TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG KHOA KHOA HỌC TỰ NHIÊN HOÀNG THỊ NHUNG NGHIÊN CỨU PHÂN LẬP VÀ XÁC ĐỊNH CẤU TRÚC HỢP CHẤT STEROID TỪ DỊCH CHIẾT METHANOL CÂY THẠCH VĨ Pyrrhosia Lingua Thunb.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA KHOA HỌC TỰ NHIÊN
HOÀNG THỊ NHUNG
NGHIÊN CỨU PHÂN LẬP VÀ XÁC ĐỊNH CẤU TRÚC
HỢP CHẤT STEROID TỪ DỊCH CHIẾT METHANOL
CÂY THẠCH VĨ (Pyrrhosia Lingua (Thunb.) Farwell)
HỌ DƯƠNG XỈ (Polypodiaece)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Sư phạm Hóa học
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: 1.ThS Nguyễn Thị Bình Yên
Trường Đại học Hùng Vương 2.ThS Nguyễn Thị Nga
Học viện phòng không – Không quân
Phú Thọ, 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn thầy hướng dẫn
khoa học: ThS Nguyễn Thị Bình Yên - Trường Đại học Hùng Vương và ThS.Nguyễn Thị Nga- Học viện Phòng không- Không quân đã chỉ ra hướng
nghiên cứu và tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Ngoài ra, để hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp này, em đã nhận được
sự giúp đỡ hết sức nhiệt tình của các Thầy cô giáo, các cán bộ công nhân viên
và đặc biệt là cô giáo chủ nhiệm Phạm Thị Thanh Huyền Em xin chân thành cảm ơn các Thầy, các Cô, các nhà khoa học Trường Đại học Hùng Vương đã giảng dạy, hướng dẫn và tạo điều kiện tốt nhất để em thực hiện các thực nghiệm hóa học
Nhân dịp này em xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đến Ban Lãnh đạo Trường Đại học Hùng Vương, Khoa Khoa học Tự nhiên - Trường Đại học Hùng Vương đã tạo cho em một môi trường học tập khoa học, nghiêm túc
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân và các bạn sinh viên K11 ĐHSP Hóa học-Trường Đại học Hùng Vương đã hỗ trợ, động viên em trong suốt quá trình học tập và thực hiện Đề tài
Phú Thọ, ngày 12 tháng 5 năm 2017
Sinh viên
Hoàng Thị Nhung
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Giới thiệu về chi Pyrrhosia 3
1.2 Đặc điểm thực vật loài Thạch vĩ 4
1.3 Các nghiên cứu về hóa thực vật chi Pyrrhosia của Việt Nam 5
1.4 Sơ lược về lớp chất steroid 5
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
2.1 Đối tượng nghiên cứu 8
2.2 Nguyên vật liệu và thiết bị 8
2.2.1 Nguyên vật liệu 8
2.2.2 Thiết bị nghiên cứu 9
2.3 Phương pháp nghiên cứu 11
2.3.1 Phương pháp ngâm chiết 11
2.3.2 Phương pháp sắc ký 12
2.3.3 Phương pháp phổ hồng ngoại 15
2.3.4 Phương pháp phổ khối lượng 15
2.3.5 Phương pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân(NMR) 16
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 19
3.1 Quá trình điều chế cặn dịch chiết MeOH cây Thạch vĩ 19
3.2 Quá trình phân lập các chất từ dịch chiết MeOH cây Thạch vĩ 20
3.2.1 Khảo sát thành phần định tính và lựa chọn dung môi 20
3.2.2 Quá trình phân lập các chất 22
Trang 53.3 Xác định cấu trúc hợp chất phân lập được 28
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 35
1 Kết luận 35
2 Kiến nghị 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO 36
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
❖ Các phương pháp sắc ký
TLC Thin Layer Chromatography: Sắc ký lớp mỏng
CC Column Chromatography: Sắc ký cột
❖ Các phương pháp phổ
1H-NMR Proton Nuclear Magnetic Resonance Spectroscopy: Phổ cộng
hưởng từ hạt nhân proton
13C-NMR Carbon-13 Nuclear Magnetic Resonance Spectroscopy: Phổ cộng
hưởng từ hạt nhân carbon 13
DEPT Distortionless Enhancement by Polarisation Transfer: Phổ DEPT s: singlet d: doublet t: triplet m: multiplet
❖ Tên của các hợp chất được viết theo nguyên bản Tiếng Anh
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Hình ảnh cây Thạch vĩ 4
Hình 1.2 Cấu tạo khung steroid 6
Hình 2.1 Cây Thạch vĩ (tại Lâm Thao) 8
Hình 2.2 Máy cất quay chân không 9
Hình 2.3 Cột sắc ký với kích thước khác nhau 10
Hình 2.4 Bộ chưng cất dung môi 10
Hình 2.5 Máy soi UV 11
Hình 2.6: Hộp thủy tinh chạy bản mỏng 11
Hình 2.7.Sơ đồ chung của phương pháp ngâm chiết 12
Hình 2.8 Minh họa sắc ký lớp mỏng 13
Hình 2.9 Minh họa sắc ký cột 14
Hình 2.10 Độ chuyển dịch hóa học của proton 17
Hình 2.11 Ví dụ minh họa về sự tách vạch phổ 18
Hình 3.1 Hình cặn dịch chiết MeOH 19
Hình 3.2 Kết quả khảo sát TLC cặn chiết MeOH Thạch vĩ 21
Hình 3.3 TLC cặn MeOH Thạch vĩ với hệ dung môi (V) 21
Hình 3.4 Cột tổng khi đưa silica gel lên 22
Hình 3.5 Cột tổng silica gel cặn MeOH 23
Hình 3.6 Hình ảnh khảo sát TLC các phân đoạn F1÷F9 23
Hình 3.7 Cột phân đoạn F8 24
Hình 3.8 Hình ảnh TLC các lọ từ 30 – 46 của phân đoạn F8.3 26
Hình 3.9 Sơ đồ phân lập dịch chiết MeOH câyThạch vĩ 27
Hình 3.10 Hình ảnh chất PLM3.2 và sắc ký đồ TLC 27
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Độ phân cực một số dung môi thông dụng 9 Bảng 3.1 Kết quả các phân đoạn thu được từ phân đoạn F8 25
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về sức khỏe càng được mọi người quan tâm hơn, trong đó phải kể đến những nhà khoa học đã có những bước tiến đáng kể trong việc tìm ra những sản phẩm có nguồn gốc thiên nhiên, không chỉ chữa khỏi bệnh mà còn giúp cơ thể phòng bệnh như cây Trinh nữ hoàng cung, cây Giác đế, cây Lược vàng, cây Thạch vĩ,
Ngày nay, việc dùng các loài thuốc có nguồn gốc tự nhiên ngày càng được ưa chuộng và các công trình nghiên cứu về chúng cũng ngày càng phát triển.Cùng với sự phát triển của công nghệ tổng hợp hóa dược tạo ra các biệt dược, các nhà khoa học vẫn đang cố gắng tìm hiểu, khám phá các hoạt tính sinh học khác nhau của các hợp chất có nguồn gốc từ nhiều loài thực vật khác nhau
Việt Nam là nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa lớn, độ ẩm tương đối cao, nhiệt độ trung bình tháng trên 180C lượng mưa trung bình từ 1000-1500 mm Với diện tích tự nhiên lên đến 331.212 km2 và những đặc thù về khí hậu thiên nhiên đã tạo nên sự đa dạng sinh học cao trong thành phần các loài thực vật Trên cơ sở các tài liệu đã công bố của các nhà sinh vật Việt Nam, được tổng hợp từ những tài liệu đáng tin cậy, trên toàn lãnh thổ Việt Nam hiện có tới 19.375 loài thực vật trong đó có tới khoảng 13.000 loài hạt kín Trong số 13.000 loài hạt kín nói trên, theo thống kê của Viện Dược liệu Việt Nam, hiện biết có khoảng 4.000 loài được sử dụng làm thuốc chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian và đông y; đã và đang là điều kiện tốt để mở ra và phát triển hơn nữa tiềm năng nghiên cứu về các hợp chất tự nhiên từ các loài thực vật của Việt
Chi Pyrrhosia ở Việt Nam có 17 loài ví dụ như Pyrrhosia Lingua,
Pyrrosia Sheareri, Pyrrosia Petiolosa, Pyrrosia Pekinesis, và các loài này đã
và đang được sử dụng trong y học cổ truyền [1] mở ra tiềm năng nghiên cứu hóa thực vật về các loài này
Trang 10Theo Từ điển thực vật thông dụng của tác giả Võ Văn Chi chỉ ra cho thấy cây Thạch vĩ có chứa triterpenoid diploptene, steroid β–sitosterol Gần đây, năm 2016 nhóm tác giả Bùi Thị Thu Giang, Nguyễn Thị Sang đã bước đầu công bố thành phần hóa học cây Thạch vĩ của Việt Nam Trong đó từ các
dịch chiết EtOAc, n-Hexane đã phân lập được hỗn hợp β–sitosterol và
stigmasterol; hopane-22- ol Nhằm mục tiêu tìm kiếm và hiểu biết về các hợp
chất thiên nhiên từ cây Thạch Vĩ, tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu phân lập
và xác định cấu trúc hợp chất Steroid từ dịch chiết Methanol cây Thạch vĩ (Pyrrhosia Lingua (Thunb.) Farwell) họ Dương xỉ (Polypodiaceae)
2 Mục tiêu của đề tài
- Điều chế cặn dịch chiết MeOH ( methanol) của cây Thạch vĩ
- Phân lập chất sạch từ các phân đoạn của dịch chiết MeOH cây Thạch
+ Đề tài còn là tài liệu tham khảo cho sinh viên ngành hóa học và cán bộ nghiên cứu hóa học hữu cơ
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Giới thiệu về chi Pyrrhosia
Pyrrhosia Mirb, họ Ráng – Polypodiaceae [Từ chữ Hy Lạp pyros; lửa; ổ
túi bào tử phủ kín mặt dưới phiến lá, nhìn xa nom như màu lửa] – Ráng tai chuột, Thạch Vĩ
Ổ túi bào tử tròn hoặc thuôn và xếp thành nhiều hàng, chéo gốc với gân giữa và gần sát vào nhau, phủ gần kín mặt dưới của phiến lá Có hai loại lông hình sao, đều có cuống dài
Gồm khoảng 100 loài, chủ yếu ở vùng ôn đới và nhiệt đới, một số ít loài mọc ở châu Phi và Ôxtrâylia Ở Việt Nam có 17 loài [1]
Pyrrhosia clavata (Baker) Ching - Ráng tai chuột Loài này có ở Trung
Quốc, Lào và Việt Nam
Pyrrosia lanceolata(L.) Farw [P adnascens (Sw.) Ching] – Ráng tai
chuột thường, Lưỡi mèo tai chuột Phân bố Nam Trung Quốc và các nước nhiệt đới châu Á Ở nước ta, cây mọc phổ biến ở các miền núi, trung du và đồng bằng
Pyrrhosia lingua (Thunb.) Farwell – Thạch vĩ, hay còn được gọi là
thạch bì, thạch lan, phi đao kiếm hay kim tinh thảo ráng hỏa mạc lưỡi, Ráng tai chuột lưỡi dao.Phân bố ở Nhật Bản, Đài Loan, Nam Trung Quốc và Việt Nam Ở nước ta, gặp nhiều nơi từ Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Phú Thọ, Hà Tây, đến Thừa Thiên – Huế và Lâm Đồng
Pyrrhosia mollis (G Kunze) Ching – Ráng tai chuột mềm, Thạch vĩ
lông mềm Phân bố ở Trung Quốc và nhiều nước nhiệt đới châu Á: Ấn Độ, Mianma, Lào, Việt Nam, Inđônêxia, Phillipin Ở nước ta, có gặp tại Lào Cai (Sa Pa), Lâm Đồng (Đà Lạt)
Pyrrhosia piloselloides (L.) M G Price [Drymoglossum piloselloides
(L.) C Presl] – Ráng tai chuột vẩy ốc Phân bố ở Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Inđônêxia, Phillippin và Iran Ở nước ta có gặp từ Lạng Sơn, Lào Cai, Quảng Bình, Quảng Nam, Bình Định tới Khánh Hòa và Lâm Đồng
Trang 12Pyrrhosia porosa (C Presl) Hovenkamp var tonkinensis (Giesenh.)
Hovenkamp [P.tonkinensis (Giesenh.) Ching] – Ráng tai chuột Bắc, Thạch vĩ
Bắc Bộ Loài của Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc Ở nước ta có gặp tại
Hà Tây (Ba Vì), Lào Cai (Sa Pa) và Ninh Bình (Cúc Phương)
Theo tác giả Võ Văn Chi, một loài thuộc chi Pyrrhosia của Việt Nam
được sử dụng làm thuốc trong y học dân giân như cây Thạch vĩ được dùng để làm thuốc lợi tiểu, chữa ung nhọt,…
1.2 Đặc điểm thực vật loài Thạch vĩ
Cây Thạch vĩ (Pyrrhosia lingua (Thunb.) Farwell.) là một loại cây
dương xỉ nhỏ, có thân rễ nằm ngang, dài tới 0,05m, dày vào khoảng 4mm, có nhiều nhánh phân chia theo lối đơn túc Trên thân rễ, có nhiều vẩy to, ở mặt dưới từng quãng có nhiều rễ hình sợi, phân nhánh mọc đối, có dạng cây thảo sống nhiều năm, cao 10 – 30cm, mép gợn sóng Cuống 2 – 10 cm, mảnh, có đốt ở gốc; phiến hơi đa dạng, tròn dài, nhỏ hay hẹp thon, dài 8 – 18cm, rộng 2 – 5cm, dai, gân phụ rõ, mặt trên gần như không lông, mặt dưới có lông hình sao vàng hoe
Hình 1.1 Hình ảnh cây Thạch vĩ
Ổ bào tử phủ kín mặt dưới, màu đỏ đậm; bào tử xoan, nâu nhạt
Cây phụ sinh trên thân cây và bám trên đá trong rừng ở độ cao 100 – 1800m Có nơi cây mọc thành những đám rất lớn [1]
Trang 131.3 Các nghiên cứu về hóa thực vật chi Pyrrhosia của Việt Nam
Theo Từ điển thực vật thông dụng của tác giả Võ Văn Chi chỉ ra cho
thấy cây Thạch vĩ có chứa steroid như β – sitosterol (1) [1]
Gần đây, năm 2016 nhóm tác giả Bùi Thị Thu Giang, Nguyễn Thị Sang
đã bước đầu công bố thành phần hóa học cây Thạch vĩ của Việt Nam Trong
đó từ các dịch chiết EtOAc, n-Hexane đã phân lập được hỗn hợp β–sitosterol
và stigmasterol (2); hopane-22- ol (3)
1.4 Sơ lược về lớp chất steroid
Steroidlà một loại hợp chất hữu cơ có chứa một sự sắp xếp đặc trưng của bốn vòng cycloalkaneđược nối với nhau Ví dụ về các steroid bao gồm các chất béo ăncholesterol, hormon sinh dục estradiol và testosterone, và thuốc chống viêmdexamethasone Lõi của steroid bao gồm 20 nguyên tử cacbon liên kết với nhau mang hình thức của bốn vòng hợp nhất: ba vòng
Trang 14cyclohexane (được xem như là vòng A, B, và C) và một vòng cyclopentane (vòng D) Các steroid khác nhau đối với từng nhóm chức năng gắn liền với cốt lõi bốn vòng và oxi hóa của các vòng
Steroid là các hợp chất chất béo hữu cơ hòa tan có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, có công thức từ 17 nguyên tửcacbon sắp xếp thành 4 vòng và bao gồm cả các sterol và axit mật, thượng thận, và kích thích tố giới tính Một
số steroid có nguồn gốc thiên nhiên như: hợp chất digitalis, và các tiền chất của một số loại vitamine nhất định Steroid rất đa dạng và phong phú, bao gồm các hình thức của một số loại vitamine D, digitalis, sterol (ví dụ: cholesterol) và các axit mật Các sterollà các dạng đặc biệt của các steroid, với một nhómhydroxyltại vị trí-3 và một khung lấy từ cholestane.Hàng trăm steroid riêng biệt được tìm thấy ởthực vật, động vật vànấm Tất cả các steroid được sản xuất ở các tế bào từ các sterollanosterol(động vật và nấm) hoặc từcycloartenol (thực vật) Cả lanosterol và cycloartenol lấy từ cyclization củatriterpenesqualene.Steroid là nhóm hợp chất tự nhiên phân bố rộng rãi trong giới động vật và thực vật, với cấu trúc tổng quát là hệ thống vòng cyclopentanohydrophenanthrenehoặc trong một vài trường hợp hiếm gặp là dạng biến đổi của vòng nói trên
Hình 1.2 Cấu tạo khung steroid
Ví dụ về các steroid bao gồm các chất béo ăn cholesterol, hormon sinh dục estradiol và testosterone, và thuốc chống viêm dexamethasone Các steroid khác nhau đối với từng nhóm chức năng Một trong các steroid được
biết đến sớm nhất là cholesterol (2) Hợp chất này được phân lập lần đầu tiên
vào năm 1770 nhưng mãi đến tận những năm 1920 mới xác định được cấu trúc của nó [10]
Trang 15(4)
Trang 16CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Cây Thạch vĩ được thu hái tại Thị trấn Lâm Thao – Huyện Lâm Thao – Tỉnh Phú Thọ vào tháng 6/2015 Tên cây được xác định bởi nhà thực vật học
Đỗ Văn Hài Mẫu tiêu bản kí hiệu QHT-02 được lưu giữ tại Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật-Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Hình 2.1 Cây Thạch vĩ (tại Lâm Thao)
2.2 Nguyên vật liệu và thiết bị
2.2.1 Nguyên vật liệu
Dung môi được sử dụng như n-hexane, CH2Cl2, EtOAc, MeOH, Acetone đều là các hóa chất kỹ thuật của Việt Nam, Hàn Quốc được chưng cất lại trước khi sử dụng Các dung môi có độ phân cực tăng dần từ n-Hexan đến MeOH như trong bảng sau [8]:
Trang 17Bảng 2.1: Độ phân cực một số dung môi thông dụng
2.2.2 Thiết bị nghiên cứu
Mẫu cây được đem ngâm chiết trong các bình thủy tinh có dung tích 5 lít( trong thời gian 24h) Sau khi ngâm,dung môi được lọc qua vải thô và giấy lọc Sau đó được cô đặc bằng máy cấtquay chân không IKA®RV 10 của Anh( tùy mỗi loại dung môi mà nhiệt độ cất quay khác nhau)
Hình 2.2 Máy cất quay chân không
Việc tinh chế các hỗn hợp sản phẩm được thực hiện bằng sắc ký cột silica gel và sắc ký lớp mỏng Với sắc ký cột silica gel thì tùy vào lượng mẫu chất ta sử dụng các cột sắc ký có kích cỡ khác nhau: 1; 2; 2,5; 4; 10 Chất nhồi cột sắc ký là silica gel 60 (0,063 – 0,200 mm) (70 – 230 mesh astm)
Trang 18đều là của Merck Khối lượng silica gel nhồi cột gấp khoảng 30 lần lượng chất (ví dụ: mchất=1g thì msilica gel=30g) Còn sắc ký lớp mỏng sử dụng bình sắc
ký lớp mỏng Camag của Đức và bản mỏng sắc ký tráng silicagel 60 F254 trên tấm nhôm 20 × 20 cm của Đức Các lớp chất sẽ được thể hiện thông qua các vệt màu trên bản mỏng nhờ thuốc thử Ceri sunfat (các vệt chất hiện màu giống nhau sau khi nướng) hoặc thuốc thử Vanilin (các vệt chất hiện màu đặc trưng)
Hình 2.3 Cột sắc ký với kích thước khác nhau
Dung môi sử dụng được chưng cất bằng bộ chưng cất dung môi của hãng IKA: dung môi được cho vào bình chưng cất (thêm đá bọt) sau đó được làm lạnh bằng hệ thống sinh hàn, ngưng tụ và chảy xuống eclen
Hình 2.4 Bộ chưng cất dung môi
Trang 19Hiện màu dưới bước sóng UV 254nm( bước sóng ngắn), 366nm( bước sóng dài) được thực hiện trên hệ thống đèn UV CAMAG:
Hình 2.5 Máy soi UV
Hộp thủy tinh chạy bản mỏng:
Hình 2.6: Hộp thủy tinh chạy bản mỏng
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp ngâm chiết
Nguyên tắc tổng quát của phương pháp ngâm chiết là lựa chọn dung môi
và quy trình phù hợp để chiết tách hợp chất ra khỏi mẫu cây, điều này tùy thuộc vào đặc tính của chất thứ cấp có trong cây mà người khảo sát mong muốn tách cô lập: cấu trúc hóa học đa dạng, tính chất phân cực khác biệt, … Muốn chiết hợp chất ra khỏi cây cần chọn dung môi phù hợp (các dung môi thường sử dụng: n-Hexane, CH2Cl2, EtOAc, MeOH, …), sử dụng kỹ thuật chiết tách phù hợp bằng cách ngâm ngập mẫu cây trong dung môi trong
Trang 20khoảng thời gian 24h sau đó lọc lấy dung dịch (lọc bằng vải thô sau đó lọc lại bằng giấy lọc để loại bỏ hoàn toàn phần bã) Sau khi lọc, phần bã cây hoặc sinh khối còn lại được lọc bỏ Dung môi sau khi lọc được đem cô cạn bằng máy cẩt quay chân không ở nhiệt độ thấp khoảng 30-45oC vì thực hiện ở nhiệt
độ cao có thể làm hư hại một vài hợp chất kém bền nhiệt [4] Cao chiết được bảo quản trong tủ mát ở nhiệt độ dưới 3oC, độ ẩm khoảng 13%
Hình 2.7.Sơ đồ chung của phương pháp ngâm chiết
2.3.2 Phương pháp sắc ký
2.3.2.1 Phương pháp sắc ký lớp mỏng
Trang 21a: Quãng đường di chuyển của dung môi
b: Quãng đường di chuyển của chất
Hình 2.8 Minh họa sắc ký lớp mỏng
Sắc ký lớp mỏng dùng để khảo sát thành phần và sắc ký lớp mỏng điều chế đều được thực hiện trên bản mỏng đế nhôm tráng sẵn Silica gel 60 F254 của hãng Merck có độ dày 0,25 mm Dung môi triển khai là 1 hoặc hỗn hợp
một số dung môi thông dụng như n-hexane, CH2Cl2, EtOAc, Acetone, MeOH Thuốc thử hiện màu được sử dụng là Ceri sulfate, Vanalin
Cách thực hiện: dùng cappira chấm các chấm nhỏ (mẫu chất được hòa tan bằng dung môi) lên một điểm đã được cố định trên bản mỏng Pha hệ dung môi phù hợp, rồi chạy bản mỏng bằng hộp thủy tinh Khi dung môi chạy gần đến mép trên của bản mỏng thì dừng lại
Cơ sở lý thuyết của phương pháp sắc ký silica gel nói chung là dựa trên khả năng hấp phụ khác nhau của các chất trên silica gel (pha tĩnh) sẽ được dung môi rửa giải (pha động) khi đi lên theo lực mao quản sẽ phân tách (giải hấp) ở các vị trí khác nhau trên đường đi của dung môi Chất có độ phân cực kém hơn sẽ đi lên nhanh hơn chất có độ phân cực cao hơn
Độ linh động của chất được đánh giá thông qua hệ số Rf
Trong trường hợp minh họa trên:Rf(A) = ; Rf(B) =
Trang 22Hai chất A, B được coi là tách riêng khỏi nhau khi triển khai sắc ký TLC, Rf(A) ≠ Rf(B) Từ hệ dung môi khi khảo sát TLC làm cơ sở để lựa chọn
hệ dung môi cho sắc ký cột silica gel
Nguyên lý của phương pháp sắc ký cột silica gel cũng tương tự phương pháp sắc ký lớp mỏng ở trên; chỉ khác là trong sắc ký cột silica gel dung môi được di chuyển từ trên đỉnh cột đi xuống và hệ dung môi được lựa chọn từ TLC sẽ được tăng dần độ phân cực hoặc có thể chỉ là một dung môi duy nhất Chất có độ phân cực kém hơn sẽ được rửa giải trước rồi đến chất có độ phân cực cao hơn, đối với sắc ký bản mỏng thì ngược lại