Đồng thời, với việc nghiên cứu tôi đưa ra các giải pháp nhằm: Nâng cao ý thức của người dân địa phương trong việc bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa; đưa lễ hội của địa phương trở
Trang 1Sinh viên thực hiện : Lê Thị Kim Oanh Chuyên ngành : Cử nhân Lịch Sử
Người hướng dẫn : ThS Nguyễn Mạnh Hồng
à Nẵng, tháng 5/ 2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo – ThS Nguyễn Mạnh Hồng, người đã hết lòng tận tình hướng dẫn và giúp đỡ để em hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp này Đây là cơ hội để em được vận dụng những kiến thức đã được học từ trường lớp đồng thời học tập và tìm hiểu thêm những điều mới lạ
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong khoa Lịch sử, trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng cùng đội ngũ cán bộ Sở Văn hóa – Thể thao và
Du lịch tỉnh Đắk Lắk đã tạo điều kiện, quan tâm, hộ trỡ cho em
Bên cạnh đó, em cũng xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể bạn bè, người thân, gia đình – những người đã luôn bên cạnh em, ủng hộ em suốt thời gian qua
Đà Nẵng, ngày 17 tháng 5 năm 2013 Tác giả
Lê Thị Kim Oanh
Trang 3MỞ ẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nhắc đến Đắk Lắk người ta nghĩ đến một miền đất bazan xa xôi, nơi đầy nắng và gió; với những rẫy cà phê xanh bạt ngàn; những con dốc khúc khuỷu và con người cần mẫn, chịu khó Lên với Đắk Lắk một lần dễ khiến mê lòng mỗi
du khách Để đến khi về dưới xuôi rồi vẫn còn nhung nhớ lắm
Mảnh đất này không chỉ nhận được sự ưu ái của đất trời với những cảnh quan trù phú, đây còn là nơi lưu giữ cả một kho tàng văn hóa, nghệ thuật của dân tộc Những nét đẹp văn hóa ấy đã được gìn giữ từ bao đời, như một sự thách thức với thời gian và sự thay đổi của thời đại Và hàng năm lại được dịp phô bày vào những ngày lễ hội Đến Đắk Lắk vào ngày đầu xuân du khách sẽ bị thu hút vào những hoạt động lễ hội của mỗi cộng đồng dân tộc thiểu số Hơn 44 dân tộc tạo nên một bức tranh ngày xuân đầy màu sắc Sẽ thật thiếu sót nếu nghiên cứu về văn hóa nơi đây mà không nhắc đến các lễ hội Bởi chính lễ hội là sự phản ánh chân thật và rõ nét vẻ đẹp của văn hóa Nơi mà con người nhìn thấy chính họ sau những bon chen, toan tính của cuộc sống; nơi họ tìm về với những truyền thống văn hóa, đạo lí tốt đẹp; nơi thể hiện khát vọng sống và tình yêu trọn vẹn, Tuy nhiên việc tổ chức lễ hội ở đây mới chỉ dừng lại ở quy mô là những lễ hội dân gian mang ý nghĩa văn hóa thuần túy, mà chưa có sự mở rộng hoạt động của các lễ hội thành sản phẩm thu hút của ngành du lịch Vẫn chưa có sự kết hợp giữa các lễ hội với những tài nguyên du lịch khác để phát triển mạnh mẽ hoạt động du lịch Bên cạnh đó những năm gần đây, trước sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế và khoa học kĩ thuật, con người, mà đặc biệt là giới trẻ ít nhiều lãng quên những giá trị văn hóa truyền thống Vì vậy bảo tồn và phát triển các lễ hội ở Đắk Lắk và qua đó phát triển du lịch là vấn đề cấp thiết hiện nay Xuất phát từ mong muốn tìm hiểu các lễ hội của Đắk Lắk và việc kết hợp lễ hội với phát triển du
lịch, kết hợp học tập với nghiên cứu, tôi chọn đề tài: “Khai thác giá trị của các
lễ hội để phát triển du lịch tỉnh Đắk Lắk”, làm báo cáo khóa luận tốt nghiệp
của mình
Trang 42 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Lễ hội các dân tộc Tây Nguyên nói chung, của Đắk Lắk nói riêng là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, đặc biệt là các nhà dân tộc học, văn hóa học và những người kinh doanh du lịch, Đã có nhiều tác phẩm, công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này
Đề tài “Nghiên cứu sự tác động của kinh tế thị trường vào lễ hội tín ngưỡng của người Ê đê ở Đắk Lắk” do PGS.TS Khổng Diễn làm chủ nhiệm (03/2012)
Đề tài đánh giá thực trạng và chỉ ra những tác động của nền kinh tế thị trường đến các lễ hội tín ngưỡng của người Ê đê ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay Đồng thời đưa ra những giải pháp, khuyến nghị về cơ chế, chính sách phù hợp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của các lễ hội tín ngưỡng ở Đắk Lắk trong giai đoạn tới Qua đó đề tài nêu lên những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự mất đi của các lễ hội Đề tài đã cung cấp các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách và góp phần giải quyết những vấn đề thực tiễn, đóng góp vào việc phát triển khoa học, phục vụ cho công tác đào tạo nghiên cứu
Tác phẩm "Văn hóa dân gian Tây Nguyên - một cách nhìn" (2002), của Linh
Nga Niê Kdăm, nghiên cứu về văn hóa các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên Tác giả đã có những nhận định, đánh giá, những dẫn chứng thuyết phục giúp người đọc có thể hiểu sâu sắc, đầy đủ hơn về con người, cuộc sống Tây Nguyên với những phong tục, tập quán, với những trường ca, sử thi, những lễ hội truyền thống, trò chơi dân gian, tục uống rượu cần, Tác giả còn cho thấy một cái nhìn hiện thực nghiêm ngặt, sắc bén khi đưa ra những người thực, việc thực, những
sự kiện, những số liệu, những việc làm cụ thể, chính xác làm mất mát, mai một, tàn lụi theo tháng ngày những truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc Tây Nguyên
Tập sách “Những mảng màu văn hóa Tây Nguyên” của GS.TS Ngô Đức
Thịnh xuất bản năm 2007 nghiên cứu về các nền văn hóa Tây Nguyên, trí thức bản địa, kiến trúc dân gian, ẩm thực, cồng chiêng, trang phục các tộc người, ký
Trang 5họa dân tộc Êđê, nếp nhà cổ truyền và văn hóa dân gian MNông, Tác giả đã di sâu tìm hiểu về văn hóa các dân tộc thiểu số năm tỉnh Tây Nguyên, qua đó cũng phác họa được bức tranh lễ hội đầy màu sắc Tác giả không chỉ tái hiện được không gian các hoạt động của các lễ hội mà còn đưa ra những nghiên cứu sâu sắc về giá trị và ý nghĩa của chúng trong đời sống, đặc biệt là đời sống tâm linh của cộng động các dân tộc ở cao nguyên này
Sách ảnh “Lễ hội Tây Nguyên” của nghệ sĩ nhiếp ảnh Trần Phong xuất bản
năm 2008 là 1 tập sách ảnh nghệ thuật - dân tộc học Là kho ảnh đồ sộ rất nhiều ảnh về các mặt đời sống, sinh hoạt và lễ hội của người Tây Nguyên Cuốn sách
đã lột tả cái không khí tưng bừng, cái sắc thái riêng biệt của mùa hội trên Tây Nguyên Tác phẩm đã gây tiếng vang trong giới điện ảnh và giới nghiên cứu văn hóa Tây Nguyên
Các công trình, tác phẩm kể trên đều là những công trình, tác phẩm có giá trị,
có sự đầu tư nghiên cứu về văn hóa, lễ hội của Tây Nguyên nói chung, tỉnh Đắk Lắk nói riêng Đó là tư liệu quý phục vụ việc thực hiện đề tài Tuy nhiên các tác giả đều tập trung vào mảng văn hóa, vấn đề khai thác lễ hội để phát triển du lịch không được đề cập đến, hoặc nếu có cũng chỉ mang tính giới thiệu chứ chưa đi sâu và chưa đưa ra những nhận dịnh đánh giá cũng như chưa có những đề xuất nhằm phát triển du lịch tỉnh thông qua lễ hội
3 Mục đích nghiên cứu
Là người con của địa phương, việc tìm hiểu về đặc điểm và thực trạng hoạt động của các lễ hội tại tỉnh Đắk Lắk, trước hết để tôi hiểu rõ hơn về các lễ hội truyền thống văn hóa trên mảnh đất quê hương mình
Đồng thời, với việc nghiên cứu tôi đưa ra các giải pháp nhằm: Nâng cao ý thức của người dân địa phương trong việc bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa; đưa lễ hội của địa phương trở thành tài nguyên phục vụ cho hoạt động du lịch, góp phần nâng cao thu nhập và hiệu quả kinh tế của tỉnh
Khi nhắc đến lễ hội ở tỉnh Đắk Lắk người ta chỉ biết đến một số lễ hội mang
Trang 6tầm quốc gia như Lễ hội cồng chiêng mà không biết đến những lễ hội khác của tỉnh Do đó, khóa luận hoàn thành sẽ là nguồn tài liệu góp phần giới thiệu rộng rãi với du khách cũng như nhưng ai quan tâm đến mảnh đất này những giá trị văn hóa mà các lễ hội tại tỉnh Đắk Lắk hiện đang lưu truyền
4 ối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 ối tượng
Đối tượng nghiên cứu là một số lễ hội tiêu biểu có thể phát triển để phuc vụ
du lịch trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Về nội dung, đề tài tìm hiểu khái quát về đặc điểm địa
lí, lịch sử, kinh tế- xã hội, văn hóa, con người của tỉnh Đắk Lắk, qua đó hiểu được tác động của nó đối với lễ hội ở đây Nghiên cứu một số lễ hội văn hóa tiêu biểu như: Lễ hội đâm trâu, lễ hội đua voi, lễ hội cồng chiêng, lễ hội cúng bến nước, lễ hội bỏ mả, lễ hội cà phê, thuộc địa bàn tỉnh Đắk Lắk ở các mặt nội dung, hình thức từ khi các lễ hội này ra đời và phát triển cho đến ngày nay
Ngoài ra, đề tài tìm hiểu thực trạng thu hút khách du lịch tại các lễ hội và phương thức khai thác các lễ hội này vào hoạt động du lịch tại địa phương Đồng thời đưa ra định hướng và một số giải pháp phát triển du lịch lễ hội ở tỉnh Đắk Lắk
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Để thực hiện khóa luận này, tôi sử dụng chủ yếu các nguồn tư liệu sau:
Tài liệu thành văn: Sách chuyên ngành, các công trình nghiên cứu, khóa luận tốt nghiệp, bài viết, sách báo, tạp chí, văn bản,
Tài liệu điền dã thu thập được thông qua việc đi thực tế các lễ hội tiêu biểu trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk và phỏng vấn các cán bộ văn hóa, những người cao tuổi tại địa phương Đây là nguồn tài liệu quan trọng góp phần không nhỏ vào sự thành công của đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 7Phương pháp kế thừa tài liệu: Phương pháp này tìm hiểu địa bàn của các lễ hội, thẩm nhận giá trị tài nguyên trên cơ sở đó đề xuất được những giải pháp hợp lý và khả thi
Phương pháp phân tích xu thế: Bản chất của phương pháp này là dựa vào quy luật biến động trong quá khứ, hiện tại để suy ra xu hướng phát triển trong tương lai Phương pháp phân tích hệ thống: Phân tích một cách có hệ thống các hoạt động du lịch cụ thể để biết được thực trạng phát triển nhằm đề xuất ra những giải pháp hữu hiệu
Phương pháp điều tra khảo sát thực địa: Sử dụng các kết quả của các chuyến khảo sát thực địa, các cuộc điều tra, các cuộc phỏng vấn người dân địa phương, khách du lịch cũng như các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh du lịch, dịch vụ Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các nhà tư vấn, các nhà nghiên cứu văn hóa các dân tộc, các chuyên gia trong công tác quy hoạch, phát triển du lịch cộng đồng
6 óng góp của đề tài
6.1 Về mặt khoa học
Nghiên cứu lễ hội tại tỉnh Đắk Lắk góp phần xây dựng bức tranh tổng thể về
lễ hội văn hóa tiêu biểu trong bối cảnh phát triển kinh tế- xã hội và du lịch của tỉnh
6.2 Về mặt thực tiễn
Giới thiệu, quảng bá hình ảnh lễ hội của tỉnh Đắk Lắk Bên cạnh đó, đưa ra những đề xuất định hướng trong việc bảo tồn, giữ gìn và khai thác giá trị văn hóa để phát triển du lịch
Trang 8NỘI DUNG ƢƠN 1: LÍ LUẬN VỀ DU LỊCH VÀ LỄ HỘI 1.1 Khái quát về du lịch
Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí, nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và nhu cầu khác
Nhìn chung, các khái niệm về du lịch là không giống nhau, tùy thuộc góc độ của chủ thể và tùy thuộc các mốc thời gian mà khái niệm về du lịch có sự khác
nhau Đối với Việt Nam, theo Luật du lịch năm 2006 định nghĩa: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
1.1.2 Phân loại các loại hình du lịch
Dựa vào các tiêu chí phân loại khác nhau, có thể phân du lịch thành các loại
du lịch khác nhau Trong các ấn phẩm về du lịch đã đã được phát hành, khi phân các loại hình du lịch các tiêu thức phân loại thường được sử dụng như sau:
Dựa vào tiêu chí này, du lịch được chia thành hai loại:
Loại hình du lịch nội địa: Là hình thức đi du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến của khách cùng nằm trong lãnh thổ của một quốc gia
Loại hình du lịch quốc tế: Đây là hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát
và điểm đến của khách nằm ở lãnh thổ các quốc gia khác nhau, bao gồm có du
Trang 9lịch quốc tế chủ động và du lịch quốc tế bị động
Căn cứ vào tiêu chí này, người ta chia ra thành các loại hình: Du lịch chữa bệnh; du lịch nghỉ ngơi, giải trí; du lịch thể thao; du lịch văn hóa; du lịch lịch sử;
du lịch sinh thái; du lịch công vụ; du lịch tôn giáo; du lịch thăm hỏi, du lịch quê hương; du lịch quá cảnh, Các loại hình du lịch kể trên thường không thể hiện nguyên một dạng nào đầy đủ và rõ rệt, ta thường gặp sự kết hợp của một vài loại hình một lúc
Căn cứ vào hình thức tổ chức chuyến đi người ta chia thành: Du lịch theo đoàn và du lịch cá nhân
Ngoài ra, còn căn cứ vào các tiêu chí khác như: Phương tiện giao thông được
sử dụng, phương tiện lưu trú, thời gian đi du lịch của khách, vị trí địa lí của nơi đến đi du lịch,… tương ứng với nhiều loại hình khác nhau
1.2 Khái quát về lễ hội
1.2.1 Khái niệm lễ hội
1.2.1.1 Khái niệm “lễ”
“Lễ” theo từ điển tiếng Việt là những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu
hoặc kỉ niệm một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào đó Trong thực tế lễ có nhiều ý
nghĩa và một lịch sử hình thành khá phức tạp Chữ “lễ” được hình thành và được biết tới từ thời nhà Chu (thế kỉ XII TCN) Lúc đầu chữ “lễ” được hiểu là lễ
vật của các gia đình quý tộc, nhà Chu cúng tế thần tổ tông gọi là tế lễ Dần dần
chữ “lễ” được mở rộng nghĩa là hình thức, phép tắc để phân biệt trên, dưới,
sang, hèn, thứ bậc lớn nhỏ, thân sơ trong xã hội khi đã phân hóa thành giai cấp
Cuối cùng, khi xã hội đã phát triển thì ý nghĩa của “lễ” càng được mở rộng như
lễ Thành hoàng, lễ gia tiên, lễ cầu an, lễ cầu mưa,…
Do ngày càng mở rộng phạm vi nên đến nay “lễ” đã mang ý nghĩa bao quát
mọi nghi thức ứng xử của con người với tự nhiên xã hội Như vậy, ta có thể đi
đến một khái niệm chung: “lễ” là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện
Trang 10lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện
1.2.1.2 Khái niệm “hội”
“Hội” là đám vui đông người gồm hai đặc điểm là đông người, tập trung
trong một địa điểm vui chơi với nhau Nhưng chỉ có vậy nhiều khi chưa thành
“hội”, mà phải bao gồm những yếu tố sau đây mới đủ ý nghĩa của nó: “Hội”
phải được tổ chức nhân dịp kỉ niệm một sự kiện quan trọng nào đó liên quan đến
bản làng, cộng đồng dân tộc; “Hội” đem lại lợi ích tinh thần cho mọi thành viên của cộng đồng “Hội” có nhiều trò vui náo nhiệt như câu ca dao ta từng ví “vui xem hát, nhạt xem bơi, tả tơi xem hội” Đây là sự cộng cảm về phương diện tâm
lí sau những ngày tháng lao động vất vả với những khó khăn trong cuộc sống
hằng ngày mà ai cũng phải trải qua Đến với “hội” mọi người sẽ lấy lại được
thăng bằng trong cuộc sống
Như vậy, khái niệm “hội” được tập trung lại như sau: “Hội” là sinh hoạt văn
hóa tôn giáo nghệ thuật của cộng đồng xuất phát từ nhu cầu sống, sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân; hạnh phúc cho từng dòng họ, từng gia đình; sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của những
mùa màng mà bao đời nay đã quy tụ với niềm mơ ước chung với 4 chữ “Nhân - Khang -Vật -Thịnh”
1.2.1.3 Mối quan hệ giữa “lễ” và “hội”
Qua các lễ hội truyền thống Việt Nam, ta có thể rút ra kết luận về mối quan
hệ khăng khít giữa lễ và hội Trong thực tế, giữa lễ và hội có mối quan hệ khó tách rời, chúng luôn hòa quyện với nhau Nếu chỉ có hội mà không có lễ thì mất
vẻ cung kính trang nghiêm và ngược lại nếu chỉ có lễ mà không có hội thì không còn vui nữa
Trên cơ sở ấy chúng ta nhận thấy rằng người nông dân Việt Nam đã sáng tạo
lễ hội như cuộc sống thứ hai của mình, đó là cuộc sống hội hè đình đám, sống động, đậm màu sắc dân gian Phần cuộc sống đó thuộc về những ước mơ, những
Trang 11khát vọng hướng tới cái Chân – Thiện – Mĩ Ở đó, cái đẹp của cuộc sống thực được bộc lộ hết mình trong sự hòa hợp giữa con người với tự nhiên, sự ngưỡng
mộ tri ân với các lực lượng thần thánh siêu nhiên đã có công xây dựng và bảo vệ bản làng Vì thế lễ hội mang tính nhân văn sâu sắc đem lại niềm hi vọng cho con người
Như vậy, chúng ta có thể thấy lễ và hội có mối quan hệ chặt chẽ khăng khít với nhau Chúng luôn song hành và cùng tồn tại với nhau Ở đâu có lễ thì ở đó
có hội và ngược lại
1.2.2 Phân loại lễ hội
Có nhiều cách để phân loại lễ hội, ở mỗi tiêu chí khác nhau thì phân loại lễ hội khác nhau Dưới đây là cách phân loại lễ hội theo mục đích tổ chức và thời gian hình thành, phát triển của lễ hội
1.2.2.1 Căn cứ theo mục đích tổ chức
Ở nước ta lễ hội là sinh hoạt văn hóa vô cùng phong phú và đa dạng mà lại thường đan xen, hòa lẫn về cả nội dung và hình thức Vì vậy, việc phân loại lễ hội càng trở nên cần thiết trong quá trình tìm hiểu nghiên cứu Thường người ta chia lễ hội làm 5 loại: Lễ hội nông nghiệp, lễ hội phồn thực giao duyên, lễ hội văn nghệ, lễ hội thi tài, lễ hội lịch sử
Theo tác giả Hoàng Lương trong cuốn “Lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số miền Bắc Việt Nam” đã phân lễ hội ra làm 2 loại chính: Lễ hội liên quan
đến tín ngưỡng cầu mùa và lễ hội tưởng nhớ người có công với dân tộc
Lễ hội liên quan tới tín ngưỡng cầu mùa: Đây là loại lễ hội phổ biến nhất ở các dân tộc Nội dung lễ hội được thể hiện một cách sinh động ở các nghi thức:
Lễ thức liên quan đến chu trình sản xuất nông nghiệp, lễ thức cầu đảo, lễ rước thờ cúng hồn lúa,… Những lễ hội trên đều mang tính chất tín ngưỡng cầu mùa
mong sao mùa màng “phong đăng hòa cốc”, người an vật thịnh, ngành nghề
phát triển
Lễ hội liên quan đến việc tưởng niệm công lao của các vị danh nhân văn hóa, anh hùng dân tộc, các vị thành hoàng và các chư vị thánh phật Loại lễ hội này
Trang 12đều thờ cúng di tích liên quan đến các vị nhiên thần và nhân thần đã có công khai sơn lập địa, xây dựng gìn giữ bảo vệ làng xóm và các chư vị thần phật có công khai minh, khai mang đền chùa giúp dân diệt trừ tà ác, bảo vệ cái thiện
1.2.2.2 Căn cứ vào thời gian hình thành và phát triển lễ hội
Hiện nay, mỗi khi nhắc đến lễ hội ở nước ta mọi người đều nghĩ ngay đến các
lễ hội truyền thống đã có từ xa xưa Tuy nhiên, khi phân loại lễ hội theo thời gian hình thành và phát triển của xã hội người Việt thì người ta chia ra thành lễ hội truyền thống và lễ hội hiện đại
Lễ hội truyền thống là loại lễ hội sinh hoạt văn hóa - sản phẩm tinh thần của con người, là dịp con người được trở về với cội nguồn tự nhiên hay cội nguồn dân tộc đều mang ý nghĩa thiêng liêng trong tâm trí mỗi người dân Việt Nam Đến với lễ hội, con người sẽ thấy mực thước hơn, sống thoải mái hơn, cảm thấy mọi khó khăn ngày thường tan biến hết Đây là không gian linh thiêng mọi người có thể cầu mong những điều may mắn, mong cuộc sống ấm no hạnh phúc
Lễ hội hiện đại là loại lễ hội mang tính kinh tế thương mại cao, thông thường nội dung gắn với các nhân vật lịch sử, liên quan đến cách mạng và kháng chiến,
là các cuộc triển lãm, liên hoan quốc gia và quốc tế Lễ hội văn hóa thể thao, liên hoan du lịch, hội chợ là những hình thức của lễ hội hiện đại Đây là những hoạt động mang tính thương mại gắn với việc phát triển kinh tế của vùng miền hay ngành nghề, mục đích chủ yếu là khuyếch trương quảng bá sản phẩm, hình ảnh, thương hiệu và tôn vinh những giá trị của làng nghề, những lễ hội này phản ánh nhu cầu và xu thế phát triển của thời đại mới Qua đó lễ hội tạo ra những cơ hội mới, kí kết hợp đồng kinh tế và nhận biết được xu thế phát triển của xã hội
từ đó định hướng phát triển lễ hội cho phù hợp
1.2.3 Chức năng, ảnh hưởng của lễ hội
1.2.3.1 Chức năng của lễ hội
Trong các nền văn hóa ở các không gian và thời gian khác nhau, luôn có một biểu thị chung, mang tính nhân loại: Lễ hội truyền thống Sinh thành trong các lễ hội cổ truyền, các lễ hội truyền thống trải qua nhiều biến thiên lịch sử và tồn tại
Trang 13bền vững trong các xã hội hiện đại Tính bền vững ấy của lễ hội được lí giải bằng nhiều lí lẽ khác nhau, trong đó các lí giải theo quan điểm chức năng luận dường như có sức thuyết phục hơn cả
Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đã tập trung vào hướng phân tích này, tuy nhiên vẫn chưa có sự thống nhất cao về số lượng cũng như tính chất của chức năng lễ hội Về số lượng, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, lễ hội có hai chức năng, có người chia thành ba chức năng Về tính chất, các ý kiến cũng còn rất khác nhau Một cách tổng quan, có thể liệt kê những ý kiến khách nhau ấy về chức năng của lễ hội thành những chức năng sau: Củng cố những mối liên hệ giữa các nhóm, khẳng định tinh thần cộng đồng, khẳng định trình độ văn hóa của một cộng đồng và giao lưu văn hóa trên quy mô xã hội; phản ánh và bảo lưu truyền thống; tuyên truyền giáo dục, hưởng thụ và giải trí, đáp ứng nhu cầu về đời sống tinh thần, nhận thức xã hội; chức năng tâm linh, nhận thức cộng cảm Tóm lại, lễ hội là phương thức toàn diện để đối tượng hóa, hiện thực hóa hệ giá trị cộng đồng thông qua sự thực hành những nghi thức trong lễ hội và những khuôn mẫu ứng xử ngoài lễ hội như những cuộc ăn uống vui chơi Cuộc sống luôn có những biến động thay đổi, lễ hội cũng như vậy, luôn biến đổi để thích ứng với cuộc sống Tuy nhiên, lễ hội sẽ không mất đi, bởi lễ hội có chức năng đặc thù thỏa mãn được nhu cầu văn hóa tổng hợp của cộng đồng và phù hợp với nhu cầu cố kết của bất cứ cộng đồng nào, trong bất kì hoàn cảnh nào
1.2.3.2 Ảnh hưởng của lễ hội
Ngày nay khi xã hội phát triển, đời sống con người được nâng cao thì du lịch trở thành quan trọng nhất trong ngoại thương nền kinh tế mở cửa và là một hiện tượng kinh tế phổ biến Đối với một số quốc gia, du lịch là nguồn thu ngoại tệ quan trọng trong ngoại thương Tại nhiều quốc gia trên thế giới, du lịch đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn hàng đầu Đặc biệt du lịch lễ hội làm cho nền kinh
tế tăng trưởng khá cao, tạo sự thu hút cho du khách đi du lịch
Lễ hội cũng góp phần làm cho cuộc sống của người dân được cải thiện Vào
Trang 14mùa hội những mặt hàng dịch vụ được tăng lên cao, tạo điều kiện cho người dân xóa đói giảm nghèo, không những vậy, lễ hội còn tác động đến du lịch Lễ hội là loại kinh tế mở, nó vừa giới thiệu quảng bá được những chương trình du lịch hấp dẫn với du khách, tạo sự giao lưu đan xen giữa các vùng miền góp phần làm cho kinh tế phát triển, hơn nữa làm giàu cho kho tàng văn hóa, bản sắc dân tộc, tăng doanh thu cho các công ty du lịch Lễ hội thay đổi diện mạo của các điểm
du lịch, xóa đi sự nhàm chán đơn điệu của các điểm du lịch Hoạt động này còn
là nơi trưng bày và trình diễn các sản phẩm truyền thống của địa phương người
ta gọi là kinh tế xuất khẩu tại chỗ, tạo điều kiện tốt để kinh doanh, là cơ hội để đón nhiều đối tượng khách từ nhiều vùng miền cả nước, tăng doanh thu cho địa phương đó và cũng làm cho đất nước đó phát triển
Mặt khác, lễ hội mang tính đối ngoại, là nơi giao lưu tình bạn giữa các nước nên góp phần làm cho đất nước ổn định Ví dụ, Thánh Gióng mặc dù chỉ là sự biểu tượng huyền thoại nhưng sự nghiệp đánh giặc của Gióng là sự nghiệp của
cả nước, khơi gợi lại niềm tự hào của cả dân tộc đã từng có thời kì anh hùng chống lại giặc ngoại xâm Hơn nữa, mở hội Gióng là đề cao khát khao ước mơ mong có sức mạnh phi thường để chiến thắng mọi kẻ thù Sức mạnh đó thực ra
là sức mạnh của chính trị - xã hội trong thời bình
Lễ hội còn ảnh hưởng đến xã hội vì giá trị xã hội thể hiện ở cộng đồng, qua
lễ hội đã thể hiện được cuộc sống mực thước, mọi người hướng thiện và khoan dung hơn, cao thượng hơn và sự nhân đạo của nhân dân ta Nếu không có lễ hội,
xã hội ít đi tính cộng đồng, con người ít quan tâm và sống ích kỉ hơn Chính vì vậy, lễ hội ảnh hưởng lớn đến chính trị - xã hội
Lễ hội là một công cụ văn hóa đa năng để giới thiệu những cái đẹp của đất nước con người trong thời đại mới Lễ hội ảnh hưởng lớn đến văn hóa vì khi đến
lễ hội con người sẽ sống hòa đồng hơn, vui vẻ hơn, nói năng lịch sử hơn
Trong lễ hội, người ta thường khai thác giá trị truyền thống, văn hóa ẩm thực,
Trang 15thủ công mỹ nghệ nên các văn hóa của lễ hội góp phần làm cho lễ hội phong phú hơn, hấp dẫn hơn Đặc biệt, khi tham gia lễ hội du khách có dịp tham gia các trò chơi dân gian, họ gặp gỡ giao lưu các nền văn hóa với nhau Thông qua nghi thức cúng tế, dâng hương, rước kiệu, du khách có thể hiểu được nét đẹp văn hóa đặc sắc, góp phần làm giàu vốn tri thức của họ
1.3 Mối quan hệ giữa lễ hội và du lịch
1.3.1 Tác động của lễ hội đến du lịch
Trong điều luật 79 của Luật du lịch Việt Nam đã xác định rõ, Nhà nước tổ chức hoạt động hướng dẫn du lịch xúc tiến du lịch với các nội dung tuyên truyền giao tiếp rộng rãi về đất nước, con người Việt Nam, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử,… Do đó, lễ hội sẽ làm cho du lịch phát triển hơn, lễ hội làm cho du lịch trở nên hấp dẫn làm cho số lượng du khách tăng lên Du khách đến lễ hội đông kéo theo những nhu cầu khác nhau, khi đó những sản phẩm của ngành du lịch tăng lên
Bản chất của du lịch Việt Nam là du lịch văn hóa, du lịch Việt Nam muốn phát triển tất yếu phải khai thác sử dụng giá trị truyền thống, cách tân và hiện đại hóa sao cho phù hợp hiệu quả, trong đó có kho tàng lễ hội truyền thống Đây
là một thành tố đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam cho nên phát triển du lịch lễ hội chính là sử dụng ưu thế của du lịch Việt Nam trong việc thu hút và phục vụ khách du lịch Mùa lễ hội cũng là mùa du lịch tạo nên hình thức du lịch lễ hội mang bản sắc văn hóa dân tộc được thể hiện qua các sắc thái văn hóa các địa phương, vùng miền phong phú và đặc sắc
1.3.2 Tác động của du lịch đến lễ hội
Lễ hội và du lịch luôn luôn có sự tác động qua lại với nhau và cùng nhau phát triển làm hoàn thiện hơn ngành du lịch Trước hết, hoạt động du lịch có nhiều tác động tích cực đối với lễ hội Du lịch có những đặc trưng riêng làm cải biến hay làm hấp dẫn hơn lễ hội truyền thống Du lịch mang đến nguồn lợi kinh
tế cao cho các địa phương có lễ hội, du lịch tạo việc làm cho người dân địa phương thông qua dịch vụ như: Vận chuyển khách, bán hàng hóa, đồ lưu
Trang 16niệm,… Nhân dân vùng có lễ hội vừa quảng bá hình ảnh văn hóa về đời sống mọi mặt của địa phương mình, vừa có dịp giao lưu, học hỏi tinh hoa văn hóa đem đến từ du khách
Bên cạnh những tác động tích cực còn có những tác động tiêu cực của du lịch đối với lễ hội Với thời gian và không gian hữu hạn của các lễ hội vốn chỉ phù hợp với điều kiện riêng của các địa phương, thực tế, khi khách du lịch tới đông
sẽ ảnh hưởng thay đổi, đôi khi đảo lộn các hoạt động bình thường của địa phương nơi có lễ hội
Hoạt động du lịch với những đặc thù riêng của nó làm biến dạng các lễ hội truyền thống Vì lễ hội truyền thống có đặc tính mở thì vẫn còn những hạn chế nhất định về điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội cổ truyền Nay hoạt động du lịch mang tính liên chất liên ngành, liên vùng, xã hội hóa cao,… sẽ làm mất đi sự cân bằng dẫn đến phá vỡ các khuôn mẫu truyền thống của địa phương trong qua trình diễn ra lễ hội Hiện tượng thương mại hóa các hoạt động lễ hội như: Lừa đảo, bắt chẹt khách để thu lợi nhuận taọ hình ảnh xấu, làm cho du khách có cảm giác hụt hẫng trước một không gian linh thiêng mà tính tôn nghiêm vẫn chưa được kiểm soát chặt chẽ, làm cho du khách đi mà không muốn quay lại lần sau
Du khách đến với lễ hội kéo theo những nhu cầu mất cân đối trong quan hệ cung cầu dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái nhân văn Bản sắc văn hoá
của vùng miền có nguy cơ bị “mờ” do kết quả của sự giao thoa văn hóa thiếu
lành mạnh không thể tránh khỏi đem đến từ một bộ phận du khách
Trang 17ƢƠN 2: LỄ HỘI Ở TỈN ẮK LẮK 2.1 Khái quát tỉnh ắk Lắk và tiềm năng du lịch
2.1.1 Khát quát tỉnh Đắk Lắk
2.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Đắk Lắk, Darlac hay Đắc Lắc ( theo tiếng M'nông: Đăk là nước; Lăk là hồ, còn ghi theo tiếng Pháp là Darlac) là một tỉnh nằm ở trung tâm Tây Nguyên Tỉnh được thành lập theo nghị định ngày 22 tháng 11 năm 1904 của Toàn quyền Đông Dương và tách khỏi Lào, đặt dưới quyền cai trị của Khâm sứ Trung Kỳ Trước đó, vào cuối thế kỷ XIX, Darlac thuộc địa phận Kontum và bị Pháp nhập vào Lào
Đến ngày 9 tháng 2 năm 1913 thì tỉnh này trở thành một đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Kon Tum được thành lập cùng ngày Mãi đến ngày 2 tháng 7 năm 1923 tỉnh Đắk Lắk mới được thành lập lại Lúc mới thành lập, Đắk Lắk chưa chia huyện, tổng mà chỉ có đơn vị làng (còn gọi là buôn), người Êđê có
151 làng, người Bih có 24 làng, người Jrai có 11 làng, người Krung có 28 làng, người M'dhur có 120 làng, người M'nông có 117 làng, người Xiêm có 1 làng Năm 1931, trong cuộc cải cách hành chính toàn Đông Dương, tỉnh Đắk Lắk được chia làm 5 quận gồm có: Ban Mê Thuột, Buôn Hồ, Đăk Song, Lăk và M'Đrăk, dưới có 440 làng
Ngày 15 tháng 4 năm 1950, Bảo Đại ban hành Dụ số 6 đặt Cao nguyên Trung phần, trong đó có Đắk Lắk, làm Hoàng triều Cương thổ, có quy chế cai trị riêng Nghị định số 356-BNV/HC/NĐ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa ngày 2 tháng 7 năm 1958 ấn định tỉnh Đắk Lắk (được ghi là Darlac) có 5 quận, 21 tổng
và 77 xã Trong đó, Quận Ban Mê Thuột có 4 tổng, Quận Lạc Thiện (đổi tên từ quận Lăk) có 7 tổng, Quận M'Đrak có 4 tổng, Quận Đak Song có 2 tổng và Quận Buôn Hồ có 4 tổng
Ngày 23 tháng 1 năm 1959, Chính quyền Việt Nam Cộng hòa ban hành Nghị định số 24/NV, tách gần như toàn bộ quận Đak Song của tỉnh Đắk Lắk, lập ra
Trang 18tỉnh Quảng Đức Như vậy tỉnh Đắk Lắk còn lại 4 quận Sau đó quận M'Đrak lại
bị xé lẻ, một phần nhập vào tỉnh Khánh Hòa Tháng 12 năm 1960, Chính phủ Cách mạng chính thức thành lập tỉnh Quảng Đức dựa trên sự phân chia ranh giới của địch, lấy mật danh là B4
Ngày 20 tháng 12 năm 1963, lập thêm một quận mới tên là Phước An, quận
lỵ đặt tại Phước Trạch, đến ngày 1 tháng 9 năm 1965 chuyển về Thuận Hiếu Sau này lại bỏ cấp tổng, nên chỉ còn cấp quận (4 quận) và xã
Tỉnh Đắk Lắk của nước Việt Nam thống nhất từ năm 1976 hình thành từ hai tỉnh Darlac và Quảng Đức, có diện tích lớn thứ hai Việt Nam sau tỉnh Gia Lai - Kon Tum, gồm thị xã Buôn Ma Thuột và 5 huyện là Krông Buk, Krông Pach (tức Krông Pak), Đăk Mil, Đăk Nông và Lăk Tỉnh chỉ lớn nhất nước khi tỉnh Gia Lai - Kon Tum tách làm đôi, khi đó Đắk Lắk diện tích 19.800 km² Số huyện tăng dần cho đến 18 huyện Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Quốc hội ra Nghị quyết số 22/2003/QH.11, tỉnh Đắk Lắk tách thành hai tỉnh mới là Đắk Lắk
và Đăk Nông, huyện Đăk Song được chuyển sang tỉnh Đăk Nông quản lí, nên số huyện giảm xuống còn 13
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Đắk Lắk có vị trí chiến lược trong không gian phát triển kinh tế - xã hội của khu vực Tây Nguyên Có tuyến giao thông thuận lợi đi các tỉnh Tây Nguyên thông qua hệ thống Quốc lộ 14, 14C và Quốc lộ 27; các tỉnh duyên hải Nam
Trang 19Trung Bộ như: Phú Yên, Khánh Hòa thông qua Quốc lộ 26, 29; xa hơn, Đắk Lắk
có thể kết nối dễ dàng với thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Đông Nam Bộ như Bình Phước, Đồng Nai thông qua đường Hồ Chí Minh Có sân bay Buôn
Ma Thuột, là một trong những Cảng hàng không lớn, hiện đại và giữ vai trò quan trọng của Tây Nguyên
Đắk Lắk nằm trên sườn Tây Nam của dãy Trường Sơn, địa hình có sự xen kẽ giữa các địa hình thung lũng, cao nguyên xen giữa núi cao và trung bình, có hướng thấp dần từ Đông Nam sang Tây Bắc Địa hình núi cao chiếm khoảng 35% diện tích tự nhiên, tập trung ở phía Nam và Đông Nam tỉnh với độ cao trung bình 1.000 - 1.200 m Trong đó có đỉnh Cư Yang Sin cao 2.442m, Ch H’mu cao 2.051m, Chư Dê 1.793m, Chư Yang Pel 1.600m Địa hình cao nguyên bằng phẳng nằm ở giữa tỉnh, chiếm khoảng 53% diện tích tự nhiên với độ cao trung bình 450m Phần diện tích tự nhiên còn lại là vùng thấp, bao gồm những bình nguyên ở phía Bắc tỉnh và ở phía Nam thành phố Buôn Ma Thuột, đại diện
có 2 cao nguyên lớn là:
Cao nguyên Buôn Ma Thuột có địa hình thấp hơn, nằm ở trung tâm tỉnh Độ cao trung bình từ 450m - 500m, diện tích khoảng 371km², chiếm 28,4% diện tích tự nhiên của tỉnh
Cao nguyên M’Đrắk nằm ở phía Đông tỉnh, tiếp giáp với tỉnh Khánh Hòa, độ cao trung bình từ 450m - 500m, địa hình gồ ghề với các dãy núi cao ở phía Đông
Trang 20dịu Song chịu ảnh hưởng mạnh nhất vẫn là khí hậu Tây Trường Sơn Thời tiết chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, trong mùa này độ ẩm
hàng năm đạt khoảng 1600 mm - 1800 mm Độ ẩm không khí trung bình năm khoảng 82% Tổng số giờ nắng bình quân hằng năm khá cao, khoảng 2.139 giờ
Tuy là tỉnh cao nguyên nhưng Đắk Lắk có nhiều hồ nước tự nhiên và hồ nước nhân tạo, tạo ra một tiềm năng không nhỏ về phát triển nuôi trồng thủy sản
và du lịch sinh thái Hệ thống hồ chứa nước lớn với cảnh quan đẹp, khí hậu trong lành như hồ Ea Rbin - Nam Ka, hồ Lắk, hồ Buôn Triết, hồ Buôn Tría, hồ
Ea Kao, hồ Ea Súp thượng, là những khu vực có điều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, thể thao cao cấp
Tỉnh Đắk Lắk có 6 Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên với tổng diện tích gần 240.000 ha Đây là những khu rừng đặc dụng phát triển các vùng sinh thái khác nhau và có nhiều động thực vật quý hiếm đang được tập trung bảo vệ nghiêm ngặt Hệ động thực vật vô cùng phong phú với các loài động, thực vật; trong đó có nhiều thực vật quý và động vật được ghi trong sách đỏ thế giới như:
Bò xám (Bos sauveli), mang lớn (Megamuntiacus vuquangensis), nai cà tông (Cervus eldi), bò banteng (Bos javanicus), voi châu Á (Elephas maximus), hổ (Panthera tigris), sói đỏ (Cuon alpinus) và chà vá chân đen (Pygathris
Trang 21Giai đoạn 2006-2010, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 12,87%/năm (cao hơn gần 1,5 lần so với giai đoạn 2004-2005 là 8,33%/năm) GDP tăng từ 7.235,17 tỷ VND (năm 2005) lên 12.813,0 tỷ VND (năm 2010) Như vậy sau 5 năm, GDP năm 2010 của Đắk Lắk đã tăng 1,77 lần so với năm 2005 Xét theo từng ngành, trong toàn giai đoạn 2006- 2010 tốc độ tăng trưởng Thương mại - Dịch vụ lớn nhất đạt 20,55%/năm; Công nghiệp - Xây dựng là ngành có tốc độ tăng trưởng đứng thứ hai với 16,88%/năm và Nông lâm nghiệp có mức tăng trưởng thấp chỉ đạt 7,88%/năm
Mặc dù Thương mại dịch vụ và Công nghiệp xây dựng có tốc độ tăng trưởng cao trong giai đoạn 2006 - 2010, tuy nhiên, trong cơ cấu kinh tế Đắk Lắk, Nông lâm nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất với 53,20% (giá hiện hành năm 2010) Kinh tế của Đắk Lắk trong những năm qua vẫn phát triển trên cơ sở dựa chủ yếu vào những thế mạnh tự nhiên về nông lâm nghiệp (chiếm gần 60% GDP) Thế mạnh lớn nhất trong kinh tế của Đắk Lắk tập trung chủ yếu vào các loại cây công nghiệp, trong đó nổi bật là cà phê, bông, ca cao, cao su, điều,… Đắk Lắk là tỉnh có diện tích trồng cà phê lớn nhất Việt Nam với trên 170 nghìn ha Sản lượng hàng năm trên 400 nghìn tấn cà phê nhân Hiện tại cà phê Đắk Lắk đã có
Trang 22thương hiệu nổi tiếng trên thế giới Đắk Lắk cũng là nơi phát triển các loại cây
ăn trái như: bơ, sầu riêng, chôm chôm, xoài, Công nghiệp - Xây dựng mới chiếm 18,42% (năm 2010) Thương mại dịch vụ bước đầu khẳng định được vai trò của mình khi chiếm tỷ trọng 28,38% (năm 2010)
Nhìn chung, kinh tế Đắk Lắk cơ bản duy trì được tốc độ tăng trưởng cao và khá ổn định; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, song mức độ chuyển dịch
cơ cấu kinh tế chưa cao Mặc dù vậy, trong giai đoạn 2006-2010 cũng cho thấy được những chuyển biến tích cực theo hướng gia tăng giá trị và tỷ trọng của các ngành kinh tế quan trọng và đạt hiệu quả cao GDP bình quân năm 2010 (theo giá hiện hành) đạt 14,37 triệu VND/người (tương đương với 736,85 USD/ngời)
Tỉnh Đắk Lắk có 15 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 1 thành phố, 1 thị xã
và 13 huyện Trong đó có 184 đơn vị hành chính cấp xã, gồm có 152 xã, 20 phường và 12 thị trấn Dân số Đắk Lắk năm 2010 là 1.754.390 người, tốc độ tăng trưởng dân số bình quân giai đoạn 2004 - 2010 đạt 1,18%/năm Mật độ dân
số gần 134 người/km2, dân số phân bổ tập trung chủ yếu ở đô thị như thành phố Buôn Ma Thuột, thị xã Buôn Hồ, các trung tâm thị trấn huyện lỵ, ven các trục đường giao thông chính Toàn tỉnh có 47 dân tộc cùng chung sống, trong đó người Kinh chiếm 67%, các dân tộc Tây Nguyên (6 dân tộc) chiếm hơn 21%, còn lại các dân tộc khác chiếm 12% dân số Phần lớn dân cư của tỉnh là dân di
cư từ nơi khác đến
Trong giai đoạn 2004-2010, dân số của Đắk Lắk có biến động do tăng cơ học, chủ yếu là di dân tự do Toàn tỉnh hiện nay có gần 1 triệu người trong độ tuổi lao động, chiếm tỷ trọng gần 60% trong tổng dân số Tuy nguồn lao động chiếm tỉ lệ cao trong dân số, song trình độ dân trí và chất lượng nguồn lao động còn thấp; tỉ lệ lao động được đào tạo chưa cao, năm 2005 là 27,2% và 37% vào năm 2010; thiếu đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, công nhân lành nghề và cán
bộ tổ chức quản lý Đây cũng là một trong những hạn chế của tỉnh trong quá trình đẩy mạnh phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu trong giai đoạn tới
Trang 232.1.2 Tài nguyên du lịch
2.1.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
Tài nguyên du lịch tự nhiên của Đắk Lắk đa dạng, giá trị cao có khả năng tạo thành những sản phẩm du lịch hấp dẫn khách du lịch Các tài nguyên du lịch sinh thái nổi bật của Đắk Lắk bao gồm:
Với hệ thống sông suối phong phú, mà tiêu biểu là sông Sêrêpôk với hai nhánh chính Krông Ana và Krông Nô chảy ngược theo hướng Đông Tây qua địa phận Đắk Lắk hàng trăm km trên địa hình chia cắt mạnh, chênh lệch độ cao lớn, qua nhiều bậc đã hình thành hàng chục thác ghềnh ngoạn mục, có những nơi lòng sông suối hẹp, dốc lớn, tạo nên những cột nước với âm thanh ầm ầm hùng
vĩ (thác Dray Sáp thượng, thác Dray Knao, Dray Nur, thác Ba tầng, thác Thủy Tiên, thác 7 tầng, ) Có nơi lòng suối trải rộng, len nhiều nhánh, tạo nên dòng chảy trải dài hàng trăm mét trên các ghềnh đá lớn êm ả nhẹ nhàng (thác Thuỷ tiên, thác Bảy Nhánh, ), tất cả đều ẩn mình trong những cánh rừng nguyên sinh tạo nên khung cảnh vừa dữ dội mạnh mẽ lại vừa kỳ bí thơ mộng, mà đến nay vẫn còn nguyên tính hoang sơ chưa khám phá hết
Địa hình đồi núi chia cắt trùng điệp, các hợp thủy đầu nguồn những con suối, cùng với bàn tay con người qua thời gian đã hình thành những hồ thiên nhiên và nhân tạo có mặt thoáng rộng hàng trăm héc ta, các hồ này được bao bọc bởi những khu rừng hàng trăm năm tuổi, với những đồn điền cà phê trĩu quả, những
lô cao su thẳng tắp hoặc những buôn làng dân tộc thiểu số đã tạo nên một không gian thoáng đãng, một vùng tiểu khí hậu trong lành
Ở Đắk Lắk, các hồ nước thường có nhiều mục tiêu, ngoài việc tưới tiêu, làm thủy điện, điều hoà dòng chảy, còn là nơi khai thác du lịch với các loại hình như tham quan, vãn cảnh, thể thao trên nước: Hồ Lắk, hồ Ea Kao, hồ Ea Chu Cáp, hồ Ea Đờn, Một số hồ lớn có các tiểu đảo như hồ Buôn Jông, hồ Ea Súp Thượng, có thể là nơi khai thác sản phẩm du lịch hồ - đảo rất hấp dẫn và sinh
Trang 24động Hồ Lắk là một biểu hiện của sự đa dạng về tài nguyên tự nhiên của Du lịch Đắk Lắk với hệ sinh thái đất ngập nước nằm trên cao nguyên, tuy thuỷ vực không lớn như các vùng ngập nước khác ở đồng bằng nhưng nơi đây là vùng dân cư lâu đời với dân tộc bản địa có tiềm năng về du lịch nhân văn và những đặc điểm riêng về sinh cảnh tạo nên một sắc thái riêng biệt trong khu vực Tây Nguyên
Rừng Đắk Lắk được phân bố đều ở phần lớn các huyện trong tỉnh, phong phú
và đa dạng, có tác dụng phòng hộ cao Rừng ở đây có nhiều loại cây đặc hữu vừa có giá trị kinh tế, vừa có giá trị khoa học; phân bố trong điều kiện thuận lợi, nên rừng tái sinh có mật độ khá lớn Do đó rừng là nơi mang nhiều bí ẩn để khám phá, nghiên cứu khoa học và du lịch sinh thái với nhiều loại động thực vật quý hiếm Rừng thường xanh Ea Sô với hàng ngàn hécta rừng trạng thái nguyên sinh, có kết cấu nhiều tầng, có nhiều dược liệu quý cùng với hệ động vật hết sức
đa dạng: Khỉ voọc, sóc, mèo rừng, cầy hương,… cùng các loài chim: Công, gà rừng, trĩ,… và loài bò sát: Trăn, rắn, kỳ đà,…
Vườn quốc gia Chư Yang Sing rộng 58.947 ha là vùng giàu tài nguyên thiên nhiên, có tính đa dạng sinh học cao, bao gồm 876 loài thực vật bậc cao có mao mạch (trong đó 54 loài ghi trong Sách đỏ, 143 loài đặc hữu), 203 loài chim (có 9 loại trong Sách đỏ thế giới và Việt Nam), 46 loài thú lớn (có 12 loài sách đỏ), 29 loài bò sát lưỡng cư (trong đó 11 loài ghi trong Sách đỏ), Rừng khộp Yok Đôn được xem là hệ sinh thái điển hình độc đáo của ba nước Đông Dương còn lưu giữ nhiều cảnh quan đặc sắc Đây là nơi duy nhất ở Việt Nam còn bảo tồn kiểu rừng khô cây họ dầu
Vườn quốc gia Yok Đôn mang tính đa dạng sinh học cao với hệ động thực vật rất phong phú Về thực vật có 464 loài, trong đó có nhiều loài gỗ quý: Cà te, Giáng hương, Cẩm lai, Cẩm xe,… có đến 23 loài phong lan, và nơi đây đã phát hiện hai loài thực vật mới là Quao xể tua và Gạo lông len Về động vật có 62 loài thú, 196 loài chim, 40 loài bò sát, 13 loài lưỡng cư và trên 100 loài côn
Trang 25trùng, trong đó có đến 22 loài thú, 7 loài chim, 1 loài bò sát quý hiếm được đưa vào Sách đỏ Việt Nam và thế giới, điển hình như nai Cà tong, bò rừng, bò xám,
bò tót, voọc ngũ sắc,… và đặc biệt voi được xem là một trong những loài động vật đặc trưng của hệ sinh thái rừng khô hạn ở Tây Nguyên
2.1.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
Ngoài hệ thống tài nguyên du lịch tự nhiên phong phú, Đắk Lắk còn có cả một hệ thống những giá trị văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc cùng các di tích lịch sử và cách mạng ghi dấu một trang sử hào hùng về mảnh đất anh hùng, bất khuất Đó là:
Về dự lễ hội, du khách sẽ được thưởng thức những lời ca, điệu múa của các dân tộc cùng hương vị rượu cần ngọt ngào nồng ấm và nghe các già làng kể sử thi (khan): Đam San, Xing Nhã, Dam Di, Khinh Dú, Đăm Tiông, Đăm Trao, Đăm Rao,… của các dân tộc Ê đê và sử thi (Ót N’rông): Đẻ Tiăng, Bông - Rong
và Tiăng, Ndu thăm Tiăng, Nước lụt, Đánh cá hồ Lau Lách, Tiăng bán tượng rỗ,… của dân tộc M’nông cùng các sử thi nổi tiếng của nhiều dân tộc khác đang định cư ở Đắk Lắk như sử thi Mo Mường, sử thi của người Thái,… Bên cạnh đó các dàn chiêng K’nah (Êđê), Goong la, Goong pế, Goong lú (M’nông), Arap (Xơ-đăng, Jrai) và các dàn chiêng Vân Kiều, Mường, Thái,… rộn rã trầm hùng, ngân vang, tạo thành một bản hợp xướng giàu âm điệu của núi rừng Tây Nguyên Ngoài ra, nói đến văn hóa ở Đắk Lắk cũng không thể không nói đến các danh
Trang 26thắng, các di tích lịch sử văn hóa mang dấu ấn của lịch sử
Từ hệ thống di chỉ khảo cổ học mang dấu tích của người tiền sử như di chỉ ở Drai Si (huyện Cư M’gar), xã Ea Tiêu (huyện Cư Kuin), Quảng Điền (huyện Krông Ana), xã Buôn Triết, hồ Lắk (huyện Lắk),… Qua các di chỉ trên, đã tìm thấy những công cụ, khí cụ, đồ trang sức bằng đá; đồ gốm và bàn dập, bàn mài hoa văn trên gốm Nguyên liệu chế tác đều lấy từ đá bazan và đá biến chất, vốn
là đặc trưng của Tây Nguyên Kiểu dáng và kỹ thuật chế tác có nhiều điểm tương đồng với văn hóa Biển Hồ (Gia Lai) và văn hóa Sa Huỳnh (Quảng Ngãi) Thời đại đồ đồng cũng đã phát hiện được 7 chiếc trống đồng ở huyện Ea Súp,
Ea HLeo, Krông Pac, Ea Kar và TP Buôn Ma Thuột Đặc biệt trên mảnh đất này còn có những dấu tích của người Chăm để lại, đó là tháp Yang Prong (Thần vĩ đại) ở xã Chư MLanh (huyện Ea Súp), những Rasungbatau (thùng lớn đựng nước) ở Buôn Ma Thuột, khu mộ cổ thuộc địa phận xã Ea Ktur và xã Cư Ewy (huyện Krông Ana), giếng Chăm ở xã Yang Mao, khu phế tích ở xã Hòa Thành (huyện Krông Bông) Trong đó, tháp Yang Prong được xây dựng vào cuối thế kỷ XIII dưới thời vua Sinhavarman III (Chế Mân), thờ thần Sinva Đây là tháp Chăm cổ duy nhất còn lại ở Tây Nguyên
Gắn với 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ với hàng chục di tích nổi tiếng như: Nhà đày Buôn Ma Thuột, Đình Lạc Giao - nơi biểu hiện cho sự hiện diện của nền văn minh lúa nước của cộng đồng người Việt ở Đắk Lắk, Hang đá Đắk Tuôr, đồn điền Ca Đa, Biệt điện Bảo Đại - dấu ấn của triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam, đường Hồ Chí Minh lịch sử,
Những làng nghề thủ công truyền thống đã gắn bó ngàn đời với các người dân các dân tộc M’nông, Jrai, Êđê - các dân tộc tại chỗ tại Đắk Lắk, đó không đơn thuần là những vật dụng mà còn chứa đựng các giá trị văn hóa, thẩm mỹ, phong tục tập quán và tâm hồn, tâm linh của cư dân tại chỗ nơi đây Từ những
Trang 27căn nhà “dài hơn một tiếng chiêng ngân” của người Ê Đê đến những mái nhà
rông cao vút tựa dáng lưỡi rìu tạc vào bầu trời xanh thăm thẳm của cao nguyên của người Bnăh, Xơ-Đăng ở buôn Ako Dhong đều do bàn tay khéo léo của các chàng trai thợ mộc, tay cưa, tay đục làm nên Rồi những nét chắt lọc cả tinh hoa của đất, của trời, của rừng xanh, thác bạc trong mỗi mặt hàng thổ cẩm Tây Nguyên, sản phẩm của các thiếu nữ sơn cước buôn Jun Ngoài ra còn kể đến những làng nghề thủ công truyền thống như: ủ rượu cần, đan lát, làm cung tên, điêu khắc nhà mồ,… có hầu khắp ở các buôn làng
2.1.2.3 Tài nguyên kinh tế, bổ trợ
Hệ thống mạng lưới đường bộ của tỉnh phân bố khá đều và hợp lý trên địa bàn tỉnh, tạo được sự liên kết giữa tỉnh lỵ (Thành phố Buôn Ma Thuột) với các huyện lỵ và nối với mạng lưới giao thông quốc gia và các tỉnh lân cận Có 5 tuyến quốc lộ quan trọng chạy qua với tổng chiều dài là 678 km Phần lớn đã được nhựa hóa và bê tông hóa (83,4%) Hệ thống cấp điện, cấp thoát nước và mạng lưới bưu chính viễn thông trên địa bàn tỉnh phát triển khá tốt, đang từng bước được hiện đại hóa
Hệ thống nhà hàng, khách sạn đáp ứng các nhu cầu cho du khách và việc ra đời của hàng loạt các doanh nghiệp kinh doanh du lịch cùng với các loại hình du lịch được tổ chức phong phú hơn đã kéo lượng du khách trong và ngoài nước đến với Đắk Lắk ngày càng nhiều hơn Năm 2012, theo thống kê của Sở Thông tin và Truyền thông Đắk Lắk, tổng số cơ sở lưu trú (nhà nghỉ, khách sạn, nhà khách và các loại hình cơ sở lưu trú khác) là: 132 cơ sở với 2810 phòng
2.2 Lễ hội ở tỉnh ắk Lắk
2.2.1 Hệ thống lễ hội ở tỉnh Đắk Lắk
Hiện nay ở Đắk Lắk có khoảng 70 lễ hội lớn nhỏ của các dân tộc thiểu số Các lễ hội thường gắn bó mật thiết với đời sống cộng đồng và cuộc sống canh tác nương rẫy, gắn với tín ngưỡng tâm linh đa thần của các cộng đồng Từ cuộc sống sinh động ấy đã hình thành nên hai hệ thống nghi lễ - lễ hội chính: Nghi lễ - lễ hội vòng đời người và nghi lễ - lễ hội vòng cây lúa (còn gọi là nghi lễ nông nghiệp)
Trang 282.2.1.1 Nghi lễ - lễ hội vòng đời người
Nó đi suốt vòng đời của mỗi con người, từ lúc còn nằm trong bụng mẹ đến khi sinh ra, trưởng thành rồi trở về thế giới tổ tiên ông, bà như: Lễ cúng người mẹ mang thai, lễ cúng trước khi sinh, lễ cúng đặt tên thổi tai, lễ cúng đầy tháng, lễ cúng đầy một mùa rẫy, lễ cúng đầy 3 mùa rẫy, lễ cúng đầy 7 mùa rẫy, lễ cúng tròn 15 mùa rẫy, lễ cúng trưởng thành (tròn 17 mùa rẫy), lễ hỏi chồng, lễ cưới chồng, lễ cúng sức khoẻ cho đôi vợ chồng trẻ, lễ cúng sức khoẻ hàng năm của mỗi gia đình, lễ cúng sức khỏe cho chủ nhà khi bước vào tuổi 50, 60, 70, 80,… lễ cúng vào nhà mới, lễ rước Kpan, lễ kết nghĩa anh em, lễ tiếp khách, lễ tang, lễ bỏ mả,…
Tất cả các nghi lễ - lễ hội vòng đời người trên đều hướng về sự tồn tại và phát triển của con người, nhằm giáo dục tinh thần đoàn kết cộng đồng, với ước vọng vươn đến một xã hội công bằng, tốt đẹp
2.2.1.2 Nghi lễ - lễ hội nông nghiệp
Hệ thống nghi lễ - lễ hội nông nghiệp của đồng bào dân tộc bản địa Tây Nguyên được tiến hành suốt cả mùa rẫy (từ tháng 3 cho đến tháng 12 hàng năm), nhằm cầu mong một mùa vụ bội thu, nhà nhà no đủ, buôn làng bình yên, giàu đẹp, như: Lễ tìm đất, lễ phát rẫy, lễ đốt rẫy, lễ gieo hạt, lễ vun gốc, lễ cầu
no đủ, lễ cúng cầu mưa, lễ cúng thần gió, lễ cầu lúa trổ bông nhiều hạt, lễ cúng trước khi gặt, lễ ăn cơm mới, lễ mừng được mùa, lễ cúng bến nước, lễ cúng hồn lúa, lễ cúng kho lúa, lễ cúng nồi cơm và bầu đựng gạo,… Đây là hệ thống nghi
lễ - lễ hội độc đáo, giàu tính cộng đồng và tính nhân văn
2.2.2 Một số lễ hội tiêu biểu ở tỉnh Đắk Lắk
2.2.2.1 Lễ hội đua voi ở Bản Đôn
Huyện Buôn Đôn hoặc cánh rừng thưa ven sông Sêrêpốk (Đắk Lắk), có bãi đua là một dải đất tương đối bằng phẳng (thường là khu rừng ít cây to), đủ để 10 con voi giăng hàng đi cùng một lúc, bề dài từ 1-2km
Trang 29 Nội dung:
Từ sớm tinh mơ, từng đoàn người đi trong tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng tù
và, từ buôn xa đến bản gần đã vang lên rộn rã Tất cả tạo nên không khí náo nhiệt của ngày hội Trên lưng những chú voi là quản tượng (còn gọi là nài voi) nét mặt nghiêm trang, nhìn thẳng phía trước, trông thật oai vệ Hàng chục, hàng chục voi đều dồn về khu rừng tập kết, sát trường đua Con đứng, con nằm, tất cả sẵn sàng chờ lệnh
Tiếng tù và rúc lanh lảnh, cao vút Tất cả voi bật dậy hú vang Người điều hành cuộc thi hướng dẫn từng tốp voi dàn hàng ngang ở tuyến xuất phát Một con đường rộng, phẳng, dài hơn 5km được chọn làm trường đua Voi đầu đàn được quản tượng điều khiển bước vào trước, quỳ hai chân sau, đầu ngẩng cao, hai chân trước đứng thẳng, múa vòi mấy vòng rồi cúi đầu chào khán giả Tiếng
vỗ tay, tiếng hoan hô cùng tiếng chiêng, trống, tiếng kèn vang động cả núi rừng Tất cả trở lại im lặng, hồi hộp chờ đợi Hàng ngàn trái tim đập rộn rã, mắt
đăm đăm nhìn về phía những chàng voi chuẩn bị "xung trận" Trên mỗi voi, hai
chàng trai là quản tượng trông như những lực sĩ trong tư thế sẵn sàng Người ngồi trên lưng voi mặc áo xanh da trời được ràng rịt thật chắc bởi những sợi dây rừng săn như dây chão Người ngồi dưới cổ voi mặc áo có vuông vải đỏ trước ngực, hai chân quặp chặt lấy cổ voi
Một tiếng tù và rúc vang - đó là lệnh xuất phát Voi lập tức cuộn vòi, tung người về phía trước trong tiếng hò reo của người xem Trẻ em nhảy chồm lên la hét Chiêng, trống nổi lên như sấm dậy Tiếng thúc giục của dân bản từng đợt,
từng đợt, từng đợt như sóng cồn: "Nhanh lên! Nhanh nữa lên! Cố lên! Cố lên!", Làm cho các chàng lực sĩ khổng lồ càng hăng hái bứt phá, lao lên như
tên bắn Lúc này, quản tượng ngoài dũng cảm còn phải khéo léo, tinh khôn Người ngồi trước căng mắt ra dùng cặp chân điều khiển cho voi thẳng tới đích Người ngồi trên lưng voi chồm ra phía trước lấy đà, chiếc búa bằng gỗ trên tay gõ liên hồi vào hông voi, thúc voi mở hết tốc lực Đây là những chàng trai vừa dũng cảm vừa có kinh nghiệm, từng trải qua nhiều kì đua voi trong các cuộc
Trang 30thi Họ đồng thời là những kị sĩ phi ngựa rất giỏi trong các cuộc săn bắt trâu, bò rừng Họ là những người điều khiển voi nhà đuổi voi rừng để bảo vệ nương rẫy của buôn làng, có những giây phút hiểm nguy không kém gì người ra trận
Những con voi đến đích đầu tiên nén hơi thở, khéo léo ghìm chân lại Chàng quản tượng thắng cuộc gương mặt đầy kiêu hãnh điều khiển voi quay đầu, huơ vòi chào khán giả Dũng mãnh là thế nhưng bây giờ, những chú voi trở lại hiền lành, ngoan ngoãn, đứng nghiêm trang bên quản tượng, tai phe phẩy, mắt lim dim Chúng hoan hỉ đón nhận mía, đường, cám thơm mà bà con mang đến thưởng
Kết thúc cuộc đua là những lời ca tiếng hát, điệu múa sôi nổi hào hùng vang vọng núi rừng Lời ca, tiếng hát, điệu múa ấy tiếp tục kéo dài từ trường đua về tận các buôn làng - ghi một dấu ấn đẹp đẽ trong lòng mỗi người tới dự ngày hội đua voi ở Bản Đôn
Ngày hội đua voi ở Đắk Lắk phản ánh tinh thần thượng võ của người M'Nông, một dân tộc giàu đức tính dũng cảm, có kinh nghiệm trong những cuộc săn bắt voi rừng Lễ hội nhằm tưởng nhớ những vị anh hùng có công với dân tộc, những người có kinh nghiệm trong việc săn bắt và thuần dưỡng voi; qua đó
đề cao sức mạnh và trí tuệ của người anh hùng; đồng thời đoàn kết, gắn bó cộng đồng dân tộc
2.2.2.2 Lễ hội cúng bến nước
Để chuẩn bị cho lễ cúng bến nước, nhiều ngày trước đó, già làng, trưởng buôn đã thông báo, họp bàn với dân làng về công tác tổ chức Mỗi người được giao một phần việc cụ thể: thanh niên trai tráng thì được giao làm vệ sinh bến nước và sửa đường vào bến nước; phụ nữ, người già thì dọn dẹp nhà cửa, đường làng ngõ xóm; từng thành viên trong buôn đều đóng góp sức người, sức của
Trang 31Theo phong tục, lễ cúng bến nước được diễn ra trong 3 ngày:
Trong ngày diễn ra lễ cúng tại bến nước, ngay từ sáng sớm người dân trong buôn đã tập trung đông đủ tại nhà chủ bến nước Những chàng trai khỏe mạnh thì chuẩn bị các lễ vật, còn các thiếu nữ và người già thì lo việc bếp núc Các lễ vật không thể thiếu trong ngày lễ gồm: 1 con heo đực đen có đốm trắng trên đầu;
9 ché rượu cần được buộc vào các cột Gơng thành một hàng dọc ở gian khách ngôi nhà dài (trong đó 3 ché dùng để cúng cho chủ bến nước, 3 ché cúng cho chủ nhà và 3 ché để đãi khách gần xa); thịt heo thái nhỏ bày thành năm món đựng vào nia; trầu cau, gạo, cơm xôi, thuốc bày bên các ché rượu cần; tiết heo
có pha chút rượu được đựng vào chén đồng Khi chiêng ngân vang bài “gọi Yàng” thì cũng là lúc những chàng trai khỏe mạnh trong buôn cầm ống nước
bằng tre lần lượt đổ vào các ché rượu cần để mời Yàng và ông bà tổ tiên về uống rượu, chứng kiến buôn, làng làm lễ cúng bến nước
Khi lễ vật tại gia đình nhà chủ bến nước đã chuẩn bị xong, thầy cúng tay cầm một tô tiết heo có pha rượu, 5 đùm thịt heo thái nhỏ đựng trong nia và 1 chai rượu đi trước, theo sau là già làng tay cầm khiên, đao, chít khăn đỏ để bảo vệ thầy cúng; nối tiếp là 5 cô gái trong trang phục truyền thống, gùi những quả bầu khô cùng 5 người con trai vác theo các ống nước bằng tre cùng ra bến nước để làm lễ
Tại bến nước lễ vật được bày ra, thầy cúng đọc lời khấn Cúng xong, Thầy cúng cầm khiên, đao chọc vào dòng nước với ngụ ý đuổi cái xấu đi để nguồn nước được trong lành, thông suốt Sau đó các cô gái, chàng trai mang những quả bầu khô và ống tre hứng những giọt nước mát lành và mang về nhà tiếp tục đổ vào các ché rượu cho thật đầy, mời bà con họ hàng cùng khách quý uống rượu
và chung vui hết ngày
Lễ vật bao gồm: 1 con gà trống trắng, 1 ché rượu, sợi chỉ bông, gạo, đèn cầy Nghi lễ và mọi công tác chuẩn bị đều được diễn ra tại cổng làng
Trang 32Già làng kêu gọi người dân trong buôn tới nhà chủ bến nước Hai bên cửa nhà của chủ bến nước treo sợi chỉ hồng, lòng gà và vòng Kông làm bằng tre Đường vào buôn sẽ có cây chắn ngang, buộc các loại dây treo như sợi chỉ hồng, lông gà,… để báo cho khách xa biết hôm nay trong buôn làng có việc, cấm người lạ vào buôn Trong ngày này mọi sinh hoạt của người dân trong buôn như gùi nước, chẻ củi, giặt giũ,… đều bị cấm; nếu ai vi phạm sẽ bị phạt uống rượu 3 ngày và hút 1 điếu thuốc Thầy cúng đọc bài cúng hòa với tiếng chiêng; cúng xong thầy cúng cầm cần rượu trao cho chủ bến nước (chủ nhà), rồi bà con dân làng theo thứ tự nữ uống trước, nam uống sau Sau đó thầy cúng phát gạo, sợi chỉ hồng cho các gia đình trong buôn mang về nhà cúng tại nhà riêng và thầy cúng buộc sợi chỉ vào tay các thanh niên tới dự lễ Sợi chỉ này không được tháo
gỡ và xem như đó là vật linh thiêng phù hộ cho mình may mắn trong cả năm Nếu trời có giông bão, mưa không thuận, gió không hòa thì mang hạt gạo đó rải trước sân nhà cầu mong nắng mưa thuận lợi
Đây là nghi thức để kết thúc lễ cúng bến nước Lễ vật bao gồm: 1 ché rượu
và 1 con gà trống; đèn Kông làm bằng đồng, gạo đựng trong nia, đèn cầy
Thầy cúng, già làng, chủ bến nước cùng ra mở cổng làng, sau đó về nhà cột một ché rượu nhỏ, một con gà và đọc lời khấn với ý nghĩa kết thúc nghi lễ, cho phép bà con dân làng được đi săn, bắt cá, thăm nương rẫy và sinh hoạt bình thường
Là một nét đẹp văn hóa của đồng bào Êđê được người dân ở các buôn duy trì trong suốt nhiều năm qua Cầu mong các Yàng phù hộ cho nguồn nước trong lành, không bao giờ cạn, mọi người trong buôn khi uống nguồn nước này đều mạnh khỏe như con voi rừng, mùa màng, lúa, bắp đầy kho, nhà nhà no đủ
2.2.2.3 Lễ hội cồng chiêng
Lễ hội được tổ chức hàng năm theo hình thức luân phiên tại các tỉnh có văn
Trang 33Tùy theo từng năm và từng tỉnh, mà cách tổ chức lễ hội cồng chiêng có sự
khác nhau, với các hoạt động tái hiện “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” và các hoạt động sinh hoạt văn hóa dân tộc khác Trong lễ hội, nghệ
nhân của các tỉnh sẽ trình bày, biểu diễn không gian văn hoá của dân tộc và của tỉnh mình Do mang đậm màu sắc du lịch nên nó thường được giới thiệu trong các chương trình du lịch như của du lịch Đắk Lắk Những lễ hội dân gian đặc sắc của các dân tộc Tây Nguyên sẽ được dựng lại, nhằm kêu gọi cộng đồng cùng chung sức bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của đồng bào các dân tộc Riêng với tỉnh Đắk Lắk, lễ hội cồng chiêng Tây Nguyên chính là dịp để đồng bào dân tộc có thể tái hiện lại không gian sống của dân tộc mình, với nét duyên dáng của nhà dài, vị ấm nồng của ché rượu cần, tiếng cồng chiềng hòa trong những điệu múa của các sơn nữ, Bên cạnh đó cũng là cơ hội để lưu giữ những nét văn hóa độc đáo của dân tộc
Đồng thời giới thiệu với du khách những thành tựu về kinh tế, văn hóa và tiềm năng du lịch của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên,… Cũng trong khuôn khổ của lễ hội, bên cạnh các hoạt động văn hóa còn hội chợ triển lãm về công cụ sản xuất, đồ gia dụng và hàng thủ công mỹ nghệ của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên
Trang 342.2.2.4 Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột
Các lĩnh vực, mặt hàng tham gia hội chợ – triển lãm gồm: các sản phẩm cà phê nhân, cà phê chế biến; sản phẩm thủ công mỹ nghệ được sản xuất từ cà phê; dây chuyền công nghệ, máy móc, thiết bị chế biến cà phê; các loại phân bón, thuốc bảo vệ thực vật phục vụ cho chăm sóc cây cà phê; triển lãm các công trình nghiên cứu khoa học về cây cà phê; các loại giống cà phê, mô hình chăm sóc cây cà phê, triển lãm biểu đồ phát triển và nguồn gốc xuất xứ cà phê Buôn Ma Thuột,…
Đặc biệt, trong lễ hội này có phần trình diễn “M’Jơr cà phê” mà trong tiếng Êđê có nghĩa là “Dâng hiến cà phê” - với ý nghĩa cà phê là một báu vật thiêng
liêng của vùng đất bazan Ban Mê, như món quà tặng của cuộc sống, của thiên nhiên gửi tặng đến cho con người Đây là một chương trình nghệ thuật dài 30 phút được chia thành 4 phần: Thanh âm từ vùng đất huyền thoại, Vũ khúc cà phê, Cả vũ trụ trong tách và Thăng hoa -sáng tạo
Bên cạnh đó, đến với lễ hội này, người tham dự còn có cơ hội thưởng thức những ly cà phê thơm ngon, hòa mình vào điệu nhạc cồng chiêng và tham gia các trò chơi thú vị
Năm 2013, cùng sự diễn ra của lễ hội cà phê lần thứ 4 với sự chuẩn bị công phu
về mọi mặt, trong 9 nội dung chính của lễ hội cà phê lần này còn có cuộc thi
“Nhà nông đua tài” với sự tham gia của đông đảo nông dân trồng cà phê đến từ
các buôn làng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk Người trồng cà phê sẽ thể hiện những
Trang 35hiểu biết của mình trong lĩnh vực trồng, chăm sóc, thu hoạch, sơ chế và tiêu thụ
cà phê đạt hiệu quả cao nhất Tất cả điều này hứa hẹn một lễ hội vui tươi và thấm đượm tâm hồn Việt
hiệu mang tên gọi xuất xứ hàng hóa “Cà phê Buôn Ma Thuột” Bên cạnh đó, lễ
hội này còn là lời tri ân gửi tới những con người đã gắn bó với vùng đất này để chung tay tạo nên những sản phẩm cà phê có giá trị cho xã hội
2.2.3 Giá trị của lễ hội ở tỉnh Đắk Lắk
2.2.3.1 Lễ hội có giá trị cố kết cộng đồng
Lễ hội nào cũng là của một cộng đồng người nhất định, đó có thể là cộng đồng người nhất định, đó có thể là cộng đồng làng, xã (hội làng), cộng đồng nghề nghiệp (hội nghề), cộng đồng tôn giáo (hội chùa, hội đền, hội nhà thờ), cộng đồng quốc gia dân tộc (hội Đền Hùng), quốc tế đến cộng đồng nhỏ, hẹp hơn, như gia tộc, dòng họ,… Lễ hội ở Đắk Lắk là dịp biểu dương sức mạnh của cộng đồng buôn làng và là chất kết dính tạo nên sự cố kết cộng đồng buôn làng Mỗi cộng đồng hình thành và tồn tại trên cơ sở của những nền tảng gắn kết, như gắn kết do cùng cư trú trên một phạm vi lãnh thổ thôn, buôn (cộng cư); gắn kết
về sử dụng tài nguyên (bến nước, nương, rẫy) và lợi ích kinh tế (cộng hưởng); gắn kết bởi số mệnh chịu sự chi phối của một lực lượng siêu nhiên nào đó như Yàng, thần sông, thần núi (cộng mệnh), gắn kết bởi nhu cầu sự đồng cảm trong các hoạt động sáng tạo và hưởng thụ văn hóa như không gian văn hóa cồng chiêng (cộng cảm),… Lễ hội là môi trường góp phần quan trọng tạo nên niềm cộng mệnh và cộng cảm của sức mạnh cộng đồng
Ở Đắk Lắk còn mang nhiều dấu tích của thời kỳ thị tộc, bộ lạc Ở đây, việc
Trang 36quản lý buôn làng theo chế độ mẫu hệ với luật tục cộng đồng khá nghiêm ngặt Mỗi buôn đều do chủ đất, chủ bến nước cai quản Các thành viên đều phải chấp hành theo những quy định của luật tục và sống hòa mình vào cuộc sống của cộng đồng làng Trong một xã hội như vậy, nên con người sống nương tựa và giúp đỡ nhau Đó là những tiền đề tất yếu làm cho văn hóa các dân tộc bản địa Đắk Lắk nảy sinh, tồn tại và lưu truyền từ đời này sang đời khác trở thành truyền thống Mỗi lễ hội là dịp để con người xích lại gần nhau hơn, khôi phục những giá trị nhân bản của cộng đồng Ai ai cũng háo hức, và nhớ về ngày hội của dân tộc, cũng ít nhiều đóng góp tiền bạc, công sức của mình Mọi người đều
có ý thức tham gia lễ hội để tạ ơn với thần linh, những vị anh hùng và để vui chơi giải Lễ hội giúp con người hòa nhập vào thiên nhiên, gắn bó giữa các cá nhân với cộng đồng, mường tượng về quá khứ cội nguồn để hướng tới những dự cảm trong tương lai và chính những điều này đã tạo nên tính cộng đồng trong lễ hội của buôn làng
Lễ hội ở tỉnh Đắk Lắk đã xóa nhòa mọi ranh giới giữa con người với nhau,
kể cả ranh giới phân biệt cả nam và nữ, giữa già và trẻ, giữa giàu và nghèo,… Những cách biệt xã hội, những mâu thuẫn căng thẳng hay những xích mích ngày thường nhiều lúc đã bị xóa nhòa trong lễ hội Do đó, cộng đồng buôn làng ngày càng gắn kết hơn, hòa đồng và cùng giúp nhau phát triển
2.2.3.2 Lễ hội đáp ứng nhu cầu về đời sống tinh thần
Gặt hái xong xuôi là thời gian nghỉ ngơi, mọi nhà, buôn làng đều tổ chức các
lễ hội tưng bừng, rộn rịp với các trò vui chơi, ăn uống no say Mỗi dân tộc ở Đắk Lắk có tiếng nói khác nhau, phong tục khác nhau nhưng cùng sống bằng nghề nương rẫy nên lễ hội của họ cũng được tổ chức với mục đích giống nhau, đó là niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng Người Đắk Lắk số đông theo tín ngưỡng đa thần
Từ người Jrai, Băhnar,… coi Giàng (thần linh - Trời), gần gũi có thể kết anh em, cha con Chính tôn giáo, tín ngưỡng, các nghi lễ, lễ hội góp phần làm thỏa mãn nhu cầu về đời sống tâm linh của con người
Đối với người dân Đắk Lắk, lễ hội là nơi họ gửi gắm tâm nguyện, tình cảm
Trang 37và ước vọng của mình đến với thế giới thần linh Đắk Lắk là tỉnh phát triển nông nghiệp, đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn, cuộc sống gắn bó với nương rẫy, nên luôn mong trời cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi Do
đó sự phụ thuộc vào tự nhiên là khá phổ biến và trở thành hiện tượng tất yếu, nhất là các thời kì trước Trong lễ hội cầu mong mùa màng,sức khỏe của người Êđê, có câu hát:
“Hỡi yang Tơ Lua!
Hỡi yang Kbua Lan!
Nước uống người tạo Cây trồng người gây Con cái ta đây
Người ban cho nối dây giống dòng Này đây hai chiếc gùi ta dâng Thần bà, thần ông hãy nhận Cho nhà ta ở lành
Cho buôn ta ăn yên…”
Lễ hội bao giờ cũng được tổ chức ở không gian linh thiêng nhất định như lễ cúng bến nước thường diễn ra ở các bến nước đầu buôn, có giá trị quan trọng và linh thiêng đối với đồng bào Êđê, Jrai, M’nông,… Ở lễ hội, con người sẽ cảm thấy yên tâm hơn, yên tĩnh hơn khi họ được giao hòa với thế giới tâm linh Lễ
bỏ mả (Pthi atâu, brư, muk atâu,…) của các dân tộc như Êđê, Jrai, Băhnar là một
lễ hội mang tính tang chế do những người sống tổ chức để tiễn biệt mả người chết về cư trú ở làng ma Sau khi làm lễ bỏ mả, người sống quan niệm rằng: như vậy là mình đã hoàn thành bổn phận với người đã khuất núi và người chết cũng mới có thể nhanh chóng đầu thai bắt đầu một cuộc đời mới bên cạnh đồng tộc mình
Lễ hội là dịp để con người trần tục gửi gắm niềm tin và hy vọng của mình vào thế lực siêu nhiên, một chỗ dựa vũng chắc cho tâm linh của họ Họ có sức mạnh để chống chọi và vượt qua mọi gian khó mà vươn tới những điều tốt đẹp
Trang 38của cuộc đời
2.2.3.3 Lễ hội tưởng nhớ người có công với dân tộc
Tất cả các lễ hội đều hướng về nguồn Đó là cội nguồn tự nhiên mà con người vốn từ đó sinh ra Đó là nguồn cội cộng đồng, dân tộc, đất nước, nguồn cội văn hóa,… Mảnh đất cao nguyên Đắk Lắk nơi đã sinh ra biết bao vị anh hùng dân tộc, đã đem lại ấm no hạnh phúc cho buôn làng, mà cho dù đi qua nhiều thế hệ thì ý nghĩa báo ơn vẫn còn nguyên vẹn Mỗi cộng đồng dân tộc lại
có những vị anh hùng được tôn vinh, đó là những vị tù trưởng, già làng đã xây dựng nên buôn làng Lễ bỏ mả của cụ Y Prung Êban (Ama Kông) đã được tổ chức trước sự có mặt của gia đình, dòng họ và dân làng tại nghĩa địa buôn Trí A,
xã Krông Na, huyện Buôn Đôn Theo quan niệm của người Mnông, sau lễ bỏ mả người chết đã chuyển qua một thế giới khác, không ai còn nhắc tới họ nữa nhưng hình ảnh cụ Ama Kông sẽ mãi trong tâm trí của người dân Buôn Đôn và
du khách quan tâm đến “vua voi” hùng dũng và thuốc gia truyền Ama Kông
Hay theo tập tục của người Jrai, Xơ-đăng, Băhnar, hàng năm dân làng tổ chức một lần đâm trâu tại sân nhà rông Ngày hội đâm trâu để tưởng nhớ những tù trưởng xưa kia đã có công xây dựng và gìn giữ buôn làng
Lễ hội ở Đắk Lắk không chỉ tưởng nhớ công lao của các anh hùng dân tộc
mà còn tạ ơn các vị thần linh đã bảo vệ cho buôn làng, đó là các Yàng, thần song, thần núi, thần cây lúa, thần cây bắp,… Trong tiềm thức của cộng đồng dân tộc nơi đây, thần linh là vô cùng thiêng liêng, nhưng lại rất gắn bó với cuộc sống con người
Truyền thống “uống nước nhớ nguồn” là truyền thống tốt đẹp mà chúng ta
cần phải giữ gìn và phát huy, phát huy từ ngay chính gia đình và ra ngòai cộng đồng xã hội.Các lễ hội ở Đắk Lắk chinh là một hình thức để truyền thống quý báu này phát huy
2.2.3.4 Lễ hội thể hiện khiếu nghệ thuật, thẩm mĩ của cộng đồng
Từ khi chuẩn bị vào lễ hội, tất cả mọi người trong buôn từ già đến trẻ, trai đến gái đều phải tiến hành quét dọn, sửa sang đường xá, nhà cửa, ruộng vườn
Trang 39Mọi người đều háo hức hẳn lên như chờ đón một điều gì đó tốt đẹp hơn đang đến Cho nên từ trong nhà ra ngoài cổng, từ đồ vật bình thường tới con người, tất cả đều phải mới, đều phải đẹp Đẹp nhất là các cô gái mặc áo váy thêu sặc sỡ, hoa văn tinh xảo, cổ đeo vòng bạc óng ánh, vừa đi vừa hát những điệu dân ca đằm thắm, trữ tình Nét mặt cô nào cũng rạng ngời, trẻ trung
Lễ hội diễn ra cũng là cơ hội để bà con gác mọi âu lo thường nhật, tìm lại chính mình trong lời ca, tiếng hát Không ở đâu trên đất nước Việt Nam lại có thể tìm thấy không gian nghệ thuật đầy tính hào hùng và mạnh mẽ như ở mảnh đất Tây Nguyên này Mọi người không phân biệt tuổi tác, giới tính, giàu nghèo, khi tiếng chiêng vang lên là cùng nhau quây tròn bên đống lửa để nhảy múa, rồi tiếng sáo, tiếng đàn cất lên, những giọng hát cao vút như nóc nhà rông, như thể hiện ước mơ chinh phục đất trời từ cái thuở Đam San
Rồi cũng chính lễ hội là nơi thể hiện khiếu thẩm mĩ của cộng đồng dân tộc
Đó là kiến trúc nhà dài, nhà sàn của dân tộc Êđê, Băhnar,… Là kiến trúc nhà
mồ, nghệ thuật điêu khắc Trong mỗi lễ hội lại có những nét đẹp riêng và cách trang trí riêng
2.2.3.5 Lễ hội bảo tồn và trao truyền văn hóa
Lễ hội ở Đắk Lắk đã làm nổi bật các nền văn hóa nhà dài (Êđê, M’nông), văn hóa nhà rông (Jrai, Băhnar, Xơ Đăng) cùng nền văn hóa nhà sàn của các dân tộc thiểu số phía Bắc và văn hóa đình làng của người Việt Nơi vừa có luật tục buôn, vừa có hương ước làng, bản, thể hiện sự gắn bó cộng đồng trong việc xây dựng
và phát triển đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội, gìn giữ bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc
Bên cạnh nền văn hóa cộng đồng là nền văn hóa cồng chiêng khá độc đáo của các dân tộc thiểu số Đắk Lắk được tái hiện sâu sắc, với sự hội nhập của dàn chiêng K’nah (Êđê), Goong la, Goong pế, Goong lú (M’nông), Arap (Xơ-đăng, Jrai) và các dàn chiêng Vân Kiều, Mường, Thái,… rộn rã trầm hùng, ngân vang, tạo thành một bản hợp xướng giàu âm điệu của núi rừng Tây Nguyên ngay trong đêm lễ hội Nhằm bảo tồn, phát huy giá trị nền văn hóa cồng chiêng, hàng năm