1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu thể loại phim ngắn

158 366 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 158
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong từ điển điện ảnh The Film Encyclopedia của Ephraim Katz, đã sớm có định nghĩa về phim ngắn với nhiều đặc tính khác nhau, chẳng hạn như đó có thể là nơi thử nghiệm các tài năng ngh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

CẤP TRƯỜNG NĂM 2012

TÌM HIỂU THỂ LOẠI PHIM NGẮN

Sinh viên thực hiện:

Chủ nhiệm: Nguyễn Tiến Phát, ngành Văn học, khoá 2011 – 2015 Thành viên: Bùi Thiên Huân, ngành Văn học, khoá 2011 – 2015

Cán bộ hướng dẫn: ThS Hồ Khánh Vân

Chuyên ngành Lí luận Văn học Khoa Văn học và Ngôn ngữ Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2012

Trang 2

MỤC LỤC

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH 1

MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG 1: KHÁI NIEM VÀ LỊCH SỬ PHIM NGẮN 9

1.1 Khái niệm phim ngắn 9

1.2 Lịch sử ra đời và phát triển của phim ngắn 22

1.3 Phân loại phim ngắn 31

CHƯƠNG 2 : ĐẶC TRƯNG NGHỆ THUẬT CỦA PHIM NGẮN 75

2.1 Tính tối giản 75

2.2 Tính bất ngờ 91

2.3 Tính mở 108

CHƯƠNG 3: MỘT VÀI PHÁC THẢO VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA PHIM NGẮN 116

3.1 Trên thế giới 117

3.2 Tại Việt Nam 135

KẾT LUẬN 147

TÀI LIỆU THAM KHẢO 149

Trang 3

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH

Tìm hiểu thể loại phim ngắn là một công trình nghiên cứu nhằm giới thiệu và góp

phần định hình thể loại này trong nền điện ảnh thế giới Đề tài cung cấp một cái nhìn bao quát về phim ngắn qua nhiều thời kỳ và sự liên đới của nó đối với các thể loại khác cùng như những ảnh hưởng của thể loại này với xã hội Sau đó, công trình đề xuất một số cách nhìn và nhận định đối với bản thân thể loại này bằng cách thử phân chia, định danh một

số tính chất của phim ngắn Và cuối cùng là mở ra một cái nhìn sơ lược về toàn cảnh của phim ngắn hiện đại, với những hoạt động gắn liền với nó như sản xuất, trình chiếu và

phát hành Nói chung, Tìm hiểu thể loại phim ngắn sẽ bước đầu khơi mở những hướng

tiếp cận khả dĩ đối với một thể loại vốn đã tồn tại từ rất lâu trong nền điện ảnh thế giới nhưng còn khá mới mẻ đối với cả các nhà làm phim lẫn khán giả Việt Nam này

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Điện ảnh là một loại hình nghệ thuật hết sức đặc biệt Môn nghệ thuật thứ bảy này được gọi môn nghệ thuật tổng hợp vì trong bản thân một tác phẩm điện ảnh sử dụng hầu hết những chất liệu của các loại hình nghệ thuật khác trước nó: thanh âm của âm nhạc, màu sắc của hội họa, hình khối của kiến trúc, đường nét của điêu khắc, hình thể, diễn xuất của sân khấu và những nét đẹp phi vật thể của thi ca Tuy nhiên, điện ảnh vẫn tự phát triển cho mình một hướng đi riêng, tạo nên những giá trị riêng trong thế giới thẩm

mĩ của con người, và như bao loại hình nghệ thuật khác, điện ảnh cũng có cách thức của riêng mình để phải phản ánh và tái tạo cuộc sống

Phim ngắn, một trong những thể loại của điện ảnh, cũng mang đầy đủ những đặc trưng của bộ môn nghệ thuật này Cùng với sự phát triển về tư duy nghệ thuật, thị hiếu thẩm mĩ, và với nhu cầu thưởng thức ngày càng cao, phim ngắn cũng đang dần hoàn thiện mình, trở thành một thể loại nghệ thuật thực sự, mang những đặc tính riêng biệt và tìm kiếm một lối kể riêng về thế giới

Khái niệm phim ngắn tuy đã xuất hiện từ lâu, chúng ta nghe đã quen tai, nhưng vấn

đề tiếp xúc với thể loại này từ góc nhìn lý luận chuyên môn ở Việt Nam vẫn còn mơ hồ

và mờ nhạt Chính vì thế, chúng tôi chọn đề tài “Tìm hiểu về thể loại phim ngắn” như một cách thức để nghiên cứu về phim ngắn dưới góc nhìn lý luận và khoa học hơn, bóc tách dần những bản chất và những đặc trưng riêng biệt của phim ngắn nhằm định hình thể loại này giữa rất nhiều những thể loại điện ảnh khác

Trang 5

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiện nay, trước sự phát triển của các loại hình nghệ thuật nghe–nhìn, trong đó, nổi bật nhất là điện ảnh, việc nghiên cứu cụ thể các thể loại riêng biệt là rất cần thiết Tuy nhiên, cả trong và ngoài nước, các công trình nghiên cứu, xuất bản, đa số chỉ nghiên cứu điện ảnh nói chung Riêng về thể loại phim ngắn, phần lớn chỉ dừng lại ở phương diện kỹ thuật làm phim.Ở Việt Nam, trước tình hình bùng nổ của các dự án điện ảnh, đã có nhiều cuộc thi phim ngắn được tổ chức, khơi dậy phong trào làm phim ngắn trong nước Tuy vậy lượng tài liệu hỗ trợ còn khá ít ỏi Nếu nói riêng về mảng nghiên cứu thì vẫn chưa có nhiều những công trình chuyên môn đi sâu tìm tòi loại hình nghệ thuật này Chính vì thế nên sau đây, chỉ xin giới thiệu một số tài liệu tiếng anh mà chúng tôi đã thu thập được Thật ra, hiện nay trên thế giới cũng có rất ít tài liệu nghiên cứu về thể loại phim ngắn Không còn nhiều tài liệu tập trung nghiên cứu thể loại này nữa Trong từ điển điện

ảnh The Film Encyclopedia của Ephraim Katz, đã sớm có định nghĩa về phim ngắn với

nhiều đặc tính khác nhau, chẳng hạn như đó có thể là nơi thử nghiệm các tài năng nghệ thuật mới hay những kỹ thuật điện ảnh đặc biệt, hay đó cũng chính là nơi biểu lộ những nét đẹp nghệ thuật hay điểm nhìn xã hội Tiếp theo đó, chúng tôi còn tìm thấy một số bài báo bàn về những vấn đề xoay quanh phim ngắn dưới góc nhìn thể loại, chẳng hạn như

Rebecca Davies trong bài viết “The long history of short films” đăng trên tờ The Telegraph, Reinhard W Wolf với bài“What is cinema – what is short film” được phổ biến trên website Das Kurfilmmagazin, Robert P Simon với“What is a short film?”trên trang Info Guru (Catalogs.com) hay Suchandrika Chakrabarti cùng bài luận “Short films:

An art form in themselves” trên Spiked-online Mỗi bài viết lần lượt đem đến cho chúng

tôi những góc nhìn khác nhau về thể loại này, dần mở ra một hình dung cụ thể về tình hình nghiên cứu phim ngắn trên thế giới

Trang 6

Tiếp theo, trong phạm vi khảo sát tài liệu, chúng tôi có tham khảo được quyển In

short: A Guide to Short Film-making in Digital Age của Eileen Elsey and Andrew Kelly

được phát hành bởi Viện phim Anh (British Film Institude), in lần đầu năm 2002 và tái bản vào 2005 và 2010 tại London Đây được xem là một trong những tài liệu đầu tiên nghiên cứu phim ngắn dưới cái nhìn học thuật, xem đây như một thể loại điện ảnh độc lập, cần nghiên cứu Tuy nhiên, các tác giả chỉ dừng lại ở việc giới thiệu vị trí của phim ngắn trong lĩnh vực điện ảnh nói chung rồi sau đó tập trung khai thác những cuộc phỏng vần đối với các nhà làm phim Trong những bài phỏng vấn đó, tác giả có định hướng để các đạo diễn đưa ra những luận giải về bản thân thể loại này Cuối cùng, quyển sách đi đến những lí giải và phân tích về mối quan hệ giữa nhà làm phim trong bối cảnh hiện với những nguồn tài trợ và các kênh thông tin, quảng bá, phát hành Nhìn chung, đây là tài liệu sâu sát nhất về quá trình sản xuất phim ngắn Bên cạnh quyển này chính là cuốn

Producing and Diredting the Short film and Video của Peter W Dea và David K Irving

được xuất bản bởi Focal Press, cũng viết khá tốt về quá trình này Ngoài ra là hang loạt những sách chỉ đơn thuần hướng dẫn một cách tổng quát cách làm phim ngắn dành cho

những nhà làm phim lần đầu tiên muốn thử sức sản xuất một bổ phim ngắn như Making

Short Films: The Complete Guide from Script to Screen của Clifford Thurlow được in

bởi Berg Publishers năm 2008 hay How Not to Make a Short Film- Secrets from a

Sundance Programmer của Roberta Marie Munroe

Về cách nghiên cứu phim ngắn dưới góc nhìn kỹ thuật xây dựng kịch, chúng tôi có tiếp cận một trong những tài liệu tiêu biểu nhất Đó là quyển sách cảu hai tác giả Pat

Cooper Ken Dancyger mang tên Writing the short film và tài liệu của UNESCO với tên gọi Script writing for short films–Reports and Papers on Mass Communication của James

A Beveridge, được viết vào năm 1969

Cuối cùng là những công trình nghiên cứu dưới dạng thống kê vào khảo sát từ lượng phim được sản xuất cho tới những nguồn quỹ tài trợ cho hoạt động sản xuất của

Trang 7

thể loại này Tài liệu sớm nhất mà chúng tôi được tiếp cận chính là một tiểu luận của Paul

Léglise viết cho UNESCO vào năm 1960 với tựa đề: Methods of Encouraging the

Production and Distribution of Short Films for Theatrical Use (Documentes and Films

on art, science and Culture for Commercial Exhibition) Trong những năm gần đây thì có

một số các công trình như củaEmma Blomkamp với Framming Short Film: Cultural

Nationalism and Economic Rationalismin New Zealand Film Policy hay Jason Beaudry,

Jennifer Chen và Shane Smith với Short Film Research Study

Vốn là một thể loại có bề dày lịch sử, phim ngắn ít nhiều đã được quan tâm khảo sát như một trong những đối tượng quan trọng của nghệ thuật điện ảnh Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi sẽ rà soát lại lịch sử thể loại, đồng thời thử phân loại phim ngắn dựa trên một số tiêu chí nhất định Bên cạnh đó, chúng tôi sẽ đưa ra một vài kiến giải về đặc trưng của thể loại, xác định những thủ pháp nghệ thuật của phim ngắn Cuối cùng, công trình sẽ

có vài nét phác họa đối với diện mạo và quá trình sản xuất của phim ngắn trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

3.1 Mục đích

Đề tài nghiên cứu cụ thể phim ngắn dưới góc nhìn thể loại, với đầy đủ các đặc trưng của một loại hình nghệ thuật độc lập, để từ đó cung cấp cho người đọc một cái nhìn tổng quát về thể loại phim ngắn vẫn còn khá mới mẻ này, đồng thời làm rõ những đặc điểm của phim ngắn, đặc biệt là ở phương diện kịch bản, trong mối tương quan với thể loại truyện ngắn của văn học

Trang 8

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp loại hình: nghiên cứu phim ngắn dưới góc nhìn thể loại với những đặc điểm riêng biệt

- Phương pháp nghiên cứu thi pháp học: vận dụng lý thuyết thi pháp học nhằm làm

rõ các biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong các tác phẩm phim ngắn

- Phương pháp so sánh: đặt kịch bản phim ngắn trong mối tương quan với các thể loại khác của điện ảnh như phim truyện dài và thể loại truyện ngắn của văn học

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: đặt phim ngắn của điện ảnh trong mốt liên hệ với các bộ môn nghệ thuật khác như văn học, kịch nghệ, qua đó, thử vận dụng những lý thuyết trong các ngành nghệ thuật ấy vào quá trình nghiên cứu thể loại này

5 Giới hạn của đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu thể loại phim ngắn trong những giai đoạn đầu tiên của lịch sử phim ngắn cho đến giai đoạn hiện nay, vận dụng những kiến thức căn bản về điện ảnh để phân tích phim ngắn dưới góc nhìn nghệ thuật

Trang 9

- Giúp tháo gỡ một vài hiểu lầm trong vấn đề về khái niệm, về tên gọi… định hình

và khôi phục nguyên mẫu một số hiểu biết chính thống về điện ảnh

8 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần dẫn nhập, đề tài còn có 3 phần sau:

- Chương 1: Khái niệm và lịch sử phim ngắn

Chương này gồm 69 trang, từ trang 13đến trang 81

Trang 10

- Chương 2:Đặc trưng nghệ thuật của phim ngắn

Chương này gồm 43 trang, từ trang 82 đến trang 124

- Chương 3: Một vài nét phác thảo về tình hình phát triển của phim ngắn

Chương này gồm 32 trang, từ trang 125 đến trang 156

Trang 11

CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VÀ LỊCH SỬ PHIM NGẮN

1.1 Khái niệm phim ngắn

1.1.1 Định nghĩa phim ngắn

Phim ngắn (short films) vốn có một lịch sử phát triển dài và nhiều thăng trầm Thậm chí đến ngày nay, thể loại này vẫn chưa có được bất kỳ một định nghĩa nào rõ ràng và thống nhất Được đặt trong mối tương quan với phim truyện (feature films), người xem thường hình dung phim ngắn một cách hết sức chung chung Nếu như một phim truyện thông thường có độ dài tối thiểu nằm trong khoảng một giờ đồng hồ thì thời lượng của một phim ngắn thường được cho là sẽ phải thấp hơn độ dài đó, nghĩa là từ 60 phút đổ xuống Nhưng rất ít người chấp nhận quy chuẩn này bởi nó hết sức mơ hồ, thiếu rạch ròi Nếu phân chia một cách cứng nhắc như vậy thì chỉ cần hơn kém vài phút, một phim ngắn

có thể trở thành phim truyện và ngược lại.Chính vì thế, việc xác định chính xác thời lượng cho hai thể loại này là khá phức tạp Tuy nhiên, các nhà làm phim lại có một giải pháp hết sức đơn giản, đó chính là khi xác định sẽ sản xuất một bộ phim ngắn hay phim truyện, họ thường lựa chọn những “khung” thời lượng phổ biến của từng thể loại để tránh

sự nhập nhằng trong công tác quảng bá và trình chiếu Nếu như thời lượng phổ biến ấy trong phim truyện là khoảng 90 phút thì trong phim ngắn thường được cắt giảm từ dưới

60 phút xuống còn khoảng 45 phút, nghĩa là bằng một phần hai phim truyện, một khoảng cách lí tưởng đủ để khu biệt hai thể loại này Hiện nay, trong các ấn phẩm nghiên cứu, xuất bản về phim ngắn, chúng ta dễ thấy xuất hiện rất nhiều cách phân định dung lượng của thể loại này, nhưng tập trung thành 3 xu hướng chính Thứ nhất, định nghĩa phim ngắn như một thể loại có độ dài từ 15 phút trở xuống, nghĩa là bằng với những phim ngắn thời kỳ đầu, vốn không thể dài quá một cuộn (cũng xấp xỉ khoảng 14 phút), theo như từ điển thuật ngữ điện ảnh trên website của trường Điện ảnh và Truyền hình Quốc tế Eicar (The International Film and Television School) Thứ hai, thời lượng của phim ngắn được

Trang 12

giới hạn trong vòng 30 phút trở xuống Quan niệm này khá phổ biến, xuất hiện trong

quyển In short: A Guide to Short Film–making in the Digital Age của Eileen Elsey và Andrew Kelly, trong bách khoa toàn thư điện ảnh, The Film Encyclopediacủa Ephraim

Katz và rất nhiều những bài báo khác[33] Và cuối cùng là cách được công nhận nhiều nhất bởi các liên hoan phim và giải thưởng danh tiếng trên thế giới, định nghĩa phim ngắn như một thể loại có độ dài tối đa lên đến 40–45 phút Cụ thể là đã có rất nhiều hội đồng chuyên môn hay cơ sở dữ liệu điện ảnh đã cùng chia sẽ quan điểm này này với nhiều tương đồng và khác biệt

Trước tiên, ta cần đề cập đến một trong những giải thưởng điện ảnh lớn nhất hành tinh được trao tặng bởi hội đồng chuyên môn đến từ nền công nghiệp điện ảnh phát triển mạnh mẽ nhất hiện nay Đó chính là Giải thưởng Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hoa Kì (thường được gọi tắt là Academy Awards hay Oscar) Hội đồng xét duyệt của giải thưởng này đã đưa ra những quy định sau dành cho những phim ngắn dự giải: “Phim ngắn được định nghĩa là những tác phẩm điện ảnh hoàn chỉnh với độ dài từ

40 phút trở xuống, bao gồm cả phần thông tin giới thiệu phim.” (“A short film is defined

as an original motion picture that has a running time of 40 minutes or less, including all credits.”)[17] Định nghĩa này cũng tương tự như quy định của Giải thưởng Viện Hàn lâm Điện ảnh và Truyền hình Anh (British Academy of Film and Television Arts Awards), thường được gọi tắt là BAFTA Trong khi đó, Liên hoan phim Cannes (Festival de Cannes) được tổ chức thường niên tại Cannes (Pháp) lại chỉ chấp nhận thời lượng tối đa cho một phim ngắn tham dự là 35 phút Ngoài ra, tại trang IMDb (Internet Movie Database), một trong những cơ sở dữ liệu điện ảnh lớn nhất hiện nay trên Internet, đã dựa trên tiêu chí sau để khu biệt phim ngắn: “Phim ngắn bao gồm tất cả các phim chiếu rạp hay các tựa phim chép đĩa với thời lượng ít hơn 45 phút, nghĩa là từ 44 phút trở xuống, hay các series truyền hình, phim truyền hình với độ dài ít hơn 22 phút, nghĩa là từ 21 phút trở xuống Một chương trình truyền-hình-nửa-giờ sẽ không được xem như một phim

Trang 13

ngắn.” (“Short films are any theatrical film or made-for-video title with a running time of less than 45 minutes, i.e., 44 minutes or less, or any TV series or TV movie with a running time of less than 22 minutes, i.e 21 minutes or less A “half-hour” television program should not be listed as a Short.”)[38] Chúng ta có thể thấy rằng, với mục tiêu xây dựng một kho lưu trữ thông tin đồ sộ về tất cả các phim được sản xuất từ cổ chí kim, IMDb đã có sự phân định rạch ròi về thời lượng của các phim ngắn Ngoài ra, ở kênh thông tin này còn có sự phân chia các thành phần thuộc bản thân thể loại phim ngắn Nói cách khác, IMDb đã có sự phân biệt giữa phim ngắn được chiếu trên truyền hình, phim ngắn chiếu rạp, phim ngắn được chép đĩa, các dạng chương trình truyền hình với khung thời gian nửa giờ Điều này làm nảy sinh một vấn đề khác nằm ngoài dung lượng Đó chính là nội hàm cụ thể của khái niệm “phim ngắn” có thể bao gồm những gì? Phim truyền hình, series truyền hình, phim tài liệu, phim giáo dục, video ca nhạc (music videos)…có được xem là phim ngắn hay không?

Có rất nhiều quan điểm khác nhau trong việc khác định nội hàm của khái niệm

phim ngắn Trong quyển In Short: A Guide to Short Film-making in Digital Age của

Eileen Elsey và Andrew Kelly, các tác giả tuyên bố chỉ khảo sát phim tự sự ngắn, video

ca nhạc và các clip quảng cáo, thương mại, bỏ qua các dạng phim ngắn giáo dục trẻ em, phim ngắn trừu tượng của trào lưu avant-garde (một trào lưu nghệ thuật của Châu Âu mà chúng tôi sẽ đề cập ở những phần sau), và phim tài liệu ngắn Ngay cả tại các giải thưởng cũng có sự khác nhau trong việc xác định phạm vi của thể loại này Nếu như Oscar chia phim ngắn thành ba dạng: phim tài liệu ngắn, phim hoạt hình ngắn và phim ngắn quay thực (tạm dịch khái niệm “live-action short films”) với ghi chú rõ ràng rằng: “Phim tài liệu ngắn sẽ không được chấp nhận trong hạng mục phim ngắn quay thực” (“Document short subjects will not be accepted in the live action category”) Tương tự, trong quy chế tham dự giải BAFTA, ở hạng mục phim ngắn cũng có lưu ý như sau: “Những phim này phải là hư cấu.” (“The film must be fiction”) nhưng lại có dòng chú tiếp theo sau đó

Trang 14

nhằm nới lỏng quy định trên, phòng trường hợp có những ngoại lệ nhất định: “Hội đồng xét duyệt có thể sử dụng quyền hạn của mình để chấp nhận những nội dung có kịch bản căn cứ trên sự thực.” (“However, the jury may use its discretion to accept dramatised factual subjects.”) Điều đó cho thấy rằng, tùy theo tiêu chí của mình, người khảo sát có thể xác định nhiều nội hàm khác nhau cho khái niệm “phim ngắn” Riêng trong phạm vi

đề tài này, với định hướng quan sát phim ngắn như một thể loại độc lập với những tiêu chí nghệ thuật nhất định, chúng tôi cũng đưa ra cho mình một phạm vi cụ thể cho khái niệm “phim ngắn” Theo đó, để đảm bảo tính vô vị lợi của một loại hình nghệ thuật, chúng tôi không khảo sát những loại video clip ngắn được sản xuất vì những mục đích phi nghệ thuật Theo đó, những dạng video ca nhạc, quảng cáo, tuyên truyền, giáo dục…đều được đặt ngoài phạm vi khảo sát

Nói tóm lại, từ đây cho đến hết đề tài, khi nhắc đến khái niệm phim ngắn, chúng tôi xin thống nhất đó là những phim có độ dài từ 45 phút trở xuống, bao gồm phim tự sự ngắn, phim tài liệu ngắn và các loại phim thể nghiệm nghệ thuật Cụ thể các dạng phim ngắn được sản xuất để trình chiếu trên màn ảnh rộng (chiếu kèm phim truyện hay chiếu theo tập hợp nhiều phim ngắn), trên truyền hình (các dạng series nhiều tập với từng tập

có nội dung tương đối độc lập, thường được gọi là “sitcom” hay “soap opera”) hay trên mạng Internet (đa phần là các phim nghiệp dư, do những người yêu thích điện ảnh, sinh viên chuyên ngành tự sản xuất).Ngoài ra, chúng tôi không xét đến bất kỳ dạng video clip ngắn nào nằm ngoài ngoại diên đã xác định

1.1.2 Phim ngắn trong tương quan với video ngắn

Chúng ta thường nghe đến khái niệm “video ngắn”(hay video clip, gọi tắt là clip) thường được nhắc đến nhiều trong đời sống hằng ngày, ví dụ như “clip ca nhạc”, “clip phóng sự”, “clip phỏng vấn”, “clip quảng cáo”… Từ điển Longman định nghĩa về khái niệm này như sau: “một (trích) đoạn ngắn của một bộ phim hay một chương trình truyền

Trang 15

hình, được thể hiện một cách độc lập, điển hình là những mẫu quảng cáo” (“a short part

of a film or television programme that is shown by itself, especially as an advertisement”) Qua đó, ta có thể thấy rằng một “clip” sẽ có hai tính chất, thứ nhất là tính ngắn, thứ hai là tính độc lập Vậy, với những tính chất tương tự, liệu phim ngắn có gì khác so với một video clip?

Trước hết, về tiêu chí “ngắn”, chúng tôi sẽ xét cả hai thể loại này trên hai phương diện: thời lượng và nội dung thể hiện Nhìn chung,giữa phim ngắn và các dạng video ngắn không có nhiều sai biệt về mặt thời lượng, chủ yếu đều từ vài phút đến khoảng 40 phút Tuy vậy, do hầu hết video ngắn đều mang tính chất thời sự, giới thiệu, quảng cáo, đậm tính minh họa và ít chú trọng đến giá trị nghệ thuật nên chúng thường rất ngắn, chỉ tầm vài phút, đôi khi chỉ vài chục giây, thường thấy ở các video quảng cáo Phim ngắn thì ngược lại, chỉ có những phim dạng thể nghiệm, có kết cấu đặc biệt, mới được sản xuất với thời lượng cực ngắn để tạo hiệu ứng nghệ thuật (thường được gọi là phim cực ngắn) Còn đa phần phim ngắn, do mang tính tự sự nên thời lượng phải vừa đủ để kể, truyền tải thông điệp và ý tưởng cốt truyện,nghĩa là phải ở tầm 10 phút trở lên

Về mặt nội dung thể hiện, tính “ngắn” giữa video clip và phim ngắn có một sự khác biệt rõ rệt Chúng ta thường hay gọi các đoạn ghi hình phóng sự, phỏng vấn, ca nhạc, quảng cáo sản phẩm hay giới thiệu phim ảnh(còn được gọi là trailer hay teaser) là clip, chứ không ai gọi chúng là phim ngắn cả Và ngược lại, ta cũng không thể gọi một phim ngắn là clip được Như vậy, tuy rằng phim ngắn và video clip tương tự nhau về mặt thời lượng, nhưng ranh giới về mặt nội dung vẫn tách chúng thành hai thể loại biệt lập.Nội dung của video clip thường mang tính xã hội và tính đại chúng cao Chúng xoay quanh những vấn đề thời sự, đời thường, dễ hiểu, phù hợp với nhiều đối tượng khác nhau Vì cứu cánh của video ngắn là quảng cáo sản phẩm, cung cấp thông tin, phổ cập tri thức… nên nội dung của các clip luôn có phần đơn giản, dễ tiếp thu, dễ phân tích, thẩm thấu Tính ngắn của video clip là ngắn theo nghĩa đen, bởi chúng là những mẫu tin nhỏ, những

Trang 16

mẫu quảng cáo nhỏ vốn không thể được làm một cách dài dòng và rối rắm Chúng cần sự ngắn gọn, nhanh chóng, bộc trực; cần được cắt gọt sao cho vừa vặn để thông tin được truyền tải một cách đầy đủ nhất nhưng không dư thừa, nhàm chán Và vì thế nên chúng ngắn Cái ngắn của video clip là cái ngắn đơn thuần bởi yêu cầu thực tế, bởi mục đích thương mại Trong trường hợp của các video ca nhạc, độ dài của ca khúc cũng chính là yếu tố quyết định tính ngắn của video clip.Ngược lại, phim ngắn, với tư cách là một thể loại thuộc nghệ thuật điện ảnh, hẳn nhiên nội dung của chúng không được xây dựngđơn giản, không mang tính phổ biến nhiều như các video clip Phim ngắn phải có một kết cấu hoàn chỉnh, hay đơn giản là một kịch bản mang tính hình tượng cao,giàu tính sáng tạo Đối tượng thưởng thức phim ngắn không đại trà, đó là một lớp công chúng có thị hiếu thẩm mĩ ở một mức độ nhất định, vừa đủ để có thể tiếp nhận được những tín hiệu nghệ thuật từ các hình tượng điện ảnh trong phim ngắn Phim ngắn cũng không mang nặng tính quảng cáo, quảng bá, không bị quy định bởi thị trường thương mại Thay vào đó,việc chuyển tải nội dung nghệ thuật được đặtlên hàng đầu Đối lập với video clip, yếu tố

“ngắn” ở phim ảnh được tạo nên bởi sự ẩn dụ cô đọng trong các hình tượng nghệ thuật Chúng ta cần hiểu rằng,dung lượng ngắnở đây không chỉ đơn thuần được đánh giá dựa vào tư duy đo lường, không chỉ là về vấn đề thời lượng, không bó hẹp trong tương quan của những độ dài khác nhau, mà đó chính là đặc trưng cho sức nén mạnh mẽ tiềm tàng

mà thể loại đặc biệt này có được Phim ngắn tạo cho người xem cảm giác ngắn, không phải vì chúng ngắn thực, mà là vì chúng còn nói rất nhiều điều thông qua vỏn vẹn mấy mươi phút ấy Chính cái lực nén cô đúc kia đã làm nên giá trị nghệ thuật đặc thù cho phim ngắn, khiến chúng trở thành một thể loại riêng biệt giữa nhiều thể loại nghệ thuật khác

Với những đặc tính về nội dung khác biệt nhau, phim ngắn và video clip cũng có những cách thức riêng, những lối kể riêng, những kỹ thuật riêng để phục vụ cho việc truyền đạt ý tưởng của mình Ở video ngắn, tiêu chí đầu tiên đối với kỹ thuật điện ảnh là

Trang 17

phải làm sao để nội dung cần truyền tải đến được mắt và tai của người xem một cách nhanh gọn nhất, trực tiếp nhất Lời thoại cũng dễ hiểu, các nhân vật mang tính cách đơn giản, tâm lý không phức tạp Ngôn ngữ của một video ngắn thiên về tính thông tin, tính minh họa Riêng vớiclip ca nhạc, chúng ta có thể thấy hình ảnh là một sự minh họa trực tiếp cho lời bài hát, làm sao để người xem thêm cảm xúc về bài hát ấy Chính yếu tố cảm xúc này đã khiến các video ca nhạc phần nào có khí chất nghệ thuật Do đó, chúng cũng được xem như một thể loại riêng, ngày càng được đầu tư khá kỹ lưỡng về mặt kịch bản, tuy vậy chúng ta vẫn không thể gọi đó là phim ngắn, bởi ngôn ngữ chủ đạo của các music video vẫn là âm nhạc, là ca từ, là giai điệu thay vì lời thoại và diễn biến tâm lí, tình huống như trong điện ảnh chính thống Và quan trọng hơn hết, mục tiêu cuối cùng của video ca nhạc vẫn là quảng bá cho bài hát, cho ca sĩ, một dụng ý mang đậm tính thương mại, phụ thuộc rất nhiều vào thị trường Còn ở phim ngắn, đó là một đẳng cấp khác biệt về việc quay phim, cắt dựng… Bởi đòi hỏi của phim ngắn khác hẳn với video clip Yêu cầu cao hơn về giá trị nghệ thuật buộc người làm phim phải nghiêm túc trăn trở, khám phá và sáng tạo nhiều hơn Bất kỳ một khung hình nào cũng đều chứa đựng ý đồ của đạo diễn Tất cả những sự sắp đặt, biên tập đềucó dụng ý Một động thái chỉnh tiêu cự, phóng to hay thu nhỏ của máy quay, một khung hình đặc tả, một chi tiết lấy sáng… mỗi thứ đều mang tính gợi mở về cả hình thức lẫn nội dung nghệ thuật Chúng là những yếu tố vô cùng cần thiết và quan trọng trong điện ảnh, và đối với phim ngắn, chúng lại càng phải được đầu tư một cách công phu, tỉ mỉ để đảm bảo được tính cô đọng, sức dồn nén cho phim

Thứ hai, khi xét đến tính độc lập,ta dễ thấyđây cũng là tính chất của một phim ngắn, video ngắn hay bất kỳ một thể loại điện ảnh nào khác Nghĩa là một clip, dù có được trích

ra, cắt ra từ một thực thể mẹ lớn hơn, thì khi đem ra trình chiếu nó vẫn có đủ sức để đứng một mình, người xem vẫn có thể hiểu chúng đang nói gì và mục đích của chúng đang hướng tới điều gì Tiêu biểu là các trailer hay các đoạn teaser, chúng là sự cắt ghép các

Trang 18

cảnh quay từ một sản phẩm sân khấu điện ảnh hoàn chỉnh, được tung ra trước khi sản phẩm được công chiếu/công diễn, nhằm quảng bá, giới thiệu và tăng sức hấp dẫn, tăng sự

tò mò của khán giả về bộ phim hay một sản phẩm sân khấu sắp được ra mắt Tuy vậy, chúng vẫn có tính độc lập của riêng mình, người xem vẫn hiểu và háo hức muốn thưởng thức đầy đủ sản phẩm sân khấu điện ảnh đó Chính vì khả năng độc lập tự thân này, mà chúng ta thường gặp phải trường hợp khi xem trailer thì cảm thấy phim rất hay, nhưng khi đi xem phim đầy đủ rồi mới hụt hẫng vì phim quá tồi Hoặc ngược lại, trailer phim không có gì ấn tượng nhưng phim lại là một hiện tượng điện ảnh sau này Những trường hợp trên cho thấy, bản thân các trailer nói riêng và video ngắn nói chung có một sức mạnh riêng biệt Chúng tạo ra một hấp lực riêng và nếu không hiểu điều này, không khéo nhà sản xuất sẽ khiến các trailer trở nên sai lệch với những gì mà bộ phim nói tới.Còn đối với các thể loại khác trong điện ảnh chính thống, bao gồm cả phim ngắn thì không cần phải bàn cãi, chúng là những sản phẩm hoàn chỉnh và độc lập, là những công trình sáng tạo và là những đứa con tinh thần của đạo diễn Chúng có đời sống riêng và một sức hút riêng

Nếu không hiểu rõ về tính độc lập, tự thân này, rất nhiều người có thể sẽ lầm lẫn, và thực tếđã chứng minh điều đó Các tình trạng hiểu sai tiêu biểu như: bất cứ đoạn băng nào độc lập ta cũng gọi là clip, hoặc bất cứ một đoạn băng nào miễn ngắn thì đều được gọi là clip, không cần biết chúng có độc lập hay không Trong đời sống hằng ngày ta vẫn

nghe những câu nói dạng như: “Bạn có thể chép mấy cái clip phim vào USB cho mình

không?” Nghĩa là, nội hàm của khái niệm clip trong ngôn ngữ hiện nay đã trở nên bao quát và mở rộng hơn Bất cứ cái gì, dù thể loại nào, miễn chúng là băng ghi hình, thì ta gọi là clip Clip trở thành một danh từ chung chỉ tất cả các thể loại điện ảnh lẫn phi điện ảnh, và đó là một sự nhầm lẫn không đáng có Trở lại với nghĩa gốc của chữ “clip”, ta sẽ hiểu được bản thân “clip” cũng có những giá trị riêng và không thể bị gán ghép bừa bãi

và gọi tên một cách tùy tiện được

Trang 19

Tóm lại, giữa video clip và phim ngắn có sự tương đồng về thời lượng, và sự khác biệt về nội dung chứa đựng và hình thức biểu hiện Đây là hai tiêu chí cốt lõi và quan trọng nhất giúp khu biệt chúng thành hai thể loại riêng, phục vụ cho những mục đích và những đối tượng khác nhau Nhìn từ mối tương quan giữa hai thể loại, ta thấy rõ một điều rằng, cả video ngắn và phim ngắn đều có những nhiệm vụ riêng của nó Chúng đều cùng đáp ứng cho một số yêu cầu nhất định, chính vì vậy chúng có thể giao thoa, nhưng không bao giờ là một Bởi thế, một video ngắn vẫn sẽ giữ nguyên giá trị về mặt đại chúng, trong khi phim ngắn sẽ vẫn tồn tại như là một chỉnh thể nghệ thuật, đem lại những cảm xúc khác, ý nghĩa khác cho công chúng thưởng ngoạn

1.1.3 Phim cực ngắn như một dạng phim ngắn đặc biệt

Sau phân biệt phim ngắn với những dạng video ngắn khác, ta quay lại với vấn đề dung lượng của bản thân thể loại này Mặc dù đã xác định được độ dài tương đối của một phim ngắn là từ 45 phút đổ xuống nhưng từ đó lại dẫn đến một vấn đề đang rất được quan tâm trong thời gian gần đây là tại sao lại xuất hiện thêm khái niệm “phim cực ngắn” (“short short film” hay “short shorts”) Phải chăng đây lại là một thể loại mới, vừa manh nha kể từ đầu thế kỷ XXI, khi nó ngày càng được sản xuất nhiều vô kể? Nó có điểm gì khác biệt so với phim ngắn thông thường hay đơn thuần chỉ là một khái niệm thuộc một

hệ thống phân chia thời lượng phức tạp khác nằm trong bản thân phim ngắn?

Thật ra, có rất nhiều quan điểm về việc phân chia thời lượng của phim ngắn Trước đây, vào buổi đầu của điện ảnh, còn có cả một khái niệm dành riêng cho phim ngắn ở mức dung lượng cao nhất, gọi là “featurette” để chỉ những phim truyện khoàng 30-45 phút, với hậu tố “tte” mượn từ tiếng Pháp để phân biệt với chữ “feature” trong thuật ngữ phim truyện dài (“feature film”) Một điều khá thú vị nữa là, trong lịch sử giải Oscar, dung lượng phim ngắn lại chỉ được phân chia thành hai hạng mục duy nhất: một cuộn (one reel-khoảng 14 phút) và hai cuộn (two reels-khoảng 30 phút) Cách phân chia này

Trang 20

tồn tại từ 1936 đến 1956 với hai danh hiệu: “phim ngắn một cuộn hay nhất” (Best Short Subject, One-reel) và “phim ngắn hai cuộn hay nhất” (Best Short Subject, Two-reel) Đây cũng chính là thời lượng phim ngắn được sản xuất nhiều nhất cho đến ngày nay, có thể được coi là “khung” dung lượng phổ biến Bên cạnh đó, ta cũng có thể thấy rằng, chính đơn vị độ dài tính bằng cuộn này đã góp phần khu biệt và phân mảng những mức quy chuẩn khác nhau về độ dài của phim ngắn, phân biệt giữa phim có độ dài trung bình (một cuộn hoặc hai cuộn hay 15-30 phút) với dạng phim ngắn có độ dài tối đa, ở tầm 40-45 phút và dạng phim ngắn có độ dài tiết chế đến mức tối thiểu, khoảng dưới 5 phút Theo

đó, nếu như những phim có độ dài tối đa góp phần đẩy xa khoảng cách giữa phim ngắn

và phim truyện thì những phim có thời lượng tối thiểu lại có xu hướng hình thành một dạng đặc biệt của phim ngắn mà ngày nay thường được biết đến với tên gọi “phim cực ngắn” Để hiểu rõ hơn về dạng phim ngắn đặc biệt này, ta cần trở lại với xu hướng tiết chế độ dài của phim ngắn nói chung

Như ta đã biết, khái niệm phim ngắn đã nghiễm nhiên được chấp nhận ngay từ những ngày đầu như một dạng tiền thân của điện ảnh với hai xu thế làm phim chính Một

là quan tâm đến việc kéo dài độ dài, hai là tập trung trau chuốt cho nội dung tác phẩm Cụ thể là, khi các đạo diễn đã có đủ điều kiện thể tập trung trau chuốt cho đứa con tinh thần của mình, phim ảnh thường được đẩy lên đến độ dài tốt đa, dài nhất có thể, chính xu hướng này đã đưa phim ngắn dần tiến ra ngoài khuôn khổ của mình mà hình thành phim truyện Thế nhưng, bên cạnh đó cũng có một bộ phận các nhà làm phim không quá chú trọng đến hiệu quả thương mại cũng như các đối tượng ưa chuộng những bộ phim có nội dung tự sự lê thê mà thay vào đó là những thể nghiệm nghệ thuật và không quan tâm đến vấn đề cải tiến dung lượng, các nhà làm phim đã tự giới hạn mình trong độ dài khoảng 30 phút Chính xu hướng này đã phần nào làm chậm lại những cuộc đua dung lượng trong điện ảnh thời kỳ đầu và góp phần hình thành những quy chuẩn nhất định về mặt dung

lượng cho thể loại phim ngắn Như Luis Buňuel với Un Chien Adalusia, dài 17 phút,

Trang 21

chẳng hạn,do hướng đến những mục tiêu của chủ nghĩa siêu thực, nên mối bận tâm của ông không phải là làm sao để phim mình dài hơn như D W Griffith(1875-1948), một trong những đạo diễn tiên phongtrong phong trào nối dài dung lượng phim, mà ngược lại, khiến cho nó không quá lan man mà mất tập trung là sự độc đáo và sắc sảo của hình ảnh Chính việc trao giải cho hai hạng mục phim ngắn có độ dài khác nhau của Oscar đã chứng minh một hiện thực rằng đã từng tồn tại một bộ phận nhà làm phim không có định tận dụng tối đa độ dài cho phép mà thay vào đó, tập trung hơn vào những yếu tố khác như cốt truyện, thủ pháp nghệ thuật hay những hình ảnh độc đáo, thứ đóng góp mạnh mẽ vào

sự khu biệt giữa các thể loại

Trở lại với phim cực ngắn, ta có thể thấy rằng, sự tiết chế về mặt dung lượng càng đóng vai trò quan trọng hơn bao giờ hết.Nó được biết đến như một yếu tố làm nên đặc trưng nghệ thuật của dạng phim này Không có quy chuẩn rõ ràng nào dành cho phim cực ngắn, một phần bởi bản thân tính ngắn trong phim ảnh đã mang tính tương đối, nghĩa là không chỉ phụ thuộc vào thời lượng, một phần là do yếu tố “cực ngắn” cũng khá dễ hình dung, chỉ cần phim nào không quá dài, được trình chiếu như một khoảnh khắc diễn ra chớp nhoáng thì đã có thể được hiểu là phim cực ngắn Theo một cuộc thi phim ngắn mang tên FILMSshort được mở vào những dịp cuối năm tại Mĩ với sự kết hợp với Daazo, một tổ chức chuyên phổ biến phim ngắn tại Châu Âu, thì phim cực ngắn (“short shorts” hay “short short films”) được định nghĩa là những phim có độ dài dưới 5 phút Đồng tình với ý kiến này, một nghệ sĩ Úc, David Griffith, người chuyên viết hàng loạt các bài giảng

về kỹ thuật làm phim ngắn hay chụp ảnh nghệ thuật đã cho rằng 5 phút là một trong 3 mức dung lượng của phim ngắn gồm: phim cực ngắn (short shorts), phim ngắn tầm trung (mid-length short film) và phim ngắn dài (long short film) Thực ra, giới hạn này chỉ là tương đối Với độ dài chỉ bằng một phần hai cuộn phim, khó có thể hình dung được người đạo diễn sẽ sắp đặt và cắt dựng như thế nào để cho ra đời một sản phẩm với đầy đủ tiêu chí của một phim ngắn chứ không đơn thuần chỉ là những hình ảnh vô nghĩa Ở các

Trang 22

giải thưởng lớn hơn, như Oscar hay Cannes, thường không phân biệt phim ngắn với phim cực ngắn Thậm chí, có những phim cực ngắn đã từng được đề cử ở hạng mục “Phim

ngắn/phim hoạt hình ngắn xuất sắc nhất” như Oktapodi (2007) của đạo diễn Pháp, Julien Bocabeille hay Gagarin (1995) của đạo diễn Nga, Alexei Khariditi và một số phim ngắn khác, hoặc thậm chí thắng của giải thưởng cao quý này nhưThe Crunch Bird (2 phút,

1971, Ted Petok, Joe Petrovich, and Len Maxwell), Charade (5 phút, 1984, John Minnis), Tin Toy(5 phút, 1988, John Lasseter), Geri's Game (5 phút, 1997, Jan Pinkava),

For the Birds(3 phút 28 giây, 2000, Ralph Eggleston) và The Chubbchubbs! (5 phút,

2002, Eric Armstrong) ở giải Oscar hay các phim 50 ans (3 phút, 1989, Gilles Carle),

Zikkaron (5 phút, 1971, Laurent Coderre), Blinkity Blank (5 phút, 1955, Norman

McLaren)… đều đã từng đoạt giải tại Cannes và nhiều liên hoan phim khác

Từ đó có thể khẳng định rằng, không hề có bất kỳ một giới hạn chất lượng nào dựa trên dung lượng của phim Nói cách khác, không thể dùng dung lượng mà so sánh chất lượng giữa phim cực ngắn với phim ngắn, làm như vậy chẳng khác nào so sánh giữa phim ngắn và phim truyện dài, một kiểu so sánh vô cùng khập khiễng Vậy, đặc tính của phim cực ngắn là gì mà có thể giúp chúng vừa giữa được dung lượng ấn tượng, vừa có thể tạo nên những hiệu ứng nghệ thuật đặc biệt?

Trước hết, dễ thấy rằng phim cực ngắn, với sự tối giản hoá về dung lượng của mình, có thể được xem như một dạng cô đặc của phim ngắn Nói cách khác, nếu muốn tìm hiểu những đặc trưng cơ bản nhất của phim ngắn, người ta sẽ phải xem một bộ phim cực ngắn Ở dạng phim này, những tính chất của phim ngắn được thể hiện rõ ràng hơn bao giờ hết Sự tối giản về cả nhân vật, bối cảnh, hành động, sự kiện và tình huống có thể được xem như một ví dụ Ta có thể thấy rõ hơn điều này khi phân tích phim ngắn dài 1

phút mang tên The Kiss(2005) của Toma Waszarow, một đạo diễn người Bulgary, đã

từng thắng hàng loạt giải thưởng ở khắp các liên hoan phim lúc bấy giờ trên toàn thế giới Suốt các cảnh phim, đạo diễn chỉ mô tả nụ hôn nồng cháy của một gương mặt phụ nữ

Trang 23

dành cho một gương mặt đàn ông bất động Để rồi, ở những phân cảnh cuối cùng của một phút ngắn ngủi ấy, một chiếc máy chém buông rơi lưỡi dao oan nghiệt của mình và chiếc đầu phụ nữ rơi ra, nằm cạnh chiếc đầu đàn ông Trước hết, ta thấy ở đây chỉ có duy nhất một chủ thể hành động, một bối cảnh, một tình huống, ngoài ra không còn gì khác Góc quay cũng được tiết chế đến mức tối đa, chỉ tập trung vào hai gương mặt, cái máy chém

và một vài ngoại cảnh Thế nhưng bấy nhiêu cũng đủ truyền tải, khắc hoạ rất sâu rất ấn tượng dành cho một nội dung nghệ thuật đa chiều mà đơn giản nhất chính là sự vượt thoát khỏi mọi rào cản của khát vọng hoá giải nỗi cô đơn của con người, bất chấp cái chết, bất chấp tuyệt vọng Một phút ngắn ngủi trên không chỉ gây ấn tượng mạnh mẽ bằng những hình ảnh đầy quyết liệt, thậm chí bạo lực mà hơn thế là sự đột ngột, dồn dập giữa các phân cảnh, khiến sự bất ngờ được đẩy lên tột độ Qua đó, ta thấy được những đặc trưng rất nổi bật của phim cực ngắn đặc biệt này Bên cạnh đó, cần phải lưu ý rằng,

dù rất nhiều phim cực ngắn có sự thay đổi liên tục về khung ảnh như trong Oktapodi

(2007) của Julien Bocabeille, toàn phim chỉ miêu tả cuộc trượt đuổi trên khắp các khu phố ven bờ biển, vì thế ngoại cảnh thay đổi liên tục từ cửa hàng bán bạch tuộc ra đến bờ biển, nhưng xét cho cùng, tất cả vẫn xoay quanh ba nhân vật chính và cùng một cuộc tẩu thoát Nghĩa là với dung lượng được giới hạn đến tối đa, tính sáng tạo của các nhà làm phim vẫn không hề thuyên giảm Dung lượng ngắn không phải là một dạng khuôn khổ kềm chế người nghệ sĩ, thay vào đó, nó dần trở thành một trong những phương tiện để các nhà làm phim thử thách chính mình

Từ đó ta có thể khẳng định rằng, phim cực ngắn đã thành một xu hướng riêng trong bản thân thể loại phim ngắn.Thật ra, xu hướng rút gọn độ dài này không phải là của riêng điện ảnh Trong các ngành nghệ thuật khác, tiểu biểu như ở văn chương, từ lâu đã

có sự hình thành một thể loại đặc biệt là “truyện cực ngắn” hay “truyện ngắn trong lòng bàn tay” Điều này chứng tỏ rằng, xu hướng cắt giảm độ dài có thể được xem như một trong những trào lưu đang dần hình thành và phát triển của nghệ thuật đương đại, như

Trang 24

một biểu hiện của phong cách sống của con người thế kỷ XXI, với văn hoá thông tin nhanh ngày càng phát triển Khi đó, những “mẩu” thông điệp dạng cực ngắn để dễ thu hút

sự chú ý của người xem ngày càng được ưa chuộng trong cách phương pháp truyền thông, thương mại, quảng cáo… Và phim cực ngắn chính là tín hiệu cho sự lấn sân của văn hoá thông tin này vào lĩnh vực nghệ thuật Trên thế giới hiện nay, trong sự nở rộ của những liên hoan phim ngắn, một số lễ hội, giải thưởng chỉ dành riêng cho phim cực ngắn cũng dần hình thành mà tiêu biểu là hai liên hoan phim One minute Film Festival ở Thuỵ

Sĩ và New York One minute Film Festival, được tổ chức tại New York, Hoa Kỳ Trong tương lai, với sự tiến bộ không ngừng của công nghệ làm phim, hy vọng phim cực ngắn

sẽ tiếp tục phát triển thành một trong những điểm nhấn của sự phong phú về mặt thể loại của điện ảnh thế giới

1.2 Lịch sử ra đời và phát triển của phim ngắn

Nếu như xem màn trình diễn đầu tiên cuả anh em nhà Lumière là cột mốc đánh dấu

sự ra đời của phim ảnh thì tính đến nay, bộ môn nghệ thuật này đã tồn tại hơn một thế kỷ,

đã trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử nhân loại Và phim ngắn, một thể loại vốn xuất hiện ngay từ buổi sơ khai cũng đã có một cuộc hành trình đầy đặn như chính bản thân điện ảnh vậy

1.2.1 Giai đoạn manh nha

Thật ra, vào buổi phát minh ra điện ảnh, tất cả các phim đều ngắn Đơn giản là vì vào thời điểm đó, điều kiện kỹ thuật không cho phép các nhà sáng tạo sản xuất những bộ phim truyện Những phim đầu tiên chỉ có thời lượng chừng vài phút, rồi sau đó được nâng dần lên, cho đến khi xuất hiện đơn vị “cuộn” (một cuộn phim truyện khoảng 14 phút), một trong những chuẩn mực đầu tiên của điện ảnh Hàng loạt các phim ngắn được

ra đời vào thời kỳ này Trong đó phải nhắc đến những thước phim đầu tiền tiên của anh

em Lumière, hai nhà tiên phong của điện ảnh thế giới Đó là Workers leaving the Lumière

Trang 25

factory, L'arrivée d'un Train en Gare, L’Arroseur arrosé và còn nhiều, nhiều phim khác

nữa Phải nói số lượng phim ngắn được sản xuất và trình chiếu ở giai đoạn này nhiều vô

kể Chỉ riêng đạo diễn danh tiếng người Mĩ D W Griffith, trong thời kỳ đầu của sự nghiệp mình, đã sản xuất hơn 450 phim ngắn Bryony Dixon, người quản lí và điều hành Liên hoan phim Câm Anh quốc (British Silent Film Festival) của Viện nghiên cứu Điện ảnh Anh quốc (British Film Institude) đã từng phát biểu về thời đại này như sau: “Cách thưởng thức điện ảnh phổ biến của thời bấy giờ là sử dụng những thính phòng âm nhạc hay các bãi đất rộng ở hội chợ hoặc triển lãm, nơi thường trình chiếu những chương trình dài khoảng 20 phút về rất nhiều hành động đa dạng và phong phú Đa phần những phim ngắn đầu tiên đều mô tả lại những loại hình giải trí sẵn có khác như: đèn lồng ma thuật,

ảo thuật, diễn xuất tự do hay biểu diễn hoạt cảnh Có thể nói, “ngắn” là một chuẩn mực.” (“The major outlets for entertainment at that time were music halls and fairgrounds, where programmes were made up of a variety of different acts lasting up to about 20 minutes Most early films imitated other entertainment media already in existence: magic lantern shows, illutrations, variety acts, tableaux presentations So short was the norm.”)[52] Thật ra, hiện tượng này cũng rất dễ hiểu Bởi lúc bấy giờ, điện ảnh chưa tạo được cho mình một diện mạo xác định nên với những bước chập chững đầu tiên, nó buộc phải tồn tại dưới dạng ngắn Có như thế, phim sẽ được sản xuất rất nhanh, kịp thời đáp ứng cho các rạp chiếu đang nở rộ lúc bấy giờ, chớp lấy thời cơ tìm kiếm lợi nhuận Phổ biến nhất trong thời kỳ này là mô hình những Rạp 5 xu (nickelodeons–người xem chỉ cần

bỏ ra 5 xu thì sẽ được vào xem những thước phim ngắn), chuyên phục vụ cho tầng lớp bình dân Có thể nói, phim ngắn thống trị thời đại sơ khai của điện ảnh thế giới Từ năm

1888 đến năm 1913, cùng với bước đi của điện ảnh, phim ngắn được sản xuất ở rất nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là Mĩ và châu Âu Tuy nhiên, phẩm chất nghệ thuật của phim ngắn lúc bấy giờ còn rất non trẻ Những thước phim đầu tiên chỉ đơn thuần bao gồm các hình ảnh được ghi lại một cách máy móc, thiếu hẳn một kết cấu cụ thể Chính vì thế mà

ta có thể hình dung ở thời kỳ này, thể loại phim ngắn chỉ vừa manh nha hình thành Sau

Trang 26

này, với nỗ lực đưa truyện kể vào kịch bản của các nhà biên kịch và đạo diễn, phim ngắn

đã dần có được một cấu trúc vững chắc hơn Trong số đó, phải kể đến những gương mặt nổi bật, những nhân vật tiên phong đã góp phần dựng nên nền tảng đầu tiên cho kỹ thuật điện ảnh nói chung, và phương pháp tự sự nói riêng Ở châu Âu, đó là Charles Chaplin (Anh), một biên kịch, diễn viên và đạo diễn đại tài từng làm say lòng bao thế hệ với gần

50 phim ngắn trong giai đoạn này, Lucien Nonguet (Pháp), Albert Capellani (Pháp) và Luigi Maggi (Ý), mỗi người sở hữu hơn 100 tác phẩm, Cecil M Hepworth (Anh) và Max Linder (Pháp) đã từng lần lượt đóng và đạo diễn hơn 200 phim ngắn hay như Oskar Messter (Đức) với hơn 350 phim, và đặc biệt hơn cả là Arturo Ambrosio (Ý) với sự nghiệp đồ sộ gồm hơn 1000 phim ngắn tính tới năm 1931 Ở nước Mĩ, đó chính là Georges Mélies(1861–1932), một trong những đạo diễn đầu tiên quyết định lập nghiệp do ông đã bị cuốn hút bởi sự choáng ngợp đến từ những màn trình diễn đầy ma thuật của anh

em nhà Lumière Để rồi sau đó, Mélies đã làm nên một sự nghiệp rực rỡ với trước tác gồm khoảng 550 phim ngắn, mà phần nhiều là các phim mang tính chất kỳ ảo với sự sáng tạo không biên giới trong thủ thuật dựng cảnh Đó chính là Alice Guy, một trong những đạo diễn nữ đầu tiên đã từng sản xuất gần 350 phim ngắn với những nội dung hết sức phong phú, đậm tính văn học Đó chính là Edwin S Porter(1870-1941), người đã làm nên

phát súng nổi tiếng với cách quay trực tiếp nòng súng chân thực đến kỳ lạ trong The

Great Train Robbery (1903) và hơn 270 phim ngắn khác Và cuối cùng, một nhân vật mà

ta đã nhắc đến từ trước, D W Griffith, người đã tiếp thu kỹ thuật của cả ba đạo diễn gạo cội Mélies, Guy và Porter để làm nên những thước phim đặc sắc của chính mình Với lịch

sử phim ngắn nói riêng và điện ảnh nói chung, cái tên D W Griffith đóng một vai trò rất quan trọng Ông thường được xem là người đã đặt dấu mốc, mở đầu cho thời kỳ phát triển của phim truyện dài Thật ra, trước D W Griffith đã có khá nhiều đạo diễn từ khắp các nước, đặt biệt là châu Âu với Pháp, Ý, Đan Mạch, đã từng sản xuất những phim truyện hơn một cuộn (thường là 5 hay 6 cuộn) Những bộ phim đó ồ ạt cập cảng nước Mĩ

và đe dọa thị trường điện ảnh trong nước, vốn không sản xuất nhiều phim truyện Trước

Trang 27

nguy cơ bị giành mất thị phần, D W Griffith là người đã nổ phát súng đầu tiên với The

Birth of a Nation Phim sở hữu một độ dài vô tiền khoáng hậu (12 cuộn-tương đương 168

phút) cùng một nội dụng tự sự đầy đặn, xứng đáng trở thành một trong những phim truyện nổi bật nhất vào thời kỳ đầu của điện ảnh Và cũng chính từ thời điểm lịch sử ấy, phim ngắn chính thức mất đi địa vị độc tôn, nhường lại ngôi vị thống trị cho phim truyện dài

1.2.2 Giai đoạn định hình và phát triển

Trước sự phổ biến nhanh chóng của phim truyện, các nhà làm phim ngắn từ những ngày đầu cũng bắt đầu thử sức mình với thể loại mới mẻ đó Hoạt động sản xuất phim ngắn giảm, thể loại này dần được định hình ở một vị trí ngoại biên với một khoảng cách nhất định đối với trung tâm điện ảnh, nơi đang dần hình thành một nền công nghiệp đồ

sộ, chủ yếu phát triển mạnh mẽ tại Mĩ Từ đây, bắt đầu có sự phân biệt rạch ròi giữa hai thể loại: phim truyện dài và phim ngắn Sau đây, chúng ta sẽ khảo sát sự phát triển của phim ngắn qua 4 giai đoạn khác nhau của lịch sử thế kỷ thứ XX với những đặc trưng riêng biệt, gồm: thời đại của phim câm và sự khai sinh của nền công nghiệp điện ảnh Mĩ (1913-1930), thời đại Hollywood và điện ảnh thế giới trong bối cảnh Chiến tranh Thế giới thứ hai (1930-1945), thời kỳ hậu chiến với những làn sóng mạnh mẽ (1945-1970) và thời đại mới của điện ảnh với ảnh hưởng mạnh mẽ của công nghệ hiện đại (1970-nay) Trước hết, ta đến với thời đại phim câm cùng với những ngày đầu của nền công nghiệp điện ảnh Mĩ Có một sự thật trái ngược rằng, điện ảnh Mĩ đã bắt đầu ồ ạt sản xuất phim truyện là để cạnh tranh với điện ảnh châu Âu Thế nhưng, ngay khi D W Griffith

còn đang sản xuất The Birth of a Nation thì châu Âu bắt đầu lao vào Chiến tranh Thế giới

thứ nhất, khiến cho sự phát triển của điện ảnh trên châu lục này bị chững lại Nhân cơ hội

đó, các nhà làm phim Hoa Kì bắt đầu có tham vọng phát triển một nền công nghiệp điện ảnh rực rỡ Trước định hướng đấy, phim ngắn càng mất đi sức hút của mình bởi người Mĩ

Trang 28

muốn lấy sự hoành tráng từ cốt truyện đến kỹ thuật nhằm củng cố vị thế của mình trên thị trường, và chỉ có phim truyện mới thích hợp để làm được điều đó Vả lại, thị hiếu của người xem lúc bấy giờ đã thay đổi, họ không còn muốn xem những thước phim đơn giản như trước kia nữa, họ muốn chứng kiến một câu chuyện dài, có khả năng dựng nên trước mắt họ một thế giới hoàn hảo Vì vậy, trong suốt chiến tranh, đa phần phim ngắn chỉ tồn tại nhiều ở dạng những mảnh tin tức không nhiều giá trị nghệ thuật Chỉ đến khi chiến tranh kết thúc, châu Âu tạm yên thì phim ngắn mới trở lại với một diện mạo mới hoàn khác, chủ yếu mang tính thể nghiệm, gắn liền với trào lưu nghệ thuật Tiên phong (avant-garde), đóng vai trò như một trong những hình thức nghệ thuật đầu tiên để các nhà nghệ

sĩ biểu hiện ý tưởng của mình Từ chủ nghĩa Dada đến chủ nghĩa siêu thực, phim ngắn là một trong những hình thức nghệ thuật đầy lôi cuốn trong suốt những năm tháng hỗn độn

đó với những thước phim nổi tiếng mọi thời đại như trong Un Chien Adalusia, sản xuất

năm 1928 bởi hai nhà làm phim siêu thực: Salvado Dalí và Luis Buňuel Ngoài ra, ởphương Đông mà tiêu biểu là ở Nhật Bản, phim ngắn cũng rải rác xuất hiện dưới dạng

phim tài liệu ngắn với những gương mặt như Kenji Mizoguchi với hai phim Shôhin

eiga-shû: Machi no sketch(1925) và Tôkyô kô shinkyoku (1929) Yasujiro Ozu cũng có một

phim tài liệu ngắn mang tên Kagamijishi (1936) và vài phim ngắn khác như Wasei kenka

tomodachi (1929), Tokkan kozô (1929) và Erogami no onryô (1930)

Nếu như với Avant-garde, người nghệ sĩ vừa mới phần nào thể hiện sự bất tín và hoảng loạn của mình đối với cuộc chiến tranh trước đó thì không lâu sau khi trào lưu này tạm lắng, một cuộc chiến kinh hoàng khác trong lịch sử nhân loại lại bùng nổ Giờ đây, ở châu Âu và các vùng chịu ảnh hưởng chiến tranh, phim ngắn không chỉ bước vào giai đoạn trầm kha dai dẳng như lần trước mà thể loại này còn bị bóp méo, được sử dụng như một phương tiện tuyên truyền (propaganda) cho các chính phủ đương thời Chẳng hạn như điện ảnh Trung Quốc lúc bấy giờ gần như hoàn toàn bị biến thành công cụ tuyên truyền của phát-xít Nhật Duy chỉ có mảng phim ngắn hiếm hoi khả dĩ cho là có phát

Trang 29

triển ở giai đoạn này chính là phim tài liệu ngắn, nổi bật với Roberto Rossellini (Ý), John Grierson, Mary Field (Anh) hayGabriel Figueroa (Mexico)… Trong khi đó, phim ngắn ở kinh đô điện ảnh Hollywood lại cực kỳ phát triển bởi trong giai đoạn đầu, khi Hoa Kì chưa tham chiến, điện ảnh vẫn đều đặn tiến lên trong bảng xếp hạng các ngành công nghiệp giải trí Cột mốc quan trọng ghi nhận sự tồn tại độc lập và dài hơi của thể loại phim ngắn trong nền điện ảnh Mĩ chính là việc Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hoa Kì đồng ý đưa phim ngắn vào danh sách trao giải Oscar kể từ năm 1932, chỉ ba năm sau khi giải thưởng này được thành lập vào ngày 16 tháng 5 năm 1929 Ban đầu, phim ngắn chỉ tồn tại với hai hạng mục: “Phim ngắn hay nhất” (Best Short Subject,

ám chỉ phim ngắn quay thực, live-action short films) và “Phim hoạt hình ngắn” hay nhất (Best Short Subject, animated) Phim tài liệu ngắn chỉ được đưa vào danh mục trao giải 9 năm sau đó (1941) Trong đó cách phân loại trên, phim ngắn được chia thành hai tiểu mục nhỏ là phim ngắn hài (Best Short Subject, comedy) và phim ngắn có tính mới lạ (Best Short Subject, novelty) Cách phân chia này tồn tại từ 1932-1935 Sau đó, từ năm

1936 đến 1956, giải thưởng dành cho phim ngắn lại được chia theo dung lượng: “Phim ngắn một cuộn hay nhất” (Best Short Subject, One-reel) và “Phim ngắn hai cuộn hay nhất” (Best Short Subject, Two-reel) Mãi đến năm 1957, hai hạng mục trên được gộp lại thành một định nghĩa: “phim ngắn quay thực”(Short Subjects, Live Action Films) Và mãi đến năm 1970 mới có tên: “Phim ngắn quay thực xuất sắc nhất”(Best Live-action Short Film), cùng với “Phim hoạt hình ngắn xuất sắc nhất”(Best Animated Short Film) và

“Phim tài tiệu ngắn xuất sắc nhất” (Best Documentary Short Film) tạo thành bộ ba hạng mục trao giải dành cho phim ngắn cho đến ngày nay Như thế ta có thể thấy rằng, ngay từ những ngày đầu tiên, Oscar đã để tâm vinh danh phim ngắn như một thể loại độc lập Chính sự thay đổi liên tục tên của các hạng mục liên quan đến phim ngắn cũng chứng tỏ

sự phát triển liên tục của thể loại này, khiến cho cơ cấu giải thưởng phải thay đổi để phù hợp với nó Theo như Wheeler Winston Dixon và Gwendolyn Audrey Foster trong quyển

A Short History of Film (tạm dịch là “Một lịch sử ngắn về điện ảnh”), thì vào giai đoạn

Trang 30

này, trước sự nở rộ của hàng loạt studio cùng với sự khởi đầu của thời đại phim có âm thanh tại Hollywood, điện ảnh được phân chia rõ ràng thành ba khu vực Theo đó, những phim loại A thường được quay với những ngôi sao điện ảnh và đạo diễn nổi tiếng cùng một lịch quay hoành tráng Loại B bao gồm những phim kinh phí thấp, thường chỉ được quay trong vòng một đến hai tuần, sử dụng những “diễn viên dự bị” (second-string player) thuộc biên chế của các studio để cắt giảm kinh phí Và cuối cùng là hạng C, phim ngắn, bao gồm cả các series dài và phim hoạt hình ngắn, được quay trong vòng chỉ một đến hai ngày với kinh phí cực thấp và những kịch bản đơn giản nhất Dù vậy, ta vẫn thấy rằng có hẳn một dây chuyền, một “khuôn mẫu”, công thức sản xuất phim ngắn được hình thành trong thời kỳ này Chính vì thế, có thể nói rằng, nhờ sự “cách li tương đối” đối với cuộc chiến bên kia đại dương, điện ảnh Mĩ tự do phát triển và phim ngắn cũng nhờ đó mà

có cơ hội khẳng định và hoàn thiện diện mạo của mình

Sau chiến tranh là giai đoạn hồi phục kéo dài từ năm 1945 đến năm 1970 với những trào lưu phát triển rất mạnh, bao gồm cả Tân hiện thực (Neorealism) ở Ý và Làn sóng mới (French New Waves) ở Pháp Nếu như Tân hiện thực muốn xóa sạch dấu vết của điểm nhìn hiện thực mà chủ nghĩa phát-xít đã áp đặt trên khắp nước Ý thì Làn sóng mới muốn khơi dậy sức sáng tạo của thế hệ trẻ, một thế hệ muốn thoát khỏi mọi ảnh hưởng của cuộc chiến tranh trước đó Nói tóm lại, trong giai đoạn này, điện ảnh mang tính cách tân rất cao, mà tiên phong chính là phim ngắn Kể từ năm 1947, phim ngắn chính thức được tham dự tranh giải trong Liên hoan phim Cannes Và kể từ đó trở đi, hàng loạt giải thưởng danh giá được trao cho rất nhiều phim ngắn tham dự Trong đó có phim của rất nhiều đạo diễn chịu ảnh hưởng từ trào lưu Làn sóng mới, một phong trào vốn có tầm ảnh hưởng rất rộng trên phạm vi toàn thế giới Từ Làn sóng mới ở Pháp đã dẫn đến nhiều “làn sóng” đến từ nhiều nước khác như Ý, Nhật, Brazil, Mexico…phát triển mạnh mẽ trong suốt các thập niên 1950, 1960 Không chỉ có thế, vào khoảng cuối thập nhiên 1940, đầu thập nhiên 1950, còn có một hiện tượng nổi bật khác nữa Đó chính là sự xuất hiện của

Trang 31

một dạng phim ngắn đặc biệt, hình thành và phát triển mạnh mẽ cho đến tận ngày nay

Đó chính là những phim truyền hình với nhiều tập riêng lẻ, bao gồm thể loại hài tình huống (“situation comedy”, viết vắt là “sitcom”)và chính kịch hư cấu (“soap opera”, gọi tắt là “soup”) Tới đây, cần phải làm rõ sự khác biệt giữa thể loại nói trên và dạng phim truyền hình nhiều tập có chung nhiều tình huống nối tiếp từ tập trước sang tập sau, mà mỗi tập đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển cốt truyện Theo đó, người xem phải xem đầy đủ tất cả các tập, nếu không sẽ rất khó để nắm bắt cốt truyện Trong khi đó, dạng phim sitcom hay soup opera lại cởi mở hơn Từng tập có thể tồn tại với một cấu trúc

tự lập mà khi đem chiếu riêng bất kỳ tập nào, người xem vẫn có thể hiểu rõ trọn vẹn tình huống của mỗi tập đó.Chính nhờ tính độc lập tương đốimà dạng phim truyền hình này lại được xem như một bộ phận của phim ngắn Theo đó, dù cho các tập phim được đặt trong một cốt truyện xuyên suốt, dù cho cuối mỗi tập có thể gợi mở tình huống để tập sau tiếp nối, nhưng xét về chỉnh thế, từng tập vẫn có sự cách li tương đối với những tập còn lại trong cùng một series Trên thực tế, đã từng có rất nhiều những tập lẽ từ các series truyền hình dạng này được vinh danh tại các liên hoan phim danh giá nhất hành tinh, trong đó có

cả giải Oscar và Cành Cọ Vàng Cụ thể là những tập sau thuộc series Tom and Jerry,

từng đoạt vị trí cao nhất ở hạng mục “Phim hoạt hình ngắn xuất sắc nhất”: The Yankee

Doodle Mouse(1943),Mouse Trouble (1944),Quiet Please!(1945),Johann Mouse (1953)

hay những tập thuộc các series quen thuộc của Disney như Gấu Pooh, Mickey Mouse, Vịt Donal cũng nhiều lần lọt vào danh sách đề cử Ở Liên hoan phim Cannes thì nổi bật nhất

có hai trường hợp: tập phim Canada Vignettes: The Performer(1980) thuộc series Canada

Vignettes đến từng Canada, từng đoạt Giải thưởng của hội đồng giám khảo (Prix du Jury)

hay như tập An Occurrence at Owl Creek Bridge thuộc series The Twilight Zone của Mĩ

đã từng cùng lúc đoạt giải tại Cannes lẫn Oscar Chính những giải thưởng danh dự này đã khẳng định những tập thuộc các series phim lẻ hoàn toàn có đủ phẩm chất nghệ thuật để được xem như một phim ngắn thực thụ Ngoài ra, do được công chiếu rộng rãi trên truyền hình nên dạng phim này nhanh chóng được ưa chuộng và thường rất nổi tiếng, được mọi

Trang 32

tầng lớp xã hội biết đến Chúng đã tạo nên một trào lưu mạnh mẽ, kéo dài đến tận ngày nay

Rồi vào những năm 1970 tiếp sau đó, điện ảnh lại một lần nữa gặp được cơ hội ngàn vàng để cách tân chính mình: sự bùng nổ công nghệ toàn cầu, đặc biệt là công nghệ thông tin Và lần này, phim ngắn chính là thể loại tận dụng được nhiều nhất từ cơ hội đó Như chúng ta đã biết, từ cuối thế kỉ XX, công nghệ điện tử dần phát triển Internet bắt đầu nhen nhóm rồi bùng nổ, tạo nên một hình thức giao tiếp mới, một thị trường mới Bên cạnh phát hành phim dưới dạng DVD, người dùng có thể tải xuống trực tiếp qua đường truyền cáp quang, thưởng thức bất cứ lúc nào Điều này trước tiên mở rộng đối tượng và

số lượng khán giả của điện ảnh Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, thời đại kỹ thuật số và Internet còn biến phim ảnh trở thành một sản phẩm của mọi người, không giới hạn hoạt động sản xuất trong giới chuyên môn Chỉ cần một chiếc máy quay cầm tay, và một vài phần mềm đơn giản, ai cũng có khả năng làm phim được Điều này đem đến điều kiện để cho phim ngắn được sáng tạo nhiều hơn, bởi khi bắt tay tập tành làm phim, chắc chắn rất nhiều người sẽ chọn phim ngắn để thử nghiệm trước khi bắt tay vào một kế hoạch dài hơi với phim truyện nhựa, thứ đòi hỏi sự đầu tư lâu dài hơn, bài bản hơn Không chỉ có thế, thời đại này còn tạo ra một sự phục hưng thật sự cho phim ngắn, giúp thể loại này tìm lại thời đại hoàng kim của mình

Cụ thể là, bên cạnh việc chủ thể sản xuất được mở rộng do những bước tiến của kỹ thuật công nghệ, Internet còn tạo ra một môi trường để giới thiệu phim ngắn đến một đối tượng khán giả tiềm năng khổng lồ: bất kỳ ai sử dụng mạng truyền thông Trong khi đó, phim ngắn lại có được những phẩm chất hoàn toàn thích hợp với thị hiếu của những đối tượng này Chúng tôi có thể phát biểu như vậy là bởi vì, trên thực tế, khi Internet phát triển, ngay lập tức nó được các công ty thương mại, truyền thông tận dụng để tạo thành một thế giới thông tin khổng lồ Từ đó, mạng Internet dần được cấu trúc thành một “thế giới ảo”, tràn ngập thông tin và người dùng có thể tự quyết định đọc bất cứ thứ gì mình

Trang 33

muốn Để tranh thủ lọt vào mắt người lướt web, các nhà viết tin trên mạng mới tạo ra một loại hình, một dạng khuôn mẫu thông tin ngắn gọn, súc tích, hấp dẫn để tăng tối đa khả năng được người đọc nhìn thấy Và nhờ đó, góp phần hình thành một thói quen khi lướt web của người dùng Internet Đó chính là thói quen ưa chuộng những mẩu-thông-tin-cỡ-nhỏ Với điện ảnh, phim ngắn tuyệt đối phù hợp với yêu cầu này Nhờ sự tương hợp đó, phim ngắn ngày càng nở rộ trên Internet bởi khả năng được trình chiếu, và được xem là không giới hạn Chưa kể, các trang web chuyên dành cho video như Youtube, Dailymotion hay Metacafe còn tuyệt đối hóa tiềm năng này cho phim ngắn Fabien Riggall, người sáng lập công ty phim ngắn Future Shorts đã từng tuyên bố: “Chúng tôi có được một triệu lượt xem hàng tháng trên Youtube”[52]

Có thể nói, nhờ sự thích hợp về mặt dung lượng thể loại, sự mở rộng chủ thể sản xuất và đối tượng khán giả tiềm năng mà phim ngắn đang dần được người xem quan tâm nhiều hơn Mặc dù việc trình chiếu phim ngắn tại các rạp còn chưa mạnh mẽ, đa số chỉ dừng lại ở những đợt chiếu tập trung các phim ngắn đoạt giải, nhưng chính việc tận dụng được tối đa tiềm năng của Internet đã cho ta một niềm hy vọng rằng, không lâu nữa, đối tượng quan tâm đến phim ngắn sẽ ngày càng nhiều và lịch sử phim ngắn nay mai sẽ được nối dài bởi những trang huy hoàng, tựa như thời đại hoàng kim ở buổi đầu của điện ảnh thế giới

1.3 Phân loại phim ngắn

1.3.1 Theo trường phái

Như vậy, điện ảnh ra đời và nhanh chóng phát triển vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ

20 Đây là thời kỳ mà con người đang rất tự tin vào khả năng sáng tạo vô biên của mình Rất nhiều phát minh, tư tưởng, sáng tạo của các nhà khoa học, nghệ sĩ lần lượt xuất hiện trên khắp các lĩnh vực với những cái tên như Sigmund Freud, Marie Curie, Thomas Edison, Nikola Tesla, Max Planck, Henri Poincaré, Guglielmo Marconi, Bertrand

Trang 34

Russell, Paul Ce1zanne, Pablo Picasso, Marcel Proust, James Joyce, Henry Ford, Herman Hollerith Với tinh thần tin tưởng tuyệt đối ấy, điện ảnh cũng được biết đến như một phép màu thực thụ do chính con người tạo ra, như một minh chứng mạnh mẽ cho khả năng kiểm soát thế giới của con người, góp phần kích thích niềm say mê cuồng nhiệt đối với khoa học Để rồi nhân loại ngay lập tức vấp phải những cú sốc liên tiếp trước một thế

kỷ vĩ đại nhưng quá nhiều đau thương Tính ổn định của đời sống, khả năng thao túng của con người ngay lập tức bị phủ nhận bởi hai cuộc chiến tranh thế giới Sự khốc liệt của chúng không chỉ gây nên một cục diện xã hội hoang tàn mà còn làm đổ vỡ niềm tin của con người vào chính bản thân mình Cái tinh thần phơi phới trước một thế kỷ đầy triển vọng đã mất đi Bạo lực và hỗn loạn đã làm bùng nổ hàng loạt những trào lưu tư tưởng, liên tục nảy sinh và phát triển, thế giới thoáng chốc đã bộc lộ hết tính tương đối, bất định của nó Trên suốt chặng đường ấy, điện ảnh không còn tồn tại với một lớp vỏ hào nhoáng

và đầy ma mị nữa, nó trở thành một công cụ để biểu lộ hiện thực, thể hiện tư tưởng Theo đó, hàng loạt phim ngắn thuộc các trường phái khác nhau ra đời Và cũng chính từ đây, phim ảnh không còn là một dạng sáng chế câu khách, đậm tính thương mại, được đem trình chiếu, triển lãm ở các hội chợ như xưa Điện ảnh nói chung và phim ngắn nói riêng giờ đây đã khoác lên mình một diện mạo mang tính hàn lâm hơn, chỉnh chu hơn và nghiêm túc hơn Trong phần này, chúng tôi chỉ xin trình bày về phim ngắn của một số trường phái mà người viết cho là nổi bật nhất và có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất

1.3.1.1 Phim ngắn siêu thực

Phim ngắn siêu thực là một dạng biểu hiện, thể nghiệm thuộc chủ nghĩa siêu thực (surrealism), vốn nằm trong một phong trào đổi mới nghệ thuật phát triển rất mạnh mẽ vào những năm 1910, 1920, trên toàn châu Âu và một số nước châu Mĩ-Latin khác, mang tên Avant-garde Theo đó, hàng loạt các trường phái liên tục nổi lên như chủ nghĩa ấn tượng ở Pháp, chủ nghĩa cấu trúc ở Liên bang Soviet, chủ nghĩa biểu hiện ở Đức, chủ nghĩa vị lai ở Ý, chủ nghĩa hiện đại ở Brasil… Đúng như tên gọi “avant-garde” (trong

Trang 35

tiếng Pháp có nghĩa là “người tiên phong”), các trào lưu này đã cho ra đời hàng loạt bút pháp sáng tác đặc trưng, góp phần làm phong phú cho diện mạo nghệ thuật đương thời trên rất nhiều lĩnh vực mà tiêu biểu nhất là hội họa, văn chương và phim ảnh.Riêng với điện ảnh, phim ngắn là một trong những thể loại đầu tiên được đem ra thể nghiệm nhờ tính độc lập của nó Cụ thể là vào thời đại mà phim truyện chỉ mới bắt đầu được sản xuất

ồ ạt bởi các công ty thương mại lớn thì phim ngắn là một thể loại “gọn gàng” hơn, dễ đầu

tư tài chính cũng như thể nghiệm ý tưởng hơn rất nhiều Chính vì thế mà đa số nghệ sĩ thuộc các trào lưu này đều chọn phim ngắn để thể hiện ý tưởng của mình Trong đó, phim ngắn siêu thực là một trong những xu hướng nổi bật nhất

Do bản thân chủ nghĩa siêu thực có mối liên hệ mật thiết với chủ nghĩa Dada và cả hai đều là khuynh hướng nổi trội trong phong trào “avant-garde” nên trước khi đi vào nghiên cứu phim ngắn siêu thực, việc điểm qua vài phim ngắn thuộc chủ nghĩa Dada là hoàn toàn cần thiết Trước hết, nói đến chủ nghĩa Dada là nói đến một trào lưu đại diện cho sự đổ vỡ của lý tưởng về sự ổn định trong nghệ thuật nói chung và xã hội nói riêng

Nó mang tính chất phản kháng đối với chiến tranh, chỉ rõ sự chuyển di trong tâm thức con người từ xác định đến bất định Chính vì thế, các tác phẩm nghệ thuật của những nghệ sĩ thuộc trường phái Dada thường chú trọng đến tính ngẫu nhiên và tự động của quá trình sáng tạo nghệ thuật, đề cao sự cắt ghép tùy hứng cũng như xem những sản phẩm công nghiệp làm sẵn (“ready-made”) như một chủ đề cho sáng tác Cùng bị chi phối bởi

tư tưởng đó, những phim ngắn Dada cũng được sản xuất với một tinh thần đầy nổi loạn

mà được biết đến nhiều nhất là những phim như: Diagonal Symphony của Viking

Eggeling, Rhythymus 23 của Hans Richer,Return to Reason của Man Ray vàEntr’acte của

René Clair Những phim này đều thể hiện sự ngẫu nhiên, bất quy tắc Từ những mô hình

đường chéo hỗn độn trong Diagonal Symphony của Viking Eggelingcho đến những hình

ảnh vốn bình thường nhưng bỗng trở nên quái dị khi xoay vần nhau như đinh, vòng ngựa

quay của trẻ con hay tượng bán thân phụ nữ… trong Return to Reason Tất cả đều hỗn

Trang 36

loạn Chính sự hỗn loạn trong đề tài, ý tưởng, lẫn cách thể hiện này đã dẫn đến sự chia rẽ

dĩ nhiên trong nội bộ những người theo trường phái Dada Nếu như những nhà làm phim thuộc nhóm Zurich ở Thụy Sĩ (gồm cả Eggeling và Richer) theo khuynh hướng trừu tượng hoàn toàn thì các nhà làm phim Dada tại Paris lại chú trọng vào nội dung “phản tư bản”, cụ thể là làm trái lại những nguyên tắc của phim câm thương mại đương thời ở Hollywood Trong số đó, nổi bật nhất chính là René Clair với Entr’acte (1924) Mới xem qua, ta có thể thấy phim ngắn này tận dụng triệt để những nguyên tắc tự sự, tuy nhiên, mạch truyện lại hầu như không mạch lạc cho lắm khi mà người xem lần lượt gặp phải các hiệu ứng xen ngang đột ngột như những cú quay bất chợt, những hình ảnh chồng lên nhau cũng như kỹ thuật tăng tốc hoặc giảm tốc của điện ảnh cứ trở đi trở lại Bên cạnh

đó, những thủ thuật cắt dựng, sắp đặt nhằm tạo nên kịch tính cho phim, làm nổi bật những góc quay sáng tạo cũng thường xuyên được sử dụng Nói tóm lại, đây là một bộ phim ấn tượng theo kiểu của trường phái này

Tuy nhiên, bộ phim nói trênlại được sản xuất vào giai đoạn chủ nghĩa Dada ở Pháp đang dần tàn lụi, nhường chỗ cho một trào lưu mới có vẻ quy củ hơn, mạnh mẽ hơn khi dựa trên nhiều lý thuyết cụ thể, đặc biệt là chủ thuyết của Sigmund Freud Đó chính là chủ nghĩa siêu thực với đại diện là André Bréton Vị thống soái này đã từng định nghĩa như sau trong bản tuyên ngôn đầu tiên của chủ nghĩa siêu thực: “Chủ nghĩa siêu thực, danh từ giống đực, cơ chế tự động của tâm lí thuần khiết được dùng để diễn tả hoạt động đích thực của tư tưởng hoặc bằng ngôn từ, hoặc bằng chữ viết, hoặc bằng mọi cách thức khác Được tư tưởng xui khiến, vắng mặt mọi sự kiểm soát của lí trí, ngoài mọi thành kiến mỹ học và đạo đức”[1] Riêng trong điện ảnh, chủ nghĩa siêu thực phát triển mạnh trong giai đoạn 1924-1930 Với tính chất nổi loạn đầy mạnh mẽ của mình, hầu hết các nhà làm phim siêu thực phải làm việc tách biệt với nền công nghiệp điện ảnh đương thời

và chủ yếu dựa trên nguồn tài chính cá nhân Do đó, phim ngắn một lần nữa lại là phương tiện hữu hiệu dành cho họ Nhưng nguyên nhân của sự kết hợp giữa điện ảnh và chủ

Trang 37

nghĩa siêu thực không chỉ có thế Trào lưu này vốn dựa rất nhiều vào lý thuyết của Freud, chú trọng vào những khái niệm như “giấc mơ” (dreams), “xung năng tính dục” (libido) và đặc biệt là “vô thức” (id) Cùng thâm nhập vào thế giới vô thức của con người, nếu như chủ nghĩa siêu thực ở văn chương nhấn mạnh vấn đề bản ngã, cái tôi (ego) và vô thức cá nhân thì chủ nghĩa siêu thực trong điện ảnh lại chú trọng nhiều hơn đối với khái niệm giấc mơ bởi lẽ: “Ngay từ lúc bắt đầu, khán phòng đã được bao trùm bởi bóng tối như thể bạn đang nhắm mắt lại Bạn thấy mình tách biệt khỏi đám đông xung quanh, toàn thân bạn trải qua cảm giác phi nhân hóa; tiếng nhạc đều đặn củng cố thêm thính giác của bạn;

cổ bạn giữ vững và bạn nhìn chăm chăm về một hướng duy nhất;cứ như thể bạn đang tiến dần vào giấc ngủ” (“Tobegin with, entering the dark auditorium was like closing yours eyes Your isolation from the crowd, your body submitting to a feeling of depersonalisation; the droning music obdurating the sense of hearing; the stiffness of the neck necessary for the gaze’s orientation; all of this was like going to sleep”-Jacques Brunius)[49] Có lẽ sự tương cận này chính là một trong nhiều nguyên nhân khiến điện ảnh trở thành một trong những thể loại nghệ thuật đầu tiên được các nhà siêu thực để mắt tới Tiêu biểu nhất trong số đó phải kể đến cặp đôi Salvado Dalí và Luis Buňuel

Thật ra, trước Dalí và Luis Buňuel, đã từng có một đôi cộng sự nổi bật khác gồm Antoin Artaud, một biên kịch người Pháp và nhà làm phim Germanine Dulac, từng bắt

tay sản xuất phim ngắn siêu thực đầu tiên dài 31 phút mang tên The Seashell and the

Clergyman Tuy nhiên, vì là kẻ tiên phong nên nó không thể nào đạt đến độ sắc sảo như

phim ngắn nổi tiếng của Dalí và Buňuel Đó chính là Un Chien Adalusia, một phim ngắn

gây chấn động thời bấy giờ, khiến cho hiện nay, rất nhiều các giáo trình giảng dạy, sách nghiên cứu điện ảnh đều phải nhắc đến nó Phim gây ấn tượng nhất bởi những cảnh kinh

dị Người đàn ông dùng lưỡi dao vừa mài bén cắt ngang tròng mắt của một người phụ nữ ngồi yên bất động, một đàn kiến ùa ra từ lỗ thủng của một bàn tay…

Trang 38

Phim để lại cảm giác rất rùng rợn Ngay buổi công chiếu, có rất nhiều người phải hét lên kinh hoàng khi xem đến[36] Chính vì ấn tượng mạnh mẽ như thế nên đã có hoàng loạt cách biện giải được đề xướng để góp phần làm rõ ý nghĩa của phim Riêng cá nhân Luis Buňuel, người vốn cho rằng điện ảnh chính là “phương tiện nghệ thuật tốt nhất để biểu lộ thế giới của những giấc mơ, của cảm xúc và bản năng”(“The best instrument to express the world of dreams, of emotions, of instinct”)[26], đã khẳng định rằng cách duy nhất để lý giải phim ngắn này chính là một hướng thuộc phân tâm học Bộ phim ngay lập tức đã nhận được sự ca ngợi từ chính vị thống lĩnh của chủ nghĩa siêu thực, André Breton[36] Nó được xem là một phim siêu thực thật thụ với sự kết hợp của rất nhiều yếu

tố đặc trưng như tính phi logic, tình dục, giấc mơ, kinh dị và hiển nhiên, tính gây sốc Bên cạnh đó, theo các nhà nghiên cứu điện ảnh hiện nay, nó còn chứa đựng rất nhiều ngụ

ý “phản tư bản” và đồng thời được cấu trúc bởi những sáng tạo kỳ lạ trong kỹ thuật làm phim Nói chung, đúng theo tiêu chícủa chủ nghĩa siêu thực vốn muốn tạo ra những hình

ảnh thực hơn bản thân đời sống, mô tả thực tại của vô thức con người, Un chien Adalusia

đã mở ra trước mắt chúng ta một thế giới kỳ dị, ấn tượng đến nỗi hơn bảy mươi năm sau, khán giản vẫn còn có thể ngỡ ngàng trước những cảnh quay bất hủ ấy

Có thể thấy rằng, tuy là một trào lưu tồn tại trong một thời gian ngắn, nhưng chủ nghĩa siêu thực đã có những ảnh hưởng mạnh mẽ đối với nghệ thuật nói chung và phim ngắn nói riêng Trong và sau thời đại “avant-garde”, có rất nhiều tên tuổi lớn trong địa hạt phim ngắn đã tiếp tục phát triển “tinh thần siêu thực” đầy tiềm năng ấy như Stan Brakhage (Mĩ), Maya Deren (Ukraine), Alain Resnais (Pháp), Alejandro Jodorowsky (Chile) và Peter Wollen (Anh)

1.3.1.2 Phim ngắn hiện thực

Nếu như phim ngắn siêu thực đem đến cho khán giả một cái nhìn đầy hư ảo thì phim ngắn hiện thực lại trái ngược hoàn toàn, nó chủ trương đối hẳn với những gì siêu

Trang 39

thực quan niệm, tập trung vào con người trong mối quan hệ với xã hội, với hiện thực đời sống Thật ra, khái niệm “hiện thực” trong điện ảnh cũng mang nghĩa tương tự như trong các loại hình nghệ thuật khác Bởi suy cho cùng, nhiệm vụ chủ yếu của nghệ thuật chính

là làm biểu lộbản thân đời sống con người Theo đó, với phim ngắn nói riêng và điện ảnh nói chung, “trào lưu hiện thực” cũng được tạo nên bởi các nhà lý luận điện ảnh, các nhà làm phim cùng với hoạt động sản xuất, phê bình vàxuất hiện muộn hơn so với các bộ môn nghệ thuật khác Nếu như chủ nghĩa hiện thực trong văn chương được cho là xuất hiện vào giữa thế kỷ thứ XIX với nhà văn Pháp Champfleury khi ông đặt tên cho một tuyển tập các bài báo của mình là “chủ nghĩa hiện thực” (Réalisme, 1857)[12], thì chủ nghĩa hiện thực trong điện ảnhphát triển vào khoảng đầu thế kỷ thứ XX với hai trào lưu chính, một thuộc bờ tây Đại Tây Dương với Hollywood, một thuộc bờ đông với điện ảnh châu Âu

Kiểu phân chia nói trên bắt nguồn từ sự phát triển mạnh mẽ của điện ảnh Mĩ với tiềm năng kinh tế dồi dào, từ đó thống trị điện ảnh thế giới với những chuẩn mực riêng của người Mĩ Các studio chuyên nghiệp dần hình thành và phát triển mạnh mẽ vào thập niên 1930, 1940 Theo đó, đa số các phim truyện đều được sản xuất với kinh phí cao, đầu

tư đầy đặn và tham vọng tạo ra một “hiện thực mới” trong điện ảnh, nghĩa là biến những thước phim thành đời thực và muốn khán giả tin vào những câu chuyện được kể trên màn bạc Trước hoàn cảnh đó, các nhà làm phim châu Âu đã có phản ứng mạnh mẽ đối với kiểu sản xuất phim đậm tính thương mại này Cùng tinh thần muốn phát triển điện ảnh thành một loại hình nghệ thuật chuyên nghiệp và có giá trị nghệ thuật cao, họ chủ trương một dạng điện ảnh bám sát vào đời sống, phản ánh thực tại như nó là và loại bỏ hết tất cả những xảo thuật nghề nghiệp nhằm tăng doanh thu Chính điều này đã cho ra đời một

“trào lưu hiện thực” trong điện ảnh, tách biệt hẳn với nền công nghiệp phim ảnh mang đậmphong cách Hollywood Họ muốn sản xuất những bộ phim mang hơi thở hoàn toàn khác Nhà lí luận điện ảnh André Bazin sau này đã từng cho rằng:“Lần đầu tiên, những

Trang 40

hình ảnh của thế giới được tự động dựng nên mà không có bất kỳ sự can thiệp nào của con người.” (“For the first time, an image of the world is framed automatically, without the creative intervention of man.”)[58] Ở đây, ta có thể hiểu rằng André Bazin muốn tách trào lưu phim hiện thực ra khỏi những cách làm phim cầu kỳ, đậm tính hình thức, chỉ chú tâm vào những vấn đề kỹ thuật, dàn dựng, từ đó tạo ra một thực tại trên phim ảnh khác với thực tại đời sống, như Cesare Zavattini, biên kịch nổi tiếng của rất nhiều phim ngắn

và series truyền hình thời Tân hiện thực, đã từng nói: “Trong khi chúng ta hứng thú với những hiện thực xung quanh mình …[thì] hiện thực trong các phim Mĩ lại bị sàng lọc một cách trái tự nhiên.” (“While we are interested in the reality around us…reality in American films is unnaturally filtered”)[23] Tiếp thu điều này, các nhà làm phim châu Âu mới tìm cách cắt giảm mọi sự cầu kỳ, đơn giản hóa phim ảnh, chủ trương sản xuất phim với kinh phí thấp, tránh khỏi mọi sự tương đồng với phim Hollywood, đối trọng của họ trong quan điểm sáng tạo.Chính từ phương pháp này, các nhà hiện thực đã tạo điều kiện cho phim ngắn hiện thực nở rộ Tuy nhiên, cũng cần nói thêm rằng, dù ý tưởng hình thành “trào lưu hiện thực” bắt nguồn từ châu Âu, nhưng tinh thần của nó còn lan rộng ra nhiều khu vực khác, thậm chí ảnh hưởng đến phim ngắn của các đạo diễn người Mĩ như Robert J Flaherty hay Orson Welles

Đối với trào lưu hiện thực, thể loại được ưu tiên trước nhất tất nhiên là phim tài liệu ngắn mang đậm tính thời sự, thứ cần giữ sự trong sáng trước hết Tiếp đến là những phim chính kịch, khắc họa cụ thể đời sống của xã hội đương thời với đủ mọi tầng lớp nhân dân Hơn cả, chủ nghĩa hiện thực đặc biệt quan tâm đến những thân phận khuất lấp, những tầng lớp thấp cổ bé họng trong xã hội Theo nghĩa này, phim ngắn hiện thực dễ dàng tiến sâu vào đời sống xã hội với sự ngắn gọn như một “lát cắt đời sống” của mình Các đạo diễn tận dụng tối đa những thủ pháp như cú quay dài (long take), sự tập trung vào chi tiết (depth of focus) hay quay toàn cảnh (panchromatic) kết hợp với việc sử dụng các diễn viên không chuyên và bối cảnh không dàn dựng, tất cả đều hướng đến mục đích nâng cao

Ngày đăng: 07/05/2021, 17:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. André Breton (Phùng Kiên dịch, Phương Ngọc hiệu đính) (2004), Tuyên ngôn thứ nhất của chủ nghĩa siêu thực, Tạp chí Văn học nước ngoài, số 5, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyên ngôn thứ nhất của chủ nghĩa siêu thực
Tác giả: André Breton (Phùng Kiên dịch, Phương Ngọc hiệu đính)
Năm: 2004
2. André Breton (Nguyễn Bích Thủy dịch) (2004), Tuyên ngôn thứ hai của chủ nghĩa siêu thực, Tạp chí Văn học nước ngoài, số 5, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyên ngôn thứ hai của chủ nghĩa siêu thực
Tác giả: André Breton (Nguyễn Bích Thủy dịch)
Năm: 2004
3. Aristotle (Lê Đăng Bảng, Thành Thế Thái Bình, Đỗ Xuân Hà, Thành Thế Yên Báy dịch) (2007), Nghệ thuật thy ca, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thy ca
Tác giả: Aristotle (Lê Đăng Bảng, Thành Thế Thái Bình, Đỗ Xuân Hà, Thành Thế Yên Báy dịch)
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2007
4. Cynthia Freeland (Như Huy dịch) (2009), Thế mà là nghệ thuật ư?, NXB Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế mà là nghệ thuật ư
Tác giả: Cynthia Freeland (Như Huy dịch)
Nhà XB: NXB Tri thức
Năm: 2009
5. F. David Peat (Phạm Việt Hưng dịch) (2011), Từ xác định đến bất định, NXB Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ xác định đến bất định
Tác giả: F. David Peat (Phạm Việt Hưng dịch)
Nhà XB: NXB Tri thức
Năm: 2011
7. David Thomson (Thanh Hương, Kim Dung, Hiền Lương, Thế Hùng dịch) (2006), Lịch sử điện ảnh thế giới, NXB Mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử điện ảnh thế giới
Tác giả: David Thomson (Thanh Hương, Kim Dung, Hiền Lương, Thế Hùng dịch)
Nhà XB: NXB Mỹ thuật
Năm: 2006
8. Đỗ Lai Thúy (2004), André Breton và chủ nghĩa siêu thực, Tạp chí Văn học nước ngoài, số 5, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: André Breton và chủ nghĩa siêu thực
Tác giả: Đỗ Lai Thúy
Năm: 2004
9. Ngô Phương Lan (1998), Đồng hành với màn ảnh, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng hành với màn ảnh
Tác giả: Ngô Phương Lan
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 1998
10. Nguyên Minh (2012), “Tiệc phim ngắn Yxine chiếu 5 phim ngắn tại Pháp” [online], [10.03.2013], website vnExpress (Tin nhanh Việt Nam). Địa chỉ truy cập:http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/phim/sau-man-anh/tiec-phim-yxine-chieu-5-phim-ngan-xuat-sac-tai-phap-1918122.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tiệc phim ngắn Yxine chiếu 5 phim ngắn tại Pháp”
Tác giả: Nguyên Minh
Năm: 2012
11. Nguyễn Hưng Quốc, Các lý thuyết về phê bình văn học (9): Thuyết Đồng tính [online], [2010], website Tiền vệ. Địa chỉ truy cập:http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=3830 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết về phê bình văn học (9): Thuyết Đồng tính
12. Nhiều tác giả (2004), Từ điển văn học (bộ mới), NXB Thế giới, Hà Nội, trang 281 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học (bộ mới)
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2004
13. Richard Schickel (Trịnh Anh Gia dịch) (1971), Derrière L’écran–Lịch sử điện ảnh, Viện đại học Minh Đức, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Derrière L’écran–Lịch sử điện ảnh
Tác giả: Richard Schickel (Trịnh Anh Gia dịch)
Năm: 1971
14. Trần Tuấn Hiệp (2002), Điện ảnh không phải trò chơi, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điện ảnh không phải trò chơi
Tác giả: Trần Tuấn Hiệp
Nhà XB: NXB Văn hoá Thông tin
Năm: 2002
15. Sâm Thương (2011), Viếtkịch bản điện ảnh và truyền hình, NXB Văn hoá và Văn nghệ, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viếtkịch bản điện ảnh và truyền hình
Tác giả: Sâm Thương
Nhà XB: NXB Văn hoá và Văn nghệ
Năm: 2011
16. Việt Linh (2006), Dạo chơi vườn điện ảnh, NXB Văn hoá Sài Gòn, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạo chơi vườn điện ảnh
Tác giả: Việt Linh
Nhà XB: NXB Văn hoá Sài Gòn
Năm: 2006
17. Academy of Motion Picture Arts and Sciences (1929), “85 th Annual Academy Awards of Merit” [online], [2013] website Oscar. Address:http://www.oscars.org/awards/academyawards/rules/85/85aa_rules.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: “85"th" Annual Academy Awards of Merit”
Tác giả: Academy of Motion Picture Arts and Sciences
Năm: 1929
18. Academy of Motion Picture Arts and Sciences (1929), “Short Films Awards Festivals List” [online], [02.03.2013] website Oscar. Address:http://www.oscars.org/awards/academyawards/rules/shortsfestivals.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Short Films Awards Festivals List”
Tác giả: Academy of Motion Picture Arts and Sciences
Năm: 1929
19. André Bazin (1967), What is cinema?-Volumne 1 (translated by Hugh Gray), University of California Press, Berkeley, page 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: What is cinema?-Volumne 1
Tác giả: André Bazin
Năm: 1967
20. Andrew M. Butler (2005), Film Studies, Pocket Essentials, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Film Studies
Tác giả: Andrew M. Butler
Năm: 2005
21. Barry Keith Grant (Editor in chief) (2007), Schirmer Encycopedia of Film Vol 1 – Academy Awards to Crime Films, Thomson Gale, United Kingdom Sách, tạp chí
Tiêu đề: Schirmer Encycopedia of Film Vol 1 – Academy Awards to Crime Films
Tác giả: Barry Keith Grant (Editor in chief)
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w