Bên cạnh việc tiếp tục khai thác các tài nguyên du lịch sẵn có, bao gồm cả tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nh n văn Đổng Ngọc Minh và Vương Lôi Đình, 2001, con người cần tạo ra các ngu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ SƠ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÀ KHAI THÁC TÀI SẢN TRÍ TUỆ ĐỊA PHƯƠNG TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH 7 1.1 Một số nội dung cơ bản về phát triển du lịch 7
1.1.1 Du lịch và những khái niệm liên quan 7
1.1.2 Những điều kiện phát triển du lịch 8
1.1.3 Những hình thức du lịch 13
1.2 Một số vấn đề cơ bản về khai thác tài sản trí tuệ địa phương trong phát triển du lịch 15
1.2.1 Tổng quan về tài sản trí tuệ địa phương 15
1.2.2 Khai thác tài sản trí tuệ địa phương trong phát triển du lịch 22
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KHAI THÁC TÀI SẢN TRÍ TUỆ ĐỊA PHƯƠNG TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 – 2014 28
2.1 Tình hình phát triển du lịch Viêt Nam giai đoạn 2000 - 2014 28
2.1.1 Lịch sử phát triển ngành du lịch Việt Nam giai đoạn 2000 - 2014 28
2.1.2 Những điều kiện phát triển du lịch Việt Nam 30
2.1.3 Những kết quả đạt được trong quá trình phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2000 - 2014 39
2.2 Thực trạng khai thác tài sản trí tuệ địa phương trong phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2000 – 2014 40
2.2.1 Khái quát chung về tình hình đăng ký tài sản trí tuệ địa phương tại Việt Nam 40
2.2.2 Quy trình khai thác tài sản trí tuệ địa phương trong phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2000 – 2014 42
2.3 Đánh giá quy trình khai thác tài sản trí tuệ địa phương trong phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2000 – 2014 52
2.3.1 Hoạt động phát triển tài sản trí tuệ địa phương trong du lịch Việt Nam53 2.3.2 Hoạt động truyền bá tài sản trí tuệ địa phương để phát triển du lịch Việt Nam 55
Trang 32.3.3 Hoạt động ứng dụng tài sản trí tuệ địa phương vào phát triển du lịch
Việt Nam 56
2.3.4 Hoạt động đánh giá và bảo hộ tài sản trí tuệ địa phương trong phát triển du lịch Việt Nam 58
CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP KHAI THÁC TÀI SẢN TRÍ TUỆ ĐỊA PHƯƠNG TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2015 – 2025 61
3.1 Định hướng và mục tiêu khai thác tài sản trí tuệ địa phương trong phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2015 - 2025 61
3.1.1 Định hướng khai thác tài sản trí tuệ địa phương trong phát triển du lịch Việt Nam 61
3.1.2 Mục tiêu khai thác tài sản trí tuệ địa phương trong phát triển du lịch Việt Nam 62
3.2 Đề xuất một số giải pháp khai thác tài sản trí tuệ địa phương trong phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2015 - 2025 63
3.2.1 Giải pháp phát triển tài sản trí tuệ địa phương trong hoạt động du lịch Việt Nam 63
3.2.2 Giải pháp truyền bá tài sản trí tuệ địa phương trong phát triển du lịch Việt Nam 65
3.2.3 Giải pháp ứng dụng tài sản trí tuệ địa phương vào phát triển du lịch Việt Nam 67
3.2.4 Giải pháp đánh giá và bảo hộ tài sản trí tuệ địa phương trong phát triển du lịch Việt Nam 67
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC 84
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Objective – Strategy
Sứ mệnh – Tầm nhìn – Mục tiêu – Chiến lƣợc
Tổ chức Giáo dục, Khoa học
và Văn hóa của Liên hiệp quốc
Property Organization
Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Số lượng cơ sở lưu trú du lịch giai đoạn 2000 – 2014 37
Bảng 2.2: Số lượng doanh nghiệp lữ hành giai đoạn 2005-2014 38
Bảng 2.3: Danh sách các di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam được UNESCO công nhận 46
Bảng 2.4: Thực trạng đăng ký bảo hộ tài sản trí tuệ địa phương 51
Bảng 2.5: Mức độ quan tâm của du khách đối với các tài sản trí tuệ địa phương 53
Bảng 2.6: Ý kiến của cơ quan quản lý về mức độ quan tâm của du khách đối với các tài nguyên du lịch địa phương 59
Bảng 3.1: Tổng hợp các chỉ số nghiên cứu cạnh tranh có liên quan đến khai thác tài sản trí tuệ địa phương trong phát triển du lịch 68
DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Các loại hình tài sản trí tuệ địa phương 20
Hình 1.2: Cơ sở khai thác tài sản trí tuệ địa phương trong phát triển du lịch 25
Hình 1.3: Mô hình khai thác tài sản trí tuệ địa phương trong phát triển du lịch 26
Hình 2.1: Số lượng khách du lịch tại Việt Nam giai đoạn 2000 – 2014 39
Hình 2.2: Thương hiệu du lịch quốc gia Việt Nam giai đoạn 2011- 2015 44
Hình 2.3: Tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng dấu hiệu địa phương trên sản phẩm du lịch 57 Hình 2.4: Mức độ ảnh hưởng của dấu hiệu địa phương đến hoạt động sản xuất và kinh doanh sản phẩm du lịch 58
Hình 3.1: Lợi thế của khai thác tài sản trí tuệ địa phương trong phát triển du lịch Việt Nam 65
Hình 3.2: Các vùng điểm đến đặc trưng trong phát triển du lịch của Việt Nam 66
Hình 3.3: Mối liên hệ giữa ba chủ thể trong khai thác tài sản trí tuệ địa phương để phát triển du lịch Việt Nam 70
Hình 3.4: Biện pháp xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong khai thác tài sản trí tuệ địa phương 74
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ quan trọng, đóng góp không nhỏ vào tỷ trọng GDP của nhiều nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Trong những năm vừa qua, du lịch Việt Nam chứng kiến giai đoạn phát triển mạnh mẽ, với tỷ lệ tăng trưởng trung bình lên tới 12%/ năm (TCDL, 2014) Dựa trên độ an toàn và thân thiện của người dân dành cho du khách, Việt Nam được xếp hạng thứ 6 trong
số 20 điểm đến tốt nhất thế giới (Travel and Leisure, 2014) Trong “Chiến lược phát
triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, Việt Nam xác định
du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn, cần đầu tư phát triển theo chiều sâu, có chất lượng, bền vững và có khả năng cạnh tranh Đến năm 2020, du lịch về cơ bản sẽ trở thành một ngành kinh tế có t nh chuyên nghiệp, hiện đại; các sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu và mang đậm bản s c văn hoá d n tộc
Với chiến lược đó, các tỉnh, thành trong nước đã và đang tiến hành nhiều chương trình phát triển du lịch, thu hút du khách đến với địa phương Tính riêng cuối năm 2014, tổng thu từ hoạt động du lịch đạt mốc kỷ lục 230 ngàn tỷ đồng, tăng 15% so với cùng kỳ năm ngoái (TCDL, 2014) Tuy nhiên, trong thời đại cạnh tranh khốc liệt của toàn cầu hóa, các quốc gia muốn phát triển du lịch bền vững cần phải chú trọng đến sự khác biệt hóa, gia tăng lợi ích cho du khách bằng những sản phẩm, dịch vụ đặc trưng của địa phương Bên cạnh việc tiếp tục khai thác các tài nguyên
du lịch sẵn có, bao gồm cả tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nh n văn (Đổng Ngọc Minh và Vương Lôi Đình, 2001), con người cần tạo ra các nguồn tài nguyên du lịch mới dựa trên đặc thù của mỗi địa phương, nhằm kh c phục khoảng cách giữa những nguồn tài nguyên hạn chế sẵn có trong du lịch hiện nay với nhu cầu mong đợi ngày càng lớn của du khách về dịch vụ du lịch Ở Việt Nam hiện nay đã có nhiều giải pháp được đưa ra nhằm thu hẹp khoảng cách đó, như xây dựng thêm các công trình phục vụ nhu cầu du lịch (Vinpearl – Nha Trang, Bà Nà Hill – Đà Nằng…), quy hoạch các làng văn hóa Việt Nam, hay tổ chức các tour du lịch tới những địa danh nổi tiếng
Trang 7Một trong những công cụ không chỉ giúp thực hiện chiến lược trên mà còn tạo ra một cơ chế độc quyền khai thác tài nguyên du lịch cho các địa phương là cơ chế SHTT Phương thức này không chỉ tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo mà còn đáp ứng nhu cầu thị trường du lịch, tạo việc làm cho người lao động, tăng thu nhập và phát triển kinh tế
Với mục đ ch đó, yêu cầu cấp thiết hiện nay là phải sử dụng hiệu quả các công cụ của SHTT trong phát triển sản phẩm và dịch vụ du lịch của địa phương Phương pháp này sẽ mở ra cho những người hoạt động trong lĩnh vực du lịch cơ hội
để nâng cao giá trị và tăng năng suất lao động Đồng thời, cơ chế SHTT sẽ giúp tập trung hơn vào khác biệt hóa sản phẩm và dịch vụ du lịch, tạo điểm nhấn riêng trong lòng du khách, thúc đẩy khả năng sáng tạo để thành công trong môi trường kinh doanh
Chính bởi những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “KHAI THÁC TÀI SẢN TRÍ TUỆ ĐỊA PHƯƠNG TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VIỆT NAM” cho khóa luận tốt nghiệp
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Trên thế giới hiện nay, có nhiều đề tài về phát triển du lịch được nghiên cứu
dưới nhiều góc độ khác nhau Tác giả David G Simmons (1994) trong “Community
participation in tourism planning” đã nghiên cứu về chiến lược và chính sách phát
triển du lịch với sự tham gia của cộng đồng d n cư Trong công trình nghiên cứu
“World Geography of Travel and Tourism”, nhóm tác giả Alan A Lew, C Michael
Hall và Dallen J Timothy (2008) lựa chọn hướng tiếp cận vùng miền (a regional approach) để nghiên cứu sự phát triển du lịch trên phạm vi toàn thế giới Công trình mang đến cho người đọc sự hiểu biết về lịch sử, quá trình xây dựng cũng như những
kế hoạch phát triển du lịch tiềm năng của các lục địa trên toàn cầu, bao gồm các vùng nổi bật về du lịch như Ch u Âu, Lục địa Á Châu, Trung Đông, Ch u Á, Đại Tây Dương, Ch u Mỹ
Đặc biệt, với góc độ nghiên cứu TSTT như một dạng tri thức (knowledge),
M P Weggeman (1998) cùng các cộng sự của mình tại trường đại học Công nghệ
Trang 8Eindhoven, Hà Lan đã nghiên cứu thành công mô hình quản trị tri thức, xác định khoảng cách tri thức cho mỗi cá nhân bằng phương pháp cộng đồng, và trình bày
kết quả nghiên cứu đó trong công trình “The Knowledge Matrix: A Participatory
Method for Individual Knowledge Gap Determination” Cũng được khai thác dưới
góc độ tương tự, đề tài “SECI, Ba and Leadership: A Unified Model of Dynamic
Knowledge Creation” (Ikujiro Nonaka, Ryoko Toyama và Noboru Konno, 2000)
nghiên cứu cách thức các tổ chức tạo ra và quản trị tri thức một cách hiệu quả, đề xuất mô hình sáng tạo tri thức dựa vào ba yếu tố: quá trình SECI - tạo ra tri thức thông qua sự tương tác giữa tri thức tường minh và tiềm ẩn, Ba – chia sẻ tri thức, và bảo vệ tài sản tri thức
Trên góc độ tiếp cận về TSTT trong phát triển du lịch, hai tác giả Darrell A Posey và Graham Dutfield (1996) của Trung tâm nghiên cứu phát triển quốc tế
Canada đã thực hiện công trình nghiên cứu “Beyond Intellectual Property – Toward
Traditional Resource Rights for Indigenous People and Local Communities”, đề
xuất hệ thống “sui generis” nhằm bảo vệ người dân cùng những trí tuệ truyền thống của mình trong phát triển du lịch Bên cạnh đó, nhà nghiên cứu Marien Van Den
Boom (2009) phát triển đề tài về “Intellectual Capital, IP and Tourism: An
Empirical Study in Southeast Asia” nhằm đưa ra các mô hình phát triển và quản trị
du lịch với sự tham gia của nhân tố TSTT địa phương
2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Nghiên cứu để phát triển du lịch dựa vào TSTT địa phương vẫn còn là một lĩnh vực nghiên cứu khá mới mẻ tại Việt Nam hiện nay Đa số các đề tài tập trung vào khai thác nguồn tài nguyên hữu hình có sẵn để phát triển du lịch Trịnh Quang Hảo (2004) đã cùng nhóm nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu phát triển du lịch thực
hiện đề tài “Cơ sở khoa học cho các chính sách, giải pháp quản lý khai thác tài
nguyên du lịch ở Việt Nam”, được đánh giá cao bởi Hội đồng nghiệm thu cấp Nhà
nước, tuy nhiên cũng chỉ mới dừng lại ở khai thác tài nguyên hữu hình Các đề tài
nghiên cứu cấp Bộ của tác giả Nguyễn Thu Hạnh như “Nghiên cứu xây dựng sản
phẩm du lịch biển đảo vùng du lịch Bắc Trung Bộ” (2005) và “Hiện trạng và giải pháp phát triển các khu du lịch biển quốc gia tại vùng du lịch Bắc Trung Bộ”
Trang 9(2011) cũng chỉ nghiên cứu về những vấn đề phát triển du lịch biển đảo dựa vào nguồn tài nguyên hữu hình có sẵn
Do đó, cho đến nay, vẫn chưa có một đề tài khoa học nào nghiên cứu cụ thể
về vấn đề khai thác TSTT địa phương trong phát triển du lịch Việt Nam Đây chính
là công trình đầu tiên tập trung nghiên cứu chuyên s u về vấn đề này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu về phát triển du lịch và khai thác TSTT địa phương trong phát triển du lịch, đề tài đã ph n t ch và đánh giá thực trạng khai thác TSTT địa phương trong phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2000 - 2014, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác hiệu quả và chất lượng TSTT địa phương theo mô hình được lựa chọn, nhằm phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới
Với mục đ ch đó, tác giả đề ra ba nhiệm vụ cụ thể cần giải quyết bao gồm:
- Xây dựng tổng quan lý thuyết về phát triển du lịch và khai thác TSTT địa phương trong phát triển du lịch
- Tìm hiểu và đánh giá thực trạng khai thác TSTT địa phương trong phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2000 - 2014
- Đề ra định hướng và giải pháp cụ thể nhằm khai thác hiệu quả TSTT địa phương trong phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2015 - 2025, khai thác nguồn TSTT địa phương, bảo đảm tính bền vững cho phát triển du lịch, đồng thời bảo tồn
và phát huy những giá trị tinh thần, văn hóa l u đời của dân tộc
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Hoạt động khai thác TSTT địa phương
trong phát triển du lịch Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Tình hình khai thác TSTT địa phương trong phát triển du lịch
Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2014
Về không gian: TSTT tại tất cả các địa phương, tỉnh thành trong cả nước
Trang 105 Phương pháp nghiên cứu
Những phương pháp chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu đề tài bao gồm:
- Phương pháp phân tích tổng hợp và phân tích hệ thống
Đ y là phương pháp cơ bản được sử dụng phổ biến trong hầu hết các nghiên cứu khoa học Nghiên cứu về phát triển du lịch nói chung và khai thác TSTT địa phương trong phát triển du lịch nói riêng có quan hệ chặt chẽ tới các điều kiện, tài nguyên tự nhiên, văn hóa, kinh tế - xã hội, vì vậy phương pháp này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình nghiên cứu của đề tài, giúp tổng hợp và ph n t ch thông tin một cách có hệ thống T nh hệ thống trong nghiên cứu còn được thể hiện ở việc kế thừa những kết quả nghiên cứu có liên quan của các công trình nghiên cứu đã đề cập ở trên
- Phương pháp điều tra xã hội học
Đề tài sử dụng phương pháp điều tra xã hội học với ba đối tượng liên quan đến ngành du lịch bao gồm: các cơ quan quản lý nhà nước, các đơn vị sản xuất và kinh doanh sản phẩm dịch vụ du lịch, và khách du lịch
Cụ thể, tác giả đã thực hiện điều tra xã hội học với 3 đối tượng trên thông
qua phiếu khảo sát “Ý kiến về khai thác tài sản trí tuệ trong phát triển du lịch địa
phương” trong giai đoạn từ tháng 1/2015 đến hết tháng 3/2015:
30 phiếu khảo sát ý kiến được gửi tới các cơ quan quản lý nhà nước Kết quả thu về 14 phiếu hợp lệ, có giá trị và mang ý nghĩa thống kê
40 phiếu khảo sát ý kiến được gửi tới các đơn vị sản xuất và kinh doanh sản phẩm dịch vụ du lịch Kết quả thu về 32 phiếu hợp lệ, có giá trị và mang ý nghĩa thống kê
300 phiếu khảo sát ý kiến dành cho khách du lịch Trong đó, tác giả thu
về được 265 phiếu hợp lệ, đạt chất lượng tốt từ du khách
Số còn lại là những phiếu khảo sát ý kiến không hợp lệ, và không đáng tin cậy, do đó không được sử dụng vào kết quả nghiên cứu của đề tài Số lượng những phiếu khảo sát ý kiến hợp lệ và đúng tiêu chuẩn, đạt chất lượng tốt được nêu trên sẽ
là nguồn số liệu và thông tin quan trọng trong phạm vi nghiên cứu, được tác giả sử
dụng và phân tích cụ thể trong chương 2 của đề tài
Trang 11- Phương pháp thu thập, tổng hợp và xử lý thông tin từ các công trình, bài
báo có liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các công trình trong nước và
ngoài nước
- Phương pháp thống kê
Đ y là phương pháp quan trọng trong quá trình nghiên cứu những vấn đề
định tính trong mối quan hệ chặt chẽ về cả mặt định lượng của các hiện tượng và
quá trình, đối chiếu biến động về tài nguyên, môi trường du lịch với quá trình phát
triển du lịch Ngoài ra, phương pháp thống kê còn được vận dụng nghiên cứu trong
đề tài để xác định ý kiến của các đối tượng được phỏng vấn, điều tra xã hội học, có
liên quan đến mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia
Ngoài các phương pháp tự th n thì phương pháp phỏng vấn chuyên gia cũng
đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình nghiên cứu đề tài Bản th n du lịch
là một ngành kinh tế tổng hợp, do đó để đảm bảo hiệu quả của đánh giá tổng hợp
cần thiết phải có sự tham gia của các chuyên gia ở nhiều lĩnh vực liên quan như địa
lý, văn hóa, kinh tế, du lịch, SHTT… Tác giả đã tiến hành trao đổi, thảo luận và lấy
ý kiến từ các chuyên gia am hiểu về vấn đề du lịch, sở hữu trí tuệ, và khai thác
TSTT địa phương trong du lịch, các cán bộ, nhân viên của các công ty lữ hành, các
công ty kinh doanh dịch vụ du lịch
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài mục lục, lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, danh
mục bảng biểu, hình, phụ lục, đề tài gồm 3 chương ch nh:
Chương 1: Cơ sơ lý luận về phát triển du lịch và khai thác tài sản trí tuệ địa
phương trong phát triển du lịch
Chương 2: Phân tích thực trạng khai thác tài sản trí tuệ địa phương trong
phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2000 - 2014
Chương 3: Định hướng, mục tiêu và giải pháp khai thác tài sản trí tuệ địa
phương trong phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2015 – 2025
Trang 12CHƯƠNG I: CƠ SƠ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÀ KHAI THÁC TÀI SẢN TRÍ TUỆ ĐỊA PHƯƠNG TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
1.1 Một số nội dung cơ bản về phát triển du lịch
1.1.1 Du lịch và những khái niệm liên quan
Trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, du lịch xuất hiện khi con người tiến hành hoạt động di chuyển từ nơi này sang nơi khác nhằm thỏa mãn những nhu cầu về giải trí, nghỉ dưỡng, tinh thần… Mặc dù hoạt động du lịch đã xuất hiện từ l u như vậy, đến nay vẫn chưa có một khái niệm hay cách hiểu thống
nhất về du lịch Van Harssel (1993) đã chỉ ra rằng “thật khó và có thể gây nhầm lẫn
khi khái quát về du lịch” Lý do của việc khó khăn trong đưa ra những khái niệm
này là bởi tính phức tạp, đa dạng và phong phú của hoạt động du lịch, cùng những lợi ích khác nhau mà hoạt động du lịch mang lại cho con người và xã hội
Tùy theo quan điểm và mục đ ch nghiên cứu mà người ta đưa ra những khái niệm khác nhau về du lịch Năm 1963, với mục đ ch quốc tế hóa, Hội nghị Liên hợp
quốc về du lịch đã đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: “Du lịch là tổng hợp các
mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình
và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình” Các thành viên của Liên hợp quốc cũng
nhất trí rằng, nơi đến của địa điểm du lịch phải khác nơi con người lưu trú Sau này,
Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) khẳng định du lịch là “bao gồm tất cả mọi
hoạt động của những người du hành, tạm trú với mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa” Như vậy, định nghĩa này chỉ ra rõ ràng hơn các
mục đ ch của du lịch với con người, nhưng đồng thời, khẳng định một điểm mới, đó
là các hoạt động du lịch phải diễn ra “trong thời gian liên tục nhưng không quá một
năm”
Theo Luật du lịch Việt Nam (2005), “du lịch là các hoạt động có liên quan
đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp
Trang 13ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” Đ y là khái niệm có tính khoa học và pháp lý, xuất phát từ nhu cầu của
người đi du lịch
Khi du lịch phổ biến, số lượng du khách tăng, nhiều cơ sở lưu trú, vận chuyển, lữ hành ra đời đáp ứng các nhu cầu khác nhau của du khách Du lịch đã trở thành một ngành kinh tế đầy tiềm năng phát triển Ngành du lịch là một hệ thống kĩ thuật – kinh tế – xã hội với mục tiêu khai thác các tài nguyên, sử dụng các phương tiện nhân lực, vật lực tạo nên những hàng hóa, dịch vụ đáp ứng các nhu cầu khác nhau của du khách trong quá trình thực hiện chuyến đi
Từ khái niêm về du lịch như trên, ta có thể định nghĩa phát triển du lịch là
gì? Theo nghĩa rộng, với tư cách là một ngành kinh tế, phát triển du lịch là tổng hợp
các hoạt động từ xây dựng chiến lược, hành lang pháp lý và tổ chức quản lý việc xây dựng và khai thác ngành kinh tế theo đúng quy luật cung cầu của kinh tế thị trường, cung cấp đầy đủ sản phẩm theo yêu cầu, đa dạng hóa dịch vụ và sản phẩm,
tối đa hóa lợi ch và đáp ứng nhu cầu của khách hàng Theo nghĩa hẹp, phát triển du
lịch là chuỗi hoạt động để tạo ra, khai thác và quản lý sản phẩm du lịch nhằm tối đa hóa lợi ch và đáp ứng nhu cầu của thị trường Phát triển du lịch cũng đồng nghĩa với việc bảo tồn, phát huy, thúc đẩy và gìn giữ các giá trị tự nhiên và nh n văn, các giá trị vật thể và phi vật thể chứa đựng trong không gian của điểm đến du lịch
Phát triển du lịch dựa trên cơ sở khai thác các TSTT tại địa phương để có được những sản phẩm và dịch vụ du lịch độc đáo, hấp dẫn du khách, mang lại những trải nghiệm và cảm xúc đặc trưng nhất về điểm đến đó, ch nh là hướng nghiên cứu của khóa luận
1.1.2 Những điều kiện phát triển du lịch
Du lịch là một ngành kinh tế Do đó, để phát triển được ngành kinh tế du lịch, cần thiết phải có các điều kiện sau đ y:
1.1.2.1 Tài nguyên du lịch
Tất cả các nh n tố “có thể kích thích động cơ du lịch của du khách được
ngành du lịch tận dụng và từ đó sinh ra lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội đều được
Trang 14gọi là tài nguyên du lịch” (Đồng Ngọc Minh và Vương Lôi Đình, 2001, tr.127)
Luật du lịch Việt Nam (2005) cũng có định nghĩa khá tương đồng về tài nguyên du
lịch là: "Cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình
lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác” phục vụ mục đ ch
phát triển du lịch
Như vậy, có thể hiểu rằng tài nguyên du lịch là những sản phẩm, giá trị của
tự nhiên hoặc do con người tạo ra, được khai thác để phục vụ mục đ ch du lịch
Từ khái niệm trên, tác giả ph n loại tài nguyên du lịch thành hai loại ch nh: tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nh n văn Cách ph n loại này dựa
trên nghiên cứu của đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước về “Cơ sở khoa học cho
các chính sách, giải pháp quản lý khai thác tài nguyên du lịch ở Việt Nam” (Trịnh
Quang Hảo, 2004) Cụ thể, tài nguyên du lịch bao gồm:
- Tài nguyên du lịch tự nhiên
Các hợp phần tự nhiên là điều kiện cần thiết cho hoạt động du lịch Chúng được khai thác trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động du lịch nên trở thành tài nguyên du lịch tự nhiên Những tài nguyên này bao gồm: cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố, hiện tương của tự nhiên có khả năng thỏa mãn các nhu cầu khác nhau của du khách như nghỉ ngơi, chữa bệnh, tham quan, khám khá, tìm hiểu nghiên cứu, học tập, giải tr Cụ thể, tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm các yếu tố liên quan đến:
Vị trí địa lý:
Khoảng cách từ nơi du lịch đến các nguồn khách du lịch có ý nghĩa quan trọng đối với địa phương đón khách du lịch Nếu địa phương đón khách du lịch ở xa điểm gửi khách điều đó có ảnh hưởng đến khách trên ba kh a cạnh ch nh Thứ nhất,
du khách phải chi thêm tiền cho việc đi lại vì khoảng cách xa Thứ hai, du khách phải rút ng n thời gian giao lưu lại ở nơi du lịch vì thời gian đi lại mất rất nhiều.Thứ
ba, du khách phải hao tốn quá nhiều sức khỏe cho đi lại Bất lợi trên của khoảng cách thể hiện rõ đối với du khách đi du lịch bằng phương tiện ôtô, tàu hoả, và tàu thuỷ Ngày nay, ngành vận tải hàng không không ngừng được cải tiến và có xu hướng giảm giá có thể sẽ kh c phục phần nào những bất lợi đối với khách du lịch và đối với nước xa nguồn khách du lịch Vì thế, có thể xem rằng, những địa phương có
Trang 15vị tr địa lý thuận lợi, giao thông thuận tiện hấp dẫn du khách tới tham quan hơn những địa phương khác
Địa hình:
Mỗi địa phương có một dạng địa hình khác nhau Đối với hoạt động du lịch của địa phương, điều quan trọng nhất là đặc điểm hình thái địa hình, các dấu hiệu bên ngoài của địa hình và các dạng đặc biệt của địa hình có sức hấp dẫn để khai thác và phát triển du lịch Các đặc điểm hình thái của địa hình bao gồm: đồng bằng, đồi núi và các kiểu địa hình đặc biệt như đá vôi, đất đỏ, đất ngập nước và địa hình
bờ bãi biển
Khí hậu:
Đ y là thành phần quan trọng của môi trường tự nhiên đối với hoạt động du lịch Mỗi địa phương có những đặc điểm kh hậu khác nhau, bao gồm nhiệt độ không kh , độ ẩm, gió, lượng mưa, thành phần lý hoá của không kh , ánh n ng mặt trời và các hiện tượng thời tiết đặc biệt
Để đánh giá cụ thể các điều kiện kh hậu đối với hoạt động du lịch cần đánh giá ảnh hưởng của các điều kiện đó tới sức khoẻ con người và loại hình du lịch Nhìn chung, những nơi có kh hậu điều hoà thường được khách du lịch ưa th ch Khách du lịch thường tránh những nơi quá lạnh, quá ấm hoặc quá nóng hay quá khô, quá nhiều gió Mỗi loại hình du lịch đòi hỏi những kh hậu khác nhau V dụ, khách du lịch đi biển thường ưa th ch những điều kiện kh hậu thuận lợi: số ngày mưa tương đối t với thời vụ du lịch, số ngày n ng trung bình trong ngày cao, nhiệt
độ trung bình của không kh vào ban ngày không cao l m Trong khi đó, du khách đến tham quan Sa Pa, Việt Nam thường th ch đi vào mùa đông, thời tiết lạnh, hanh khô, thậm ch xuống mức dưới 0oC để cảm nhận được cái hay của thời tiết vùng cao
Tài nguyên nước:
Nước được xem là một trong những nguồn tài nguyên quan trọng nhất, đảm bảo sự sống và các hoạt động sinh hoạt, lao động, nghỉ dưỡng của con người Tài nguyên nước của một địa phương bao gồm hai phần: nước chảy trên mặt và nước ngầm của địa phương đó
Trang 16Tài nguyên động thực vật, sinh vật, sinh quyển:
Tài nguyên sinh vật, sinh quyển g n liền với phát triển du lịch sinh thái Đ y
là một loại hình du lịch đang ngày càng phổ biến ở Việt Nam hiện nay, không chỉ tạo điều kiện cho du khách tham quan các tài nguyên về động vật, sinh vật, sinh quyển mà còn n ng cao ý thức trách nhiệm của người d n, góp phần vào việc bảo
vệ và duy trì đa dạng sinh học
- Tài nguyên du lịch nhân văn
Đ y là loại tài nguyên có nguồn gốc nh n tạo, do con người sáng tạo ra, có thể sử dụng phục vụ cho mục đ ch du lịch Tài nguyên du lịch nh n văn bao gồm: các di t ch lịch sử văn hoá, các di t ch khảo cổ học, lễ hội, làng nghề thủ công truyền thống, phong tục tập quán, truyền thống, các nét văn hoá đương đại, các công trình kiến trúc nghệ thuật, các sự kiện, lễ hội…
Các di tích lịch sử văn hoá:
Đ y là những không gian vật chất cụ thể, khách quan trong đó chứa đựng những giá trị điển hình, lịch sử, do tập thể, cá nh n con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại Các di t ch lịch sử văn hoá là bộ mặt của mỗi d n tộc, mỗi quốc gia về quá khứ và có vai trò rất lớn trong quá trình phát triển tr tuệ, tài năng của con người, phát triển khoa học nh n văn và khoa học lịch sử có sức hút lớn đối với du khách
Các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể:
Vị tr địa lý và lịch sử văn hoá đã đem lại cho Việt Nam nhiều di sản có giá trị trải dọc theo chiều dài đất nước Những giá trị đó là nguồn tài nguyên quan trọng có
ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam
Các lễ hội:
Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hoá tổng hợp hết sức đa dạng và phong phú,
là một kiểu sinh hoạt tập thể của nh n d n sau thời gian lao động mệt nhọc, hoặc là dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại như: ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống hoặc là để giải quyết những nỗi lo u, những khao khát, ước mơ mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được
Trang 17Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học:
Có ý nghĩa quan trọng đối với du lịch, đó là các tập tục lạ về cư trú, về tổ chức xã hội, về thói quen ăn uống sinh hoạt, về kiến trúc cổ, các nét truyền thống trong quy hoạch cư trú và x y dựng, trang phục d n tộc…
Các đối tượng văn hoá, thể thao và các hoạt động nhận thức khác:
Đó là các trung t m của các viện khoa học, các trường đại học, các thư viện lớn và nổi tiếng, các tác phẩm có triển lãm nghệ thuật, các trung t m thường xuyên
tổ chức liên hoan m nhạc, s n khấu, điện ảnh, các cuộc thi đấu thể thao quốc tế, biểu diễn balê, các cuộc thi hoa hậu, thi giọng hát hay, các làng nghề thủ công truyền thống…
1.1.2.2 Định hướng và chính sách phát triển du lịch của quốc gia, địa phương
Một ngành kinh tế phát triển cần phải xây dựng được định hướng đúng đ n, phù hợp với thực tiễn về cả ng n hạn và dài hạn Theo đó, ngành kinh tế du lịch muốn phát triển bền vững cũng cần phải được xây dựng và phát triển bởi những định hướng phù hợp Bên cạnh đó, các ch nh sách phát triển du lịch là chìa khóa dẫn đến thành công trong việc phát triển du lịch Chính sách phát triển du lịch được thể hiện ở hai mặt: Thứ nhất là chính sách chung của Tổ chức du lịch thế giới đối với các nước thành viên; thứ hai là chính sách của cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương, quốc gia đó Mặt thứ hai có ý nghĩa quan trọng hơn cả vì nó huy động được sức người, căn cứ vào khả năng thực tế tại mỗi vùng, quốc gia đó để đưa ra chính sách phù hợp
1.1.2.3 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật
Cơ sở hạ tầng là những phương tiện vật chất của toàn xã hội Đó là hệ thống đường sá, nhà ga, sân bay, bến cảng, đường s t, công viên của toàn dân, mạng lưới thương nghiệp các khu d n cư gần đô thị, các rạp chiếu phim, nhà hát, viện bảo tàng, các giá trị văn hoá và lịch sử của toàn xã hội
Cơ sở vật chất kĩ thuật bao gồm các phương tiện của ngành du lịch hoặc liên quan đến ngành du lịch, nhằm thoả mãn nhu cầu của du khách trong chuyến du lịch
Trang 18như: khách sạn, nhà hàng, các phương tiện vận chuyển, các khu vui chơi giải trí, các phương tiện tham quan… Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành du lịch là các yếu tố đầu vào và do đó có tác động quan trọng tới hoạt động kinh doanh du lịch, vì
nó trực tiếp tạo ra sản phẩm du lịch, cũng như quyết định tới chất lượng của sản phẩm du lịch
Các điều kiện về kinh tế liên quan đến việc sẵn sàng đón tiếp du khách tại địa phương cũng phải kể đến là việc cung ứng vật tư hàng hoá, lương thực, thực phẩm cho các tổ chức du lịch và khách du lịch Song song với việc cung ứng đều đặn và đầy đủ vật tư hàng hoá cho tổ chức du lịch, cần phải quan tâm chất lượng giá cả của hàng hoá vật tư để đảm bảo cho tổ chức du lịch có đủ sức cạnh tranh trên thị trường
1.1.2.4 Nguồn nhân lực phát triển du lịch
Cũng như mọi ngành kinh tế – xã hội, hoạt động du lịch luôn g n với yếu tố
d n cư – lao động Muốn phát triển du lịch dựa vào các TSTT địa phương, yêu cầu cấp thiết phải xây dựng được một đội ngũ lao động lành nghề, có chuyên môn vững
về các sản phẩm và dịch vụ của địa phương Tại mỗi địa phương nơi hoạt động du lịch được diễn ra, nh n lực địa phương góp phần không nhỏ vào việc cung ứng nguồn nh n lực cho hoạt động du lịch Để lực lượng này có thể hoạt động tốt và tạo môi trường du lịch tốt thì cần thiết phải có công tác quản lý, n ng cao ý thức và
ch nh sách đào tạo nh n lực địa phương để đáp ứng nhu cầu khách du lịch ngày càng tốt và chuyện nghiệp hơn
1.1.3 Những hình thức du lịch
Trong phạm vi bài nguyên cứu, tác giả nhìn nhận phát triển du lịch nhìn dưới quan điểm triết học để phân tích cả về nội dung lẫn hình thức của đối tượng1
Từ nội dung về phát triển du lịch được trình bày ở phần trên, tác giả xác định hình thức du lịch ch nh là phương thức để du lịch tồn tại và phát triển, trong mối liên hệ mật thiết với các yếu tố của phát triển du lịch như du khách, doanh nghiệp cung cấp sản phẩm
1 Theo triết học, nội dung và hình thức là một cặp phạm trù trong phép biện chứng duy vật Đ y là một trong
những nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, chỉ mối quan hệ biện chứng giữa Nội dung (là phạm
trù chỉ tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố, những quá trình tạo nên sự vật) và Hình thức (là phạm trù chỉ phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu
tố của sự vật đó)
Trang 19dịch vụ, cộng đồng d n cư, ch nh phủ… Các hình thức đó được thể hiện dưới dạng vật chất là các loại hình khai thác và phát triển du lịch Những loại hình phát triển
du lịch này xuất hiện khi có nhu cầu của con người, phù hợp với các điều kiện và nguồn lực khác nhau về tự nhiên, văn hóa, xã hội và truyền thống của địa điểm du lịch Có thể phân loại các loại hình phát triển du lịch dựa theo các tiêu chí sau:
Phân theo động cơ chuyến đi, ta có:
- Du lịch văn hóa: là tập hợp các dịch vụ tạo nên chuyến đi với mục đ ch nâng cao hiểu biết văn hóa
- Du lịch sinh thái: là tập hợp các dịch vụ tạo nên chuyến đi với mục đ ch tìm hiểu, khám phá môi trường thiên nhiên, lịch sử văn hóa tại nơi đến trên tinh thần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và bản s c cư d n đia phương
- Du lịch thể thao: là tập hợp các dịch vụ tạo nên các chuyến đi thỏa mãn
sở thích của du khách về một số môn thể thao nào đó dù với tư cách tham gia hay
- Du lịch công vụ (MICE): là tập hợp các dịch vụ tạo nên chuyến đi tham gia hội nghị, hội thảo, hội chợ hay thực hiện một nghiệp vụ nghề nghiệp nào đó
Phân theo phạm vi lãnh thổ chuyến đi, ta có:
- Du lịch quốc tế: điểm đến và điểm đi của hành hình du lịch thuộc hai lãnh thổ quốc gia khác nhau
- Du lịch nội địa: điểm đến và điểm đi trong cùng lãnh thổ quốc gia
Phân theo nơi tham quan du lịch, ta có:
- Du lịch nghỉ núi: là tập hợp các sản phẩm du lịch hình thành trên cơ sở khai thác tài nguyên núi, rừng
Trang 20- Du lịch nghỉ biển: là tập hợp các sản phẩm du lịch hình thành trên cơ sở khai thác tài nguyên biển đảo
- Du lịch tham quan thành phố: là chuyến đi tìm hiểu cuộc sống thành thị
- Du lịch nông thôn: là những chuyến đi tìm hiểu cuộc sống nông thôn và hưởng không khí trong lành ở đó
Phân theo thời gian của chuyến đi, ta có:
- Du lịch dài ngày: là những chuyến đi kéo dài trên hai, ba ngày
- Du lịch cuối tuần: là những chuyển đi diễn ra vào kì nghỉ cuối tuần
- Du lịch trong ngày: những chuyến tham quan chỉ diễn ra trong một ngày
Phân theo loại hình lưu trú, ta có:
1.2 Một số vấn đề cơ bản về khai thác tài sản trí tuệ địa phương trong phát triển du lịch
1.2.1 Tổng quan về tài sản trí tuệ địa phương
1.2.1.1 Khái niệm tài sản trí tuệ địa phương
Sự phát triển của một nền văn minh được thể hiện thông qua những sản phẩm lao động trí tuệ của con người Không một ai có thể phủ nhận vai trò của lao động trí tuệ trong sự phát triển chung của kinh tế - xã hội Hoạt động lao động trí
tuệ và sáng tạo đã tạo ra những dòng TSTT (intellectual assets) độc đáo và mới lạ
cho cuộc sống Do những lợi ích, giá trị vật chất mà chúng đem lại, pháp luật thừa nhận đó là những TSTT vô hình tuyệt đối, đóng góp vào giá trị chung của một
Trang 21doanh nghiệp, công ty, nhà sản xuất Năm 2011, ông Lý Quốc Trung, ông chủ của Thương hiệu phở nổi tiếng Hà Nội – “Phở 24” đã bán thương hiệu của mình với giá trị là 20 triệu USD cho Công ty Việt Thái Quốc tế Giá trị này của thương hiệu cao gấp nhiều lần so với số vốn ban đầu ông Trung bỏ ra để khởi nghiệp xây dựng Phở
24 là một tỷ đồng Con số này còn lớn hơn nhiều so với giá trị của một bát phở thông thường mà người tiêu dùng phải trả Điều này còn ý nghĩa s u s c là từ một món “Phở” truyền thống, Lý Quốc Trung đã phát triển lên thành TSTT của cá nhân, điều này không chỉ làm cho “Phở” trở nên nổi tiếng ở cả trong và ngoài nước, mà còn mang lại nguồn tài sản khổng lồ cho chính tác giả Vì vậy, khai thác TSTT cộng đồng một cách hợp lý không chỉ giúp cho mỗi địa phương phát triển mà còn tạo nên thành công cho mỗi cá nhân
Như vậy, hiểu một cách đơn giản, TSTT là tri thức (knowledge) do con
người tạo ra thông qua hoạt động sáng tạo, có khả năng ứng dụng và tạo ra giá trị từ
việc sử dụng (Lê Thị Thu Hà, 2004) Các TSTT bao gồm nhưng không hạn chế
“các sáng chế, các tác phẩm văn học nghệ thuật, các biểu tượng, các tên gọi, các hình ảnh và các thiết kế được sử dụng trong thương mại” (WIPO, 2004) Ở Việt
Nam hiện nay chưa có một định nghĩa cụ thể nào về TSTT, nhưng có thể hiểu gián
tiếp thông qua định nghĩa về Quyền SHTT, là “quyền của các tổ chức, cá nhân đối
với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng” (Luật Sở hữu tr tuệ
Việt Nam, 2005)
Do đó, dưới góc độ pháp lý, TSTT được bộc lộ và quản lý phù hợp như một đối tượng của SHTT Một TSTT nếu thỏa mãn các điều kiện bảo hộ pháp lý cụ thể theo quy định của pháp luật sở hữu tr tuệ sẽ trở thành một đối tượng SHTT như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, tác phẩm có bản quyền, chỉ dẫn địa lý…, được pháp luật quốc gia và quốc tế bảo vệ khỏi sự sử dụng trái phép của người khác Mỗi con người, mỗi vùng miền có những TSTT khác nhau, được hình thành và xây dựng cùng với lịch sử phát triển của các thế hệ
Từ khái niệm TSTT, tác giả đưa ra khái niệm về TSTT địa phương, là
“những tri thức, kết quả từ những hoạt động sáng tạo của con người liên quan trực
Trang 22tiếp hoặc gián tiếp đến địa phương đó” TSTT của mỗi địa phương là khác nhau,
được thể hiện thông qua tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nh n văn của địa phương Những tài nguyên ấy có thể là địa danh, sản phẩm thủ công mỹ nghệ, đặc sản vùng miền, hay văn hóa truyền thống , sẽ được tác giả phân loại một cách khoa học và thống nhất ở phần sau
1.2.1.2 Đặc trưng của tài sản trí tuệ địa phương
TSTT địa phương là tri thức được sáng tạo và phát triển trong suốt quá trình lịch sử địa phương đó TSTT địa phương bao gồm những đặc trưng cơ bản sau đ y:
Tính tập thể, thuộc sở hữu chung
TSTT địa phương là thành quả đóng góp chung từ tr tuệ của người d n địa phương, vì vậy được sử dụng rộng rãi và tự do, không có t nh tư hữu Dù được sử dụng ở trong hay ngoài địa phương, TSTT địa phương vẫn thuộc quyền sở hữu của người d n địa phương đó Tiêu biểu có thể kể đến hát Chèo ở vùng B c Bộ, được hình thành và phát triển từ thế kỷ X Nội dung của các vở chèo lấy từ những truyện
cổ t ch, truyện Nôm, được thể hiện bằng nghệ thuật s n khấu mang giá trị hiện thực
và tư tưởng s u s c Chèo sử dụng các nhạc cụ d n tộc như đàn nguyệt, đàn nhị, đàn bầu, sáo… để miêu tả cuộc sống bình dị của người d n nông thôn Đ y là những tri thức truyền thống thuộc tập thể người d n địa phương Những địa phương đặc trưng
về chèo ở Việt Nam như Thái Bình, cái nôi của những làn điệu chèo hay Nam Định, được mệnh danh là “Chiếng Chèo Nam” với những làng chèo nổi tiếng như Đặng
Xá, Mỹ Hà
Tuy nhiên, thực tế có ngoại lệ là một số TSTT được sáng tác liên quan đến địa phương nhưng thuộc sở hữu tư nh n Đó có thể là những bài hát, bài thơ về địa phương, được tác giả sáng tác trong hoàn cảnh “tức cảnh sinh tình” V dụ như bài
hát “Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh” hay “Người đi xây hồ Kẻ Gỗ” của cố
nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý đều là những tác phẩm hay, viết về mảnh đất miền Trung đầy n ng gió Hà Tĩnh, nhưng không thuộc quyền sở hữu chung của người d n địa phương, mà có quyền tác giả và các quyền liên quan thuộc về cố nhạc sỹ đã sáng tác ra tác phẩm
Trang 23Tính đặc thù vùng miền
TSTT địa phương là những tài sản g n với miền đất đó Nó có thể là đặc sản, sản phẩm và dịch vụ có nguồn gốc từ một khu vực, địa phương, vùng địa lý cụ thể Những sản phẩm này có t nh chất đặc thù về hình thái và chất lượng không giống các sản phẩm cùng loại khác; và đặc điểm nội trội này được hình thành do điều kiện
tự nhiên, con người, văn hóa, xã hội và truyền thống của vùng miền xuất xứ sản phẩm tạo ra Vì thế, TSTT của địa phương này có t nh đặc trưng riêng so với các TSTT tại địa phương khác, là dấu hiệu để người tiêu dùng nhận biết các sản phẩm
có nguồn gốc xuất xứ khác nhau Chúng đóng một vai trò không nhỏ trong nền kinh
tế thị trường của các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như Việt Nam
Tính thông dụng, phổ biến
Tài nguyên du lịch tự nhiên phụ thuộc nhiều vào yếu đố địa lý, khí hậu… nên sự ph n bố của chúng có t nh quy định rõ hơn Trong khi đó, bất cứ nơi đ u có con người cư trú, đều có TSTT địa phương, bởi đ y là những sản phẩm văn hóa và tinh thần của con người Các TSTT này không nhất thiết phải là các sản phẩm, sản vật, tr tuệ được ra đời đầu tiên tại vùng miền hay địa phương, nhưng nó mang t nh chất thông dụng, phổ biến tại địa phương, hay có chất lượng cao hẳn so với những sản phẩm cùng loại và được nh n d n địa phương coi như sản phẩm truyền thống của địa phương mình Những TSTT địa phương có thể có sự giao thoa giữa các vùng miền, tuy nhiên bản s c vùng miền được thể hiện rõ nét, là niềm tự hào về sự phát triển văn minh, văn hóa của vùng miền đó
Tính vô hình
TSTT địa phương là một tài sản mang t nh vô hình, được thể hiện ở trong một vật chất cụ thể chứa đựng trong nó Vì vậy, con người cần ph n biệt giữa hai khái niệm TSTT địa phương và sản phẩm, dịch vụ cụ thể chứa đựng TSTT địa phương đó
Tính tương đối
TSTT địa phương được bảo hộ bởi pháp luật, tuy nhiên chủ thể quyền sở hữu
tr tuệ chỉ được thể hiện quyền của mình trong một khoảng thời gian, một phạm vi bảo hộ nhất định V dụ, quy định hiện nay là bằng độc quyền kiểu dáng công
Trang 24nghiệp có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến hết năm năm kể từ ngày nộp đơn (Luật Sở hữu tr tuệ Việt Nam, 2005) Để tiếp tục độc quyền kiểu dáng công nghiệp này, chủ sở hữu có thể gia hạn hai lần liên tiếp, mỗi lần năm năm Mặt khác, chủ sở hữu cũng được yêu cầu phải cho phép các tổ chức, hoặc cá nh n khác được phép sử dụng một hoặc một số quyền lợi của mình để tránh tình trạng độc quyền đối với TSTT của chủ sở hữu Nhà nước đã và đang áp dụng các biện pháp th ch hợp nhằm hạn chế sự x m phạm bất hợp pháp của các cá nh n tổ chức khác đối với TSTT, đồng thời, hoàn thiện thể chế pháp luật để bảo vệ tối đa lợi ch của chủ sở hữu và các đối tượng liên quan
Tính tích lũy và phái sinh
Như đã ph n t ch ở trên, TSTT địa phương có thể được sử dụng bởi nhiều người tại cùng một thời điểm Đặc t nh này giúp con người có thể tạo ra nhiều TSTT mới, hoặc gia tăng thêm lợi ch dựa trên nền tảng những giá tr của TSTT hiện có Con người cùng một lúc sẽ tìm ra được nhiều lợi ch khác nhau của TSTT, ứng dụng TSTT đó vào nhiều mục đ ch khác nhau Vì vậy, trên khung giá trị vốn có
của TSTT địa phương, ngày càng có nhiều TSTT phát sinh khác được ra đời (IP
Derivatives), tạo thành một dòng TSTT liên tục, vừa liên hệ với nhau về mặt nguồn
gốc, vừa độc lập với nhau về mặt giá trị, quyền tác giả, quyền sở hữu và các quyền liên quan khác Những TSTT này ngày càng nhiều lên, góp phần to lớn vào công cuộc x y dựng kho tr tuệ của các địa phương nói riêng và nền tri thức nh n loại nói chung
1.2.1.3 Phân loại tài sản trí tuệ địa phương
Cùng với lịch sử phát triển của địa phương, danh mục TSTT địa phương không ngừng được mở rộng và sáng tạo Những tài sản đó được thể hiện thông qua sản phẩm và dịch vụ chứa đựng chúng Người thưởng thức vì thế đòi hỏi phải có một vốn kiến thức am hiểu về địa phương đó mới có thể cảm nhận được những giá trị của TSTT địa phương chứa đựng trong sản phẩm và dịch vụ
Với mục tiêu nghiên cứu TSTT địa phương trong phát triển du lịch, trong phạm vi lãnh thổ nước Việt Nam, tác giả lựa chọn ph n loại TSTT địa phương theo tiêu ch tài nguyên địa phương Tài nguyên địa phương bao gồm tài nguyên tự nhiên
Trang 25và tài nguyên nh n văn, được khái quát qua sơ đồ dưới đ y:
Hình 1.1 Các loại hình tài sản trí tuệ địa phương
(Nguồn: Tổng hợp từ kết quả nghiên cứu)
Về tài nguyên tự nhiên:
Như đã ph n t ch ở trên, tài nguyên tự nhiên bao gồm những các yếu tố tự nhiên của địa phương đó như danh lam th ng cảnh, địa hình, kh hậu, thuỷ văn, động thực vật…Như vậy, bản th n những tài nguyên này là do tự nhiên tạo ra, không phải là TSTT
Tuy nhiên, TSTT của con người thể hiện trong những tài nguyên tự nhiên
này thông qua tên gọi địa danh (ví dụ tên các danh thắng, các rừng quốc gia, rừng
nguyên sinh…), và hệ thống nhận diện địa phương (ví dụ đặc trưng vùng khí hậu, địa hình đồng bằng, vùng biển, thương hiệu du lịch địa phương,…)
Về tài nguyên nhân văn:
Ngược lại với tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nh n văn là các yếu tố văn hóa,
xã hội, phong tục, tập quán, truyền thống, kiến thức do con người tạo ra có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới địa phương đó TSTT địa phương được thể hiện phong phú qua các tài nguyên nh n văn này, bao gồm:
Tài sản trí tuệ địa phương
TSTT địa phương chứa đựng
trong tài nguyên tự nhiên
Tên địa danh, rừng quốc gia, rừng nguyên sinh
Hệ thống nhận diện địa phương
TSTT địa phương chứa đựng trong tài nguyên nhân văn
Đặc sản địa phương Sản phẩm thủ công mỹ nghệ
Chương trình tìm hiểu văn hóa
Công trình nghệ thuật Các đối tượng khác
Trang 26- Đặc sản địa phương:
Đặc sản địa phương là tên gọi dùng để chỉ chung về những sản vật, sản phẩm, hàng hóa mang t nh đặc thù hoặc có nhiều điểm đặc biệt từ vùng, miền, địa phương xuất xứ, và tạo nên những nét đặc trưng của một vùng, miền hay một địa phương nào đó Đặc sản biểu hiện TSTT của địa phương đó vì nó chứa đựng những cách thức sản xuất, quá trình nuôi dưỡng, ph n phối và kinh doanh của con người liên quan đến địa phương
Đặc sản mang t nh chất thông dụng, phổ biến tại địa phương hay có chất lượng cao hơn hẵn những sản phẩm cùng loại và được nh n d n địa phương coi như sản phẩm truyền thống của địa phương mình Nó không nhất thiết chỉ về những sản phẩm, sản vật được ra đời đầu tiên tại vùng, miền hay địa phương đó Thông thường
ở nước ta, nh c đến đặc sản địa phương là nh c đến các sản phẩm nông sản đặc trưng, như Cà phê Buôn Mê Thuật, Gạo Thái Bình, Cam Vinh, bưởi Phúc Trạch…
- Sản phẩm thủ công mỹ nghệ, đồ lưu niệm truyền thống
Đ y là những sản phẩm được sản xuất tại các làng nghề truyền thống Làng nghề bao gồm những cộng đồng cư d n có chung truyền thống sản xuất các sản phẩm thủ công cùng chủng loại, chủ yếu xuất hiện ở vùng ngoại ô và nông thôn TSTT địa phương được đúc kết trong các sản phẩm của làng nghề, thể hiện qua từng chi tiết của quá trình sản xuất, từ kh u lựa chọn vật liệu, thiết kế cho đến quá trình chế tạo
Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ phổ biến ở Việt Nam bao gồm: Đồ may mặc, M y tre đan, Sản phẩm từ cói và lục bình, Gốm sứ, Điêu kh c gỗ, Sơn mài, Thêu ren, Điêu kh c đá, Dệt thủ công, Giấy thủ công, Tranh nghệ thuật, Kim kh và những sản phẩm thủ công mỹ nghệ khác Nổi bật và l u đời nhất về đồ may mặc là làng nghề may mặc V n Từ - Phú Xuyên, là cái nôi của nghề may mặc comple Việt Nam
- Văn hóa, tín ngưỡng, lễ hội địa phương
Con người sử dụng tr thông minh, khả năng sáng tạo, cho ra đời những sản phẩm văn hóa địa phương mình, thể hiện đời sống tinh thần và vật chất của người
d n Văn hóa địa phương được hiểu là văn học, nghệ thuật của địa phương đó (v dụ như thơ ca, mỹ thuật, s n khấu, nhạc kịch…), hoặc cách sống, lối sống (bao gồm
Trang 27phong cách ẩm thực, trang phục, lối cư xử, tôn giáo t n ngưỡng…) Từ văn hóa đó, mỗi địa phương sẽ có lối sống, phong tục tập quán, và lễ hội riêng Đ y được xem
là nguồn tài nguyên du lịch nh n văn phong phú phục vụ phát triển du lịch, đã được tác giả đề cập ở phần trước về những điều kiện phát triển du lịch
- Công trình lịch sử, văn hóa nghệ thuật do con người tạo ra
Nghệ thuật trong phạm vi tác giả nghiên cứu đề cập đến nghệ thuật thị giác, bao gồm việc tạo ra những hình ảnh hay vật thể trong những lĩnh vực như hội họa, kiến trúc, điêu kh c, đồ họa in ấn, nhiếp ảnh, và những phương tiện truyền thông hình ảnh khác Con người sáng tạo những công trình nghệ thuật này, nhằm thể hiện tr tuệ, khả năng sáng tạo, tr tưởng tượng và thậm ch , g n cuộc sống thực vào trong những tác phẩm nghệ thuật Những công trình này có thể thuộc sở hữu của toàn d n (v dụ như đình chùa, các nét kiến trúc, đồ vật đặc trưng cho địa phương…) hoặc của riêng từng cá nh n (v dụ tranh, ảnh…) Cồng chiêng là một trong những sản phẩm nghệ thuật đặc trưng của vùng núi T y Nguyên
- Các đối tượng khác
Như vậy, có thể kết luận rằng, TSTT địa phương bao gồm nhiều loại hình khác nhau Việc nghiên cứu và tìm hiểu các loại hình TSTT địa phương trên là cần thiết, giúp địa phương, doanh nghiệp và người d n ý thức và hiểu rõ được quyền lợi
và nghĩa vụ của mình đối với các TSTT mà mình đang n m giữ
1.2.2 Khai thác tài sản trí tuệ địa phương trong phát triển du lịch
1.2.2.1 Khái niệm khai thác tài sản trí tuệ địa phương
TSTT địa phương g n liền với quá trình hình thành và phát triển của địa phương Các TSTT địa phương thường được sử dụng phổ biến và miễn ph tại các địa phương đó Người d n địa phương có quyền khai thác, sử dụng, phát triển và
mở rộng TSTT của địa phương mình, biến tài sản ấy trở thành một công cụ kinh tế, tạo nguồn thu lớn cho bản th n, gia đình và xã hội
Vậy khai thác TSTT địa phương có thể được hiểu là gì? Bản chất TSTT địa
phương là một dạng tri thức, vì vậy khai thác TSTT địa phương cũng được hiểu như
Trang 28là khai thác tri thức, bao gồm việc tạo ra, chia sẻ, ứng dụng, phát triển và bảo vệ TSTT địa phương
Hiện nay tại Việt Nam, các tổ chức, cá nh n, doanh nghiệp thường khai thác TSTT địa phương theo hướng: đăng ký bảo hộ nhãn hàng hóa, dịch vụ; đăng ký bảo
hộ chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, xác lập quyền tác giả và các quyền liên quan đối với TSTT địa phương; sản xuất độc quyền hàng hóa và dịch
vụ, nhấn mạnh t nh địa phương độc đáo và duy nhất của hàng hóa và dịch vụ, tiêu thụ trên thị trường và tạo niềm tin cho khách hàng đối với hàng hóa và dịch vụ chứa đựng những TSTT địa phương độc nhất này
TSTT địa phương được khai thác dưới nhiều hình thức khác nhau Nếu các
tổ chức, doanh nghiệp, cá nh n tại địa phương khai thác chúng hiệu quả sẽ mang lại những lợi thế cạnh tranh vô cùng to lớn Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, con người tự do phát triển kinh tế, hàng hóa và dịch vụ theo cung – cầu của thị trường, việc x y dựng một chiến lược phát triển l u dài cho TSTT địa phương là cần thiết Suy nghĩ để bảo hộ các TSTT có nghĩa là sau khi tạo ra TSTT, con người ngay lập tức biến chúng thành đối tượng của quyền sở hữu tr tuệ, tiến hành đăng ký quyền
sở hữu tr tuệ để khai thác và bảo vệ ch nh tài sản của mình
1.2.2.2 Những tài sản trí tuệ địa phương được khai thác trong phát triển du lịch
Lợi ích của việc khai thác TSTT địa phương là rất lớn; tuy nhiên, tùy vào mục đ ch khai thác, con người có thể lựa chọn các TSTT khác nhau
Dựa vào cách thức phân loại TSTT được phân tích ở trên (mục 1.2.1.3 Phân
loại tài sản trí tuệ địa phương), tác giả khái quát những TSTT địa phương được
khai thác trong phát triển du lịch thành hai nhóm chính sau:
- Nhóm thứ nhất là các TSTT dưới dạng chỉ dẫn du lịch, bao gồm:
Chỉ dẫn đến các danh lam th ng cảnh du lịch
Chỉ dẫn đến các sản phẩm, dịch vụ du lịch (như sản phẩm dịch vụ lữ hành, tham quan, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, quà lưu niệm, sản phẩm thủ công
mỹ nghệ…)
Trang 29 Chỉ dẫn trong các chương trình quảng bá hình ảnh du lịch địa phương (như tên gọi địa phương du lịch trên các tạp ch , chương trình tivi, banner, áp ph ch, hình ảnh quảng cáo…)
- Nhóm thứ hai là các TSTT gắn với văn hóa, tri thức truyền thống, bao gồm:
Các công trình kiến trúc, nghệ thuật, khảo cổ do con người tạo ra
Những b quyết, kỹ năng, công nghệ sản xuất, chế biến đặc sản, sản phẩm thủ công mỹ nghệ, đồ truyền thống của địa phương
Văn hóa phi vật thể thuộc địa phương (như ca dao, tục ngữ, tuồng, chèo
cổ, vè, hò cải lương )
Các chương trình văn hóa và t n ngưỡng của địa phương (như lễ hội truyền thống…)
1.2.2.3 Mô hình khai thác tài sản trí tuệ địa phương trong phát triển du lịch
Với quan điểm nghiên cứu TSTT địa phương là một dạng tri thức do con người tạo ra và phát triển có liên quan đến địa phương, khai thác và quản trị TSTT địa phương được xem là khai thác và quản trị vốn tri thức liên quan đến địa phương
đó Tuy nhiên, làm thế nào để khai thác TSTT địa phương hiệu quả lại là một vấn
đề không hề đơn giản, bởi du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ khá trừu tượng, được phát triển để đáp ứng nhu cầu du lịch của con người, đa dạng từ khám phá văn hóa, tìm hiểu thiên nhiên, đến nghỉ dưỡng, giải tr …
Trên thế giới hiện nay có rất nhiều mô hình nghiên cứu về quản trị tri thức
(knowledge management), tiêu biểu như mô hình “Knowledge Category Model” của
Boisot (1987) xem xét tr tuệ trên kh a cạnh được chia sẻ (diffused) và được pháp luật bảo vệ (codified); mô hình “Knowledge Management Model” của Nonaka và Takeuchi (1995) đánh giá quản trị những yếu tố tri thức tường minh (explicit
element) và tiềm ẩn (implicit element)
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, việc chọn lựa áp dụng mô hình khai thác nào cần phải được xem xét kỹ lưỡng trong mối liên hệ với tất cả các điều kiện
Trang 30và yếu tố liên quan, nhằm tối đa hóa lợi ch của việc khai thác đối tượng nghiên
cứu Với đề tài này, tác giả lựa chọn mô hình Chuỗi giá trị kiến thức (Knowledge
Value Chain) của M P Weggeman (1998) để khai thác TSTT địa phương trong
phát triển du lịch Mô hình này khai thác đối tượng nghiên cứu theo quy trình bốn bước liên hoàn, phù hợp với điều kiện phát triển du lịch Việt Nam
Theo mô hình này, nền tảng cơ sở để khai thác TSTT địa phương cho hoạt động du lịch bao gồm bốn yếu tố (MVOS) sau:
Hình 1.2: Cơ sở khai thác tài sản trí tuệ địa phương trong phát triển du lịch
(Nguồn: M P Weggeman, 1998)
- Sứ mệnh (Mission): Mỗi địa phương đều có nhận diện thương hiệu du lịch riêng, được phát biểu thành khẩu hiệu, tôn chỉ nhằm thể hiện vì sao địa phương lại phát triển du lịch
- Tầm nhìn (Vision): Địa phương muốn x y dựng và phát triển du lịch trong tương lai như thế nào
- Mục tiêu (Goal): Địa phương có những mục tiêu cụ thể để phát triển du lịch
- Chiến lược (Strategy): Từ mục tiêu đó, x y dựng những chiến lược cụ thể
để phát triển du lịch
Trên nền tảng đó, tác giả khái quát mô hình khai thác TSTT địa phương trong phát triển du lịch như sau:
Sứ mệnh
Tầm nhìn
Mục tiêu Chiến lược
Trang 31Hình 1.3: Mô hình khai thác tài sản trí tuệ địa phương trong phát triển du lịch
(Nguồn: M P Weggeman, 1998)
Mô hình bao gồm bốn bước để khai thác một TSTT địa phương vào hoạt động phát triển du lịch, được ph n t ch như sau:
- Bước 1: Phát triển TSTT địa phương cho hoạt động du lịch Bước này
bao gồm việc định hình những TSTT sẵn có ở địa phương, xác định khoảng cách giữa nhu cầu và thực tế của những TSTT địa phương cho phát triển du lịch, từ đó tạo ra những TSTT mới nhằm thu hẹp khoảng cách đó
Để xác định được khoảng cách đó, yêu cầu cần thiết phải hiểu rõ trạng thái của tài nguyên du lịch – điều kiện tiên quyết để phát triển du lịch Có ba trạng thái của tài nguyên du lịch bao gồm:
Tài nguyên sẵn có nhưng không có ch cho hoạt động phát triển du lịch,
do đó không cần phải quan t m đến việc khai thác những tài nguyên đó
Tài nguyên sẵn có và có ch cho hoạt động phát triển du lịch, do đó cần thiết phải x y dựng kế hoạch khai thác hiệu quả, tối đa hóa lợi ch kinh tế và xã hội, tiến tới phát triển bền vững, khai thác hiện tại không ảnh hưởng đến sự phát triển trong tương lai
Tài nguyên cần nhưng không sẵn có: đ y ch nh là những tài nguyên du lịch đang được mong đợi của du khách nhưng chưa có Vì vậy, con người cần nghiên cứu để tạo ra và thương mại hóa chúng nhằm đáp ứng nhu cầu, thu hẹp khoảng cách
Trang 32- Bước 2: Truyền bá TSTT địa phương cho phát triển du lịch Hoạt động
này bao gồm việc chia sẻ nguồn tài nguyên du lịch, chuyển giao công nghệ sản xuất, chế biến và truyền bá văn hóa truyền thống, kiến thức địa phương qua các thế
hệ
- Bước 3: Ứng dụng TSTT địa phương cho phát triển du lịch Sau khi
truyền bá, hoạt động này nhằm mục đ ch đưa TSTT địa phương g n với thực tiễn của phát triển du lịch, đáp ứng nhu cầu của du khách về TSTT địa phương
- Bước 4: Đánh giá và bảo vệ TSTT địa phương cho phát triển du lịch Đ y
là hoạt động cuối cùng của mô hình khai thác TSTT địa phương cho phát triển du lịch, nhằm giữ gìn và phát huy hiệu quả TSTT địa phương cho sự phát triển bền vững
Do nhu cầu du lịch của con người không ngừng thay đổi, sau khi hoàn thành bốn hoạt động này, quy trình tiếp tục quay vòng, đánh giá khoảng cách giữa những TSTT địa phương hiện có và nhu cầu của con người, tạo ra những TSTT mới, truyền bá, ứng dụng và bảo vệ những tài sản ấy trong hoạt động du lịch MVOS được giữ nguyên hoặc thay đổi, tùy thuộc vào mỗi giai đoạn phát triển của du lịch
Trang 33CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KHAI THÁC TÀI SẢN TRÍ TUỆ ĐỊA PHƯƠNG TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VIỆT NAM GIAI ĐOẠN
2000 – 2014
2.1 Tình hình phát triển du lịch Viêt Nam giai đoạn 2000 - 2014
2.1.1 Lịch sử phát triển ngành du lịch Việt Nam giai đoạn 2000 - 2014
2.1.1.1 Du lịch Việt Nam trước thời kỳ năm 2000
Để hiểu rõ về lịch sử phát triển ngành trong giai đoạn nghiên cứu, tác giả khái quát một số nét về du lịch Việt Nam những năm trước thế kỷ XXI
Vào thời điểm đó, Việt Nam là một nước thuần nông nghiệp, kinh tế chưa phát triển, không có nhiều các hoạt động giao thương, trao đổi trong và ngoài nước Tuy nhiên, ngành Du lịch đã b t đầu manh nha hình thành và phát triển khi Hội
đồng Ch nh phủ ký Nghị định số 26/NĐ-CP ngày 09/7/1960 về việc “Thành lập
Công ty Du lịch Việt Nam trực thuộc Bộ Ngoại thương” Đ y được xem là cơ sở
pháp lý đầu tiên, đặt nền tảng cho sự phát triển ngành Du lịch nước nhà Sau đó, đến ngày 27/6/1978, Tổng cục Du lịch được thành lập, trực thuộc Hội đồng Ch nh Phủ theo Quyết nghị số 262 NQ/QHK6 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử, đất nước vừa thoát khỏi hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, các điều kiện phát triển kinh tế dịch vụ nói chung và du lịch nói riêng chưa phát triển Số lượng khách du lịch đến Việt Nam chưa nhiều, chủ yếu tập trung vào các nước như Liên Xô, Trung Quốc… Người dân lúc này cũng chưa có ý thức rõ về tiềm năng và lợi thế phát triển du lịch của đất nước
2.1.1.2 Du lịch Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến 2014
Sau đổi mới, Việt Nam mở cửa nền kinh tế thị trường, hội nhập cùng với thế giới Du lịch nước nhà đã có những bước phát triển vượt bậc Đầu tiên phải kể đến
là sự thành lập của Tổng cục Du lịch Việt Nam - cơ quan chuyên trách, đi đầu trong nhiệm vụ phát triển ngành du lịch nước nhà Các cơ chế ch nh sách phát triển du
lịch được bổ sung, tạo môi trường cho du lịch hoạt động thông thoáng “Chiến lược
Trang 34phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010” đã được Thủ tướng Ch nh phủ
phê duyệt; quy hoạch các vùng du lịch và x y dựng các trọng điểm du lịch trên 50 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương, một số điểm du lịch, khu du lịch đã có quy hoạch, tạo điều kiện để đẩy mạnh quản lý du lịch và x y dựng các dự án đầu tư Hàng trăm, dự án quy hoạch chi tiết du lịch đang được khẩn trương thực hiện, tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, góp phần quản lý, khai thác tài nguyên du lịch ngày một hiệu quả Nhờ đó, bản đồ du lịch Việt Nam được quy hoạch rõ ràng, chia vùng các điểm du lịch, là một “kim chỉ nam” cho du khách trong các kế hoạch du lịch
Hơn thế nữa, năm 2005, Luật Du lịch Việt Nam ra đời, khẳng định một bước tiến lớn về khuôn khổ pháp lý Hệ thống quản lý nhà nước về du lịch từ Trung ương tới địa phương không ngừng đổi mới và hoàn thiện Sự ra đời của Hiệp hội Du lịch Việt Nam, sự trưởng thành và lớn mạnh không ngừng của hệ thống doanh nghiệp du lịch; cơ sở hạ tầng, các trung t m, điểm đến du lịch, khu nghỉ dưỡng, khách sạn, khu giải tr , các tuyến du lịch, loại hình du lịch đa dạng tạo diện mạo mới và tiền đề quan trọng, tạo đà cho du lịch Việt Nam phát triển
Bên cạnh những thành tựu đạt được, qua 10 năm thực hiện Chiến lược cho thấy ngành Du lịch còn nhiều hạn chế và bất cập; nhiều khó khăn, trở ngại vẫn chưa được giải quyết thoả đáng; chưa có bước phát triển đột phá để khẳng định thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn; kết quả chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của đất nước, phát triển nhưng vẫn ẩn chứa nhiều nguy cơ, yếu tố thiếu bền vững
Từ những thành tựu cũng như hạn chế đó, Tổng cục Du lịch tiếp tục đề ra
“Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030”, nhằm đưa
du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có t nh chuyên s u, chuyên nghiệp, có hệ thống cơ sở vật chất- kỹ thuật đồng bộ, hiện đại; các sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản s c văn hóa d n tộc, cạnh tranh được với các nước trong khu vực và thế giới Phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam trở thành quốc gia có ngành du lịch phát triển
Trang 352.1.2 Những điều kiện phát triển du lịch Việt Nam
2.1.2.1 Tài nguyên du lịch của Việt Nam
Với dáng hình tuyệt đẹp uốn cong từ địa đầu Móng Cái đến mũi Cà Mau, Việt Nam sở hữu những nguồn tài nguyên thiên nhiên và nh n văn phong phú Những nguồn tài nguyên này là cơ sở để phát triển du lịch nước nhà bền vững
- Tài nguyên du lịch tự nhiên:
Vị trí địa lý:
Việt Nam nằm ở cực đông nambán đảo Đông Dương, có phần đất liền trải dài từ kinh tuyến 102°8′ Đông đến 109°27′ Đông và từ vĩ tuyến 8°27′ B c đến 23°23′ B c Diện t ch đất liền vào khoảng 331.698km² Biên giới Việt Nam phía đông giáp vớivịnh B c Bộvà biển Đông, ph a nam giáp vịnh Thái Lan, ph a b c giáp Cộng hoà Nh n d n Trung Hoa, và Làovà Campuchia ởph a t y Hình thể nước Việt Nam có hình chữS, khoảng cách từ b c tới nam khoảng 1.648kmvà vị
tr hẹp nhất theo chiều đông sang t y là 50 km, nằm ở khu vực biên giới Việt - Lào Đường bờ biển dài 3.260 km không kể cácđảo Ngoài vùng nội thuỷ, Việt Nam tuyên bố 12 hải lý lãnh hải, thêm 12 hải lý vùng tiếp giáp lãnh hải, 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế và cuối cùng là thềm lục địa Diện t ch vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam chiếm diện t ch khoảng 1.000.000 km2 biển Đông (TCDL, 2005)
Với vị tr địa tr thuận lợi như vậy, Việt Nam dễ dàng phát triển du lịch, thu hút du khách bằng nhiều loại hình du lịch đa dạng, đồng thời là cửa ngỏ cho du khách quốc tế đến tham quan và tìm hiểu các nước láng giềng và trong khu vực
Địa hình:
Việt Nam là một quốc gia nhiệt đới với những vùng đất thấp, đồi núi, nhiều cao nguyên với những cánh rừng rậm Đất nước được chia c t thành nhiều dạng địa hình khác nhau như địa hình miền núi, đồi núi, đồng bằng sông Hồng ở phía b c, đồng bằng duyên hải miền trung, và đồng bằng sông Cửu Long ở phía nam Hơn thế nữa, địa hình bờ bãi biển cũng mang lại nguồn lợi khai thác cao cho
du lịch Các bãi t m đẹp, vịnh đảo đặc s c thích hợp với các hoạt động nghỉ mát t m
Trang 36biển, nghỉ dưỡng, tham quan đảo, thể thao trên biển Các bãi biển nổi tiếng tại Việt Nam thu hút lượng khách du lịch đông nhất hàng năm gồm có bãi biển Nha Trang- Khánh Hòa, bãi biển Bà Rịa- Vũng Tàu, bãi biển Phú Quốc…
Bên cạnh đó, các dạng địa hình đặc biệt có thể kể đến như địa hình đá vôi (Karstơ), địa hình vùng đất ngập nước, địa hình hang động Địa hình đá vôi là kiểu địa hình tạo nên do sự lưu động của nước trong các đá dễ hoà tan như đá vôi, đá phấn, thạch cao… gần karstơ (hang động), Karstơ ngập nước, Karstơ trên cạn Địa hình vùng đất ngập nước là vùng đất đã bị bão hòa do độ ẩm theo mùa hay vĩnh viễn, dược bao phủ một phần hay hoàn toàn bởi các hồ cạn Các vùng đất ngập nước bao gồm đầm lầy, đồng lầy, đầm và bãi lầy Tại Việt Nam, địa hình này phát triển mạnh ở các địa phương khu vực phía Nam, là một trong những nét du lịch mang đậm tính vùng miền sông nước Một số điểm du lịch nổi tiếng xuất hiện loại địa hình này có thể kể đến Vườn Quốc gia Tràm Chim (Tỉnh Đồng Tháp) hay Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau (Tỉnh Cà Mau) Bên cạnh đó, Việt Nam nổi tiếng với các hang động kỳ vĩ như động Phong Nha- Kẻ Bàng, hang Sơn Đoòng- Quảng Bình, được mệnh danh là hang động lớn nhất hành tinh (Kênh truyền hình ABC, 2015)
Khí hậu:
Kh hậu Việt Nam ph n bố thành 3 vùng: miền b c có kh hậu cận nhiệt đới
ẩm, miền trung mang đặc điểm kh hậu nhiệt đới gió mùa, trong khi khi miền nam nằm trong vùng nhiệt đới xavan Kh hậu Việt Nam có độ ẩm tương đối trung bình 84-100% cho cả năm Tuy nhiên, vì có sự khác biệt về vĩ độ và sự khác biệt địa hình nên kh hậu có khuynh hướng khác biệt nhau khá rõ nét theo từng vùng Ngoài
ra, lượng mưa hàng năm ở mọi vùng đều lớn dao động từ 120 đến 300 cm, và ở một
số nơi có thể g y nên lũ Gần 90% lượng mưa đổ xuống vào mùa hè Nhiệt độ trung bình hàng năm ở đồng bằng nói chung hơi cao hơn so với vùng núi và cao nguyên Dao động nhiệt độ từ mức thấp nhất là 5°C từ tháng 12 đến tháng 01, tháng lạnh nhất, cho tới hơn 37 °C vào tháng 4, tháng nóng nhất Sự ph n chia mùa ở nửa ph a
b c rõ rệt hơn nửa ph a nam, nơi mà chỉ ngoại trừ vùng cao nguyên, nhiệt độ mùa chỉ chênh lệch vài độ, thường trong khoảng 21-28 °C
Trang 37Sự đa dạng về vùng khí hậu chính là một trong những yếu tố giúp cho du lịch Việt Nam phát triển quanh năm
Tài nguyên nước:
Việt Nam có nguồn tài nguyên nước dồi dào Đa số các địa phương đều có hai nguồn nước chính là nguồn mặt nước và nguồn nước ngầm Nguồn nước mặt bao gồm đại dương, biển, sông, suối, karstơ, thác nước Nguồn nước ngầm là những mạch nước, nguồn nước nằm dưới dòng đất, thuộc phạm vi địa phận của địa phương đó Đặc biệt, trong tài nguyên nước phải nói đến tài nguyên nước chủ yếu là nước khoáng, nước dưới lòng đất có giá trị du lịch an dưỡng và chữa bệnh V dụ như nhóm nước khoáng cacbonic là nhóm nước khoáng quý có công dụng giải khát rất tốt và chữa một số bệnh như cao huyết áp, sơ vữa động mạch nhẹ, các bệnh về
hệ thần kinh ngoại biên Nhóm nước khoáng silic có công hiệu đối với các loại bệnh về đường tiêu hoá này Ngoài ra còn nhiều nhóm nước khoáng khác với ý nghĩa du lịch chữa bệnh khác nhau
Tài nguyên động thực vật, sinh vật, sinh quyển:
Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có nền sinh vật học đa dạng nhất trên thế giới Về thành phần các loài động thực vật, tại Việt Nam có tới 14.624 loài thực vật thuộc gần 300 họ, trong đó có nhiều loài cổ xưa và hiếm có, v
dụ như Tuế phát triển từ Đại Trung Sinh, các loài có giá trị kinh tế gồm hơn 1000 loài lấy gỗ, 100 loài có dầu, hơn 1000 loài c y thuốc, 100 loài quả rừng ăn được
Về động vật có tới 11.217 loài và ph n loài, trong đó có 1.009 loài và ph n loài chim, 265 loài thú, 349 loài bò sát lưỡng cư, 2000 loài cá biển, hơn 500 loài cá nước ngọt và hàng ngàn loài tôm, cua, nhuyễn thể và thủy sinh vật khác Về các loài thú, Việt Nam có 10 loài đặc trưng nhiệt đới: Cheo, Đồi, Chồn bay, Cầy mực, Cu li, Vượn, Tê tê, Voi, Heo vòi, Tê giác và đặc biệt, trong thế kỷ 20 có 5 loài thú lớn mới được phát hiện thì đều ở Việt Nam (TCDL, 2005)
Ngoài ra, Việt Nam còn sở hữu những hệ sinh thái tự nhiên kỳ thú, hấp dẫn con người đến chiêm ngưỡng như hệ sinh thái san hô, hệ sinh thái đất ngập nước, hệ sinh thái vùng cát ven biển, hệ sinh thái rừng nhiệt đới… Nhiều vườn quốc gia là vùng lõi của khu dự trữ sinh quyển thế giới, được UNESCO công nhận như: Vườn
Trang 38quốc gia Cát Bà là vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà, vườn quốc gia Xu n Thủy và Khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải là vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển ch u thổ sông Hồng, các vườn quốc gia Mũi Cà Mau và U Minh Hạ cùng với dãy phòng hộ ven Biển T y là vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau…
- Tài nguyên du lịch nhân văn
Các di tích lịch sử văn hoá:
Các tiềm năng nh n văn cho phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam cũng rất
đa dạng và phong phú D n tộc Việt Nam có hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước với nền văn hóa đa dạng bản s c của 54 d n tộc anh em, trong đó có nhiều tài nguyên đặc biệt có giá trị Chỉ t nh riêng về các di t ch, trong số khoảng 40.000
di t ch hiện có thì hơn 2.500 di t ch được Nhà nước ch nh thức xếp hạng Tiêu biểu nhất Cố Đô Huế; đô thị cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn…
Các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể:
Việt Nam có rất nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể Hiện nay, cả nước có hơn 100 vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, các khu danh th ng nổi tiếng như: Vịnh Hạ Long, Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng được công nhận là
di sản thiên nhiên thế giới và khoảng 40.000 di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, trong đó trên 2.800 di t ch được xếp hạng quốc gia Các di sản văn hóa thế giới như:
Cố đô Huế, Di t ch Mỹ Sơn, phố cổ Hội An, Nhã Nhạc Cung Đình Huế, Không gian văn hoá Cồng chiêng T y Nguyên là niềm tự hào đồng thời cũng là những báu vật
vô giá của d n tộc ta Hệ thống những di sản này ch nh là “cơ sở hình thành và phát
triển các sản phẩm du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái và du lịch văn hoá góp phần đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm du lịch của khu vực châu Á, thu hút lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam ngày càng tăng, đem lại nguồn thu lớn cho nền kinh tế quốc dân” (Lê Trọng Bình, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát
Trang 39miền, thể hiện niềm tin của con người, đồng thời cũng là niềm tự hào về truyền thống quê hương
Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học:
Với 54 dân tộc anh em, Việt Nam sở hữu một kho tàng tri thức truyền thống, những phong tục tập quán, t n ngưỡng đa dạng, thể hiện những niềm tin của con người vào cuộc sống Hiện nay, dân tộc đông nhất là dân tộc Kinh, chiếm khỏng 86,2% dân số Các dân tộc thiểu số đông d n nhất là Tày, Thái, Mường, Khmer, H’mông…Đa số các dân tộc này sống ở miền núi và vùng sâu vùng xa ở miền
B c, Tây Nguyên, miền Trung và vùng đồng bằng sông Cửu Long Một số dân tộc t người như Ơ đu, Rơ Măm chỉ có trên 300 người (TCDL, 2005)
Các đối tượng văn hoá, thể thao và các hoạt động nhận thức khác:
Từ sau Đổi Mới, Việt Nam chú trọng vào đầu tư phát triển các trung t m văn hóa, thể thao, nghệ thuật, nhằm nghiên cứu và giới thiệu văn hóa, n ng cao nhận thức người d n Hoạt động này mang một ý nghĩa vô cùng to lớn, là nơi trao đổi thông tin, lưu giữ các giá trị văn hóa, khám phá và phát triển các TSTT của d n tộc Một vài trung t m nghiên cứu lớn của Việt Nam như Trung T m Nghiên Cứu Và Phát Huy Giá Trị Di Sản Văn Hóa, Trung t m Nghiên cứu, Hỗ trợ và Phát triển Văn hóa… Ngoài ra các thư viện lớn và nổi tiếng như thư viện Tràng Tiền, thư viện Đại học quốc gia là nơi lưu giữ các tác phẩm văn hóa, nghệ thuật, có giá trị
Bên cạnh đó, các chương trình giao lưu, tìm hiểu văn hóa thường xuyên được
tổ chức tại các tỉnh, thành phố như chương trình liên hoan m nhạc, s n khấu, điện ảnh, các cuộc thi đấu thể thao quốc tế, khu vực, biểu diễn nghệ thuật, các cuộc thi hoa hậu, thi giọng hát hay, các làng nghề thủ công truyền thống…
2.1.2.2 Định hướng và chính sách phát triển du lịch của Việt Nam
- Giai đoạn phát triển trước năm 2010
Việt Nam sau thời kỳ đổi mới, đã xác định du lịch là một trong những ngành
kinh tế trọng điểm “Chiến lược phát triển du lịch giai đoạn 2001- 2010” đã được
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 97/2002/QĐ-TTg năm 2002 với mục tiêu xây dựng sản phẩm du lịch, tuyên truyền quảng bá, đầu tư cơ sở vật chất
Trang 40kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ, hợp tác và hội nhập quốc tế, phát triển tổ chức lãnh thổ về du lịch
Trong giai đoạn này, ngành Du lịch đã có nhiều tiến bộ và đạt được những thành tựu đáng ghi nhận Luật Du lịch Việt Nam ra đời năm 2005 khẳng định một bước tiến lớn về khuôn khổ pháp lý Chiến lược, quy hoạch phát triển du lịch, các chương trình, kế hoạch, đề án, dự án được triển khai rộng kh p trên phạm vi cả nước Hệ thống quản lý nhà nước về du lịch từ Trung ương tới địa phương không ngừng đổi mới và hoàn thiện cùng với sự hình thành phát huy vai trò của Ban chỉ đạo nhà nước về du lịch Bên cạnh đó, sự ra đời của Hiệp hội Du lịch Việt Nam, sự trưởng thành và lớn mạnh không ngừng của hệ thống doanh nghiệp du lịch; cơ sở
hạ tầng, các trung t m, điểm đến du lịch, khu nghỉ dưỡng, khách sạn, khu giải trí, các tuyến du lịch, loại hình du lịch đa dạng tạo diện mạo mới và tiền đề quan trọng tạo đà cho du lịch Việt Nam phát triển Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, qua 10 năm thực hiện Chiến lược cho thấy ngành Du lịch còn nhiều hạn chế
và bất cập; nhiều khó khăn, trở ngại vẫn chưa được giải quyết thoả đáng; chưa có bước phát triển đột phá để khẳng định thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn; kết quả chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của đất nước, phát triển nhưng vẫn ẩn chứa nhiều nguy cơ, yếu tố thiếu bền vững
- Giai đoạn phát triển sau năm 2010
Xu hướng hội nhập, hợp tác, cạnh tranh toàn cầu, giao lưu mở rộng và tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ trong nền kinh tế tri thức trên thế giới đang tạo những cơ hội to lớn đồng thời cũng là thách thức đối với phát triển du lịch Trước bối cảnh và xu hướng đó, Ch nh phủ phối hợp cùng các cơ quan ban ngành
có liên quan như Tổng cục Du lịch, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đã tiến hành
đánh giá, xác định những ưu nhược điểm của du lịch Việt Nam để đề ra “Chiến
lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, với quan
điểm phát triển đột phá để đáp ứng được những yêu cầu mới của thời đại về tính chuyên nghiệp, tính hiện đại, hội nhập, hiệu quả và bền vững tương xứng với tiềm năng của đất nước, đủ sức cạnh tranh trong khu vực và quốc tế Chiến lược phát triển du lịch đến năm 2020, do đó, nhấn mạnh cần kh c phục những điểm yếu, hạn