1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài: Chính quyền thành phố Hà Nội thời Pháp thuộc (1888 – 1945)

31 931 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 163,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xã hội Việt Nam được hình thành trên nền tảng nông nghiệp, người dân chủ yếu sống ở khu vực nông thôn. Đề tài này cũng thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước. Tuy nhiên, còn phải kể đến khu vực thành thị trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả nước. Thế nhiên, việc nghiên cứu còn hạn chế và chưa thực sự bao quát được tất cả các vấn đềThăng LongHà Nội với lịch sử một nghìn năm luôn thu hút được sự quan tâm nghiên cứu đặc biệt của rất nhiều học giả trong và ngoài nước. Nhưng các công trình nghiên cứu trong giai đoạn thời kì thực dân Pháp đô hộ chỉ chiếm số lượng ít ỏi, còn nhiều “khoảng trống” chưa được nghiên cứu. Lĩnh vực hành chính là một ví dụ như thếMặt khác quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ, yêu cầu phải đổi mới và hoàn thiện cơ chế tổ chức quản lý nhà nước, đặc biệt trên địa bàn đô thị. Để giải quyết được vấn đề này đòi hỏi không chỉ có những căn cứ khoa học về lý thuyết quản lý mà còn phải dựa trên cơ sở thực tiễn của xã hội trong lịch sử.Dưới thời Pháp thuộc, thực dân Pháp đã thiết lập nên bộ máy hành chính của đô thị Hà Nội theo phương thức quản lý của các đô thị phương Tây có sự kết hợp với một số kinh nghiệm quản lý xã thôn của người Việt. Trong điều kiện các đô thị Việt Nam đang tiến nhanh trên con đường đô thị hóa hiện nay thì những kinh nghiệm tổ chức quản lý đô thị này có nhiều ý nghĩa quan trọng. Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn như trên, tác giả đã quyết định chọn đề tài: “ Chính quyền thành phố Hà Nội thời Pháp thuộc (1888 – 1945)” để thực hiện luận văn thạc sĩ.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

- 

-Đề tài:

Chính quyền thành phố Hà Nội thời Pháp thuộc (1888 – 1945)

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xã hội Việt Nam được hình thành trên nền tảng nông nghiệp, người dân chủ yếu sống ởkhu vực nông thôn Đề tài này cũng thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các học giả trong vàngoài nước Tuy nhiên, còn phải kể đến khu vực thành thị - trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóacủa cả nước Thế nhiên, việc nghiên cứu còn hạn chế và chưa thực sự bao quát được tất cả các vấnđề

Thăng Long-Hà Nội với lịch sử một nghìn năm luôn thu hút được sự quan tâm nghiên cứuđặc biệt của rất nhiều học giả trong và ngoài nước Nhưng các công trình nghiên cứu trong giaiđoạn thời kì thực dân Pháp đô hộ chỉ chiếm số lượng ít ỏi, còn nhiều “khoảng trống” chưa đượcnghiên cứu Lĩnh vực hành chính là một ví dụ như thế

Mặt khác quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay đang diễn ra vô cùngmạnh mẽ, yêu cầu phải đổi mới và hoàn thiện cơ chế tổ chức quản lý nhà nước, đặc biệt trên địabàn đô thị Để giải quyết được vấn đề này đòi hỏi không chỉ có những căn cứ khoa học về lý thuyếtquản lý mà còn phải dựa trên cơ sở thực tiễn của xã hội trong lịch sử

Dưới thời Pháp thuộc, thực dân Pháp đã thiết lập nên bộ máy hành chính của đô thị HàNội theo phương thức quản lý của các đô thị phương Tây có sự kết hợp với một số kinh nghiệmquản lý xã thôn của người Việt Trong điều kiện các đô thị Việt Nam đang tiến nhanh trên conđường đô thị hóa hiện nay thì những kinh nghiệm tổ chức quản lý đô thị này có nhiều ý nghĩa quantrọng

Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn như trên, tác giả đã quyết định chọn đề tài: “ Chính

quyền thành phố Hà Nội thời Pháp thuộc (1888 – 1945)” để thực hiện luận văn thạc sĩ.

Nghiên cứu chuyên sâu, chuyên khảo về các hoạt động dưới sự quản lý của chính quyền HàNội như làng nghề, phố nghề, văn hóa, ẩm thực, kinh tế, xã hội… có nhiều học giả nổi tiếng như

Trang 3

tác giả Trần Quốc Vượng với các tập sách: “Làng nghề, phố nghề Thăng Long - Hà Nội”, “Thăng

Long - Hà Nội, tìm tòi và suy ngẫm”, “Tìm hiểu di sản văn hóa Thăng Long - Hà Nội”, “ Hà Nội như tôi hiểu”… Tác giả Nguyễn Thừa Hỷ với tác phẩm “Thăng Long Hà Nội thế kỉ thứ XVII – XVIII - XIX”…

Tuy nhiên nhìn bao quát, các công trình nghiên cứu này phần lớn nằm trong thời kì trungđại, thời kì cận - hiện đại ít hơn Trong các mảng đề tài nghiên cứu thì đề tài hành chính cũngchiếm số lượng ít ỏi hơn so với các vấn đề khác Vì vậy, vấn đề về tổ chức bộ máy chính quyền của

đô thị chỉ được nhắc đến một cách sơ lược, chung chung

2.2 Các công trình nghiên cứu chuyên sâu về mô hình tổ chức quản lý thành phố Hà Nội

Tiêu biểu: “Hoàn thiện mô hình tổ chức và quản lý đô thị Hà Nội – Luận cứ và giải pháp” do

nhóm tác giả Nguyễn Quang Ngọc, Đoàn Minh Huấn, Bùi Xuân Dũng chủ biên, sách xuất bản năm

2010; “Quản lý và phát triển Thăng Long - Hà Nội, lịch sử và bài học”, Vũ Văn Quân chủ biên,

xuất bản năm 2010 Đây đều là những công trình nghiên cứu khoa học lớn, trong đó đã tập trungđược rất nhiều bài viết cũng như những khảo luận rất sâu sắc về những mô hình tổ chức quản lýhành chính của Thăng Long - Hà Nội Tổ chức quản lý của thành phố Hà Nội thời Pháp thuộc đượcgiới thiệu một cách tổng thể, tỉ mỉ, có những nhận định hết sức sắc sảo, tuy nhiên đây chưa phải làcông trình nghiên cứu chuyên sâu, riêng biệt về thời kì này

Nghiên cứu về lịch sử Hà Nội nói chung và mô hình tổ chức chính quyền đô thị Hà Nội nóiriêng dưới thời Pháp thuộc cũng nhận được sự quan tâm của các học giả trong và ngoài nước

Các tác giả nước ngoài, ví dụ Audré Massan với “Hà Nội giai đoạn 1873-1888”; Andrea.A:

“Hanoi, capitale de I’Indochine au Francis Garnier et de Henri Rivière” (Hà Nội, thủ đô của Đông Dương dưới thời Francis Garnier và Henri Rivière); Charles Meyer: “Người Pháp ở Hà Nội những

năm đầu thời thuộc địa”… Qua đây hình ảnh Hà Nội trong thời kì Pháp thuộc được hiện lên rõ

ràng và chân thực, bộ máy chính quyền thành phố Hà Nội cũng được khắc họa những nét ban đầutuy còn sơ lược

Philippe Papin với hai công trình nghiên cứu sâu sắc: “Des Villages dans la ville aux

Villages urbains” là luận án tiến sĩ lịch sử viết năm 1997 và “Lịch sử Hà Nội” được xuất bản năm

2010 Đây là công trình nghiên cứu rất sâu sắc về đô thị Hà Nội trong chặng đường phát triển lâudài từ quá khứ đến hiện tại Trên phương diện quản lý hành chính của thành phố Hà Nội thời Phápthuộc, tác giả có những bài viết hết sức tiêu biểu như: Thời của phố trưởng, Chính quyền thành phố

(trích chương IV, sách “Lịch sử Hà Nội”)

Trang 4

Tác giả Guillien Raymond: “Composition et recrutement des corps municipaux de Hanoi,

Haiphong et Saigon: Extrait de la Revue Indochinoise Juridique et Economique 1941-1942” (Cơ

cấu và cách thức tuyển dụng bộ máy chính quyền của thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Sài Gòn)

Tác giả H.Virgitti (1938) “Quelques oeuvres socials dans la ville de Hanoi” Đây là bản tổng

kết 5 năm hoạt động xã hội của Hội đồng Thành phố Hà Nội năm 1938 về xây dựng vườn trẻ, côngviên mới, khu nhà ở rẻ tiền cho người nghèo, cải tạo bãi cát sông Hồng…

Các tác giả trong nước cũng đã có sự quan tâm nghiên cứu về vấn đề này Tuy nhiên, trướcnăm 2000 các công trình nghiên cứu khoa học còn tương đối ít, sau năm 2000 vấn đề này đượcquan tâm nghiên cứu nhiều hơn, đặc biệt trong dịp kỉ niệm một nghìn năm Thăng Long - Hà Nội

Có thể kể đến các công trình sử học sau: Dương Kinh Quốc, “Chính quyền thuộc địa ở Việt

Nam trước cách mạng tháng Tám/1945: Góp phần tìm hiểu cơ sở lịch sử xã hội Việt Nam thời kì thực dân Pháp thống trị”, xuất bản năm 1988 Nguyễn Văn Uẩn, “Hà Nội nửa đầu thế kỉ XX”;

Trần Mạnh Thường biên soạn, “Hình ảnh Hà Nội cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX”; “Tổ chức bộ máy

các cơ quan trong chính quyền thuộc địa ở Việt Nam qua tài liệu và tài liệu lưu trữ ” do Cục văn

thư và lưu trữ nhà nước, Trung tâm lưu trữ Quốc gia I ấn hành năm 2013

2.3 Một số nghiên cứu xuất bản trên các tạp chí chuyên ngành liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Đào Thị Diến: “Hệ thống chính quyền Hà Nội thời Pháp thuộc và vai trò của nó trong quản

lý và phát triển đô thị”, Tạp chí nghiên cứu lịch sử số 377, (9/2007) ; “Hoạt động của Ủy ban viên chức thuộc sở Đốc lý Hà Nội sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945)”, Tạp chí Văn thư lưu trữ

Việt Nam số1.

Đỗ Thị Hương Thảo, Vũ Thị Minh Thắng: “Phố trưởng trong bộ máy chính quyền thành

phố Hà Nội thời thuộc địa”, Tạp chí nghiên cứu lịch sử Bài nghiên cứu chỉ ra vai trò, nhiệm vụ của

phố trưởng trong bộ máy quản lý dân cư ở khu phố

Như vậy, việc nghiên cứu mô hình tổ chức quản lý đô thị Hà Nội mới chỉ được sự quan tâmnghiên cứu trong những năm gần đây và mới chỉ dừng lại ở những bước ban đầu Đặc biệt nghiêncứu về mô hình tổ chức quản lý hành chính của thành phố Hà Nội dưới thời Pháp thuộc chỉ mới cónhững bài nghiên cứu khoa học mà chưa có một cuốn sách nào trình bày đầy đủ và sâu sắc về vấn

đề này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Trang 5

Thông qua việc nghiên cứu về bộ máy chính quyền thành phố Hà Nội thời kỳ Pháp thuộc,luận văn muốn mang đến một cái nhìn cụ thể hơn về bộ máy chính quyền đô thị mà thực dân Pháp

đã thiết lập trong quá trình cai trị ở Việt Nam Trên cơ sở đó, đánh giá một cách khách quan khoahọc về bộ máy chính quyền thành phố Hà Nội thời kì này, rồi rút ra những bài học kinh nghiệmtrong công tác quản lý đô thị hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ của luận văn là tập trung làm rõ những vấn đề khoa học sau đây:

- Những nét chính về lịch sử Hà Nội, đặc trưng trong bộ máy tổ chức chính quyền đô thịdưới các triều đại phong kiến Việt Nam

- Quá trình Pháp đánh chiếm Hà Nội và biến nơi đây trở thành thành phố “nhượng địa” củaPháp rồi thủ phủ Liên bang Đông Dương

- Cơ cấu tổ chức bộ máy chính quyền thành phố Hà Nội (1888 - 1945) bao gồm cấp thànhphố, cấp cơ sở, khu vực ngoại thành và đặc trưng của bộ máy chính quyền trong thời kì này

- Hoạt động của chính quyền thành phố Hà Nội trong thời kỳ Pháp thuộc với những đónggóp và hạn chế; đặc điểm trong phương thức hoạt động của chính quyền thành phố Hà Nội

4 Đối tượng,phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng

Bộ máy chính quyền thành phố Hà Nội do người Pháp thiết lập và quản lý Cụ thể hơn là tổ

chức bộ máy hành chính của chính quyền thành phố Hà Nội và hoạt đốn của nó trong thời kỳ Phápthuộc

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian: 1888-1945

- Không gian: Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu chủ yếu là địa bàn thành phố Hà Nội

và khu vực ngoại thành thời kỳ Pháp thuộc, căn cứ theo địa giới hành chính được quy định cụ thểbởi các nghị định của chính quyền thuộc địa trong từng thời kì

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tài liệu

Trang 6

- Nguồn tài liệu lưu trữ, cụ thể là các văn bản hành chính của chính quyền thuộc địa: nghịđịnh, sắc lệnh, công văn, thư từ trao đổi, báo cáo, chỉ thị, biên bản, hợp đồng…

- Các công trình nghiên cứu đã công bố có nội dung liên quan đến đề tài luận văn, bao gồm:sách chuyên khảo, sách tham khảo, giáo trình, luận văn, luận án, bài nghiên cứu, thông tin đăngtrên các báo, tạp chỉ ở cả Trung ương và địa phương

- Tư liệu trên mạng internet Sử dụng nguồn tư liệu này giúp luận văn có thêm nhiều kiếnthức phổ thông, cập nhật, phong phú, đa dạng về các vấn đề trong thời kì này

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở nắm vững và vận dụng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tác giảluận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành để đưa ra những kếtquả nghiên cứu mang tính khoa học

Trong quá trình sưu tầm và xử lý tài liệu, tác giả sử dụng phương pháp phê phán tài liệu đểxác định độ tin cậy của nguồn tư liệu nghiên cứu, phân loại, sắp xếp các nguồn tài liệu theo từngvấn đề…

Trên cơ sở các nguồn tư liệu đã thu thập được, tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp,phântích tư liệu, kết hợp với phương pháp lịch sử, phương pháp logic, tái hiện lại lịch sử

6 Đóng góp của luận văn

- Làm rõ quá trình Hà Nội trở thành thành phố nhượng địa, từ đó chỉ ra đặc trưng của bộ máychính quyền Hà Nội thời phong kiến

- Phân tích, tái hiện lại bộ máy chính quyền thành phố Hà Nội thời Pháp thuộc được tổ chứcnhư thế nào, vị trí, chức năng nhiệm vụ của mỗi cơ quan của nó là gì, từ đó nêu bật được đặc trưng,đặc điểm của bộ máy chính quyền đó

- Trên cơ sở khái quát các họat động của chính quyền thành phố, đưa ra các nhận định vềthành tựu và hạn chế của bộ máy chính quyền này trong việc quản lý và phát triển thành phố…

7 Bố cục luận văn

Chương 1: Hà Nội: Quá trình trở thành thành phố “nhượng địa” của Pháp.

Chương 2: Tổ chức bộ máy chính quyền thành phố Hà Nội thời Pháp thuộc (1888-1945) Chương 3: Hoạt động của chính quyền thành phố Hà Nội (1888 - 1945)

Trang 7

Chương 1: Hà Nội: Quá trình trở thành thành phố “nhượng địa”

của Pháp 1.1 Thăng Long-Hà Nội trước khi Pháp xâm lược

1.1.1 Thăng Long trong các thế kỉ XI-XVIII

Hà Nội là vùng đất có lịch sử lâu đời Từ một làng quê ven bờ sông Tô Lịch, Thăng

Long-Hà Nội đã phát triển không ngừng trở thành của nước Đại Việt đầu thế kỉ XI

Trong suốt chiều dài lịch sử phát triển gần 800 năm, trải qua các triều đại Lý-Trần-Lê Mạc-Lê trung hưng, Thăng Long luôn luôn là trung tâm đầu não về kinh tế, văn hóa, chính trị lớnnhất của cả nước Tổ chức hành chính và quản lý đô thị: đứng đầu kinh thành là ty Bình Bạc (đổithành Đại An phủ sứ, Kinh sư đại, Trung đô doãn) cai trị 61 phường phố và 13 thôn trại

sơ-Dưới thế kỉ XV, toàn bộ kinh thành đều thuộc phủ Phụng Thiên, do hai viên quan Phủdoãn và Thiếu doãn đứng đầu Dưới đó là hai huyện Vĩnh Xương và Quảng Đức do hai viên huyện

úy cai trị Mỗi huyện gồm 18 phường, mỗi phường do một phường trưởng trông coi

Thế kỉ XVI-XVII-XVIII, đất nước nội chiến Nhưng kinh tế hàng hóa phát triển thúc đẩyquá trình hưng khởi của các đô thị Việt Nam Quản lý đô thị: đứng đầu phủ Phụng Thiên là chứcPhủ doãn Dưới Phủ doãn là hai viên huyện úy, đứng đầu hai huyện Thọ Xương và Quảng Đức, sauđổi thành Tri huyện, hàm chánh thất phẩm Dưới cùng là phường do phường trưởng có chức trách

và nhiệm vụ là quản lý an ninh trật tự công cộng…

1.1.2: Thăng Long-Hà Nội dưới triều Nguyễn

Sang đầu thế kỉ XIX Thăng Long mất đi vị trí kinh đô ngàn đời của mình, chỉ còn là thủphủ của tổng trấn Bắc Hà (gồm 11 trấn), từ năm 1831 là một tỉnh Hà Nội

Nền kinh tế đô thị vẫn được duy trì và có phần phát triển hơn trước Về hành chính: đổitên phủ Phụng Thiên thành phủ Hoài Đức, huyện Quảng Đức thành huyện Vĩnh Thuận, huyệnVĩnh Xương thành Thọ Xương và đặt thêm một huyện ngoại thành

Về đơn vị hành chính: tỉnh Hà Nội có 4 phủ là: phủ Hoài Đức, phủ Ứng Hòa, phủ LýNhân, phủ Thường Tín; bao gồm 15 huyện, 127 tổng, 1104 xã, phường, thôn, trại, châu, sở

Tổ chức hành chính: Đứng đầu là Tổng đốc Hà-Ninh, coi cả hai tỉnh Hà Nội và Ninh Bình.Dưới đó là một viên tuần phủ, phụ trách riêng tỉnh thành Hà Nội Giúp việc cho hai viên quan trên

Trang 8

có Bố tránh sứ ty, chịu trách nhiệm về thuế khóa, hộ khẩu, hành chính; Án sát ty lo công tác anninh, luật pháp Phụ trách quân sự có chức Lãnh binh Dưới tỉnh là phủ, huyện, châu, tổng, xã

Như vậy, dưới triều Nguyễn, Thăng Long-Hà Nội đã có rất nhiều thay đổi trên tất cảphương diện từ kinh tế, chính trị đến hành chính, lãnh thổ Nhưng nơi đây vẫn là trung tâm kinh tế-văn hóa lớn nhất của cả nước

1.1.3 Đặc điểm tổ chức chính quyền đô thị Thăng Long - Hà Nội

Thứ nhất: Bộ máy chính quyền Thăng Long - Hà Nội được tổ chức quy củ, chặt chẽ từ cấptrung ương đến cấp địa phương

Thứ hai: Bộ máy chính quyền Thăng Long - Hà Nội chịu sự kiểm soát chặt chẽ của chínhquyền phong kiến trung ương

Thứ ba: Bên cạnh bộ máy quản lý hành chính, Thăng Long - Hà Nội còn tồn tại một cơ chế

tự trị, tự quản, tương tự như ở nông thôn Cơ chế này tác động, chi phối khá mạnh mẽ đến các hoạtđộng kinh tế, sinh hoạt văn hóa, tổ chức cộng đồng… của cư dân đô thị

1.2 Hà Nội trở thành thành phố “nhượng địa” của Pháp

1.2.1 Thực dân Pháp đánh chiếm Hà Nội

Năm 1858 Pháp tấn công bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng Cuối năm 1872, Pháp đánh chiếm HàNội và Bắc Kỳ lần thứ nhất Tuy không thể lập tức chiếm trọn được nơi này nhưng Pháp đã giànhđược những điều khoản cơ bản, xác lập được vị trí quyền lợi của mình: Pháp có quyền cư trú vàđặt lãnh sự ở ba nơi: Hà Nội, Hải Phòng và Quy Nhơn với một đội quân 100 lính, có quyền đặt cácloại thuế thương chính, thuế hải đăng, thuế thả neo với các tàu thuyền buôn bán của nước ngoài ravào cảng, nhường hẳn khu vực Đồn Thủy rộng tới 18,5 ha cho Pháp làm lãnh sự quán

Đến năm 1882, Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ hai Pháp thu được quyền: có quyền đặtCông sứ ở đây, Pháp có quân đội bảo vệ, có quyền kiểm soát việc tuần phòng, quản lý việc thuế

vụ, giám sát mọi việc thu chi, có quyền đuổi quân của Lưu Vĩnh Phúc ra khỏi Bắc Kì…

Ngày 27/1/1886, Pháp ban hành nghị định bổ nhiệm Paul Bert làm Tổng trú sứ Paul Bertcũng là người ráo riết thực hiện việc quy hoạch lại thành phố Hà Nội

Công việc xây dựng cho một thành phố mới thực hiện từ trước đó đến đây được thúc đẩynhanh chóng hơn Tháng 6/1883 con đường đầu tiên được mở để nối khu nhượng địa với TrườngThi và Hoàng thành cũ –nơi đặt trụ sở của bộ máy chỉ huy quân sự Sau này nó trở thành trục trungtâm thương nghiệp và dịch vụ của thành phố Quá trình xây dựng khu phố Pháp tại Hà Nội bắt đầu

Trang 9

Như vậy có thể nói đến đây, Pháp đã đánh chiếm và thôn tính xong Hà Nội về mặt quân sự.Quá trình tái thiết và khởi động một nhịp sống mới cho thành phố tương lai cũng đã bắt đầu đượctạo lập bởi một chủ trương to lớn của chính quyền thuộc địa, biến “Hà Nội trở thành một thành phốkiểu Pháp”

1.2.2 Hà Nội trở thành thành phố “nhượng địa” của Pháp

Ngày 19/7/1888, tổng thống Pháp Marie Francois Sadi Carnot kí sắc lệnh thành lập thànhphố Hà Nội Về phía nhà Nguyễn, chỉ dụ của vua Đồng Khánh quy định “lãnh thổ của các thànhphố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng được chuyển thành nhượng địa cho Pháp” và “chính quyền AnNam nhường sở hữu cho chính phủ Pháp và từ bỏ mọi quyền lợi của mình tại những nơi này”

Ngày 3/10/1888, toàn quyền Đông Dương Richaud chuẩn y đạo dụ của vua Đồng Khánh.Nội chính thức trở thành thành phố nhượng địa

Từ đây quá trình xây dựng và phát triển thành phố ngày càng được thực thi một cách nhanhchóng và toàn diện hơn Quá trình này đòi hỏi, trước hết là phải xây dựng và hoàn thiện “một chínhquyền chăm sóc đặc biệt cho Hà Nội”

Với ý đồ và sắc lệnh này, chính quyền thành phố Hà Nội đã nhanh chóng được thành lậpnên Đến năm 1888 về cơ bản thành phố Hà Nội đã thết lập được một bộ máy chính quyền chínhthức do Đốc lý đứng đầu, giúp việc cho Đốc Lý có Hội Đồng thành phố và Tòa đốc lý Bộ máy nàyngày càng được hoàn thiện hơn

Tiểu Kết

Có thể nói trong suốt chiều dài lịch sử hình thành và phát triển của mình Thăng Long – HàNội luôn có vị trí, vai trò đặc biệt là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự và hành chínhcủa cả nước

Trên lĩnh vực quản lý đô thị, thành Hà Nội có sự kết hợp chặt chẽ giữa yếu tố hành chính

và chính trị của quốc gia, mang đặc trưng đậm nét của một thành thị phương Đông

Đến đầu thế kỉ XIX, Thăng Long-Hà Nội, từ vị trí kinh đô trở thành thủ phủ của tổng trấnBắc thành, sau đó chỉ còn là một trong 30 tỉnh lị của đất nước Địa giới hành chính được mở rộnghơn, phương thức tổ chức hành chính có một số thay đổi so với trước Tuy nhiên cho đến lúc nàyThăng Long-Hà Nội vẫn là một trong những trung tâm kinh tế và văn hóa lớn nhất cả nước

Sang nửa cuối thế kỉ XIX, Hà Nội trở thành thành phố thuộc địa của Pháp, thủ đô của Liênbang Đông Dương Trong đó việc thiết lập và xây dựng một bộ máy chính quyền thành phố làtrọng tâm của Pháp được thực hiện một cách hết sức nhanh chóng và khẩn trương Đến năm 1888,

Trang 10

Chính quyền thành phố Hà Nội đã được thiết lập, do Đốc lý đứng đầu, dưới đó là Hội đồng thànhphố, Tòa Đốc lý…

Trang 11

Chương 2: Tổ chức bộ máy chính quyền thành phố Hà Nội

thời Pháp thuộc (1888-1945) 2.1 Tổ chức bộ máy chính quyền cấp thành phố

2.1.1 Hội đồng thành phố

Việc thành lập một tổ chức quản lý về mặt hành chính ở Hà Nội trên thực tế đã tồn tại từnhững năm 1885 do viên Phó Công sứ Salle dẫn đầu, thành viên bao gồm 14 người, 6 người Việt

và 2 người Hoa Ban lâm thời này hoạt động từ tháng 10/1885 đến tháng 9/1886

Ngày 19/7/1888, Toàn quyền Đông Dương kí Quyết định thành lập tại Hà Nội và HảiPhòng, mỗi nơi một Hội đồng Thành phố

Theo đó, Hội đồng Thành phố khóa đầu tiên gồm 16 ủy viên (12 người Pháp và 4 ngườiViệt, người Hoa không được tham gia nữa) do Đốc lý kiêm chủ tịch Hội đồng Thành phố đứngđầu Các ủy viên được lựa chọn trong số những người Pháp và người Việt trên 25 tuổi, có quyềncông dân và chính trị, có thời gian cư trú ở Hà Nội ít nhất 6 tháng

Từ năm 1891, Hội đồng Thành phố do đại diện cử tri bầu chọn Các đại diện cử tri chiathành hai đoàn: đoàn cử tri người Pháp bầu ra các ủy viên hội đồng người Pháp và đoàn đại biểungười bản xứ bầu các ủy viên hội đồng người Annam

Điều kiện đối với các cử tri người Pháp: Là người Pháp hoặc mang quốc tịch Pháp, từ 21

tuổi trở lên, không phải chịu các hình thức quản thúc của pháp luật, có nơi ngụ cư xác thực trongthành phố, nộp một trong các loại thuế trực tiếp (thuế nhà đất, thuế môn bài…)

Điều kiện đối với các cử tri người Annam: những người có khoa mục: tú tài, cử nhân, từ

21 tuổi trở lên, cư ngụ trong thành phố tối thiểu một năm, hoặc có tên trong sổ đóng thuế đất…

Điều kiện được ứng cử vào Hội đồng thành phố: Đối với ứng cử ủy viên hội đồng người

Pháp: là tất cả những cử tri thành phố và những công dân có tên trong sổ đóng thuế trực tiếp, từ 25

tuổi trở lên, Đối với ứng cử ủy viên hội đồng người An Nam: là những cử tri, từ 27 tuổi trở lên và

trả ít nhất 25 đồng bạc Đông Dương thuế trực thu, không trong bất kì trường hợp đang chịu thi

hành án của pháp luật…

Về số lượng các ủy viên: Nghị định ngày 31/12/1891 là 12 người và số ủy viên người

An Nam là 4 người Đến năm 1941, Tổng thống Pháp kí Sắc lệnh ngày 27/4 ấn định cho thành phố

Hà Nội một Hội đồng gồm 12 người Pháp và 10 người Việt Đây cũng là thời kì mà số lượng các

ủy viên người Việt chiếm tỷ lệ cao nhất trong Hội đồng thành phố

Trang 12

Tổ chức và hoạt động: theo Nghị định ngày 19/7/1888 và Sắc lệnh ngày 11/7/1908, Hội

đồng thành phố họp thường kì mỗi năm 4 lần, vào đầu các tháng 2, tháng 5, tháng 8 và tháng 11.Mỗi phiên họp kéo dài 10 ngày, trừ tháng 11

Trước mỗi kì họp, chủ tịch Hội đồng thành phố sẽ gửi giấy triệu tập đến từng các ủyviên, trong đó có ghi rõ nội dung thảo luận của các kì họp Nội dung này đã được niêm yết trướccửa Tòa thị chính và được gửi bằng văn bản đến các ủy viên ít nhất 6 ngày

Chủ tịch Hội đồng có nhiệm vụ điều hành các phiên họp, bên cạnh đó sẽ có một viên thư

kí ghi lại diễn biến của phiên họp Hội đồng thành phố có thể lập ra các Ủy ban chịu trách nhiệmnghiên cứu các vấn đề của hội đồng hoặc ý kiến do các ủy viên tự đề xuất

Nhiệm vụ và chức năng: Trong mỗi phiên họp, Hội đồng thành phố lấy biểu quyết về

các vấn đề sau: Các khoản vay được thành phố đại diện kí hợp đồng và cách thức hoàn trả, Phươngthức quản lý các tài sản công cộng thuộc sở hữu của thành phố; Ngân sách thành phố và nói chung

là tất cả các khoản thu và chi cho dù là thông thường hay là bất thường…

Hội đồng thành phố còn có quyền đưa ra ý kiến về các vấn đề như quy hoạch và xâydựng những con đường lớn trong thành phố; sửa đổi giới hạn địa giới hành chính của thành phố;thành lập các tổ chức từ thiện; phương thức để tính thuế và quy định thu thuế…và tất cả các vấn đềđược quyết định bởi các quy tắc và nghị định của thành phố

Bên cạnh đó, Hội đồng thành phố thay mặt cho toàn thể nhân dân có thể đề bạt lên cấptrên những nguyện vọng có liên quan đến lợi ích của thành phố song tuyệt đối không được đề cậpđến vấn đề chính trị và những vấn đề liên quan đến công việc cai trị chung

Vai trò: Hội đồng Thành phố đóng vai trò cố vấn cho Đốc lý trong việc hoạch định những

công việc có tính chất chiến lược của Thành phố, định hướng phát triển Thành phố và quản lýThành phố về mọi mặt Tất cả các vấn đề quan trọng, có tính chất chiến lược của thành phố đềuđược đưa ra trước Hội đồng để bàn bạc và lấy ý kiến

Để thực hiện được những tham vọng to lớn của mình, thành phố được quyền “độc lậptương đối” của mình, có ngân sách riêng và được thu các loại thuế trực tiếp như thuế môn bài, thuếthân, thuế nhà đất… Tình trạng sưu cao thuế nặng, cùng khủng hoảng kinh tế khiến Hội đồng luônrơi vào tình trạnh bê bối, tham nhũng tràn lan

Mặt khác, thành phố phải phụ thuộc chặt chẽ vào chính quyền bảo hộ Tất cả các cuộchọp của Hội đồng thành phố và những chương trình nghị sự, thảo luận của nó đều phải trình lênThống sứ và phải được Thống sứ thông qua

2.1.2 Đốc lý và Tòa Đốc lý

Trang 13

Đốc lý:

Đốc lý là người đứng đầu Tòa đốc lý, người quản lý hành chính cao cấp nhất trong bộ máyChính quyền Thành phố và là người chịu trách nhiệm trước Thống sứ Bắc Kỳ về mọi mặt hoạtđộng của Thành phố

Quyền hạn: Theo sắc lệnh ngày 19/7/1888, Đốc lý là người đứng đầu, có quyền hành

tương đương như công sứ đầu tỉnh, người “quản lý hành chính cao cấp nhất” chính quyền thànhphố, chịu trách nhiệm trước Thống sứ Bắc kì về mọi mặt hoạt động của thành phố

Giúp việc cho Đốc lý có hai viên phó Đốc lý và Tòa đốc lý Cơ quan này bao gồm nhiềuphòng ban khác nhau, đảm đương những công việc và trọng trách khác nhau nhưng đều thực hiệnmột mục đích chung là thừa hành mệnh lệnh của Đốc lý để giải quyết các công việc trong thànhphố

Trên vấn đề này, Đốc lý hoàn toàn có mọi quyền hành trong bộ máy tổ chức hành chínhcủa mình, từ việc bổ nhiệm nhân sự cho các vị trí của các phòng ban đến việc quản lý để hệ thống

đó làm việc một cách hiệu quả và kể cả việc thành lập các phòng ban mới, nếu thấy cần thiết chocác công việc của thành phố

Đốc lý cũng có quyền kí các quyết định đình chỉ công tác hay sa thải các nhân viên dướiquyền của mình khi họ thực hiện sai nhiệm vụ hay vi phạm pháp luật…Ông cũng có thể thành lập

ra các cơ quan chuyên trách và bổ nhiệm nhân sự cho nó

Về việc quản thành phố: Đốc lý thực hiện dưới hai hình thức cơ bản là trực tiếp và gián

tiếp Trước tiên để đảm bảo cho sự hoạt động của bộ máy hành chính thành phố được diễn ra mộtcách bình thường, Đốc lý ban hành các nghị định và văn bản pháp quy Trong đó quy định về tất cảcác nhiệm vụ, chức năng, quyền hạn, quy chế thực hiện các công việc của từng vấn đề cụ thể

Bên cạnh đó, Đốc lý còn quản lý thành phố thông qua đội ngũ các nhân viên dưới quyềncủa mình Các nhân viên này phải chịu trách nhiệm trước Đốc lý về những công việc mà mìnhđược giao phó và phải thường xuyên báo cáo lên Đốc lý những tình hình cụ thể ở đơn vị quản lýcủa mình

Qua đó, Đốc lý có thể nắm bắt được cụ thể các vấn đề đang diễn ra trong thực tế để đưa racác phương án giải quyết một cách kịp thời hay có sự điều chỉnh các văn bản và nghị định đã banhành cho phù hợp

Bên cạnh đó, Đốc lý còn phải trực tiếp thi hành những công việc sau: Quản lí những nguồnthu nhập, giám sát việc thực hiện ở thành phố và kế toán; chuẩn bị và đề xuất ngân sách và chi phítrực tiếp; thay mặt chính quyền thành phố giao dịch với thị trường bên ngoài…

Trang 14

Chức năng chính của Đốc lý là theo dõi, giám sát, trên cơ sở đó đưa ra các quyết định để

thay đổi, điều chỉnh các hoạt động hành chính của thành phố

Quyền hạn của Đốc lý là cao nhất và Đốc lý không thể ủy quyền cho bất cứ trường hợp nào

về chức vụ của mình Trong trường hợp Đốc lý vắng mặt thì Phó Đốc lý thứ nhất sẽ là người thaythế

Về cơ chế giám sát và quản lý đối với Đốc lý: Đốc lý thành phố Hà Nội do Toàn quyền

Đông Dương bổ nhiệm với nhiệm kì là 3 năm trên sự giới thiệu của Thống sứ Bắc Kì Về mặt quản

lý, Đốc lý chịu sự quản lý trực tiếp của Thống sứ và phải thi hành các mệnh lệnh của viên chức nàycũng như các viên chức cấp trên trong hệ thống chính quyền thuộc địa.Về mặt quản lý thành phố,Đốc lý phải trình báo lên cấp trên mọi vấn đề liên quan đến địa bàn quản lý của mình Trong việcthực hiện các quyết định hành chính thì Đốc lý phải được sự thông qua của chính quyền cấp trên

Bên cạnh đó, Đốc lý phải báo cáo trước Hội đồng thành phố mọi vấn đề của thành phốtrong các phiên họp thường kì như là vấn đề về ngân sách thành phố, các khoản chi phí bắt buộc vàtùy chọn… Đốc phải giải trình trước Hội đồng thành phố các vấn đề của thành phố theo luật định,đồng thời phải trả lời bất cứ chất vấn nào từ các ủy viên của Hội đồng

Hình phạt: Có hai hình thức là đình chỉ chức vụ và cách chức Việc đình chỉ chức vụ phải

do Toàn quyền Đông Dương quyết định trong thời hạn không quá 3 tháng Việc cách chức cũngđược thực hiện bởi Toàn quyền Đông Dương và nó bao gồm cả việc hủy tư cách ứng cử váo chức

vụ Đốc lý và phó Đốc lý trong vòng 1 năm kể từ quyết định cách chức

Cách thức bổ nhiệm và tuyển dụng: Đốc lý Hà Nội phải là người tốt nghiệp Trường

Thuộc địa Pari 2 Sau khi học ở trường này 3 năm thì viên quan này tiếp tục phải trải qua thời giantập sự 2 năm ở Đông Dương, trở thành quan cai trị hạng 5 Sau đó tiếp tục vừa thực thi nhiệm vụcủa mình vừa học để dự thi hoặc được xét tuyển chuyển cấp dần lên, quan cai trị hạng 4, hạng 3,hạng nhì, hạng nhất với những chức danh tương đương là Phó Công sứ, Công sứ hoặc Chánh, Phóquan cai trị chủ tỉnh trên địa bàn Đông Dương, là một trong các ủy viên của Hộ đồng thành phố,được Thống sứ Bắc Kì đề cử và Toàn quyền Đông Dương quyết định

Tòa Đốc lý:

Tòa đốc lý nằm dưới quyền quản lý của Đốc lý, bao gồm nhiều phòng ban khác nhau, giúpĐốc lý quản lý các vấn đề của thành phố

Tổ chức: Trong thời gian đầu khi chính quyền mới được thành lập, tổ chức của Tòa Đốc lý

còn hết sức sơ sài, chỉ bao gồm một số các đơn vị sau: Văn phòng, Phòng kế toán, Phòng Cảnh sát,Phòng Quản lý giao thông đường bộ , Phòng Địa chính…

Trang 15

Bên cạnh đó thành phố vẫn tiếp tục sử dụng các quan chức của triều đình Huế ở hai huyệnThọ Xương và Quảng Đức để quản lý các công việc hành chính như “thu thuế, điều tra và xét xửhay giải quyết các vụ tranh chấp…” của người bản xứ

Thay vào đó, Triều đình tiếp tục lập ra Nha Hiệp lý để giải quyết các vấn đề về tư pháp củangười bản xứ sống tại thành phố Hà Nội

Để phụ trách công việc này, thành phố quyết định thành lập ở Tòa Đốc lý một đơn vị mới

là Phòng Quản lý các công việc liên quan đến người bản xứ Cũng kể từ đây Tòa Đốc lý đã khôngngừng được hoàn thiện thêm về cơ cấu và tổ chức, dần dần đảm đương được trọng trách của thànhphố trong việc giải quyết các thủ tục hành chính Đến tháng 2/1908, Đốc lý Hà Nội, Prêtre đã kímột văn bản nghị định, quy định tổ chức chính thức của Tòa Đốc lý gồm những đơn vị sau:Vănphòng, Phòng Văn thư, Phòng Kế toán, Phòng Hộ tịch, Phòng Phụ trách các công việc liên quanđến người bản xứ, Phòng Kiểm tra các loại thuế

Đến năm 1916, thực hiện theo Sắc lệnh ngày 11/7/1908 của Tổng thống Pháp về việc tổchức lại Hội đồng thành phố ở Sài Gòn, Hà Nội và Hải Phòng, Tòa Đốc lý Hà Nội cũng được bổsung, sửa đổi và kiện toàn thêm về tổ chức cũng như nhiệm vụ và chức năng của mình

Tổ chức của Tòa đốc lý được quy định theo Nghị định 13/4/1916 có sự thay đổi lớn Cụ thể

là Văn phòng đảm nhận thêm công việc của Phòng văn thư và lưu trữ; Phòng quản lý hộ tịch cóthêm ban chịu trách nhiệm về vệ sinh; Phòng kế toán và Kiểm tra các loại thuế được sát nhập vớinhau Phòng phụ trách các công việc bản xứ thì bị xóa bỏ (theo Nghị định số 617 ngày 23/3/1916của Thống sứ Bắc kì) Bên cạnh đó có 3 phòng ban mới: Phòng Quản lý đường bộ, các công trìnhcấp thoát nước và chiếu sáng đô thị, Phòng Cây trồng đô thị, Phòng Địa chính và công thổ…

Cơ cấu tổ chức này của Tòa Đốc lý đã tồn tại được 25 năm Mãi đến tháng 10/1941, theonghị định của Đốc lý Camille nó mới được bổ sung và sửa đổi lại cho phù hợp với sự phát triển củathành phố Hà Nội

Đến 3/1945, sau khi Nhật đảo chính Pháp, mọi hoạt động của Tòa Đốc lý vẫn được duy trìnhư cũ, chỉ thay nhân viên, viên chức người Pháp bằng người Nhật Sau cách mạng tháng tám, Tòađốc lý ngưng hoạt động

Vai trò: Tòa đốc lý Thành phố vừa đóng vai trò của một cơ quan tổng hợp, lại vừa đóng vai

trò của một cơ quan hành pháp của Đốc lý Trên phương diện là một cơ quan tổng hợp, Tòa đốc

lý phụ trách rất nhiều công việc mang tính tổng hợp của Thành phố như: Chuẩn bị các công việc

về bầu cử kể cả bầu cử các trưởng phố; Tập trung các công việc để đưa ra các Ủy ban và Hội đồngThành phố

Ngày đăng: 08/09/2015, 21:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w