1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm địa danh tỉnh bình định

165 21 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 165
Dung lượng 2,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn nữa, địa danh không chỉ là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học mà còn của nhiều ngành khoa học khác như địa lý học, lịch sử học, dân tộc học, khảo cổ học, văn hóa học… Việc tìm hiể

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Lê Trung Hoa

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2014

Trang 3

khăng khít với địa lý cũng như lịch sử dân cư của một vùng nhất định Qua địa danh nào đó ta có thể tìm thấy được quá trình lịch sử - xã hội của một dân tộc, thấy được đặc trưng văn hóa, cuộc sống sinh hoạt, thậm chí cả năng lực tri nhận, nhận thức cũng như tâm lý của họ Chính điều này đã khiến tôi mạnh dạn đăng ký làm

luận văn tốt nghiệp với đề tài “Đặc điểm địa danh tỉnh Bình Định”

Qua đây, tôi xin gửi lời tri ân chân thành đến quý thầy cô đã tận tình dạy bảo, hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình học tập Đặc biệt, tôi xin cảm ơn và biết ơn sâu sắc đến PGS TS Lê Trung Hoa, người đã tận tâm hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn và cung cấp cho tôi nhiều tài liệu khoa học quý báu

Xin gửi lời cảm ơn đến trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, phòng Sau đại học, khoa Văn học và Ngôn ngữ của trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Xin cảm ơn Uỷ ban Nhân dân tỉnh Bình Định, Sở Nội vụ, Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Thuỷ lợi… cùng nhiều sở ngành khác ở tỉnh Bình Định đã cung cấp những tư liệu cần thiết để phục vụ cho luận văn này

Cảm ơn bạn bè và những người thân đã động viên giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Chắc chắn luận văn vẫn còn nhiều thiếu sót, vì vậy, kính mong quý thầy cô tiếp tục chỉ dẫn để tôi tiếp tục hoàn thành tốt hơn Xin chân thành cảm ơn!

Tp Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 7 năm 2014

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DẪN NHẬP 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

2.1 Lịch sử nghiên cứu địa danh ở Việt Nam 2

2.2 Lịch sử nghiên cứu địa danh ở Bình Định 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

3.1 Đối tượng nghiên cứu 5

3.2 Phạm vi nghiên cứu 5

4 Mục đích nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

5.1 Phương pháp thống kê, phân loại, miêu tả 5

5.2 Phương pháp so sánh 5

5.3 Phương pháp điền dã 6

5.4 Phương pháp khảo sát bản đồ 6

6 Bố cục của luận văn 6

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG NÉT SƠ LƯỢC VỀ BÌNH ĐỊNH 7

1.1 Cơ sở lý luận 7

1.1.1 Tiền từ và địa danh 7

1.1.2 Tiền từ và thành tố chung 11

1.1.3 Một số tiền từ và thành tố chung trong địa danh tỉnh Bình Định 13

1.2 Những nét sơ lược về Bình Định 14

1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Bình Định 14

1.2.2 Tổng quan về Bình Định 21

1.3 Tiểu kết 33

Trang 5

2.1.1 Phân loại theo đối tượng 34

2.1.2 Phân loại theo nguồn gốc ngữ nguyên 35

2.1.3 Phân loại theo số lượng âm tiết 36

2.2 Các phương thức cấu thành địa danh tỉnh Bình Định 37

2.2.1 Phương thức tự tạo 38

2.2.2 Phương thức chuyển hóa 44

2.3 Đặc điểm cấu tạo của địa danh tỉnh Bình Định 49

2.3.1 Cấu tạo đơn 49

2.3.2 Cấu tạo phức 50

2.4 Tiểu kết 53

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM VỀ MẶT CHUYỂN BIẾN CỦA ĐỊA DANH TỈNH BÌNH ĐỊNH 55

3.1 Các nguyên nhân làm biến đổi địa danh 55

3.1.1 Nguyên nhân xã hội 55

3.1.2 Nguyên nhân ngôn ngữ 59

3.2 Đặc điểm chuyển biến của các loại địa danh 60

3.2.1 Đặc điểm chuyển biến của địa danh chỉ địa hình thiên nhiên 60

3.2.2 Đặc điểm chuyển biến của địa danh hành chính 62

3.2.3 Đặc điểm chuyển biến của địa danh chỉ công trình xây dựng 69

3.3 Tiểu kết 71

Chương 4 ĐẶC ĐIỂM VỀ NGUỒN GỐC - Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ PHẢN

ÁNH HIỆN THỰC CỦA ĐỊA DANH TỈNH BÌNH ĐỊNH 73

4.1 Đặc điểm về nguồn gốc - ý nghĩa 73

4.1.1 Một số địa danh có nguồn gốc rõ ràng 73

4.1.2 Một số địa danh có nguồn gốc còn đang tranh cãi 76

Trang 6

4.2.3 Giá trị phản ánh về mặt kinh tế 82

4.2.4 Giá trị phản ánh về mặt văn hóa 84

4.2.5 Giá trị phản ánh về mặt ngôn ngữ 87

4.3 Tiểu kết 88

KẾT LUẬN 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

PHỤ LỤC 99

Trang 7

Tài liệu tham khảo ở cuối luận văn, tr.y là số trang Trường hợp tác phẩm có từ hai

trang trở lên thì số trang được ngăn cách với nhau bằng dấu gạch ngang Ví dụ: [51, tr.13-19]

- → : biến đổi thành

- [ ] : phiên âm ngữ âm học

- / / : phiên âm âm vị học

- cf Từ Thu Mai: dẫn theo tác giả Từ Thu Mai

2 Quy ước về cách viết tắt

- AL : huyện An Lão

- BĐ : tỉnh Bình Định

- HÂ : huyện Hoài Ân

- HN : huyện Hoài Nhơn

- PC : huyện Phù Cát

- PM : huyện Phù Mỹ

- TS : huyện Tây Sơn

- TP : huyện Tuy Phước

- VC : huyện Vân Canh

Trang 8

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Địa danh không chỉ gắn bó chặt chẽ với văn hóa, mà còn có mối quan hệ khăng khít với địa lý cũng như lịch sử dân cư của một vùng nhất định Nghiên cứu địa danh giúp soi sáng nhiều mặt cho các ngành khác của khoa học ngôn ngữ như

ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, phương ngữ học “Vì vậy, việc nghiên cứu địa danh

không thể không là công việc của ngôn ngữ học” (Karpenko) (cf Lê Trung Hoa)

[47, tr.37] Hơn nữa, địa danh không chỉ là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học

mà còn của nhiều ngành khoa học khác như địa lý học, lịch sử học, dân tộc học, khảo cổ học, văn hóa học… Việc tìm hiểu địa danh tỉnh Bình Định không nằm ngoài ý nghĩa trên

Bình Định là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ, phía bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía nam giáp tỉnh Phú Yên, phía tây giáp tỉnh Gia Lai, phía đông giáp biển Đông Bình Định được đánh giá là có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, được xem

là một trong những cửa ngõ ra biển của các tỉnh Tây Nguyên và vùng nam Lào, đông bắc Campuchia Ngoài ra, Bình Định có lịch sử hình thành và phát triển rất lâu đời với nền văn hóa Sa Huỳnh, nền văn hóa Chămpa, nền văn hóa các dân tộc cộng

cư ở Bình Định Chính sự đa dạng ấy đã ảnh hưởng nhiều đến văn hóa, ngôn ngữ nơi này Sự ảnh hưởng ấy thể hiện qua tên làng, tên xã, tên sông, tên suối, tên chợ… trong hệ thống địa danh tỉnh Bình Định qua từng giai đoạn lịch sử khác nhau

Cho đến nay Bình Định xuất hiện trong nhiều công trình nghiên cứu, nhiều tác phẩm lớn nhỏ của những nhà nghiên cứu Tuy nhiên, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu địa danh tỉnh Bình Định dưới góc độ ngôn ngữ học Chính vì vậy

chúng tôi chọn đề tài “Đặc điểm địa danh tỉnh Bình Định” để thực hiện nghiên cứu

Trang 9

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Lịch sử nghiên cứu địa danh ở Việt Nam

Theo tác giả Lê Trung Hoa: “Lịch sử nghiên cứu địa danh thế giới có thể

chia ra làm ba giai đoạn: giai đoạn phôi thai, giai đoạn hình thành và giai đoạn phát triển Còn địa danh học Việt Nam chỉ có hai giai đoạn đầu, chưa đến giai đoạn thứ ba” (cf Lê Trung Hoa) [47, tr.21]

Thuở ban đầu địa danh ở Việt Nam đã được nhắc tới là một số bộ sách sử,

địa chí như: Dư địa chí (1435) của Nguyễn Trãi; Hoan Châu ký của Nguyễn Cảnh

Thị (thế kỷ XVII), Ô châu cận lục (1553) của Dương Văn An; Phủ biên tạp lục

(1776) của Lê Quý Đôn; Hoàng Việt nhất thống dư địa chí (1806) của Lê Quang Định; Hoàng Việt địa dư chí (1821) của Phan Huy Chú; Đại Nam nhất thống chí (1882) của Quốc sử quán triều Nguyễn; Phương Đình dư địa chí, Đại Việt địa dư

toàn biên (1900) của Nguyễn Văn Siêu… Các bộ sách này đã lí giải một số địa danh

bằng cách giải thích từ nguyên hoặc theo các truyền thuyết, truyện cổ Nhìn chung, địa danh ở những bộ sách này được giải thích theo góc độ địa lý - lịch sử

Đầu thế kỉ XX có thể xem là giai đoạn hình thành của địa danh học Việt Nam với hàng loạt tác phẩm, công trình nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khác nhau như lịch sử, địa lý, văn hóa, ngôn ngữ Có thể kể ra một vài ví dụ sau: Đào Duy Anh

trong tác phẩm Đất nước Việt Nam qua các đời (1964) đã xác định và phân chia

lãnh thổ Việt Nam Ông đã dùng phương pháp nghiên cứu địa lý lịch sử Hoàng Thị

Châu với công trình Mối quan hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài

tên sông (1964) được xem là người cắm cột mốc đầu tiên trong lĩnh vực nghiên cứu

địa danh dùng phương pháp ngôn ngữ học Chuyên luận Địa danh Việt Nam của

Nguyễn Văn Âu (1993) cũng là công trình đầu tiên mang tính lý luận dưới góc nhìn lịch sử - địa lý - ngôn ngữ học

Ngoài những công trình nổi bật nêu trên, còn có những tác phẩm có liên quan

đến địa danh học như: “Phương pháp vận dụng địa danh học trong nghiên cứu địa

lý học, lịch sử cổ đại Việt Nam” (1984) của Đinh Văn Nhật; “Những thay đổi về địa

lý hành chính trong thời kì Pháp thuộc” (1972) của Vũ Văn Tỉnh; “Bàn về tên làng

Trang 10

Việt Nam” (1982) của Thái Hoàng; “Sự hình thành và diễn biến các tên làng người Việt cho đến năm 1945” (1987) của Bùi Thiết…

Cuối thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, vấn đề địa danh nhận được

sự quan tâm của nhiều tác giả hơn, trong số đó có các luận án như:

Lê Trung Hoa với luận án Phó tiến sĩ Những đặc điểm chính của địa danh ở

thành phố Hồ Chí Minh (1990) đã thực sự tạo bước ngoặc lớn trong lĩnh vực nghiên

cứu địa danh ở Việt Nam Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu địa danh dưới góc

độ ngôn ngữ học Tác giả đã hệ thống toàn bộ những vấn đề của địa danh học một cách đầy đủ và khái quát

Đến năm 1996, Nguyễn Kiên Trường bảo vệ thành công luận án Những vấn

đề chính của địa danh Hải Phòng (sơ bộ so sánh với một số vùng khác), đã bổ sung

thêm những vấn đề của địa danh học mà Lê Trung Hoa đã dẫn ra trước đó Cách phân loại địa danh của tác giả tương đối khác so với Lê Trung Hoa

Tiếp theo sau là luận án tiến sĩ của Từ Thu Mai Nghiên cứu địa danh Quảng

Trị (2003) và luận án tiến sĩ của Trần Văn Dũng Những đặc điểm chính của địa danh Đắk Lắk (2005) Bên cạnh đó, cũng có thể kể đến một số luận văn thạc sĩ về

địa danh đáng chú ý như: Những đặc điểm chính của địa danh ở Vĩnh Long (2008) của Nguyễn Tấn Anh, Nghiên cứu địa danh tỉnh Đồng Nai (2009) của Nguyễn Thái Liên Chi, Đặc điểm địa danh Khánh Hòa (2011) của Lê Thị Diễm Trang…

Góp phần cho sự đa dạng của các lĩnh vực nghiên cứu địa danh, Trần Trí Dõi

có hàng loạt các bài viết về địa danh theo hướng so sánh lịch sử như: Một vài địa

danh, tên riêng gốc Nam Đảo trong vùng Hà Nội xưa (2000), Không gian ngôn ngữ

và tính kế thừa đa chiều của địa danh (qua phân tích một vài địa danh ở Việt Nam),

Về địa danh Cửa Lò (2000)…

Sự xuất hiện ngày càng nhiều những công trình nghiên cứu địa danh ở Việt Nam cho thấy địa danh học ở Việt Nam đã hình thành và đang tiếp tục hướng tới giai đoạn phát triển cao, ngày càng khẳng định vị trí của mình trong nghiên cứu địa danh học

Trang 11

2.2 Lịch sử nghiên cứu địa danh ở Bình Định

Địa danh tỉnh Bình Định cũng được nhiều tác giả quan tâm, tìm hiểu như: Bùi Văn Lăng, Quách Tấn, Võ Minh Hải Theo chúng tôi người đầu tiên có lẽ là

học giả Bùi Văn Lăng với công trình Khảo cứu một số địa danh Bình Định (tác giả

tự xuất bản, Quy Nhơn, 1934), Quách Tấn trong Non nước Bình Định (1966) đã

khảo sát các địa danh trong địa bàn tỉnh Bình Định Tuy nhiên, công trình của ông chỉ dừng lại ở việc ghi nhận những địa danh địa lý, sự kiện lịch sử ThS Võ Minh

Hải với công trình Tìm hiểu Nhân danh - Địa danh Nam Trung Bộ từ góc độ văn

hóa (Đề tài NCKH cấp trường năm 2009) đã nghiên cứu về hệ thống địa danh tỉnh

Bình Định từ góc nhìn văn hóa Sau đó, tác giả còn có thêm bài viết Tìm hiểu ca

dao địa danh Bình Định từ góc nhìn văn hóa (Tạp chí Khoa học, Số II, Trường Đại

học Quy Nhơn, 2010) Kế tiếp là Phạm Thị Phượng với luận văn Địa danh Bình

Định nhìn từ góc độ văn hóa Nổi bật nhất là Địa chí Bình Định (2002) do Ủy ban

nhân dân tỉnh Bình Định làm chủ nhiệm đã giới thiệu một cách quy mô, khá đầy đủ

về các lĩnh vực khác nhau của Bình Định như điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị,

xã hội, văn hóa Song công trình này cũng chưa phải là một công trình nghiên cứu địa danh dưới góc độ ngôn ngữ học

Ngoài ra, địa danh tỉnh Bình Định còn được xuất hiện rải rác trong các trang

web, báo, tạp chí, cẩm nang du lịch của địa phương và của cả nước như Tạp chí

thông tin lý luận và nghiên cứu văn hóa nghệ thuật Bình Định, Tạp chí Đất võ của

hội Đồng hương Bình Định tại thành phố Hồ Chí Minh

Gần đây nhất, năm 2012 tác giả Hồ Thị Kim Anh đã Vài nét về địa danh

Bình Định trong khóa luận tốt nghiệp đại học của mình Trong công trình này, tác

giả đã sưu tầm được 1405 địa danh ở Bình Định và nhận xét về đặc điểm, phương thức cấu tạo địa danh tỉnh Bình Định theo góc độ ngôn ngữ Tuy nhiên, số lượng địa danh sưu tầm chưa đầy đủ và chưa có hệ thống

Tóm lại, địa danh tỉnh Bình Định chưa thực sự được nghiên cứu trên bình

diện ngôn ngữ học Do vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài Đặc điểm địa danh

tỉnh Bình Định là việc làm cần thiết và ý nghĩa

Trang 12

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu gồm bốn loại: địa danh chỉ địa hình, địa danh hành chính, địa danh chỉ các công trình xây dựng và địa danh vùng

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu là toàn bộ địa danh trong tỉnh Bình Định Ngoài địa danh thuần Việt, chúng tôi còn khảo sát một số địa danh thuộc các dân tộc ít người định cư lâu ngày ở địa bàn tỉnh qua quá trình hình thành và phát triển

4 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm làm rõ những vấn đề sau:

- Tìm hiểu tổng quan về địa lý, kinh tế, lịch sử, văn hóa tỉnh Bình Định đề làm nền tảng khi nghiên cứu địa danh tỉnh Bình Định

- Tìm hiểu về phương thức đặt địa danh, phương thức cấu tạo, quá trình chuyển hóa về mặt ngữ âm, ngữ nghĩa, cũng như nguồn gốc, ý nghĩa của một số địa danh tỉnh Bình Định

- Làm sáng tỏ những giá trị hiện thực mà địa danh phản ánh để thấy được mối liên hệ giữa địa danh học và các ngành khoa học khác như sử học, văn hóa học, địa lý học, khảo cổ học…

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thống kê, phân loại, miêu tả

Phương pháp này giúp chúng tôi khảo sát, thống kê, phân loại các địa danh tìm được để có cái nhìn tổng quát về hệ thống địa danh tỉnh Bình Định Từ đó miêu

tả những đặc điểm chung và đặc điểm riêng của các loại địa danh

5.2 Phương pháp so sánh

Chúng tôi sẽ dùng phương pháp so sánh lịch đại để xác định nguồn gốc, ý nghĩa ban đầu của địa danh và tìm ra được nguyên nhân của sự biến đổi và quy luật biến đổi của địa danh

Trang 13

5.3 Phương pháp điền dã

Phương pháp này đòi hỏi chúng tôi phải khảo cứu thực địa để thu thập, ghi chép nhằm xác định nguồn gốc, ý nghĩa và thời điểm ra đời của một số địa danh mà mình còn nghi vấn trong quá trình nghiên cứu Đặc biệt, chúng tôi cũng sử dụng một số kết quả sưu tầm điền dã ở khu vực Nam Trung Bộ của sinh viên khoa Ngữ văn, trường Đại học Quy Nhơn từ năm 1988 đến 2009, được sử dụng trong đề tài

nghiên cứu Địa danh tỉnh Bình Định nhìn từ góc độ văn hóa của ThS Võ Minh Hải

giảng viên trường Đại học Quy Nhơn

5.4 Phương pháp khảo sát bản đồ

Chúng tôi khảo sát, đối chiếu bản đồ địa phương theo phương thức đồng đại hoặc lịch đại để tìm ra nguyên nhân, quy tắc biến đổi của địa danh, hay sự thay đổi

về ngữ âm, chữ viết của địa danh

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần dẫn nhập, phần kết luận và phụ lục, phần chính của luận văn được chia làm 4 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và những nét sơ lược về Bình Định

Chương 2: Đặc điểm về mặt cấu tạo của địa danh tỉnh Bình Định

Chương 3: Đặc điểm về mặt chuyển biến của địa danh tỉnh Bình Định Chương 4: Đặc điểm về nguồn gốc - ý nghĩa và giá trị phản ánh hiện thực của địa danh tỉnh Bình Định

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG NÉT SƠ LƯỢC VỀ BÌNH ĐỊNH

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Tiền từ và địa danh

a Khái niệm tiền từ

Tiền từ là những từ đặt trước địa danh và chỉ tiểu loại địa danh

b Khái niệm địa danh

Địa danh là một khái niệm tưởng như đơn giản nhưng lại rất khó để có thể có

một định nghĩa thống nhất Năm 1976 Trần Thanh Tâm trong bài báo Thử bàn về

địa danh Việt Nam đã định nghĩa “Địa danh học là một ngành khoa học chuyên nghiên cứu tên đất các địa phương, các dân tộc ở các mặt từ nguyên, tính xã hội, quy luật cấu thành của nó” 76, tr.61 Hoàng Phê trong Từ điển tiếng Việt định

nghĩa địa danh là “tên đất, tên địa phương” 69, tr.314 Cách định nghĩa của Trần

Thanh Tâm như vậy còn đơn giản và chưa chỉ ra được bản chất của địa danh, còn cách giải thích của Hoàng Phê lại càng đơn giản hơn

Các tác giả nước ngoài định nghĩa địa danh theo các góc độ khác nhau Nhà

ngôn ngữ học Nga A.V Superanskaja cho rằng “Địa danh là tên gọi các địa điểm

được biểu thị bằng những từ riêng Đó là các tên gọi địa lý, địa danh hay toponymia” (cf Từ Thu Mai) [66, tr.1] Tác giả chỉ rõ: “Những địa điểm, mục tiêu địa lý đó là những vật thể tự nhiên hay nhân tạo với sự định vị xác định trên bề mặt trái đất, từ những vật thể lớn nhất (các lục địa và đại dương) cho đến những vật thể nhỏ nhất (những ngôi nhà, vườn cây đứng riêng rẽ) đều có tên gọi” (cf Từ Thu

Mai) 66, tr.13 Còn G.M.Kert thì: “Địa danh là tên gọi được đặt cho các đối

tượng địa lý, ra đời trong một khu vực có người sinh sống, được tạo ra bởi một cộng đồng dân cư, một tộc người Chúng là một phần không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày và các hoạt động chính trị - xã hội ở nơi đó” Từ hai định

nghĩa trên ta thấy A.V Superanskaja và G.M.Kert đã mô tả địa danh là tên gọi của các đối tượng địa lý, được đặt cho các đối tượng địa lý

Trang 15

Ở Việt Nam, các nhà địa danh học chia thành hai khuynh hướng nghiên cứu

là nghiên cứu địa danh học theo góc độ địa lý - văn hóa và nghiên cứu địa danh học theo góc độ ngôn ngữ học Tiêu biểu cho khuynh hướng thứ nhất theo góc độ địa lý văn hóa có các tác giả sau:

Nguyễn Văn Âu trong Một số vấn đề địa danh học Việt Nam cho rằng:“Địa

danh là tên đất, gồm tên sông, núi, làng mạc hay là tên các địa phương, các dân tộc” [7, tr.5] Tác giả cho rằng địa danh là tên các đối tượng tự nhiên

Bùi Đức Tịnh trong Lược khảo nguồn gốc địa danh Nam Bộ quan niệm:

“Địa danh là một danh từ có nghĩa tổng quát để chỉ tên gọi các loại vật thể tự nhiên được phân biệt về phương diện địa lý, các vị trí cần phân biệt trong sinh hoạt xã hội

và các đơn vị được xác định trong tổ chức hành chính hay quân sự”

Tiêu biểu cho khuynh hướng thứ hai theo góc độ ngôn ngữ học có Hoàng Thị Châu, Lê Trung Hoa, Nguyễn Kiên Trường, Từ Thu Mai, Trần Văn Dũng…

Hoàng Thị Châu cho rằng:“Địa danh là tên địa lý (toponym, geographical

name) là tên vùng, tên sông, tên núi, là tên gọi các đối tượng địa hình khác nhau, tên nơi cư trú, tên hành chính… được con người đặt ra” [17, tr.135]

Lê Trung Hoa phân loại địa danh theo tiêu chí tự nhiên, không tự nhiên và

theo nguồn gốc ngữ nguyên của địa danh Lê Trung Hoa cho rằng “Địa danh là

những từ hoặc ngữ, được dùng làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn

vị hành chính, các vùng lãnh thổ và các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều” 47, tr.18

Nguyễn Kiên Trường trong luận án phó Tiến sĩ ngữ văn năm 1996, viết:

“Địa danh là tên riêng chỉ các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân văn có vị trí xác

định trên bề mặt trái đất.” [94, tr.16] Cách định nghĩa này nêu địa danh là những gì

có trên bề mặt trái đất

Từ Thu Mai quan niệm giống Nguyễn Kiên Trường: “Địa danh là những từ

ngữ chỉ tên riêng của các đối tượng địa lý có vị trí xác định trên bề mặt trái đất Mặc dù nằm trong hệ thống những loại hình khác nhau trong các đối tượng địa lý bao giờ cũng xuất hiện trong thực tế với những cá thể độc lập.” [66, tr.19]

Trang 16

Trần Văn Dũng quan niệm: “Địa danh là tên gọi những đối tượng địa lý tự

nhiên và địa danh do con người kiến tạo”, trong đó “các đối tượng địa lý do con người kiến tạo bao gồm: địa lý nơi cư trú, địa lý chỉ các công trình xây dựng.” [27,

tr.15]

Nhìn chung, các định nghĩa nêu ra ở trên đã nêu bật được đặc điểm của địa danh ở những khía cạnh khác nhau Theo chúng tôi định nghĩa mà tác giả Lê Trung Hoa đưa ra là có tiêu chí rõ ràng, cụ thể, đầy đủ Do đó, chúng tôi dựa trên quan điểm của tác giả để làm kim chỉ nam cho công trình nghiên cứu của mình

c Phân loại địa danh

Cũng như định nghĩa địa danh, phân loại địa danh cũng chưa thống nhất bởi mỗi nhà ngôn ngữ học có cách tiếp cận, mục đích nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu khác nhau Chẳng hạn, các nhà địa danh học Nga như G.L Smolisnaja và M.V

Gorbanevskij trong cuốn Toponimija Moskvy đã chia địa danh làm 4 loại dựa theo bản thân đối tượng mà phân loại địa danh: 1 Phương danh (tên các địa phương); 2

Sơn danh (tên núi, đồi, gò…); 3 Thuỷ danh (tên các dòng chảy, hồ, vũng,…); 4 Phố danh (tên các đối tượng trong thành phố) Còn A.V Superanskaja trong Chto takoe toponimika chia địa danh làm 7 loại: 1 Phương danh; 2 Thuỷ danh; 3 Sơn danh; 4 Phố danh; 5 Viên danh (tên các quảng trường, công viên); 6 Lộ danh (tên các đường phố); 7 Đạo danh (tên các đường giao thông trên đất, dưới đất, trên nước, trên không) (cf Lê Trung Hoa) Cách phân loại của các nhà địa danh học

Nga dựa theo đối tượng mà địa danh biểu thị

Ở Việt Nam, các nhà địa danh học phân loại dưới nhiều góc độ khác nhau:

Trong Thử bàn về địa danh Việt Nam (1976) Trần Thanh Tâm chia địa danh Việt Nam làm 6 loại 1 Loại đặt theo địa hình và đặc điểm; 2 Loại đặt theo vị trí

không gian và thời gian; 3 Loại đặt theo tín ngưỡng, tôn giáo, lịch sử; 4 Loại đặt theo hình thái, đất đai, khí hậu; 5 Loại đặt theo đặc sản, nghề nghiệp và tổ chức kinh tế; 6 Loại đặt theo sinh hoạt xã hội [76, tr.60-73] Cách phân loại của Trần

Thanh Tâm cũng dựa trên đối tượng mà địa danh biểu thị Tuy nhiên kết quả phân loại còn phức tạp, chưa bao quát đầy đủ đối tượng

Trang 17

Nguyễn Văn Âu trong hai tác phẩm Địa danh Việt Nam và Một số vấn đề về

địa danh Việt Nam, đã phân loại địa danh theo 3 cấp: loại, kiểu và dạng Về loại, có

2 loại: 1 Địa danh tự nhiên; 2 Địa danh kinh tế - xã hội Về kiểu, có 7 kiểu: 1

Thuỷ danh; 2 Sơn danh; 3 Lâm danh; 4 Làng xã; 5 Huyện thị; 6 Tỉnh, thành phố; 7 Quốc gia Về dạng, địa danh Việt Nam được chia thành 12 dạng là: 1 Sông ngòi; 2 Hồ đầm; 3 Đồi núi; 4 Hải đảo; 5 Rừng rú; 6 Truông, trảng; 7 Làng, xã;

8 Huyện, quận; 9 Thị trấn; 10 Tỉnh; 11 Thành phố; 12 Quốc gia Cách phân chia

địa danh này quá chi tiết, và có sự trùng nhau như quốc gia, làng xã, tỉnh, thành phố

Đến năm 2003, Lê Trung Hoa trong cuốn Nguyên tắc và phương pháp

nghiên cứu địa danh, dựa vào tiêu chí tự nhiên và không tự nhiên, đã chia địa danh

thành 2 nhóm: 1 Địa danh chỉ các đối tượng tự nhiên (còn gọi là địa danh chỉ địa

hình); 2 Địa danh chỉ các đối tượng nhân tạo Trong nhóm địa danh chỉ các đối

tượng nhân tạo bao gồm 3 loại: a Địa danh chỉ các công trình xây dựng thiên về

không gian hai chiều như tên cầu, cống, đường phố, công viên; b Địa danh hành chính: tên ấp, phường, xã, quận, huyện…; c Địa danh vùng (không có ranh giới rõ ràng)

Năm 2006, trong Địa danh học Việt Nam, Lê Trung Hoa dựa trên tiêu chí ngữ nguyên đã phân loại địa danh thành 4 nhóm: 1 Địa danh thuần Việt; 2 Địa

danh Hán Việt; 3 Địa danh bằng các ngôn ngữ dân tộc thiểu số (như Chăm, Khmer, Ba Na, Ê Đê, Gia Rai, Tày, Thái, Mường…); 4 Địa danh bằng các ngoại ngữ (chủ yếu là địa danh gốc Pháp, một số là địa danh gốc Indonesia, Malaysia)

Như vậy Lê Trung Hoa phân loại địa danh dựa vào hai tiêu chí đối tượng và ngữ nguyên Đây là cách phân loại thường gặp và tương đối hợp lý, có tính bao quát Trong công trình nghiên cứu này, để tiến hành phân loại địa danh tỉnh Bình Định chúng tôi sẽ áp dụng cách phân loại của Lê Trung Hoa

d Phân biệt tiền từ và địa danh

Tiền từ và điạ danh có đầy đủ các mặt vị trí, chức năng, từ loại, hình thức, khả năng chuyển hóa

Trang 18

- Về vị trí: Tiền từ luôn luôn đứng trước địa danh Thí dụ: sông Châu Trúc

(PM), xã An Hòa (AL), cầu Đôi (QN), hồ chứa nước Trung Sơn (PM)

- Về chức năng: Tiền từ chỉ tiểu loại địa danh Thí dụ: sông Châu Trúc

(PM), huyện Phù Mĩ, trạm bơm Xuân Sơn (HÂ)

Còn chức năng của địa danh là gọi tên và phân biệt đối tượng này với đối tượng khác trong cùng một loại hình và giữa các loại hình với nhau

- Về từ loại:

+ Tiền từ là danh từ, các từ sông, huyện, cầu, đường đều là danh từ

+ Địa danh cũng là danh từ Thí dụ: sông Cây Bông (PC), suối Cây Cơm (TS)…

- Về hình thức: Tiền từ thì không viết hoa Còn địa danh thì phải viết hoa

Thí dụ: huyện Hoài Nhơn, thành phố Quy Nhơn

1.1.2 Tiền từ và thành tố chung

a Thành tố chung

Thành tố chung đã được các nhà nghiên cứu quan tâm và đặt nhiều vấn đề với nhiều cách tiếp cận khác nhau

Theo Nguyễn Kiên Trường, “Trong địa danh, thành tố chung là danh từ chỉ

loại hình đối tượng địa lý, các danh từ này có tần số xuất hiện cao nhưng đã chuyển hoá thành tên riêng hoặc thành một bộ phận của tên riêng [94, tr.59]

Từ Thu Mai, trong công trình nghiên cứu về địa danh Quảng Trị (2004) đã

xem thành tố chung là “những danh từ (danh ngữ) chung luôn đi trước địa danh

(tên riêng) và có chức năng là thành tố trong cụm từ, chỉ loại hình của đối tượng”,

“những danh từ (danh ngữ) chung, được dùng để chỉ một lớp đối tượng địa lý có

Trang 19

cuối địa danh” [47, tr.120] Tác giả quan niệm coi thành tố chung là thành tố xuất

hiện ở nhiều địa danh, là bộ phận của địa danh Trong luận văn này chúng tôi chấp nhận cách định nghĩa của Lê Trung Hoa

b Phân biệt tiền từ và thành tố chung

Tiền từ và thành tố chung có một điểm giống nhau là chúng xuất hiện hàng loạt trước và trong nhiều địa danh Nhưng chúng có nhiều điểm khác nhau cần phân biệt

- Về vị trí: Tiền từ luôn luôn đứng trước thành tố chung Thí dụ: sông La

Tinh (PC), xã Mỹ Lộc (PM), cầu Thị Nại (QN), vùng Cách Thử (VT)…

Còn thành tố chung có thể đứng đầu hoặc cuối địa danh Thí dụ: tỉnh Bình Định, hồ Định Bình (TS), thôn Phú An (HN), thôn Hội Phú (PM)…

- Về chức năng: Tiền từ chỉ tiểu loại địa danh Thí dụ: sông Mỹ Cát (PM),

huyện Tuy Phước (BĐ), cầu Bến Vách (HÂ), bến xe Phú Phong (TS)…

Còn thành tố chung là yếu tố cấu tạo nên địa danh Thí dụ: An Vinh (AL),

An Toàn (AL), An Tường (PM); thị trấn Bình Dương, tỉnh Bình Định; thôn Phước

Lộc, thị trấn Tuy Phước…

- Về từ loại: Tiền từ là danh từ, các từ sông, huyện, cầu, đường… đều là

danh từ Các từ vốn thuộc từ loại khác thì phải danh hóa Thí dụ: Trong ngả tắt, cái tắt thì tắt là tính từ, sau đó ở Nam Bộ, từ tắt này đã được danh hóa thành tắt (bị viết sai chính tả ở Nam Bộ thành tắc) như tắc Ráng, tắc Chàng Hảng

Còn thành tố chung có thể thuộc nhiều từ loại khác nhau Thí dụ: An Bình, Long An (tính từ), Sông Bé, Sông Cầu (danh từ)…

- Về hình thức: Tiền từ thì không viết hoa Thí dụ: huyện Hoài Nhơn (BĐ),

thành phố Quy Nhơn (BĐ)

Còn thành tố chung thì phải viết hoa Thí dụ: các thôn Hòa Tân (PM), Định

Tân (VT), Canh Tân (VC), Tân Mỹ (TP); các huyện Hoài Ân, Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát…

Trang 20

- Về khả năng chuyển hóa: Tiền từ rất dễ chuyển hóa thành thành tố chung

Thí dụ: gò Găng (AN) → khu vực Gò Găng (AN), bến Đá (HN) → đèo Bến Đá (HN), sông Đinh (AL) → hồ Sông Đinh (AL), gò Kho → đồi Gò Kho (PC)…

Còn thành tố chung ít có khả năng này Đối với các từ Hán Việt, nếu muốn

biến thành tiền từ thì phải dịch sang từ thuần Việt, rồi thay đổi vị trí theo cú pháp

của tiếng Việt Thí dụ: Hồng Hà => sông Hồng

1.1.3 Một số tiền từ và thành tố chung trong địa danh tỉnh Bình Định

Trong mục này, chúng tôi chỉ giải thích một số tiền từ và thành tố chung phổ biến ở Bình Định

a Tiền từ

- Gò: khoảng đất nổi lên giữa nơi bằng phẳng Ví dụ: gò Cây Me (AN), gò

Trường Dược, gò Phụng (TP), gò Bình Đức (AN)

- Vực: chỗ sâu nhất trong hồ, biển hoặc vùng núi cao Ví dụ: vực Hố Nguyệt

(AN), vực Hố Giang (HN), vực Ông Đô (TP)…

- Dốc: đoạn đường đi dần cao lên hoặc thấp dần xuống Ví dụ: dốc Bà Bơi

(HÂ), dốc Chàng Hảng (TS), dốc Truông Cấm (HN)…

- Bàu: là chỗ đất trũng, thường ở trong đồng hay trong rừng, mưa đọng nước

sâu, còn khi nắng chỉ là những vũng nước nhỏ hay khô hẳn Ví dụ: bàu Cả, bàu Diêng, bàu Đồn (TS), bàu Năng, bàu Nhậm, bàu Sấu (AN), bàu Thuốc, bàu Tượng (AL)

- Đầm: là vũng nước rộng lớn, chứa nhiều bùn lầy thường nằm giữa cánh

đồng hoặc vùng đất trũng, vùng hay ngập nước Ví dụ: đầm Đạm Thủy (PM), đầm Thị Nại (QN)

b Thành tố chung

- Trà: gốc Chăm, do “ya” có nghĩa là “sông, nước” mà thành Ví dụ: đầm

Trà Ổ (PM), thủy điện Trà Xom (VT), sông Trà Bình (AL)

- Đắc / Đăk: tiếng Cơ Tu, Bhnoong, Cadong có nghĩa là “nước, sông, suối”

Ví dụ: đập dâng Đăklok (VT), đập dâng ĐăkRanh (VT), thủy điện Đăk Ple (VT), đập dâng Nước Đăk (AL)…

Trang 21

- Sơn: từ Hán Việt có nghĩa là núi Ví dụ: Ấn Sơn (AL), Mã Cảnh sơn (VT),

Bồng Sơn (PC)…

- Phù: từ Hán Việt có nghĩa là nổi lên Ví dụ: Phù Cát, Phù Mỹ

- Mỹ, Cát, An, Bình: từ Hán Việt có nghĩa là đẹp đẽ, thịnh vượng, may mắn

- Long, Vĩnh: từ Hán Việt có nghĩa là thịnh vượng, vĩnh cửu Ví dụ: Thanh

Long (QN), Vĩnh Viễn (HÂ)…

- Nghĩa, Đức: từ Hán Việt có nghĩa là phẩm chất tốt đẹp Ví dụ: Nghĩa Nhơn (HÂ), Hoài Đức (HN)

1.2 Những nét sơ lược về Bình Định

1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Bình Định

1.2.1.1 Bình Định thời kỳ tiền sơ sử

Trong tiến trình lịch sử, vùng đất Bình Định bây giờ được tạo lập trên con đường phát triển về phía nam của nhiều thế hệ người Việt Thời kỳ trước khi người

Việt tới đây, các sách sử của Việt Nam và Trung Quốc đều nói khá rõ Đại Nam

nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn viết về Bình Định: “xưa là đất Việt Thường thị, đời Tần thuộc Tượng Quận, đời Hán là Lâm Ấp, đời Tùy là quận Lâm

Ấp, đời Đường đổi làm Châu Lâm, sau bị Chiêm Thành chiếm cứ, tức là đất Bà Đài

và Bà Lãng” Những ghi chép trên chỉ rõ rằng Bình Định ngày nay vốn là nước Việt

Thường, rồi Tượng Quận, sau đó là Lâm Ấp

Nước Lâm Ấp lúc bấy giờ là nơi sinh sống của cư dân Sa Huỳnh Qua các tài liệu lịch sử và khai quật, sưu tầm các hiện vật văn hóa tại Bình Định cho thấy:

Năm 1829 tại di tích Truông Xe (Phù Mỹ) đã phát hiện được tầng văn hóa dày 1.3 m Trong tầng văn hóa thu được 1 rìu đá hình răng trâu, 3 rìu tứ giác, 4 đục nhỏ hình lưỡi xòe, 7 bàn mài, 1 chày nghiền, 2 phát đục…

Trang 22

Tại di tích Gò Lôi (Phù Mỹ), qua khảo sát đoàn công tác thu được 1 bàn mài,

47 mảnh gốm Gốm ở đây có màu nâu hoặc xám mốc, độ nung già, xương màu đen pha cát nhỏ Hoa văn trang trí có khắc vạch, chấm đôi

Cách Eo Vược 350 m về phía đông, cách núi Một chừng 1 km về phía tây, thuộc phạm vi khối 8, thôn Hội Lạc (nay thuộc thành phố Quy Nhơn) đoàn công tác

đã tiến hành thám sát và thu được một mảnh bàn chài màu xám nhạt, 24 mảnh cuội

vỡ, 500 mảnh gốm các loại

Ngoài ra, những di vật của văn hóa Đông Sơn cũng đã được phát hiện bao gồm 14 trống đồng Đông Sơn và một số gốm thô dạng mảnh mang đậm nét của phong cách văn hóa Sa Huỳnh Từ những chứng cứ này ta có thể khẳng định Bình Định là nơi giao tiếp và hội tụ các dòng chảy văn hóa khác nhau, từ Ấn Độ miền Nam Á đến văn hóa Trung Hoa miền Đông Á

Như vậy, Bình Định trong giai đoạn tiền sử và sơ sử là nơi định cư và sinh sống của cư dân Sa Huỳnh Cư dân Sa Huỳnh là những bộ tộc thuộc ngữ hệ Nam Đảo, có quan hệ với dân cư Đông Sơn nói ngôn ngữ Việt Cổ ở phía bắc và cư dân nói ngữ hệ Nam Á ở phía nam Đồng thời điều đó cũng chứng tỏ sự có mặt của người Chămpa trên đất Bình Định xưa

1.2.1.2 Bình Định thời kỳ Chămpa

Tỉnh Bình Định xưa là đất thuộc Việt Thường Thị và nền văn hóa Sa Huỳnh, sau đó người Chăm đã tới chiếm lĩnh vùng đất này Đến đời nhà Tần xứ này là huyện Lâm Ấp thuộc Tượng Quận, đời nhà Hán là huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam, năm Vĩnh Hoà 2 (137) người trong quận làm chức Công Tào tên là Khu Liên đã giết viên huyện lệnh chiếm đất và tự phong là Lâm Ấp vương

Đời nhà Tùy (605) dẹp Lâm Ấp đặt tên là Xung Châu, sau đó lại lấy tên cũ là Lâm Ấp Đời nhà Đường, năm 627 đổi tên là Lâm Châu Năm 803, nhà Đường bỏ đất này và nước Chiêm Thành của người Chăm ra đời, đất này được đổi là Đồ Bàn (có người gọi là Trà Bàn), Thị Nại

Trang 23

1.2.1.3 Bình Định thời Lê và chúa Nguyễn

Tháng 7 - 1471, vua Lê cho lập phủ Hoài Nhơn (tỉnh Bình Định sau này) gồm 3 huyện Bồng Sơn, Phù Ly và Tuy Viễn Từ đó, người Việt bắt đầu tiến dần vào sinh sống ở phủ Hoài Nhơn Năm 1602, chúa Nguyễn Hoàng cho đổi phủ Hoài Nhơn thành phủ Quy Nhơn thuộc dinh trấn Quảng Nam

Năm 1651, chúa Nguyễn Phúc Tần đã đổi tên phủ Quy Nhơn thành phủ Quy Ninh

Năm 1742, chúa Nguyễn Phúc Khoát cho lấy lại tên cũ là Quy Nhơn

Thời Lê với việc thành lập phủ Quy Nhơn có 3 huyện: Bồng Sơn, Phù Ly và Tuy Viễn, tạo nên một bản lề chính trị sắc sảo và vững chắc để các chúa Nguyễn xây dựng phủ Quy Nhơn (1602) lớn mạnh và trù phú, là bàn đạp để các chúa Nguyễn mở đất Đàng Trong Dưới thời các chúa Nguyễn, phủ Quy Nhơn giữ vị trí quan trọng về chính trị, kinh tế đối với vùng đất mới ở Đàng Trong và là nơi có những sắc thái xã hội, văn hoá độc đáo của vùng đất tiền Tây Sơn khởi nghĩa

1.2.1.4 Bình Định dưới thời Tây Sơn (1771 - 1802)

Mùa thu 1773, khi thế lực đã mạnh, nghĩa quân Tây Sơn do Nguyễn Nhạc đứng đầu đã chiếm được phủ Quy Nhơn

Tháng 3 năm 1776, Nguyễn Nhạc cho sửa chữa và xây thêm thành Đồ Bàn, đến 1778 hoàn thành, đặt làm thành Hoàng Đế Năm 1778 Nguyễn Nhạc làm lễ lên ngôi Hoàng đế Kinh đô của nhà nước Tây Sơn bắt đầu từ đây nhưng chỉ tồn tại 15 năm (1778 - 1793) do cuộc nội chiến giữa hai anh em Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ vào năm 1787 Triều đình Cảnh Thịnh ở Phú Xuân đến giải cứu cho thành Hoàng

Đế vào năm 1793 Từ đó thành Hoàng Đế đổi thành phủ Quy Nhơn dưới vương triều Cảnh Thịnh

Trong các năm 1799 - 1802 đã xảy ra cuộc chiến quyết liệt ở Quy Nhơn giữa quân đội Tây Sơn và Nguyễn Ánh Nguyễn Ánh chiếm được thành Quy Nhơn

và cho đổi thành Quy Nhơn làm thành Bình Định Triều Nguyễn chính thức cai trị Bình Định

Trang 24

1.2.1.5 Bình Định dưới thời Nguyễn (1802-1884)

Năm 1802 Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi đặt niên hiệu là Gia Long Gia Long cho lập trấn Quy Nhơn phụ trách hai dinh Quảng Ngãi và Phú Yên

Năm 1809, đổi dinh Bình Định làm trấn Bình Định

Năm1814, vua Gia Long cho xây dựng lại thành Bình Định mới

Năm 1825 đặt tri phủ Quy Nhơn, đến tháng 12 năm 1831 lại đổi phủ Quy Nhơn thành phủ Hoài Nhơn

Tháng 11 năm 1832, Bình Định được tái lập tỉnh Tỉnh Bình Định có hai phủ

An Nhơn và Hoài Nhơn Cả tỉnh có 5 huyện: Phù Cát, Phù Mỹ, Tuy Viễn, Tuy Phước, Bồng Sơn

1.2.1.6 Bình Định thời thuộc Pháp (1885 -1945)

Năm 1885 Bình Định có hai phủ là Hoài Nhơn và An Nhơn Phủ Hoài Nhơn

có 3 huyện là Bồng Sơn, Phù Cát và Phù Mỹ Phủ An Nhơn có 2 huyện là Tuy Viễn

và Tuy Phước

Năm 1890, thực dân Pháp sáp nhập thêm Phú Yên vào tỉnh Bình Định thành tỉnh Bình Phú, tỉnh lỵ là Quy Nhơn Nhưng đến năm 1899, Phú Yên tách ra khỏi Bình Phú, Bình Định lại trở thành tỉnh độc lập

Năm 1906, triều đình Huế đổi huyện Tuy Viễn thành phủ An Nhơn Tỉnh Bình Định lúc này lãnh 3 phủ, 6 huyện

Ngày 25.4.1907, toàn quyền Đông Dương lại ra nghị định bãi bỏ tỉnh Pleiku, một nửa đất đai của tỉnh này cho sáp nhập vào tỉnh Bình Định Như vậy đến năm

Trang 25

Trong thế kỷ XIX, Quy Nhơn đã có phố xã, nhưng tên đơn vị hành chính vẫn

là những xã (thôn) của các làng Chánh Thành và Cẩm Thượng Ngày 30.4.1930, toàn quyền Đông Dương Pasquier ra nghị định nâng cấp thị xã Quy Nhơn lên thành phố Quy Nhơn với 5 khu phố Đến năm 1945, tỉnh Bình Định lúc này có 3 phủ, 4 huyện, một thành phố với 27 tổng, 695 thôn xã và 5 phường ở Quy Nhơn

1.2.1.7 Bình Định từ năm 1945 đến nay

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền cách mạng được thiết lập từ tỉnh đến huyện, từ các thôn xã đến buôn làng Để thiết lập nền hành chính phù hợp với chế độ mới và tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước của chính quyền dân chủ nhân dân, theo Sắc lệnh 63 của chính phủ, đầu năm 1946 Bình Định tiến hành bãi bỏ cấp phủ, cấp châu, tổng, hình thành hệ thống chính quyền 3 cấp: tỉnh, huyện (thị xã), xã Đầu năm 1948 thành lập 3 huyện miền núi là Vân Canh, Vĩnh Thạnh, An Lão (huyện Vân Canh có 13 xã, huyện An Lão có 11 xã, huyện Vĩnh Thạnh có 11 xã) Như vậy, đến năm 1948 tỉnh Bình Định có 10 huyện Mười huyện đó là: Hoài Nhơn, An Nhơn, Phù Cát, Hoài Ân, Phù Mỹ, Tuy Phước, Bình Khê, Vân Canh, Vĩnh Thạnh, An Lão

Sau hiệp định Genève 1954, Mỹ thay thế Pháp, dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm Chính quyền Ngô Đình Diệm xóa bỏ cấp huyện, thay bằng đơn vị hành chính Quận ở đồng bằng và Nha ở miền núi (đến năm 1958 thì Nha đổi thành Quận) Dưới quận là xã phường và dưới xã phường là ấp Tỉnh Bình Định có 11 quận, 1 thị xã, trong đó có 4 quận miền núi

Đến năm 1960 - 1961 chính quyền Ngô Đình Diệm giải tán 3 quận miền núi

là Vĩnh Thạnh, An Lão, Vân Canh, đồng thời nhập Vân Canh vào quận Tuy Phước,

An Lão vào quận Hoài Nhơn và Vĩnh Thạnh vào quận Bình Khê

Ngày 18.4.1961 tổng thống Việt Nam Cộng hòa ra Nghị định số 261 BVN/NCB /ND cải biến thị xã Quy Nhơn cũ thành xã Quy Nhơn trực thuộc quận Tuy Phước Lúc này toàn tỉnh Bình Định có 8 quận, 169 xã, 1090 ấp

Đến năm 1970, các đơn vị hành chính của tỉnh Bình Định lại có sự thay đổi Sắc lệnh số 1135 SL/NV ngày 30.9.1970 xã Quy Nhơn và các vùng đất phụ cận

Trang 26

được cải biến thành thị xã Quy Nhơn gồm 4 xã: Quy Nhơn, Phước Hậu, Phước Tấn, Phước Hải và 2 quận: quận Nhơn Bình, quận Nhơn Định

Cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc, chính quyền cách mạng được thiết lập,

về mặt hành chính có những thay đổi sau:

Theo Nghị quyết số 19/NQ ngày 20.12.1975 hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định hợp nhất thành tỉnh Nghĩa Bình gồm 8 huyện, 1 thị xã

Quyết định 127/CP của Hội đồng Chính phủ ngày 24.3.1979 thành lập thị trấn Bình Định thuộc huyện An Nhơn, thành lập thị trấn Phú Phong thuộc huyện Tây Sơn

Quyết định số 41/HĐBT ngày 24.8.1981 chia huyện Phước Vân thành hai huyện là Tuy Phước và Vân Canh, chia huyện Tây Sơn thành hai huyện là Tây Sơn

và Vĩnh Thạnh, chia huyện Hoài An thành hai huyện là Hoài Ân và An Lão

Quyết định số 81/HĐBT ngày 3.7.1986 mở rộng và đổi tên thị xã Quy Nhơn thành thành phố Quy Nhơn thuộc tỉnh Nghĩa Bình

Quyết định số 52/HĐBT ngày 12.3.1987 cho thành lập thị trấn Ngô Mây thuộc huyện Phù Cát, thị trấn Tuy Phước thuộc huyện Tuy Phước

Quyết định số 83-QĐ/TW ngày 4.3.1989 và đến ngày 30.6.1989 tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII đã quyết định

về việc phân chia tỉnh Nghĩa Bình thành hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định

Quyết định số 659/TCCP và Quyết định số 600/TCCP ngày 14.12.1991 thành lập thị trấn Phù Mỹ thuộc huyện Phù Mỹ

Nghị định số 66/CP ngày 11.7.1994 cho thành lập thị trấn Diêu Trì, thị trấn thứ hai của huyện Tuy Phước

Nghị định số 118/NĐ-CP ngày 26.12.1997 thành lập thị trấn Tam Quan thuộc huyện Hoài Nhơn, thị trấn Đập Đá thuộc huyện An Nhơn

Nghị định số 66/2007/NĐ-CP thành lập thị trấn An Lão thuộc huyện An Lão Ngày 28.11.2011 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 101/NQ-CP thành lập thị xã

An Nhơn

Trang 27

Đầu tháng 4.1998 Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Định và hội nghị các bộ, ngành trong chức năng của Trung ương đã nhất trí đề nghị Chính phủ nâng thành phố Quy Nhơn lên đô thị loại 2 và sau đó được Chính phủ công nhận

Tỉnh Bình Định sau khi tách ra từ Nghĩa Bình để tái lập lại tỉnh, tổ chức hành chính bao gồm 11 đơn vị hành chính, trong đó có 9 huyện, 1 thị xã và thành phố Quy Nhơn trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Bình Định Trong định hướng phát triển hệ thống đô thị đến năm 2020, Bình Định phấn đấu thành phố Quy Nhơn được xây dựng theo định hướng thành phố loại 1, trong đó bao gồm cả thị trấn Diêu Trì và 2 xã Phước An, Phước Thành (huyện Tuy Phước)

Trang 28

1.2.2 Tổng quan về Bình Định

1.2.2.1 Vị trí địa lý

Hình 1: Bản đồ tỉnh Bình Định

Trang 29

Tỉnh Bình Định nằm ở duyên hải Nam Trung Bộ, cách thủ đô Hà Nội 1.065

km về phía bắc và cách thành phố Hồ Chí Minh 649 km về phía nam Bình Định nằm trong tọa độ địa lý 108052’48’’độ kinh đông và 14011’43’’độ vĩ bắc Phía bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía nam giáp tỉnh Phú Yên, phía tây giáp tỉnh Gia Lai, phía đông giáp biển Đông

Diện tích tự nhiên của toàn tỉnh là 6.025 km2, chiếm 1.82% diện tích tự nhiên

cả nước Bình Định có một vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và Tây Nguyên Hệ thống đường quốc lộ 1A, đường sắt xuyên Việt cùng với quốc lộ 19 lên Tây Nguyên và cảng biển nước sâu Quy Nhơn - Nhơn Hội tạo thành huyết mạch cơ bản phục vụ cho sự phát triển kinh tế, xã hội của Bình Định, miền Trung và Tây Nguyên, cũng như khu vực tiểu vùng sông Mê Kông

1.2.2.2 Địa hình

Địa hình Bình Định tương đối phức tạp, thấp dần từ tây sang đông, với độ chênh lệch khá lớn (khoảng 1000m) Phía tây của tỉnh là vùng núi rìa phía đông của dãy Trường Sơn Nam, kế tiếp là vùng trung du và tiếp theo là vùng ven biển Các dãy núi chạy theo hướng bắc - nam có sườn dốc đứng Vùng đồi tiếp giáp giữa miền núi phía tây và đồng bằng phía đông, có diện tích khoảng 159.276 ha, có độ cao dưới 100m, độ dốc tương đối lớn từ 10º - 15º Vùng đồng bằng với diện tích khoảng 1.000 km² thường nằm trên lưu vực của các con sông hoặc ven biển và được ngăn cách với biển bởi các đầm phá, các đồi cát hay các dãy núi Vùng ven biển là những cồn cát, đụn cát tạo thành một dãy hẹp chạy dọc ven biển với hình dạng và quy mô biến đổi theo thời gian Trong tỉnh có bốn con sông lớn là Côn, Lại Giang (An Lão),

La Tinh và Hà Thanh cùng các sông nhỏ như Châu Trúc hay Tam Quan Bình Định

có đường bờ biển dài khoảng 134 km với nhiều đảo lớn nhỏ ngoài khơi, có nhiều

vịnh, bãi, vũng, đầm, phá, gành còn mang vẻ đẹp hoang sơ tạo nên những cảnh quan sinh thái phong phú, đa dạng là tiềm năng rất lớn cho du lịch biển, du lịch nghỉ dưỡng và du lịch sinh thái

Trang 30

1.2.2.3 Khí hậu

Bình Định có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa và phân chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12, mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8 năm sau Riêng đối với khu vực miền núi có thêm một mùa mưa phụ tháng 5 - 8 do ảnh hưởng của mùa mưa Tây Nguyên Tổng lượng mưa trung bình năm tại các huyện miền núi vào khoảng 2.000 - 2.400 mm, tại vùng duyên hải là 1.751 mm Lượng mưa trung bình có xu thế giảm dần từ miền núi xuống duyên hải và có xu thế giảm dần từ tây bắc xuống đông nam

Nhiệt độ không khí trung bình năm ở khu vực miền núi dao động từ 20,1 - 26,1°C; tại vùng duyên hải, nhiệt độ không khí trung bình năm là 27°C; tại khu vực miền núi là 22,5 - 27,9% và độ ẩm tương đối 79 - 92%; tại vùng duyên hải độ ẩm tuyệt đối trung bình là 27,9% và độ ẩm tương đối trung bình là 79%

1.2.2.4 Tài nguyên

a Tài nguyên rừng

Bình Định hiện có khoảng 196.000 ha đất lâm nghiệp, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 151.500 ha, rừng trồng là 44.300 ha Trong số đó rừng giàu có khoảng 3.944 ha, hiện còn rất ít, phân bố ở các đỉnh núi cao, diện tích rừng còn lại chủ yếu là rừng nghèo, rừng trung bình và rừng phục hồi, có trữ lượng 712 895 m3

Trang 31

Thực vật dưới tán rừng cũng phát triển: song và mây chủ yếu mọc ở ven suối Mây nước sợi đỏ mọc nhiều hơn mây sắc sợi trắng, có thể khai thác 200 tấn/năm

Rừng núi Bình Định thuộc vào loại rừng nhiệt đới thường xanh cả bốn mùa, nên đó là bộ máy khổng lồ điều hòa nhiệt độ, gió, mưa, tạo nên một môi trường trong lành Nơi đây có thể xây dựng nhiều khu du lịch, khu nghỉ dưỡng…

b Tài nguyên biển

Bình Định có khoảng 134 km bờ biển với nhiều đảo lớn nhỏ ngoài khơi có nguồn hải sản phong phú thuận lợi cho việc khai thác nguồn thủy sản Cá đáy và gần đáy (70,14%) chiếm ưu thế so với các loài cá nổi (27,73%), đồng thời các loại

cá gần bờ (67,63%) nhiều hơn các loài cá biển khơi (24%) Ngoài khơi Bình Định

có dòng hải lưu nóng từ miền xích đạo chạy qua nên nơi đây có rất nhiều loại thủy sản có giá trị kinh tế cao, như là cá thu, cá ngừ đại dương, tôm hùm và các loại mực Tỉnh có nhiều đầm, vịnh như đầm Thị Nại nối liền với vịnh Quy Nhơn và hàng ngàn héc ta đất mặn ven biển thích hợp cho nghề nuôi trồng thủy sản như nghề nuôi

cá nước ngọt, nghề nuôi tôm sú

c Tài nguyên khoáng sản

Tài nguyên khoáng sản ở Bình Định khá đa dạng, đáng chú ý nhất là đá granít có trữ lượng khoảng 500 triệu m3 với nhiều màu sắc đỏ, đen, vàng; sa khoáng titan tập trung ở mỏ Đề Gi (Phù Cát), trữ lượng khoảng 1,5 triệu m3; cát trắng ở Hoài Nhơn trữ lượng khoảng 90.000 m3 Nhiều nguồn nước khoáng được đánh giá

có chất lượng cao đã và đang được đưa vào khai thác sản xuất nước giải khát, chữa bệnh Toàn tỉnh có 4 nguồn nước khoáng là Hội Vân, Chánh Thắng (Phù Cát), Bình Quang (Vĩnh Thạnh), Long Mỹ (Tuy Phước), riêng nguồn nước khoáng nóng Hội Vân đảm bảo các tiêu chuẩn chữa bệnh và có thể xây dựng nhà máy điện địa nhiệt Ngoài ra, còn có các khoáng sản khác như cao lanh, đất sét và đặc biệt là các quặng vàng ở Hoài Ân, Vĩnh Thạnh, Tây Sơn

Trang 32

d Tài nguyên du lịch

Bình Định có những bãi tắm đẹp, danh lam thắng cảnh biển hài hòa, hấp dẫn cùng với 14 tháp với nghệ thuật kiến trúc độc đáo, bí ẩn như bán đảo Phương Mai, bãi tắm Hoàng Hậu, đảo Yến, Quy Hòa, tháp Dương Long, Cánh Tiên, Bánh Ít là nguồn tài nguyên thiên nhiên rất phong phú để phát triển du lịch

Ngoài ra, với vị trí là điểm nút giao thông nối với quốc lộ 19 - ngã ba Đông Dương - đường Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tỉnh phát triển du lịch biển gắn với du lịch núi và cao nguyên, phát triển du lịch nội địa và du lịch quốc tế

là những dân tộc bản địa, những dân tộc thiểu số gốc của vùng Còn các dân tộc di

cư từ các nơi khác đến như Tày, Nùng, Thái chiếm số lượng không nhiều Nhưng

dù nhiều hay ít, có mặt sớm hay muộn, cư dân gốc bản địa hay cư dân từ nơi khác đến đều đã tạo nên sự đa dạng và phong phú về mặt giá trị văn hóa, ngôn ngữ trên vùng đất giàu truyền thống anh hùng thượng võ

1.2.2.6 Văn hóa

Bình Định là mảnh đất có bề dày lịch sử với nền văn hóa Sa Huỳnh, từng là

cố đô của vương quốc Chămpa mang trong nó bao trầm tích lịch sử và văn hóa tạo nên một Bình Định - nơi lưu giữ những di sản văn hóa vô giá, một Bình Định - đất thơ, đất tuồng, đất võ

Di tích văn hóa - lịch sử: Bình Định đã từng là cố đô của vương quốc

Chămpa xưa, hiện đang sở hữu 14 tháp với nghệ thuật kiến trúc độc đáo, bí ẩn như tháp Dương Long, Cánh Tiên, Bánh Ít, Bình Tiên… Và đây cũng là nơi xuất phát

Trang 33

phong trào nông dân khởi nghĩa vào thế kỷ XVIIIvới tên tuổi của anh hùng áo vải Nguyễn Huệ với di tích Điện Tây Sơn, bảo tàng Quang Trung, thành Hoàng Đế

Lễ hội: Bình Định có dòng văn hóa phi vật thể khá phong phú như các lễ hội,

nghệ thuật hát bội, nhạc võ Tây Sơn, ca kịch bài chòi, múa hát bá trạo của cư dân miền biển… Những lễ hội mang tính chất truyền thống và dân gian như: lễ hội chiến thắng Đống Đa, lễ hội cầu ngư, lễ cúng Cá Ông, lễ hội Tây Sơn… và những lễ hội giàu tính nhân văn của ba dân tộc thiểu số miền núi: Bana, Chăm, H’rê sống trên đất Bình Định đã tạo nên một bản sắc văn hóa của riêng vùng đất này

Bình Định - đất thơ: Gọi Bình Định là mảnh đất của văn chương, thi ca vì

nơi đây đã sản sinh, nuôi dưỡng những tâm hồn thơ, những nhà thơ lớn trong nền văn học và trên thi đàn Việt Nam như thi sĩ Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Yến Lan, Quách Tấn

Bình Định - đất võ: Về võ thuật, ở Bình Định có hàng chục làng võ nổi tiếng

như An Vinh, An Thái, Thuận Truyền… Mỗi làng võ được nhắc tới luôn kèm với các địa danh thực đã tồn tại trong lịch sử làng xã Bình Định nhiều thế kỷ Làng xưa nhất cũng có lịch sử chừng 600 năm, làng sinh sau đẻ muộn cũng đã hơn trăm tuổi

Bình Định - đất tuồng: Bình Định là nơi có nghệ thuật tuồng rất phát triển

gắn liền với tên tuổi của Đào Duy Từ (ông là ông tổ của nghệ thuật hát tuồng, nổi tiếng với hai ngâm khúc là “Ngọc Long cương văn” và “Tư Dung vãn”) và Đào Tấn (ông là một nhà soạn tuồng nổi tiếng Việt Nam, là ông tổ hát bội và là vị tổ thứ hai trong ba vị tổ nghề sân khấu Việt Nam) Với sự giao lưu của nghệ thuật tuồng và võ Bình Định đã đưa tuồng Bình Định lên một tầm cao mới khác lạ hơn so với các đoàn tuồng của Huế hay Nguyễn Hiển Dĩnh của Quảng Nam

1.2.2.7 Ngôn ngữ

Theo Hoàng Thị Châu trong tác phẩm “Phương ngữ học tiếng Việt” cho rằng tiếng Việt có ba vùng phương ngữ lớn là phương ngữ Bắc (PNB), phương ngữ Trung (PNT) và phương ngữ Nam (PNN) Vùng phương ngữ Nam có thể được chia thành 3 vùng nhỏ hơn gồm: vùng Quảng Nam - Quảng Ngãi, vùng Quy Nhơn -

Trang 34

Bình Thuận và vùng phương ngữ Nam Bộ Như vậy, theo cách phân chia này thì phương ngữ Bình Định thuộc phương ngữ Nam

Nguyên nhân làm nên sự khác biệt của phương ngữ Bình Định so với các vùng phương ngữ khác ở trong vùng bởi địa lý tự nhiên Chẳng hạn như từ vùng bắc Bình Định (từ Bồng Sơn trở ra) giọng nói cứng hơn một tí vì hơi giống giọng Quảng Ngãi Bởi thế tiếng Bình Định có những đặc điểm cơ bản sau:

Hệ thống phụ âm đầu:

Hệ thống phụ âm đầu gồm có 21 phụ âm: [b, m, f, t, d, n, s, ʑ, l, ʈ, c, k, h, x,

ƞ, ʔ, ŋ , ɣ, tʰ, w, j]… Âm uốn lưỡi [ş] đều được chuyển thành [s], cách thức cấu âm vẫn giống, chỉ chuyển từ vị trí phát âm đầu lưỡi sang vị trí phát âm chân răng

Ví dụ như: Sàng sảy cho hết vỏ

[saŋ2 sǎi̯4 cↄ1 het5 jↄ4]

So với các phương ngữ khác, phương ngữ Nam Trung Bộ lại có thêm âm [w] Do âm đệm [-w-] đang dần biến mất trong khẩu ngữ nên dẫn đến sự thay đổi

âm đầu hoặc âm chính Vì vậy âm đầu [w] chỉ được sử dụng thay thế trong trường hợp phần vần có âm đệm Ta thấy [ŋ, h, k, ʔ] khi đi sau nó là một âm đệm thì đều được biến thành phụ âm xát môi môi [w] Theo đó thì [ŋ] và [k] đều là âm tắc cuối lưỡi và [h] và [ʔ] là âm tắc thanh hầu, chúng đều có vị trí cấu âm gần nhau Trong khi đó, âm đệm [w] là âm môi, vì vậy khi lược mất âm đệm thì âm đầu chúng lần lượt bị môi hóa và đều biến thành một âm đầu miễn cưỡng là [w]

Ví dụ như: Hôm qua, bà ngoại dắt bé ra ngoài vườn hái hoa huệ

[hom1 wa1, ba2 wai6 jǎk5 bɛ5 ʑa1 wai̯2 wɯ͜ɤn2 hai̯5 wa1 we6]

Âm đệm:

Người Bình Định có xu hướng đơn giản hóa phát âm, không tròn môi khi phát âm nên các từ có sự kết hợp của âm đệm thường bỏ hẳn âm đệm hoặc âm đệm xuất hiện ít hẳn

Ví dụ như: Nó đến dự liên hoan trong bộ váy lòe loẹt

[nↄ5

den5 zɯ6 li͜en1 hɔn1 ȶↄŋ1

bo6 văi̯5 lɛ2 lɛt6

]

Trang 35

Tương tự như vậy thì [x] là âm xát, vô thanh, gốc lưỡi cũng bị môi hóa thành một âm xát, vô thanh, môi [f]

Ví dụ như: Khuya khoắt rồi, khóa cửa lại đi ngủ

[fi͜e1

fǎk 5 ʑâu2

, fa5 kɯ͜ɤ4 lai̯6

di:1 ŋu4] Những trường hợp âm đệm đi sau các phụ âm đầu còn lại thì được thay thế bằng những âm đầu khác hoặc giữ nguyên và biến đổi về âm chính hoặc âm cuối

Các phụ âm [z-] (tắc, hữu thanh, đầu lưỡi) và [v-] (xát, hữu thanh, môi) có xu hướng được phát âm là [j-] (phụ âm mặt lưỡi-ngạc, xát, hữu thanh; có thể đồng nhất với bán nguyên âm hay bán phụ âm j) Hiện tượng trên là kết quả biến đổi những

phụ âm ngạc hóa Dj, Bj,Zj của thế kỉ XVII Ở phương ngữ Bắc, các phụ âm này mất

đi yếu tố ngạc hóa hình thành phụ âm xát: [v-, z-] Ở phương ngữ Nam, yếu tố ngạc hóa lấn át phụ âm đứng trước và biến thành phụ âm [j] Tuy nhiên không được sử dụng để thay thể hoàn toàn Nhiều từ vẫn giữ nguyên cách phát âm như tiếng Việt chuẩn

Ví dụ như: Nó giận dữ đứng dậy bỏ về

[nↄ5 jɤ̆n6 jɯ3 dɯŋ4 dɤ̆i̯6 bↄ4 ji͜e2]

Âm chính:

Âm chính trong phương ngữ Bình Định có sự biến hóa khá phong phú và thú vị

[i/ đều được phát âm thành /i:/, một âm trung gian ngắn hơn, vị trí giữa dòng trước

và dòng sau, độ mở nửa vừa

Ví dụ: Khuya rồi mà đi về thì nguy hiểm [fi͜e1 ʑâu2

mæ2 di:1 ji͜e2 tʰi:2

ŋi:1 hi͜em4

] [a] → [æ]: (không có âm cuối) Ví dụ: Ba má đã về [bæ1 mæ5 dæ3 ji͜e2

] [e] → [i:]:(khi có âm cuối) Ví dụ: Bếp lửa cháy bập bùng

[bi:p5 lɯ͜ɤ4

căi5 bɤ̆p6

buŋ2] [e] → [ɤ]: (khi không có âm cuối) Ví dụ: câu văn dài lê thê

[kɤ̆͜u1 vǎn1 dai̯2 lɤ1 thɤ1]

[ɤ̆] → [ɯ]: khi có âm cuối là [-n], [-ŋ]) Ví dụ: Đi về phía chân trời

[di:1 ji͜e2 fi͜e5 cɯn1 ȶɤi̯2

] [o]→ [ɤ̆]: Ví dụ: Bé lấy cái chổi đưa bà nội [bɛ5 lɤ̆i̯5 kai̯5 cɤ̆͜u4 dɯ͜ɤ1

bæ2 nɤ̆͜u6

]

Trang 36

[o]→ [ↄ]: (khi có âm cuối) Ví dụ: Tổng cộng ba ngàn đồng

[tↄŋ4 kↄŋ6

bæ1 ŋan2 dↄŋ2

] [ă]→ [ɛ]: (khi âm cuối là n) Ví dụ: Mời ba má ăn cơm [mɤi̯2

bæ1 mæ5 ɛn1

kom1] [ɯ͜ɤ]→ [ɯ]: Ví dụ: Cá tươi rói [kæ5 tɯ1 ʑↄi̯1

]

Có hiện tượng hàng loạt những vần khác nhau trong PNB và PNT tương đương với một vần của PNN Chẳng hạn như:

-iu, - êu, - iêu → [-i:ṷ]

-ưu, -ươu → [-u:]

-an, -ang → [-aŋ]

-ac, -at → [-ak]

-im, -êm, iêm → [-i: m]

-iêp, -ip, -êp → [i:p]

Âm cuối:

Phương ngữ Nam Trung Bộ thường không có sự phân biệt giữa các âm cuối

và tiếng Bình Định không phân biệt được giữa: k/t, n/ŋ, ʈ /c

Ví dụ: chì chiết [ci̯2

ciek5] lan can [laŋ1 kaŋ1]

trắng trẻo [cɛŋ1 ceↄ4]

Về mặt từ vựng

Từ vựng là nét khác biệt để nhận ra phương ngữ của một vùng và phương ngữ Bình Định cũng rất đặc trưng bởi những lớp từ vựng sau:

Đại từ xưng hô trong phương ngữ Bình Định rất phong phú gồm tui, tao, tụi

tui, tụi tao, mày, tụi mày, nó, tụi nó, ổng (ông ấy), bả (bà ấy), cổ (cô ấy), chỉ (chị ấy), ảnh (anh ấy)… đặc biệt đại từ ‘nẩu” có nghĩa là tôi, người ta, bọn họ

Ví dụ: + “Nẩu làm gì thây kệ nẩu, hỏi chi hé!” (tiếng “nẩu” chỉ ngôi

thứ nhất)

+ Thương chi cho uổng công mình,

Nẩu về xứ nẩu, nẩu bỏ mình bơ vơ (tiếng “nẩu” ở ngôi thứ ba số ít)

+ Tiếng đồn cặp mắt em lanh

Trang 37

Ai nẩu không ngó, chớ anh ngó hoài (tiếng “nẩu” được dùng ở

ngôi thứ ba số nhiều)

+ Nẩu về Bình Định chi lâu,

Bỏ tui ở lại hái dâu một mình (tiếng “nẩu” được dùng ở ngôi thứ

hai số ít)

+ Chị lớn ơi chị đừng ngầy ngà,

Để cho tui với ảnh cất nhà ở riêng (tiếng “ảnh” được dùng ở ngôi

thứ 3)

+ Thương chồng phải lụy mụ gia,

Chớ tui với bả có bà con chi! (tiếng “bả” được dùng ở ngôi thứ 3)

+ Bạn cũ ơi hiệp lại như xưa,

Biết ông trời ổng nắng ổng mưa hồi nào! (tiếng “ổng” được dùng

ở ngôi thứ 3) Ngoài đại từ nhân xưng phương ngữ Bình Định còn có những đại từ chỉ

không gian: trỏng (trong ấy), ngoải/quảy (ngoài ấy), bển (bên ấy), trển (trên ấy)

Ví dụ: Đưa đây nút áo em khâu

Bên cạnh đại từ nhân xưng và đại từ chỉ không gian, Bình Định còn có những từ ngữ đậm chất địa phương:

Báng họng: cổ họng (bảng họng)

Ví dụ: Để cho tui nói cái đã, sao cứ chận ngang cái báng họng

Chớp ảnh: còn gọi là chốp ảnh, chộp ảnh, tức chụp ảnh

Ví dụ: Bay chớp dùm cho tao tấm ảnh

Chui cha: tiếng tán thán được đặt trước câu nói để biểu lộ sự ngạc nhiên,

trầm trồ, than thở, giải bày

Ví dụ: Chui cha mày quơi (ơi)! Tao mới giừa (vừa) đau một trận giữ (dữ)

lắm

Trang 38

Chưng hửng: nói năng vô duyên, lảng nhách, không ăn nhập vào đâu cả.

Ví dụ: Người em trình bày một ý kiến gì đó, người chị không vừa ý, bèn nói:

“Chưng hửng quá!”, hoặc nói:“Chưng hửng nà!”

Dẫy na: tương đương với tiếng “vậy hả”

Ngoài ra còn có các tiếng: dẫy nghen, vậy nhé, dẫy á, vậy đó

Ví dụ: Người con khoe: “Mẹ ơi! Con đậu đại học rồi”

Người mẹ vui mừng đáp: “Dẫy na”

Ví dụ: Thương con phải kín đáo kẻo nó dữ ngư

Hé/Hén: luôn luôn đứng sau câu để vừa hỏi vừa khẳng định: Mạnh giỏi

hé/hén? hoặc để khen ngợi, trầm trồ: Đẹp quá hé!, Vui quá hén!

Hử: ngửi, hít vào bằng mũi để nhận biết, phân biệt mùi vị

Ví dụ: Cá ươn, hử nghe mùi hôi

Í chui: tiếng tán thán thốt ra vì đau đớn không chịu đựng được, khi bị một

lực tác động mạnh vào cơ thể

Ví dụ: Í chui, (cây) gai đâm đau quá!

Quải: tương đương với từ ngữ “cúng giỗ”

Ví dụ: Nghĩ thôi lệ nhỏ dầm đàng,

Đi khắp xóm làng từ giã bà con

Vợ con khóc lóc thở than,

Quải đơm tế sống đã an mọi bề

Quớ: bớ Tiếng đứng trước dùng để lấy trớn gọi lớn cho người ở xa nghe

được

Ví dụ: Quớ mẹ quơi (ơi)! Quớ làng xóm quơi (ơi)!

Trang 39

Gởi: nói trại âm tiếng "gửi"

Ví dụ: Bơ vơ thì mặc bơ vơ,

Nẩu về xứ nẩu, nẩu gởi thơ cho mình

Đững (đừng):

Ví dụ: Chị em ơi xúm lại mà mua

Đững bốc đững hốt đững dùa đững thêm

Trời ui ui: trời không nắng, ngột ngạt

Ví dụ: Trời ui ui nên thấy mệt quá

Thắt cười (buồn cười):

Ví dụ: Ông Phật ngồi cũng phải thắt cười,

Áo em em bận, sao mấy người xỏ tay

Biểu: bảo

Ví dụ: Thương chàng từng lóng ngón tay,

Chẳng qua duyên nợ ông trời rày biểu thương

Không, Hông, Hổng: không có

Ví dụ: Chồng hỏi vợ: "Em ăn hông?"

Trang 40

Về thực tiễn, những nét sơ lược về Bình Định cho thấy Bình Định có lịch sử hình thành lâu đời, tự nhiên đa dạng, nền văn hóa phong phú với nhiều thành phần dân tộc Đây là những tiền đề quan trọng giúp chúng ta tìm hiểu đặc điểm về mặt cấu tạo, mặt chuyển biến và những giá trị phản ánh của địa danh tỉnh Bình Định Ngoài ra, sự đa dạng về ngôn ngữ của tiếng Bình Định là nguồn cứ liệu hữu ích giúp chúng ta khi tìm hiểu những biến đổi của địa danh tỉnh Bình Định về mặt ngữ

âm, từ vựng

Cấu trúc của một địa danh gồm hai phần: “Tiền từ” và “Địa danh” Tiền từ

có chức năng chỉ tiểu loại địa danh Trong địa danh tỉnh Bình Định, có nhiều thành

tố có hiện tượng lặp lại, tương tự nhau trong toàn bộ địa danh và đã chuyển thành thành tố chung Chúng có cấu tạo đơn tiết hoặc đa tiết, có thể có một nghĩa hoặc nhiều nghĩa khác nhau

Ngày đăng: 04/05/2021, 23:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w