Tuy nhiên vào từng thời điểm lịch sử cụ thể cùng với Nho giáo và Phật giáo, Đạo giáo đã có ảnh hưởng lớn đến nhân sinh quan của một số nhà tư tưởng lớn của Việt Nam như Nguyễn Trãi, Nguy
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình do tôi nghiên cứu và thực hiện dưới
sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Trương Văn Chung Nội dung và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực Các tài liệu sử dụng trong luận văn đều có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2017
Tác giả
ĐINH THẾ HOÀNG
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA NHÂN SINH QUAN TRONG TRIẾT HỌC TRANG TỬ 9
1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ, KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA CƠ SỞ XÃ HỘI CỦA NHÂN SINH QUAN TRONG TRIẾT HỌC TRANG TỬ 10
1.1.1 Điều kiện lịch sử - xã hội của Trung Quốc thời Xuân Thu – Chiến Quốc 10
1.1.2 Thành tựu về văn hóa và tư tưởng của Trung Quốc thời Xuân thu - Chiến quốc 18
1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA NHÂN SINH QUAN TRONG TRIẾT HỌC TRANG TỬ 25
1.2.1 Cuộc đấu tranh tư tưởng giữa hai trường phái nhập thế - xuất thế trong triết học Trung Quốc 25
1.2.2 Triết học của Lão Tử và Dương Chu - tiền đề tư tưởng nhân sinh trong triết học Trang Tử 32
1.3 THÂN THẾ, SỰ NGHIỆP VÀ TÁC PHẨM CỦA TRANG TỬ 39
1.3.1 Thân thế và sự nghiệp của Trang Chu 39
1.3.2 Về tác phẩm Nam Hoa Kinh 41
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM NHÂN SINH QUAN TRONG TRIẾT HỌC TRANG TỬ GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ 52
2.1 VŨ TRỤ QUAN VÀ NHẬN THỨC LUẬN TRONG TRIẾT HỌC TRANG TỬ 52
2.1.1 Vũ trụ quan trong triết học Trang Tử 54
Trang 5HỌC TRANG TỬ 99
2.2.1 Quan niệm của Trang Tử về con người, về cái chết và sự bất tử 100
2.2.2 Quan niệm của Trang Tử về chính trị - xã hội 109
2.2.3 Phương pháp nuôi dưỡng sự sống 121
2.3 GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ NHÂN SINH QUAN TRONG TRIẾT HỌC TRANG TỬ 128
2.3.1 Giá trị và hạn chế 128
2.3.2 Ý nghĩa của nhân sinh quan Trang Tử trong cuộc sống hiện nay 135
KẾT LUẬN 146
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 149
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội lần thứ VII (6 - 1991) đã xác định nền văn hóa tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc là một trong sáu đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Như vậy, nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là một nhiệm vụ trọng yếu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng cũng đã khẳng định: “Trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam”1
Trong bối cảnh thế giới còn nhiều bất ổn và diễn biến khó lường, các
tư tưởng cực đoan, các phong trào khủng bố còn hiện diện và đất nước ta đang tiến hành công cuộc Đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay thì việc nghiên cứu, tìm hiểu những nhân tố hợp lý, những giá trị mang tính nhân loại, hấp thụ có phê phán những tư tưởng triết học truyền thống cũng là làm giàu thêm lý luận Mácxít, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu lý luận, phục vụ thực tiễn của Cách mạng
Cùng với Nho giáo và Phật giáo, Đạo giáo là một tư tưởng triết học có ảnh hưởng rất lớn đến dân tộc Trung Quốc và dân tộc Việt Nam Trong lịch
sử tư tưởng Việt Nam, các nhà nghiên cứu thường hay đề cập đến sự du nhập và vai trò của ba đạo Nho – Phật – Lão hay còn gọi là Tam giáo đồng
trị Quốc gia, Hà Nội, 2016 tr.69
Trang 7nguyên trong tiến trình phát triển lịch sử tư tưởng của dân tộc Có một số ý kiến cho rằng Nho giáo và Phật giáo đóng vai trò chủ đạo còn Lão giáo chỉ đóng vai trò thứ yếu, dung hoà giữa Nho giáo và Phật giáo Tuy nhiên vào từng thời điểm lịch sử cụ thể cùng với Nho giáo và Phật giáo, Đạo giáo đã
có ảnh hưởng lớn đến nhân sinh quan của một số nhà tư tưởng lớn của Việt Nam như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Công Trứ, vv…
Ở Việt Nam hiện nay, đạo Lão có thể được gọi bằng những tên gọi sau: Đạo Lão, Lão giáo, Đạo giáo, Hoàng Lão, Lão Trang Đạo Lão do Lão Tử sáng lập, sau này được Liệt Tử (Liệt Ngự Khấu 430 TCN - 349 TCN) và Trang Tử (Trang Chu 369 TCN - 286 TCN) phát triển thêm Nhưng do ảnh hưởng lớn của Trang Tử cho nên người đời sau thường gọi là Đạo Lão Trang
Trang Tử vừa là một nhà hiền triết vừa là một văn nhân, do vậy tác phẩm của ông vừa chứa đựng tư tưởng triết học sâu sắc vừa là những áng văn kỳ thú Tư tưởng của Trang Tử chủ yếu được thể hiện qua Nam Hoa Kinh, Nam Hoa Kinh bao gồm ba mươi ba thiên, được chia thành ba phần: nội thiên, ngoại thiên và tạp thiên Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về Trang Tử và Nam Hoa Kinh bằng các góc độ khác nhau như: Triết học, Văn hoá, Tôn giáo, Văn học, Ngôn ngữ, vv… Tuy nhiên chỉ trên phương diện Triết học thì những nghiên cứu, nhận định, đánh giá về Trang
Tử nói chung, Nam Hoa Kinh nói riêng đã rất đa dạng, phong phú và vẫn
mở ra nhiều hướng, nhiều vấn đề cần được nghiên cứu, làm rõ
Cùng với việc phát triển kinh tế - xã hội thì bên cạnh đó việc phát triển về nhân sinh quan đạo đức, giáo dục vai trò nhân sinh quan của nhân loại, trong đó có nhân sinh quan của Trang Tử, từ đó rút ra những ý nghĩa, kinh nghiệm trong lịch sử để xây dựng xã hội hài hòa, con người hài hòa là yêu cầu mang tính cấp thiết cần được chú trọng nghiên cứu Chính vì những
lý do đã trình bày ở trên, tôi chọn đề tài: “Nhân sinh quan trong Triết học
Trang 8Trang Tử Đặc điểm và ý nghĩa lịch sử” cho luận văn thạc sĩ của mình
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài
Tư tưởng của Trang Tử được thể hiện chủ yếu trong Nam Hoa Kinh,
trong đó chứa đựng tư tưởng triết học của Trang Tử vừa uyên thâm sâu sắc lại vừa đạt đến trình độ điêu luyện trong nghệ thuật diễn đạt Chính vì vậy
mà Nam Hoa Kinh đã trở thành mục tiêu nghiên cứu của các học giả Việt
Nam, Trung Quốc và nhiều nước khác trên thế giới
Về dịch thuật văn bản gốc ra tiếng Việt, những nhà nghiên cứu như
Nhượng Tống, Nguyễn Tôn Nhan, Nguyễn Hiến Lê, Thu Giang Nguyễn
Duy Cần đã nghiên cứu và là dịch giả của bộ Trang Tử Nam Hoa Kinh
Về góc độ văn hóa, những công trình nghiên cứu về Trang Tử nổi bật
là tập kỷ yếu “Đạo gia và văn hóa” (Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin xuất
bản, Trung tâm Trung Quốc học - Đại học Sư phạm Hà Nội) đây là tập hợp những công trình nghiên cứu về Đạo gia và Đạo giáo của các nhà nghiên cứu
trong hai năm 1999 - 2000, “Địa vị lịch sử của Đạo gia trong văn hóa truyền
thống” của Lý Cẩm Toàn (Tạp chí Triết học Hà Nội, số 2/1992); …
Về cơ sở lý luận và tiền đề kinh tế xã hội hình thành nên tư tưởng của
Trang Tử có thể đề cập đến các công trình lớn như là: Cội nguồn văn hóa
Trung Hoa do GS Đường Đắc Dương chủ biên (Nhà xuất bản Hội Nhà văn,
năm 2003) Đây là công trình lớn mang tính bách khoa về văn hóa Trung Hoa, giúp người đọc tiếp cận những hiện tượng văn hóa riêng biệt được trình bày theo sáu chủ đề tương ứng với các chương: hoàn cảnh nhân văn, chế độ chính trị, khoa học kỹ thuật, tư tưởng lý luận, văn học nghệ thuật, phong tục tập quán Đặc biệt trong chương 4 viết về tư tưởng lý luận, nhóm tác giả đã phân tích những vấn đề lớn của triết học Trung Quốc cổ đại và đưa ra những kiến giải khá sâu sắc cũng như phân tích những ảnh hưởng của nó đến đời
Trang 9sống văn hóa tinh thần của người Trung Hoa, trong đó có tư tưởng của Trang Tử
Tiếp đến là công trình Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa (5 tập)
do GS Dương Lực chủ biên (Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, năm 2002) Trong tập 2 của bộ sách này, tác giả đã trình bày một cách ngắn gọn những điểm cốt lõi kinh điển của các trường phái triết học Trung Quốc trong đó có Đạo gia, và các tác giả đã phân tích những tư tưởng chủ đạo của các đại diện tiêu biểu của Đạo gia như Lão Tử, Trang Tử, … Từ đó, tác giả chỉ ra những cống hiến của họ đối với nền văn hóa Trung Hoa, cũng như đưa ra những đánh giá hết sức khách quan và xác đáng Nhìn chung đây là một công trình lớn về văn hóa, được tác giả dày công nghiên cứu
Tiếp theo là công trình Lịch sử văn hóa Trung Quốc do tác giả Đàm
Gia Kiện chủ biên (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 1999) Đây là một công trình nghiên cứu khá toàn diện những vấn đề cơ bản của lịch sử văn hóa Trung Quốc, bao gồm ba phần: chế độ điển chương các đời, các thể loại văn học cổ đại, triết học và tôn giáo cổ đại Trong phần 3, chương triết học tiên Tần, tác giả đã khái quát tư tưởng của các triết gia thời kỳ này, trong đó
có tư tưởng của Trang Tử Công trình thật sự là một tài liệu tham khảo bổ ích, giúp cho người viết thêm một góc nhìn về tư tưởng thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc
Bên cạnh đó là, bộ Lịch sử triết học Trung Quốc (2 tập) của Phùng Hữu Lan (Nhà xuất bản khoa học xã hội, 2006) và Tinh thần triết học Trung
Quốc – Tân nguyên đạo của Phùng Hữu Lan (Nhà xuất bản khoa học xã hội,
2013) là hai công trình nghiên cứu lớn của học giả Phùng Hữu Lan Qua công trình lịch sử triết học Trung Quốc, tác giả đã trình bày một cách có hệ thống tư tưởng triết học Trung Quốc qua hai thời đại là Tử học và Kinh học Trong đó ở thời đại Tử học, tác giả đã tập trung đi sâu phân tích những
Trang 10nguyên nhân làm nên sự phát triển về tư tưởng ở thời đại Tử học, những tư tưởng và tôn giáo trước thời Khổng Tử, sau đó tác giả lần lượt đi vào phân tích nội dung tư tưởng của các trường phái triết học như Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Danh gia, Pháp gia, Trong đó có tư tưởng của Trang Tử
Cuối cùng là công trình Đại cương Triết học Trung Quốc của Doãn
Chính chủ biên (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 1997) Trong tác phẩm này, tác giả đã trình bày một cách có hệ thống lịch sử tư tưởng thời kỳ phát sinh triết học Trung Quốc từ lúc thai nghén đến các trào lưu tư tưởng thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc như Đạo gia (Lão Tử, Dương Chu và Trang Tử), Nho gia (Khổng Tử, Mạnh Tử), Mặc gia (Mặc Tử, Hậu Mặc), Pháp gia (Hàn Phi), … đến thời quân chủ gồm nhà Hán, thời tan rã đầu tiên của Đế quốc… cho đến thời kỳ cận đại Qua đó tác giả cho người đọc một cách nhìn tổng quát về tư tưởng Trung Quốc qua từng thời kỳ thông qua những phân tích và so sánh, cũng như có những lý giải khá sâu sắc
Về tư tưởng triết học Trang Tử, một số những công trình nghiên cứu
tiêu biểu có thể kể đến như là: “Tư tưởng Lão Trang” của tập thể các tác giả
Triệu Kỳ Bân, Hầu Ngoại Lư, Đỗ Quốc Tường đã được nhà xuất bản Sự
Thật xuất bản năm 1959; “Triết học nhân sinh của Trang Tử” của Dương
Phàn (Thư viện Quốc lập Trung ương thành phố Đài Bắc xuất bản, 1994);
“Cách nhìn về tư tưởng triết học của Trang Tử” của Trình Nghi Sơn (Tạp chí Nghiên cứu Triết học, Bắc Kinh, số 8/1980); “Một hệ thống duy tâm
khách sâu rộng, tinh tế và sắc bén - biện luận về tư tưởng triết học của học phái Trang Tử” của Tào Sở Cơ; “Vấn đề nhận thức trong triết lý nhân sinh của Trang Tử” của Cung Thị Ngọc (Tạp chí Triết học 1/1997) Và đặc biệt
là luận án tiến sĩ “Tư tưởng triết học của Trang Tử trong tác phẩm Nam Hoa
Kinh” của Cung Thị Ngọc năm 2002, đây có thể nói là một công trình
nghiên cứu khá đầy đủ về triết học Trang Tử và những ảnh hưởng của nó ở
Trang 11Việt Nam Ngoài việc phân tích bối cảnh ra đời tư tưởng triết học của Trang
Tử và giới thiệu cuộc đời, sự nghiệp của Trang Tử cũng như tác phẩm Nam
Hoa kinh, tác giả cũng phân tích một cách khá sâu sắc những nội dung cơ
bản trong vũ trụ luận, về nhận thức luận và nhân sinh quan của Trang Tử, từ
đó đưa ra những đánh giá về ưu điểm và hạn chế của từng quan niệm Đồng thời, tác giả cũng phân tích một cách khá sâu sắc những ảnh hưởng của tư tưởng Lão – Trang trong hiện tượng “tam giáo đồng nguyên” ở Việt Nam và những ảnh hưởng tiêu biểu của tư tưởng Trang Tử đến tư tưởng và lối sống, trên bình diện văn học và đưa ra một số ý nghĩa đối với cuộc sống hiện nay ở Việt Nam
Những nhà nghiên cứu như Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Hiến Lê, Cao Xuân Huy, Nguyễn Tôn Nhan, Nguyễn Bằng Tường, Lương Gia Tĩnh, Nguyễn Đăng Thục, Trần Đình Hượu, Trịnh Doãn Chính, Nguyễn Hùng Hậu, Nguyễn Tài Thư, Hà Thúc Minh, Phan Văn Các, Nguyễn Tài Đông, Nguyễn Đăng Duy, Lê Thị Lan, … đã quan tâm nghiên cứu tư tưởng của Trang Tử và ảnh hưởng của nó đến văn hoá Việt Nam ở những mức độ khác nhau
Tư tưởng triết học của Trang Tử đã được tiếp cận, nghiên cứu từ nhiều hướng khác nhau nhưng tập trung chủ yếu vào các nội dung sau:
- Thứ nhất là cơ sở lý luận và tiền đề kinh tế xã hội hình thành nên tư
tưởng của Trang Tử
- Thứ hai là vai trò của Trang Tử trong việc phát triển và hoàn thiện
hơn tư tưởng của Đạo giáo
- Thứ ba là tư tưởng của Trang Tử thông qua tác phẩm Nam Hoa Kinh
Như vậy, tư tưởng của Trang Tử đã được nhiều công trình nghiên cứu,
bài viết đề cập đến Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về “Nhân sinh quan trong Triết học Trang Tử Đặc điểm và ý nghĩa lịch sử” Do giá trị lý luận
Trang 12cũng như thực tiễn lớn lao nên tư tưởng của Trang Tử về nhân sinh quan vẫn còn mở ra nhiều vấn đề tiếp tục cần nghiên cứu
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích: Làm rõ nhân sinh quan trong Triết học của Trang Tử
Trên cơ sở này sẽ rút ra ý nghĩa và ảnh hưởng của chúng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam
* Nhiệm vụ:
Thứ nhất là trình bày khái quát những điều kiện lịch sử, tiền đề lý luận
hình thành nên nhân sinh quan của Trang Tử
Thứ hai là phân tích quan điểm, tư tưởng của Trang Tử về nhân sinh
và trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa, giá trị, hạn chế trong nhân sinh quan của Trang Tử
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận: Luận văn được nghiên cứu dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về con người, tự nhiên và xã hội
* Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được thực hiện nghiên cứu chủ yếu bằng phương pháp thống nhất logic lịch sử, phân tích tổng hợp, so sánh
và hệ thống hoá, văn bản học
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn làm sáng tỏ cơ sở hình thành, nội dung chủ yếu và thực chất nhân sinh quan của Trang Tử theo phương pháp luận Mácxít Bước đầu trình bày có hệ thống các quan điểm của Trang Tử về nhân sinh Bên cạnh đó, luận văn cũng sẽ nêu lên một số luận cứ khoa học về sự ảnh hưởng của tư tưởng Đạo giáo trong lịch sử tư tưởng dân tộc, góp phần làm sâu sắc hơn những giá trị văn hoá và tư tưởng truyền thống, đồng thời cũng gợi ra nhiều
Trang 13vấn đề cần quan tâm khi xây dựng hệ thống quan điểm về việc hoàn thiện đạo đức, nhân cách, lối sống và về việc xây dựng con người mới hiện nay
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Luận văn sẽ góp phần làm sâu sắc hơn nhận thức về nhân sinh quan
của Trang Tử cho những người quan tâm nghiên cứu đến học thuyết của Đạo gia
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học phương Đông ở các trường cao đẳng và đại học ở Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm phần mở đầu, 2 chương nội dung, phần kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo
Trang 14
Chương 1
CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA NHÂN SINH QUAN
TRONG TRIẾT HỌC TRANG TỬ
Trang Tử là nhà tư tưởng lớn trong trường phái Đạo gia Ông là người
phát triển, góp phần làm hoàn thiện hơn học thuyết Đạo của Lão Tử, vì thế
người đời sau thường gọi chung là tư tưởng Lão – Trang
Trang Tử tên thật là Trang Chu Ông sinh vào khoảng năm 369 Tr.CN
và mất khoảng năm 286 Tr.CN, vào giữa thời Chiến Quốc Ông là người gốc
xứ Mông 蒙, nước Tống 宋 Trang Tử từng làm quan “Tất Viên” (coi vườn sơn) ở xứ Mông, sau đó ẩn dật đến cuối đời Trang Tử sống thanh bạch, giản
dị, ghét thói hám lợi cầu danh Cuộc sống của ông và gia đình nghèo khổ, túng quẫn nhưng rất có nhân cách và bản lĩnh Trang Tử luôn là người có phong cách sống ung dung, khoáng đạt và thản nhiên đến lạnh lùng trước mọi sự kiện diễn ra ở đời Thời Chiến Quốc là một giai đoạn lịch sử có nhiều biến động mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, cuộc nội chiến tàn khốc để tranh quyền đoạt vị tàn khốc giữa các chư hầu Những chuyển biến lớn lao của xã hội Trung Quốc trong buổi giao thời này, cùng với thảm cảnh của dân lành trong xã hội loạn lạc, trong bối cảnh lịch sử - xã hội, văn hoá phức tạp của thời đại ấy tư tưởng của Trang Tử đã được phôi thai và hình thành
Tư tưởng của Trang Tử thể hiện rõ nét trong tác phẩm Nam Hoa Kinh
Trong tác phẩm này, với bút pháp độc đáo, lời lẽ cô đọng súc tích, “hồn nhiên như mây bay trong núi, trong trẻo, nhẹ nhàng”, ông đã phác hoạ bức tranh mộc mạc về thế giới và con người trong trạng thái luôn vận động, biến đổi, biến hoá như con rồng uốn lượn, cuốn mình tan lẫn trong mây Trang
Tử luôn coi học thuyết của mình không phải là sự triết lý thăng trầm về
Trang 15Đạomà là sự thực hành bằng chính bản thân cuộc sống theo Đạo Ông không
chú trọng vào việc phân định rõ rệt về mặt nội dung mà chỉ chủ yếu gợi mở
về mặt phương pháp theo tôn chỉ: “Có lời là vì ý, được ý hãy quên lời”
1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ, KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA CƠ SỞ XÃ HỘI CỦA NHÂN SINH QUAN TRONG TRIẾT HỌC TRANG TỬ
1.1.1 Điều kiện lịch sử - xã hội của Trung Quốc thời Xuân Thu – Chiến Quốc
Sự phát triển rực rỡ của Triết học Trung Quốc cổ đại cũng là lúc xã
hội Trung Quốc bước vào thời Xuân thu – Chiến quốc, thời kỳ tan rã của chế
độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến sơ kỳ đang lên
Chế độ chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc đã tồn tại và phát triển từ triều đại nhà Hạ, qua nhà Thương, đến cuối thời Tây Chu thì bắt đầu bước vào giai đoạn khủng hoảng và ngày càng đi tới suy tàn Xã hội Trung Quốc trải qua một thời kỳ giao thời, từ chế độ tông tộc chuyển sang chế độ gia trưởng, giá trị tư tưởng, đạo đức mới còn manh nha và đang trên con đường xác lập
Sự biến đổi toàn diện về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá thời kỳ này đã tạo tiền đề cho sự giải phóng tư tưởng con người thoát khỏi sự chi phối của thế giới quan thần thoại tôn giáo, thần bí truyền thống, ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình phát triển của tư tưởng triết học
Thời Tây Chu, khi nhà Chu còn thịnh, chế độ tông pháp và trật tự lễ nghĩa nhà Chu còn được duy trì Từ thời Chu Lệ Vương đến Chu U Vương, mâu thuẫn nội bộ nhà Chu ngày càng trở nên gay gắt Hơn nữa, do phải thường xuyên tiến hành các cuộc chiến tranh đàn áp sự nổi dậy của các chư hầu và chống lại sự xâm lăng của các bộ tộc khác, nhất là giặc Hiểm Doãn, Tây Nhung, cùng với nạn hạn hán liên tiếp xảy ra, nạn đói lan tràn, làm cho
Trang 16nhà Chu ngày càng lao nhanh tới bước suy vong Vị trí quyền lợi của các tầng lớp, giai cấp trong xã hội bị đảo lộn
Năm 781 Tr CN, nhân vua Chu là U Vương phế hoàng hậu họ Thân
và thái tử Nghi Câu, phong Bao Tự làm hoàng hậu, cha Thân hậu là Thân hầu liên kết với giặc Tây Nhung, tấn công Hạo Kinh, thiêu huỷ kinh đô nhà Chu, giết chết U Vương dưới chân Ly Sơn, lập thái tử Nghi Câu lên làm vua, lấy hiệu là Chu Bình Vương (năm 771 Tr CN) Sau đó một năm, vì đất Thiểm Tây luôn bị giặc Hiểm Doãn, Tây Nhung đe doạ, nên Chu Bình Vương phải dời đô về phía Đông, đến Lạc Ấp (Lạc Dương, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc hiện nay), nhường căn cứ Quan Trung lại cho Tần Tương Công
Xã hội Trung Quốc bước vào thời kỳ đặc biệt, đó là thời Xuân thu
Thời Xuân thu, nền kinh tế Trung Quốc đang chuyển từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt Việc dùng bò kéo cày đã trở thành phổ biến Trong sách
Quốc Ngữ, Chu Ngữ có viết: “Đồng thau để đúc kiêm kích, sắt để đúc quả
cân…” Phát minh mới về kỹ thuật khai thác và sử dụng đồ sắt đã đem lại những tiến bộ mới trong việc cải tiến công cụ và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp Thời kỳ này hệ thống thuỷ lợi đã trải khắp khu vực Trường Giang Diện tích đất đai canh tác nhờ đó được mở rộng Kỹ thuật trồng trọt cũng được cải tiến, tạo điều kiện tang năng suất trong lao động nông nghiệp Từ đó người ta thấy không cần thiết phải chia lại ruộng đất công theo định kỳ căn cứ vào đất tốt hay xấu như trước nữa Giờ đây công xã giao hẳn đất công cho từng gia đình nông
nô cày cấy trong thời hạn lâu dài Vì vậy, nông dân có thể dùng phương pháp lưu canh hay luân canh để tăng năng suất cây trồng Mặt khác, nhờ công cụ sản xuất bằng sắt phát triển và thuỷ lợi mở mang, ruộng đất do nông nô vỡ hoang biến thành ruộng tư ngày một nhiều Quý tộc có quyền thế cũng chiếm dần ruộng của công xã làm ruộng tư Chế độ “tỉnh điền” dần tan rã Sau đó, chế độ
tư hữu ruộng đất còn được pháp luật nhà nước thừa nhận và bảo vệ
Trang 17Trước kia, theo chế độ “tỉnh điền”, ruộng đất của công xã chia đều cho nông nô, nông nô phải nộp một phần sản lượng nông phẩm thu hoạch được cho công xã để nộp lên triều đình Khi chế độ tư hữu ruộng đất phát triển, số lượng ruộng đất của nông dân sở hữu không bằng nhau, nhà nước
đã bỏ hình thức thu thuế cũ mà thi hành chế độ thu thuế đánh vào từng mẫu ruộng (gọi là thuế sơ mẫu) Nước đầu tiên thi hành chế độ thuế mới là nước
Lỗ (năm 594 Tr CN) Cùng với chế độ thuế mới, các nước cũng thi hành chế độ quân sự mới Ở nước Lỗ, chế độ quân sự này gọi là “khâu giáp”, nước Trịnh gọi là “khâu phú”
Do việc sử dụng công cụ bằng sắt trở thành phổ biến cùng với việc
mở rộng quan quan hệ trao đổi sản phẩm lao động, sự phân công trong sản xuất thủ công nghiệp cũng đã đạt tới mức chuyên nghiệp cao hơn, thúc đẩy một loạt các ngành nghề thủ công nghịêp phát triển, như nghề luyện sắt, nghề rèn, nghề đúc, nghề mộc, nghề làm đồ gốm Cuối Xuân thu, nước Ngô dựng lò luyện sắt lớn đến 300 người thụt bễ, đổ than Nước Tấn trưng thu sắt
để đúc đỉnh hình Trong sách Chu Lễ đã viết về sự phát triển của các ngành
thợ chuyên môn rằng: “thợ mộc chiếm đến bảy phần, thợ kim khí chiếm sáu phần, thợ thuộc da chiếm năm phần, thợ nhuộm chiếm năm phần, thợ nề chiếm hai phần…” Thợ thuyền tuy nhiều nhưng vì trình độ còn thấp nên họ chưa có ảnh hưởng lớn trong xã hội
Trên cơ sở phát triển sản xuất thủ công nghiệp, thương nghiệp cũng chưa phát triển hơn trước Tiền tệ đã xuất hiện Trong xã hội đã hình thành một tầng lớp thương nhân giàu có và ngày càng có thế lực như Huyền Cao (nước Trịnh), Tử Cống (vốn là học trò của Khổng Tử)… Thương nhân đã
có nhiều người kết giao với chư hầu và công khanh đại phu, gây nhiều ảnh hưởng đối với chính trị đương thời Tuy nhiên, do tình trạng xã hội đang rối ren, phương tiện giao thông thô sơ, lãnh thổ chia năm xẻ bảy do nạn
Trang 18chư hầu cát cứ, đi lại rất khó khăn, nên việc kinh doanh đòi hỏi phải do những người có đầu óc tháo vát và lòng quả cảm đảm đương Hơn thế nghề buôn bán ở Trung Quốc thời bấy giờ bị coi là nghề rẻ mạt nhất, theo quan điểm “nông bản, thương mạt”, nên nó cũng chưa thực sự phát triển Nhưng
sự hình thành của thương nghiệp, buôn bán đã tạo ra trong cơ cấu giai cấp
xã hội một tầng lớp mới Từ tầng lớp này dần dần xuất hiện một loạt quý tộc mới với thế lực ngày càng mạnh, tìm cách leo lên tranh giành quyền lực với tầng lớp quý tộc cũ
Về chính trị xã hội, nếu như thời Tây Chu chế độ tông pháp, “phong hầu kiến địa” vừa có ý nghĩa ràng buộc về kinh tế, vừa có ý nghĩa về chính trị, ràng buộc về huyết thống, có tác dụng tích cực làm cho nhà Chu giữ được một thời gian dài hưng thịnh, thì đến thời Xuân Thu, chế độ tông pháp nhà Chu không còn được tôn trọng, đầu mối các quan hệ về kinh tế, chính trị, quân sự giữa Thiên tử và các nước chư hầu ngày càng lỏng lẻo, huyết thống ngày càng xa, trật tự lễ nghĩa nhà Chu không còn được tôn trọng như trước Thiên tử nhà Chu hầu như không còn quyền uy gì với các nước chư hầu Thiên tử không còn xét xử được những cuộc tranh chấp giữa các nước chư hầu các lãnh chúa nhỏ và vừa xưa nay vẫn dựa vào quyền uy của Thiên
tử giờ đây trở nên thất vọng Nhiều nước chư hầu mượn tiếng khôi phục lại địa vị tông chủ của nhà Chu để ra khẩu hiệu “tôn vương bài di”, đua nhau động binh để mở rộng thế lực và đất đai, thôn tính các nước nhỏ, tranh giành địa vị bá chủ thiên hạ Thời Xuân thu có khoảng 242 năm mà đã xảy ra 483 cuộc chiến tranh lớn nhỏ Đầu thời Tây Chu có hàng ngàn nước, đến cuối thời Xuân thu chỉ còn hơn một trăm nước Trong đó có những nước hùng mạnh nhất thời bấy giờ thay nhau làm bá thiên hạ là Tề, Tấn, Sở, Tống, Ngô, Việt, Tần Những quốc gia này hùng mạnh và làm minh chủ các nước khác
là do các vua trị vì dùng cách cái trị theo chính sách “bá đạo” dựa trên sức
Trang 19mạnh bạo lực hoàn toàn đối lập với cách cai trị của “vương đạo” lấy nhân
nghĩa, “lấy đức thu phục người và chủ giáo hoá người” (Mạnh Tử, Tận tâm
thượng, 14) Mới đầu, cục diện “ngũ bá” gồm có Hoàn Công nước Tề, Văn
Công nước Tấn, Mục Công nước Tần, Trang Vương nước Sở Cuối Xuân thu có thêm Ngô Vương Phù Sai và Việt Vương Câu Tiễn
Thời Xuân thu các lãnh chúa càng tăng cường bóc lột nhân dân lao động Người dân ngoài việc phải đi chiến trận thực hiện các cuộc chinh phạt của các tập đoàn quý tộc, còn phải chịu sưu thuế, phu phen, lao dịch nặng
nề Thiên tai thường xuyên xảy ra, nạn cướp bóc nổi lên khắp nơi làm cho đời sống nhân dân càng thêm khốn khổ Dân lưu vong “đồng trong, ruộng ngoài bỏ hoang”
Việc các nước gây chiến tranh thôn tính lẫn nhau cũng như các lãnh chúa bóc lột tàn khốc dân chúng không chỉ dẫn tới sự diệt vong của hàng loạt nước chư hầu nhỏ mà còn phá hoại lễ nghĩa nhà Chu, phá hoại trật tự triều hội, triều cống, chinh phạt giữa các nước chư hầu làm cho mâu thuẫn trong giai cấp thống trị ngày càng trở nên gay gắt và sự rối loạn trong xã hội ngày càng tang Đặc biệt những nghi lễ chặt chẽ, tôn nghiêm trước đây đã từng góp phần bảo vệ và làm hưng thịnh chế độ tông pháp nhà Chu, đến lúc này cũng bị xem thường Tình trạng lễ nghĩa, cương thường đảo lộn, đạo đức suy đồi ở thời kỳ Xuân thu biểu hiện ra qua các tệ nạn xã hội như “tiếm ngôi việt vị”, chế độ triều cống cũng bị các chư hầu tự ý phá bỏ Thậm chí các nước lớn còn mượn danh Thiên tử bắt các nước nhỏ cống nạp và lệ thuộc vào mình Theo Tử Sản, mỗi lần nước Trịnh cống nạp cho nước Tấn
“phải dùng đến một trăm xe chở lụa và da thú, mà một trăm xe thì phải cả ngàn người” Trong xã hội, cảnh tôi giết vua, con hại cha, anh em, vợ chồng chia lìa thường xuyên xảy ra Tình trạng đó, theo Khổng Từ không phải xảy
ra một sớm một chiều mà nó đã âm ỉ, mục ruỗng từ lâu Vì thế khi Tề Cảnh
Trang 20Công và Khổng Tử bàn về chính sự, Tề Cảnh Công đã phải cay đắng thừa nhận: “Nghĩa như vua chẳng ra vua, tôi chẳng ra tôi, cha chẳng ra cha, con chẳng ra con, ở trong tình cảnh hỗn loạn như thế, dẫu ta có lúa đầy kho, có chắc ngồi yên mà ăn được chăng? – Tín như quân bất quân, thần bất thần, phụ bất phụ, tử bất tử, tuy hữu túc, ngô đắc nhi thực chư?"2 Chế độ lễ nghi nhà Chu trở thành các hình thức sáo rỗng Việc “tang viếng, tế lễ, chúc mừng” trở thành thủ đoạn ngoại giao chứ không còn là lễ nghĩa của quan hệ gia tộc và trật tự xã hội nữa
Trong khi người dân phải chịu cảnh cùng cực thì các vương hầu, lãnh chúa quý tộc sống rất xa hoa Họ xây cất những cung điện nguy nga, như cung Bồng Đế của vua Tấn rộng đến mấy dặm, trong cung chen chúc cung
nữ(Tả truyện, Chiêu Công năm thứ ba) Do đói rét, cực khổ, nạn trộm cướp
nổi lên Bọn thống trị lại tăng cường “hình pháp” làm cho đời sống nhân dân càng them nghẹt thở Đó đây đã nổi lên những cuộc khởi nghĩa của nông dân
và nô lệ Tất cả tình hình ấy đã đẩy mâu thuẫn xã hội thời Xuân Thu lên đến đỉnh cao, đưa chế độ chiếm hữu nô lệ Trung Quốc lao nhanh đến giờ phút cáo chung
Trong thời Xuân thu, ngoài các cuộc chiến tranh thường xuyên giữa các nước, trong từng nước cũng luôn xảy ra những cuộc tranh giành đất đai, địa vị, quyền thế giữa bọn quý tộc với nhau Ở nước Tấn, năm 403 Tr.CN có
ba dòng họ lớn là Hàn, Triệu, Nguỵ Khi đó Trung Quốc đã bước vào thời kỳ Chiến quốc3 Bây giờ chỉ còn bảy nước lớn là Tề 齊, Sở 楚, Yên 燕, Tần 秦, Hàn 韓, Triệu 趙, Nguỵ 魏, tạo thành cục diện “thất hùng”, thường gây chiến tranh với quy mô lớn và tàn khốc hơn thời Xuân thu để giành ngôi bá
Trang 21chủ thiên hạ Trong đó nước Tần ở phía tây Hàm Cốc quan, sáu nước kia ở đông ải quan đó, nên thường gọi là Sơn Đông lục quốc
Thời Chiến quốc đã có bước phát triển mạnh mẽ về kinh tế Nghề luyện sắt đã đạt tới trình độ khá cao Đồ dung bằng sắt, đặt biệt là các công
cụ sản xuất như lưỡi cày, liềm, cuốc, rìu, dao được sử dụng phổ biến Các nước đều hình thành những trung tâm luyện sắt lớn như Hàm Đan nước Triệu, Đường Khê nước Hàn, Lâm Truy nước Tề… Vì vậy mà kỹ thuật thuỷ lợi và canh tác, khai khẩn đất đai càng phát triển Các công trình thuỷ lợi được xây dựng khắp nơi từ lưu vực sông Hoàng Hà tới lưu vực sông Trường Giang, từ Biển Đông đến vùng Tứ Xuyên Kéo theo đó là sự phát triển của nghề thủ công, như nghê làm đồ gốm, nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa, nghề chạm trổ vàng bạc… Tiền tệ bằng kim loại ra đời Thương nghiệp và các trung tâm buôn bán trao đổi hàng hoá hưng thịnh Đô thành các nước và một
số thành ấp lập trên những trục lộ giao thông trọng yếu đã biến thành những thành đô sầm uất như Hàm Dương nước Tần, Thọ Xuân nước Sở, Lâm Truy nước Tề, Khai Phong nước Nguỵ Tuy nhiên, chiến tranh tàn khốc trên quy
mô lớn và lien tục giữa các nước chư hầu đẫ làm cho đời sống nhân dân lao động ngày càng cùng cực hơn Mạnh Từ đã viết: “Đánh nhau giành đất, giết người thây phơi đầy đồng Đánh nhau giành thành, giết người thấy chất đầy thành – Tranh địa dĩ chiến, sát nhân doanh dã Tranh thành dĩ chiến, sát nhân doanh thành."4 Sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá và chiến tranh loạn lạc xảy ra liên miên đã làm cho công xã nông thôn tan rã Chế độ chiếm hữu tư nhân về ruộng đất dần trở thành quan hệ sở hữu thống trị Thay thế cho chế độ thu thuế dựa vào sản lượng thu hoạch trước kia, thì nay thu thuế tính theo số lượng ruộng đất Việc mua bán ruộng đất tự do và sự phổ biến của chế độ tư hữu đã mở đường cho sự tập trung ruộng đất vào tay một số ít
Trang 22
lãnh chúa, địa chủ giàu có Đa số nông dân nghèo mất hết ruộng đất phải đi cày thuê, cày mướn trở thành tá điền, cố nông Chế độ bóc lột bằng phát canh thu tô xuất hiện Trong lòng xã hội đã xuất hiện những yếu tố của quan
hệ sản xuất mới, đó là chế độ phong kiến quận huyện Mâu thuẫn giai cấp ngày càng gay gắt hơn, đã đẩu xã hội tới nguy cơ nghiêm trọng Điều đó chính giai cấp thống trị đã nhận thấy, nên chúng đã tiến hành một số biện pháp cải cách nhằm ngăn chặn nguy cơ đảo lộn xã hội Đó là phong trào
“biến pháp” ở một loạt nước như nước Nguỵ, nước Triệu, nước Hàn, nước
Tề, nước Tần suốt thời Chiến quốc
Năm 362 Tr CN, trong tất cả những quốc gia lớn thời đó, có vương quốc Tần là mạnh nhất Tần Hiếu Công lên ngôi đã tích cực phát triển nông nghiệp, củng cố và chuẩn bị binh bị Nhờ những cuộc cải cách của Thương Ưởng, vào những năm từ 359 đến 349 Tr CN về kinh tế, tổ chức hành chính, pháp luật, tiền tệ, thuế má, chế độ khen thưởng, quan hệ gia trưởng và công xã nông thôn ở nước Tần hoàn toàn tan rã Chính từ những cải cách trên và sử dụng pháp trị, nước Tần đã trở thành nước hùng mạnh nhất trong
“thất hùng” Cục diện thời Chiến quốc đã làm nảy sinh những thủ đoạn ngoại giao và quân sự dùng để đối phó lẫn nhau giữa các nước, gọi là thuật
"hợp tung"合縱 và “liên hoành” 連橫 Trong đó, Tô Tần 蘇秦 (thế kỷ IV Tr
CN, người Lạc Dương) đã đề xuất thuật “hợp tung”, “hợp chúng nhược dĩ công nhất cường - 合众弱以攻一強", tức hợp nhiều nước yếu đánh nước mạnh, và Trương Nghi 張儀 (thế kỷ IV Trc CN, người nước Nguỵ) đề xuất thuật “liên hoành”, “sự nhất cường dĩ công chúng nhược - 亊一強以攻众弱
", tức tôn một nước mạnh để đánh những nước yếu, giúp nước Tần lần lượt đánh bại sáu nước ở phía đông là Hàn, Triệu, Nguỵ, Sở, Tề, Yên, chấm dứt các cuộc chiến tranh liên miên tàn khốc, thống nhất Trung Quốc thành một quốc gia phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên vào năm 221 Tr CN Đó
Trang 23là đế chế Tần Biến cố này là dấu ấn ghi lại sự thay đổi lớn nhất trong lịch sử chính trị Trung Quốc Nó gắn liền với một tư tưởng triết học có ảnh hưởng lớn thời bấy giờ là Pháp gia mà người đại biểu xuất xắc là Hàn Phi Tử, đã giúp nước Tần thành công trong sự nghiệp thống nhất Trung Quốc
Với chính sách hà khắc, để đạt mục đích thống nhất về tư tưởng và chính trị trong xã hội nhà Tần đã chủ trương "chôn nho, đốt sách", cấm tất cả các học thuyết đương thời, chỉ cho giữ lại và truyền bá các sách về y học, chiêm tinh, nông học, cùng với việc gây chiến tranh chinh phạt, huy động bằng bạo lực hàng chục vạn nông dân xây Vạn Lý Trường Thành, đã phá hoại cơ sở kinh tế và vùng chính trị của nước Tần, nhà Tần đứng đầu là Tần Thuỷ Hoàng đã từ làm mình sụp đổ nhanh chóng, Cuộc khởi nghĩa nông dân hùng mạnh do Lưu Bang lãnh đạo đã lật đổ nhà Tần, xây dựng lên chính thể của một triều đại mới, đó là nhà Hán, năm 206 Tr CN
1.1.2 Thành tựu về văn hóa và tư tưởng của Trung Quốc thời Xuân thu - Chiến quốc
Cùng với thực tiễn lịch sử xã hội, những tri thức về khoa học, văn hoá khá phong phú của nhân dân Trung Quốc thời Xuân thu - Chiến quốc như thiên văn, địa lý, cơ học, y học, sinh vật học, văn học đã góp phần không chỉ thúc đẩy quá trình sản xuất xã hội phát triển mà còn là những tiền đề làm nảy sinh những tư tưởng triết học ở Trung Quốc cổ đại
Về thiên văn học, vào thế kỷ thứ IV Tr CN, nhà thiên văn Trung Hoa là
Thạch Nhân đã sáng tạo ra bảng tổng mục về các vì sao bao gồm 800 tinh tú Những biên niên sử ở thế kỷ II Tr CN đã có nói tới cuộc du lịch trên bộ, trong
đó người Trung Quốc cổ đã biết sáng chế và sử dụng la bàn Cuốn Cam thạch
tinh kinh là cuốn ghi chép các hành tinh cổ nhất trên thê giới mà người Trung
Hoa đã tạo ra, Dựa theo vị trí của 28 ngôi sao trên xích đạo thiên cầu lúc bấy giờ, người ta phân chia toàn bộ bầu trời thành 28 "túc" Theo vị trí mặt trời
Trang 24đối chiếu với các túc, người ta phân biệt được các tiết của một năm như lập xuân, xuân phân; lập thu, thu phân; lập hạ, hạ chí; lập đông, đông chí
Trên lĩnh vực y học, vào thời Chiến quốc, những tri thức y học Trung
Quốc cổ đại đã kinh qua kinh nghiệm thực tiễn phong phú và lâu dài được
tổng kết lại trong các cuốn sách y học hết sức quý báu như Hoàng Đế nội
kinh, Thần Nông bản thảo kinh Các nhà y học Trung Quốc thời kỳ này đã
biết giải phẫu cơ thể người, biết các cơ quan nội tạng và hệ thống tuần hoàn khá rõ Họ còn đi sâu nghiên cứu các nguyên nhân của bệnh tật, các phương pháp chẩn đoán bệnh như nghe, nhìn, hỏi, bấm huyệt, sắc thuốc uống bằng các lá cây Họ cũng nói tới các phương pháp giữ gìn sức khoẻ như việc giữ
vệ sinh, thuật dưỡng sinh
Về toán học, người Trung Quốc cổ đại cũng đã đạt được một trình độ
khá cao Ngay vào thời Chiến quốc, các các nhà bác học Trung Hoa đã biết rằng trong một tam giác vuông, bình phương của cạnh huyền bằng tổng bình phương của hai cạnh góc vuông học cũng đã biết tính toán diện tích các hình, biết các phép đo lường, v.v
Về nông học và sinh vật học, những điều ghi chép trong Kinh Thi, một
trong tuyển tập thi ca gồm 305 bài, được sáng tác trong khoảng thời gian 500 năm, từ thời Tây Chu đến giữa thời Xuân thu, là một trong những cuốn sách
cổ nhất của Trung Quốc đã nói tới hơn 200 loài thảo mộc, chứng tỏ sự phong phú về tri thức sinh vật học của người Trung Quốc cổ xưa Trên cơ sở những kinh nghiệm lao động sản xuất nông nghiệp của nhiều thế hệ, người Trung Hoa cổ đã xây dựng được cả một hệ thống các phương pháp canh tác chuyên canh, chu kỳ thường là ba năm, phương pháp bón phân cho đất, phương pháp trồng trọt theo thời vụ và kỹ thuật "dẫn thuỷ nhập điền"
Về văn học, thời Tần đã để lại nhiều tác phẩm văn học nổi tiếng trong
đó phải kể đến các tác phẩm như Kinh Thi 詩經, Sở Từ 楚詞 Kinh Thi gồm
Trang 25có ba bộ phận: Phong, Nhã, Tụng Đây là công trình sáng tác tập thể, do nhiều thi nhân thuộc nhiều thế hệ khác nhau viết nên, trong đó căn bản là những sáng tác từ nhân dân lao động Nó phản ánh tình hình chính trị, kinh
tế, phong tục, tập quán, đời sống tình cảm và nguyện vọng của nhân dân lao động Nó phản ánh tình hình chính trị, kinh tế, phong tục, tập quán, đời sống tình cảm và nguyện vọng của nhân dân Trung Quốc trong thời gian từ thời
Tây Chu đến cuối thời Xuân thu Tiếp theo Kinh Thi là bộ Sở từ của nhà thơ yêu nước vĩ đại Khuất Nguyên (??? - 280 Tr CN).Sở từ là tập dân ca nước
Sở tiếp thu nhiều ảnh hưởng tốt của Kinh Thi, phản ánh đặc điểm của thời Chiến quốc và của địa phương - nước Sở Sở từ gồm có Cửu ca, Chiêu hồn,
Thiên uẩn, Cửu chương và Ly tao
Về sử học, thời cổ đại người Trung Quốc đã sáng tạo ra nhiều bộ sử có giá trị Xuân thu 春秋 là bộ biên niên sử vào hạng xưa nhất thế giới, phản
ánh sinh động tình hình xã hội loạn lạc từ Xuân thu qua thời Chiến quốc
Nhưng Xuân thu không chỉ có giá trị về mặt sử học mà còn có giá trị về cả
mặt triết học, nhất là quan điểm "chính danh, định phận" của Khổng Tử Sau
Xuân Thu là Tả truyện 左傳, cũng là sách ghi chép những sự kiện thời Xuân
thu, Quốc ngữ 國語 cũng là sách ghi chép những sự kiện thời Xuân thi, nhưng Quốc ngữ khác Tả truyện ở chỗ nó chép sử theo địa phương, theo khu vực và theo từng nước Tương truyền, sách Tả truyện và Quốc ngữ là do Tả Khâu Minh làm ra Trông bài Thái Công Sử tự đề tựa, Tư Mã Thiên đã viết:
"Tả Khâu bị mù, bèn làm Quốc ngữ"5 Nhưng thực ra Quốc ngữ là công
trình biên soạn của nhiều mà thành
Hình thành trên cơ sở hoạt động thực tiến lâu dài của nhân dân lao động, những tri thức khoa học mà nhân dân Trung Hoa đạt được đã góp phần thúc đẩy, phát triển đời sống vật chất và đời sống tinh thần của xã hội
Trang 26
Trung Quốc cổ đại Hơn thế nữa, nó còn góp phần phát triển trình độ nhận thúc, làm cơ sở cho thế giới quan triết học nảy nở và phát triển
Chính trong thời đại lịch sử biến đổi toàn diện và sâu sắc đó đã đặt ra những vấn đề triết học, chính trị xã hội, luân lý đạo đức, kinh tế, pháp luật, quân sự, ngoại giao kích thích lòng người, khiến các bậc tài sĩ đương thời quan tâm lý giải, để tìm ra các phương pháp giả quyết "cứu đời, cứu người", làm nảy sinh ra một loạt các nhà tư tưởng nổi tiếng và các trường phái triết học lớn Các nhà tư tưởng, các môn phái triết học là đại diện cho lợi ích của các tầng lớp, giai cấp xã hội khác nhau, vừa kế thừa tư tưởng của nhau, vừa đấu tranh với nhau hết sức quyết liệt, tạo nên không khí sôi động trong đời sống tinh thần xã hội Trung Quốc cổ đại Nó thực sự trở thành đỉnh điểm của toàn bộ đời sống văn hoá tinh thần của xã hội Trung Hoa cổ đại, như một cái mốc son chói lọi trong lịch sử tư tưởng phương Đông Sự phong phú, đa dạng của các hệ thống triết học thời Xuân thu - Chiến quốc, khiến người ta phải gọi
là thời kỳ "Bách gia chư tử" 諸子百家, trong đó "chư tử" chỉ các nhân vật đại biểu cho các học phái triết học, như Khổng Khâu 孔丘, Lão Đam 老聃, Mặc Địch 墨翟, Thương Ưởng 商鞅, Trang Chu 莊周, Huệ Thi 惠施, Công Tôn Long 公孙龙, Mạnh Kha 孟軻, Tuân Huống 荀況, Thân Bất Hại 申不害,Thận Đáo 慎到, Hàn Phi 韓非 ; còn "bách gia" chỉ các trường phái triết học trong cục diện Xuân thu - Chiến quốc, như Nho gia 儒家, Đạo gia 道家, Mặc gia 墨家, Danh gia 名家, Âm dương gia 陰陽家, Pháp gia 法家, Binh gia 兵
家, Nông gia 農家, Tung hoành gia 縱橫家, Tạp gia 杂家 ("Bách gia" thiên
Thiên hạ, sách Nam Hoa kinh, "chư tử" thiên Giả Nghị liệt truyện, sách Sử ký), như "trăm hoa đua nở, muôn chim cùng hót" Như thế, có thể nói, tư
tưởng triết học Trung Quốc bắt nguồn từ thần thoại tôn giáo thời cổ Nhưng các môn phái triết học có tính hệ thống thì chỉ được hình thành vào thời Xuân
Trang 27thu - Chiến quốc, một thời đại tư tưởng được giải phóng khỏi ảnh hưởng của thần thoại tôn giáo truyền thống, tri thức được phổ cập
Tư Mã Thiên 司馬遷 (146 - 86 Tr CN), trong cuốn Sử ký của ông đã
thuật lại lời của cha ông là Tư Mã Đàm (mất năm 110 Tr CN), với Luận lục
gia yếu chỉ 論六家要指 chia "Bách gia chư tử" thời tiên Tần làm sáu phái
chính là Âm dương gia, Nho gia, Mặc gia, Pháp gia, Danh gia và Đạo đức gia
Ban Cố (32 - 92) tác giả của Hán thư, Nghệ văn chí 漢書, 藝文志 theo sách
Thất lược 七略 của Lưu Hâm 劉歆 (46 Tr CN) và Lưu Hưởng 劉向 (79 - 8
Tr CN), cho chư tử trước đời Tần gồm 189 người, có thể xếp thành 10 nhà là: Nho gia 儒家, Đạo gia 道家, Mặc gia 墨家, Danh gia 名家, Âm dương gia 陰
陽家, Pháp gia 法家, Binh gia 兵家, Nông gia 農家, Tung hoành gia 縱橫家, Tạp gia 杂家, Tiểu thuyết gia 小説家 Trong số đó, chỉ có chín nhà là đáng kể (trừ Tiểu thuyết gia) Vì thế chư tử còn có tên là "Cửu lưu"九留
Về nguồn gốc lịch sử của các học phái, Lưu Hâm cho rằng chư tử đều xuất phát từ vương quan "Những người trong Nho gia vốn do ở quan tư đồ Họ chơi văn trong cõi "lục nghệ", lưu ý về điều nhân nghĩa Họ tổ thuật Nghiêu, Thuấn, hiển chương Văn, Vũ, tôn sư Trọng Ni, để làm cho lời họ được trọng, đạo họ là là đạo tối cao Những người trong Đạo gia vốn do ở
sử quan Họ ghi cái đạo thành bại, tồn vong, hoạ phúc, xưa nay, sau đó mới biết giữ điều cốt yếu, nắm cái căn bản Những người trong Âm dương gia vốn do ở các quan hy hoà Họ kính cẩn thuận theo trời cao, trải xem biểu tượng của nhật nguyệt tinh thần, đem lại mùa màng cho dân Những người trong phái Pháp gia vốn do ở lý quan Họ giữ nghiêm thưởng phạp để giúp cho lễ chế Những người trong Danh gia vốn ở lễ quan Người xưa hễ danh
vị bất đồng, lễ cũng sai lạc Người trong Mặc gia vốn do ở quan giữ thanh miếu Những người trong Tung hoành gia vốn do ở quan đi sứ, hành nhân
Trang 28Những người trông Tạp gia vốn do ở nghị quan Họ kiêm Nho gia, Mặc gia, hợp Danh gia, Pháp gia Những người trong Nông gia vốn do ở quan nông tắc Họ dạy phép gieo ngũ cốc, khuyên dân cày ruộng trồng dâu để có đủ thức ăn, thức mặc Những người trong Tiểu thuyết gia vốn do ở các ty quan Phái này được tạo nên bởi những kẻ lượm lặt lời lẽ trong làng xóm,
nơi đầu đường xó chợ "(Nghệ văn chí, Tiền Hán thư) Vào thời cận đại Hồ
Thích đã bác lại thuyết này, cho rằng đây chỉ là những giả thuyết của Nho
gia đời Hán, không hợp với sự thực Trước Lưu Hâm, các sách như Nam
Hoa Kinh 南華經 (thiên Thiên hạ), Tuân Tử 荀子 (thiên Phi thập nhị tử), Luận lục gia yếu chỉ 論六家要指 của Tư Mã Đàm có bàn về các học phái
triết học Trung Quốc Họ cho rằng, trong thời kỳ đầu nhà Chu, trước sự tan
rã của những chế độ đương thời không thấy có sự phân biệt giữa quan và thầy học Các quan lại trong triều đình cũng là những người thầy truyền thụ kiến thức chuyên môn thuộc phạm vi của học, Do vậy, lúc bấy giờ chỉ có
"công học" chứ không có "tư giáo" Từ khi vương thất và chế độ nhà Chu suy vong thất thế, quan lại trong các ngành của nhà nước đều bị mất hẳn địa
vị quyền thế mà phân tán ra khắp nơi, học thuật mới được truyền bá trong dân gian Họ không còn là quan nữa mà chỉ là thầy Do đó mới phát sinh ra các học phái khác nhau
Chính trong bối cảnh lịch sử đặc biệt của xã hội Trung Quốc đương thời nên hệ thống lý luận của các nhà tư tưởng Trung Quốc cũng phản ánh hơi thở của thời đại, tạo điểm nhấn khác biệt của các học thuyết triết học Trung Quốc so với các học thuyết khác
Nhìn một cách tổng quan, các triết gia của Trung Quốc đều có tinh thần trọng thực tế Tiền đề của các học thuyết triết học Trung Quốc đều xuất phát
từ những vấn đề về xã hội, cuộc sống Những kết luận về thế giới quan cũng
có tiền đề từ nhân sinh quan và làm củng cố thêm cho những tiền đề ấy Đặc
Trang 29điểm quan trọng trong tư duy triết học Trung Quốc là tư duy thực tiễn, luôn luôn xuất phát từ nhu cầu, lợi ích của xã hội để giải quyết những vấn đề cấp bách đang đặt ra trong đời sống thực tiễn Vì vậy họ ít bàn đến những vấn đề
về vũ trụ quan và tri thức luận nhưng rất chú trọng đến các vấn đề thuộc về chính trị và đạo đức xã hội Trong lĩnh vực triết học bình diện được tâm nhiều nhất là nhân sinh quan và đạo đức quan; ngay trong đạo đức quan, giữa mặt triết học đạo đức và mặt chuẩn mực đạo đức thì mặt chuẩn mực đạo đức vẫn được quan tâm nhiều hơn, là phần hành đạo, nhằm đòi hỏi những ứng xử kịp thời của con người trước mỗi biến cố xã hội và xung đột đạo đức Có thể nói,
tư tưởng của Trung Quốc cổ đại phát triển theo hướng từ thượng tầng kiến trúc đến hạ tầng cơ sở, từ nhân sinh quan đến thế giới quan Các học giả Trung Quốc phần lớn đều xuất phát từ việc quan sát hiện thực chính trị và thực tiễn cuộc sống rồi tổng kết thành những quan niệm nhân sinh, sau đó mới tìm căn cứ thế giới quan cho những quan niệm đó Chẳng hạn như Khổng Tử
từ chỗ thấy xã hội loạn lạc, tôi giết vua, con giết gia, anh hại em nên ông
cho rằng nguyên nhân của hiện thực này là cho họ không chính danh 正名 ,danhvà thực không tương hợp(Danh mà không chính thì lời không thuận,
chính danh là cái tối quan trọng -Danh bất chính, tắc ngôn bất thuận, chính danh thị tối yếu khẩn đích - 名不正, 則言不順, 正名是最要緊的), làm trái
căn cứ tự nhiên thiên mệnh 天命, tức là làm trái mệnh Trời, chủ tể của vạn
vật, vận mệnh đều do Trời định đoạt, làm trái sự sắp đặt của Trời cho mỗi người, mỗi vật Trong khi đó ở phương Tây cổ đại, các triết gia Hy Lạp như Aristotle, Anaximandre, Thales, Anaximene đều là các nhà khoa học tự nhiên, cho nên những vấn đề về bản thể luận, nhận thức luận được họ đặc biệt quan tâm nhằm mục đích khám phá tự nhiên Những khái quát của triết học phương Tây đều dựa trên cơ sở khoa học tự nhiên Đây là một trong những khác biệt căn bản của hai nền triết học cổ đại Trung Quốc và Hy Lạp
Trang 30Triết học Trung Quốc ra đời trong bối cảnh lịch sử - xã hội thời Xuân thu - Chiến quốc khi mâu thuẫn xã hội đã trở nên gay gắy đòi hỏi phải giải quyết Điều đó đã quyết định đặc tính và mục đính chính trị - xã hội của các học thuyết đương thời Tuy nhiên, học thuyết của Lão Tử và Trang Tử lại có những nét đặc sắc, khác biệt so với các học thuyết đương thời Quan điểm về
xã hội và nhân sinh của Lão - Trang được đặt trên nền móng của một vũ trụ quan sâu sắc Có được điều đó là do Lão - Trang với thân phận của tầng lớp thất thế đã bị mất đi vai trò chính trị nên không còn gắn trực tiếp với những vấn đề chính trị đang đặt ra hiện thời, họ có thể bình tâm suy nghĩ về những vấn đề của tự nhiên và cuộc sống; hơn nữa, thành tựu văn hoá thời Xuân thu
- Chiến quốc đã làm nền tảng và tạo đà cho sự khám phá, sáng tạo của các ông Nhờ vậy, Lão - Trang đã vượt trước các nhà tư tưởng lúc bấy giờ bởi những tư tưởng về cội nguồn, về bản chất của vạn vật, nguyên nhân sâu xa của hiện trạng xã hội và nhân sinh
1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA NHÂN SINH QUAN TRONG TRIẾT
Tử, Tuân Tử tiếp tục phát triển ở thời Chiến quốc Họ chủ trương tin vào
thiên mệnh, coi đó là đạo lý màu nhiệm lưu hành trong trời đất, định phép
sống và chi phối vạn vật trong vũ trụ Đạo trung dung hay trung hoà là cái thịnh đức của trời đất Trunglà cái gốc lớn của thiên hạ, vạn vật đều do đó
mà nảy sinh, biến hoá Hoà là đạo thông đạt của thiên hạ, mọi vật đều nhờ
đó mà phồn thịnh Trong cuộc sống xã hội thì trung thứ chính là đầu mối của
Trang 31thịnh vượng Thoán từ của quẻ Thuần Càn, quẻ đầu tiên trong Kinh Dịch thể hiện cái đức lớn của Trời là "nguyên, hanh, lợi, trinh - 元, 亨, 利, 貞",
nguyên là lớn, là nguồn gốc; hanh là thông đạt; lợi là thích đáng, hoà hợp; trinh là chính mà bền bỉ sáng suốt; còn cái đức lớn của con người là nhân,
nghĩa, lễ, trí Vì thế, Nho gia đưa ra phương pháp cải biến xã hội, trị nước
bằng nhân trị, đức trị, chủ trương "chính danh, định phận - 正名,定分", duy
trì trật tự theo tôn ti, trật tự và chế độ tông pháp của nhà Chu Hoài bão và lý tưởng chính trị nhất quán của Khổng - Mạnh là muốn khôi phục lại chế độ,
lễ nghi của nhà Chu Do đó, họ đã truy tìm nguyên nhân của hiện trạng điên đảo và rối loạn của xã hội bấy giờ Khổng tử cho rằng, xã hội đại loạn là do
không chính danh hay là danh không phù hợp với thực Vì vậy, ông đã đưa
ra học thuyết "nhân", "lễ", "chính danh" nhằm bình ổn xã hội Để chính danh
phải thực hiện "Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử -君君, 臣臣, 父父,子
子", phải thi hành nghiêm ngặt lễ là những quy định, phép tắc của nhà Chu
Nhưng lý tưởng của Khổng - Mạnh đã không thành hiện thực cũng bởi vì Nho gia đã không nhận thấy được rằng sự suy vi của lễ pháp nhà Chu có nguyên nhân từ sự phát triển của phương thức sản xuất dẫn đến sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến thay đổi hình thái kinh tế xã hội, của những biến đổi trong cơ sở hạ tầng dẫn đến sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng,
là giai đoạn quá độ của hình thái kinh tế - xã hội phong kiến đang trong giai đoạn phôi thai, non trẻ Vì vậy, giải pháp của Khổng - Mạnh đưa ra là duy ý chí, siêu hình, cải lương; mong muốn sửa đổi hiện thức mới phù hợp với hình thức lễ pháp cũ, chỉ muốn biến đổi về lượng mà không biến đổi về chất
là không tưởng Học thuyết Khổng - Mạnh tuy đẹp nhưng đó là tiếng nói của
bộ phận quý tộc cũ mang tư tưởng Hoài Chu, hoài vọng khôi phục lại chế độ cai trị của các vua nhà Chu ở giai đoạn đầu Khổng Tử những năm cuối đời
Trang 32không còn mơ thấy Chu Công (tức Chu Công Đán - 周公旦 con Chu Văn Vương, công thần khai quốc nhà Chu, em vua Chu Vũ Vương), ông nói: "Ta suy kém lắm rồi! Đã lâu ta lại không nằm mơ thấy Chu Công nữa - Thậm
hỹ ngô suy dã! Cửu hỹ, ngô bất phục mộng kiến Chu Công."6
Tuy nhiên Mặc gia lại cho rằng không hề có thiên mệnh và đả phá sự
phân biệt tôn ti, thứ bậc; nếp sống lễ nghĩa phiền phức, xa hoa của Nho phái
Mặc gia tôn sùng vua Vũ nhà Hạ, tin rằng có thiên chí và minh quỷ, trong đó
thiên chí là ý Trời Trời là đấng tối cao, công bằng, anh minh, bao dung
thưởng cho người hiền, trừng phạt cho kẻ ác Ý chí của Trời là "yêu tất cả mọi người mà ta yêu, làm lợi cho tất cả mọi người mà ta muốn làm lợi", không phân biệt thân sơ, trên dưới, sang hèn Để thực hiện ý chí của Trời,
Mặc Tử chủ trương thực hiện kiêm ái và hỗ lợi dựa trên nguyên tắc thượng
đồng, thượng hiền và các biện pháp phi Nho, phi nhạc, phi công, tiết dụng, tiết táng, đoản tang Mặc Địch với tư cách là người sáng lập Mặc gia, theo
như nhận định của Will Durant thì ông là người vị tha, một nhà luân lí thời
cổ, có tinh thần Kitô và đả đảo chiến tranh7 Mặc gia cho rằng xã hội bị rơi vào tình trạng chiến tranh, loạn lạc là do con người không biết làm theo ý trời mà thương yêu và làm lợi cho nhau Vì vậy, ông chủ trương xây dựng xã hội trong đó con người không có sự phân biệt sang hèn, trên dưới, thân sơ và biết thương yêu, cùng làm lợi cho nhau Để biến lý tưởng này thành hiện thực, Mặc Tử kêu gọi mọi người nâng cao đạo đức và hy vọng vào sự thay đổi đường lối cai trị của nhà cầm quyền thông qua ý chí của Thượng Đế
Ông mạt sát chiến tranh (tức phi công), đả đảo kịch liệt quốc gia gần như
chủ trương vô chính phủ làm cho tầng lớp cai trị đương thời khó chịu Và theo như Hàn Phi Tử thì đợi đến khi loài người phát ra được tình kiêm ái
Chí Minh, 2013, tr 95
Trang 33như chim mọc cánh thì chiến tranh vẫn làm "trọng tài" cho các quốc gia.Ở Mặc Tử ta có thể thấy ông có nét tương đồng với Pascal khi cho rằng tôn
giáo chỉ có lợi như Thuyết đánh cược (Pascal's Wagner) trong tác phẩm Suy
tưởng (Pensées), nếu như anh đặt niềm tin vào Thiên Chúa mà không có
Chúa thì cùng lắm anh chỉ mất niềm tin vào một sai lầm một cách siêu hình, còn nếu như có Thiên Chúa thật mà anh không đặt niềm tin vào đó thì anh sẽ mất đi sự sống đời đời Tuy nhiên tư tưởng của Mặc Tử là tư tưởng đại diện cho tầng lớp bình dân, phá bỏ những quy phạm, nghi lễ hà khắc của giai cấp thống trị, hướng tới một xã hội mới không phân biệt tôn ti, bình đẳng, yêu thương và làm lợi cho nhau bằng những biện pháp cải lương
Khác với Nho gia và Mặc gia, Đạo gia lại cho rằng Đạo tự nhiên, vô
danh, thuần phác và là bản nguyên sâu xa, là con đường chi phối sự biến hoá của vạn vật trong vũ trụ Con đường biến hoá đó là sự liên hệ, tương tác,
chuyển hoá theo luật quân bình vàphản phục Trên quan điểm ấy, Đạo gia phủ nhận quan điểm Thượng đế sáng tạo ra thế giới Đạo không tồn tại căn
cứ bởi Thượng đế, mà ngược lại Đạo có trước cảThượng Đếvà làm "thiêng liêng cả quỷ thần" Trong cuộc sống, Đạo tự nhiên, vô danh được hoá thân thành đạo sống của con người là vô vi Vô vi không có nghĩa là không làm gì,
mà là sống đúng với bản tính vốn có, khả năng, sở thích tự nhiên, không thái quá, không bất cập, không can thiệp vào guồng máy của tự nhiên, bảo tồn bản tính tự nhiên của vạn vật Chính vì vậy, Đạo gia chủ trương thuận thiên
trong đời sống xã hội, trị nước bằng đạo vô vi, không cần thể chế, không cần
pháp luật, không cần đạo đức lễ nghĩa, văn hoá kỹ xảo Quan niệm của Đạo gia cho rằng, nếu lấy trí xảo của con người thay cho quy luật tự nhiên chính
là không theo bản tính tự nhiên của con người Xã hội thời nguyên thuỷ về hình thức là xã hội lý tưởng theo quan niệm của Đạo gia Trạng thái đạo đức của trẻ sơ sinh cũng chính là đạo đức lý tưởng của nhân loại Trang Tử chủ
Trang 34trương sống thuận với tự nhiên, bình đẳng, đồng hoá với vạn vật, tiêu diêu cùng vũ trụ, không còn phân biệt giữa vật và ta, tốt và xấu, phải và trái, sinh
và diệt Đó là hoài vọng về sự bình đẳng, tự do trong xã hội thị tộc nguyên thuỷ của tầng lớp quý tộc bị sa sút, bị bỏ rơi khỏi lực lượng thống trị xã hội
và bị lãng quên giữa dòng biến chuyển của thời đại
Pháp gia do Quản Trọng, Thương Ưởng, Thận Đáo, Thân Bất Hại khởi xướng và do Hàn Phi Tử tổng kết Pháp gia là một trường phái triết học chính trị lớn nhất trong truyền thống triết học Trung quốc; cũng là một trong sáu trào lưu lớn (gồm Âm dương gia, Nho gia, Mặc gia, Pháp gia, Danh gia
và Đạo đức gia - Sử ký史記,Luận lục gia yếu chỉ 論六家要指), trong "Bách
gia chư tử" thời Tiên Tần Pháp gia là một trong những trường phái triết học
chủ trương dùng hình pháp - là sự tổng hợp giữa Pháp 法, Thế 勢 và Thuật
術, như một công cụ, phép tắc hữu hiệu để điều chỉnh hành vi, đạo đức con người và duy trì, ổn định trật tự thể chế xã hội; bắt nguồn từ những cơ sở triết lý, tiền đề thực tiễn lịch sử xã hội và quan điểm về luân lý đạo đức nhất định Theo Hàn Phi, lịch sử xã hội luôn biến đổi, không có chế độ nào tồn tại vĩnh viễn, kẻ thống trị phải căn cứ vào nhu cầu khách quan đương thời và xu
thế của thời đại để lập ra chế độ mới, tổng hợp giữa Pháp; Thuật và Thế, kẻ
nào biết sử dụng sức mạnh thì kẻ đó sẽ làm vua Hàn Phi đả kích tư tưởng phục cổ, chống thái độ ngoan cố bảo thủ trong cai trị Tư tưởng của Pháp gia phản ánh lợi ích, nguyện vọng của tầng lớp quý tộc mới, đã kiên quyết đoạn tuyệt với chế độ nô lệ thị tộc nhà Chu Học thuyết của Pháp gia đã có vai trò quan trọng trong việc góp phần giải quyết những mâu thuẫn được đặt ra trong giai đoạn lịch sử quá độ thời Chiến quốc Nhà Tần với sự tôn sùng tư tưởng Pháp gia đã hoàn thành được sứ mệnh chấm dứt tình trạng phân phong cát cứ, tạo lập chế độ quân chủ chuyên chế trên một lãnh thổ thống nhất vào năm 221 Tr CN
Trang 35Các trường phái Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Pháp gia trước bối cảnh loạn lạc của xã hội, đều chủ trương tìm ra một con đường cho hiện thực xã hội và con đường mà Pháp gia khởi xướng đã đáp ứng được những đòi hỏi của lịch sử xã hội Trung Quốc thời đó Nho gia, Mặc gia, Đạo gia đều nhận thấy xã hội đương thời chứa đầy những nghịch lý và nó cần được ổn định theo một phương thức nhất định Khổng - Mạnh là người đại diện cho giai cấp quý tộc cũ của nhà Chu, nên đã ra sức bảo vệ chế độ tông pháp nhà Chu
bằng việc đề cao Nghiêu, Thuấn; coi trọng lễ, nhạc Phương thức ổn định xã hội của Khổng - Mạnh là khôi phục trật tự xã hội cũ của nhà Chu bằng nhân,
nghĩa Tuy nhiên những biện pháp cải cách đó mang tính cải lương và có
chiều hướng duy tâm Mặc Tử do xuất thân từ tầng lớp nghèo, chịu sự giáo dục của nhà Nho nhưng sau đó nhận thấy chủ trương của Nho gia không có lợi cho tầng lớp mà ông đại diện, nên ông đã chủ trương khác với tư tưởng Khổng - Mạnh Mặc Tử sùng bái Hạ Vũ 夏禹8, đề cao thiên chí, đưa ra một
mẫu hình xã hội mà trong đó không có sự phân chia giai cấp và đầy ắp tình yêu thương và lòng nhân ái Riêng trường phái Lão - Trang, đại diện cho tầng lớp quý tộc bị sa sút, bất lực trước hiện thực, cùng với nhãn quan hoài nghi, Đạo gia đã tìm về với tự nhiên Đạo gia cho rằng, đạo tự nhiên vốn dĩ
đã hoàn hảo, con người không nên thái quá trong việc tác tạo để hại tự nhiên, phải tuân theo tự nhiên và tất cả mọi sự đều yên ổn
Cả Nho gia và Mặc gia đều hướng tới những hình mẫu xã hội điển hình, tốt đẹp từng diễn ra trong quá khứ Trong quá khứ huy hoàng ngày xưa
ấy vì có những bậc trị vì đức độ, công minh nên xã hội được hưởng thái bình
và trăm họ đều hiền hoà Còn Đạo gia lại có xu thế thoát ly hiện thực để hướng tới một xã hội còn xa xưa hơn thế Họ cho đó là xã hội nguyên thuỷ
sơ khai là tốt đẹp? Mọi người đều thuần phác, tự nhiên nhu nhiên, không có
Trang 36
người đứng đầu, xã hội tự hoà bình, no đủ Giải pháp xã hội của Đạo gia đưa
ra là những chỉ dẫn để bảo đảm xã hội được "tự nhiên" như nó vốn có Đây
là điểm khác biệt cơ bản nhất của Đạo gia so với các học thuyết triết học
khác Triết lý vô vi của Đạo gia mà các học giả sau này gọi có thể là vì
những biện pháp nhằm biến đổi xã hội mang tính "tự nhiên" mà Lão - Trang
đã đưa ra
Cả Nho gia, Mặc gia và Đạo gia đều đưa ra một phương pháp nhằm bình ổn xã hội, nhưng nếu căn cứ vào tính chất của những biện pháp mà các trường phái đã đề ra, thì tựu trung lại có thể xếp thành hai phái: nhập thế
tứchữu vi và xuất thế tứcvô vi Nho - Mặc và Pháp gia là đại biểu của phái
hữu vi còn Lão - Trang đại diện cho phái vô vi Học thuyết của Pháp gia thì
trọng thực tế, Nho gia và Mặc gia nghiêm trang, hướng tới phục vụ xã hội, nhân sinh, đề cao con người xã hội Còn học thuyết của Đạo gia mang tính lãng mạn, phóng khoáng, đề cao con người tự nhiên, tôn sùng cuộc sống tĩnh lặng, tiêu dao thoát ly nhân gian, thế sự Tính chất tương phản ấy phần lớn
do địa vị giai cấp mà nhà hiền triết là đại biểu quyết định, một phần còn là
do cội nguồn văn hoá, tư tưởng mà họ hấp thu Trong suốt bề dày lịch sử của dân tộc Trung Hoa, hai dòng tư tưởng Nho - Mặc và Lão - Trang, tuy mang những chiều hướng trái ngược nhau, nhưng không tách biệt và loại trừ nhau, trái lại luôn bổ trợ và hấp thụ, làm giàu lẫn nhau
Với nhãn quan đại diện cho tầng lớp tiểu quý tộc đang suy tàn, tư tưởng của Trang Tử thể hiện sự bất lực trước thời cuộc và tâm trạng hoài nghi, tuyệt vọng của tầng lớp đó Con đường mà Trang Tử đưa ra để cứu đời, dẹp loạn chỉ như là một biện pháp giải thoát cá nhân Nguyên nhân của
tư tưởng bi quan yếm thế triệt để ở Trang Tử phần lớn là do thái độ của ông trước thời cuộc, dòng tư tưởng mà ông tiếp thu, và nguyên nhân từ hiện thực
do bối cảnh lịch sử thời đó Nho - Mặc đề ra tư tưởng hữu vi và dốc toàn bộ
Trang 37tâm lực để du thuyết nhằm hành đạo Trời, cứu người nhưng tất cả đều không thành công Khổng Từ từng than thở "Trời làm mất đạo ta", thiên hạ loạn từ lâu mà không có ông vua nào chịu nghe theo lời khuyên, Mặc Tử thì "mòn trán, lỏng gót" mà cũng chưa tìm được bậc đắc ý Trang Tử đã tự chiêm nghiệm được những điều đó rồi đưa ra con đường hành đạo, giúp đời theo
triết lý vô vi Đương thời, phương pháp hành đạo cứu đời của ông không
những không được vương, bá nào tin dùng mà còn cho rằng đó là những ý tưởng kì quặc Tuân Huống sau này chỉ trích "lũ Trang Chu bông đùa loạn thế tục" Tuy nhiên, Trang Tử cũng chẳng vì thế mà buồn Ông cho rằng
người đời có thể chưa hiểu được học thuyết của ông là do thiên kiến 偏見
lầm lạc, nhưng chưa hiểu không có nghĩa là không hiểu, ông tin rằng nhiều đời sau sẽ có một đại thánh nhân hiểu ông
1.2.2 Triết học của Lão Tử và Dương Chu - tiền đề tư tưởng nhân
sinh trong triết học Trang Tử
Cho đến nay, những tư liệu của thời đại Xuân thu - Chiến quốc, đặc biệt là tư liệu về cuộc đời và sự nghiệp của các học sĩ còn lại rất ít ỏi, hơn nữa là không đầu đủ cứ liệu Chính vì vậy, người đời sau phải căn cứ vào những nguồn tư liệu hiếm hoi đó để phỏng đoán về các học sĩ thời tiên Tần, thời đại của các nhà sáng lập ra các triết thuyết mà các học giả đời sau gọi là thời đại Tử học Điều này đã gây khó khăn trong việc nghiên cứu nguồn gốc,
cơ sở của các học thuyết nói chung và học thuyết của Trang Tử nói riêng Tư tưởng của Trang Tử ra đời chịu ảnh hưởng của các học thuyết đương thời, đặc biệt là tư tưởng của các nhà tiền bối trong phái Đạo gia Đạo gia do Lão
Tử sáng lập vào khoảng thế kỷ VI Tr CN ở thời Xuân thu Theo Sử ký 史記
Tư Mã Thiên 司馬遷, Lão Tử là người nước Sở 楚, huyện Khổ 苦, làng Lệ
厲, xóm Khúc Nhân 曲仁, bây giờ là Lộc Ấp 鹿邑,tỉnh Hà Nam 河南 Ông
Trang 38họ Lý 李, tên Nhĩ 耳, tự là Bá Dương 伯陽, thuỵ là Đam 聃 Ông từng làm quan giữ tàng thất cho nhà Chu, sau này chứng kiến nhà Chu suy nên ông đã
bỏ đi ở ẩn Đến cửa phía tây của Hàm Cốc Quan 函谷关, quan lệnh là Doãn
Hỷ 尹喜 nói: "Ngài toan đi ở ẩn, xin gượng vì tôi mà để lại bộ sách" Lão Tử
ở lại, soạn ra bộ sách nói về Đạo Đức, phân làm hai thiên, gồm có trên năm ngàn chữ rồi bỏ đó mà đi vào sa mạc, không ai rõ cuối đời ông ra sao Bộ sách mà ông để lại được gọi là "Lão Tử - Đạo Đức Kinh" Phải đến thời Chiến quốc, Đạo gia mới phát triển và trở thành một học thuyết có ảnh hưởng rộng rãi trong đời sống xã hội Theo một số nhà nghiên cứu như Quách Mạt Nhược 郭沫若, Trần Đình Hượu thì đến thời Chiến Quốc, Đạo gia đã phân hoá thành ba phái: Phái Tống - Doãn, phái tác giả Đạo Đức Kinh
và phái Thận Đáo Theo nhà nghiên cứu, GS Cao Xuân Huy trong Tư tưởng
phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu thì tư tưởng của Trang Tử đã
có hình bóng ở tư tưởng phái Tống - Doãn và phái tác giả Đạo Đức Kinh Hiện tại ngoài tài liệu của phái Đạo Đức Kinh thì tài liệu của các phái khác
đã thất truyền Chính vì tình hình tư liệu như vậy thì không thể có kết luận chắc chắn về tư tưprmh của các phái và ảnh hưởng của các phái đối với Trang Tử
Theo các tác giả Tư Mã Thiên, Đào Duy Anh, Nguyễn Duy Cần thì nguồn gốc của học thuyết Trang Tử là từ Lão Tử Tuy nhiên, học thuật của Trang Tử có những điểm khác với Lão Tử và có thể coi Trang Tử là người sáng lập ra một trường phái riêng - phái Trang học Các tác giả Phùng Hữu Lan, Nguyễn Hiến Lê, Trần Đình Hượu cho rằng, Trang Tử nhận được di sản tinh thần từ nhiều nhà triết học ở thời trước đó như Lão Tử, Dương Chu, Liệt Tử và cùng thời như Bành Mông, Điền Biền, Thận Đáo Nhận định
này có lẽ là hợp lý hơn và những nội dung được đề cập trong Nam Hoa Kinh
đã chứng minh điều đó Ở Dương Chu, Trang Tử ảnh hưởng tư tưởng "giữ
Trang 39hoàn toàn sự sống bảo vệ cái chân tính, không lấy vật ngoài mà làm luỵ cho hình thể- toàn sinh bảo chân, bất dĩ vật luỵ hình) Tư tưởng của Dương Chu ảnh hưởng lớn đến đời sống sinh thần xã hội Trung Quốc thời bất giờ, khiến Mạnh Tử phải than: "Lời của Dương Chu, Mặc Địch tràn lan khắp thiên hạ Thiên hạ nói năng, bàn bạc, nếu không hướng theo họ Dương thì cũng theo
về với họ Mặc" (Mạnh Tử, Đằng Văn Công hạ, tiết 9) Trong sách Liệt Tử
列子 viết: "Cầm Tử hỏi Dương Chu:
- Nhổ một sợi lông trên mình để ông cứu đời, ông chịu không?
Dương Chu đáp:
- Đời đâu có thể cứu bằng một sợi lông
- Cho rằng cứu được đi, thì ông có chịu không?
Thấy Cầm Tử chậm hiểu, ông không đáp nữa, Cầm Tử ra nói với Mạnh Tôn Dương Mạnh Tôn Dương trả lời:
- Anh không hiểu rõ ý phu tử, tôi xin hỏi vậy: Nếu để người ta cắt da anh để được muôn lượng vàng, anh chịu không?
Cầm Tử đáp:
- Chịu
- Chặt một cánh tay để được một nước, anh có làm chăng?
Cầm Tử im lặng một hồi Mạnh Tôn Dương nói tiếp:
- Một sợi lông không quan trọng bằng một miếng da, một miếng da thì nhỏ hơn tay chân Nhưng dồn nhiều lông thành da, dồn nhiều da thành tay chân Sợi lông tuy là một phần của thân thể, lẽ nào anh lại coi khinh được?"
Vì vậy nên Dương Chu chủ trương "mất một sợi lông mà làm lợi cho cả thiên hạ cũng không cho, mà có ai đem cả thiên hạ phụng dưỡng thân mình
cũng không nhận” (Liệt Tử, Chương VII, 11) Đó thực chất là chủ nghĩa “vị
ngã” của Dương Chu Theo ông, “Nếu mọi người đều không chịu mất một cái lông của mình, mọi người đều không muốn làm lợi cho thiên hạ thì thiên
Trang 40hạ sẽ trị” (Liệt Tử, Chương VII, 11) Đó cũng chính là phép trị nước theo đạo
“tự nhiên, vô vi -自然無為" của Dương Chu Chủ trương vị kỷ của ông có phần cực đoan, song nó cũng đã mở ra một phương hướng mới trong lý thuyết ổn định xã hội và là tiền đề cho những suy tưởng của các tác gia về sau mà Trong đó có cả Trang Tử Trang Tử thậm chí đã phát triển tư tưởng
“vì mình” của Dương Chu đến đỉnh cao Trang Tử chủ trương toàn sinh, bảo toàn thiên tính, hưởng vẹn tuổi trời bằng cách “vo mình”, không quan hệ với
người đời và cao hơn nữa là làm cho người đời không biết đến tự tồn tại của
mình để “một mình tiêu dao”, thực hiện đại đức vô kỷ (quên bản thân mình),
vô công (quên cả công mình), vô danh(quên cả tên tuổi, tiếng tăm)
Trong thời Chiến quốc loạn lạc, khi mà sinh mệnh của con người luôn
bị đe doạ trở thành tâm niệm phổ biến của người dân và với địa vị của giai tầng của mình đại diện thì tư tưởng “tồn ngã, trọng kỷ, quý sinh - 存我,重己,貴生” dẫu cho Trang Tử không chịu ảnh hưởng từ Dương Chu cũng có thể đưa ra quan niệm đó Có thể nói, Dương Chu là đại diện tiêu biểu cho chủ nghĩa vị ngã, và là người mở đường cho chủ trương quý sinh, trọng kỷ mà sau này Trang Tử đã tiếp tục phát triển
Trang Tử được coi là người kế tục nổi tiếng nhất của Lão Tử Tuy nhiên, cuộc đời và sự nghiệp của Lão Tử đến nay vẫn còn nhiều điểm chưa được làm sáng tỏ Chẳng hạn như Lão Tử, Lý Nhĩ và Lão Đam có phải là một hay không hay Lão Đam là một bút danh của Đam, Thái Sử Đam 太史儋, hay là một ông
già đến từ Lai - một quận của nước Tề 齊? Lão Tử - Đạo Đức Kinh có phải
chính do Lão Tử viết hay không? Tác phẩm này ra đời trong thời gian nào?
Đó là những vấn đề còn đang tiếp tục nghiên cứu làm rõ Phần lớn các học giả đều cho rằng, học thuyết Lão - Trang đều đề cập đến vấn đề đạo đức và về cơ bản học thuyết của Lão Tử hay Trang Tử có nội dung tương đồng