1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa làng cổ phước tích nhằm phát triển du lịch

114 196 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH  ---KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC DI SẢN VĂN HÓA LÀNG CỔ PHƯỚC TÍCH NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH Sinh viên thực hiện: Trần Thị Ái Vy Lớp: K47A QTKD

Trang 1

KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH



-KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC DI SẢN VĂN HÓA LÀNG CỔ PHƯỚC TÍCH NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH

Sinh viên thực hiện:

Trần Thị Ái Vy

Lớp: K47A QTKD Thương mại

Giáo viên hướng dẫn:

ThS Phạm Phương Trung

Niên khóa: 2013-2017

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 2

Lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến quý Thầy, Cô Khoa Quản trị kinh doanh cũng như các Thầy, Cô trong Trường Đại học Kinh

tế - Đại học Huế đã tận tình dạy bảo, truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt thời gian tôi ngồi trên ghế nhà trường, từ đó giúp tôi có nền tảng kiến thức nhất định để có thể hoàn thành đề tài này.

Xin gửi lời cảm ơn đặc biệt nhất đến Thầy giáo Thạc sĩ Phạm Phương Trung - người đã tận tình hướng dẫn, góp ý và truyền đạt kiến thức cho tôi hoàn thành đề tài này Cảm ơn Thầy đã luôn chỉ dạy, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian vừa qua.

Cùng với đó, tôi xin cảm ơn các Anh/Chị ở Công ty TNHH du lịch Tự hào Việt Nam đã luôn tạo điều kiện thuận lợi, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập tại đơn vị Tôi cũng xin cảm ơn ban lãnh đạo sở Du lịch Thừa Thiên Huế và Ban quản lý làng cổ Phước Tích đã cung cấp thông tin cho tôi hoàn thành bài khóa luận của mình.

Xin chân thành cảm ơn những tình cảm, sự động viên, giúp đỡ về mặt vật chất và tinh thần của gia đình, người thân và bạn bè trong suốt thời gian học tập cũng như trong thời gian hoàn thành đề tài này.

Tuy có nhiều sự cố gắng nhưng trong đề tài này không thể nào tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp, nhận xét, bổ sung thêm của quý Thầy, Cô, các bạn sinh viên và những người quan tâm đến đề tài này để bài khóa luận tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn Tôi xin chân thành cảm ơn!

Huế, tháng 05 năm 2017

Sinh viên

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

3 Câu hỏi nghiên cứu 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 6

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH 6

1.1 Lý luận chung về di sản văn hóa 6

1.1.1 Khái niệm về di sản văn hóa 6

1.1.2 Phân loại di sản văn hóa 7

1.2 Quan điểm về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa 8

1.3 Kinh nghiệm về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc của một số nước Châu Á 10

1.4 Những vấn đề cơ bản về du lịch văn hóa 12

1.4.1 Khái niệm du lịch văn hóa 12

1.4.2 Khái niệm du lịch di sản văn hóa 13

1.4.3 Mối quan hệ giữa du lịch và di sản văn hóa 15

1.5 Giá trị di sản văn hóa 16

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 4

1.6 Mô hình nghiên cứu 17

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI LÀNG PHƯỚC TÍCH 20

2.1 Tổng quan du lịch trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế 2014-2016 20

2.1.1 Tiềm năng phát triển du lịch ở Huế 20

2.1.2 Điều kiện thuận lợi và khó khăn của ngành du lịch 21

2.1.2.1 Thuận lợi phát triển du lịch của Thừa Thiên Huế 21

2.1.2.2 Khó khăn phát triển du lịch ở Thừa Thiên Huế 22

2.1.3 Thực trạng du lịch ở Thừa Thiên Huế giai đoạn 2014-2016 22

2.1.3.1 Tình hình khách tham quan - du lịch tại Thừa Thiên Huế năm 2014-2016 23

2.1.3.2 Doanh thu từ hoạt động du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2014-2016 24

2.2 Đánh giá tiềm năng du lịch làng Phước Tích 24

2.2.1 Điều kiện tự nhiên 24

2.2.1.1 Vị trí hành chính địa lý 24

2.2.1.2 Địa hình, hệ thống ngòi, ao hồ 25

2.2.1.3 Khí hậu 26

2.2.1.4 Hệ thống giao thông 26

2.2.2 Tài nguyên du lịch văn hóa truyền thống của làng Phước Tích 27

2.2.2.1 Không gian kiến trúc 27

2.2.2.2 Làng nghề truyền thống 28

2.2.2.3 Văn hóa ẩm thực 28

2.2.2.4 Lễ hội 29

2.2.2.5 Trò chơi dân gian 30

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 5

2.3 Thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng Phước Tích 32

2.3.1 Những thành tựu của việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa 32

2.3.2 Những hạn chế của việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa 33

2.4 Thực trạng khách du lịch tham gia du lịch tại làng Phước Tích 35

2.4.1 Tình hình khách tham quan - du lịch tại làng cổ Phước Tích năm 2014-2016 35

2.4.2 Doanh thu từ hoạt động du lịch tại làng cổ Phước Tích trong giai đoạn 2014-2015 36

2.5 Đánh giá giá trị cảm nhận di sản văn hóa của du khách và người dân địa phương về giá trị di sản văn hóa ở làng Phước Tích 37

2.5.1 Thông tin chung về mẫu điều tra 37

2.5.2 Phân tích giá trị của các di sản văn hóa tại làng Phước Tích 43

2.5.3 Phân tích giá trị cảm nhận di sản văn hóa 49

2.5.4 Kiểm định sự tương quan giữa các nhân tố và giá trị cảm nhận di sản văn hóa 55 2.5.5 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng giá trị cảm nhận của di sản văn hóa 56

2.5.6 Đánh giá giá trị cảm nhận di sản văn hóa theo các nhóm nhân tố 59

2.5.7 So sánh sự khác biệt đánh giá về giá trị cảm nhận di sản văn hóa tại làng cổ Phước Tích 63

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA LÀNG PHƯỚC TÍCH PHƯỚC TÍCH NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH 67

3.1 ĐỊNH HƯỚNG 67

3.2 GIẢI PHÁP 67

3.2.1 Giải pháp giữ gìn và phát huy giá trị di sản văn hóa làng cổ Phước Tích 67

3.2.2 Nâng cao nhận thức cho người dân về việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa làng, văn hóa dân tộc 68

3.2.3.1 Đối với văn hóa truyền thống 69

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 6

3.2.3.2 Đối với lễ hội, trò chơi dân gian 69

3.2.3.3 Đối với nghề gốm truyền thống 70

3.2.3.4.Thực hiện quy chế quản lý, bảo tồn, tôn tạo và sử dụng di tích Làng cổ Phước Tích 71

3.2.3 Giải pháp phát triển du lịch làng cổ Phước Phước Tích 71

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73

1 Kết kuận 73

2 Kiến nghị 73

2.1 Đối với Sở Văn hóa – Thể Thao và Du lịch Thừa Thiên Huế 73

2.2 Đối với Ban quản lý làng cổ phước Tích 74

2.3 Đối với doanh nghiệp, công ty lữ hành 74

2.4 Đối với người dân địa phương tại làng cổ Phước Tích 74

2.5 Đối với khách du lịch 75

DANH MỤC VÀ TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

PHỤ LỤC I 78

PHỤ LỤC II 82

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Mẫu điều tra theo đối tượng 37

Biểu đồ 2.2 Kênh thông tin khách biết đến du lịch làng cổ Phước Tích 38

Biểu đồ 2.3 Số lần du khách đến với làng Phước Tích 39

Biểu đồ 2.4 Hình thức tổ chức chuyến đi 39

Biểu đồ 2.5 Thời gian lưu lại ở làng Phước Tích 40

Biểu đồ 2.6 Mức chi tiêu du khách bỏ ra khi đi tham quan du lịch Phước Tích 40

Biểu đồ 2.7 Giới tính của đối tượng điều tra 41

Biểu đồ 2.8 Nhóm tuổi của đối tượng điều tra 41

Biểu đồ 2.9 Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu 42

Biểu đồ 2.10 Mức thu nhập hàng tháng của đối tượng điều tra 42

Biểu đồ 2.11 Nghề nghiệp hiện tại của đối tượng điều tra 43

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Tình hình khách tham quan - du lịch tại Thừa Thiên Huế 2014-2016 23

Bảng 2.2: Doanh thu từ hoạt động du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế 2014-2016 24

Bảng 2.3: Tình hình khách đến tham quan tại tới làng cổ Phước Tích trong giai đoạn năm 2014-2016 35

Bảng 2.4:Doanh thu từ hoạt động du lịch tại làng cổ Phước Tích trong giai đoạn 2014-2016 36

Bảng 2.5: Kết quả kiểm định độ tin cậy của các thang đo (lần 1) 44

Bảng 2.6: Kết quả kiểm định độ tin cậy của các thang đo (lần 2) 47

Bảng 2.7: Kết quả kiểm định Bartlett và hệ số KMO của các biến độc lập 50

Bảng 2.8: Tổng phương sai trích các nhân tố biến độc lập 51

Bảng 2.9: Ma trận đã xoay các nhân tố biến độc lập 52

Bảng 2.10: Kết quả kiểm định Bartlett và hệ số KMO của các biến phụ thuộc 54

Bảng 2.11: Tổng phương sai trích các nhân tố biến phụ thuộc 54

Bảng 2.12:Ma trận đã xoay các nhân tố biến phụ thuộc 55

Bảng 2.13: Kết quả kiểm định tương quan giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập 55

Bảng 2.14: Mô hình hồi quy 56

Bảng 2.15: Thống kê đánh giá về giá trị cảm nhận hình ảnh 59

Bảng 2.16: Thống kê đánh giá về giá trị cảm nhận kỹ năng kiến thức 59

Bảng 2.17: Thống kê đánh giá về giá trị cảm nhận sức khỏe tinh thần 60

Bảng 2.18: Thống kê đánh giá về giá trị cảm nhận bản sắc 61

Bảng 2.19: Thống kê đánh giá về giá trị cảm nhận xã hội 62

Bảng 2.20: Thống kê đánh giá về giá trị cảm nhận phát triển kinh tế 62 Bảng 2.21: So sánh sự khác nhau về ý kiến đánh giá giá trị cảm nhận theo từng đối

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 9

ICOMOS: Tổ chức toàn cầu phi chính phủ

SPSS: Statistical Package for the Social Sciences

CNH,HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

SPSS: Statistical Package for the Social Sciences

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 10

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lý do chọn đề tài

Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu tất yếucủa xã hội Du lịch tạo ra một sự trải nghiệm cho chính du khách, giúp họ khám phá,biết thêm nhiều vùng đất mới, nền giá trị văn hóa đặc trưng của các vùng miền, nhìnnhận lại những giá trị quý báu của dân tộc Du lịch ngày nay đã trở thành một hoạtđộng không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt xã hội, làm cho đời sống xã hội ngàymột phong phú, lý thú và bổ ích hơn Về phương diện kinh tế, du lịch đã trở thành mộtngành kinh tế mũi nhọn, chiếm một tỷ trọng lớn trong thu nhập kinh tế quốc dân

Đối với Thừa Thiên Huế, đây là một vùng đất cố đô, một vùng đất truyền thốnglịch sử với nền văn hóa rất sâu sắc, phong phú, đa dạng các loại hình di sản văn hóavật thể và phi vật thể Trong đó, quần thể di tích cố đô được UNESCO công nhận là disản văn hóa thế giới Bên cạnh đó, Huế có nhiều làng nghề thủ công, tạo ra nguồn tàinguyên văn hóa du lịch hấp dẫn đối với du khách Chính vì thế, Huế có một lợi thế rấtlớn trong việc phát triển ngành du lịch, tăng GDP cho tỉnh nhà

Phước Tích là một làng cổ ở Huế, tồn tại hơn 500 năm, trải qua các cuộc chiếntranh binh lửa và sự tàn phá của thiên nhiên Có thể nói, Phước Tích còn giữ gìn gầnnhư nguyên vẹn vẻ đẹp nguyên sơ của đời sống sinh hoạt làng quê Việt với phongcảnh hữu tình, yên ả, với cây đa, bến nước, sân đình… Phước Tích đẹp như một bứctranh cổ về làng quê Việt Nam Phước Tích là nơi bảo tồn những giá trị văn hóa nhânvăn đặc sắc của một làng nghề gốm truyền thống Nhiều di tích lịch sử văn hóa, các lễhội làng xã, tập tục tín ngưỡng dân gian gắn với phương thức sản xuất gốm bằng nghềthủ công truyền thống Tất cả những yếu tố đó đã tạo nên giá trị chung cho ngôi làng

cổ Đây đúng là một địa điểm du lịch cho những ai thích hòa mình vào thiên nhiên,thích khám phá các di sản văn hóa và muốn học hỏi làm nghề thủ công truyền thống

Tuy nhiên, nhiều người khi đến thăm làng cổ Phước Tích không khỏi ngạcnhiên khi vào những ngôi nhà rường chỉ gặp những người già trông coi, gìn giữ nhà

cổ Dạo quanh làng cũng chỉ thấy hầu hết là người già và trẻ nhỏ, còn những người

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 11

coi hay chỉ có người già ở đó nên nhiều ngôi nhà rường đã bắt đầu xuống cấp nghiêmtrọng Một vài năm nữa nếu không được tu sửa, quan tâm kịp thời, số phận những ngôinhà này sẽ ra sao? Và liệu sẽ có bao nhiêu ngôi nhà rường phải đóng cửa vì không cóngười trông coi, gìn giữ? Đều này xảy ra thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc phát triển

du lịch nơi đây Chính vì thế nên tôi quyết định chọn đề tài “bảo tồn và phát huy các

di sản văn hóa làng cổ Phước Tích nhằm phát triển du lịch” làm đề tài nghiên cứu.

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung

Đề tài nhằm nghiên cứu về việc bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa làng cổPhước Tích nhằm phát triển du lịch

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa nhằm pháttriển du lịch

- Đánh giá thực trạng phát triển du lịch tại Thừa Thiên Huế từ năm 2014-2016

- Đánh giá thực trạng phát triển du lịch tại làng cổ Phước Tích từ năm 2016

2014 Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động bảo tồn và phát huy các di văn hóa ởlàng cổ Phước Tích

- Đánh giá giá trị cảm nhận của khách hàng và người dân địa phương về văn hóalàng cổ Phước Tích

- Đề xuất phương hướng và giải pháp bảo tồn và phát huy nhằm phát triển kinh tế

du lịch

3 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế?

- Thực trạng phát triển du lịch tại làng Phước Tích?

- Thực trạng bảo tồn di sản văn hóa của làng cổ Phước Tích hiện nay?

- Những tiềm năng về di sản văn ở làng cổ Phước Tích trong việc phát triển dulịch ?

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 12

- Những định hướng phát triển và giải pháp đề ra để bảo tồn và phát huy di sảnvăn hóa ở làng Phước Tích để đáp ứng nhu cầu khách du lịch, đồng thời nâng cao chấtlượng cuộc sống của các chủ sở hữu?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tiềm năng, thực trạng và giải pháp bảotồn và phát huy di sản văn hóa làng Phước Tích để phát triển du lịch

- Đối tượng điều tra: Người dân địa phương, chính quyền địa phương, công ty lữhành, khách du lịch tham gia tour du lịch tại làng cổ Phước Tích

4.2 Phạm vi nghiên cứu

 Về nội dung nghiên cứu:

Đề tài này chỉ nghiên cứu về kinh tế học văn hóa, dựa trên các di sản văn hóa củalàng cổ Phước Tích để bảo tồn và phát huy nhằm phát triển du lịch

- Thời gian thực hiện đề tài: 2/2017 – 4/2017

5 Phương pháp nghiên cứu

 Phương pháp thu thập thông tin:

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua hình thức khảo sát thực tế, tham khảo ýkiến du khách

Dữ liệu thứ cấp được tham khảo thông qua Internet, những bài báo cáo, chuyên

đề, khóa luận tốt nghiệp

 Phương pháp khảo sát thực địa:

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 13

hơn về thực trạng hoạt động bảo tồn và phát triển nhà cổ và nhà vườn, đồng thời giúp

đề xuất một số giải pháp sát với thực tế phát triển của địa phương hơn

 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi đối với người dân địa phương và du

khách:

Tiến hành điều tra bảng hỏi đối với du khách và người dân địa phương về giá trịcảm nhận đối với di sản văn hóa làng Phước Tích

Về phương pháp chọn mẫu điều tra: phương pháp chọn mẫu mà đề tài nghiên cứu

sử dụng là phương pháp chọn mẫu thuận tiện

Quy mô mẫu: Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc thì tính đại diệncủa số lượng mẫu được lựa chọn nghiên cứu sẽ thích hợp, đảm bảo mức ý nghĩa có thểchấp nhận nếu số quan sát (cỡ mẫu) ít nhất phải gấp 4-5 lần số biến quan sát Ta chọn

độ tin cậy 95%, mức sai số cho phép là 5%

- Với n là cỡ mẫu cần lấy, ta có công thức: n= (tổng số biến định lượng) x 5

- Với 27 biến định lượng được đưa vào bảng hỏi để điều tra thì kích thước mẫutối thiểu là: 27 x 5 = 135 Tuy nhiên để tăng độ chính xác hơn cho việc điều tra nên tôitiến hành phát 200 bảng hỏi

 Sử dụng các công cụ tính toán kinh tế

Dùng phần mền excel để tính toán lượng tăng giảm, tốc độ tăng trưởng và pháttriển ngành du lịch Thừa Thiên Huế nói chung và làng cổ Phước Tích nói riêng

Sử dụng phần mềm SPSS 20 và Excel để tập hợp dữ liệu điều tra Thông qua cáccon số được tổng hợp tiến hành phân tích thống kê mô tả, phân tích định lượng vàkiểm định các giả thiết đánh giá giá trị cảm nhận của du khách cũng như người dân địaphương đến di sản văn hóa tại làng cổ Phước Tích

 Quy trình nghiên cứu

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 14

Quy trình nghiên cứu tài liệu về cơ sở lý luận

Điều tra thử

Xác định thông tin cần thu thập

Phỏng vấn và nghiên cứu chính thứcHoàn chỉnh bảng hỏi chính thức

Thiết kế bảng hỏiĐiều chỉnh

Kết luận

Xử lý và phân tích số liệu

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 15

PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO TỒN VÀ

PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH

1.1 Lý luận chung về di sản văn hóa

1.1.1 Khái niệm về di sản văn hóa

Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngườisáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa conngười với môi trường tự nhiên và xã hội Trong quá trình sáng tạo ấy, loài người đã đểlại một kho tàng văn hoá vật thể và phi vật thể Loài người đã để lại một kho tàng vănhoá vật thể và phi vật thể: Đó là những công trình kiến trúc, những hiện vật trên vàtrong lòng đất (hữu thể), những kinh nghiệm, phong tục tập quán …(vô thể) Tất cảnhững giá trị văn hoá ấy được sàng lọc qua thời gian, đọng lại thành di sản văn hoá.Luật Di sản văn hoá của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định: “disản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩmtinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ nàyqua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”

Việt Nam là một trong những quốc gia tiên phong trong việc phê chuẩn Côngước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể năm 2003 của UNESCO và là thành viên của

Ủy ban Liên Chính phủ tham gia xây dựng phương hướng hoạt động và các chính sáchquốc tế có liên quan đến Công ước này Di sản văn hóa là yếu tố cốt lõi của văn hóa,chuyển tải bản sắc văn hóa của một cộng đồng xã hội DSVH Việt Nam là tài sản vănhóa quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của DSVH nhânloại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta Nhưvậy, bảo tồn và phát huy các giá trị DSVH là hoạt động thiết thực nhằm hướng tới xâydựng nền văn hóa Việt Nam tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào việc giữgìn và làm phong phú cho kho tàng DSVH nhân loại

Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủtrương đường lối và chính sách bảo vệ và phát huy giá trị DSVH nhằm nâng cao đời

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 16

Việt Nam khi được bảo tồn, kế thừa và phát huy sẽ có tác dụng tích cực trong xâydựng và phát triển văn hóa Việt Nam đương đại, kết hợp với quá trình đẩy mạnh CNH,HĐH, phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

1.1.2 Phân loại di sản văn hóa

Theo UNESCO, di sản văn hóa bao gồm 2 loại:

- Di sản “văn hóa vật thể” (tangible culture) được hiểu là những sản phẩm vănhóa có thể “sờ thấy được” Văn hóa vật thể là một dạng thức tồn tại của văn hóa chủyếu dưới dạng vật thể có hình khối, có chiều cao, chiều rộng, trọng lượng, đường nét,màu sắc, kiểu dáng tồn tại trong không gian và thời gian xác định DSVH vật thể đượctạo tác từ bàn tay khéo léo của con người, để lại dấu ấn lịch sử rõ rệt Văn hóa vật thểđược khách thể hóa và tồn tại như một thực thể ngoài bản thân con người DSVH vậtthể luôn chịu sự thách thức của quy luật bào mòn của thời gian, trong sự tác động củacon người thời đại sau DSVH vật thể luôn đứng trước nguy cơ biến dạng hoặc thayđổi rất nhiều so với nguyên gốc Hiện nay, vấn đề bảo tồn những DSVH vật thể lâu đờiđòi hỏi công nghệ kỹ thuật cao mới có thể phục nguyên lại như cũ

- Di sản “văn hóa phi vật thể” (intangible culture) là dạng thức tồn tại của vănhóa không phải chủ yếu dưới dạng vật thể có hình khối trong không gian và thời gian,

mà nó tiềm ẩn trong trí nhớ, ký ức cộng đồng, tập tính, hành vi ứng xử của con người

và thông qua các hoạt động sống của con người trong sản xuất, giao tiếp xã hội mà thểhiện ra Từ đó người ta có thể nhận biết được sự tồn tại của “văn hóa phi vật thể” Đặctrưng rõ nhất của “văn hóa phi vật thể” là nó luôn tiềm ẩn trong tâm thức của một cộngđồng xã hội và chỉ bộc lộ ra qua hành vi và hoạt động của con người “Văn hóa phi vậtthể” được lưu giữ trong thế giới tinh thần của con người và thông qua các hình thứcdiễn xướng, nó được bộc lộ sinh động trong tư cách một hiện tượng văn hóa “Di sản

“văn hóa phi vật thể” còn được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt trithức, kỹ năng và kèm theo đó là các công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian vănhóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm và một số trường hợp là các cá nhân,công nhận là một phần di sản văn hóa của họ Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 17

lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua

đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của conngười”

Cũng giống như DSVH vật thể, các hiện tượng văn hóa phi vật thể cũng có thể bịmai một, biến dạng, hoặc mất đi vĩnh viễn bởi thử thách của thời gian, bởi sự vô ý thứccủa con người Trong thực tế, người ta thường có xu hướng thêm bớt hoặc lãng quêntrong quá trình lưu giữ những giá trị phi vật thể Cho nên, văn hóa phi vật thể vừa cótính bền vững (trong ký ức của cộng đồng) lại vừa mang tính mong manh, dễ bị tổnthương (phụ thuộc vào cuộc sống của một cá nhân - nghệ nhân với những may rủi bấtngờ) Hơn nữa, văn hóa phi vật thể còn có nguy cơ biến dạng rất cao bởi tính dị bảncủa nó do sự can thiệp của các nhóm xã hội qua các thời đại

1.2 Quan điểm về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa

Theo từ điển Tiếng Việt: “bảo tồn là giữ lại không để cho mất đi”, còn “phát huy

là làm cho cái hay, cái tốt tỏa sáng tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm”

Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thức vốn

có của nó Bảo tồn là không để mai một, “không để bị thay đổi, biến hóa hay biếnthái” Như vậy, trong nội hàm của thuật ngữ này, có khái niệm “cải biến”, “nâng cao”hoặc “phát triển” Hơn nữa, khi nói đối tượng bảo tồn “phải được nhìn là tinh hoa”,chúng ta đã khẳng định giá trị đích thực và khả năng tồn tại theo thời gian, dưới nhiềuthể trạng và hình thức khác nhau của đối tượng được bảo tồn

Đối tượng bảo tồn (tức là các giá trị DSVH vật thể và phi vật thể) cần thỏa mãnhai điều kiện:

- Một là, nó phải được nhìn là tinh hoa, là một “giá trị” đích thực được thừanhận minh bạch, không có gì phải hồ nghi hay bàn cãi

- Hai là, nó phải hàm chứa khả năng, chí ít là tiềm năng, đứng vững lâu dài (tức

là có giá trị lâu dài, có thể “trơ gan cùng tuế nguyệt”) trước những biến đổi tất yếu vềđời sống vật chất và tinh thần của con người, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH hiện nay với chính sách mở cửa và bối cảnh nền kinh tế thị trường và quá trìnhtoàn cầu hóa đang diễn ra cực kỳ sôi động

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 18

Bảo tồn nguyên vẹn (bảo tồn trong dạng “tĩnh”)

- Bảo tồn nguyên vẹn văn hóa vật thể ở dang “tĩnh” là vận dụng thành quả khoahọc kỹ thuật công nghệ cao, hiện đại đảm bảo giữ nguyên trạng hiện vật như sự vốn có

về kích thước, vị trí, đường nét màu sắc, kiểu dáng Khi cần phục nguyên các di sảnvăn hóa vật thể cần sử dụng hiệu quả các phương tiện kỹ thuật như: đồ họa kỹ thuật vitính công nghệ 3D theo không gian ba chiều; chụp ảnh; băng hình video; xác địnhtrong lượng, thành phần chất liệu của di sản văn hóa vật thể Sau khi tiến hành bảo tồnnguyên vẹn, phải so sánh đối chiếu số liệu với nguyên mẫu đã được lưu giữ chi tiết đểkhông làm biến dạng di sản văn hóa vật thể

- Bảo tồn văn hóa phi vật thể ở dạng “tĩnh” là tiến hành điều tra sưu tầm, thuthập các dạng thức văn hóa phi vật thể như nó hiện có theo quy trình khoa học nghiêmtúc chặt chẽ, “giữ” chúng trong sách vở, các ghi chép, mô tả bằng băng hình (video),băng tiếng (audio), ảnh Tất cả các hiện tượng văn hóa phi vật thể này có thể lưu giữtrong các kho lưu trữ, các viện bảo tàng

Bảo tồn trên cơ sở kế thừa (bảo tồn trong dạng “động”)

- Bảo tồn “động”, tức là bảo tồn các hiện tượng văn hóa trên cơ sở kế thừa Các

di sản văn hóa vật thể sẽ được bảo tồn trên tinh thần giữ gìn những nét cơ bản của ditích, cố gắng phục chế lại nguyên trạng di sản văn hóa vật thể bằng nhiều kỹ thuậtcông nghệ hiện đại Đối với các di sản văn hóa phi vật thể, bảo tồn “động” trên cơ sở

kế thừa là bảo tồn các hiện tượng văn hóa đó ngay chính trong đời sống cộng đồng.Bởi lẽ, cộng đồng không những là môi trường sản sinh ra các hiện tượng văn hóa phivật thể mà còn là nơi tốt nhất để giữ gìn, bảo vệ, làm giàu và phát huy văn hóa phi vậtthể trong đời sống xã hội theo thời gian Các hiện tượng văn hóa phi vật thể tồn tạitrong ký ức cộng đồng, nương náu trong tiếng nói, trong các hình thức diễn xướng,trong các nghi lễ, nghi thức, quy ước dân gian

Văn hóa phi vật thể luôn tiềm ẩn trong tâm thức và trí nhớ của con người màchúng ta thường mệnh danh họ là những nghệ nhân hay là những Báu vật nhân vănsống Do đó bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể còn đồng nghĩa với

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 19

thể, để họ sống lâu, sống khỏe mạnh, phát huy được khả năng của họ trong quá trìnhbảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Cần phải phục hồi các giá trị vănhóa phi vật thể một cách khách quan, sáng suốt, tin cậy, chứ không thể chủ quan tùytiện Tất cả những giá trị văn hóa phi vật thể phải được kiểm chứng qua nhiều phươngpháp nghiên cứu có tính chất chuyên môn cao, có giá trị thực chứng, thuyết phụcthông qua các dự án điều tra, sưu tầm bảo quản, biên dịch và xuất bản các dấu tíchDSVH phi vật thể.

Bảo tồn theo quan điểm phục hồi nguyên dạng DSVH phi vật thể chính là mongmuốn “lý tưởng” nhất, hoàn hảo nhất Nếu không thể bảo tồn nguyên dạng thì phải bảotồn theo hiện dạng đang có Bởi theo quy luật của thời gian thì các DSVH phi vật thểngày càng có xu hướng xa dần nguyên gốc Do vậy, nếu không thể khôi phục đượcnguyên gốc thì bảo tồn hiện dạng là điều cần phải thực hiện và có ý nghĩa khả thi nhất.Tuy nhiên, hiện dạng phải có mối liên hệ chặt chẽ với nguyên dạng Theo đó, cầnxác định rõ thời điểm bảo tồn để sau này khi có thêm tư liệu tin cậy thì sẽ tiếp tục phụcnguyên ở dạng gốc DSVH

1.3 Kinh nghiệm về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc của một số nước Châu Á

* Xác định DSVH như là tài sản văn hoá

DSVH là bộ phận cơ bản và trọng yếu trong nền văn hóa của mỗi dân tộc, là cốtlõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Trongquá trình toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, nhiều quốc gia châu Áđều phải xử lý mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thốngtrước sự tác động mạnh mẽ của văn hoá phương Tây Nhật Bản,Trung Quốc, HànQuốc là những nước có nhiều thành công trong việc giải quyết mối quan hệ này

Việt Nam và Nhật Bản là hai quốc gia có hung một hằng số cho lịch sử pháttriển văn hoá dân tộc Đó là nền văn minh lúa nước.Trước thế kỷ XIX, cả hai nước đềuchịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Trung Hoa, cùng với Triều Tiên là những nước

“đồng văn” Trong lịch sử, khi tiếp xúc với văn minh phương Tây, mỗi nước lại chọnnhững giải pháp khác nhau, đưa đến cách ứng xử khác nhau đối với DSVH dân tộc

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 20

Trong giai đoạn hiện nay, bối cảnh thế giới đã có nhiều thay đổi, văn hoá các dân tộc

có sự gần gũi hơn trong một định hướng chung cho sự phát triển Do vậy, mô hình bảotồn và phát huy văn hoá dân tộc của Nhật Bản qua hơn một thế kỷ mở cửa với phươngTây có nhiều bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham khảo

Khi tiến hành mở cửa với phương Tây, Nhật Bản vẫn là một quốc gia lạc hậuhàng thế kỷ so với các nước đã công nghiệp hoá Với điều kiện như vây, người Nhật

đã huy động mọi tiềm năng sức mạnh dân tộc để phát triển đất nước Những giá trị vănhoá truyền thống đã trở thành lực cố kết sức mạnh của toàn dân tộc cho mục tiêu hiệnđại hoá đất nước DSVH đã được người Nhật quan niệm và đối xử như một tài sản đặcbiệt quan trọng - tài sản văn hoá Ở thời kỳ đầu, những thành tựu của văn minhphương Tây đã hấp dẫn người Nhật, khuynh hướng Tây hoá ồ ạt đã làm cho không ítthành tựu văn hoá truyền thống bị mai một Cũng trong giai đoạn này, Nhật Bản đãphá huỷ nhiều công trình kiến trúc lịch sử và chùa chiền liên quan đến Phật giáo vànghệ thuật truyền thống Hiện tượng này chấm dứt khi đạo luật về bảo tồn di sản vănhoá ra đời năm 1897 Kể từ đấy, các yếu tố bản địa được phục hồi với tất cả vẻ đẹpđộc đáo của nó trong một định hướng giá trị mới, biểu tượng cho tinh hoa dân tộc Đốivới Nhật Bản, quan niệm di sản văn hoá là tài sản văn hoá không chỉ dừng lại ở nhậnthức mà còn được cụ thể hoá trong những đạo luật, chính sách văn hoá, nổi bật nhất là

Bộ luật bảo tồn các tài sản văn hoá được ban hành vào những năm 80 của thế kỷ trước

Bộ luật ra đời nhằm thực hiện bảo tồn di sản văn hoá trên cơ sở xác lập quyền sở hữu

và bảo trợ của nhà nước Trong đó, Bộ luật quy định rõ, mọi tài sản văn hoá đều thuộcquyền sở hữu của các công dân, các cơ quan sự vụ, các tổ chức chính phủ và phi chínhphủ Quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với tài sản văn hoá bao gồm quyền chiếm hữu,quyền sử dụng và quyền định đoạt Việc công nhận quyền của các chủ sở hữu đượcđảm bảo bằng một “Giấy chứng nhận” do Bộ trưởng Bộ Giáo dục cấp Bộ luật cũngquy định rõ, chính phủ và các cấp chính quyền địa phương phải tôn trọng quyền củacác chủ sở hữu và quyền sở hữu của những người hữu quan Như vậy, từ một kháiniệm triết học (di sản văn hoá), các vật thể mang các giá trị văn hoá được gọi là tài sảnvăn hoá (thuật ngữ luật học) có thể sở hữu Khi di sản văn hoá được công nhận là tài

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 21

chỉ có thực hiện tốt khi nó thuộc quyền sở hữu của một chủ thể cụ thể nào đó Nếuchưa được pháp luật công nhận, các di sản đó luôn phải đứng trước nguy cơ bị thấtthoát, mai một làm tổn hại đến vốn tài sản văn hoá dân tộc, một hiện tượng đã xảy raphổ biến ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam Không những được coi là tài sản vănhoá, DSVH còn được xác định là một thứ văn hoá đặc biệt, thuộc về những chủ sở hữu

cụ thể nhưng giá trị của nó luôn là tài sản quốc gia Khoản 2 điều 4 của Bộ luật quyđịnh: “Các chủ sở hữu tài sản văn hoá cùng những người hữu quan sẽ chịu trách nhiệmbảo quản chúng một cách tốt nhất và khai thác các giá trị văn hoá của chúng với một ýthức đầy đủ rằng: đó là những tài sản quý báu của quốc gia”

1.4 Những vấn đề cơ bản về du lịch văn hóa

1.4.1 Khái niệm du lịch văn hóa

Theo Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) định nghĩa du lịch văn hóa là loạihình du lịch với động cơ chủ yếu là văn hóa, khách du lịch tham gia vào các tournghiên cứu, nghệ thuật biểu diễn, các tour văn hóa, du lịch tới các lễ hội và các sự kiệnvăn hóa khác, thăm các di tích và di chỉ, du lịch nghiên cứu nghệ thuật dân gian vàhành hương Theo nghĩa rộng hơn, DLVH được định nghĩa là toàn bộ những hoạtđộng của con người vì chúng thỏa mãn nhu cầu cần sự đa dạng, có xu hướng nâng tầmvăn hóa của cá nhân và làm đầy lên kiến thức, kinh nghiệm và dẫn đến những cuộcgặp gỡ mới (Pederson, 2002)

Theo Luật Du lịch Việt Nam, du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bảnsắc văn hoá dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy cá giá trịvăn hoá truyền thống Khi nói đến hoạt động du lịch văn hóa, người ta thường nghĩđến các nguồn tài nguyên du lịch nhân văn có thể được lôi cuốn vào việc sử dụng chomục đích du lịch và thoả mãn những nhu cầu của khách du lịch Du lịch văn hóa chútrọng nhiều đến yếu tố con người, tài nguyên nhân văn và những nét độc đáo về vănhóa Theo công ước quốc tế về du lịch văn hóa cho rằng du lịch văn hóa tạo cơ hội chomỗi con người được trải nghiệm những gì quá khứ còn để lại, là động lực tích cực choviệc bảo vệ di sản văn hóa (ICOMOS :1999)

Du lịch văn hóa là một hình thức đặc biệt của du lịch, có liên quan đến văn hóaĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 22

của cộng đồng bản địa, lối sống của người dân, lịch sử, nghệ thuật, kiến trúc, tôn giáotại nơi đó, du lịch văn hóa đóng một vai trò quan trọng trong phát triển ở khu vực,quốc gia đó (OECD,2009) Du lịch văn hóa tăng cường nhận thức của các cá nhân về

sự đa dạng văn hóa, thêm hiểu biết mới về các quốc gia và nền văn hóa, có thêm kiếnthức mới về bằng chứng văn hóa có giá trị nghệ thuật cao (Muntean và cộng sự, 2012).Thông qua hoạt động tìm hiểu và khám phá, du khách hiểu thêm về những giá trị luônđược bảo vệ và gìn giữ cho các thế hệ tương lai

Du lịch văn hóa giúp khách du lịch thỏa mãn nhu cầu du lịch văn hóa Khách dulịch khi tiếp cận với các di sản văn hóa sẽ gây ra những ảnh hưởng không nhỏ đến hệsinh thái, văn hóa và lối sống của cộng đồng Cũng giống như các loại hình du lịchkhác, du lịch văn hóa có tác động đến môi trường và kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh

tế, nâng cao thu nhập từ du lịch của người dân địa phương thông qua việc tiêu dùngcủa du khách

Điều kiện quan trọng để phát triển DLVH là các tài nguyên du lịch nhân văn,

du khách khi tham gia loại hình du lịch văn hóa sẽ thu thập kiến thức về các giá trị vănhóa, tích lũy kinh nghiệm để thỏa mãn nhu cầu du lịch của mình (Leask 2012) Đặcbiệt các di sản văn hóa thường có được sự quan tâm của khách du lịch khi tham gia cáchành trình du lịch văn hóa DSVH tượng trưng cho các công trình tổng hợp do conngười tạo ra gắn liền với sự hình thành phát triển của nhân loại dưới những ảnh hưởngcủa môi trường tự nhiên và xã hội (Myra L Shackley, 2000) "DSVH vật thể vàDSVH phi vật thể là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa họcđược lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam” [Luật Di sản, 2009] Du lịch di sản văn hóa là một hình thức đặc biệt của

du lịch văn hóa, góp phần vào việc phát hiện ra sự đa dạng văn hóa trên thế giới

1.4.2 Khái niệm du lịch di sản văn hóa

Di sản văn hóa khi kết hợp với du lịch trở thành thành phần thúc đẩy du lịchphát triển Di sản văn hóa là nguồn tài nguyên vô giá cho bất kỳ quốc gia nào, đóngvai trò vô cùng to lớn trong việc thu hút khách du lịch Sức hấp dẫn của các di sản văn

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 23

Những sản phẩm du lịch độc đáo được tạo ra nhằm khuyến khích du khách đến với các

di sản (Wei Hu, 2011) Do đó, nếu không có các di sản văn hóa thì du lịch sẽ khôngtồn tại Các di sản văn hóa với các giá trị đặc sắc được UNESCO công nhận trở thànhyếu tố quan trọng trong phát triển du lịch của điểm đến Các di sản văn hóa thế giới lànhững điểm tham quan được du khách lựa chọn trong chuyến đi của mình Để khách

du lịch tham gia vào các chuyến đi tham quan các di sản văn hóa, cần có sự tham giacủa các bên như chính quyền địa phương nơi có di sản, các tổ chức phi chính phủ, cáccông ty du lịch chuyên tổ chức tour và cộng đồng cư dân địa phương Theo ICOMOS,trong quá trình khai thác các di sản, sự tham gia và hợp tác giữa các cộng đồng địaphương hoặc bản địa đại diện, các nhà bảo tồn, các điều hành viên du lịch, chủ sở hữutài sản, các nhà hoạch định chính sách, các nhà làm kế hoạch phát triển quốc gia và cácnhà quản lý di tích là cần thiết để thực hiện 3 được một ngành kinh doanh du lịch bềnvững và nâng cao việc bảo vệ các nguồn lực của di sản cho các thế hệ tương lai Vìthế, cần đảm bảo bảo tồn và tôn tạo các di sản, duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa đểphát triển hoạt động du lịch trong tương lai, cho công tác bảo vệ môi trường và gópphần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương

Du lịch di sản văn hóa trải nghiệm những địa điểm và những hoạt động đíchthực đại diện cho những câu chuyện và con người của quá khứ và hiện tại bao gồm tàinguyên lịch sử, văn hóa và tự nhiên Phát triển du lịch di sản văn hóa giúp bảo vệ khobáu thiên nhiên và văn hóa của đất nước và nâng cao chất lượng cuộc sống cho ngườidân cũng như du khách Liên kết du lịch với di sản và văn hóa có thể đem đến lợi íchcao hơn cho nền kinh tế địa phương hơn là thúc đẩy chúng một cách riêng biệt(Shilling, 2000) Du lịch cùng với văn hóa và di sản sẽ đem lại sự bền vững về kinh tếkhi nhận được lợi ích từ di sản (Theo Quỹ bảo tồn di sản quốc gia Mỹ) Lợi ích lớnnhất từ du lịch di sản là tạo cơ hội gia tăng sự phát triển kinh tế của địa phương, tạo sựphát triển thịnh vượng nhưng vẫn giữ nguyên những đặc điểm của cộng đồng Vì thếcộng đồng cần chú trọng đến việc giữ gìn và bảo tồn di sản

Nhìn chung các khái niệm về di sản văn hóa văn hóa đều có sự thống nhất trênquan điểm về nội dung đề cập là: bản sắc văn hóa, trách nhiệm và lợi ích của cộngđồng, bảo vệ di sản và phát triển bền vững, tuy nhiên còn đề cập chung chung và chưa

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 24

Để du lịch di sản văn hóa trở thành thế mạnh, là tiềm năng cho hoạt động pháttriển du lịch của điểm đến cần chú trọng đến quá trình khai thác các di sản văn hóa đặcsắc.

1.4.3 Mối quan hệ giữa du lịch và di sản văn hóa

Phát huy và bảo tồn các DSVH là hai mặt của một thể thống nhất, có tác độngtương hỗ lẫn nhau trong quá trình phát triển của mỗi xã hội mà văn hóa được xem lànền tảng Việc phát huy di sản sẽ có tác dụng làm tăng ý thức, trước hết là của mỗithành viên trong cộng đồng dân tộc và của bè bạn quốc tế đối với trách nhiệm bảo tồncác di sản Ngược lại việc bảo tồn sẽ là cơ sở và tạo ra cơ hội có được các giá trị vănhóa để tự hào, để giới thiệu với các dân tộc khác, các quốc gia khác trên thế giới

Du lịch là một ngành kinh tế có định hướng tài nguyên một cách rõ rệt, hay nóimột cách khác du lịch chỉ có thể phát triển trên cơ sở khai thác các giá trị tài nguyên

du lịch Đứng từ góc độ này, các giá trị văn hóa được xem là dạng tài nguyên du lịch

để khai thác tạo ra các sản phẩm du lịch hấp dẫn, khác biệt và có khả năng cạnh tranhkhông chỉ giữa các vùng miền, các địa phương trong nước mà còn giữa Việt Nam vớicác nước trong khu vực và quốc tế

Có nhiều phương thức tiếp cận để phát huy các giá trị văn hóa, tuy nhiên du lịchđược xem là phương thức phát huy có hiệu quả nhất, đặc biệt đối với bạn bè quốc tế.Không phải ngẫu nhiên du lịch được xem là “cầu nối” giữa các dân tộc, giữa các nềnvăn hóa trên thế giới Qua hoạt động hướng dẫn du lịch, du khách có cơ hội không chỉđược được tận mắt nhìn thấy trong thực tế, mà còn được hiểu về giá trị các di sản vănhóa nơi mình đến du lịch Nhiều giá trị văn hóa chỉ có thể cảm nhận được trong nhữngkhung cảnh thực của tự nhiên, của nếp sống truyền thống cộng đồng mà không thể cóphim ảnh, diễn xuất nào có thể chuyển tải được Và chỉ có du lịch mới có thể đem lạicho du khách những trải nghiệm đặc biệt, sống động

Công tác bảo tồn các giá trị văn hoá đòi hỏi có kinh phí cho hoạt động thu thập,nghiên cứu di sản; bảo vệ, tu sửa, tôn tạo, bên cạnh những yêu cầu về kinh nghiệm, vềđội ngũ, về trình độ khoa học công nghệ trong lĩnh vực bảo tồn Nguồn kinh phí dành

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 25

công tác bảo tồn văn hoá Trong bối cảnh trên, nguồn thu từ du lịch sẽ là đóng gópquan trọng cho hoạt động bảo tồn của chính những giá trị văn hoá.

Như vậy có thể thấy mối quan hệ tương hỗ mật thiết giữa bảo tồn với phát huy disản văn hóa và giữa bảo tồn, phát huy di sản với hoạt động phát triển du lịch Đây lànhững mối quan hệ biện chứng cần được nhìn nhận một cách khách quan và đầy đủ đểxây dựng định hướng khai thác có hiệu quả các gía trị di sản văn hóa phục vụ pháttriển du lịch và xây dựng các chính sách phù hợp để du lịch có thể có những đóng góptích cực và trách nhiệm nhất cho hoạt động bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa

1.5 Giá trị di sản văn hóa

Giá trị di sản văn hóa được hiểu là khoảng tiền lớn nhất mà một người sẵn sàngchi trả để có cơ hội thỏa mãn du lịch về những di sản văn hóa đó Giá trị di sản vănhóa đem lại lợi ích cho công đồng địa phương, giúp cho người dân địa phương cơ hộiphát triển du lịch Đem lại nguồn thu nhập cho người dân địa phương

Giá trị di sản văn hóa bao gồm hai giá trị : Giá trị “sử dụng” và Giá trị “không

sử dụng” Giá trị “sử dụng” của di sản văn hóa mà một người nhận lấy được tính bằngkhoảng tiền lớn nhất mà người này sẵn sàng chi trả để có cơ thỏa mãn du lịch về di sảnvăn hóa này Giá trị “không sử dụng” của di sản văn hóa mà một người (chưa từngđược thưởng thức di sản văn hóa) nhận lấy được tính bằng khoảng tiền lớn nhất màngười này sẵn sàng chi ra với mục đích đảm bảo rằng di sản văn hóa này được bảo tồn

và phát huy Giá trị này bao gồm giá trị vị tha (sẵn sàng đóng góp bảo tồn vì mục đíchchung), giá trị lựa chọn (có thể thưởng thức trong tương lai), giá trị thừa kế (bảo tồn vìthế hệ tương lai), giá trị tồn tại (bảo tồn chỉ vì di sản đó tồn tại)

Giá trị di sản văn hóa có vai trò quan trọng đối với việc du khách đưa ra quyếtđịnh du lịch nơi đây Thông thường để đưa ra quyết định đầu tư bảo tồn di sản văn hóahay không, các tổ chức chính phủ, phi chính phủ, các nhà đầu tư hay các du khách sẽdựa vào sự phân tích chi phí - lợi ích bằng cách sử dụng định giá phi thị trường, đây làphương pháp có thể chỉ ra rằng một khoảng đầu tư cụ thể vào một di sản văn hóa sẽđem lại mặt tích cực hoặc tiêu cực về lợi ích (khi lợi ích lớn hoặc nhỏ hơn chi phí).Thật sự đó là một chuỗi thông tin rất hữu dụng đối với người ra quyết định, là một căn

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 26

cứ mạnh mẽ cho sự thuyết phục mọi người tài trợ cho dự án bảo tồn di sản văn hóa.Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào đó thì vẫn không đủ để đưa ra quyết định Có thể cónhững lý do tốt để đầu tư vào di sản mang lợi ích công cộng mặc dù nó không tạo ralợi ích kinh tế Nhiều tổ chức đã chấp nhận đầu tư bảo tồn nhiều di sản văn hóa để tất

cả mọi người trong xã hội đều có thể thưởng thức nó, mặc dù các thành viên đó có khảnăng sẵn sàng chi trả thấp vì nguồn lực hạn chế của họ Cũng có một số loại di sản vănhoá nhất định được bảo tồn ngay cả khi thị hiếu của thế hệ hiện tại không ủng hộ Cuốicùng, Có nhiều di sản văn hóa khiến xã hội cảm thấy bị bắt buộc phải bảo tồn vì nghĩa

vụ và mục đích đạo đức, bất kể sở thích của dân chúng nói chung Mặc dù vậy, thôngtin về sở thích của dân cư đó chỉ có thể cải thiện việc ra quyết định

Sự sẵn có của các kĩ thuật đo lường giá trị của di sản văn hóa không phải là một

sự thay thế cho các ý kiến, phân tích của chuyên gia Chuyên gia đóng vai trò quantrọng trong việc định hình các quyết định, xác định những lựa chọn (di sản văn hóa) vềthời gian và không gian Cộng đồng nói chung đánh giá giá trị của di sản văn hóa trongbối cảnh mà họ biết Tầm quan trọng tương đối của các di sản khác nhau được nhậnbiết từ giá trị cộng đồng và sở thích cộng đồng Người ra quyết định (người đầu tư/dukhách) sẽ xem xét cả đánh giá của chuyên gia lẫn sở thích của cộng đồng như là mộtthông tin hợp lệ khi đưa ra những quyết định về di sản văn hóa

1.6 Mô hình nghiên cứu

Xét về mặt lý luận và ý nghĩa cũng như sự phù hợp với mục tiêu, đối tượng vàlĩnh vực nghiên cứu nên tôi quyết định vận dụng mô hình nghiên cứu của JohnArmbrecht về giá trị cảm nhận di sản văn hóa làm mô hình nghiên cứu cho bài nghiêncứu của mình Mô hình nghiên cứu này đã chỉ ra 5 nhân tố tác động đến giá trị cảmnhận di sản văn hóa, bao gồm: giá trị cảm nhận hình ảnh, giá trị cảm nhận kỹ năngkiến thức, giá trị cảm nhận sức khỏe tinh thần, giá trị cảm nhận bản sắc, giá trị cảmnhận xã hội, giá trị cảm nhận phát triển kinh tế

- Giá trị cảm nhận hình ảnh: Nó được giả định rằng các tổ chức văn hóa có ảnhhưởng tích cực đến hình ảnh nhận thức của một điểm đến Một hình ảnh đẹp, lần lượt,

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 27

thấy được sự đóng góp của một tổ chức văn hóa trong việc thu hút và hình ảnh nhậnthức của một địa điểm.

- Giá trị cảm nhận kỹ năng kiến thức: các tổ chức văn hóa cung cấp một nền giáodục nghệ thuật, chúng còn truyền tải các kỹ năng và kiến thức Hơn nữa, những tổchức văn hóa này truyền đạt các kỹ năng mà khó có thể nơi nào có được

- Giá trị cảm nhận sức khỏe tinh thần: Nghiên cứu đã chỉ ra rằng sức khỏe tinhthần và thể chất có liên quan đến nhau Bởi vì các cá nhân có thể nhận thức rằng nó

khó để đánh giá sức khỏe thể chất liên quan đến các tổ chức văn hóa, các măt hàng

được tập trung chủ yếu vào sức khỏe tinh thần của các cá nhân

- Giá trị cảm nhận bản sắc: Bản sắc văn hóa là thiêng liêng, quý giá, nó tạo nêncái đặc thù của một dân tộc Nó được hình thành trong lịch sử lâu dài của một dân tộc,được đúc kết từ kinh nghiệm sống, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, gắn bó máu thịtvới con người

- Giá trị cảm nhận xã hội: Các tổ chức văn hóa cung cấp một không gian côngcộng nhằm tạo điều kiện gặp mặt giữa các cá nhân Sự tương tác xã hội và các cuộcgặp mặt đó ảnh hưởng đến mối liên kết xã hội giữa các cá nhân và các tổ chức

- Giá trị cảm nhận phát triển kinh tế: các tổ chức di sản văn hóa có ảnh hưởngmột cách tích cực đến kinh tế địa phương thông qua du lịch Giúp nền kinh tế du lịchđịa phương phát triển hơn

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 28

Mô hình 2.1 Mô hình phân tích giá trị cảm nhận di sản văn hóa của John

Trang 29

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA

NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI LÀNG PHƯỚC TÍCH

2.1 Tổng quan du lịch trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế 2014-2016

2.1.1 Tiềm năng phát triển du lịch ở Huế

Thừa Thiên Huế nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung Việt Nam, có vịtrí thuận lợi về giao thông, là cửa ngõ hướng ra biển Đông của tuyến Hành lang Kinh

tế Đông - Tây Với địa hình tự nhiên phong phú và đa dạng, Thừa Thiên Huế sở hữunhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử nổi tiếng vịnh Lăng Cô, Vườn quốc giaBạch Mã, núi Ngự Bình, đồi Vọng Cảnh, nhà Vườn Huế, làng cổ Phước Tích, sôngHương, chùa Thiên Mụ, Đại Nội Bên cạnh đó, Huế có những di sản văn hoá thế giớiđược UNESCO công nhận đó là quần thể di tích Cố đô Huế và Nhã nhạc cung đìnhHuế Huế lôi cuốn du khách bởi những giá trị văn hóa đặc sắc khác nhau như thú vuingồi thuyền rồng trên sông Hương để thưởng thức những giai điệu, giọng hò sâu lắng,trữ tình của những cô gái Huế dịu dàng, đằm thắm trong những tà áo dài truyền thốngcủa Việt Nam Vùng đất cố đô còn nổi tiếng với nghệ thuật ẩm thực với nhiều món ănngon và nổi tiếng, các sản phẩm làng nghề thủ công như hoa giấy thanh tiên, nón bàithơ xứ Huế du khách có thể tham gia vào các làng nghề thủ công, tự làm và đem sảnphẩm của mình là lưu niệm Bên cạnh đó còn có nhiều văn hóa khác gắn liền với hơn

500 lễ hội dân gian mang đậm bản sắc dân tộc như lễ hội Cầu Ngư, Điện Hòn Chén,hội đua thuyền sông Hương và đặc biệt là Festival Huế tổ chức định kỳ hai năm mộtlần, hội tụ những nét văn hóa đậm chất Huế nói riêng cũng như Việt Nam và các nướctrên thế giới nói chung, thu hút hàng nghìn lượt khách du lịch trong và ngoài nước đếnHuế

Phát huy lợi thế thành phố của những di sản và lễ hội cùng với nguồn tài nguyênquý giá của du lịch, ngành kinh tế du lịch kết hợp với những tiềm năng khác của tỉnhThừa Thiên Huế đã và đang có những bước phát triển khá toàn diện và bền vững, trởthành một trong những trung tâm văn hóa, du lịch lớn của cả nước, thực hiện sự liênkết về du lịch với các tour du lịch trong tuyến Hành lang kinh tế Đông - Tây với cácđiểm du lịch ở Quảng Bình, Quảng Trị, Đà Nẵng, Quảng Nam, hình thành nên “Con

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 30

đường di sản miền Trung” Dịch vụ du lịch ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấukinh tế của tỉnh, trở thành một trong ba ngành kinh tế mũi nhọn của Thừa Thiên Huế.

2.1.2 Điều kiện thuận lợi và khó khăn của ngành du lịch

2.1.2.1 Thuận lợi phát triển du lịch của Thừa Thiên Huế

- Thừa Thiên Huế có những lợi thế đặc biệt về vị trí địa lý kinh tế và chính trị

để phát triển du lịch Thừa Thiên Huế là tỉnh ở điểm cuối hành lang kinh tế Đông –Tây nối từ Miến Điện - Đông Bắc Thái Lan - Lào - Miền trung Việt Nam Đây là tiền

đề rất quan trọng trong việc phát triển du lịch quốc tế

- Việt Nam nói chung và Thừa Thiên Huế nói riêng có chế độ chính trị ổn định.Người dân xứ Huế thật thà, chất phát và mến khách du lịch

- Huế có nhiều danh lam thắng cảnh đẹp và nổi tiếng Tài nguyên du lịch phongphú và đa dạng Đặc điểm hình thái địa hình vùng ven biển tạo ra nhiều vịnh đẹp cótiềm năng du lịch lớn với hệ sinh thái phong phú và cảnh quan đẹp

- Huế có di sản văn hoá thế giới được UNESCO công nhận đó là quần thể di tích

Cố đô Huế và Nhã nhạc cung đình Huế Đây là yếu tố quan trọng để thu hút khách dulịch trong và ngoài nước đến với vùng đất cố đô

- Chính sách đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho kinh

tế đối ngoại trong đó có phát triển du lịch, thu hút được nhiều nhà đầu tư

- Kết cấu về cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội đã và đang được đầu tư xây dựng mớihoặc nâng cấp tạo điều kiện khai thác tiềm năng du lịch, tăng khả năng giao lưu giữacác vùng, các quốc gia…

- Nguồn nhân lực được đào tạo chuyên môn về dịch vụ du lịch, lữ hành ngàycàng tăng qua các năm

- Số lượng khách sạn, nhà nghỉ nhiều với tiêu chuẩn từ tiêu chuẩn 1 - 5 sao, phục

vụ tối đa nhu cầu lưu trú cho du khách khi đến Huế

- Ẩm thực Huế rất đa dạng và phong phú, với nhiều món ăn ngon và nổi tiếng.ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 31

2.1.2.2 Khó khăn phát triển du lịch ở Thừa Thiên Huế

- Du lịch Thừa Thiên Huế còn thiếu sự liên kết hợp tác, chưa phát huy sức mạnhtổng hợp, hiệu quả còn thấp

- Các di tích lịch sử văn hóa ở Huế chỉ mới khai thác được một phần ở điểm cũ,chưa có thêm các điểm mới; các di tích khác chưa được đầu tư tu bổ để trở thành cácđiểm du lịch hấp dẫn

- Thiếu kinh phí đầu tư, nhiều nhà rường và làng cổ không được trùng tu nênngày càng xuống cấp trầm trọng

- Du lịch biển, đầm phá là thế mạnh nhưng mức độ đầu tư thấp, hệ thống hạ tầnggiao thông kết nối với các điểm tắm biển thiếu đồng bộ, thiếu dịch vụ

- Doanh nghiệp hoạt động du lịch có quy mô nhỏ, thiếu năng lực và kinh phí đầu

tư vào các dịch vụ cao cấp

- Đa phần địa điểm hoạt động du lịch Huế còn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên

là chủ yếu, chưa được khai thác xây dựng theo quy mô lớn

- Vẫn còn nhiều trường hợp người bán chèo kéo, cò mồi, chặt chém khách dulịch Tình trạng ăn xin vẫn còn nhiều, làm cho khách thấy không thoải mái và khônghài lòng khi đến du lịch Huế

- Hoạt động du lịch về đêm chưa phát triển, thiếu các khu vui chơi, giải trí chokhách du lịch

- Huế phải cạnh tranh nhiều địa điểm du lịch tham quan trên cả nước, đặc biệt là

Đà Nẵng Trong khi các tỉnh khác có quy mô địa điểm lớn, phục vụ giải trí cho dukhách thì Huế vẫn còn hạn chế

2.1.3 Thực trạng du lịch ở Thừa Thiên Huế giai đoạn 2014-2016

Với vai trò là thành phố hạt nhân, thành phố động lực cùng với những tiềm năng,thế mạnh của một vùng đất có bề dày lịch sử, văn hóa, một thành phố có cảnh quanđẹp, con người hiếu khách Tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung và thành phố Huế nóiriêng đã có những nỗ lực để phát triển du lịch trên địa bàn Những năm qua ngành dulịch đã gặt hái được nhiều thành công, đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 32

thành phố Huế Tạo thêm được nhiều sản phẩm du lịch đáp ứng được nhu cầu củakhách tham quan Ngoài các di tích ở kinh thành Huế thì các loại hình mới mẻ nhưkhám phá nhà rường, đầm phá, du lịch biển, du lịch làng nghề, du lịch trải nghiệm,…đang dần được đầu tư và mở rộng.

2.1.3.1 Tình hình khách tham quan - du lịch tại Thừa Thiên Huế năm 2014-2016

Bảng 2.1: Tình hình khách tham quan - du lịch tại Thừa Thiên Huế 2014-2016

(Đơn vị: lượt khách)

2014

Năm 2015

Năm 2016

(Nguồn: Sở du lịch Thừa Thiên Huế)

Nhìn chung thì lượng khách tham quan du lịch ở Huế tăng đều qua các năm từnăm 2014-2016, nhưng lượng khách nội địa chiếm tỷ lệ cao hơn so với khách quốc tế.Năm 2014, lượng khách tham quan tại Thừa Thiên Huế là 2.906.755, trong đó có1.007.290 lượng khách quốc tế và 1.899.465 lượng khách nội địa Năm 2015, lượngkhách tham quan tại Thừa Thiên Huế là 3.126.495, trong đó có 1.023.015 lượng kháchquốc tế và 2.103.480 lượng khách nội địa Năm 2016, lượng khách tham quan tại ThừaThiên Huế là 3.258.127, trong đó có 1.052.952 lượng khách quốc tế và 2.205175 lượngkhách nội địa

So với năm 2014 thì năm 2015 tăng 219.740 lượng khách tham quan du lịch,tức là tăng 7,56% Lượng khách quốc tế tăng thêm 15.725, tức là năm 2015 tăng lên1.56% so với năm 2014 Lượng khách nội địa tăng thêm 204.015, tức là năm 2015 tăng lên

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 33

So với năm 2015 thì năm 2016 tăng 131.632 lượng khách tham quan du lịch, tức

là tăng 4,2% Lượng khách quốc tế tăng thêm29.937, tức là năm 2016 tăng lên 2,9% sovới năm 2015 Lượng khách nội địa tăng thêm 101.695, tức là năm 2016 tăng lên 4,8% sovới năm 2015

2.1.3.2 Doanh thu từ hoạt động du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2014-2016

Bảng 2.2: Doanh thu từ hoạt động du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế 2014-2016

(Nguồn: sở du lịch Thừa Thiên Huế)

Từ năm 2014 đến 2016, doanh thu từ hoạt động du lịch tăng dần qua các năm chothấy bước tiến bộ và hướng phát triển đúng đắn về ngành du lịch của tỉnh Thừa ThiênHuế Doanh thu từ hoạt động du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2014 là 2.707.847

tỷ đồng, năm 2015 là 2.985.295 tỷ đồng, năm 2016 là 3.203.823 tỷ đồng

Năm 2015 tăng thêm 277448 triệu đồng so với 2014, tức là tăng 10,2% Năm

2016 tăng thêm 218.528 triệu đồng, tức là tăng 7,3%

2.2 Đánh giá tiềm năng du lịch làng Phước Tích

2.2.1 Điều kiện tự nhiên

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 34

Về địa lý, làng Phước Tích nằm ở vị trí 16°35' độ vĩ Bắc và 107°05' độ kinhĐông, có diện tích khoảng 1km2 Địa thế khá đặc biệt : Sông Ô Lâu bao bọc quanhlàng trừ lối thông ra ngoài tại Cống (Trước đây gọi là Cống ông Khóa Thạo) ở phíachính Bắc và Cầu Phước Tích ở phía Tây - Tây Nam, phía Bắc và Đông Bắc giáp cáclàng Phú Xuân, Mỹ Xuyên, Mỹ Cang, đi về Ưu Điềm (thị trấn - huyện lỵ cũ của huyệnPhong Điền) khoảng 4 km theo hướng Đông Bắc Phía Tây Nam là Làng Mỹ Chánh,chợ và ga Mỹ Chánh, từ ga Mỹ Chánh theo đường sắt vào cố đô Huế là 40 km và theođường Quốc lộ 1 thì từ Cầu Mỹ Chánh ra Quảng Trị là 19 km Phía Nam là làng Hội

Kỳ - nơi có mộ phần ngài Thủy tổ của họ Lê Trọng ở Phước Tích

Làng Phước Tích bao gồm cả Hà Cát xứ ở hữu ngạn sông Ô Lâu dành làm nghĩatrang - nơi để mộ phần của những người quá cố Trong làng có 1 đền văn miếu tồn tạicho đến bây giờ, có những cây cổ thụ tuổi thọ đến trên 600 năm như cây Thị ở "miếuCây Thị" hay cây Bàng trước từ đường họ Hồ, cây Cừa (Si) ở Bến cây Cừa cũng cótuổi thọ khoảng 400 năm Làng không có ruộng nhưng có các nghề để sinh sống là :làm đồ gốm, ép dầu chuồng, buôn bán, nữ công gia chánh, dạy học, làm vườn và làmquan, nay là viên chức nhà nước, giáo viên

2.2.1.2 Địa hình, hệ thống ngòi, ao hồ

Địa hình của Phước Tích nhìn từ trước đến cuối làng trông như cái nan quạt xòe

ra Địa hình tương đối bằng phẳng, với độ cao bình quân 7,8 m so với mặt nước biển,được phù sa của sông Ô Lâu bồi đắp hàng năm Dòng sông ấy được khởi nguồn từnhững khe suối của dãy Trường Sơn hùng vĩ, nguồn sông cao hơn mặt nước biển ướckhoảng 500 mét, chảy ngang qua địa phận Khe Trăng, Khe Trái, Huỳnh Trúc, HuỳnhLiên, thôn Hòa Mỹ, Phong Thu, Mè, Mỹ Xuyên (phía thượng nguồn) rồi chầm chậmchảy qua dãy đá giăng vào địa phận làng Phước Tích, nương theo đôi bờ, uốn lượn,bao quanh từ phía đầu làng nơi có miếu thờ ngài Khai Canh đến tận phía cuối làng nơi

có chùa Phước Bửu Dòng sông trong xanh ấy đã tưới mát cho những vườn quả, hoaviên, nhờ vậy cây trái trong vườn quanh năm tươi tốt Những ngày trời quang mâytạnh, dòng sông Ô Lâu trôi chảy êm đềm, mặt sông trong vắt, in rõ hình núi xanh, mây

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 35

người còn sống tại Cồn Dương đến nỗi buồn khi phải tiễn đưa người mất về với nghĩatrang Hà Cát.

2.2.1.3 Khí hậu

Phước Tích nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình cao.Vào mùa hạ thì những ngày nắng kéo dài, thường kèm theo gió nồm (Đông Bắc), bêncạnh đó cũng chịu ảnh hưởng của gió Lào (Tây Nam) hay còn gọi là gió "phơn" rấtkhô và nóng làm cho nhiệt độ càng tăng cao hơn Dẫn đến thời kỳ khô nắng kéo dàiảnh hưởng trực tiếp đến công việc sản xuất trong làng Vào mùa đông thì nhiệt độthường hạ xuống thấp thất thường do chịu tác động của những đợt áp thấp nhiệt đớidẫn đến mưa lớn kéo dài gây nên bão tố, lũ lụt, xói mòn

Bao quanh Phước Tích là dòng sông Ô Lâu, đây cũng là sự ưu đãi của thiênnhiên dành cho vùng đất này Dòng sông đã mang lại nguồn lợi lớn cho nhân dânPhước Tích từ bao thế kỷ nay Do chịu ảnh hưởng chung của địa hình miền Trung nênsông ngắn, độ dốc chênh lệch lớn, vào mùa nắng nước sông xuống thấp, mùa mưanước dâng lên cao gây lũ lụt Tuy nhiên dòng sông là nơi có nguồn thủy sản, rong rêumang giá trị lớn về mặt kinh tế cũng như đời sống sinh hoạt của cư dân làng

2.2.1.4 Hệ thống giao thông

Phước Tích có nhiều thuận lợi về đường thủy lẫn đường bộ Dòng Ô Lâu và chinhánh của nó chảy xuyên qua hầu hết địa phận cư trú của các làng từ Phước Tích, PhúXuân, Mỹ Xuyên đến Ưu Điềm Đây là con đường giao thông đường thủy quan trọngvào bậc nhất không riêng gì đối với làng mà cả đối với nhân dân các xã trong vùng TừPhước Tích người dân có thể sử dụng thuyền để lên rừng khai thác lâm thổ sản, ra đầmphá đến cửa biển vào Thanh Hà - Phú Xuân - Huế để giao lưu kinh tế, văn hóa

Phước Tích cách quốc lộ 1A khoảng 2km nằm trên đường quốc lộ 49B có vị tríthuận lợi cho việc đi lại vận chuyển, khai thác nguyên vật liệu, lưu thông hàng hóa, dễdàng cho việc đón nhận, tiếp xúc những luồn văn hóa, tư tưởng từ nơi khác tới

Với vị trí giao thông thuận lợi Phước Tích ngày càng được mở rộng và hoànchỉnh thêm, góp phần thích đáng cho sự giao lưu kinh tế - văn hóa - xã hội Có điềukiện tự nhiên thuận lợi như vậy tạo cho Phước Tích có nhiều ưu thế dễ phát triển một

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 36

nền kinh tế toàn diện, tác động đến quá trình định cư lập nghiệp, phát triển kinh tế củamỗi người dân ngay từ buổi đầu.

Tuy nhiên với địa hình sông Ô Lâu bao quanh cho Phước Tích bị bó lại trongmột tổng thể không thể thoát ra được, đất đai không có khả năng mở rộng ra được, sựgiao lưu bên ngoài bị hạn chế, người dân có cuộc sống khép kín, hướng nội

2.2.2 Tài nguyên du lịch văn hóa truyền thống của làng Phước Tích

2.2.2.1 Không gian kiến trúc

Làng cổ Phước Tích đẹp như là một bức tranh cổ Những ngôi nhà rường cổ kínhbên dòng sông trong xanh, hiền hòa, mát dịu cùng với cuộc sống thanh bình của mộtmiền quê yên ả, gần gũi, thân thiện là sự kết hợp hài hòa giữa thiên nhiên, trời đất vàcon người

Hệ thống đường sá, cây xanh nối liền với nhau một cách tự nhiên và sinh độngcủa một vùng sinh thái độc đáo, kết hợp hài hòa giữa trời, đất và con người Cấu trúc

và tổ chức không gian làng Phước Tích có thể được coi là điển hình cho mô hình cưtrú nơi thôn quê của người Việt ở vùng Bắc Trung Bộ Đó là cấu trúc mở với nhữngcăn nhà trong vườn, nhà vườn Ở Phước Tích, quỹ kiến trúc cổ và cũ, song cảnh quan

và vườn được bao quanh thì lại rất trẻ và tràn đầy sức sống

Nét đặc trưng chủ yếu và cũng là nét đặc sắc nhất trong kiến trúc của làng PhướcTích là không gian kiến trúc của các nhà vườn truyền thống Trong tổng số 117 ngôinhà của làng, hiện còn tới 27 ngôi nhà cổ, đa số là nhà rường 3 gian hai chái và 10 nhàthờ họ cổ Trong đó có 12 nhà rường của các gia đình được xếp vào loại có giá trị đặcbiệt Điều lí thú là các ngôi nhà rường cổ ở Phước Tích liên kết với nhau, chỉ cáchnhau một khu vườn rộng với những hàng chè tàu xanh, thẳng Điều lý thú là nhữngngôi nhà rường ở Phước Tích không ngăn cách bằng hàng rào xây gạch và có cổng màchỉ cách nhau một khu vườn rộng với những hàng rào hở bằng cây chè tàu xanh mướtđược cắt tỉa gọn gàng, uốn lượn theo trục đường làng, ngõ xóm và lối đi vào cổng nhàtạo nên sự hấp dẫn kỳ lạ hòa quyện với cảnh quan thiên nhiên Bên trong những ngôinhà rường cổ là hệ thống kiến trúc gỗ tinh tế, hệ thống vì kèo, xà, cửa, hoành phi, câu

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 37

lưỡng, tinh xảo không thua kém gì các kiến trúc gỗ ở Hoàng cung triều Nguyễn đã trởthành bảo tàng của từng gia đình dòng họ.

Ngoài những ngôi nhà rường, làng còn có hàng chục công trình thờ tự mang đậmnét tâm linh của cư dân làng cổ tiêu biểu của Việt Nam Tiêu biểu trong số đó là Miếu

Bà hay miếu Cây Thị, một ngôi miếu nổi tiếng linh thiêng của làng Tên gọi của miếubắt nguồn từ việc bên cạnh miếu có một cây thị cổ thụ, tương truyền đã một nghìn nămtuổi Một công trình đáng chú ý khác là miếu Đôi độc đáo nằm ở đầu làng Đây là haingôi miếu giống hệt nhau, bên tả thờ Đào Nghệ (Bổn Nghệ), bên hữu thờ Khai Canh,hai ông tổ nghề gốm của làng Ngoài ra còn nhiều công trình giá trị như đình làngTrung, chùa Phước Bửu, miếu Cây Thị, miếu Ðôi, miếu Quang Tế, miếu Âm hồn, ConCọp, Bà Giang, đền Văn Thánh và nhiều lăng mộ của ông tổ các dòng họ

2.2.2.2 Làng nghề truyền thống

Bên cạnh những di sản kiến trúc độc đáo, làng cổ Phước Tích còn nổi tiếng vềnghề làm gốm truyền thống đặc sắc Nghề gốm của làng được lưu danh sử sách vớimột sản phẩm đặc biệt được sản xuất để hàng tháng cống nạp cho các triều đại vuachúa nhà Nguyễn, đó là: “om ngự”, một loại om đất được làm riêng dành để nấu cơm

từ gạo An Cựu cho vua ăn

Sản phẩm truyền thống “độc Phước Tích” có lu (chum), ghè, thạp, thống, om(niêu), bùng binh (ống tiết kiệm), tu huýt (còi) và ông táo nung chín thành sành, không

có thấm nước Những sản phẩm trên được chở bán từ Nghệ An vào đến Nam Bộ Cácsản phẩm gốm không tráng men như lọ hoa cũng đã được bán sang Nhật Bản và được

sử dụng trân trọng trong các buổi tiệc trà của Nhật

2.2.2.3 Văn hóa ẩm thực

Đến với làng cổ Phước Tích, ngoài nghề gốm lừng danh, những mái nhà rường

cổ kính, du khách bốn phương còn có dịp thưởng thức các món ăn bình dân nhưng đặcsắc

Trong số đó, bánh bột gạo là sự kết tinh của tâm hồn và đôi tay khéo léo, đảmđang của người dân Phước Tích Bánh được làm từ hai nguyên liệu quen thuộc là bộtgạo và đậu xanh, nhưng nhờ sự sáng tạo và khéo léo của chị em mà bánh vừa ngon lại

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 38

vừa lạ miệng Chiếc bánh gạo được mô phỏng từ những chiếc thuyền chở đầy ắp gốmxuôi ngược trên dòng Ô Lâu xưa kia Những năm sau giải phóng, khi nghề gốm PhướcTích còn hưng thịnh, dù đầu tắt mặt tối với việc kiểm hàng và bốc vác nhưng chủthuyền vẫn cố mua đĩa bánh gạo nóng hổi, thơm lừng được các cô các dì bày bán cạnh

lò gốm để ăn lấy hên Họ mong sao những chuyến hàng ngược ra Nghệ An, ThanhHóa, xuôi vào Quảng Nam, Quảng Ngãi được thuận buồm xuôi gió Ngày nay cũngvậy, trong bữa ăn trước lúc tiễn người thân đi xa, đĩa bánh gạo luôn có mặt tượngtrưng cho một câu chúc may mắn Vị ngọt của đậu xanh quyện với lớp bột mỏng dính,dai dai ngon tuyệt Miếng bánh đã nuốt trôi xuống họng nhưng mùi vị dân dã quêhương vẫn còn phảng phất đâu đây

2.2.2.4 Lễ hội

Lễ hội là một sinh hoạt tín ngưỡng văn hóa truyền thống có từ rất lâu đời của cáccộng đồng làng xã Việt Nam, và làng Phước Tích cũng có các lễ hội hàng năm như:

- Lễ Tế Ngài khai canh-Tổ nghề gốm

Lễ tế ngài Khai Canh – Tổ nghề gốm được cử hành vào ngày mồng 5 tháng 11

âm lịch hằng năm Ngài khai canh và là ông tổ nghề gốm của làng là Hoàng MinhHùng Tuy lễ chỉ tổ chức trong vòng một ngày những đã nói lên được sự trọng vọngcủa dân làng đối với một con người có công khai canh ra nghề và dạy nghề cho dânlàng kiếm sống

-Lễ Kỳ an (cầu cho quốc thái, dân an)

Vào ngày 11 tháng 6 hàng năm, làng tổ chức làm lễ cúng Kỳ an Vì vào mùa nàythường có dịch khí, tục tin là việc quỷ thần cho nên cúng cấp để cầu cho dân làng đượcyên lành Lễ Kỳ an dùng toàn đồ vàng mã, nơi thì dân làng làm lễ một buổi, nơi thìmời nhà sư vào môn đạo trường cúng cấp ba đêm ngày hoặc bảy đêm ngày Tụcthường bày làm hai đàn, một đàn nội và một đàn ngoại Đàn nội thờ Trời, Đất, Phật,Thánh, Nam Tào, Bắc Đẩu và thần Đương Niên Đương Canh, Ngũ Phương ChiThần Đàn ngoại thờ Minh Vương, hai viên văn, võ đứng hầu, văn cầm bút đứng tả,

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 39

võ cầm kiếm đứng hữu, ngoăi có năm vị Ôn Chúa, mỗi vị mỗi sắc âo mũ, có nămthanh kiếm vă năm lâ cờ, một hình nhđn tay chống thanh quất trông văo đăn nội, gọi lẵng Giâm Đăn.

- Lễ tảo mộ đm hồn Rằm thâng giíng

Sau khi ổn định xong nơi ăn, chỗ ở cho kiếp sống con người trín xứ cồn Dương,câc ngăi lại tiếp tục đi khai phâ vùng đất tại Hă Cât lăm nơi an nghỉ cho cỏi vĩnh hằng

Hă Cât nguyín lă một dêi đất phù sa, nơi dòng sông Ô Lđu uốn khúc, chỗ lớn phía bínnăy lă xứ cồn Dương dđn lăng sống kiếp người, phía bín kia sông hẹp hơn gọi lă HăCât xứ, lă nơi dđn lăng lúc trở về với cât bụi, nơi sanh, cõi tử ngăn câch

chỉ một chuyến đò ngang

Hăng năm, ngoăi việc chăm nom phât sẻ hương khói phần mộ của mình, còndănh thời gian chăm lo phât sẻ phần mộ chung (mộ đm hồn) văo ngăy rằm thânggiíng Tất cả nam giới từ 18 tuổi trở lín tập trung đi tảo mộ đm hồn tại nghĩa trang HăCât

Qua đó cho thấy lăng Phước Tích rất chú trọng đến đời sống tđm linh của ngườidđn Họ không những quan tđm đến phần mộ của tổ tiín, ông bă mă còn chung taynhau chăm nom, hương khói cho những phần mộ không rõ lai lịch Đó lă một truyềnthống quý bâu mă lăng cần giữ gìn vă phât huy hơn nữa trong tương lai

2.2.2.5 Trò chơi dđn gian

- Đua ghe (thuyền)

Trò chơi đua ghe diễn ra hầu hết câc địa phương tỉnh Thừa Thiín Huế Đđy lămột trong những trò chơi vă cũng lă môn thể thao có từ rất lđu đời, có mặt ở ThuậnHóa từ buổi đầu người Việt theo chđn câc chúa Nguyễn văo Nam mở cõi vă vẫn tiếpdiễn trong câc lễ hội, câc dịp kỷ niệm hăng năm hiện nay Ở lăng Phước Tích cũngvậy, hăng năm văo những dịp lễ hội, dđn lăng thường tổ chức hội đua thuyền, đđycũng như lă một phần của những hoạt động mang tính tđm linh nhằm cầu cho mưathuận gió hòa, cho mùa măng được phong đăng, hòa cốc

- Kĩo co

ĐẠI HỌC KINH TÍ́ HUÍ́

Trang 40

Kéo co là một trò chơi thông dụng và đơn giản, nếu là người dân Việt Nam thìkhông ai là không biết về trò này Kéo co mang tính đồng đội và là môn trọng sứcmạnh Đây là trò mang tính rèn luyện sức khỏe, tinh thần đồng đội cao, đem lại niềmvui, sự thoải mái cho người dân trong các dịp lễ hội Tại làng Phước Tích, kéo co làmột trò chơi dân gian mang tính truyền thống Trong các dịp lễ hội hay sự kiện gì quantrong của làng, trò chơi này luôn cuốn hút người tham gia.

- Bịt mắt đập om ( đập niêu)

Đập niêu đất là trò chơi dân gian khá phổ biến ở nhiều làng quê Trò chơi thườngdiễn ra ở sân đình hay trên sân rộng Trước khi chơi, người ta trồng ở giữa sân haichiếc cột hoặc hai cây tre to, cách nhau 5m, buộc dây thừng vào hai chiếc cột để làmgiá treo niêu, mỗi chiếc niêu treo cách nhau khoảng 50cm Kẻ một vạch mốc cách giátreo niêu khoảng 3 đến 5m làm điểm xuất phát Trước khi chơi, trọng tài sẽ trao chongười chơi một chiếc gậy dài khoảng 50cm, những người tham gia chơi đứng dướivạch mốc và bị bịt mắt nên họ phải định hình hướng đi và ước lượng khoảng cách treoniêu để đập cho trúng một trong những chiếc niêu đang treo trên dây Người đập trúngniêu sẽ có được phần thưởng ghi trong mảnh giấy nhỏ trong chiếc niêu bị đập vỡ.Người chơi sẽ đọc thật to món quà mà mình nhận được, có khi là một phong bao lì xì,một chiếc bánh chưng, một gói kẹo hay một chùm bóng bay, cũng có khi phần thưởngchỉ là một tràng pháo tay của đông đảo dân làng đến xem, cổ vũ… Có địa phương lại

đổ đầy nước vào trong niêu, mỗi khi có ai đó đập trúng niêu, nước sẽ bắn vào người vàtheo quan niệm thì đó là niềm may mắn trong năm mới

- Trò chơi Xiếc thìa lia

“Xiếc thìa lia qua đìa Nốt Đoột” là trò phổ biến ở Phước Tích Phước Tích trướckia có tên là Nốt Đôột vì làng làm ra các sản phẩm gốm như om, trách, lu, đoột chở đibán trên những chiếc nốt Trên đường làng, cạnh các lò gốm, quanh hè các ngôi nhà,khắp nơi trong vườn đều có mảnh gốm vỡ Dân trong làng, nhất là thanh thiếu niênngày ngày đi nhặt những mảnh trèng (sành) Những miếng hình dẹt, mỏng, hơi tròn thìchơi rất tốt Chiều chiều, bà con ra sông Ô Lâu thi nhau xiếc, lia những mảnh gốm sao

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Ngày đăng: 09/08/2018, 22:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm