Tên đề tài: Nghiên cứu chiết tách và xác định thành phần hoá học từ dịch chiết n – Hexane của rễ cây thầu dầu tía Ricinus communis L.. 11 Thành phần hoá học định danh được trong p
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA HÓA
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP SINH VIÊN Họ và tên sinh viên : Trần Phượng Hằng
1 Tên đề tài: Nghiên cứu chiết tách và xác định thành phần hoá học từ dịch
chiết n – Hexane của rễ cây thầu dầu tía (Ricinus communis L.) trong dung
môi ethanol
2 Nguyên liệu, dụng cụ và thiết bị
− Nguyên liệu: cây thầu dầu tía được thu hái ở Quảng Nam vào tháng 01/2020
− Dụng cụ và thiêt bị: bếp cách thủy, cân phân tích, phễu Buchner, cốc thủy tinh, phễu chiết, bộ chưng ninh,…
3 Nội dung nghiên cứu
− Chiết mẫu bằng phương pháp ngâm chiết với dung môi ethanol 96
− Định tính thành phần nhóm chức trong các cao chiết
− Sắc ký lớp mỏng kết hợp phân lập phân đoạn cao chiết n – hexane để xác định thành phần hoá học trong rễ thầu dầu tía
4 Giáo viên hướng dẫn: TS Trần Mạnh Lục
5 Ngày giao đề tài: 01/2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện Khoá luận Tốt nghiệp (KLTN) này đã mang đến cho
em nhiều bài học quý giá và giúp em rèn luyện được nhiều kỹ năng cho mình, là hành trang cho công việc của em sau này Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc,
em xin gửi lời cảm ơn đến thầy TS Trần Mạnh Lục Thầy đã tin tưởng giao đề tài cho em, tạo điều kiện tốt nhất, luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và truyền đạt tri thức cho em trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận
Em xin gửi đến lời cảm ơn chân thành nhất đến thầy TS Bùi Xuân Vững của bộ môn Hóa Lý, thầy TS Võ Châu Tuấn bộ môn Hóa Sinh và cô Ths Trần Thị Diệu
My bộ môn Hóa học các hợp chất thiên nhiên đã truyền dạy những kiến thức quý báu và luôn giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất để em có thể hoàn thành khoá luận này Kính chúc quý thầy cô sức khoẻ, hạnh phúc, thành công trong cuộc sống cũng như trong sự nghiệp giảng dạy của mình
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến chị Nhi khóa trên đã luôn tận tình chỉ dạy và quan tâm em trong suốt thời gian thực hiện khoá luận Cảm ơn chị đã động viên hỗ trợ, tận tình hướng dẫn và dành nhiều thời gian để giúp em giải quyết trong những lúc khó khăn khi thực hiện khoá luận này
Cuối cùng, con xin cám ơn gia đình đã luôn chăm sóc, lo lắng và luôn ủng hộ con hết mình Sự động viên của ba mẹ là nguồn động lực giúp con vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống
Em xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người
Trang 4SKLM Sắc ký lớp mỏng
TDT Thầu dầu tía
WHO World Health Organization – Tổ chức y tế thế giới
YHCT Y học Cổ Truyền
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 1 1 Cây thầu dầu tía mọc hoang 4
Hình 1 2 Thân thầu dầu tía 5
Hình 1 3 Lá thầu dầu tía 6
Hình 1 4 Hoa thầu dầu tía 7
Hình 1 5 Quả và hạt Thầu dầu tía 8
Hình 1 6 Rễ Thầu dầu tía 8
Hình 1 7 Dầu và hạt thầu dầu 9
Hình 2 1 Buồng cấy vi sinh vô trùng (a) và đĩa peptri đã được đổ môi trường cấy vi sinh 23
Hình 2 2 Nguyên lý chiết phân bố lỏng – lỏng 25
Hình 2 3 Máy đo sắc ký khí ghép khối phổ GC – MS 7890A/5975C của hãng Agilent và chương trình nhiệt độ lò cột 29
Hình 2 4 Bảng mỏng silicagel Kieselgel 60F254 30
Hình 2 5 Các bình triển khai cho sắc ký lớp mỏng 31
Hình 2 6 Đèn tử ngoại dùng phát hiện vết chất trên sắc ký lớp mỏng 32
Hình 2 7 Các cột sắc ký dùng cho sắc ký cột 33
Hình 2 8 Các bình hứng của dung dịch giải ly 34
Hình 2 9 Sơ đồ nghiên cứu thực nghiệm 38
Hình 3 1 Nguyên liệu rễ thầu dầu tía 39
Hình 3 2 Kết quả điều chế cao ethanol của rễ Thầu dầu tía 40
Hình 3 3 Chiết phân bố lỏng – lỏng bằng hexane từ tổng cao ethanol 41
Hình 3 4 Kết quả chạy SKLM phân đoạn cao hexane giải ly bằng các dung môi đơn hexane (a), ethyl acetate (b) và các hệ dung môi hexane – ethyl acetete tỷ lệ 8 : 2 (c), 6 : 4 (d), 4 : 6 (e), 2 : 8 (f) 60
Hình 3 5 Kết quả chạy SKLM phân đoạn cao ethyl acetate giải ly bằng dung môi đơn hexane (a), ethyl acetate (b) và hệ dung môi hexane – ethyl acetate tỷ lệ 2 : 8 (c), 4 : 6 (d), 6 : 4 (e), 8 : 2 (f) 61
Hình 3 6 Kết quả chạy SKLM phân đoạn cao nước giải ly bằng dung môi đơn hexane (a), ethyl acetate (b) và hệ dung môi hexane – ethyl acetate tỷ lệ 2 : 8 (c), 4 : 6 (d),6 : 4 (e), 8 : 2 (f) 62
Trang 6Hình 3 8 Kết quả chạy sắc ký bản mỏng phân đoạn cao hexane giải ly bằng các hệ dung môi hexane – ethyl acetate (khởi đầu với tỷ lệ hexane : ethyl acetate = 8:2 sau đó là 6:4 và kết thúc bằng dung môi đơn ethyl actate) 64 Hình 3 9 Sắc ký bản mỏng của các bình hứng gộp lại thành phân đoạn TDT.H1 64 Hình 3 10 Sắc ký bản mỏng của các phân đoạn TDT.H2 – TDT.H6 65 Hình 3 11 Sắc ký bản mỏng của các bình hứng gộp chung cho phân đoạn TDT.H1 65 Hình 3 12 Phân đoạn TDT.H1: khởi đầu với benzene, sau đó là chloroform kết thúc bằng ethyl actate 65 Hình 3 13 Phân đoạn TDT.H1.1 (gộp các bình TDT.H1.7 – TDT.H1.12) và Phân đoạn TDT.H1.7 (gộp các bình TDT.H1.107– TDT.H1.109) 66
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 1 Thành phần acid béo trong dầu thầu dầu 10
Bảng 1 2 Độc tính tế bào trong ống nghiệm của chiết xuất phần thân Ricinus communis L chống lại tế bào ung thư 11
Bảng 1 3 Chiết xuất phần hạt của Ricinus communis L chống lại tế bào ung thư 12 Bảng 2 1 Các hoá chất sử dụng trong nghiên cứu 21
Bảng 3 1 Kết quả khảo sát khối lượng cao chiết mỗi loại nguyên liệu 39
Bảng 3 2 Kết quả khảo sát độ ẩm của rễ TDT 40
Bảng 3 3 Kết quả điều chế cao ethanol của rễ Thầu dầu tía 40
Bảng 3 4 Thể tích dịch chiết và khối lượng cao hexane 41
Bảng 3 5 Thể tích dịch chiết và khối lượng cao ethyl acetate thu được từ tổng cao ethanol 42
Bảng 3 6 Khối lượng các cao chiết thu được bằng phương pháp chiết lỏng – lỏng 42 Bảng 3 7 Thành phần nhóm chức trong phân đoạn cao hexane 43
Bảng 3 8 Thành phần nhóm chức trong phân đoạn cao ethyl acetate 46
Bảng 3 9 Thành phần nhóm chức trong phân đoạn cao nước 48
Bảng 3 10 Tổng hợp kết quả định tính thành phần hoá học 51
Bảng 3 11 Thành phần hoá học định danh được trong phân đoạn cao hexane tách từ tổng cao ethanol của rễ thầu dầu tía 51
Bảng 3 12 Thành phần hoá học định danh được trong phân đoạn cao ethyl acetate tách từ tổng cao ethanol của rễ thầu dầu tía 55
Bảng 3 13 Thành phần hoá học định danh được trong phân đoạn cao nước tách từ tổng cao ethanol của rễ thầu dầu tía 58
Bảng 3 14 Kết quả giá trị Rf của các chất xuất hiện trên bản mỏng của phân đoạn cao hexane giải ly bằng hệ dung môi hexane – ethyl acetate tỷ lệ 6 : 4 (d) 61
Bảng 3 15 Kết quả xác định Rf của các chất xuất hiện trên bản mỏng của phân đoạn cao ethyl acetate, giải ly bằng ethyl acetate 62
Bảng 3 16 Kết quả xác định Rf của các chất xuất hiện trên bản mỏng của phân đoạn cao nước, giải ly bằng dung môi ethyl acetate 63
Bảng 3 17 Thành phần hóa học định danh được trong phân đoạn TDT.H1.1 67
Bảng 3 18 Thành phần hóa học định danh được trong phân đoạn TDT.H1.7 71
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC HÌNH iii
DANH MỤC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
Lý do chọn đề tài 1
Mục tiêu nghiên cứu 2
1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.2 Phạm vi nghiên cứu 3
2 Nội dung nghiên cứu 3
2.1 Nghiên cứu lý thuyết 3
2.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm 3
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
4 Bố cục đề tài 3
1.1 Tên gọi 4
1.2 Mô tả thực vật 5
1.3 Thuộc tính dược lý 10
1.4 Thành phần hoá học 17
1.5 Một số bài thuốc chữa bệnh từ cây thầu dầu 19
CHƯƠNG 2 21
NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Nguyên liệu, hoá chất và dụng cụ 21
2.1.1 Nguyên liệu 21
2.1.2 Hoá chất, dụng cụ và thiết bị 21
2.2 Khảo sát khối lượng cao chiết và thử hoạt tính kháng khuẩn 22
2.2.1 Khảo sát khối lượng cao chiết trong mỗi nguyên liệu đầu 22
2.2.2 Thử hoạt tính kháng khuẩn 22
2.3 Phương pháp chiết tách thu nhận các mẫu cao chiết 24
2.3.1 Phương pháp ngâm dầm (chiết rắn – lỏng) điều chế tổng cao ethanol 24
Trang 92.3.2 Phương pháp ngâm chiết lỏng – lỏng tách các phân đoạn cao từ tổng cao
ethanol 24
2.4 Xác định thành phần nhóm chức các phân đoạn cao chiết 25
2.4.1 Phân tích định tính thành phần nhóm chức các phân đoạn cao chiết từ tổng cao ethanol 25
2.4.2 định danh thành phần hoá học các phân đoạn cao chiết từ tổng cao ethanol bằng phương pháp GC/MS 29
2.5 Các phương pháp sắc ký 30
2.5.1 Sắc ký bản mỏng 30
2.5.2 Phương pháp sắc ký cột 33
2.5.3 Sắc ký khí ghép khối phổ (GC – MS) 36
2.6 Nghiên cứu thực nghiệm 38
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39
3.1 Kết quả điều chế tổng cao ethanol và các cap phân đoạn tách từ tổng cao ethanol từ rễ cây thầu dầu tia 39
3.2 Kết quả khảo độ ẩm của rễ cây thầu dầu tía 39
3.3 Kết quả điều chế tổng cao ethanol và các cao phân đoạn tách từ tổng cao ethanol từ rễ cây thầu dầu tía 40
3.3.1 Kết quả điều chế tổng cao ethanol bằng phương pháp ngâm chiết 40
3.3.2 Kết quả điều chế các cao phân đoạn từ tổng cao ethanol bằng phương pháp phân bố 41
3.4 Kết quả định tính nhóm chức các cao phân đoạn tách từ tổng cao ethanol bằng các thuốc thử đặc trưng 43
3.4.1 Kết quả định tính nhóm chức có trong phân đoạn cao n – hexane tách từ tổng cao ethanol 43
3.4.2 Kết quả định tính nhóm chức có trong phân đoạn cao ethyl acteate tách từ tổng cao ethanol 46
3.4.3 Kết quả định tính nhóm chức có trong phân đoạn cao nước tách từ tổng cao ethanol 48
3.5 Kết quả định danh thành phần hoá học các chất trong các phân đoạn cao tách từ tổng cao ethanol của rễ thầu dầu tía 51
Trang 103.5.1 Kết quả định danh thành phần hoá học các chất trong các cao phân đoạn tách
từ tổng cao ethanol của rễ thầu dầu tía 51
3.5.2 Kết quả định danh thành phần hoá học các chất trong phân đoạn cao ethyl acetate tách từ tổng cao ethanol của rễ thầu dầu tía 55
3.5.3 Kết quả định danh thành phần hoá học các chất trong phân đoạn cao nước tách từ tổng cao ethanol của rễ thầu dầu tía 58
3.6 Kết quả phân lập phân đoạn các chất trong phân đoạn cao hexane tách từ tổng cao ethanol 60
3.6.1 Kết quả định danh thành phần hoá học các chất trong phân đoạn cao nước tách từ tổng cao ethanol của rễ thầu dầu tía 60
3.7 Kết quả chạy sắc ký cột phân đoạn cao n- hexane tách từ tổng cao ethanol 63
3.7.1 Tiến hành sắc ký cột cao n – hexane 63
3.7.2 Kết quả định danh thành phần hoá học các chát trong phân đoạn TDT.H1.1 và TDT.H1.7 67
CHƯƠNG 4 76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 11MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Việt Nam được đánh giá là một quốc gia có tiềm năng lớn về nguồn dược liệu trong khu vực Đông Nam Á và thế giới Nguồn tài nguyên dược liệu phong phú, đa dạng và vốn tri thức bản địa chính là kho tàng quý báu để Việt Nam khai thác, nghiên cứu nhằm tạo ra các sản phẩm quý từ dược liệu phục vụ cho công tác chăm sóc sức khoẻ người dân và phục vụ cho nhu cầu của nền kinh tế Tuy nhiên, hiện nay việc nuôi trồng dược liệu trong nước vẫn chưa được chủ động và dược liệu chưa trở thành hàng hoá có sức cạnh tranh cao
Theo thống kê của Viện Dược liệu, tính đến nay đã ghi nhận 5117 loài thực vật
và nấm, 408 loài động vật và 75 loại khoáng vật có khả năng làm thuốc ở Việt Nam Trong đó, có khoảng 70 loài tiềm năng khai thác với tổng trữ lượng khoảng 18000 tấn/năm, như Diếp cá (5000 tấn), Cẩu tích (1500 tấn), Lạc tiên (1500 tấn), Rau đắng đất (1500 tấn),….Chúng ta cũng may mắn sở hữu nhiều loài quý, hiếm, đặc hữu như: Sâm Ngọc Linh, Ba kích, Châu thụ, Châu đằng,…Thị trường tiêu thụ dược liệu
và các sản phẩm dược liệu là rất lớn do thói quen và truyền thống phòng và chữa bệnh bằng Y học Cổ Truyền (YHCT) của nhân dân Hiện nay, không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới, với xu hướng “Trở về với thiên nhiên” thì việc sử dụng các loại thuốc dược liệu của người dân ngày càng tăng hơn so với thuốc hoá dược Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tại các quốc gia đang phát triển, việc chăm sóc sức khỏe của khoảng 80% dân số ít nhiều có liên quan đến YHCT hoặc thuốc từ dược thảo truyền thống để bảo vệ sức khỏe Tại Việt Nam, nhu cầu dược liệu trong nước cần khoảng 60 đến 80 nghìn tấn/năm, trong đó phần lớn là sử dụng trong sản xuất thuốc, thực phẩm chức năng, trong hệ thống khám chữa bệnh; phần còn lại dùng cho một số lĩnh vực khác để sản xuất mỹ phẩm, thực phẩm, hương liệu,….và xuất khẩu
Công tác phát triển dược liệu luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm
Một trong những quan điểm phát triển ngành Dược được đề cập tới trong Chiến
lược quốc gia phát triển ngành Dược Việt Nam giai đoạn đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, đó là phát huy thế mạnh, tiềm năng của Việt Nam để phát triển
sản xuất thuốc dược liệu, trong đó mục tiêu cụ thể đến năm 2020 sản xuất được
Trang 12chiếm 80% tổng giá trị thuốc tiêu thụ trong năm, trong đó thuốc từ dược liệu chiếm 30% Thầu dầu tía cũng là một trong số đó
Thầu dầu tía hay có nơi còn gọi là đu đủ tía (danh pháp hai phần: Ricinus
communis) là một loài thực vật trong họ Đại kích (Euphorbiaceae) và là thành viên
duy nhất trong chi Ricinus cũng như của phân tông Ricininae Cây thầu dầu tía được
sử dụng lá tươi để đắp lên trán và hai bên thái dương để chữa đau đầu do cảm sốt, hạt thầu dầu được ép thành dầu để làm thuốc nhuận trường, thông tiện, trong các chứng táo bón của trẻ em hay phụ nữ có thai, bệnh nhân mổ và sản phụ Thuốc có tác dụng tẩy nhẹ Theo GS Đỗ Tất Lợi thì dầu thầu dầu không gây hiện tượng xót trong ruột, chỉ làm ruột non và ruột già co bóp nhiều hơn mà không gây ảnh hưởng đến tiểu khung, bởi vậy được sử dụng cho phụ nữ đang mang thai là rất tốt để chống táo bón mà không gây ra nguy hiểm gì
Trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học trên lá thầu dầu tía, chủ yếu tập trung vào nhóm hợp chất có tác dụng kháng khuẩn và nhóm hợp chất phân cực Ở nước ta cho đến nay chỉ thấy nghiên cứu về hoạt tính và công dụng của lá mà chưa thấy nghiên cứu về thành phần hóa học của rễ Cả trên thế giới cũng chưa thấy công bố về thành phần hóa học của rễ thầu dầu tía Cho nên việc nghiên cứu về thành phần hóa học của rễ trong điều kiện hiện nay ở nước ta là cần thiết và có nhiều ý nghĩa đối với hóa học
Mục tiêu nghiên cứu
Dựa trên tính cấp thiết việc sử dụng nguồn dược liệu thiên nhiên dùng trong phòng và điều trị bệnh đồng thời căn cứ vào những nghiên cứu liên quan của rễ thầu dầu tía trên thế giới, đề tài này được thực hiện với mục tiêu:
− Tìm điều kiện chiết tách các chất thích hợp từ rễ Thầu dầu tía bằng các dung môi có độ phân cực khác nhau
− Định tính về thành phần nhóm chức có trong các cao chiết
− Sắc ký bản mỏng phân lập thành phần nhóm chức có trong các cao chiết
− Xác định thành phần hoá học của một số dịch chiết từ tổng cao ethanol của
rễ Thầu dầu tía
1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.1 Đối tượng nghiên cứu
Rễ Thầu dầu tía được thu hái tại Quảng Nam tháng 01/2020
Trang 131.2 Phạm vi nghiên cứu
Thành phần hoá học trong dịch chiết n-hexane, ethylacetate từ tổng cao ethanol 96% của rễ thầu dầu tía
2 Nội dung nghiên cứu
2.1 Nghiên cứu lý thuyết
− Thu thập, tổng hợp, phân tích các tài liệu, tư liệu về nguồn nguyên liệu, thành phần hoá học và ứng dụng của rễ thầu dầu tía
− Tổng hợp tài liệu về phương pháp lấy mẫu, xử lý mẫu, các phương pháp chiết tách, định tính và phân lập từ các hợp chất từ thực vật trong tự nhiên
− Nghiên cứu tài liệu về các phương pháp phổ để xác định thành phần hoá học, định danh và xác định cấu trúc
2.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
− Ngâm chiết nguyên liệu bằng dung môi ethanol 96%
− Chiết phân bố lỏng- lỏng bằng các dung môi có độ phân cực khác nhau như n- hexane, ethylacetate
− Dùng phương pháp sắc kí khí kết hợp khối phổ (GC- MS) để xác định thành phần các chất trong dịch chiết
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Với những kết quả có được trong đề tài nghiên cứu này tôi mong muốn đây là một nguồn tư liệu có ý nghĩa nhất định trong việc cung cấp thông tin về thành phần
hoá học, các cấu tử được chiết tách ra từ loài Bét (Ricinus communis L.) cũng như
trong rễ Thầu dầu tía Qua đó, nâng cao giá trị sử dụng của chúng trong ngành dược liệu Việt Nam
4 Bố cục đề tài
Báo cáo Khoá luận tốt nghiệp gồm có: 84 trang, 29 hình, 22 bảng, 24 tài liệu tham khảo Ngoài phần mở đầu (03 trang) và kết luận, kiến nghị (01 trang), nội dung gồm các phần sau:
Chương 1 Tổng quan( 15 trang)
Chương 2 Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu ( 19 trang)
Chương 3 Kết quả và thảo luận( 38 trang)
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tên gọi
Tên khoa học: Ricinus communis L
Tên thông thường: Thầu dầu, Thầu dầu tía, Đu đủ tía
Theo phân loại thực vật:
Hình 1 1 Cây thầu dầu tía mọc hoang [nguồn Internet]
Thầu dầu Ricinus communis L., họ Đại kích (Euphorbiaceae) là thành viên duy nhất trong chi Ricinus cũng như của phân tông Ricinae Ricinus là một từ trong tiếng La – tinh để chỉ các loài bét (thuộc bộ Acarina) Mặc dù chỉ có một đại diện
duy nhất nhưng thầu dầu có thể thay đổi rất nhiều về bề ngoài cũng như sự phát triển Thầu dầu dễ thích nghi trong môi trường sống mới và có thể tìm thấy ở các vùng đất bỏ hoang, gần đường sắt [1] Một số cây là loại thực vật lâu năm có thể đạt tới kích thước của một cây thân gỗ nhỏ trong khi một số cây khác là các dạng lùn và sinh trưởng như là loại cây một năm Cũng tồn tại rất nhiều kiểu hình dạng và màu sắc của lá và chúng được lai giống để dùng làm cây cảnh trong công viên hay các
Trang 15nơi công cộng khác [1]
Cây thầu dầu đã được trồng từ 6000 năm trước Tên thực vật của Ricinus
Communis được đặt ra bởi nhà tự nhiên học Thụy Điển Carlos Linnaeus [2] vào thế
kỷ 18 Thầu dầu có nguồn gốc từ Ai Cập, Ethiopia và Ấn Độ Ở Ả Rập Saudi, nó thường được gọi là Kherwa Sau đó thầu dầu du nhập vào Brazil, Thái Lan, Argentina, Hoa Kỳ và một số nước khác Hiện tại, thầu dầu phân bố rộng rãi ở nhiều vùng nhiệt đới trên thế giới hoặc được trồng ở vùng có nhiệt độ ấm áp Ở nước ta, thầu dầu sinh trưởng và phát triển ở nhiều tỉnh như Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Quảng Nam, Đà Nẵng Ở các tỉnh phía Nam và khu vực đồng bằng ít thấy cây thuốc này [3] Đây là một loại cây có hạt, cây phát triển nhanh, hút thảo mộc lâu năm thuộc họ spurge
(Euphorbiaceae), bao gồm khoảng 6300 loài Thầu dầu đã là một tác nhân trị liệu
trong 4000 năm, được sử dụng như một loại thuốc thảo dược để điều trị nhiều bệnh khác nhau, rối loạn, trĩ ngoại và nhuận tràng [1]
1.2 Mô tả thực vật
Thầu dầu là một loại cây thân thảo hoặc cây bụi mọc lâu năm Thân cây có thể cao đến 5m, toàn bộ cây đều nhẵn có có phủ một lớp bột sáp, thường có màu xanh lá cây, xám xanh hoặc đỏ tím Thân thầu dầu tía tròn và rỗng, có nhiều cành nhỏ với các lá to và phân chia đều sang hai bên [3]
Hình 1 2 Thân thầu dầu tía [nguồn Interner]
Trang 16Hiện nay, ở Quảng Nam cây thầu dầu hoang mọc rất nhiều, đặc biệt là ở các vùng Hội An và Điện Dương Tuy nhiện việc trong cây thầu dầu để thu hoạch thì chưa có
và cũng không có một cơ sở doanh nghiệp nào ở Quảng Nam thu mua để sản xuất
a Lá thầu dầu
Lá mọc so le, hình chân vịt có cuống dài, không lông và có răng, lá màu xanh lá hay màu đỏ tía Có phiến lá tía tròn, dài và rộng khoảng 40 cm hoặc lớn hơn Lá có khoảng 7 – 11 thùy, thùy phân nhánh đến giữa, có hình trứng thuôn hoặc có hình dáng lanceolate (thùy lá dài rộng ở giữa, dạng nhọn như ngọn giáo) Mép lá có răng cưa Các gân lá rất rõ ràng, cuống lá rất dày có thể dài đến 40 cm
Hình 1 3 Lá thầu dầu tía [nguồn Internet]
Trong lá và hạt thầu dầu tía chứa một lượng protein rất độc có tên ricinin, chất này làm vón cục hồng cầu và bạch cầu chiểm tỉ lệ 3 – 5% trong hạt, 1,3% trong lá tươi và 1,5% trong lá già Chất độc này chỉ cần liều 0,002mg cho 1kg thể trọng đã có thể giết chết một con khỉ, hoặc 0,003mg cho 1kg thể trọng có thể giết chết một con chó Do đó trong Đông y, hạt Thầu dầu tía không được sử dụng làm thuốc uống trong mà chỉ dùng làm thuốc đắp ngoài da Tuy nhiên, chất độc này có tác dụng giống như vi khuẩn nên khi dùng liều nhỏ có thể gây đáp ứng miễn dịch trên cơ thể mỗi người, từ đó giúp việc miễn độc về lâu dài
Lá Thầu dầu tía chứa hàm lượng ricinin thấp hơn trong hạt rất nhiều, tuy nhiên
để đảm bảo thì không thường sử dụng ngoài da Trong dân gian lá thầu dầu được dùng để giảm đau đầu, tắc tia sữa, cải thiện hệ thống tiêu hoá, chống ung thư, chữa một số bệnh ngoài da như da viêm mủ, mẩn ngứa, ung nhọt, viêm da,….và chữa bệnh trĩ rất hiệu quả Theo kinh nghiệm y học cổ truyền, lá tươi giã đắp vào lòng bàn chân để chữa sót nhau, hoặc đem lăn vào trước ngực và sau lưng để chữa bệnh
Trang 17sởi không mọc Dầu có nguồn gốc từ lá thầu dầu được sử dụng để làm giảm chứng đầy hơi ở trẻ sơ sinh Đắp lá thầu dầu vào ngực kết hợp xoa bóp để tăng tiết sữa cho phụ nữ [4]
b Hoa thầu dầu
Cụm hoa thường mọc ở ngọn hoặc các nách lá Hoa mọc thành chùy, đài hoa hình tam giác rộng, có màng, nhiều lông, phân chia thành hoa đực và hoa cái Hoa đực thùy hình bầu dục, dài từ 7 – 10 mm, có nhiều nhụy hoa Hoa cái hình bầu dục hoặc hình chóp Dài từ 5 – 8 mm, hình trứng Hoa cái có nhiều chóp là bao phủ bên trên [3]
Hình 1 4 Hoa thầu dầu tía [nguồn Internet]
c Quả và hạt thầu dầu
Quả Thầu dầu tía thuộc dạng quả nang, hình trứng, chiều dài khoảng 1,5 – 2,5
cm, bên ngoài có màng gai mềm hoặc nhẵn bao bọc Khi chín, các nang này tách ra
để lộ các hạt Thông thường các quả thầu dầu không chín cùng một lúc, vì vậy chúng ta có thể thu hoạch hạt thầu dầu khi chúng bắt đầu chín Khi thu hoạch, nên dùng tay và nếu cần có thể tiếp tục phơi nắng để quả thầu dầu khô hẳn, sao cho hạt thầu dầu tách khỏi các màng bao bọc
Quả khô gồm có 3 ngăn, vỏ cứng Trên mỗi ngăn có một rãnh nông, khi chín nứt thành 6 mảnh Hạt có hình elip, hơi dẹp, dài khoảng 8 – 18 mm, nhẵn đầu có mồng (chính là áo hạt của noãn khổng) Mặt có hoa văn ngựa vằn màu nâu nhạt hoặc xám trắng, nội nhũ chứa nhiều dầu [3] Nội nhũ cấu tạo bởi những tế bào đa giác có chứa giọt dầu và hạt aleuron Các đặc điểm trên có thể phát hiện khô dầu thầu dầu trộn trong thức ăn gia sức gây ngộ độc
Thời gian ra hoa của Thầu dầu tía khoảng tháng 3 – 7, kết quả vào tháng 4 – 8
Trang 18Hình 1 5 Quả và hạt Thầu dầu tía [nguồn Internet]
Hạt Thầu dầu tía hay còn được gọi là tỳ ma tử Hạt thầu dầu thường thu hái từ tháng 5 – 6 hàng năm, thường thu hái để ép lấy tinh dầu Theo các nghiên cứu trong hạt thầu dầu có tỷ lệ dầu rất cao, gần như chiếm quá nửa trọng lượng của hạt, khoảng 40-60% dầu, nó rất giàu các triglyceride, chủ yếu là ricinolein Hạt Thầu dầu tía dùng để thông tiện (do có độc nên ít được sử dụng) Ngày nay, hạt dùng để sản xuất tinh dầu
d Rễ thầu dầu
Rễ Thầu dầu nhạt, vị hơi cay, tính bình thường dùng để khư phong hoạt huyết, hỗ trợ giảm đau, trấn tĩnh, định thần [3]
Hình 1 6 Rễ Thầu dầu tía
Ngoài ra, theo kết quả nghiên cứu của Verma, S K., et al Abhishek Mathur và các cộng sự thì dịch chiết từ rễ thầu dầu bằng dung môi n-hexane cho thấy hoạt tính kháng khuẩn nổi bật với chủng nấm Albicans Candida và Aspergillus Niger, dịch chiết rễ thầu dầu bằng dung môi metanol cho thấy có hoạt tính kháng khẩn đối với chủng E.coli và Aspergillus Niger [5] Và nghiên cứu của Jeyaseelan, E C., P J Jashothan và các cộng sự chứng minh rằng chiết xuất metanol và ethanol nóng và
Trang 19lạnh là nguồn tiềm năng để kiểm soát S aureus và E coli Đặc biệt, các chiết xuất ethanol nóng và lạnh có tính ức chế hơn đối với S aureus ngay cả ở nồng độ thấp hơn [6]
Theo một số nghiên cứu thì thành phần cấu tạo của rễ gồm hợp chất sterol: cholesterol (C27H46O), campesterol (C28H48O), gama-sitosterol, stigmasterol (C29H48O), phytol (C20H40O),….Ngoài ra còn có các hợp chất khác như: Ethanon (C9H10O3), n-hexadecanoic hay Palmitic Acid (CH3-(CH2)14-COOH) và Oleic Acid (CH3(CH2)7CH=CH(CH2)7COOH), các Stearic acid (CH3-(CH2)16-COOH), 9,12-Octadecadienoic acid hay (Z,Z)-Linoleic acid (C19H34O2), 1,2,3-Benzenetriol hay Tamin (C6H6O3), Furfural (C5H4O2), 3-Pyridinecarbonitrile-1,2-dihydro-4-methoxy-1-methyl-2-oxo hay Ricinine (C8H8N2O8),… [7]
e Dầu thầu dầu
Dầu thầu dầu là dầu thực vật thu được bằng cách ép hạt cây thầu dầu (Ricinus
communis) hay trích ly với dung môi [8] Dầu thầu dầu có tính sệt như mật ong,
không màu hoặc hơi hoe vàng, vị nhạt, mùi hơi hôi buồn nôn và khó ngửi [9].So với nhiều loại dầu khác thì dầu thầu dầu có độ nhớt cao nhất (khoảng 1000 cP ở nhiệt độ 200C), trọng lượng riêng cao nhất: 0,956 – 0,970 ở nhiệt độ 150C và tính tan cao nhất trong cồn và các dung môi phân cực [8]
Theo các tài liệu cây thuốc đông y thì tinh dầu thầu dầu có tác dụng nhuận tràng, thông tiện, điều trị táo bón ở trẻ em và phụ nữ có thai, người bệnh sau mổ hoặc phẫu thuật Tuy nhiên tinh dầu thầu dầu có mùi và vị nhạt nên khi uống người bệnh cần pha thêm với đường hoặc mật ong để cho dễ sử dụng Đáng chú ý hơn tinh dầu thầu dầu còn có tác dụng làm đẹp như trị mụn đầu đen, tàn nhang, dưỡng ẩm cho
da, dưỡng môi, dưỡng tóc, làm chất khử trùng,…
Hình 1 7 Dầu và hạt thầu dầu [nguồn Internet]
Trang 20Dầu thầu dầu và các dẫn xuất của nó được sử dụng trong sản xuất xà phòng, dầu bôi trơn công nghiệp, dầu phanh và thủy lực, sơn, thuốc nhuộm, chất phủ, mực viết, chất dẻo kháng lạnh, sáp và chất đánh bóng, nylon, dược phẩm và nước hoa
Dầu thầu dầu là nguyên liệu quan trọng để chế tạo sản phẩm nhựa Dầu thầu dầu sau khi được xử lý ở nhiệt độ cao có thể thu được undecylenic acid Qua xử lý bằng amoniac, acid này sẽ trở thành amino undecylenic acid, sau đó cô đặc thành nylon-
11 Sau khi đun thầu dầu với kiềm sẽ thu được sebacic acid có thể chế tạo thành nhiều loại nylon Khi chế tạo n-undecylenic acid còn thu được một chất khác nữa đó
là n-heptandehyde là một nguyên liệu quan trọng của hương liệu tổng hợp Cho n- heptandehyde phản ứng với carbonic acid thì thu được nhựa phenol aldehyde, tính năng của loại nhựa này còn tốt hơn cả nhựa phenol Khi n-heptaldehyde hoàn nguyên thành cồn heptane, trở thành chất làm tăng độ dẻo cho nhựa PVC (polyvinyl chloride) [9]
Dầu thầu dầu là một loại dầu tự nhiên chứa acid béo hydroxy trong thành phần của nó, 84 – 94% ricinoic acid (12-hydroxy-cis-9-octadecenoic)
CH3(CH2)5CHOHCH2CH=CH(CH2)7COOH [10]
Bảng 1 1 Thành phần acid béo trong dầu thầu dầu (Janson, 1974)
Hoạt động chống tiểu đường và hoạt động hạ đường huyết
− Các nhà khoa học đã nghiên cứu hoạt động chống đái tháo đường của 50% chiết
xuất ethanolic của rễ Thầu dầu tía (Ricinus Communis (RCRE)) cùng với quá
trình thanh lọc theo hướng sinh học Liều hiệu quả vì nó gây ra sự hạ thấp tối đa đường huyết lúc đói là 500mg/kg trọng lượng cơ thể, cả ở động vật tiểu đường type I cũng như bình thường Hiệu quả hạ đường huyết tối đa là sau 8 giờ sau khi nghiên cứu được thực hiện
Trang 21− Sử dụng liều RCRE hiệu quả cho chuột mắc bệnh tiểu đường trong 20 ngày cho thấy tác dụng không chỉ đối với đường huyết lúc đói mà còn đối với tổng lượng lipid và chức năng gan và thận vào ngày thứ 10 và 20 RCRE được tinh chế bằng phương pháp sắc ký cột silicagel Trong số các kích thước khác nhau được thử nghiệm, chỉ có phần (R-18) cho thấy hoạt động hạ đường huyết đáng kể RCRE dường như có biên độ an toàn cao vì không có tỷ lệ tử vong và không có
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về phosphatase kiềm, bilirubin huyết thanh, creatinine, glutamate oxaloacetate transaminase huyết thanh, glutamate pyruvate transaminase và tổng số protein được quan sát ngay cả sau khi dùng
10 g/kg trọng lượng cơ thể Do đó, Ricinus Communis có giá trị đầy hứa hẹn
cho sự phát triển của một phytomeesine mạnh cho bệnh tiểu đường [11]
Hoạt động chống ung thư
− Các nhà khoa học đã nghiên cứu đánh giá khả năng chống ung thư trên in vitro
của chiết xuất etanolic của Ricinus Communis L chống lại 7 dòng tế bào ung
thư ở người là tế bào ung thư ruột kết (Đại tràng HT-29, SW-20, SiHa), dòng tế bào ung thư gan (Hep-2), Ung thư vú dòng tế bào (T-47D), ung thư cổ tử cung dòng tế bào OVCAR-5, ung thư tuyến tiền liệt dòng tế bào (PC-3) Xét nghiệm SRB được sử dụng để kiểm tra hoạt tính gây độc tế bào đối với tất cả các dòng
tế bào Hoạt tính được đánh giá ở nồng độ chuẩn 100g/ml của vật liệu thử Các
phần ethanolic của hạt Ricinus Communis cho thấy hoạt động chống lại 41%
ruột kết ở 502713 trong khi phần thân thể hiện hoạt động tối đa chống lại SiHa (47%)
Bảng 1 2 Độc tính tế bào trong ống nghiệm của chiết xuất phần thân Ricinus
communis L chống lại tế bào ung thư
Tên cây Bộ
phận
Nồng độ
Ung thư gan (Hep- 2)
Ung thư vú (T- 47D)
Ung thư ruột kết (HT- 29)
Ung thư tuyến tiền liệt (PC-3)
Ung thư ruột kết (SW- 20)
Ung thư ruột kết (SiHa)
Ung thư
cổ tử cung (OVCA R-5)
% Ức chế
Trang 22L
(-) có nghĩa chiết xuất không có tác dụng ức chế đối với tế bào ung thư ở người
Bảng 1 3 Chiết xuất phần hạt của Ricinus communis L chống lại tế bào ung thư
Tên cây Bộ
phận
Nồng độ
Ung thư máu (SF 295)
Ung thư ruột kết (502713)
Ung thư ruột kết (Colo205)
Ung thư gan (Hep- 2)
Ung thư phổi (A- 549)
Ung thư cổ
tử cung (Ovcar- 5)
Ung thư tuyến tiền liệt (PC- 5)
và nấm men Candida albicans Hoạt động được đánh giá bằng kỹ thuật khuếch tán agar hai lớp Lớp cơ bản thu được bằng cách đổ 10,0 ml Muller Hinton Medium hoặc 10,0 ml agar Brain Heart Infusion vào đĩa Petri Sau khi hóa rắn, một lớp mầm 5,0 ml của Muller Hinton Medium hoặc Brain Heart Infusion với inoculum (106/ml) đã được thêm vào Các đĩa giấy thấm (đường kính 6,0 mm) được ngâm trong các dung dịch được đặt tại các điểm cách đều nhau Các tấm được duy trì ở nhiệt độ phòng trong 2 giờ và được ủ ở 37°C trong 24 giờ Hệ thống lọ nến được sử dụng cho các đĩa thạch Brain Heart Infusion Tất cả các bài kiểm tra đã được thực hiện lặp lại Sau khi ủ, môi trường được tối ưu hóa với triphenyltetrazolium chlorate 0,05% và các vòng ức chế được đo Tất cả các chủng vi khuẩn đã bị ức chế bởi chlorhexidine gluconate 2,0% Endoquil có
Trang 23hiệu quả chống lại vi sinh vật Gram (+) và NaOCl 0,5% chỉ có hiệu quả đối với
S aureus [12]
Hoạt tính kháng nấm
− Một chất ức chế trypsin mới, có tên RcTI, đã được tinh chế từ hạt Thầu dầu tía
(Ricinus Communis L.) bằng cách xử lý nhiệt, sau đó là sắc ký trên
anhydrotrypsin - Sepharose 4B và Resource Q RcTI là chất ức chế cạnh tranh
14 kDa với pI 5,2 và hằng số phân ly Ki là 1,9 × 10-5 mM Trình tự đầu cuối amino cho thấy sự tương đồng với protein lưu trữ hạt giống giàu lưu huỳnh 2S (83%) và protein giống napin (48%) RcTI ổn định trong phạm vi pH rộng và có khả năng chống nhiệt đặc biệt khi nó duy trì hoạt động ức chế cao đối với trypsin sau khi ủ ở 100°C trong 2 giờ RcTI (13 μg) đã ức chế sự nảy mầm bào
tử của nấm phytopatogen Colletotrichum gloeosporioides và thúc đẩy sự ức chế 91% các protease của ấu trùng Aedes aegypti Kết quả của nghiên cứu này chỉ
ra rằng RcTI có tiềm năng công nghệ sinh học như là một tác nhân thay thế để chống lại phytopathogen quan trọng C.gloeosporioides và ấu trùng của A aegypti [13]
Hoạt tính kháng viêm
− Valderramas và các cộng sự có công trình nghiên cứu nhằm đánh giá hoạt động kháng viêm của hợp chất cao phân tử có nguồn gốc từ Ricinus Communis và cơ chế hoạt động của nó bằng phương pháp nghiên cứu trên mô hình động vật mãn tính và cấp tính và cơ chế hoạt động liên quan đến hoạt động chống viêm được xác định bằng xét nghiệm enzyme phospholipase A2 (PLA2) trên in vitro Kết quả cho thấy: Trong các trường hợp phù tai chuột (10,0 mg/tai) và mô hình u hạt thực nghiệm (500 mg/kg), hợp chất cao phân tử đã ức chế phản ứng viêm trong các trường hợp 75,08 ± 1,80% và 61,70 ± 1,80%, tương ứng (p <0,001)
Sử dụng bằng đường uống hợp chất cao phân tử chiết xuất từ cây Thầu dầu tía (500 mg/kg) đã ức chế 72,00 ± 1,20% tình trạng viêm Sử dụng hợp chất cao phân tử tại chỗ trên miệng bị tổn của chuột cho thấy niêm mạc miệng đã được phục hồi trong 60,00 ± 1,40% (p <0,05) Trong xét nghiệm in vitro, enzyme phospholipase A2 đã bị ức chế bởi polyme Ricinus (5,0 mg / mL) theo cách thức phụ thuộc vào liều (84,60 ± 1,41%)
Trang 24Kết luận: hợp chất cao phân tử có nguồn gốc từ Ricinus Communis cho thấy hoạt
động chống viêm đáng kể, xác nhận rằng cơ chế dược lý liên quan đến hoạt động chống viêm này có liên quan đến sự ức chế enzyme PLA2 [14]
Hoạt tính chống loét
− Rakesh, M., và các cộng sự nghiên cứu hoạt động chống loét của hạt thầu dầu bằng cách sử dụng các mô hình loét dạ dày khác nhau ở chuột Hoạt động chống loét của dầu thầu dầu tía được nghiên cứu trên chuột bằng cách sử dụng ethanol hoặc aspirin hoặc bằng cách thắt ống môn vị Dầu thầu dầu được dùng với liều 500 mg/kg và 1000 mg/kg uống 30 phút trước khi gây loét Hoạt tính chống loét được đánh giá bằng cách xác định và so sánh chỉ số loét trong nhóm thuốc thử nghiệm với nhóm đối chứng loét Tổng lượng acid dạ dày và hoạt động của pepsin được ước tính ở những con chuột bị thắt môn vị Ranitidine và Sucralfate đã được sử dụng như là loại thuốc tham chiếu Chỉ số loét ở động vật được điều trị bằng dầu thầu dầu được tìm thấy ít hơn đáng kể trong tất cả các
mô hình so với động vật đối chứng bị loét Đặc tính chống loét này nổi bật hơn ở những động vật bị loét do ethanol, aspirin và thắt môn vị Ranitidine (30 mg/kg) tạo ra sự bảo vệ loét dạ dày đáng kể khi so sánh với nhóm đối chứng Tuy nhiên, hoạt tính chống loét của dầu thầu dầu, ít hơn so với ranitidine Kết quả cho thấy rằng dầu thầu dầu có đặc tính chống loét đáng kể có thể là do tác dụng bảo vệ tế bào của thuốc hoặc bằng cách tăng cường niêm mạc dạ dày và
do đó tăng cường bảo vệ lớp niêm mạc [15]
Hoạt tính chống oxi hoá
− Singh, P P., S Chauhan và các cộng sự đã cô lập và tinh chế để xác định các thành phần gốc tự do DPPH (l, l-diphenyl-2-picrylhydrazyl) của cây thầu dầu
tía (Ricinus Communis L.) bằng tằm Eri Lá khô của Ricinus Communis L được
chiết xuất với các dung môi khác nhau và được kiểm tra hoạt tính chống oxy hóa chống lại DPPH • Chiết xuất MeOH : nước (8 : 2) cho thấy hoạt động chống gốc DPPH • mạnh mẽ và được phân tích bằng sắc ký cột trên silicagel Gallic acid, quercetin, gentisic acid, rutin, epicatechin và ellagic acid được phân lập như các thành phần hoạt động và được đặc trưng bởi các kỹ thuật quang phổ khác nhau [16]
Trang 25− Kadri, A., et al và các cộng sự đã chiết xuất tinh dầu từ các bộ phận khác nhau của Ricinus Communis thu được từ quá trình thủy phân, được phân tích bằng sắc ký khí kết hợp với khối phổ (GC-MS) Bảy thành phần được tìm thấy đại diện cho 100% dầu là thujone (31,71%); 1,8-cineole (30,98%), tiếp theo là pinene (16,88%), camphor (12,98%) và camphene (7,48%) Hoạt tính chống oxy hóa của tinh dầu được khảo sát và được đánh giá bởi các hệ thống thử nghiệm khác nhau: thử nghiệm 1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl (DPPH), thử nghiệm tẩy trắng carotene và giảm thử nghiệm điện Tinh dầu thể hiện một hoạt động chống oxy hóa tiềm năng Từ xét nghiệm DPPH và thử nghiệm tẩy trắng
carotene, Ricinus Communis đã thể hiện một nửa chất chống oxy hóa hảm
lượng ở mức 300 g/ml Đây là nghiên cứu đầu tiên và ban đầu về thành phần
hóa học và hoạt động chống oxy hóa của tinh dầu Ricinus Communis [17]
Hoạt tính giảm đau và chống co giật
− Ladda, P L và các cộng sự đã sử dụng phương pháp gây sốc điện tối đa (MES) ở chuột bạch và pentylenetetrazole (PTZ) gây co giật ở chuột bạch đã được sử
dụng để nghiên cứu hoạt động chống co giật của chiết xuất lá Ricinus
Communis L Các chiết xuất khác nhau của Ricinus Communis L cũng được sử
dụng để kiểm tra hoạt động giảm đau bằng phương pháp mâm nóng Chiết xuất
từ lá của Ricinus Communis L được dùng theo đường uống (250 mg/kg) trong
cả hai mô hình thí nghiệm và các hiệu ứng được so sánh với phenytoin trong phương pháp MES và diazepam trong phương pháp co giật do PTZ gây ra như
là sự kiểm soát tiêu chuẩn tương ứng Độ trễ co giật và % tỷ lệ tử vong đã được quan sát
Kết quả: Chiết xuất từ lá Thầu dầu tía đã ức chế thời gian co giật do thuốc và cho
thấy sự phục hồi trong cơn co giật tối đa do co giật Nó cũng giảm số lượng, thời gian co giật, trì hoãn thời gian khởi phát co giật và cho thấy giảm đáng kể tỷ lệ tử vong trong pentylenetetrazole gây co giật Các chiết xuất từ lá Thầu dầu tía làm trì hoãn sự xuất hiện của co giật MES và PTZ, phát huy tác dụng chống co giật của chuột thử nghiệm
Kết luận: Nghiên cứu này đã xác nhận tính chất giảm đau và chống co giật từ lá
tươi trưởng thành của Ricinus Communis L [18]
Trang 26− Rajeshkumar, D.và các cộng sự đã đánh giá hoạt động giảm đau của dịch chiết
vỏ và rễ cây Ricinus Communis ở chuột Hoạt động giảm đau của dịch chiết vỏ
và rễ cây Ricinus Communis với liều 100mg/kg và 200mg/kg được so sánh với
thuốc diclofenac tiêu chuẩn liều 50mg/kg Sáu con chuột bạch của cả hai giới trong mỗi nhóm được thực hiện để nghiên cứu đánh giá bằng phương pháp mâm nóng và phương pháp gây đau ở đuôi Kết quả chỉ ra rằng chiết xuất hoạt động chống nôn và giảm đau đáng kể ở chuột Dung dịch nước chiết xuất vỏ và
rễ cây Ricinus Communis có hoạt tính chống nôn tiềm năng cóc thể do sự hiện
diện của saponin, steroid và alkaloids [19]
Tái tạo xương
− Các nhà khoa học tìm kiếm các vật liệu tương thích sinh học không có hại để sửa chữa hoặc tái tạo các khiếm khuyết của xương Mục tiêu là khôi phục chức năng của các mô sống hoặc chết Nghiên cứu này đã so sánh mô liên kết và phản ứng xương khi tiếp xúc với chất nền xương bò khử khoáng và nhựa
polyurethane có nguồn gốc từ hạt thầu dầu (Ricinus Communis) Bốn mươi lăm
con chuột được chỉ định cho 3 nhóm, mỗi nhóm 15 con (đối chứng, xương bò
và polyurethane) Một chu kỳ đã được tạo ra trên cơ sở bắt buộc và chứa đầy chất nền xương bò và polyurethane Nhóm đối chứng không được điều trị Phân tích được thực hiện sau 15, 45 và 60 ngày (5 con mỗi nhóm) Phân tích mô tế bào học cho thấy quá trình dung nạp mô liên kết với xương bò với phản ứng viêm cục bộ tương tự như của nhóm đối chứng Sau 15 ngày, tất cả các nhóm đã chứng minh kết quả tương tự, với phản ứng viêm nhẹ, có thể là do phẫu thuật chứ không phải do vật liệu Trong nhóm cao phân tử, sau 60 ngày, các tế bào đa nhân khan hiếm vẫn có thể được quan sát Nhìn chung, tất cả các nhóm cho thấy sự ổn định tốt và mô liên kết xương với các mạch máu vào khu vực phẫu thuật Các kết quả cho thấy tính tương thích sinh học của cả hai nhóm vật liệu, được nhìn thấy bởi sự tích hợp của chúng vào chuột Hơn nữa, polyurethane dường như là một sự thay thế trong tái tạo xương và nó là một nguồn vật liệu sinh học vô tận [20]
− Một nghiên cứu khác đánh giá hai vật liệu ghép mô học (canxi photphat và Ricinus cao phân tử) được sử dụng trong phẫu thuật nâng xoang sàn liên quan đến xương tự sinh Sinh thiết được lấy từ 10 đối tượng liên tiếp (tuổi trung bình
Trang 2745 tuổi) 10 tháng sau khi nâng xoang sàn Việc nâng xoang được thực hiện với
hỗn hợp xương tự sinh và hợp chất cao phân tử Ricinus Communis hoặc canxi
phosphate theo tỷ lệ 1: 2 Xử lý mô học và nhuộm với hematoxylin và eosin đã được thực hiện Các kết quả phân tích mô hình học cho thấy kết quả phục hồi cao ở cả hai nhóm đối với giá trị trung bình của mô xương ở vùng ghép (44,24
± 13,79% đối với nhóm canxi photphat và 38,77 ± 12,85% đối với nhóm cao phân tử) Đánh giá mô học cho thấy sự hiện diện của một tổ chức viêm đơn nhân, trung bình, không đặc hiệu
Kết quả: chỉ ra rằng cả hai vật liệu ghép liên quan đến xương tự sinh đều tương
thích sinh học, mặc dù cả hai vẫn có mặt sau 10 tháng [21]
1.4 Thành phần hoá học
Thành phần hoá học của cây thầu dầu tía được phát hiện và hoàn thiện thông qua nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới Thành phần hóa học chủ yếu của thầu dầu gồm alkaloid, flavonoid, terpenes, saponin, các hợp chất phenolic như kaempferol, axit gallic, ricin, rutin, lupeol, axit ricinoleic, pinene,… Disacarit glycoside rutin, gentistic acid, quercetin và gallic acid được phân lập từ
lá khô của Ricinus Communis Flavonoid (kaempferol-3-O-β-d-rutinoside và
kaempferol-3-O d-xylopyranoid) và tannin đã được phân lập từ lá
Hạt chứa ricin A, B và C, và một ricinus agglutinin Đây là những protein độc tố Indole-3-acetic acid đã được chiết xuất từ rễ Pericarps của các hạt có chứa ricinine Dầu thầu dầu cho thấy sự hiện diện của dạng ester của acid palmitic, stearic, arachidic, linoleic, linolenic, hexadecenoic và oleic Thân cây chứa ricinine Fucosterol, stigmasterol, Y-sitosterol và ergost-5-en-3-ol được phân lập từ hạt [22]
O
O H
H H H H
Trang 28H H H
CH3
O N
Trang 291.5 Một số bài thuốc chữa bệnh từ cây thầu dầu
− Ngoài chữa và hỗ trợ một số bệnh thông thường thì toàn bộ bộ phận cây thầu dầu tía đều được dùng để chữa bệnh trĩ, một chứng bệnh hay gặp ở mọi lứa tuổi
và khó chữa dứt điểm Gây ảnh hưởng đến sinh hoạt cũng như cuộc sống thường ngày
Có một vài phương pháp chữa trị như sau:
+ Dùng kết hợp 3 lá cây thầu dầu tía rửa sạch dã nát cùng 3 lá tầm vông đem bọc vào khăn sau đó ngồi lên cho lá tiếp xúc trực tiếp với hậu môn Ngoài ra có thể xao nóng lá đã giã nát sau đó chườm lên hậu môn Ngày làm 1 lần, làm liên tục 10 ngày để thấy rõ hiệu quả Lưu ý trước khi đắp cần vệ sinh sạch sẽ hậu môn bằng nước muối pha loãng
+ Dùng 9 hạt thầu dầu dã nát cùng 9 con nhện nước Sau đó đem xào cùng dấm cho nóng sau đó đắp vào huyệt bá ở giữa và trên đỉnh đầu
+ Dùng lá thầu dầu dã nát và xao chung cùng lá và hoa cây hoa dừa cạn Để hỗn hợp còn nóng ấm dùng băng gạc cố định ở hậu môn đồng thời kết hợp với uống bên trong bằng cách: Dùng dừa cạn 20g, Đảng sâm 16g, Cỏ mực 20g, Sài hồ 10g, Đương quy 12g, Cam thảo 12g, Trần bì 10g, Hoàng kỳ 12g, Thăng ma 10g, Bạch truật 16g Hỗn hợp này sắc 3 cạn còn 1 uống 3 lần/ngày Dùng từ 10 ngày sau đó nghỉ 4 ngày dùng lại
Lời khuyên đối với những người mắc trĩ là không nên ngồi quá lâu, không nên rặn khi đi đại tiện, vận động nhẹ Tránh các đồ ăn cay nóng và các chất kích thích gây nóng cơ thể Nên ăn nhiều ray xanh và làm mát cơ thể, không nên làm việc gắng sức làm bệnh tình trở nặng hơn
− Làm thuốc tẩy nhẹ: lấy khoảng 10 gam dầu hạt thầu dầu uống vào lúc đói sẽ giảm đầy bụng, đi tiêu và không gây hại
− Chữa sinh khó: Dùng khoảng 14 hạt thầu dầu dã nát đem nịt lại ở hai lòng bàn chân bằng băng gạc Sau khi sinh xong và nhau ra hết phai tháo và rửa sạch bằng nước lạnh ngay, để lâu sẽ gây hại
− Chữa sa tử cung cũng bằng cách giã nát hạt thầu dầu đắp lên đầu, khi tình trạng cải thiện phải tháo ngay
Trang 30− Chữa hen suyễn: Dùng lá thầu dầu tía 12 gam, phèn phi 8 gam; hai vị tán nhỏ, nhồi với 160 gam thịt lợn giã nhỏ, làm viên chả, gói lá sen non, đun nhỏ lửa nấu chín mà ăn
− Chữa viêm tuyến vú: Hái lá thầu dầu tươi, giã nát, chưng với giấm đắp vào chỗ bệnh; ngày đắp 2 lần
− Chữa lở ngứa ngoài da: Dùng lá thầu dầu nấu nước tắm rửa
− Chữa phong thấp viêm khớp đau nhức, chân tay mỏi: Dùng rễ thầu dầu 12 gam, dây đau xương 20 gam, lõi thông 15 gam, sắc nước uống trong ngày
− Chữa liệt thần kinh mặt bằng cách giã nát hạt thầu dầu đắp ở một bên đối diện khu vực liệt [23]
Trang 31CHƯƠNG 2 NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Nguyên liệu, hoá chất và dụng cụ
Bảng 2 1 Các hoá chất sử dụng trong nghiên cứu
STT Tên hóa chất Độ tinh khiết Tiêu chuẩn Nguồn gốc
Sắc ký lớp mỏng dùng loại nhôm tráng sẵn Kieselgel 60F254 độ dày 0,2 mm (Art 5554)
Sắc ký cột sử dụng silicagel Merck 60, cỡ hạt 230 – 400 mesh (0,063 – 0,200 mm)
Trang 32b Dụng cụ và thiết bị
- Tủ sấy, lò nung, cân phân tích 3 số, bếp cách thủy, bếp điện, cốc thủy tinh, phễu chiết, ống đong, pipet, giấy lọc, cột sắc ký và các dụng cụ thí nghiệm khác
- Đèn UV bước sóng 254 và 365 nm
- Máy đo quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS 100 Perkin Elmer
- Máy đo quang phổ hấp thị phân tử UV – VIS LAMBDA25
- Máy sắc ký kết hợp khối phổ GC – MS
2.2 Khảo sát khối lượng cao chiết và thử hoạt tính kháng khuẩn
2.2.1 Khảo sát khối lượng cao chiết trong mỗi nguyên liệu đầu
a Nguyên liệu
Bột lá Thầu dầu của cây lá to, lá nhỏ; Bột rễ Thầu dầu của cây lá to, lá nhỏ; Bột
cành, thân Thầu dầu của cây lá to, lá nhỏ
b Tiến hành
Cho vào 4 bình tam giác nút nhám mỗi bình 100g bột nguyên liệu các loại, thêm vào 800ml ethanol 800C, chiết 3 lần, mỗi lần 24 giờ Dịch chiết được cô đuổi dung môi đến cao khô, cân đến khối lượng không đổi
2.2.2 Thử hoạt tính kháng khuẩn
Thử hoạt tính kháng khuẩn bằng phương pháp khuếch tán qua giếng thạch với các chủng vi khuẩn Gram (-) và Gram (+) tại Phòng Nghiên Cứu Vi Sinh – khoa Sinh – Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng
a Nguyên liệu
− Dịch chiết từ bột các bộ phận cây thầu dầu trong dung môi ethanol 800C
− Một số chủng vi sinh vật kiểm định
* Kiểm định khả năng kháng khuẩn gây bệnh
− Vi khuẩn Gram (-) : Escherichia coli; Salmonella typhi
− Vi khuẩn Gram (+): Bacillus subtilis
b Hoá chất
− Dịch chiết từ bột các bộ phận cây thầu dầu trong dung môi ethanol 80o
− Môi trường dùng để nuôi cấy vi khuẩn: Môi trường cao thịt pepton
Trang 33-Đĩa peptri -Máy quang phổ
Hình 2 1 Buồng cấy vi sinh vô trùng (a) và đĩa peptri đã được đổ môi trường cấy vi sinh
a Nguyên tắc
Ức chế tăng trưởng của vi sinh vật chỉ thị bằng dịch chiết từ các bộ phận của cây thầu dầu Kiểm tra bằng khả năng khuếch tán qua giếng thạch
b Cách thực hiện
− Trên môi trường agar trải vi sinh vật chỉ thị vào
− Dùng ống nhôm đục 2 lỗ thạch đường kính 8mm
− Lấy 0,1ml dịch chiết các bộ phận cây thầu dầu cho vào hai lỗ
− Cho vào tủ lạch 40C trong thời gian 5 -6 giờ để dịch chiết khuếch tán ra môi trường
− Ủ hiếu khí trong tủ ấm với nhiệt độ và thời gian phù hợp với từng vi sinh vật
− Quá trình đục lỗ: thực hiện bên trong tủ cấy vô trùng, mở nắp đĩa peptri, dùng ống nhôm đường kính 8mm khử trùng trên ngọn lửa đèn cồn Đục lỗ thạch Đậy nắp đĩa lại Hơ qua ngọn lửa đèn cồn và bảo quản bằng màng bọc thực phẩm
Trang 342.3 Phương pháp chiết tách thu nhận các mẫu cao chiết
2.3.1 Phương pháp ngâm dầm (chiết rắn – lỏng) điều chế tổng cao ethanol
a Mục đích
Ngâm chất rắn (đã được nghiền nhỏ) vào dung môi thích hợp ở nhiệt độ và thời
gian xác định Sau đó lọc lấy phần dung dịch rồi cô đuổi dung môi ở áp suất thấp nhằm mục đích lấy lượng chất có khả năng hòa tan trong dung môi đó Có thể lặp lại vài lần để lấy hết lượng chất
b Cách tiến hành
Lấy 1000 g bột rễ Thầu dầu tía ngâm chiết bằng ethanol 96o ở nhiệt độ phòng, thời gian ngâm chiết 24 giờ, sử dụng máy khuấy (hoặc lắc đều sau mỗi 15 phút) để đảm bảo cho sự khuyếch tán tốt Lọc gạn lấy phần dịch chiết rồi tiếp tục lọc qua giấy lọc trên phễu Buschle Lặp lại 4 lần, lần đầu dùng 10 lít ethanol, những lần sau mỗi lần dùng 5 lít ethanol Gộp các dịch chiết và cô đuổi dung môi dưới áp suất thấp thu được tổng cao ethanol của rễ Thầu dầu tía Cân xác định khối lượng cao thu được và tính % khối lượng cao chiết so với khối lượng mẫu ban đầu
c Tính toán kết quả
Hàm lượng tổng cao ethanol được tính theo công thức:
2.3.2 Phương pháp ngâm chiết lỏng – lỏng tách các phân đoạn cao từ tổng cao ethanol
a Mục đích
Tổng cao ethanol chứa hầu như tất cả các hợp chất hữu cơ trong rễ cây thầu dầu tía Vì vậy kỹ thuật chiết lỏng – lỏng được sử dụng để phân chia các chất bằng cách dùng các dung môi có tính phân cực khác nhau để phân tách và thu nhận các loại cao chứa các nhóm hợp chất có độ phân cực khác nhau từ tổng cao nói trên
b Nguyên tắc
Kỹ thuật chiết lỏng – lỏng là dựa trên cơ sở sự phân bố của chất phân tích vào hai
pha lỏng (2 dung môi) không trộn lẫn được vào nhau (trong hai dung môi này, có thể một dung môi có chứa chất phân tích) được để trong một dụng cụ chiết, như phễu chiết, bình chiết Và thế hệ số phân bố nhiệt động Kb của cân bằng chiết là một yếu tố quyết định hiệu quả của quá trình chiết và tiếp đến là sự ảnh hưởng của nhiệt độ, môi trường acid
Trang 35Hình 2 2 Nguyên lý chiết phân bố lỏng – lỏng
c Cách tiến hành
Lấy cao ethanol (50 – 200 g) thu được đem phân tán vào 200 – 300 ml nước cất (vì cao ethanol khó tan ngay trong nước nên ban đầu ta hòa nhuyễn bằng 20 ml ethanol 960, sau đó thêm dần nước, dùng đũa thủy tinh hay thìa inox loại nhỏ khuấy đều để cao phân tán đều trong nước) rồi cho vào bình thủy tinh có nút kín loại 1 lít Sau đó tiến hành chiết lỏng - lỏng lần lượt với 2 dung môi có độ phân cực tăng dần
là hexane và ethyl acetate Mỗi loại dung môi chiết 3 lần, mỗi lần 500 ml dung môi, thời gian lắc chiết mỗi lần là 3 giờ ở nhiệt độ phòng Sau khi chuyển vào phễu chiết, khi thấy tách lớp hoàn toàn (chừng 1 – 2 giờ), chiết riêng phần dung môi và phần dịch nước, xác định thể tích phần dung môi (bằng ống đong), cho vào chai chứa loại 500 ml, làm khan bằng cách thêm vào 1 thìa Na2SO4 khan, lắc nhẹ, để lắng rồi trích mẫu thử Gộp dịch chiết của cả 3 lần (với từng dung môi), cô đuổi dung môi dưới áp suất thấp thu được phân đoạn cao hexane,cao ethyl acetate và cao nước từ cao tổng ethanol
d Tính toán kết quả
Hàm lượng các cao phân đoạn tách từ tổng cao ethanol được tính theo công thức:
2.4 Xác định thành phần nhóm chức các phân đoạn cao chiết
2.4.1 Phân tích định tính thành phần nhóm chức các phân đoạn cao chiết từ tổng cao ethanol
Từ mẫu cây, sử dụng các kỹ thuật chiếc tách khác nhau để có được cao chiết alcol toàn phần hoặc những loại cao có tính phân cực khác nhau Áp dụng các phương pháp phân tích sơ bộ về hoá – thực vật để biết trong cao chiết có thể chức các hợp chất tự nhiên nào Sau đó, cần tiến hành xác định sự hiện diện của các loại
Trang 36hợp chất tự nhiên nói trên bằng những biện pháp cụ thể hơn, để có thể chọn các biện pháp xử lý thích hợp nhằm cô lập các hợp chất tinh chất
a Định tính alkaloid
Alcaloid là nhóm hợp chất tự nhiên hiện diện khá nhiều trong các họ thực vật với cấu trúc hoá học và hoạt tính sinh học rất đa dạng Alcaloid là những hợp chất có tình base yếu, do sự có mặt của nguyên tử Nitơ Tính base của các alkaloid cũng khác nhau tuỳ thuộc vào sự hiện diện của nhóm thế R (mang các nhóm chức khác nhau) gắn trên nguyên tử Nitơ
Lấy 0,1 gam cao chiết, thêm 15 ml dung dịch HCl, khuấy đều, lọc qua giấy lọc, lấy vào 3 ống nghiệm, mỗi ống 5 ml
- Ống 1: thêm vào 1-2 giọt thuốc thử Mayer, nếu xuất hiện kết tủa trắng là phản ứng dương tính
- Ống 2: thêm vào 1-2 giọt thuốc thử Dragendorff, nếu xuất hiện màu cam
Trang 37Steroid là nhóm hợp chất tự nhiên phân bố rộng rãi trong giới động vật và thực vật, với cấu trúc tổng quát là hệ thống vòng cyclopentanoperhydrophenantrene
Lấy 0,1 gam cao chiết, thêm 15 ml clorofom, khuấy đều, lọc qua giấy lọc,lấy
vào 3 ống nghiệm, mỗi ống 5 ml
- Ống 1: thêm vào 1-2 giọt H2SO4 đậm đặc, nếu dung dịch đổi sang màu đỏ đậm hoặc xanh tím là phản ứng dương tính
- Ống 2: thêm vào 1-2 giọt dung dịch vanillin 1% trong etanol, 1 giọt HCl đậm đặc Nếu dung dịch chuyển sang màu xanh lục hoặc tímlà phản ứng dương tính
Lấy 0,1 gam cao chiết, thêm 2ml dung dịch NaOH 10%, đun cách thủy đến khô Hòa tan cặn trong 5ml clorofom Lấy dịch clorofom để làm phản ứng định tính
- Ống 1: thêm vào 1-2 giọt thuốc thử Keller-Kilian (100ml axit axetic loãng với 1 ml Fe2(SO4)3 5%) và 1-2 giọt H2SO4 đậm đặc Nếu xuất hiện màu xanh lục sau 1-2 phút là phản ứng dương tính
- Ống 2: thêm vào 1-2 giọt thuốc thử Tollens, nếu xuất hiện kết tủa bạc là phản ứng dương tính
- Ống 3: thêm vào 1-2 giọt thuốc thử Phenol–H2SO4, nếu dung dịch chuyển sang màu nâu là phản ứng dương tính
Trang 38trầm hiện màu đỏlà phản ứng dương tính
- Ống 3: thêm vào 1-2 giọt thuốc thử Bortrager (KOH 50%/methanol) Nếu xuất hiện màu đỏ, tím hoặc xanh lục là phản ứng dương tính
f Định tính tanin
Tannin là nhóm hợp chất polyphenol phân bố rộng rãi trong thực vật Người ta gặp tanin hằng ngày thông qua (trà, rượu vang đỏ, nhiều loại trái cây nhất là trong
vỏ quả măng cụt,…
Lấy 0,1 gam cao chiết, thêm 15ml ethanol, khuấy đều, lọc qua giấy lọc, lấy vào 2 ống nghiệm, mỗi ống 5 ml
- Ống 1: thêm vào 1-2 giọt thuốc thử Gelatin mặn (NaCl 5g và gelatin 0,5 g hòa tan trong 100 ml nước cất) Nếu xuất hiện trầm hiện màu vàng là phản ứng dương tính
- Ống 2: thêm vào 1-2 giọt thuốc thử Stiasny (formol 36% 20 ml và HCl đậm đặc 10 ml) Nếu xuất hiện trầm hiện màu đỏ là phản ứng dương tính
- Ống 3: thêm vào 1ml dung dịch FeCl3 5% trong nước Nếu xuất hiện kết tủa màu xanh đen là phản ứng dương tính
g Định tính sesquyterpen – lacton
Sesquiterpen lacton là nhóm hợp chất đặc trưng hoá – thực vật của những cây
thuộc họ Cúc (Asteraceae) Sesquiterpen lacton được cô lập hầu như ở bộ phận lá,
đầu hoa Thường có vị đắng, không màu, có tính thân dầu, có một số hoạt tính sinh học đáng chú ý như kháng ung thư, kháng siêu vi, kháng khuẩn, kháng sốt rét,… Lấy 0,1 gam cao chiết, thêm 15ml chloroform, khuấy đều, lọc qua giấy lọc, lấy vào ống nghiệm 5ml dịch lọc, cho vào 3 ống nghiệm mỗi ống 5ml
- Ống 1: thêm vào 1 – 2 giọt axit sunfuric đậm đặc, dung dịch xuất hiện màu đỏ đậm hay màu xanh dương đậm là phản ứng dương tính.thêm vào 1-2 giọt thuốc thử Tollens, nếu có lớp gương bạc bám trên thành ống nghiệm hoặc có kết tủa Ag màu đen dưới đáy ống nghiệm thì phản ứng dương tính
- Ống 2: thêm vào 1-2 giọt thuốc thử Tollens, nếu có lớp gương bạc bám trên thành ống nghiệm hoặc có kết tủa Ag màu đen dưới đáy ống nghiệm là phản ứng dương tính
- Ống 3: thêm vào 1 – 2 giọt thuốc thử Baljet (thuốc thử gồm hai dung dịch chứa riêng: dung dịch 1% axit picric trong methanol và dung dịch nước 10% NaOH) nếu
Trang 39sau 5 phút dung dịch chuyển thành màu vàng cam đến đỏ đậm là dương tính
2.4.2 định danh thành phần hoá học các phân đoạn cao chiết từ tổng cao ethanol bằng phương pháp GC/MS
a Mục đích
Sàng lọc và định danh các chất có phân tử lượng thấp và dễ bay hơi có trong mẫu dựa theo giá trị của thời gian lưu trong sắc ký đồ và các phân mảnh tạo thành trong khối phổ
b Điều kiện tiến hành (Chương trình chạy GC-MS)
Mẫu dịch chiết được làm khan bằng Na2SO4 rồi chạy trên hệ thống sắc ký khí ghép khối phổ: 7890A/5975C, Agilent technology,USA Cột sắc ký mao quản: HP-5: 30 m x 250 µm x 0.25 µm
❖ Buồng tiêm mẫu
Nhiệt độ buồng tiêm mẫu: 2800C Áp suất: 10 psi
❖ Khối phổ
− Khoảng phổ quét: 28 – 600 m/z
− Nhiệt độ nguồn: 2300C; Nhiệt độ bộ tứ cực: 15000C
Máy đo sắc ký khí ghép khối phổ GC/MS và chương trình nhiệt độ lò cột được thể hiện trên hình 2.3
Hình 2 3 Máy đo sắc ký khí ghép khối phổ GC – MS 7890A/5975C của hãng Agilent và chương
trình nhiệt độ lò cột
Trang 402.5 Các phương pháp sắc ký
2.5.1 Sắc ký bản mỏng
a Mục đích
Sắc ký bản mỏng là một kĩ thuật được dùng để định tính, thử độ tinh khiết, tách
chất trong hỗn hợp và đôi khi để bán định lượng các hoạt chất
Với loại kích thước 20 x 20 cm ta cắt bản mỏng ra thành các bản nhỏ với kích
thước cần thiết Lưu ý sao cho bản mỏng phải lọt được vào bình giải ly Dùng bút
chì vạch mức xuất phát cách mép dưới bản mỏng 1 cm và mức tiền tuyến cách mép trên 0,5 cm
Bước 2: Chuẩn bị bình sắc ký và dung môi giải ly
Bình triển khai dạng hình khối trụ (đường kính lớn hơn bề ngang bản mỏng sử dụng) Kích thước của bình và thể tích dung môi giải ly sẽ ảnh hưởng đến giá trị Rf
của mẫu
Cho dung môi hoặc hỗn hợp dung môi vào bình Với sắc ký bản mỏng định tính chỉ cần một thể tích khoảng 10 ml dung môi Quan sát chiều dày của lớp dung môi không được cao quá 1 cm vì các vết chấm mẫu trên bản mỏng cách bìa 1 cm
Trước khi cho tấm bản mỏng vào bình, bình cần được bảo hòa dung môi, thực hiện bằng cách phủ bề mặt trong của bình bằng một tờ giấy lọc, nghiêng đảo nhẹ bình giải ly để dung môi thấm ướt tờ giấy lọc Nếu bình không được bão hòa dung môi, khi dung môi giải ly là hệ hỗn hợp, mức tiền tuyến dung môi sẽ có hình lõm ( hình lòng chảo) do dung môi đi ở hai bên cạnh nhanh hơn đi ở giữa bản
Với mẫu chưa biết thành phần, chưa có tài liệu tham khảo, cần thử nghiệm với