những câu chuyện lịch sử hào hùng từ thời Hùng Vương dựng nước, nỗi ai oán của cung nhân trong cung lạnh, những câu chuyện cổ tích, sự tích, thần tiên, rồi cả những bài thuốc trị bệnh từ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA/ BỘ MÔN: VĂN HỌC – NGÔN NGỮ
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP TRƯỜNG
NĂM 2014
TÌM HIỂU CÁC LOẠI SÁCH VIẾT BẰNG THỂ THƠ LỤC BÁT VÀ SONG THẤT LỤC BÁT TRONG BỘ
DI SẢN HÁN NÔM VIỆT NAM THƯ MỤC ĐỀ YẾU
Sinh viên thực hiện:
Chủ nhiệm: Lê Đặng Kim Phượng, VH - NN, 2012
Thành viên: Lê Thùy Yến Nhi, VH - NN, 2012
Nguyễn Thảo Mai Trâm, VH - NN, 2012
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Nguyễn Văn Hoài
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Nhóm nghiên cứu chúng em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giảng viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM, các thầy cô giảng viên khoa Văn học và Ngôn ngữ đã tạo điều kiện cho chúng em thực hiện công trình nghiên cứu này Việc thực hiện công trình nghiên cứu không những giúp chúng
em trau dồi kỹ năng nghiên cứu khoa học, mà còn giúp chúng em hiểu được thấu đáo hơn về hai thể thơ lục bát và song thất lục bát, niềm tự hào của văn học dân tộc Việt Nam
Trong quá trình nghiên cứu, chúng em chân thành biết ơn sự hướng dẫn, tư vấn nhiệt tình của thầy Nguyễn Văn Hoài, cũng là giảng viên hướng dẫn chúng
em hoàn thành bài nghiên cứu này Trong suốt thời gian nghiên cứu, thầy đã thường xuyên dốc thúc, nhắc nhở, giảng giải và sửa lỗi cho những thiếu sót mà chúng em mắc phải, cũng như giúp chúng em thực sự hiểu được việc mình phải làm để đạt kết quả cao
Chúng em cũng chân thành cả ơn thầy Phan Nguyễn Kiến Nam – Quản lý phòng lưu trữ Hán Nôm thuộc khoa Văn học và Ngôn ngữ - đã tạo điều kiện cho chúng em tiếp xúc với các tài liệu cần thiết trong việc dò tìm, tra cứu tư liệu cần thiết cho công trình nghiên cứu
Kính chúc quý thầy cô nhiều sức khỏe, lòng nhiệt tâm với công tác giảng dạy để tiếp tục công việc đào tạo nên những thế hệ sinh viên có tài có đức, góp phần xây dựng đất nước ngày một thịnh vượng phồn vinh
Trang 3MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 2
3 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI 4
3.1 Mục tiêu của đề tài 4
3.2 Nhiệm vụ của đề tài 4
4 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
4.1 Cơ sở lý luận 5
4.2 Phương pháp nghiên cứu 5
5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU, GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI 6
5.1 Đối tượng nghiên cứu 6
5.2 Phạm vi nghiên cứu, giới hạn của đề tài 6
6 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI 6
7 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN 7
8 MỘT SỐ QUY ƯỚC 7
8.1 Về các thuật ngữ được sử dụng trong đề tài 7
8.2 Về cách đánh số thứ tự và đề tên tác phẩm/đầu sách trong phần Phụ lục 10
B PHẦN NỘI DUNG 14
CHƯƠNG 1 14
1.1 ĐẶC TÍNH 14
1.1.1 Đặc tính của thơ lục bát 14
1.1.2 Đặc tính của thơ song thất lục bát 21
1 2 KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CỦA THỂ THƠ LỤC BÁT VÀ SONG THẤT LỤC BÁT 26
Trang 42.1 VĂN HỌC 34
2.1.1 Văn học dân gian 34
2.1.2 Văn học viết 36
2.2 TÔN GIÁO – TÍN NGƯỠNG – TRIẾT HỌC 40
2.2.1 Tôn giáo: 40
2.3 Y HỌC 45
2.4 LỊCH SỬ 46
2.5 CÁC ĐỀ TÀI KHÁC 47
CHƯƠNG 3 49
3.1 TRUYỆN THƠ 50
3.2 DIỄN ÂM, DIỄN CA 52
3.3 NGÂM KHÚC 56
3.4 VĂN TẾ, ĐIẾU VĂN 60
3.5 CA DAO 67
CHƯƠNG 4 72
4.1 NHỮNG VẤN Đề CHUNG VỀ HỮU DANH VÀ KHUYẾT DANH 72
4.2 NGUYÊN NHÂN KHUYẾT DANH 73
C KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 5A PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Từ khi ra đời năm 1993, bộ Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu (1) đã chứng tỏ tầm quan trọng cũng như sự cần thiết của nó trong việc tìm hiểu thư tịch cổ của dân tộc ta Với bộ thư mục, người nghiên cứu sẽ tìm kiếm được những đề mục tác phẩm, đầu sách cần thiết, cũng như nội dung sơ lược của đối tượng tìm hiểu phục vụ cho việc nghiên cứu của mình
mà không cần phải lục tìm trong kho lưu trữ, vừa mất thời gian, vừa làm ảnh hưởng đến chất lượng sách đã quá xưa cũ
Sinh viên khối xã hội chúng tôi là một trong những đối tượng cần
phải sử dụng, khai thác những tiện ích mà bộ Di sản mang đến để phục vụ
cho việc học tập và nghiên cứu khoa học Trong quá trình tiếp xúc với bộ
Di sản, chúng tôi đã ghi nhận được sự xuất hiện với tần suất đáng kể những
đầu sách chứa tác phẩm viết bằng thể thơ lục bát và song thất lục bát Đây
là hai thể thơ đặc trưng của văn học Việt Nam, phủ trùm trên khắp các lĩnh vực đề tài và thể loại, đến nỗi GS Cao Huy Đỉnh đã phải thốt lên: “Lục bát vạn năng” (2)
Trong kho tàng văn học Việt Nam, thơ lục bát và song thất lục bát đóng một vai trò vô cùng quan trọng Trải qua thời gian tồn tại và phát triển lâu dài, thơ lục bát và song thất lục bát đã trở thành phương tiện diễn đạt quen thuộc trong nhiều lĩnh vực đời sống Trong giai đoạn khó khăn về in
ấn sách vở, về trình độ học hành, với những ưu điểm vượt trội: dễ làm, dễ thuộc, dễ lưu truyền của lục bát và song thất lục bát, ta có thể bắt gặp lục bát và song thất ở bất kỳ hình thức nào: ở những làn điệu ca dao, dân ca,
Trang 6những câu chuyện lịch sử hào hùng từ thời Hùng Vương dựng nước, nỗi ai oán của cung nhân trong cung lạnh, những câu chuyện cổ tích, sự tích, thần tiên, rồi cả những bài thuốc trị bệnh từ bình thường đến nan y,… Ta cũng
có thể gặp ở bất kỳ nơi đâu: từ nhà ra ngõ, trên cánh đồng, trên chiếc võng
ru, trong cả những câu nói hàng ngày,… Và cũng có thể xuất hiện trên môi bất kỳ ai: những bà mẹ quê ru con trên giá võng, những cô gái chàng trai đưa đẩy câu hát quên đi mệt nhọc của cuộc sống cần lao, cả những cô cậu
bé hài đồng cũng có thể “xuất khẩu thành thi” đôi ba câu lục bát hoặc song thất,…
Điều này được phản ánh qua sự thống kê và giới thiệu của bộ Di sản, song do đặc thù của bộ Di sản nên các tác phẩm ấy không được thống
kê và phân loại tập trung cho một lĩnh vực Với mong muốn tìm hiểu cụ thể
số lượng tác phẩm được viết bằng thể lục bát và song thất lục bát ở từng lĩnh vực đề tài, thể loại và tác giả, chúng tôi đã thực hiện đề tài nghiên cứu này nhằm tìm hiểu một cách rõ ràng hơn tính chất “vạn năng” của thơ lục bát, đánh giá chính xác hơn vai trò của lục bát và song thất lục bát trong lịch sử văn học cũng như đời sống của người Việt thời trung đại
Thể thơ lục bát và song thất lục bát là thể thơ cổ, nhưng không bao giờ cũ, với những ưu điểm vượt trội của mình, nó vẫn tiếp tục trở thành nguồn cảm hứng sáng tác cho nhiều người, vì vậy có thể chắc chắn, việc nghiên cứu thơ lục bát sẽ vẫn được tiếp tục trong tương lai với nhiều góc nhìn mới, nhiều vấn đề mới Đề tài mà chúng tôi thực hiện hi vọng sẽ có những đóng góp thiết thực cho các nghiên cứu mới nữa này về thơ lục bát
2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Thơ lục bát và song thất lục bát mang trong mình những ưu điểm
mà các thể thơ khác không dễ có được, nhờ hình thức thể hiện đơn giản: dễ làm, dễ nhớ, dễ thuộc; thuận tiện để phát triển thành một tác phẩm trường thiên dài hàng nghìn câu; mà lại rất phù hợp để truyền tải thông tin bằng truyền miệng trong điều kiện thiếu thốn sách vở, điều kiện học hành, in ấn tài liệu Với những ưu điểm vượt trội ấy, lục bát và song thất lục bát đã có
Trang 7một thời kỳ lịch sử rất dài gắn bó đậm nét trong đời sống người dân Việt Nam
Tuy là một thể thơ đại chúng như thế, song việc đi tìm nguồn gốc chính xác của lục bát và song thất lục bát vẫn là một vấn đề làm đau đầu các nhà nghiên cứu Rất nhiều các giả thuyết đã được các học giả đặt ra nhằm giải đáp cho vấn đề trên, có thể kể đến:
Hoa Bằng với bài viết “Thử xét một số tài liệu có liên quan đến thể
lục bát”, đăng trong Tập san nghiên cứu Văn Sử Địa, số 42, 7/1958
Nguyễn Đổng Chi với tác phẩm Việt Nam cổ văn học sử, xuất bản
lần đầu năm 1941
Phan Diễm Phương với tác phẩm Lục bát và song thất lục bát, Nxb
KHXH, 1998
Nguyễn Xuân Đức trăn trở khi “Đi tìm nguồn gốc thể lục bát Việt
Nam”, đăng trên tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 6-2004
Hoặc là những nghiên cứu về lục bát và song thất lục bát trong những nghiên cứu chung về tiến trình lịch sử văn học dân gian:
Cao Huy Đỉnh, Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam,
xuất bản năm 1974
Và còn nhiều nhà nghiên cứu khác vẫn trăn trở với đề tài này như
GS Đinh Gia Khánh, PGS Chu Xuân Diên,…
Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu thơ lục bát và song thất lục bát vẫn còn bỏ ngỏ khá nhiều Chẳng hạn ai cũng hình dung được lục bát và song thất lục bát có tính đại chúng, song tính đại chúng ấy được thể hiện ra sao? Thơ lục bát và song thất lục bát đã được sử dụng ở những lĩnh vực đề tài cụ thể nào, thể loại cụ thể gì? Vai trò của những thể loại, đề tài văn học mà thơ lục bát và song thất lục bát thể hiện như thế nào trong văn học và cả trong đời sống nhân dân? Chúng ta hình dung được, song chưa có cơ sở số liệu
Trang 8chắc chắn, cụ thể để chứng minh điều ấy Vì vậy, việc nghiên cứu tường tận
và hai thể thơ lục bát và song thất lục bát vẫn sẽ còn tiếp diễn lâu dài, dưới nhiều góc độ hơn
Đề tài nghiên cứu của chúng tôi không đặt nhiều tham vọng vào việc làm rõ một vấn đề, vì điều đó cần thời gian nghiên cứu lâu dài và sâu
rộng Ở đây, chỉ với sự khảo sát từ bộ Di sản cùng với sự tham khảo nhiều
tài liệu từ các nhà nghiên cứu trước đó, chúng tôi chỉ có thể đặt và giải quyết vấn đề một cách khái quát, mở đường cho những nghiên cứu kỹ lưỡng, cụ thể hơn khi có điều kiện
3 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
3.1 Mục tiêu của đề tài
Tìm hiểu một cách cụ thể số lượng những tác phẩm được viết bằng thể thơ lục bát và song thất lục bát trong kho thư tịch Hán Nôm Việt Nam,
giới hạn trong phạm vi bộ Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu
Thông qua những con số thống kê, phân loại cụ thể về những tác phẩm viết bằng hai thể thơ này, các nhà nghiên cứu sẽ có được những số liệu cụ thể, sinh động để minh chứng cho điều mà người ta thường nói: “lục bát vạn năng!”
Đề tài sẽ cho những số liệu cụ thể về số lượng tác phẩm được viết bằng hai thể thơ này ở từng lĩnh vực, như văn học, lịch sử, triết học, ngôn ngữ, y dược, kinh điển Nho gia, tôn giáo,…thông thường chúng được định danh thể loại bằng các tên gọi như: truyện, tân truyện, diễn âm, diễn ca, diễn nghĩa, ca, ngâm, khúc, ngâm khúc, vịnh, vãn, tế (tế văn),…
3.2 Nhiệm vụ của đề tài
- Nêu lên số lượng các tác phẩm văn học và phi văn học được viết bằng thể thơ lục bát và song thất lục bát được phân loại theo từng phương diện đề tài, thể loại và tác giả
- Dựa trên những nghiên cứu trước đó về thơ lục bát và song thất lục bát: lịch sử hình thành và phát triển, niêm luật, phạm vi ứng dụng…
Trang 9cùng với những số liệu có được, đóng góp một vài đánh giá, nhận xét về sự
“vạn năng” của thơ lục bát trong văn học trung đại
4 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Cơ sở lý luận
Để có cơ sở nêu lên những đánh giá của mình về các tác phẩm viết bằng thể thơ lục bát và song thất lục bát, chúng tôi đã sưu tầm và tham khảo một số tài liệu hữu ích về văn học Việt Nam thời trung đại, các tác phẩm nghiên cứu riêng về hai thể thơ lục bát và song thất lục bát của các học giả, nhà nghiên cứu như:
Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Ngọc Côn, Lịch sử văn học Việt Nam,
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt hiệu quả tốt nhất cho công trình nghiên cứu này, chúng tôi
đã vận dụng một số phương pháp cần thiết, thiết thực :
Trang 10- Phương pháp khảo sát, thống kê và phân loại : Khảo sát số lượng
các đầu sách được viết bằng thể lục bát và song thất lục bát trong bộ Di sản,
thống kê số lượng và phân loại theo từng phương diện riêng biệt : phương diện định danh đề tài, phương diện định danh thể loại và phương diện hữu danh khuyết danh
- Phương pháp so sánh các loại hình văn học sử : Với việc vận dụng phương pháp so sánh các loại hình văn học sử, chúng tôi sẽ có hiểu biết cụ thể, rõ ràng, khu biệt về lĩnh vực thể loại của tác phẩm để sự phân loại được chính xác
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành : Kết hợp nghiên cứu các lĩnh vực có liên quan ngoài văn học như lĩnh vực lịch sử, văn hóa,… để củng cố cho lập luận khi nhận xét, đánh giá về vai trò của thơ lục bát và song thất lục bát trong hoàn cảnh lịch sử của xã hội Việt Nam thời phong kiến
5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU, GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Các tác phẩm được viết bằng thể lục bát và song thất lục bát được
đề cập trong bộ Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu
5.2 Phạm vi nghiên cứu, giới hạn của đề tài
Đề tài chỉ khảo sát các tác phẩm được viết bằng thể thơ lục bát và song thất lục bát xét trên các phương diện đề tài, định danh thể loại và tác
giả giới hạn trong bộ Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu
6 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Góp một cái nhìn khái quát tương đối toàn diện, cụ thể về số lượng các tác phẩm viết bằng thể thơ lục bát và song thất lục bát trên các phương diện lĩnh vực đề tài, định danh thể loại và tác giả được tập trung thống kê và
giới thiệu trong bộ Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu
Trang 117 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN
Thể thơ lục bát và song thất lục bát là những thể thơ đậm tính dân tộc của văn học Việt Nam Không chỉ ở địa hạt văn học, lục bát và song thất lục bát còn “lấn sân” sang nhiều địa hạt khác như lịch sử, khoa học, tôn giáo,… với vai trò một phương tiện truyền tải thông tin đắc lực, phù hợp với điều kiện xã hội Việt Nam thời phong kiến thiếu thốn phương tiện thông tin, sách vở, in ấn khó khăn và trình độ dân trí hãy còn thấp kém Vì vậy, các tác phẩm được sử dụng thơ lục bát và song thất lục bát chiếm một
số lượng rất đáng kể trong mọi lĩnh vực, đòi hỏi sự nghiên cứu dài lâu và sâu rộng hơn của các học giả trong tương lai Đề tài chúng tôi thực hiện với tính chất khảo sát, thống kê, đánh giá, hi vọng cung cấp những số liệu cụ thể, hữu ích góp phần giúp cho những nghiên cứu sâu hơn về thể thơ lục bát
và song thất lục bát nói chung, và cụ thể hơn là trong từng phương diện như
đề tài, thể loại hay tác giả sáng tác Với những số liệu, bảng biểu được thống kê cụ thể, đề tài sẽ góp phần chứng minh một cách thuyết phục lục bát là một thể thơ vạn năng như nhiều người đã nhận xét
8 MỘT SỐ QUY ƯỚC
8.1 Về các thuật ngữ được sử dụng trong đề tài
- Đầu sách: Trong đề tài “đầu sách” được hiểu là một tập sách
trong đó chứa một tác phẩm hoặc nhiều tác phẩm nhưng chỉ có một nhan đề
và được đánh dấu khu biệt bằng một kí hiệu
- Tác phẩm: Trong đề tài thuật ngữ “tác phẩm” được hiểu là một
công trình ngôn từ độc lập được viết ra bởi một tác giả nào đó Trong bộ Di sản một “tác phẩm” có thể bằng một “đầu sách” hoặc có thể là một phần
trong đầu sách đó
Ví dụ:
Nhan đề số 657 DANH GIA QUỐC ÂM / 名家國音 kí hiệu AB.26
trong bộ Di sản là đầu sách chứa đến 3 tác phẩm:
Trang 121 Chinh phụ ngâm bị lục / 征婦吟備錄 : ngâm khúc Nôm Chinh phụ ngâm, phần chữ Hán của Đặng Trần Côn, phần diễn Nôm của Đoàn
Thị Điểm, có chú thích;
2 Phan Trần truyện trùng duyệt / 潘陳傳重閱 : truyện thơ Nôm Phan Trần, có bài khải của Lão Y Thiên Khẩu Thủy Vũ (tức Vũ Hoạt, nói
theo kiểu chiết tự), và hơn 50 bài thơ vịnh truyện này;
3 Cung oán ngâm / 宮怨吟 : của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều,
có thơ đề của Hạ Thái Nguyễn Vân Chương/ 阮雲章, và thơ Tự tình tiểu luận nói về nỗi nhớ người yêu
Chúng tôi khảo sát, thống kê và phân loại các đầu sách theo các phương diện lĩnh vực đề tài, phương diện định danh thể loại và phương diện hữu danh khuyết danh, do đó sẽ xuất hiện một số trường hợp các tác phẩm chứa trong các đầu sách tổng hợp có lĩnh vực đề tài, thể loại không giống nhau, và những tác phẩm trong đó có thể có tác giả hoặc khuyết danh Trong trường hợp đó đầu sách được phân loại có thể nhiều hơn một lĩnh vực đề tài, thể loại, hoặc vừa là hữu danh, vừa là khuyết danh, tùy thuộc vào tác phẩm chứa bên trong nó
- Về phương diện lĩnh vực đề tài: văn học, lịch sử, tôn giáo-tín ngưỡng, y học, kinh điển Nho gia, phong thủy, bói toán, giáo dục, địa lý, triết học, …
- Về phương diện định danh thể loại: truyện thơ Nôm, diễn ca, ngâm khúc, văn tế, ca dao dân ca,…
- Về phương diện tác giả: hữu danh, khuyết danh
Ví dụ 1:
1043 ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH 斷腸新聲
Trang 13Nguyễn Du 阮攸 soạn Giá sơn Kiều Oánh Mậu 蔗山喬塋懋 chú thích, Lập Trai Phạm Quý Thích 立齋范貴適 đề từ và viết tựa In năm Thành Thái Nhâm Dần (1902)
"Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần" Sau cái chết của Từ Hải, Kiều nhảy xuống sông Tiền Đường tự tử, may được Giác Duyên cứu sống Sau cùng được đoàn tụ với Kim Trọng và gia đình
Trong đầu sách này, chỉ có 1 tác phẩm Đoạn trường tân thanh của
Nguyễn Du, do vậy, đầu sách sẽ được xếp vào đề tài văn học, thể loại truyện thơ Nôm và có tên tác giả là Nguyễn Du
thơ Nôm, chưa rõ tác giả
2 Nhân ảnh vấn đáp: cuộc đối thoại giữa người với bóng, Nôm, thể 6-8
Trang 143 Thu dạ lữ hoài ngâm: khúc ngâm của kẻ xa nhà giữa đêm thu, do Đinh
Nhật Thận soạn
4 Hương Tích nhật trình ca: bài ca về đường lên Hương Tích, do PB họ
Đặng, Đốc học Bắc Ninh soạn
Vậy trong đầu sách này có 4 tác phẩm là:
1 Chinh phụ ngâm khúc (không rõ lục bát hay song thất lục bát,
không khảo sát)
2 Nhân ảnh vấn đáp (6-8, không rõ tác giả, không rõ thể loại)
3 Thu dạ lữ hoài ngâm (ngâm khúc, 7-7/6-8, Đinh Nhật Thận sáng
Đầu sách này thuộc thể loại ngâm khúc (do tác phẩm Thu dạ lữ hoài ngâm)
và thể loại khác (do chưa rõ thể loại của tác phẩm Nhân ảnh vấn đáp và Hương Tích nhật trình ca); Đầu sách vừa có tác giả là Đinh Nhật Thận (Thu
dạ lữ hoài ngâm) vừa khuyết danh (3 tác phẩm còn lại)
- Ngoài ra, có một số trường hợp một tác phẩm được in/viết ở nhiều đầu sách khác nhau, khi khảo sát, chúng tôi sẽ chỉ xem như một mà không tính là nhiều tác phẩm
8.2 Về cách đánh số thứ tự và đề tên tác phẩm/đầu sách trong phần Phụ lục
8.2.1 Cách đánh số thứ tự
Chúng tôi giữ nguyên các số thứ tự của đầu sách đã được đánh dấu
trong bộ Di sản và thêm một số ký hiệu số cùng với số thứ tự của đầu sách
để khu biệt giữa các đề tài, thể loại, hữu danh khuyết danh Cụ thể:
Trang 15- Ở thể thơ, mỗi thể thơ tương ứng một số thứ tự:
- Ở phương diện thể loại, mỗi thể loại tương ứng với một số thứ tự
(1) Truyện thơ: truyện, tân truyện, diễn âm, diễn ca, diễn nghĩa, ca,…
(2) Diễn ca: gồm diễn âm, diễn ca, diễn nghĩa, ca,…
(3) Ngâm khúc: gồm ngâm, ngâm khúc, vịnh, vãn,…
(4) Tế: gồm tế, tế văn (văn tế), điếu văn,…
(5): Ca dao
(6) Thể loại khác:…
Trang 16* Lưu ý: sự phân biệt giữa nhóm “truyện thơ” và “diễn ca” dựa trên nội
dung của tác phẩm, vì có rất nhiều trường hợp ghi là “diễn ca” tuy nhiên tác phẩm lại là truyện thơ, ghi là “diễn âm” nhưng là diễn ca,
- Ở phương diện hữu danh, khuyết danh: mỗi tiêu chí tương ứng với một
số thứ tự:
(0): Khuyết danh
(1): Hữu danh
Thứ tự đánh số như sau:
Số thứ tự trong bộ Di sản Thứ tự thể thơ Thứ tự đề tài Thứ tự thể
loại Thứ tự hữu danh khuyết danh (tất cả ngăn cách bằng dấu chấm (.))
Tên tác phẩm – Tên đầu sách (ngăn cách bằng dấu gạch nối (-))
* Tất cả tên tác phẩm/ đầu sách đều ở phía sau số thứ tự
Ví dụ:
Đầu sách 478 CHINH PHỤ NGÂM KHÚC / 征婦吟曲 ở trên được khảo sát với 2 tác phẩm:
Trang 17- Nhân ảnh vấn đáp: thể thơ 6-8, đề tài văn học, không rõ thể loại, không
rõ tác giả
Số thứ tự sách và tiêu đề sẽ đƣợc xác định:
478.1.1.5.0 Nhân ảnh vấn đáp – Chinh phụ ngâm khúc/ 征婦吟曲
- Thu dạ lữ hoài ngâm: thể thơ 7-7/6-8, đề tài văn học, thể loại ngâm,
Trang 18B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 ĐẶC TÍNH VÀ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CỦA THỂ THƠ LỤC
BÁT VÀ SONG THẤT LỤC BÁT
1.1 ĐẶC TÍNH
Từ bao đời nay, thơ lục bát đã luôn hiện hữu trong đời sống của nhân dân lao động và đã thấm nhuần vào trong tâm hồn con người Việt Nam, với từng câu ca dao dân ca, các bài hát ru con của những người mẹ Ngoài thể thơ lục bát ra, thì thể thơ song thất lục bát cũng là một thể thơ sáng tạo đặc biệt của dân tộc, được ra đời trên cơ sở kết tinh chặt chẽ, hài hòa giữa thơ lục bát và thơ bảy chữ
1.1.1 Đặc tính của thơ lục bát
Có thể nói, lục bát là thể thơ phổ biến nhất trong dân gian nước Việt
ta từ thời xa xưa Chẳng ai biết chính xác là nó được bắt nguồn từ đâu? Ai là tác giả đầu tiên? Nhiều câu hỏi được đặt ra như thế, nhưng chưa thể nào tìm được các câu trả lời chính xác Chúng ta chỉ biết được thể thơ này phong phú với nhiều dạng thi ca dân gian khác nhau: ca dao, hò vè, hát ru, Và có tới trên một trăm điệu hát khác nhau như hát ví, hát chèo, sa lệnh, trống quân,… nhưng cái cốt lõi, chính yếu vẫn là được viết bằng thể thơ lục bát Thơ lục bát ra đời từ dân gian, do nhân dân truyền miệng nên nó thật sự đa dạng như một thể loại của văn học dân gian nước ta Từ đó ta chứng minh được rằng, thơ lục bát được thể hiện một cách sâu rộng, phong phú đa dạng
ở mọi lĩnh vực đời sống văn hóa của người Việt
Vần thơ lục bát càng đọc ta càng cảm nhận được sự uyển chuyển, mượt mà, toát lên từ nhịp điệu trong thơ – nói cách khác là chất nhạc trong thơ đã được “biến hóa” một cách chân thực, linh hoạt mà khi ta đọc những
Trang 19câu thơ lục bát như đang hát du dương một ca khúc, với những tâm tình nhẹ nhàng, sâu lắng một cách vô tận Cho nên, một bài thơ lục bát hay không chỉ dựa trên yếu tố nhịp điệu mà vần cũng rất uyển chuyển, dễ thuộc, dễ nhớ Nó chuyển tải nội dung như một khúc ca, đi sâu vào lòng người đọc:
Người dâu gặp gỡ làm chi Trăm năm biết có duyên gì hay không?
(Đoạn trường tân thanh – Nguyễn Du)
Nhìn chung, thể thơ lục bát có nhạc tính rất cao, có khả năng thể hiện tâm tư tình cảm con người một cách sâu rộng:
Anh đi làm thợ nơi nao
Để em gánh bục gánh bào đi đưa
Trời nắng cho chí trời mưa
Để em cởi áo che cưa cho chàng
(Bài ca thợ mộc – Khuyết danh)
Thơ lục bát có lợi thế trong lựa chọn nhịp (chẵn/ lẻ), trong ứng dụng lại có khả năng lệch thể, biến thể khá rộng và linh hoạt trên nhiều phương diện (hiệp vần, hiệp âm, lạc vận, sự thay đổi số chữ - số dòng trong mỗi đơn
vị tác phẩm,…) đáp ứng được nhu cầu biểu đạt sâu sắc, phong phú, đa dạng tình ý của người sáng tạo, lại hạn chế được tính đơn điệu của thể thơ Điều
đó góp phần giải thích trọn vẹn vì sao thể lục bát chiếm số lượng tuyệt đối trong ca dao truyền thống (phần lớn vốn là ca từ của dân ca) và đã tồn tại, phát triển hàng trăm năm nay trong nền văn học viết Việt Nam Chính vì vậy, thơ lục bát thể hiện được đặc tính của mình trên nhiều phương diện khác nhau trong đời sống văn hóa của người Việt ta như: phương diện đề tài (văn học, lịch sử, địa lý, tôn giáo, y học,…), phương diện định danh thể loại (truyện thơ, ca, ngâm, diễn ca, diễn âm,…), phương diện tác giả (hữu danh, khuyết danh)… Chẳng hạn đây là những vần thơ nói về lịch sử:
Trang 20Lạc Long lại sánh ưu ky, Trăm trai điềm ứng hùng bi lạ dường
Noãn bào dù chuyện hoang đường,
Ví xem huyền điểu sinh Thương khác gì?
Đến điều tan hợp cũng kỳ,
Há vì thủy hỏa sinh ly như lời, Chia con sự cũng lạ đời, Qui sơn, qui hải khác người biệt ly
Lạc Long về chốn Nam thùy,
Âu Cơ sang nẻo Ba Vì Tản Viên
Chủ trương chọn một con hiền, Sửa sang việc nước nối lên ngôi rồng
(Đại Nam quốc sử diễn ca - Lê Ngô Cát) Khi ta xét thể thơ này ở phương diện đề tài để minh chứng rằng thơ lục bát đa dạng về mọi mặt Nhắc đến đề tài y học thì chúng ta phải công nhận rằng thơ lục bát được vận dụng khá nhiều để nói đến dược tính của những cây thuốc đồng thời nêu lên cách chữa bệnh qua những bài ca Nôm
Ví dụ:
Giải biểu phát tán phong hàn Bạch sinh kinh quế ma hoàng tía thông Phong nhiệt gồm có bạc hà Cát cúc tang diệp mạn phù cối xay Phong thấp mới thật thuốc hay
Trang 21Ké uy linh nữ là cây dễ tìm Tang chi tang ký thiên niên Đau xương, hổ cốt, hy thiêm, gia bì Thanh nhiệt tả hỏa tức thì Thạch trúc chi quyết sợ gì sốt cao
Lô căm thạch thảo thêm vào Thanh nhiệt giải độc thuốc nào hay hơn Vàng đắng, hoàng bá, hoàng liên Rau sam, cỏ sữa, phèn đen thiếu gì Thanh nhiệt lương huyết vị chi? Hoài sơn, sinh địa, cốt bì, bạch mao
Cỏ mực mức ké thêm vào Chuyển sang hành khí nâng cao tinh thần
Trần, hương, ô, chỉ, sa nhân Đại phúc, hậu phác góp phần mộc hương Hoạt huyết xin chớ coi thường Đào ngư, uất, ích, xuyên sơn, khương hoàng Xuyên khung, nga truật, bồ hoàng
Tô mộc, tạo giác hỡi chàng nhớ không ? Sang phần những thuốc bổ âm Thiên, mạch, thạch, miết, quy, sâm, câu kỳ
Trang 22Bổ dương lộc cốt, cu ly
Ba tục, phá cốt, thỏ ty, tắc kè Ích trí nhân, đỗ trọng kia
Bổ khí kiện tỳ đặc hiệu nhân sâm Hoài sơn, bạch truật, táo nam Hoàng kỳ, cam thảo, sa sâm nếu cần
Bổ huyết, thục địa, tang thầm Đương quy, long nhãn, huyết đằng thêm vô
thể hiểu diễn Nôm và diễn ca như những thuật ngữ trỏ thao tác Thực chất của thao tác đó là: Diễn đạt (một nội dung nào đấy) bằng tiếng bản địa, bản tộc (ở đây là Tiếng Việt đối với người Việt); nhưng không phải tiếng bản tộc trong một cấu trúc bất kỳ mà phải là một cấu trúc xác định, đáp ứng yêu cầu
thuận lợi trong phổ biến, truyền thông, lại cũng đáp ứng một mỹ cảm về ngôn từ của người bản tộc đương thời” (1) Hai hình thức “diễn ca” và “diễn Nôm” này còn phát triển sâu rộng, mạnh mẽ như không có điểm dừng ở mọi lĩnh vực đời sống văn học hoặc không phải văn học Có nhiều bài thơ lục bát trữ tình trường thiên (vãn, khúc, ngâm…)
1
: Lại Nguyên Ân - Truyện Nôm- Vài khía cạnh Văn học sử, 1996
Trang 23Truyện thơ Nôm đƣợc “diễn Nôm” bằng thơ lục bát một cách mƣợt
mà, sinh động, điêu luyện, tài hoa:
Trăm năm trong cõi người ta, Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trông thấy mà đau đớn lòng
Lạ gì bỉ sắc tư phong, Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen
Cảo thơm lần giở trước đèn, Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh
Rằng: Năm Gia-tĩnh triều Minh, Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng
Có nhà viên ngoại họ Vương, Gia tư nghỉ cũng thường thường bậc trung
Một trai con thứ rốt lòng, Vương Quan là chữ nối dòng nho gia
Đầu lòng hai ả tố nga, Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân
Mai cốt cách tuyết tinh thần, Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười
Vân xem trang trọng khác vời,
Trang 24Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang, Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da
Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn
Làn thu thủy nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh
Một hai nghiêng nước nghiêng thành, Sắc đành đòi một tài đành họa hai
(Đoạn trường tân thanh - Nguyễn Du)
Thể diễn ca lục bát có thể được dùng để thuyết giảng đạo lí, các bài
“gia huấn” dùng để răn dạy con cháu trong dòng tộc, hoặc soạn các các thiên niên biểu, hành trạng như một thứ tự truyện lưu lại cho con cháu những điều cần nhớ về huân công, sự nghiệp của tổ tiên đời trước… Bên cạnh đó, sách giáo khoa dạy chữ nho cũng vận dụng tối đa tính chất dễ thuộc, dễ nhớ của thể thơ lục bát làm các bài giảng cho học trò học mau nhớ bài hơn Chúng ta phải công nhận rằng, giữa thế kỉ XX, chính vì tính chất dễ nhớ, dễ thuộc mà thể thơ lục bát được dùng vào việc tuyên truyền chính trị với tất cả các quy
mô, các màu sắc, các xu hướng vận động của xã hội
Ngoài ra, các nhà thơ hiện đại còn tạo được các tứ lạ, điều đó ta cần tìm hiểu kĩ về các đặc trưng mới trong thơ lục bát Giả sử, ta xét trên phương diện nhạc điệu thì chúng ta sẽ nhận thấy được những câu thơ lục bát bây giờ
đã có nhạc điệu cực kì phong phú; đọc bất kì bài nào cũng có thể thấy sự đa dạng của sự kết hợp chặt chẽ giữa ba yếu tố: nhịp điệu, vần điệu và thanh điệu Nhưng cái thuần túy, nét truyền thống dân dã, mộc mạc trong thơ ngày nay thì khó có thể tìm thấy được những câu như:
Trang 25Nửa chừng xuân / thoắt / gẫy cành thiên hương
(Đoạn trường tân thanh - Nguyễn Du)
Giống như các dân tộc khác trên thế giới, người Việt Nam ta có quyền tự hào về thể thơ riêng của dân tộc - thơ lục bát, điều đó cũng giống như Trung Quốc tự hào về thơ Đường luật của họ, người Nhật Bản tự hào về thơ Hai-ku đang phát triển trong và ngoài nước (bằng chứng là du nhập và phát triển ở Việt Nam ta rất mạnh mẽ)… Vì thế nên việc chúng ta vừa tiếp nhậncác tinh hoa văn hóa của nước ngoài, vừa kế thừa và phát triển thành tựu truyền thống văn hóa dân tộc là vô cùng thiết yếu, đó là không chỉ riêng
về mặt giá trị văn học, mà còn nhiều lĩnh vực khác trong đời sống văn hóa xã hội Việt Nam ta
1.1.2 Đặc tính của thơ song thất lục bát
Về đặc tính nổi bật cũng như ưu thế thể hiện thì phải công nhận rằng: thơ song thất lục bát cũng có nhiều nét tương đồng như thơ lục bát, đều
có dung lượng thơ phóng khoáng, nhịp điệu kết cấu ổn định, tạo cảm giác lặp
đi lặp lại thường phù hợp với nhu cầu miêu tả tự sâu sắc, phong phú của tâm trạng trong những tác phẩm vãn, khúc ngâm của thời đại, hoặc có những tác phẩm có tính chất hồi tưởng trong văn học hiện đại Ở thể song thất lục bát, các tác phẩm được viết bằng hình thức “diễn Nôm”, “diễn ca” cũng rất đặc sắc nhưng chiếm số lượng không nhiều Thành tựu nổi trội ở thể thơ này là
những “ngâm khúc”, chẳng hạn như tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc diễn âm:
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi, Khách má hồng nhiều nỗi truân chiên
Xanh kia thăm thẳm tầng trên,
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này ? Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt,
Trang 26Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây Chín tầng gươm báu trao tay, Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh Nước thanh bình ba trăm năm cũ
Áo nhung trao quan vũ từ đâỵ
Sứ trời sớm giục đường mây, Phép công là trọng, niềm tây sá nào Đường giong ruổi lưng đeo cung tiễn, Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa Bóng cờ tiếng trống xa xa, Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng
Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt, Xếp bút nghiên theo việc đao cung Thành liền mong tiến bệ rồng, Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời Chí làm trai dặm nghìn da ngựa, Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao Giã nhà đeo bức chiến bào, Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu
Trang 27(Chinh phụ ngâm khúc diễn âm – Nguyên tác Đặng Trần Côn, bản dịch của Đoàn
Thị Điểm)
Đây là những câu thơ chính yếu miêu tả rõ nét tâm trạng chính của biết bao nhiêu người thiếu phụ ngày ấy khi chồng thân chinh miền biên ải, tác phẩm diễn âm không chỉ thành công ở thể loại về mặt thủ pháp nghệ thuật là tả cảnh và tả tình mà còn phản ánh đúng đắn về bối cảnh chung của thời loạn lạc chinh chiến khiến chồng xa vợ, con xa cha, mẹ già tựa cửa trông ngày con về trong nguyên tác của Đặng Trần Côn Chiến tranh phi nghĩa làm con người ta không chỉ tổn thất về vật chất của cải mà còn về tính mạng con người, vì thực sự mạng sống của con người trở nên nhỏ bé trước thời cuộc, nói đúng hơn chính là sự diễn biến của xã hội
Hoặc bản diễn Nôm:
Thư phòng rở tiên cung cổ lục Lậy giãng trình vào khúc Nam âm Thấy trong sự tích suy tầm Khắp bầy sau trước nga ngâm lưu truyền Vừa vận mở Nam triều thế lỵ Nhà Hậu Lê đời kỷ Anh Tôn
Năm đầu tiên Thiên Phúc mới tôn Phụ đời Mạc thị Phúc Nguyên Cao Bình Đương Bắc quốc nhà Minh Gia Tĩnh
Lẻ sáu năm tròn trận ba mươi
Có làng Thiên Bản một người Đốc sinh tiên nữ về đời họ Lê
Trang 28Nghĩ vãn tuế còn người vãn tự
Lễ cầu giới kính sự hương đàng Ngày đêm khấn vái lòng hằng Mộng chiêu hùng hủy chiêm bằng ngõa chương
(Vân Cát Thần Nữ cổ lục diễn âm - khuyết danh)
Nhưng điểm mới, cũng như điểm khác biệt lớn nhất của thể thơ song thất lục bát so với thể thơ lục bát chính là sự “biến cách trong kết cấu” của câu thơ, sự phát triển của cấu trúc âm luật và khiến cho nhịp thơ đôi khi người đọc tưởng chừng như “gãy khúc” nhưng thật ra nhịp thơ vẫn đều đều như một dòng chảy bất tận, cứ miên man và sâu lắng Chẳng hạn:
Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách Quạnh hơi thu, lau lách đìu hiu Người xuống ngựa, khách dừng chèo Chén quỳnh mong cạn, nhớ chiều trúc ti Say những luồng ngại khi chia rẽ Nước mênh mông đượm vẽ gương trong Đàn ai nghe vẳng bên song Chủ khuây khỏa lại khách dùng dằng xuôi…
(Tỳ bà hành - Phan Huy Ích)
Nhờ tính chất dễ tạo cảm xúc mà song thất lục bát được sử dụng đặc biệt nhiều ở thể ngâm, ở thể loại này, có thể nói song thất lục bát gần như chiếm tỷ lệ áp đảo Da diết làm sao khi ngâm lên:
Cùng quay lại mà cùng chẳng thấy
Trang 29Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu Ngàn dâu xanh ngắt một màu Tình chàng ý thiếp ai sầu hơn ai
(Chinh phụ ngâm khúc diễn âm – Nguyên tác Đặng Trần Côn, bản dịch của
Đoàn Thị Điểm)
Trong đó, điểm khác biệt lớn cũng như điểm tương đồng lớn giữa hai thể thơ lục bát và song thất lục bát là phép đối trong câu của hai thể thơ này, cụ thể là hai hình thức đối là tiểu đối ở dòng sáu và dòng tám (còn gọi là
tự đối), và bình đối ở hai dòng thất (còn gọi là đối cách cú) Vì phép đối này
có thể xảy ra tất ở thể thơ song thất lục bát, còn thể thơ lục bát chỉ có thể xảy
ra phép tiểu đối Trong các câu thơ, hai phép đối này có sự kết hợp hài hòa, chặt chẽ làm cho câu thơ trở nên linh hoạt, sinh động
Tiểu đối ở dòng lục kết hợp với tiểu đối dòng bát (thơ lục bát):
“Làn thu thủy / nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm / liễu hờn kém xanh”
(Đoạn trường tân thanh - Nguyễn Du)
Bình đối kết hợp với tiểu đối của câu thơ lục bát (thơ song thất lục bát):
“Sương như búa bổ mòn gốc liễu Mưa dường cưa xẻo héo cành ngô Giọt sương phủ / bụi chim gù Sâu tường kêu vẳng / chuông chùa nện khơi”
(Cung oán ngâm khúc - Nguyễn Gia Thiều)
Theo PTS Phan Diễm Phương thì phép đối trong thơ lục bát và thơ song thất lục bát ngỡ là tự do nhưng thực chất là “Nó được thỏa thuận ngầm
Trang 30là trong khi để cho đối được phát triển phong phú và phát huy tác dụng, nhà thơ vẫn phải tôn trọng đến mức tối đa mô hình âm luật đã được xác lập” Và
“Đối không làm ảnh hưởng nhiều đến âm luật mà vẫn phát huy được tác dụng là dồn nén dòng thơ lại, khiến cho chúng trở nên súc tích hơn, có trọng lượng hơn”
Phải khẳng định rằng, lục bát và song thất lục bát là hai thể thơ dễ tạo vần điệu, dễ kéo dài thành những tác phẩm trường thiên (có dung lượng câu rất lớn khoảng mấy ngàn câu) Ngoài ra, hai thể thơ này có tính đại chúng, vì đã gắn bó với con người Việt Nam từ ngàn xưa, trở thành đời sống tinh thần không chỉ đối với thi sĩ mà những người dân Việt bình thường cũng phần nào yêu mến nên cũng phù hợp với loại văn học thông tục và phi văn học Đặc biệt, chúng còn có công dụng to lớn trong điều kiện xã hội Việt Nam ta còn nhiều khó khăn về kinh tế lẫn chính trị, việc in ấn còn nhiều khó khăn, sách vở chưa có nhiều, truyền bá chủ yếu qua hình thức truyền miệng,
vì đơn giản người ta có thể nhớ chính xác một câu truyện viết bằng thơ lục bát hay thơ song thất lục bát chứ không thể nhớ từng câu từng chữ trong một bài văn xuôi Từ những đặc tính căn bản đó mà khiến cho hai thể thơ này được ứng dụng sâu rộng trong đời sống văn hóa của mọi người dân Việt Nam, có khắp mọi lĩnh vực và được mệnh danh là “lục bát vạn năng” như
GS Cao Huy Đỉnh đã nói từ rất lâu; “Mà chính nhờ hai hình thức “diễn Nôm” và “diễn ca” mà khiến cho thể thơ lục bát trở nên vạn năng Nhưng tính vạn năng của lục bát được phát huy không phải trong mọi tiền đề văn hóa lịch sử bất kì, mà chỉ là trong những tiền đề xác định: đó là trong một môi trường kém phát triển về phương tiện truyền thông" 1
1 2 KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CỦA THỂ THƠ LỤC BÁT VÀ SONG THẤT LỤC BÁT
Xin trích dẫn lại một nhận định của GS Cao Huy Đỉnh trong quyển
Tìm hiểu tiến trình văn học Việt Nam mà chúng tôi đã nhắc đến ở trên: “Từ
thế kỷ XVIII trở đi thì thơ sáu tám trở nên vạn năng, dung để diễn đạt mọi
1
Lại Nguyên Ân – Truyện Nôm, vài khía cạnh văn học sử, 1996
Trang 31thứ cảm nghĩ, tự sự, trữ tình, nghị luận cũng như diễn kịch, dù dung lượng dài ngắn, rộng hẹp, khó dễ đến đâu cũng thích nghi cả” Thật vậy, qua nhận định này, ta có thể thấy được khả năng ứng dụng rộng rãi của thể thơ lục bát
và song thất lục bát không những trong văn học mà còn trong mọi lĩnh vực của đời sống
Ta đã nhắc đến niêm luật linh hoạt, dễ tạo vần điệu của thơ lục bát, điều đó khiến lục bát có khả năng kéo dài thành những tác phẩm trường
thiên, độ dài có khi lên đến hàng nghìn câu, như Đoạn trường tân thanh (3254 câu), Chinh phụ ngâm (408 câu), Đại Nam quốc sử diễn ca (1887
câu)… Do có kết cấu mắt xích, các tác phẩm thơ ca lục bát và song thất lục bát vừa có khả năng kéo dài vô tận, vừa có khả năng tự tách mình thành một tác phẩm trữ tình hoặc tự sự riêng biệt:
Cùng quay lại mà cùng chẳng thấy Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu Ngàn dâu xanh ngắt một màu Tình chàng ý thiếp ai sầu hơn ai (Chinh phụ ngâm khúc diễn âm – Nguyên tác Đặng Trần Côn, bản dịch của Đoàn
Chính khả năng linh hoạt ấy của lục bát và song thất lục bát mà dù
có người đã nhận định rằng “Nếu phải nghe cái nhịp đều đều này mấy ngàn
Trang 32lần liên tiếp trong một tác phấm lục bát dài thì quả là một cực hình…”(1) lục bát và song thất lục bát vẫn phát triển không những rộng mà còn rất sâu, len lỏi vào mọi ngóc ngách của cuộc sống Lục bát và song thất lục bát cứ đều đều, cứ êm ả chảy trong dòng chảy văn học bằng một sức sống dai dẳng, mãnh liệt từ trong nội tại
Nhờ sức sống dẻo dai, trường tồn của mình mà thơ lục bát và song thất lục bát có chỗ đứng vững chắc trong lòng dân tộc, không ai không nghe, không ai không biết đến lục bát hay song thất lục bát Trong điều kiện thiếu thốn nguyên liệu sáng tạo thì nhu cầu thỏa mãn về tinh thần của người dân vẫn rất lớn, những tích truyện nguồn gốc từ Trung Quốc, thông qua nhiều con đường đã đến với người Việt và được họ “Việt hóa” một cách tài tình cho phù hợp với truyền thống, đạo đức và văn hóa, một trong những hình thức “Việt hóa” đó chính là diễn âm Nôm Diễn âm Nôm không hẳn là dịch,
mà là dựa vào cốt truyện vốn có, rồi bằng cách vận dụng ngôn từ, cốt truyện
ấy đã được mặc cho một chiếc áo mới, là giọng nói, giọng đọc vần điệu của ngôn ngữ Việt Còn phương tiện nào phù hợp hơn lục bát và song thất lục bát nữa? Vậy là, những tác phẩm diễn âm Nôm ra đời, vẫn bảo đảm cốt truyện nguyên tác, nhưng đã có chiếc áo khác vừa vặn hơn, phù hợp hơn với
vóc dáng người Việt Nam Một vài ví dụ cho thể loại ấy là: Nhị độ mai diễn
ca, Bạch Viên Tôn Các truyện, Bình Sơn Lãnh Yến diễn âm, … đã giải quyết
phần nào nhu cầu rất lớn về đời sống tinh thần của người dân Việt khi ấy Nói như vậy không có nghĩa là truyện thơ Nôm chỉ có diễn âm từ các tích truyện Trung Quốc, sự sáng tạo của các tác giả vẫn phải ghi nhận
với nhiều tác phẩm có giá trị như: Lục Vân Tiên cổ tích truyện, Mai Đình mộng ký,… phỏng theo con đường tư tưởng từ các tích truyện có sẵn trước
đó, các tác giả đã sáng tạo nên những thiên diễn ca, truyện thơ của riêng dân tộc mình bằng thể lục bát và song thất lục bát
Hay những tác phẩm ngâm mang đầy tâm sự mà thể song thất lục
bát hoàn toàn không có đối thủ: Thu dạ lữ hoài ngâm, Chinh phụ ngâm,
1
: Phạm Quang Tuấn – Bàn về Lục bát và Ca khúc Việt Nam – đọc lần đầu tại Nhóm Yêu Nhạc Sydney năm 1998
Trang 33Cung oán ngâm khúc, Ai tư vãn, … Ở những thể ngâm và vãn, song thất lục
bát đã chứng tỏ ứng dụng tuyệt vời của mình Với ưu thế về niêm luật, song thất lục bát là lựa chọn không thể thích hợp hơn để giãi bày tâm sự buồn thương, đau xót, tạo xúc cảm rất lớn nơi người đọc:
Gió hiu hắt phòng tiêu lạnh lẽo Trước thềm lan, hoa héo ron ron
Cầu Tiên khói tỏa đỉnh non,
Xe rồng thăm thẳm, bóng loan dàu dàu
Nỗi lai lịch dễ hầu than thở Trách nhân duyên mờ lỡ cớ sao ? Sầu sầu, thảm thảm xiết bao
Sầu đầy giạt bể, thảm cao ngất trời !
(Ai tư vãn - Hoàng hậu Ngọc Hân)
Ở địa hạt văn học dân gian, lục bát và song thất lục bát cũng là một cái tên tiêu biểu, từng có một nghiên cứu cho thấy 90% ca dao sử dụng thơ lục bát, điều đó cho thấy vị trí khó lòng thay thế của lục bát trong văn học dân tộc Không chỉ ca dao, mà còn hát ví, hát đối, quan họ, hò, vè,… cũng chính từ lục bát mà ra Khắp mọi vùng miền, không đâu không có lục bát, chỉ có lục bát thay đổi thế nào cho phù hợp với lời nói mà thôi:
Gái đâu có gái lạ lùng Chồng chẳng nằm cùng, nổi giận đùng đùng ném chó xuống ao
(Ca dao)
Hoặc:
Ta rằng ta chẳng có ghen
Trang 34Chồng ta, ta giữ, ta nghiến, ta nghiền, ta chơi
cụ đắc lực để truyền bá tư tưởng, kiến thức, kinh nghiệm… trong rất nhiều
lĩnh vực Có thể kể đến tác phẩm lịch sử đồ sộ Đại Nam quốc sử diễn ca, Bắc sử vịnh,… trong lĩnh vực lịch sử Lĩnh vực y học ghi nhận một số lượng rất lớn những phương thuốc chữa đậu mùa, chữa bệnh trẻ con như Chẩn đậu diễn ca, Tiểu nhi tạp trị, Thương hàn luận chứng quyết,… Lĩnh vực tôn giáo
có các bài kinh, kệ bằng thơ lục bát kể lại sự tích các vị Phật, Tiên, Thánh cùng những lời khuyên răn con người sống cho đạo đức, trước sau… Ngoài
ra, bộ luật Hoàng Việt luật lệ toát yếu diễn ca, cũng là một tác phẩm sử dụng
thơ lục bát và song thất lục bát để truyền bá, phổ cập đến nhân dân
Dù là văn học hay phi văn học, lục bát và song thất lục bát cũng có những đóng góp đáng kể Ngoài những lý do chủ quan như đây là thể thơ quen thuộc, dễ đọc dễ nhớ, dễ thuộc dễ ứng dụng, còn có những nguyên nhân khách quan khác Trong tình hình xã hội có dân trí thấp kém, rất ít người được đi học thì lợi thế chủ quan của lục bát và song thất lục bát phải được tận dụng triệt để nếu muốn người dân đón nhận Họ sẽ chẳng nhớ nổi một bài kinh dài dằng dặc, nhưng sẽ khó lòng quên được mấy câu :
Người ta ai cũng tính lành Sao cho dẹp được lửa tình mới xong
Trang 35Lòng này thanh tĩnh hư không Thì điều gì cũng hợp trong lẽ trời
(Bách nhẫn ngâm – Khuyết danh)
Trong điều kiện xã hội dân trí thấp, người có học không nhiều, kỹ thuật in ấn còn hiếm hoi và rất khó khăn thì sách vở lưu truyền là điều xa xỉ Hơn nữa, lưu truyền qua con đường sách vở là một cách « giết » tác phẩm nhanh hơn, muốn tác phẩm được lưu truyền thì cách tốt nhất là cho nó sống trong dân gian, sống giữa dân gian, để nó trở nên quen thuộc trên môi miệng người đời thì tác phẩm ấy mới có sức sống lâu dài được Một lần nữa, không
gì hơn thơ lục bát và song thất lục bát trong việc bảo lưu vốn văn hóa dân tộc
mình Minh chứng cho điều ấy chính là Đoạn trường tân thanh Từ vịnh
Kiều, lẩy Kiều cho đến bói Kiều… tác phẩm hoàn toàn được nhân dân đón nhận và làm giàu, làm đẹp thêm lên, cho đến hiện nay, chưa có tác phẩm nào vượt qua được
Trang 36CHƯƠNG 2 TÁC PHẨM VIẾT BẰNG THỂ THƠ LỤC BÁT VÀ SONG THẤT LỤC BÁT KHẢO SÁT Ở PHƯƠNG DIỆN LĨNH VỰC ĐỀ TÀI
Khi nói đến thơ lục bát và song thất lục bát, có lẽ trong văn học thế giới hiếm thể thơ nào có được sự linh hoạt như hai thể thơ này: linh hoạt trong niêm luật, trong sáng tác, trong ứng dụng Thơ lục bát và song thất lục bát có thể được sử dụng mọi nơi, mọi lúc: trong lao động, trong nghi lễ trang trọng, trong sáng tác văn chương, thậm chí, trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân Vì vậy, đề tài của những tác phẩm được viết bằng thơ lục bát và song thất lục bát cũng vô cùng phong phú, len lỏi mọi ngóc ngách trong các lĩnh vực đời sống, từ văn chương, tôn giáo, giáo dục,… cho đến y học, phong thủy Ở lĩnh vực nào thơ lục bát và song thất lục bát cũng có đóng góp
Trong công trình nghiên cứu nhỏ này, chúng tôi chỉ khảo sát những tác
phẩm được viết bằng thể thơ lục bát và song thất lục bát giới hạn trong bộ Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu (ba quyển) Kết quả khảo sát cho thấy
có 369 tác phẩm sử dụng thơ lục bát và song thất lục bát từ 353 đầu sách
(không tính các đầu sách được tái bản hoặc đồng bản) (Chi tiết xin xem tại Phụ lục 1 : Các sách khảo sát và Phụ lục 2 : Đề tài) Chúng tôi tạm chia số tác
phẩm trên thành 8 đề tài, và tạm định danh dựa trên lĩnh vực mà tác phẩm đề cập Cụ thể như sau:
*1 Văn học : 138 tác phẩm (37.4%), trong đó
- Văn học viết (hay văn học thành văn): 124 tác phẩm
Trang 37- Văn học dân gian: 14 tác phẩm
*2 Tôn giáo – Tín ngƣỡng – Triết học: 111 tác phẩm (30.08%), trong đó:
Trang 38mặt của thơ lục bát và song thất lục bát trong các lĩnh vực đề tài khác vẫn rất đáng kể, nhất là trong lĩnh vực tôn giáo (111 tác phẩm) và y học (73 tác phẩm)
2.1 VĂN HỌC
2.1.1 Văn học dân gian
Trước hết có thể khẳng định, thơ lục bát và song thất lục bát là những thể thơ đặc trưng của dân tộc Việt Nam Mặc dù có nhiều chứng cứ cho thấy, thơ lục bát cũng xuất hiện trong nền văn học của các nước trong khu vực, tuy nhiên, phạm vi thể hiện của chúng không lớn và không mang những nét đặc trưng dân tộc rõ ràng như ở Việt Nam Chỉ có ở Việt Nam, lục bát và người anh em của mình là song thất lục bát mới được nhìn nhận là một thể thơ dân tộc, mang hồn cốt của đất nước, con người Việt
Trong lĩnh vực văn học dân gian, do đặc thù truyền miệng nên phương tiện thể hiện thích hợp nhất chính là các thể thơ với đặc điểm dễ nhớ, dễ thuộc,
dễ sử dụng khi cần ứng đối Có thể kể đến vè, thơ ngũ ngôn, thất ngôn… song
có lẽ, thơ lục bát mới chính là đại diện tiêu biểu nhất của dòng văn học dân gian Với niêm luật chặt chẽ mà linh hoạt, một người lao động bình thường vẫn
có thể “xuất khẩu thành thơ” đôi câu lục bát tình yêu như:
Thương nhau mấy núi cũng trèo Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua
(Ca dao)
Hay là than thở:
Thân em như tấm lụa đào
Trang 39Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai
(Ca dao)
Rồi để đƣa duyên:
Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen
Em được thì cho anh xin Hay là em để làm tin trong nhà
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu
(Ca dao)
Trong văn học dân gian, đề tài cho thơ lục bát thể hiện gần nhƣ không
có giới hạn Vì văn học dân gian chính là lời ăn tiếng nói, là tâm tƣ tình cảm của nhân dân trong lao động, sinh hoạt, suy nghĩ, mang đầy đủ những sắc thái vui buồn Thơ lục bát thể hiện đƣợc tất cả những điều ấy Thơ lục bát đã góp phần giúp cho dòng văn học dân gian Việt Nam phát triển rực rỡ trong lịch sử, song hành cùng dòng văn học viết chính thống
Khác với dòng văn học viết, ở dòng văn học dân gian, sự hiện diện của thơ song thất lục bát không có đóng góp nhiều nhƣ thơ lục bát, nếu có, thì là sự kết hợp giữa hai thể thơ này :
Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Trang 40Em đã có chồng anh tiếc lắm thay
Ba đồng một mớ trầu cay Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không
Bây giờ em đã có chồng Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ Chim vào lồng biết thuở nào ra?
(Ca dao) Tuy vậy, việc văn bản hóa các tác phẩm văn học dân gian không phổ
biến, trong bộ Di sản, sự ghi nhận các tác phẩm văn học dân gian được viết
bằng thơ lục bát và song thất lục bát khá ít, chỉ trong 14 tác phẩm, mà một số trong đó chỉ mang tính trích dẫn, chứ không phải một công trình sưu tầm văn học dân gian trọn vẹn, đây là một sự đáng tiếc rất lớn Có thể lý giải chủ quan rằng văn học dân gian từ trước vẫn bị xem như dòng văn học bình dân, không mang tính học thuật, không mang tầm vĩ mô, nên bị xem nhẹ Một lý do khách quan nữa là số lượng các văn bản viết Hán Nôm còn được lưu giữ không nhiều, do hậu quả chiến tranh, sự biến động về chính trị, xã hội… đã làm cho các văn bản Hán Nôm, trong đó có thể có những bản sách ghi chép, sưu tầm các bài vè, ca dao lục bát và song thất lục bát mai một phần nào
2.1.2 Văn học viết
Đối với dòng văn học viết, các tác phẩm được viết bằng thơ lục bát còn được lưu trữ khá nhiều với 124/369 tác phẩm trong 353 đầu sách, chiếm
khoảng 33.6%% tổng số tác phẩm được khảo sát trong bộ Di sản, với số lượng
đề tài thể hiện phong phú, đa dạng: tự sự, trữ tình, ký sự, tự thuật, châm biếm,…