yếu tố như khí hậu, kinh tế - xã hội và phong tục tập quán… nên du lịch ở Hội An cũng mang đậm tính mùa vụ Du khách đến du lịch tại Hội An tập trung chủ yếu vào các tháng mùa hè, do lượng khách chủ yếu tham gia vào loại hình du lịch nghỉ dưỡng và tắm biển đặc biệt là tại Cù Lao Chàm Những tháng mùa hè, doanh thu cũng như hoạt động du lịch diễn ra sôi nổi và hấp dẫn hơn so với các tháng mùa đông Khách đến Hội An, ngoài nghỉ dưỡng, tắm biển thì còn tham gia tìm hiểu bề dày văn hóa, lịch sử mang đậm bản sắc xứ Quảng

Trước đây, khách đến du lịch tại Hội An chủ yếu là khách du lịch nội địa Tuy nhiên trong những năm gần đây thì lượng khách du lịch quốc tế có xu hướng tăng lên nhanh chóng Điều này chứng tỏ được sức hấp dẫn của du lịch Nghệ An đối với du khách trong và ngoài nước

Tính thời vụ đã ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động du lịch của Hội An Mùa

vụ trong du lịch làm cho hoạt động du lịch ở đây diễn ra không đồng đều trong năm Các tháng mùa hè, lượng khách đến du lịch rất đông, kéo theo các hoạt động kinh doanh, du lịch diễn ra sôi nổi Trong những tháng này, số lượng lao động phải hoạt động tăng lên, công suất sử dụng buồng, phòng khách sạn cũng hoạt động tối đa Đôi khi, với công suất hoạt động tối đa nên phục vụ không đáp ứng nhu cầu gây ảnh hưởng tới chất lượng phục vụ Nhưng ngược lại, những tháng

Trang 33

mùa đông, lượt khách du lịch rất ít, hoạt động du lịch ảm đạm và thậm chí là tạm ngưng hoạt động

Như vậy có thể thấy rằng, tính thời vụ trong du lịch không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động du lịch mà còn ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ trong du lịch

Tiểu kết:

Như vậy, chúng tôi đã tìm hiểu xong những vấn đề về cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn liên quan đến du lịch nói chung và tính thời vụ du lịch nói riêng Những vấn đề này sẽ là cơ sở để chúng tôi tìm hiểu những đặc điểm, thực trạng về tính thời vụ du lịch cũng như tác động của tính thời vụ du lịch đến đời sống nhân dân, hoạt động du lịch và phát triển kinh tế -xã hội ở đảo Cù Lao Chàm

Trang 34

Chương 2: TÍNH THỜI VỤ TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở ĐẢO CÙ

LAO CHÀM, THÀNH PHỐ HỘI AN 2.1 KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở ĐẢO CÙ LAO CHÀM

2.1.1 Giới thiệu chung về đảo Cù Lao Chàm

Cù Lao Chàm là một cụm đảo nằm ở tọa độ 150

15’30’’ Bắc đến 16000’00’’ Bắc và 108024’30’’ Đông đến108034’34’’ Đông, cách thành phố Hội An 18 km về phía biển Đông Về mặt hành chính, cụm đảo trực thuộc xã đảo Tân Hiệp, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam Cù Lao Chàm được ví như những người lính hoa tiêu khổng lồ, là bức bình phong che chắn, án giữ cho Cửa Đại của đô thị thương cảng Hội An Với tổng diện tích 371 km2, Cù Lao Chàm bao gồm 8 hòn đảo nhỏ: Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Khô mẹ, Hòn Khô con, Hòn Lá, Hòn Tai, Hòn Ông Trong đó, Hòn Lao là lớn nhất, với hệ thống núi phát triển theo hình cánh cung, độ cao lớn nhất là 517m, phía Đông được bao bọc bởi sườn có địa hình dốc đứng, hiểm trở, sườn Tây dốc thoải có nhiều bãi cát bồi ven biển, trong đó có bãi Làng và bãi Hương có dân cư sinh sống, hai bãi lập thành xã đảo Tân Hiệp (với tổng số dân khoảng hơn 3.000 người) , thuộc thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

Lược đồ các đảo thuộc Cù Lao Chàm

Cù Lao Chàm là một di tích văn hóa lịch sử gắn với sự hình thành và phát triển của đô thị thương cảng Hội An Bản đồ Tây - phương xưa thường ghi Cù Lao Chàm với tên “Champelo” lấy từ tiếng Nam - Ấn “Pulau Champa” Ngoài ra, Cù Lao Chàm còn có tên gọi khác như: Puliciam, Chiêm Bất Lao, Tiên Bích La… Nơi đây có lịch sử phát triển từ lâu đời, được hình thành và phát triển liên tục qua

Trang 35

ba nền văn hóa lớn: Tiền Sơ Sử - Chăm Pa - Đại Việt; Cù Lao Chàm còn là nơi lưu lại các công trình kiến trúc cổ của người Chăm và người Việt có niên đại vài trăm năm

Đây còn là một địa điểm du lịch có khí hậu quanh năm mát mẻ, hệ động thực vật phong phú, đặc biệt là nguồn hải sản và nguồn tài nguyên yến sào Các rạn san hô ở khu vực biển Cù Lao Chàm cũng được các nhà khoa học đánh giá cao

và đưa vào danh sách bảo vệ

Từ sau khi được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới cho đến nay, Cù Lao Chàm đã được khách du lịch trong và ngoài nước biết đến như một điểm đến tham quan du lịch biển đảo thú vị Nhiều hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch đã được tổ chức Bộ máy quản lí dịch vụ du lịch, bến bãi đã được hình thành và đi vào hoạt động Theo đó, số lượng khách du lịch đến tham quan cũng tăng lên đáng kể Nhiều công trình trên đảo cũng được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu phục vụ khách du lịch Cơ sở hạ tầng kĩ thuật được thay đổi theo hướng hiện đại, khang trang, sạch, đẹp là điều kiện – là nút mở - là cơ hội – là lợi thế để xã đảo Tân Hiệp thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đưa nhóm ngành thương mại – du lịch – dịch vụ lên hàng đầu

Tuy nhiên, trong thời gian qua việc đầu tư cho phát triển kinh tế du lịch còn nhiều hạn chế, chưa mang tính chiến lược, thiếu tính bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của vùng

2.1.2 Tiềm năng du lịch ở đảo Cù Lao Chàm

Cù Lao Chàm có cảnh quan thiên nhiên hoang sơ và hệ sinh thái rừng, biển hết sức thuận lợi cho phát triển tổng hợp kinh tế biển Tiềm năng du lịch là những cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động, sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch và tuyến du lịch

Tiềm năng du lịch được chia làm 2 loại là: tiềm năng du lịch tự nhiên và tiềm năng du lịch nhân văn

2.1.2.1 Tiềm năng du lịch tự nhiên

- Khí hậu:

Trang 36

Cù Lao Chàm có khí hậu tương đối ôn hòa, mát mẻ quanh năm – đó chính

là một trong những yếu tố quan trọng góp phần thu hút khách du lịch của Cù Lao Chàm Nhiệt độ trung bình năm là khoảng trên 250C với mùa đông ấm áp, mùa hạ

ít chịu ảnh hưởng của gió phơn Tây Nam nên mát dịu hơn Vùng biển có những đặc tính khí tượng thủy văn với chế độ phân gió thành hai mùa rõ rệt, mùa Đông (tháng 11 đến tháng 4 năm sau) có gió mùa Đông Bắc với tốc độ gió từ 15 đến 20 m/s; Mùa hạ có gió theo hướng Đông và Đông Nam với những trận bão và áp thấp nên tốc độ gió rất cao, khoảng 40 m/s Vì phụ thuộc vào chế độ gió nên sóng ở đây cũng bị chia làm hai mùa sóng, sóng vào mùa Đông (cao từ 1,5 đến 3m ngoài khơi

và khoảng 1,5m ở ven bờ) cao hơn sóng mùa hè

- Bãi biển:

Các bãi biển ở đây vốn được thiên nhiên tạo hóa đã đẹp lại được người dân

và chính quyền địa phương phát động các phong trào gìn giữ môi trường nên các bãi biển Cù Lao Chàm được gìn giữ sạch đẹp hơn, khách du lịch vì thế ngày càng nhiều, các dịch vụ du lịch cũng hoàn thiện hơn

Dọc theo bờ biển từ Tây Bắc xuống Đông Nam của Hòn Lao, có các bãi biển như: Bãi Bắc (gồm 4 bãi nhỏ), Bãi Ông, Bãi Làng, Bãi Xếp (gồm 3 Bãi nhỏ), Bãi Chồng, Bãi Bìm, Bãi Hương Các bãi biển có chiều dài từ 100m (Bãi Bắc) đến 700m (Bãi Hương); chiều rộng phổ biến là 20m

Các bãi biển thoải với nền cát trắng mịn, sạch, nằm xen giữa các mỏm đá nhô ra tạo nên sự phong phú của địa tầng địa mạo Ở Bãi Bắc, Bãi Chồng du khách sẽ gặp nhiều khối đá lớn được mài tròn tự nhiên hoặc nằm chồng lên nhau, tạo nên các hình ảnh gợi cảm mang tính biểu tượng sâu sắc

Trang 37

Tại Bãi Bắc, trên nền đá mài mòn xuất hiện nhiều hang tự nhiên Tại Bãi Ông, Bãi Làng, Bãi Hương do các thềm cát mở rộng tạo thành bãi cát rộng từ 40 – 50m Dân cư khai phá những dải đất bồi hẹp, tạo thành một số ruộng bậc thang sản xuất lương thực, thực phẩm Như thế nhờ thiên nhiên tạo hóa và nhân tạo nên Cù Lao Chàm chứa nhiều cảnh đẹp tuy dung dị hoang sơ nhưng đầy gợi cảm

- Giá trị tài nguyên biển:

Là một cụm đảo gồm 8 hòn đảo lớn, nhỏ mọc thẳng từ lòng biển tạo thành hình cánh cung, xung quanh các bờ đá của đảo bám đầy các lớp hàu dưới mực thủy triều cao giống như các lưỡi dao cạo sắc bén

Khu biển Cù Lao Chàm với 5.157 ha mặt nước gồm có san hô, cỏ biển, rong biển, động vật thân mềm, tôm hùm và nhiều loại hải sản quý khác

Các bãi biển này đều nằm ở vị trí thuận lợi, dễ dàng tiếp cận, có chiều rộng phổ biến là 20m, các bãi biển ở đây đều được ngăn cách bởi các triều bãi đá Bãi biển ở đây hầu hết đều sạch, nước trong xanh và mát lạnh, cảnh quan xung quanh khá đẹp với các hàng dừa, hình tượng đá, làm cho cảnh vật nơi đây thật nên thơ Với lợi thế bãi biển rộng, thuận lợi cho việc phát triển các mô hình thể thao du lịch

Là một khu bảo tồn biển nổi tiếng bởi sự đa dạng sinh học có nhiều giống loài quý hiếm, tuy nhiên những năm gần đây với lượng khách du lịch đến Cù Lao Chàm ngày càng tăng thì áp lực khai thác trên vùng rạn san hô là rất lớn làm cho rạn san hô phục hồi chậm ảnh hưởng cực kỳ nghiêm trọng cho hệ sinh cảnh biển tại Cù Lao Chàm Hầu hết các tour du lịch Cù Lao Chàm đều có các hoạt động lặn ngắm san hô

Lặn ngắm san hô

Trang 38

Với đặc thù là Khu dự trữ sinh quyển, các cơ quan chức năng ở Hội An và Quảng Nam xác định bảo tồn thiên nhiên là mục tiêu hàng đầu ở Cù Lao Chàm Hai đối tượng được lựa chọn bảo vệ đặc biệt là các rạn san hô và loài cua đá đặc hữu của vùng Sự lựa chọn này rất có ý nghĩa bởi bảo vệ cua đá cũng chính là bảo

vệ hệ sinh thái rừng liền kề biển, bảo vệ san hô cũng là bảo vệ hệ sinh thái đáy, nước biển và các nguồn lợi thuỷ hải sản khác

- Yến sào

Yến sào có ở bờ Đông của Cù Lao Chàm và một số hòn khác: Hòn Tai, Hòn Khô, Hòn Lá và Hòn Ông

Cù lao Chàm là nơi duy nhất của tỉnh Quảng Nam có loài chim Yến hàng – Collocalia Fuciphaga Genmaini Oustalet, thuộc phân giống Yến hông xám (Swiftlets), giống Collocalia, họ Apodidac, bộ Yến Apdiformes Chim Yến có vóc dáng chỉ nhỏ bằng chim sẻ, hông và bụng màu xám, toàn thân nâu đen; cánh dài (115-125mm), vút nhọn, bay rất khoẻ, đuôi ngắn, chẻ đôi; mỏ ngắn, dẹp, có thể há rất rộng

- Sinh vật:

Toàn bộ diện tích khu bảo tồn biển nằm trong vùng lõi của khu dự trữ sinh quyển được bảo tồn nguyên vẹn về đa dạng sinh học Nơi đây luôn duy trì sự tập trung cao nhất về thành phần loài, các quần thể, quần xã sinh vật từ trên rừng xuống lòng đại dương

Kết quả điều tra xung quanh các khu vực dân cư và các vùng rừng tại khu vực Bãi Hương, Bãi Chồng, Bãi Làng và thôn Cấm thuộc sườn tây Hòn Lao đã phát hiện và thống kê được 288 loài thuộc 107 họ thực vật có mạch bậc cao, trong

Trang 39

đó đại diện ngành Dương Xỉ (Polypodiphyta) có 5 loài, thuộc 5 chi, 5 họ; đại diện ngành thông / Hạt trần (Pinophyta / Gymonospermae) có 3 loài thuộc 3 chi, 3 họ

và đại diện ngành mộc lan / Hạt kín (Magnoliophyta / Angiospermae) có 280 loài

thuộc 235 chi, 99 họ Mặt khác, trong 107 họ thực vật đã phát hiện có nhiều loài được dùng làm thuốc

Trải qua nhiều thay đổi cho đến nay, Cù Lao Chàm vẫn được đánh giá là nơi lưu trữ nhiều nguồn gen động, thực vật quý: Khỉ đuôi dài và chim Yến là hai loài được đưa vào sách đỏ động vật Việt Nam Ngoài ra, rừng còn là nơi sinh sống của cua đá, một loài động vật đặc hữu của Cù Lao Chàm, loài động vật mà hiện nay đang được Khu bảo tồn biển bảo vệ nghiêm ngặt và đó cũng chính là bảo vệ

hệ sinh thái rừng liền kề biển

2.1.2.2 Tiềm năng du lịch nhân văn

a Lễ hội

- Lễ hội cầu ngư

Đến với Cù Lao Chàm, du khách không chỉ được thưởng ngoạn phong cảnh tuyệt đẹp với biển xanh, cát trắng, nắng vàng cùng những rạn san hô tuyệt đẹp, mà

du khách còn bị thu hút bởi những giá trị văn hoá tinh thần, các hình thái văn hoá phi vật thể vốn được bảo lưu bền bỉ, thầm lặng, sâu kín trong cuộc sống đời thường của các thế hệ cư dân vùng biển đảo, mà trong đó lễ cầu ngư là một trong những lễ hội tiêu biểu của cư dân xứ đảo này

Việc tôn sùng, tín bái cá Ông là một tập tục có từ lâu đời của hầu hết ngư dân vùng ven biển miền Trung Việt Nam Có thể nói, nơi nào có ngư dân sinh sống làm ăn thì nơi đó có lăng Ông để thờ cá Ông Hàng năm, trước khi chuẩn bị

ra khơi đánh bắt cá vụ nam, ngư dân Cù Lao Chàm thường tổ chức lễ cúng tại lăng Ông gọi là lễ cầu ngư Lễ này được tổ chức khá quy mô với sự tham gia của hầu hết ngư dân sinh sống trên đảo và đông đảo ngư dân ở các vùng lân cận Trong ngày lễ, ngoài việc cúng tế, người ta còn tổ chức hát bả trạo mà người dân địa phương quen gọi là hát chèo (hát bả trạo hay hát chèo là vừa hát vừa cầm chèo diễn tả động tác chèo thuyền, chứ không phải như hát chèo ở miền Bắc)

Mục đích chính của lễ cúng cầu ngư và hát bả trạo là nhân lúc trước khi ra khơi, người ta tổ chức cúng ông Nam Hải và chư thần để cầu mong làng xóm bình yên, những người ra khơi được thuận buồm xuôi gió, đánh bắt được nhiều hải sản

Lễ cầu ngư ở Cù Lao Chàm là một trong những lễ hội dân gian truyền thống tiêu

Trang 40

biểu của xứ Cù Lao; Đây là một lễ hội gắn liền với tín ngưỡng sông nước của đại

đa số nhân dân làm nghề biển nên mỗi khi tổ chức đều thu hút đông đảo quần chúng tích cực tham gia Qua lễ hội này có thể thấy được sự phong phú, đa dạng

về các hoạt động văn hoá lễ hội ở Cù Lao Chàm

- Lễ giỗ tổ nghề Yến ở Cù lao Chàm

Với mỗi một nghề, người Việt đều có ông tổ nghề và mỗi năm đến một ngày nhất định người dân lại có tục cúng tổ sư với lòng thành kính, tri ân Nghề lấy yến ở Cù Lao Chàm – Hội An cũng thế Theo người dân Cù Lao Chàm thì nghề khai thác yến sào chính thức ra đời tại làng vào khoảng giữa thế kỷ XVIII, với hai tổ nghề là ông Trần Tiến và Hồ Văn Hòa

Vào ngày mồng 9 và 10 tháng Ba âm lịch hàng năm tại xã đảo Tân Hiệp-

Cù Lao Chàm người dân lại tổ chức lễ tế nhằm cầu mong biển trời phù hộ và tưởng niệm tri ân các bậc tiền bối đã có công trạng đối với nghề khai thác Yến sào; đồng thời nâng cao niềm tự hào và ý thức bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm của vùng biển đảo Ngày tế lễ diễn ra như ngày hội với nhiều hoạt động phong phú: Tế Tổ nghề Yến, Vui hội làng chài ( đua ghe ngang, kéo co bằng thuyền trên biển, hội Bài chòi, trò chơi bịt mắt đập nồi), đêm hội Cù lao (biểu diễn nghệ thuật cổ truyền, giao lưu văn nghệ đất liền - hải đảo - du khách), Chợ ẩm thực món ngon Cù Lao Chàm (các đặc sản biển, rau rừng, bánh ít, tổ yến khô, yến chưng hột sen, rượu yến, rượu hải sâm - bào ngư…), tour tham quan thắng cảnh biển đảo - các khu du lịch Cù Lao Chàm, hang Yến sào (hang Tò Vò), làng chài Bãi Hương, xem san hô, các loài hải sản dưới biển bằng thuyền đáy kính và thúng đáy kính khu vực Bãi Nần

từ tháng 2-5 âm lịch nhưng đặc sản mực một nắng thì bạn có thể mua quanh năm

Ngày đăng: 21/05/2021, 23:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm