Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
THÁI SƠN
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA DANH THÀNH PHỐ HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
.
VINH - 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA DANH THÀNH PHỐ HÀ TĨNH
Trang 3MỤC LỤC
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 4
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 6
Nội dung
1.2 Địa danh thành phố Hà Tĩnh, những vấn đề liên quan 14
3.3 Vài suy nghĩ về văn hóa Nghệ Tĩnh và ngữ âm lịch sử tiếng
Việt qua nghiên cứu địa danh thành phố Hà Tĩnh 69
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Tìm hiểu địa danh thành phố Hà Tĩnh là cơ hội để hiểu hơn
về văn hóa, lịch sử của quê hương, chúng tôi càng thấy tự hào hơn với truyền thống hiếu học, tinh thần chịu thương chịu khó của của người Hà Tĩnh Đây cũng là dịp để những người con bày tỏ tấm lòng, sự thành kính biết ơn đối với quê hương.
Để hoàn thành Luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Hoài Nguyên, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện
đề tài; cảm ơn sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo trong Tổ Ngôn ngữ, Khoa Sau đại học, Trường Đại học Vinh.
Chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của UBND thành phố Hà Tĩnh, các phường xã, các đồng nghiệp, và bạn bè giúp tôi có nhiều tư liệu quí để hoàn thành Luận văn này.
Mặc dù đã cố gắng cao nhất, nhưng chắc rằng Luận văn không tránh khỏi khiếm khuyết, chúng tôi rất mong nhận được những đóng góp để luận văn được hoàn thiện hơn.
Tác giả
Trang 5Một số quy ước viết tắt
trong luận văn
TT Tên địa danh Viết tắt
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Ngôn ngữ với chức năng quan trọng nhất là phương tiện giao tiếp và công cụ tư duy Cùng với các đơn vị khác, địa danh cũng là một đơn vị ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong sự phát triển vốn từ của một ngôn ngữ Trong
ngôn ngữ học có bộ môn danh xưng học (onomasiologie) gồm: địa danh học (Toponimic) và nhân danh học (arthroponomy) là các ngành nghiên cứu
chuyên sâu về địa danh
Dưới góc độ ngôn ngữ, việc nghiên cứu địa danh có ý nghĩa lớn trong việc tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của ngôn ngữ Địa danh thành phố Hà Tĩnh nói riêng và Hà Tĩnh nói chung có nhiều nét đặc biệt gắn liền với quá trình phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội của vùng đất này
Việc khảo sát, nghiên cứu hệ thống địa danh thành phố Hà Tĩnh sẽ là cơ
sở để hệ thống hoá các địa danh, tìm ra các mặt cấu tạo, ý nghĩa và mối quan
hệ giữa chúng với các nhân tố lịch sử, địa lý, văn hoá Kết quả nghiên cứu của
đề tài có giá trị lý luận và thực tiễn nhất định
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Về việc nghiên cứu địa danh nói chung
Ở Việt Nam, các vấn đề về địa danh được đề cập khá sớm, nhiều tài liệu cho thấy địa danh được đề cập đến từ thời Bắc thuộc Thế kỷ XIV, địa danh
đã được đề cập qua nhiều công trình như Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Lịch
triều hiến chương loại chí và Hoàng Việt dư địa chí của Phan Huy Chú, Phương Đình dư địa chí của Nguyễn Văn Siêu…
Nghiên cứu địa danh dưới góc độ ngôn ngữ học xuất hiện muộn nhưng các công trình này đã mở ra một hướng nghiên cứu mới về địa danh Tiêu
biểu, có thể kể đến tác giả Hoàng Thị Châu với bài viết Mối liên hệ ngôn ngữ
cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông (1964) Tác giả Lê Trung Hoa khi
nghiên cứu địa danh ở thành phố Hồ Chí Minh, đã bước đầu đưa ra những hệ thống lý thuyết làm cơ sở cho việc phân tích chỉ ra các đặc điểm cấu tạo, nguồn gốc, ý nghĩa và sự biến đổi địa danh Tiếp đến, năm 1996, Nguyễn
Trang 7Kiên Trường với luận án phó tiến sĩ Những đặc điểm chính của địa danh Hải
Phòng đã bổ sung nhiều vấn đề lý thuyết địa danh mà Lê Trung Hoa đã dẫn ra
trước đó Năm 2000, Trần Trí Dõi đã công bố hàng loạt bài viết về địa danh
theo khuynh hướng so sánh - lịch sử Đó là các bài viết: Về địa danh Cửa Lò;
Về một vài địa danh, tên riêng gốc Nam Đảo trong vùng Hà Nội xưa; Không gian ngôn ngữ và tính kế thừa đa chiều của địa danh (qua phân tích một vài địa danh ở Việt Nam) (2001), và Vấn đề địa danh biên giới Tây Nam: một vài nhận xét và những kiến nghị (2001).
Theo hướng tiếp cận địa lý - lịch sử - văn hoá, Nguyễn Văn Âu đã có
công trình Một số vấn đề địa danh học Việt Nam (2000) Gần đây nhất, có hai luận án tiến sĩ tìm hiểu địa danh dưới góc độ ngôn ngữ là Nghiên cứu địa danh
Quảng Trị (2004) của Từ Thu Mai và Các địa danh ở Nghệ An nhìn từ góc độ ngôn ngữ học (2005) của Phan Xuân Đạm Năm 2009, Phan Xuân Đạm cùng
Nguyễn Nhã Bản xuất bản cuốn Tiếng Việt trong lòng đất và trên mặt đất đề
cập sâu địa danh xứ Nghệ Bên cạnh đó, phải kể đến hàng loạt các luận văn thạc sĩ của học viên của các trường đại học khi tìm hiểu địa danh ở các vùng huyện, thị xã, thành phố
2.2 Về việc nghiên cứu địa danh thành phố Hà Tĩnh
Đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về địa danh Thành phố Hà Tĩnh Một số công trình nghiên cứu có đề cập đến địa danh Hà
Tĩnh trong đó có địa danh thành phố Hà Tĩnh tiêu biểu như Từ điển Hà Tĩnh của tác giả Bùi Thiết, Hà Tĩnh – Thành Sen 160 năm của Thành ủy, hội đồng nhân dân thị xã Hà Tĩnh, An tĩnh cổ lục của Hippolyte Le Breton, Địa dư Hà
Tĩnh của Trần Kinh, Thạch Hà phủ phong thổ ký của Lê Văn Lương, vv Các
công trình này chỉ đề cấp đến các địa danh thành phố trong tổng thể hoặc ở góc độ văn hóa, lịch sử mà chưa tiếp cận từ phương diện ngôn ngữ Vì vậy, nghiên cứu địa danh thành phố Hà Tĩnh dưới góc độ ngôn ngữ học rõ ràng là hướng tiếp cận mới, qua đó, cho phép ta có đánh giá toàn diện hơn về đặc trưng văn hoá, địa lý, lịch sử của địa bàn
Trang 83.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của địa danh là các địa danh thuộc thành phố Hà Tĩnh, bao gồm các địa danh hành chính, địa danh tự nhiên và nhân văn từ xưa tới nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thống kê lập danh sách các địa danh thuộc thành phố Hà Tĩnh đang tồn tại hoặc đã tồn tại trước đây
- Khảo sát các phương thức địa danh (cấu tạo và ý nghĩa) của các chủ thể văn hóa và ngôn ngữ khác nhau có mặt ở thành phố Hà Tĩnh
- So sánh với các địa danh trong địa bàn Hà Tĩnh và các vùng khác để làm nổi bật đặc trưng văn hóa dân tộc thể hiện qua địa danh
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu được chúng tôi tập hợp từ hai nguồn chính:
Khảo sát thống kê trên sách báo, tạp chí, các ấn phẩm, gia phả dòng họ, hương ước của làng, lịch sử đảng bộ Một số tư liệu còn được lấy từ nguồn
tư liệu là bản đồ các loại, các loại hình nghệ thuật, văn bản nghệ thuật có liên quan đến địa danh
Điền dã thực tế tại các phường xã trên địa bàn thành phố bao gồm 10 phường và 6 xã theo địa giới hành chính hiện nay
Nguồn tư liệu được xác lập trên những tiêu chí phù hợp với mục đích nghiên cứu của luận văn
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Căn cứ trên thực tế nguồn tư liệu khảo sát được, chúng tôi phân chia địa danh theo các tiêu chí để làm rõ các phương diện về cấu trúc, ý nghĩa thông qua các phương pháp như thống kê định lượng ngôn ngữ học, phương pháp so sánh đối chiếu và các thủ pháp phân tích, miêu tả, tổng hợp
Dĩ nhiên, trong quá trình xử lí đề tài, không phải bao giờ các phương pháp trên cũng được chúng tôi sử dụng tách bạch mà có sự kết hợp, vận dụng một cách tổng hợp để rút ra những kết luận cuối cùng
Trang 95 Đóng góp của luận văn
Lần đầu tiên, bức tranh địa danh thành phố Hà Tĩnh được miêu tả một cách có hệ thống dưới góc nhìn ngôn ngữ học Các kết quả nghiên cứu địa danh thành phố Hà Tĩnh góp phần tìm hiểu những đặc điểm về tiếng Việt nói chung và phương ngữ Nghệ Tĩnh nói riêng, đồng thời tìm hiểu thành phố trên các mặt lịch sử, chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội
Luận văn làm sáng tỏ thêm bản chất địa danh thành phố Hà Tĩnh qua những đối tượng ngôn ngữ và văn hóa của địa danh Kết quả nghiên cứu còn
là nguồn tư liệu cho việc nghiên cứu địa danh Hà Tĩnh nói chung
6 Bố cục của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở của vấn đề
Chương 2: Đặc điểm cấu tạo của địa danh thành phố Hà Tĩnh
Chương 3: Đặc điểm ý nghĩa của địa danh thành phố Hà Tĩnh
Trang 10NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở của vấn đề 1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề
1.1.1 Địa danh và địa danh học
Cũng như các ngôn ngữ trên thế giới, tiếng Việt tồn tại lớp từ chỉ tên riêng: nhân danh (tên người) và địa danh (chỉ các đối tượng địa lý), đó là các lớp từ thuộc môn khoa học chung có tên là danh xưng học
Địa danh là khái niệm phức tạp, để đưa ra một khái niệm đầy đủ, chính xác và có thể bao quát được toàn bộ ý nghĩa của thuật ngữ này thì không phải
là điều đơn giản Đã có rất nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau về khái niệm địa danh, nhưng cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về cách hiểu thuật ngữ này trong giới nghiên cứu
Theo Từ điển tiếng Việt, 1992 do Hoàng Phê chủ biên, địa danh là “tên đất, tên địa phương” Còn Nguyễn Văn Tu trong cuốn Khái luận ngôn ngữ
học quan niệm “địa danh là sự cấu tạo các đơn vị ngôn ngữ có chức năng
dùng để gọi tên, chia tách các đoạn của hiện thực khách quan trên cơ sở đó hình thành các khái niệm tương ứng về chúng dưới dạng các từ, cụm từ, ngữ
cú và câu”
Tác giả Nguyễn Văn Âu lại đưa ra cách nhìn nhận khác: “Địa danh là một tên đất gồm: sông, núi, làng mạc hay là tên đất các địa phương, các dân tộc” [5; tr.18 ]
Tác giả Lê Trung Hoa cho rằng “địa danh là những từ hoặc ngữ cố định được dùng làm tên riêng của địa hình thiên nhiên, các công trình xây dựng, các đơn vị hành chánh, các vùng lãnh thổ” [34; tr.18 ]
Theo Nguyễn Kiên Trường, trong Những đặc điểm chính của địa danh
Hải Phòng: “Địa danh là tên riêng của các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân
văn xác định trên bề mặt trái đất”[68; tr.16] Tác giả chia địa danh thành hai thành tố gồm danh từ chung chỉ cả lớp sự vật thường đứng trước tên riêng và thứ hai là phần tên riêng có chức năng gọi tên và khu biệt, cá thể hóa các đối tượng
Trang 11Các tác giả Nguyễn Nhã Bản, Phan Xuân Đạm trong cuốn Tiếng Việt
trong lòng đất và trên mặt đất đề xuất định nghĩa địa danh như sau: “Địa danh
là lớp từ ngữ đặc biệt được sinh ra để đánh dấu vị trí, xác lập tên gọi các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân văn” [ 26; tr.15]
Từ những quan điểm trên của các nhà nghiên cứu, chúng tôi cho rằng địa
danh là những từ, cụm từ chỉ các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân văn có
vị trí xác định trên cơ sở thuộc tính, đặc điểm của đối tượng.
Thuật ngữ địa danh có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp: Topos (địa điểm, vị trí) và omoma/onima (tên gọi) với ý nghĩa chung nhất là “tên gọi địa lý” Nói khác đi, tất cả các tên gọi địa lý được đánh dấu và ghi nhận bởi các địa danh
“Địa danh là một phân ngành đặc biệt của khoa học về ngôn ngữ nghiên cứu tên riêng của các đối tượng địa lý, lịch sử hình thành và phát triển, sự hành chức và lan rộng, cấu tạo ngôn ngữ của chúng và là một trong những khu vực hấp dẫn và đầy hứng thú của ngôn ngữ học" [23, tr.12]
Địa danh học là một ngành của ngôn ngữ học với nhiệm vụ nghiên cứu
tất cả những vấn đề liên quan đến địa danh: lịch sử, cấu tạo, ý nghĩa, cách thức đặt tên và sự biến đổi của các địa danh Mặt khác, địa danh luôn gắn chặt với đời sống của mỗi người cùng những kỷ niệm vui buồn trong đời và cũng nhờ địa danh mà con người xác định được địa điểm, nơi chốn Do vậy, việc nghiên cứu địa danh đã xuất hiện từ rất lâu ở cả phương Đông và phương Tây Tuy nhiên, địa danh học chỉ thực sự bắt đầu được coi là một bộ môn khoa học theo đúng nghĩa của nó, tức là có đối tượng nghiên cứu riêng, phương pháp nghiên cứu riêng, nguyên tắc nghiên cứu riêng, hệ thống lý thuyết riêng vào thế kỷ XIX ở Tây Âu
Trong từ vựng học có bộ môn gọi là danh học (onomaciologie) "nghiên cứu những nguyên tắc, quy luật của việc biểu thị các đối tượng, khái niệm bằng phương tiện từ vựng của các ngôn ngữ” [68, tr.20] Bộ môn này nghiên cứu các khái niệm về mặt biểu hiện, khác với ngữ nghĩa học nghiên cứu tính chất của khái niệm và mối quan hệ của khái niệm với các hiện tượng trong
Trang 12thực tế Danh học nghiên cứu các quy luật hay phương thức định danh, trong
đó có việc định danh các đối tượng người và đất
Theo Nguyễn Nhã Bản, Phan Xuân Đạm thì “địa danh học là một ngành của ngôn ngữ học nghiên cứu hệ thống địa danh về các mặt nguồn gốc, cấu trúc, ý nghĩa, sự chuyển hóa, biến đổi, các phương thức định danh” [26; tr.26] Địa danh nằm trong hệ thống từ vựng của ngôn ngữ mà ngôn ngữ xét đến cùng cũng chính là một tập hợp những thói quen của cộng đồng xã hội nhất định Địa danh cũng như các sản phẩm của ngôn ngữ khác được tích lũy từ hàng ngàn năm, từ thế hệ này qua thế hệ khác
1.1.2 Chức năng của địa danh
Địa danh có chức năng cơ bản là định danh và cá thể hóa đối tượng, phản
ánh hiện thực Trước hết, địa danh có một danh từ chung (thành tố chung) vì
thế, địa danh có chức năng định danh sự vật Tuy nhiên, trong địa danh lại có các yếu tố (danh từ riêng) đối lập, khu biệt với danh từ chung và mang chức năng phân biệt và cá thể hoá đối tượng Cũng là cây cầu, con đường nhưng ngoài các thành tố chung thì tên riêng đã khu biệt đối tượng trong các địa
danh như cầu Đông, cầu Phủ, cầu Cày hay đường Phan Đình Phùng, đường
Nguyễn Thiếp
Chức năng phản ánh hiện thực của địa danh chính là ở chỗ địa danh đã
phản ánh hiện thực ít nhất ở thời điểm ra đời của nó Địa danh sông Cụt ra đời khi thực tế sông được đào để trở thành một nhánh sông Rào Cỏ làm âu thuyền phía sau chợ tỉnh Sông đào này không thông (cụt) nên được gọi là sông Cụt
Có thể thấy phản ánh tương tự thông qua một loạt địa danh như ngã ba Quán
độ đen, cầu Sở Riệu, cầu Phủ, hồ Huyện
Mỗi địa danh đều ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử, xã hội cụ thể, chính
vì thế, một trong những chức năng mà địa danh đảm nhận đó là phản ánh hiện thực trong đó có đời sống lịch sử, xã hội của cư dân bản địa nơi cư trú Địa
danh cầu Phủ, sông Phủ vốn là cầu Nài, sông Nài thuộc làng Nài Thị xưa kia,
sau khi quan phủ lập dinh thự tại địa bàn đã đổi đổi tên mới và tồn tại từ bấy
Trang 13đến nay Hay một loạt địa danh gắn liền với lịch sử hào hùng của quân và dân
Hà Tĩnh trong trận đầu thắng Mỹ như rú Nài, bến phà 4, đồi ra-đa
Địa danh với các chức năng của mình đã có vai trò to lớn với cuộc sống
và các khoa học đặc biệt là ngôn ngữ học trên phương diện cung cấp tư liệu quý báu nhất để nghiên cứu lịch sử tiếng Việt
1.1.3 Phân loại địa danh
Xung quanh vấn đề phân loại địa danh có nhiều quan điểm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Đây là một vấn đề phức tạp do sự khác biệt
về cánh phân loại hay mục đích và phương pháp nghiên cứu
Dựa trên tiêu chí nguồn gốc ngữ nguyên cấu thành địa danh và theo đối tượng mà địa danh phản ánh, các nhà địa danh học phương Tây và Xô Viết đã đưa ra cách phân chia với mức độ khái quát cao, rõ ràng
G P Smolicnaza và M V Gorbanevsky chia địa danh Matxcơva thành 4 loại: 1) Phương danh (tên các địa phương); 2) Sơn danh (tên núi, đồi, gò…).; 3) Thủy danh (tên các dòng chảy, ao, vũng…); 4) Phố danh (tên các đối tượng trong thành phố)
Trong Địa danh là gì, A.V Superanskaja đã chia địa danh thành 8 loại: 1)
Điểm dân cư; 2) Điểm phi dân cư; 3) Tên gọi sông; 4) Tên gọi núi; 5) Tên đường phố; 6) Tên mạng lưới giao thông; 7) Tên quảng trường; 8) Tên các công trình bên trong thành phố
Cách phân loại địa danh của các nhà địa danh học Xô Viết đã đưa đến cho ta một cái nhìn khái quát, đi sâu vào bản chất vấn đề Tuy nhiên, khi quan sát hai cách phân loại trên đây của các nhà địa danh học Xô Viết, tác giả Lê Trung Hoa cho rằng “chưa bao trùm được tên các công trình xây dựng ở nông thôn (như cầu cống, sân vận động ) và trong phương danh chưa tách được giữa địa danh hành chính và địa danh chỉ một vùng lãnh thổ không có ranh giới rõ ràng”[68, tr.17]
Dựa trên tiêu chí sự hỗn hợp nguồn gốc ngôn ngữ và đối tượng, Ch.Rostaing trong “Lesnomdelieux” đã chia địa danh nước Pháp thành 11 loại
Trang 14Những phạm vi Goloa – La mã; 5) Các sự hình thành La mã; 6) Những đóng góp của tiếng Giécmanh; 7) Các hình thức của thời phong kiến; 8) Những danh từ có nguồn gốc tôn giáo; 9) Những hình thái hiện đại; 10) Các địa danh
và tên đường phố; 11) Tên sông và núi
Cách phân chia này của Ch.Rostaing khá chi tiết, tuy nhiên, còn hơi rườm
rà chưa có tính khái quát cao A.Dauzat đã đưa ra cách phân loại ngắn hơn,
mang tính khái quát cao hơn trong La toponymie Francaise (1963) Ông đã
chia địa danh nước Pháp thành 4 phần, mỗi phần lại gắn với nguồn gốc ngôn ngữ: 1) Những cơ sở tiền Ấn – Âu; 2) Các danh từ tiền La tinh về nước trong thủy danh học; 3) Các từ nguyên Goloa – La mã; 4) Địa danh học Goloa – La
mã của người Auvergne và Velary
Từ hai quan điểm trên chúng ta thấy, các tác giả này đều dựa vào nguồn gốc ngữ nguyên để để phân loại Trong hai cách phân loại A.Dauzat nghiêng
về phân chia theo ngữ nguyên nhiều hơn so với Ch.Rostaing là vừa phân chia hỗn hợp, vừa theo ngữ nguyên, vừa theo đối tượng một cách không đầy đủ
Ở Việt Nam, các nhà địa danh học cũng đã đưa ra những tiêu chí cho riêng mình để phân loại địa danh
Dựa vào tiêu chí địa lý - lịch sử, Nguyễn Văn Âu đã phân loại địa danh làm ba tầng bậc: 1) Loại địa danh; 2) Kiểu địa danh; 3) Dạng địa danh
Theo đó, có 2 loại địa danh: 1) Địa danh tự nhiên; 2) Địa danh kinh tế
xã hội Trong hai loại địa danh này lại có 7 kiểu: 1) Thuỷ danh; 2) Sơn danh; 3) Lâm danh; 4) Làng xã; 5) Huyện thị; 6) Tỉnh - thành phố; 7) Quốc gia
7 kiểu đó tác giả đưa ra 11 dạng nhỏ hơn là sông ngòi, hồ đầm, hải đảo, đồi núi, rừng núi, truông trảng, làng xã, huyện quận, tỉnh, thành phố và quốc gia
Lê Trung Hoa, trong Những đặc điểm chính của địa danh thành phố Hồ
Chí Minh đã dựa vào nhiều tiêu chí để phân loại địa danh
Căn cứ vào tiêu chí tự nhiên - không tự nhiên ông đã chia địa danh
thành phố Hồ Chí Minh làm 2 loại: tự nhiên và không tự nhiên
Trang 15- Địa danh tự nhiên là địa danh gọi tên các đối tượng địa hình thiên nhiên như: núi, đồi, sông, rạch…
- Địa danh không tự nhiên là địa danh gọi tên các đối tượng nhân tạo Loại địa danh này gồm 3 loại :
+ Địa danh chỉ các công trình xây dựng: phố danh, viên danh, lộ danh
và đạo danh
+ Địa danh chỉ các đơn vị hành chính: ấp, phường, xã …
+ Địa danh gọi tên vùng: địa danh chỉ các vùng lãnh thổ không có biên giới rõ ràng
Từ phương diện khác, căn cứ vào ngữ nguyên (nguồn gốc), nhiều nhà
nghiên cứu đã phân loại địa danh làm 2 nhóm :
- Địa danh thuần Việt
- Địa danh không thuần Việt (gốc Hán, gốc Pháp…)
Nguyễn Kiên Trường, trong Những đặc điểm chính của địa danh Hải
Phòng đã đưa ra 3 riêu chí để phân loại địa danh.
Dựa vào thuộc tính của đối tượng, tác giả chia địa danh Hải Phòng làm
2 nhóm: địa danh tự nhiên và địa danh chỉ đối tượng nhân văn
- Nhóm địa danh tự nhiên:
+ Nhóm địa danh đất liền
+ Nhóm địa danh vùng biển giáp ranh
- Nhóm địa danh chỉ đối tượng địa lý nhân văn gồm:
+ Địa danh cư trú - hành chính và địa danh gắn với hoạt động của con người tạo nên: ấp, bộ, châu, di chỉ, xóm…
+ Địa danh đường phố, công trình, xây dựng: đường, ngã tư, ngõ, cầu, chợ, nhà thờ, khách sạn
Dựa vào nguồn gốc ngữ nguyên, có thể phân chia địa danh thành các
nhóm :
- Địa danh có nguồn gốc Hán – Việt
- Địa danh có nguồn gốc thuần Việt
Trang 16- Địa danh có nguồn gốc Tày - Thái, Việt - Mường, Chăm, Môn - Khơme.
- Địa danh có nguồn gốc hỗn hợp
- Địa danh chưa xác định được nguồn gốc
Cuối cùng, dựa vào chức năng giao tiếp, có thể phân chia địa danh
thành các loại
- Tên chính thức (do nhà nước đặt và có trong các văn bản hành chính)
- Tên gọi dân gian (tên quen dùng trong dân gian)
- Tên cổ, tên cũ
- Các tên khác
Cách phân loại của tác giả Lê Trung Hoa cho phép chúng ta dễ dàng xác định được những ảnh hưởng qua lại giữa ngôn ngữ (địa danh) với lịch sử, địa lý, văn hoá Đi theo khuynh hướng này sẽ giúp chúng ta thấy được đặc điểm cấu tạo của từng địa danh, sự thay đổi, chuyển hoá của các địa danh và ý nghĩa của các yếu tố trong địa danh
Cách phân loại của Nguyễn Kiên Trường chi tiết, cụ thể, bao quát địa danh ở nhiều khía cạnh, nhất là chú ý đến chức năng giao tiếp, qua đó, có thể chỉ ra các địa danh theo tên gọi chính thức, tên dân gian, tên cổ, tên cũ và các tên khác Đây là cách phân loại phù hợp với quan điểm và mục đích của chúng tôi Chúng tôi cũng xác định cách phân loại trên chỉ mang tính chất tương đối, những lựa chọn theo quan điểm riêng với mục đích bao quát được đối tượng thì sẽ đáp ứng và phù hợp với yêu cầu, mục đích nghiên cứu
1.2 Địa danh thành phố Hà Tĩnh, những vấn đề liên quan
1.2.1 Vài nét về địa bàn thành phố Hà Tĩnh
1.2.1.1 Về địa lý
Thành phố Hà Tĩnh là trung tâm văn hóa chính trị phía Nam của tỉnh Nghệ Tĩnh xưa và của tỉnh Hà Tĩnh hiện nay Tổng diện tích tự nhiên là 56,32km2, có vị trí từ 18o – 18o24’ vĩ độ Bắc, 10o553’-10o556’ kinh độ Đông, nằm trên trục đường Quốc lộ 1A, cách thủ đô Hà Nội 350 km, thành phố Vinh
Trang 1750km về phía Bắc; cách thành phố Huế 314 km về phía Nam và cách biển Đông 12,5 km
Về địa giới, phía Bắc giáp: thị trấn Thạch Hà (qua cầu Cày), sông cửa Sót Phía Tây giáp: xã Thạch Đài, xã Thạch Tân, sông Cày (huyện Thạch Hà) Phía Nam giáp: xã Cẩm Bình, xã Cẩm Vịnh (huyện Cẩm Xuyên) Phía Đông giáp: sông Đồng Môn (huyện Thạch Hà, Lộc Hà)
Thành phố Hà Tĩnh nằm trên vùng đồng bằng ven biển miền Trung, có địa hình thấp, bằng phẳng, đất đai được tạo thành do bồi tích sông, biển, độ cao từ 0,5m-3m
1.2.1.2 Về lịch sử
Vùng đất này, thời cổ xưa là đất Việt Thường, dưới thời Bắc thuộc nằm trong châu Phúc Lộc, đời Tiền Lê (980-1008) thuộc châu Thạch Hà Từ 1025 đời Lý, có thể thuộc trại Định Phiên, đời Trần - Hồ (1226-1407) thuộc châu Nhật Nam và thời thuộc Minh (1407-1427) là đất huyện Bàn Thạch, châu Nam Tĩnh Từ 1469, vua Lê Thánh Tôn định bản đồ đất nước cho đến đầu đời Nguyễn là đất Thạch Hà, phủ Hà Hoa, Thừa Tuyên Nghệ An
Năm Tân Mão (1831), niên hiệu Minh Mệnh thứ 12, tỉnh Hà Tĩnh được thiết lập, tỉnh lỵ đặt trên đất xã Trung Tiết, huyện Thạch Hà
Tháng 2/1886 Pháp đưa quân vào chiếm tỉnh thành Hà Tĩnh và ra sức xây dựng tỉnh lỵ thành một trung tâm đô thị đủ điều kiện phục vụ bộ máy cai trị.Ngày 03/7/1924, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập thị xã
Hà Tĩnh Cho đến năm 1942, thị xã Hà Tĩnh chỉ là một tỉnh lỵ nhỏ bé với diện tích 247 ha và 4.400 dân Ngoài 4 xã mới sát nhập năm 1920 là Đông Quế, Xã Tắc, Trung Hậu, Tiền Bạt, nội thị chia làm 8 khu phố: Tịnh Trung, Hoàn Thị, Tiền Môn, Hậu Môn, Tả Môn, Hữu Môn, Tân Giang, Nam Ngạn
Trước tháng 8/1945, thị xã Hà Tĩnh chưa phải là một cấp hành chính, việc cai trị do chính quyền cấp tỉnh trực tiếp đảm nhiệm Sau Cách mạng tháng Tám (1945), thị xã Hà Tĩnh được nâng lên thành đơn vị hành chính ngang huyện, trực thuộc tỉnh, diện tích 1,2km2 và dân số khoảng dưới 5.000
Trang 18Từ năm 1948 đến năm 1957, thị xã Hà Tĩnh không trực thuộc tỉnh và chỉ
là một đơn vị hành chính ngang xã, thuộc huyện Thạch Hà
Năm 1958, thị xã trở lại là đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh, nhưng cũng chỉ là một đơn vị cơ sở ngang xã Năm 1960, thị xã Hà Tĩnh được công nhận
là đơn vị hành chính tương đương cấp huyện Đến năm 1975, thị xã Hà Tĩnh vừa làm chức năng cấp huyện, vừa làm chức năng cơ sở, trực tiếp quản lý hai tiểu khu Bắc Hà, Nam Hà
Năm 1976, Bộ Chính trị trung ương Đảng quyết định nhập 2 tỉnh Nghệ
An và Hà Tĩnh thành tỉnh Nghệ Tĩnh Thị xã Hà Tĩnh không còn là tỉnh lỵ nhưng vẫn được coi là trung tâm chính trị, kinh tế phía Nam của tỉnh
Tháng 9 năm 1989, do yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã quyết định sát nhập 6 xã của huyện Thạch Hà vào thị xã Hà Tĩnh
Tháng 10 năm 1991, thực hiện Nghị quyết kỳ họp thứ 9 - Quốc hội khóa VIII về việc chia tách tỉnh Nghệ Tĩnh thành 2 tỉnh là Nghệ An và Hà Tĩnh, thị
xã Hà Tĩnh trở lại là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Hà Tĩnh, quy mô dân số phát triển, có điều kiện phát triển đô thị nhanh hơn
Tháng 4 năm 1994, thành lập thêm 2 phường mới Tân Giang và Trần Phú, thị xã Hà Tĩnh có 4 phường và 6 xã, diện tích tự nhiên 30,6km2, dân số 49.410 người
Đầu năm 2004, Chính phủ có Nghị định mở rộng địa giới hành chính thị
xã Hà Tĩnh lần 2 nhập thêm 5 xã của huyện Thạch Hà vào và nâng cấp một số
xã thành phường Thị xã Hà Tĩnh có 15 đơn vị hành chính gồm 6 phường và 9
xã Ngày 19/7/2006 đô thị Hà Tĩnh được Bộ Xây dựng công nhận là đô thị loại III, đây là mốc quan trọng đánh dấu bước phát triển mới trong việc xây dựng và phát triển đô thị Hà Tĩnh
Ngày 28/5/2007 Chính phủ có Nghị định công nhận thị xã Hà Tĩnh là thành phố trực thuộc tỉnh Hà Tĩnh
Đến nay, sau nhiều lần thay đổi địa giới hành chính, thành phố Hà Tĩnh
có 16 đơn vị hành chính gồm 10 phường, 6 xã gồm: phường Bắc Hà, phường
Trang 19Nam Hà, phường Tân Giang, phường Trần Phú, phường Đại Nài, phường Hà Huy Tập, phường Thạch Linh, phường Nguyễn Du, phường Thạch Quý, phường Văn Yên, xã Thạch Môn, xã Thạch Hạ, xã Thạch Trung, xã Thạch Đồng, xã Thạch Hưng, xã Thạch Bình.
Năm 2011, tỉnh Hà Tĩnh tổ chức kỷ niệm 180 thành lập tỉnh, đây là mốc lớn trong sự phát triển của vùng đất địa linh nhân kiệt này Cùng với thăng trầm lịch sử, trải qua gần 2 thế kỷ, đất và người vùng này đã chứng kiến sự ra đời của nhiều địa danh Có địa danh đến nay không còn tồn tại, nhiều địa danh mang trong mình dấu ấn văn hóa, lịch sử vẫn tồn tại đến ngày nay và có rất nhiều địa danh mới được bổ sung đã làm nên sự phong phú, đa dạng của hệ thống địa danh trung tâm “nam Nghệ” này
1.2.1.3 Về dân cư
Theo tác giả Thái Kim Đỉnh, vùng đất này cách đây mười vạn năm là một vịnh nước mênh mông, dãy Bàu Đái, Nhật Lệ chỉ là những hòn đảo bé xíu Về sau, nước biển rút dần, hòn đảo bé xíu ấy trở thành ngọn đồi giữa vùng lầy hoang vắng, mà ngày nay là rú Nài Vùng đất này có môi trường thích hợp với loài sò điệp (Placuma Placenta) sinh sôi nảy nở Những nhóm người nguyên thủy đến đây định cư, sinh sống và sò điệp là nguồn thức ăn dồi dào Các dấu tích của cồn sò điệp ở Thạch Lạc (thời đại đồ đá mới hậu kỳ) và chân rú Nài ngày nay có thể là do các nhóm cư dân này để lại và được thể hiện qua địa danh Cồn Sò (ĐN)
Như vậy, từ 4000 đến 5000 năm trước, vào đầu thời đại của các vua Hùng, trên địa bàn thành phố bây giờ đã có người ở Nhưng cho đến nay không có tài liệu nghiên cứu nào chứng minh những nhóm người nguyên thủy nơi đây thuộc tộc người nào và không rõ di duệ của họ còn lại trong dân bản địa về sau hay không
Từ một góc độ khác, theo truyền ngôn vào thời vua Hùng thứ 13 khi tuần
du phương nam đi qua đây (sự tích núi Thiên Cầm) thì cư dân vùng đất này đã rất đông đúc, ngoài nghề nông vẫn có nghề muối mà đến nay vẫn còn Ngoài
Trang 20(cuối TK XIV, đầu TK XV) Cư dân phần lớn đến đây vào đời Lê và đầu đời Nguyễn, họ là dân phiêu tán tìm đến sinh sống, làm ăn “trong đó có cả những người làm quan, làm lính hoặc bị phạm tội đến lập nghiệp rồi ở lại, mở ra những dòng họ mới, khai khẩn đất đai, lập nên xóm làng đông đúc” [69, tr.21].
Vùng đất này từng được xem là ranh giới, là phên dậu, có lúc thuộc về Chiêm Thành (khoảng năm 907 – 910), lúc thuộc về Đại Việt nên vấn đề giao thoa cư dân bản địa là có cơ sở Trong một nghiên cứu gần đây, Nguyễn Duy Thiệu đã [63, tr.59] chứng minh tộc người Bồ Lô còn tồn tại đến nay là một trong những cư dân đã định cư lâu dài ở vùng đất này
Từ các tư liệu trên, có thể nhận định rằng, cư dân vùng đất thành phố Hà Tĩnh xưa đã có từ rất sớm, phát triển đông đúc là sự giao thoa của nhiều tộc người, nhiều dòng họ nguồn gốc và thành phần khác nhau mà cho đến ngày nay di duệ vẫn còn
1.2.1.4 Về văn hóa
Thành phố Hà Tĩnh được xem là trung tâm văn hóa phía Nam của xứ Nghệ, là một vùng đất có truyền thống văn hóa lâu đời gắn với nhiều lễ hội,
đền chùa, di tích như rú Nài, Võ Miếu, đàn Xã Tắc, đền Phú Hàu, chùa Cảm
Sơn, miếu Chàng Học Vùng đất này cũng nổi tiếng với các nghề thủ công
truyền thống như thợ mộc, thợ nề (Đông Lỗ, Trung Tiết), làm nón (nón chợ Cồ) nhiều đặc sản nổi tiếng trước đây như giò lụa Nhiêu Hán, hồng Đông Lỗ, bánh cặp chợ Cày hay cu-đơ – một đặc sản ẩm thực văn hóa ngày nay
Bên cạnh đó, Hà Tĩnh còn được mệnh danh là vùng “địa linh nhân kiệt” được người Minh (Trung Quốc) xem là “thuần tú hiếu học” Nơi đây, từ xưa
đã có nhiều người đỗ đạt cao, nhiều dòng họ nổi tiếng Ngày nay, khi nói đến vùng đất này, người ta vẫn thường nhắc đến danh họa tài ba cả thế gới biết đến - Nguyễn Phan Chánh, bên cạnh đó còn có những tên tuổi lớn như Giáo
sư viện sĩ Hồ Tôn Trinh, các nhà văn, nhà thơ như Thanh Minh, Cẩm Lai, Nguyệt Tú, Phạm Ngọc Cảnh, Văn Linh, Hữu Nhuận
Trang 21Là một thành phố trẻ, hiện đại nhưng Hà Tĩnh vẫn mang trong mình những nét văn hóa truyền thống, bản địa của “nam Nghệ” - nơi được xem là cái nôi văn hóa của vùng núi Hồng – sông La Dấu ấn văn hóa nơi đây chính
là con người và các di tích danh thắng gắn với truyền thống văn vật của vùng
1.2.2 Địa danh thành phố Hà Tĩnh, kết quả thu thập và phân loại 1.2.2.1 Kết quả thu thập
Căn cứ vào tiêu chí, phạm vi, đối tượng, chúng tôi đã thu thập được 768 địa danh trên toàn bộ địa bàn thành phố Hà Tĩnh Trong số đó có những địa danh còn tồn tại, có địa danh đã mất đi chỉ còn trong thư tịch, trí nhớ của người cao tuổi, có địa danh tồn tại nhiều tên gọi khác nhau theo thời gian, phương ngữ, thói quen của người bản địa như chùa Nài – chùa Cảm Sơn, Cảm Sơn tự; đường Nguyễn Du – đường 35; sông Nài – sông Rào Cái - sông Phủ - sông Nủi,
Qua khảo sát điền dã và các tài liệu liên quan (sách, thư tịch cổ, bản đồ) chúng tôi đã tập hợp được một khối lượng lớn các địa danh của thành phố Hà Tĩnh Tuy nhiên, do nguyên tắc, tiêu chí quy định nên kết quả thu thập chưa đầy đủ số lượng địa danh hiện có vì nhiều địa danh không được chúng tôi quan tâm khảo sát Ví dụ: ngõ, ngách (phố, đường): Hiện tại thành phố Hà Tĩnh có 68 đường phố, có gần 300 ngõ, 200 ngách tuy nhiên số đối tượng này không mang tên chữ mà hầu hết được đánh số thự tự, gây nên sự trùng lặp, mặt khác nếu chúng tôi đưa vào sẽ làm cho việc đánh giá có thể thiếu chính xác, mất cân đối so với bình diện chung Một số tác giả đi trước như Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn Hồng Minh cũng đã không khảo sát đối tượng này trong địa danh thành phố Thanh Hóa, địa danh thành phố Vinh Các địa danh như công ty, nhà hàng có nhiều quan điểm cho rằng đây chỉ là hiệu danh, chúng không mang tính đại diện, ổn định lâu dài Xét trên thực tế nhiều công ty chỉ
có biển hiệu ở một địa điểm nào đó (nhà ở, văn phòng cho thuê ) làm nơi giao dịch, như vậy các công ty thiên về hiệu danh Mặt khác, chúng nhiều khi không có tính chất tồn tại lâu dài và để lại đặc điểm riêng biệt nên chúng tôi
Trang 22quan, ban, ngành, nhà hàng, trung tâm, khu tập thể, khách sạn là các đối tượng không thỏa mãn tiêu chí thu thập của chúng tôi
1.2.2.2 Phân loại
a) Phân loại theo tiêu chí địa lý tự nhiên và nhân văn
Kết quả thống kê cho thấy có 63 loại tương ứng với danh từ chung chỉ loại hình đối tượng địa lí Số lần xuất hiện chính là số lượng địa danh nhưng
số lượng này không trùng với đối tượng vì có đối tượng không còn tồn tại hoặc có nhiều tên gọi như đã nêu ở phần trên Chúng tôi tổng hợp kết quả ở bảng phân loại sau với tiêu chí sắp xếp theo tần số xuất hiện của danh từ chung từ cao đến thấp
Bảng tổng hợp các danh từ chung và số lần xuất hiện
(Xếp từ cao xuống thấp)
TT
(1)
Danh từ chung (2)
Số lần xuất hiện (3)
Ví dụ (4)
Trang 2338 thư viện 2 thư viện thành phố Hà Tĩnh (BH)
42 trung tâm
43 quảng trường 2 quảng trường và tượng đài Trần
Trang 24liệ sĩ 1 nghĩa trang liệt sỹ Rú Nài (ĐN)
Trong phân loại, dựa theo tiêu chí địa lý tự nhiên và nhân văn, chúng tôi chia địa danh thành phố Hà Tĩnh thành 2 nhóm lớn gồm đối tượng tự nhiên và đối tượng nhân văn bao hàm trong chúng là các nhóm và tiểu nhóm khác nhau
*) Nhóm địa danh chỉ đối tượng địa lý tự nhiên: hồ, bến, cồn, núi, đồng,
đồi, nền, hói, nghĩa địa.
*) Nhóm địa danh chỉ đối tượng địa lý nhân văn
+ Gồm các tiểu nhóm:
- Nhóm địa danh cư trú hành chính và các địa danh gắn với hành động
của con người, do con người tạo nên: xóm, khối, di chỉ, di tích, khu di tích,
làng, phủ, phường, quận, thành phố, thị xã, thôn, tổng, xứ đạo, kẻ.
- Nhóm địa danh đường phố, công trình xây dựng
* Đường phố: đường phố, ngã ba, ngã tư, quảng trường
* Địa danh chỉ công trình xây dựng: am, bến phà, bến xe, bệnh viện, chợ,
chùa, công trường, công ti, công viên, đàn, đập, đền, đình, hào, kênh, kè, khách sạn, khu lưu niệm, khu di tích, lăng, miếu, nhà thờ, nhà máy, nhà lưu niệm, nghĩa trang, quốc lộ, sân vận động, tỉnh lộ, trường, văn miếu, vườn hoa.
Trang 25Từ cách phân loại trên, chúng tôi có được 63 danh từ chung chỉ đối tượng địa lý và nhân văn Tuy có thể chưa đầy đủ nhưng bảng số liệu bước đầu cho thấy phần nào đặc điểm, cảnh quan địa lý và quá trình phát triển của thành phố Hà Tĩnh Từ những danh từ chung có thể thấy thành phố Hà Tĩnh
có sự xuất hiện của hai nhóm địa danh đó là các địa danh cũ liên quan đến lịch
sử và quá trình mở rộng địa bàn sát nhập các xã lân cận và nhóm địa danh xuất hiện sau gắn với sự phát triển của thành phố hiện đại Ở trung tâm thành phố xuất hiện nhiều địa danh gắn liền với đô thị như đường phố, tổ dân phố,
khối phố ; xuất hiện nhiều nhất tiêu biểu như: khối (73 lần), đường (64
lần) Bên cạnh đó, các địa danh xuất hiện ở vùng giáp ranh mở rộng thường thiên về các danh từ chung chỉ các địa danh gắn với nông nghiệp, nông thôn
do thành phố mở rộng trên cơ sở sát nhập các xã lân cận; một số danh từ
chung xuất hiện nhiều như đồng (184 lần), xóm (54 lần)
Ngoài ra, với tần suất xuất hiện của một số danh từ chung như: đền (24 lần), chùa (11 lần), miếu (17 lần) đã cho thấy vùng đất này hội tụ nhiều yếu tố
văn hóa, tín ngưỡng Vấn đề này, chúng tôi xin đề cập kỹ hơn trong chương
ba của luận văn
b) Phân loại theo chức năng giao tiếp (Việt xưng, tục xưng, giản xưng, tự xưng, biệt xưng, tên khác) và theo hệ quy chiếu đồng đại -lịch đại
(cổ, hiện nay)
Địa danh là một trong những đơn vị của ngôn ngữ, có chức năng định danh đối tượng, khi đối tượng biến đổi thì cách định danh đối tượng cũng thay đổi cho phù hợp Chính vì thế, hệ thống địa danh của thành phố Hà Tĩnh hết sức đa dạng và phức tạp Nhiều đối tượng tồn tại nhiều tên gọi khác nhau, có tên chính thức do nhà nước đặt (quan phương), có tên gọi trong dân gian (không quan phương) Đặc biệt, vùng đất này lại mang đặc điểm của phương ngữ Bắc Trung Bộ nên việc gọi chệch tên đối tượng, hay xuất hiện một tên gọi khác là điều thường thấy
Tên chính thức là tên được dùng trong các văn bản hành chính, trong
Trang 26hành tồn tại Địa danh núi Nài (ĐN) là tên chính thức nhưng vẫn còn nhiều tên gọi như rú Nài (tiếng địa phương) hay Cảm Sơn (văn tự cổ), đồi ra-đa (dân
gian) Ngoài các địa danh hành chính, nhiều địa danh đường phố, công trình xây dựng song hành tên gọi chính thức lẫn tên dân gian, trong đó, tên dân gian được sử dụng nhiều hơn Tiêu biểu như một số đường phố song hành tên gọi
như: đường Nguyễn Du – đường 35, đường Ngô Quyền – đường Nam cầu Cày
Thạch Đồng, đại lộ Xô Viết Nghệ Tĩnh – đường 70, đường Hàm Nghi – đường Phan Đình Phùng kéo dài, phố Hà Huy Tập – phố Cu- đơ
Theo Nguyễn Kiên Trường, việc phân biệt tên cũ và tên cổ trong địa danh là hết sức phức tạp và khó khăn do nhược điểm lớn nhất của địa danh thường không có niên đại rõ ràng Do đó, tác giả xếp tất cả tên cũ, tên cổ vào nhóm tên khác Chúng tôi tán đồng quan điểm này, bởi trong địa danh thành phố Hà Tĩnh, chúng tôi thấy vẫn tồn tại nhiều tên gọi cổ, cũ gắn liền với sự phát triển của thành phố từ khởi thủy cho đến ngày nay nhưng khó có thể xác
định được niên đại Chẳng hạn, địa danh sông Nài, bến Nài, cầu Nài (ĐN) là bắt nguồn từ chữ đầu của làng Nài Thị xưa kia, về sau đến đầu đời Khải Định (1917) cho lập phủ lị ở bờ bắc sông Nài nên các địa danh này đổi thành cầu
Phủ, sông Phủ cho đến ngày nay
Một số địa danh khác cũng là tên của đối tượng nhưng chỉ được dùng trong những phong cách nhất định vì mang tính chất biệt danh, hiệu danh
như thành Sen, hà Thành
Như vậy, dựa vào chức năng giao tiếp, địa danh tồn tại nhiều hình thức gồm tên chính thức, tên dân gian, tên thay đổi theo thời kỳ: cổ, cũ, hiện nay thể hiện sự phong phú, đa dạng của hệ thống địa danh đồng thời qua cách đặt tên, dùng tên có thể phản ánh các chủ thể đặt tên khác nhau về trình độ, tâm
lý, thời đại
c) Phân loại theo nguồn gốc ngữ nguyên
+ Địa danh nguồn gốc Hán - Việt
Địa danh có nguồn gốc Hán Việt có 377/768 trường hợp, chiếm 49,08% trong tổng số địa danh mà chúng tôi thu thập được Trong 377 địa danh trên,
Trang 27nhóm địa danh công trình xây dựng có 148 trường hợp, chiếm 39,25%, nhóm địa danh cư trú hành chính có 109 trường hợp chiếm 28,9%, nhóm địa danh chỉ đường phố có 90 trường hợp, chiếm 23,8%, còn lại địa danh chỉ đối tượng địa lý tự nhiên chiếm một số lượng rất ít Từ số liệu khảo sát cho thấy, địa danh có nguồn gốc Hán Việt chiếm gần một nửa số địa danh khảo sát được và chủ yếu tập trung vào nhóm địa danh chỉ đối tượng địa lý nhân văn như làng,
xóm, trường, đường phố, công trình xây dựng Ví dụ: làng Đồng Môn, khối
Trung Đình, chợ Cầu Đông (TL), Trường tiểu học Tân Giang (TG), đường Trung Tiết, chùa Liên Hạ, vv
Địa danh có nguồn gốc Hán Việt chiếm một số lượng lớn và xuất hiện với tần suất cao, trong đó, đa số là các địa danh có cấu tạo ghép hai yếu tố (âm
tiết) là phổ biến, chiếm tỉ lệ cơ bản Ví dụ: đường Đông Lộ, ngã tư Hồng Ký (ĐDC), phố Tân Bình, đền Kinh Hạ, chùa Cảm Sơn (ĐN), chợ Bình Hương,
sông Cầu Đông (TL), phường Thạch Quý, xóm Đồng Giang, khối Đại Đồng, làng Khang Quý, tổng Thượng Nhất, vv
Địa danh gốc Hán một yếu tố (âm tiết) chỉ xuất hiện với tần suất và số
lượng ít hơn, chủ yếu gắn với việc chỉ địa hình, phương hướng Ví dụ: đền
Đông (TĐ), miếu Hạ (TM), xóm Thượng (TH), vv Ngoài ra, địa danh hơn hai
yếu tố cũng xuất hiện với số lượng và tần suất thấp tập trung chủ yếu vào địa
danh đường phố, công trình xây dựng, ví dụ: đường Hồ Phi Chấn (ĐN),
đường Hải Thượng Lãn Ông (BH), bệnh viện y học cổ truyền Hà Tĩnh (TT),
vv
+ Địa danh nguồn gốc thuần Việt
Địa danh nguồn gốc thuần Việt có 354/768 trường hợp, chiếm 46,09%, chủ yếu tập trung vào nhóm địa danh chỉ đối tượng địa lý tự nhiên, địa danh chỉ đối tượng cư trú hành chính và xuất hiện một số ở địa danh chỉ công trình xây dựng
Nhóm địa danh chỉ đối tượng địa lý tự nhiên có 207/354 trường hợp chiếm 58,47% trong tổng số địa danh có nguồn gốc thuần Việt Trong đó,
Trang 28184 trường hợp, tiếp theo là các nhóm khác như nghĩa địa, cồn, hồ Ví dụ:
đồng Sắn (THạ), đồng Tai quạt (THạ), nghĩa địa Nụ Nồi (VY), hồ Dài (NH)
Nhóm địa danh thuần Việt chỉ đơn vị cư trú hành có 101/354 trường hợp, chiếm 28,5% Các trường hợp này chủ yếu xuất hiện trong các địa danh
chỉ tổ dân phố, khối phố, xóm, phường Ví dụ: tổ 3 (TP), khối 5 (NH), xóm
Mới (TB), vv.
Nhóm địa danh công trình xây dựng có nguồn gốc thuần Việt chủ yếu
xuất hiện trong các địa danh chỉ đập, cầu, chợ Ví dụ: cầu Nghen (TM), cầu
Vọoc (ĐN), đập Vòng (TĐ), đập Gềnh (TB), chợ Vườn Ươm (BH), chợ Bừa,
vv
+ Địa danh theo nguồn gốc Pháp, Anh
Địa danh có nguồn gốc Pháp chỉ có 3 trường hợp chiếm 0,39% trong tổng số Các địa danh này là tên phố trong thời kỳ cai trị của thực dân Pháp
gồm: phố Luy – xiêng Lơ Me (Lucien Le – Maire), phố Mô – nê (Monet), phố
Cu đe (Coudern).
Địa danh có nguồn gốc Anh chỉ có 1 địa danh, tồn tại theo cách gọi dân
gian được xuất hiện trong kháng chiến chống Mỹ chỉ rú Nài, nơi đặt ra đa của quân và dân Hà Tĩnh: đồi ra-đa
+ Địa danh có nguồn gốc hỗn hợp
Địa danh có nguồn gốc hỗn hợp chủ yếu là địa danh có kết hợp giữa một yếu tố Hán và một yếu tố Việt hoặc ngược lại Có 23/768 trường hợp có nguồn gốc hỗn hợp chủ yếu tập trung vào nhóm địa danh chỉ đối tượng địa lý
tự nhiên, công trình xây dựng địa danh cư trú hành chính chiếm 2,99% tổng
số Ví dụ: đồng Đồi Quang (TĐ), đồng Nương Thiên (TĐ), chợ Cầu Đông (TL), khối Tân Quý II (TQ), nhà máy bia Toàn Cầu (ĐN), cầu Sở Riệu
(NH)
+ Địa danh theo nguồn gốc khác (Tày, Thái, Nùng, Việt Mường,
Mã Lai, Chăm ) có 6 trường hợp, chiếm 0,78% gồm các địa danh: sông Nài (ĐN), cầu Nủi (ĐN), cầu Vọoc (ĐN), đồng Đập Kun (THạ), đồng Ôốc (TL),
đồng Rô Thóoc (TH).
Trang 29+ Địa danh không xác định được nguồn gốc (không giải thích được)
Địa danh không giải thích được có 5 trường hợp, chiếm 0,65% chủ yếu
tập trung vào địa danh chỉ cánh (xứ) đồng như: đồng Làng Càng (TL), đồng
Quần Đoang (TĐ), đồng Quao (TH), đồng Mụi Thớ (VY)
Từ số liệu thu thập được cho thấy địa danh có nguồn gốc Hán Việt và thuần Việt chiếm số lượng cơ bản Báng chú ý là số lượng chênh lệch nhau không nhiều khi địa danh gốc Hán Việt chiếm 49,08% còn thuần Việt chiếm 46,09% Đây là nét riêng của địa danh thành phố Hà Tĩnh so với các địa danh thành phố khác: số lượng địa danh gốc Hán -Việt không chiếm phần đa Có thể thấy rõ điều này khi so sánh số lượng địa danh gốc Hán của huyện Can Lộc là 85%, thành phố Vinh là 76%, thành phố Thanh Hóa là 82,8% và Cố đô Hoa Lư chiếm 77,8% Sự khác biệt này do nhiều nguyên nhân, theo chúng tôi nguyên nhân trước hết là thành phố Hà Tĩnh được có diện tích nhỏ được mở rộng các xã nông nghiệp lân cận nên số lượng các địa danh đối tượng tự nhiên chiếm một số lượng lớn và đa số là từ có gốc thuần Việt Ở một phương diện khác cũng có thể nhận định rằng Hà Tĩnh là vùng phên dậu của Đại Việt cổ,
sự ảnh hưởng, giao thoa của văn hóa phương Bắc và phương Nam đã làm cho các địa danh có tính chất trung hòa Từ đây cũng có thể thấy sự trường tồn của ngôn ngữ bản địa còn lưu lại, có nhiều ý nghĩa cho việc nghiên cứu lịch sử tiếng Việt ở vùng đất này
1.3 Tiểu kết chương 1
- Nghiên cứu, tìm hiểu về địa danh đã có từ rất sớm trên thế giới tuy
nhiên, địa danh học vẫn là một ngành khá mới hiện nay ở Việt Nam Việc nghiên cứu địa danh có vai trò to lớn trong việc xây dựng cứ liệu quan trọng cho việc tìm hiểu lịch sử tiếng Việt
- Địa danh luôn mang trong mình đặc tính đa dạng và phức tạp Khi
nghiên cứu địa danh cần nhất quán từ lập luận khái niệm và cách phân loại chúng, phải đặt nó trong mối quan hệ giữa hiện thực – tư duy – ngôn ngữ mới
có cách tiếp cận và đánh giá chính xác
Trang 30- Thành phố Hà Tĩnh là trung tâm kinh tế văn hóa phía Nam của xứ
Nghệ trước đây và của Hà Tĩnh ngày nay Đây được mệnh danh là vùng “địa linh nhân kiệt”, là vùng “phên dậu” của nước Đại Việt xưa Vì thế, địa danh chính là một phần phản ánh văn hóa, quá trình phát triển của Hà Tĩnh từ xưa đến nay Tuy số lượng không lớn nhưng địa danh thành phố Hà Tĩnh vẫn rất phong phú, đa dạng và phức tạp được thể hiện qua 63 loại hình, 768 địa danh
cụ thể Do tính chất này, việc phân loại, sắp xếp chỉ mang tính tương đối bởi
có những địa danh được xếp ở loại hình này nhưng cũng có thể xuất hiện ở loại hình khác
Trang 31Chương 2: Đặc điểm cấu tạo địa danh thành phố Hà Tĩnh
2.1 Những vấn đề chung
2.1.1 Phương thức định danh và cấu tạo địa danh
Trong nghiên cứu địa danh, vấn đề được các nhà khoa học quan tâm nhiều nhất đó là cách đặt tên của của các địa danh Các địa danh Việt Nam nói chung và thành phố Hà Tĩnh nói riêng đều được xác lập trên những nguyên tắc chung nhất, đó chính là nguyên tắc đặt tên hay phương thức đặt địa danh Mặc dù, thuật ngữ này chưa thống nhất do có nhiều quan điểm nhưng theo chúng tôi, có thể hiểu một cách chung nhất là mỗi địa danh ra đời đều có lý do
của nó, phải có nguyên tắc nào đó để đặt tên như dựa vào hay gọi theo cái gì
cho đối tượng cụ thể [68, tr.53]
Mỗi địa danh là một phức thể thường có kết cấu theo một dạng nhất định
Nó chứa trong mình hai dạng thông tin, thứ nhất đối tượng gọi tên thuộc loại
hình địa lý nào (ví dụ sông, cầu, chợ ) được biểu thị qua ý nghĩa của danh từ
chung; thứ hai nó mang trong mình một ý nghĩa nào đó và ý nghĩa này được
thể hiện qua tên riêng (ví dụ sông Cụt vì là đoạn sông đào, bị dừng lại (cụt)
không được khơi thông, nối thông) Trong hai dạng thông tin trên, mỗi dạng đều có một ý nghĩa riêng Dạng thứ nhất giúp chúng ta nhận biết được đối tượng một cách chung nhất, tổng quát nhất, còn dạng thứ hai có tính chất khu
biệt, xác định đối tượng cụ thể Ví dụ: cầu Đông, yếu tố chung giúp chúng ta biết được đối tượng là loại hình địa lý là cầu, đây là ý nghĩa chung chỉ cho toàn bộ đối tượng là cầu Ở thành tố riêng (tên riêng) Đông đã khu biệt đối
tượng cho một chiếc cầu cụ thể: cầu Đông (cầu ở phía Đông thành) và cầu này
sẽ khác với cầu Cày, cầu Phủ Như vậy, phương thức định danh chính là
giải quyết vấn đề dựa vào đâu để đặt tên cho đối tượng và đặt tên cho đối tượng bằng cách nào
Từ những vấn đề trên, chúng tôi cho rằng, vấn đề định danh có thể quy
về hai nội dung chủ yếu sau:
Trang 32Thứ nhất là đánh giá, xác định thuộc tính chung của đối tượng địa lí thông qua thao tác xác định những đặc tính chung và lựa chọn những đặc tính riêng Việc xác định thuộc tính chung tức là lựa chọn thành tố chung cho đối tượng (ví dụ: làng, thôn, cầu, đường ) còn lựa chọn những đặc tính riêng
chính là để xác lập thành tố riêng cho đối tượng (ví dụ: chợ Vườn Ươm có đặc
điểm là đóng ngay cạnh vườn ươm của Công ty môi trường đô thị thành phố).Thứ hai là cách cấu tạo hay phương thức tạo lập để gọi tên đối tượng sau khi đã xác định, lựa chọn các thuộc tính, đặc điểm hay thậm chí gán cho đối tượng một thuộc tính nào đó |NKT, 54| Vấn đề này chủ yếu được quan tâm trong địa danh học chính ở chỗ con người đã dùng phương tiện gì (ký hiệu, từ ngữ gì) và bằng cách nào (phương thức) để biến các phương tiện đó thành các địa danh được gọi tên
Để làm rõ hai nội dung trên, chúng ta, một mặt, nghiên cứu ý nghĩa từ vựng, hình thái cấu trúc bên trong, mặt khác, nghiên cứu các mối quan hệ ngữ pháp, cấu trúc nội bộ, các phương thức chuyển hóa của của địa danh Ở phần này, chúng tôi sẽ trình bày một số vấn đề về cấu trúc, mô hình và phương thức cấu tạo; phần ý nghĩa của thành tố tên riêng sẽ được trình bày ở chương 3
2.1.2 Mô hình cấu trúc địa danh
Mô hình cấu trúc địa danh thường được cấu thành từ hai bộ phận bao gồm danh từ chung (thành tố chung) và tên riêng khu biệt (thành tố riêng) Cũng như địa danh ở các vùng khác, địa danh thành phố Hà Tĩnh có cấu trúc như trên Qua khảo sát, phân tích, chúng tôi mạnh dạn đưa ra mô hình cấu trúc địa danh thuộc các loại hình đối tượng địa lý theo sơ đồ sau:
Thành tố chung (A) Thành tố riêng (B)
Số lượng âm tiết tối đa Số lượng âm tiết tối đa
Trang 33Từ mô hình trên, so sánh với các mô hình địa danh mà các tác giả khác
đã khảo sát, công bố trong các công trình nghiên cứu, chúng tôi thấy mô hình phức thể địa danh thành phố Hà Tĩnh có độ dài tương đối lớn Thành tố chung trong mô hình cấu trúc địa danh Hải Phòng tối đa có 4 âm tiết, ở Nghệ An: 4
âm tiết, Quảng Trị: 3 âm tiết, Hoa Lư (Ninh Bình): 5 âm tiết, thành phố Thanh Hóa: 3 âm tiết
Thành tố riêng trong phức thể địa danh thành phố Hà Tĩnh có số lượng
âm tiết (yếu tố) lớn hơn so với thành tố riêng (tên riêng) của các địa danh khác như Hải Phòng 4 âm tiết, Quảng Trị 4 âm tiết, thành phố Thanh Hóa 5 âm tiết Tuy nhiên, thành tố riêng lại ít hơn hoặc bằng so với thành tố riêng trong địa danh Hoa Lư (Ninh Bình) 12 âm tiết, Nghệ An 7 âm tiết Từ đây, có thể thấy
độ dài (số lượng âm tiết) của mỗi địa danh là khác nhau xuất phát từ đặc điểm
của mỗi vùng địa danh khác nhau và chủ ý định hướng của từng tác giả khi
tố hơn chiếm đa số trong địa danh mà chúng tôi khảo sát được
Mỗi bộ phận trong phức thể địa danh có vai trò, chức năng riêng biệt nhưng giữa chúng có một mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại Quan hệ này được các nhà nghiên cứu khái quát thành quan hệ giữa cái hạn định (thành tố A) và cái được hạn định (thành tố B) A biểu thị một loại đối tượng có cùng thuộc tính, còn B dùng để chỉ các đối tượng cụ thể, được xác định trong lớp đối tượng mà A đã chỉ ra Theo Nguyễn Kiên Trường, cả A và B đều giống nhau về chức năng định danh và có tính quy ước rất cao nhưng do quá trình tiếp xúc ngôn ngữ ở tiếng Việt, tính quy ước có thể khó xác định
Trang 34Để làm rõ những vấn đề này, chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu và miêu tả đặc trưng cấu trúc của từng thành tố A và B trong phức thể địa danh thành phố Hà Tĩnh.
2.2 Cấu trúc địa danh thành phố Hà Tĩnh
2.2.2 Thành tố chung (A)
2.2.2.1 Khái niệm, chức năng của thành tố chung
Xung quanh khái niệm thành tố chung đã có nhiều quan điểm, ý kiến
khác nhau của các nhà khoa học Xin dẫn một số ý kiến của các nhà nghiên
cứu học giả về vấn đề này Theo A.I Popov, trong địa danh Ấn – Âu thì “bất
cứ hiện tượng hàng loạt nào (lặp lại, tương tự) trong toàn bộ địa danh, luôn cần được nghiên cứu cẩn thận vì các yếu tố lặp lại đó thường biểu hiện thể và
giống của địa danh và cũng là đặc trưng của một ngôn ngữ” [68, tr.57] Còn
A.V.Superanskaja cho rằng “tên chung là những tên gọi chung liên kết các đối tượng địa lý với mọi vật khác của thế giới hiện thực Chúng được diễn đạt bằng các danh từ chung vốn được dùng để gọi tên và để xếp loại các đối tượng cùng kiểu, có cùng đặc điểm nhất định” [68, tr.66]
Ở một góc độ khác, tên gọi của thành tố chung cũng đã có nhiều thuật
ngữ khác nhau như: từ chung, yếu tố chung, danh từ chung, yếu tố tổng loại và
thành tố chung Tuy nhiên, xét cho cùng, các thuật ngữ trên đều hướng đến
một đối tượng và chỉ ra được nét chung nhất vốn có của một thành tố chung
Từ những quan điểm trên, có thể hiểu một cách chung nhất về thành tố
chung là những thuật ngữ địa lý thuộc về danh từ chung, được dùng để chỉ một
lớp đối tượng (địa lý) cùng loại hình, cùng thuộc tính bản chất, và về vị trí, nó đứng trước thành tố riêng để chỉ ra loại hình đối tượng.
Trong cấu trúc phức thể địa danh tiếng Việt, thành tố A bao giờ cũng được quy loại là danh từ chung, nó có chức năng gọi tên và chỉ một lớp sự vật, đối tượng có cùng thuộc tính Thành tố chung vừa có ý nghĩa về mặt hình thức: tạo nên chỉnh thể cho phức thể địa danh, tạo nên một khái niệm, cho phép hiểu đúng địa danh; vừa mang ý nghĩa về mặt nội dung: xác định loại
Trang 35hình đối tượng được gọi tên Ví dụ: đồng Hoang Nậy, nghĩa địa Hoang Tù,
sông Rào Cái, hồ Xã Tắc, làng Kẻ Bợt
2.2.2.2 Thành tố chung trong địa danh thành phố Hà Tĩnh
a Về số lượng
Trong 768 địa danh mà chúng tôi thu thập được trên địa bàn thành phố
Hà Tĩnh có 63 danh từ chung tương đương với 63 loại hình địa lý chỉ đối tượng địa lý tự nhiên và nhân văn
Trong 63 thành tố chung, nhóm địa danh chỉ đối tượng địa lý tự nhiên
có 11 thành tố chung bao gồm sơn danh (núi, đồi, cồn), thủy danh (sông, hói,
hồ, bến) và các đối tượng khác (nền, đồng, nghĩa địa, bàu) chiếm 17,4% Ví
dụ: sông Cầu Đông, nghĩa địa Cồn Bóng, núi Nài, cồn Cồ, bến Nài, hồ Huyện,
hói Cót, nền Xã Tắc, đồng Nụ Nồi, vv.
Nhóm địa danh chỉ đối tượng địa lý nhân văn có 52 thành tố chung chiếm 82,5% tổng số thành tố chung Trong đó, nhóm địa danh cư trú hành chính có 18 thành tố chung, chiếm 28,5%; nhóm địa danh đường phố, công
trình xây dựng có 34 thành tố, chiếm 53,9% Ví dụ: phường Văn Yên, xã Thạch Hạ, xóm Tân Trung, làng Trung Tiết, đường Nguyễn Công Trứ, phố Hoàn Thị, đền Tam Tòa, miếu Chàng Học, bến phà 4, kè Hào Thành, vv.
Thành tố A trong các phức thể địa danh thành phố Hà Tĩnh, tuy không nhiều nhưng đã phản ánh được sự phong phú của đối tượng địa lý trên dịa bàn Cũng phải thừa nhận rằng, số lượng thành tố chung không phải là một hằng số mà nó luôn thay đổi theo từng vùng phương ngữ nhất định Có những thành tố chung có ở vùng này nhưng không có ở vùng kia và ngược lại như
một loạt các yếu tố rú, đôộng, trọt, hác vv chỉ có trong vùng phương ngữ
Nghệ Tĩnh mà không có ở vùng khác Mặt khác, có thể cùng chỉ một đối
tượng nhưng mỗi vùng lại có danh từ chung khác nhau như kinh, kênh (miền Nam) và mương (miền Bắc).
b Về cấu tạo
Trang 36Trên tư liệu chúng tôi có được, xét về mặt cấu tạo của A, trong địa danh thành phố Hà Tĩnh có 63 danh từ chung có số lượng âm tiết (yếu tố) từ 1 đến
4 Trong đó, danh từ chung chỉ có 1 âm tiết (Ví dụ: chợ Cầu Đông (TL) ; núi
Nài (ĐN)) có 38 yếu tố chiếm 60,31%; danh từ chung có hai âm tiết (Ví dụ:
nghĩa địa Hoang Sòi (ĐN), công viên Lý Tự Trọng (NH)) có 21 yếu tố, chiếm
33,33%; các danh từ chung 3 âm tiết (Ví dụ: khu lưu niệm Bác Hồ về thăm Hà Tĩnh (BH))và 4 âm tiết (Ví dụ: nghĩa trang liệt sĩ Núi Nài (ĐN)) chiếm tỉ lệ
thấp, mỗi loại 3,1%
Xét theo tần số xuất hiện, thành tố A một âm tiết chiếm một tỉ lệ lớn (88,54%) trong 768 địa danh mà chúng tôi thu tập được; các thành tố chung
có hai âm tiết đến bốn âm tiết chiếm một tỉ lệ thấp, không đáng kể Số lượng
và tần số xuất hiện được chúng tôi thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2: So sánh số lượng và tần số xuất hiện của thành tố chung A
Tần số xuất hiện của thành tố A
Số lượng Tỉ lệ (%) Tần số xuất hiện (lượt) Tỉ lệ (%)
đó, nếu xét theo tần số xuất hiện thì tỉ lệ cách biệt là quá lớn (một âm tiết 680 lượt; hai âm tiết 84 lượt) Từ đây, có thể kết luận, số lượng âm tiết (yếu tố) của thành tố A tỉ lệ nghịch với số lượng và tần số xuất hiện của chúng, có nghĩa là, nếu số lượng âm tiết càng nhiều thì số lượng và tần số xuất hiện của
Trang 37thành tố A càng giảm Vấn đề này cũng đã được các các tác giả đi trước thừa nhận đối với các địa danh như thành phố Thanh Hóa, Hải Phòng, Quảng Trị, thành phố Vinh, vv.
c Chức năng
- Chức năng phân biệt loại hình đối tượng
Trong một địa danh, cả thành tố A lẫn B đều có những chức năng riêng Tuy nhiên, ở chúng cũng có những chức năng quan trọng nhất, tiêu biểu nhất cho đối tượng phản ánh Đối với thành tố A, chức năng phân biệt loại hình đối tượng là chức năng tiêu biểu nhất, trong khi đó, thành tố B lại được xem xét bởi chức năng khu biệt, cá thể hóa đối tượng
Chức năng phân biệt loại hình đối tượng được biểu hiện qua việc thành
tố A chỉ ra, phản ánh được nét chung nhất của một loạt các đối tượng có cùng
những nét chung mang tính khái quát, lặp lại của đối tượng Ví dụ 1: xóm Bình Minh (TĐ), xóm Minh Tân (THạ), xóm Trung Tiến (TM) đều chỉ một
đặc tính chung là đơn vị hành chính trong làng xã từ xưa đến nay; Ví dụ 2:
cầu Phủ (ĐN), cầu Đông (TL), cầu Vọoc (ĐN), cầu Cày (TT) đều chỉ một
loại đối tượng có đặc tính chung là công trình xây dựng, bắc qua một dòng chảy để nối liền đường đi
Xét ở một bình diện khác, thành tố A còn có chức năng phân biệt loại
hình cho từng địa danh cụ thể khi yếu tố riêng trùng nhau như sông Phủ, cầu Phủ (ĐN) hay núi Nài, chùa Nài, bến Nài (ĐN) vv Từ đây, có thể thấy chức
năng phân biệt loai hình là một chức năng hiện hữu thường xuyên, dễ nhận thấy và rất quan trọng của thành tố chung A đối với một phức thể địa danh nói chung và cả thành tố B nói riêng
- Chức năng chuyển hóa
Thành tố A tuy có những vai trò, nhiệm vụ riêng trong phức thể địa danh nhưng trong quá trình tồn tại của mình đã chuyển hóa thành tên riêng hoặc một vị trí của tên riêng để cấu thành một địa danh khác Chức năng này
Trang 38trúc địa danh Theo Nguyễn Kiên Trường, trong địa danh, thành tố chung là
danh từ chỉ loại hình đối tượng địa lý, các danh từ này có tần số xuất hiện cao nhưng đã chuyển hóa thành tên riêng hay một bộ phận của tên riêng
Trong địa danh thành phố Hà Tĩnh, có 106/768 trường hợp chuyển hóa
từ A sang B, chiếm 13,80% Trong 106 trường hợp này, quá trình chuyển hóa diễn ra mạnh nhất, phổ biến nhất là ở các danh từ chung chỉ đối tượng địa lý
tự nhiên (chiếm 80,3%) Ví dụ: đồng Đập Cầu, đồng Nghĩa Địa, nghĩa địa Đồng Vôi, nghĩa địa Cồn Cao, hồ Văn Miếu, vv Nhóm các địa danh chỉ đối
tượng địa lý nhân văn có sự chuyển hóa thành tố chung ít (chiếm 16,78%) chủ
yếu tập trung vào tiểu nhóm chỉ đối tượng chỉ công trình xây dựng như: chợ Đình, chợ Cầu Đông (TL), ngã ba Cồn Cồ, đền Làng Hậu Hạ, đền Miệu (miếu) Bà, cống Đập Bợt (TQ), cầu Hói Sở, di tích Núi Nài (ĐN) , vv Lý
giải vấn đề này, chúng tôi cho rằng thành phố Hà Tĩnh có địa bàn hẹp (gần
100 năm diện tích không mở rộng đáng kể) để phát triển thành phố, các xóm làng, xã lân cận được sáp nhập khiến số lượng địa danh tự nhiên chiếm số nhiều, mặt khác cho thấy, trong cách đặt tên của cư dân nơi đây buổi đầu, "các đặc điểm địa lý địa hình được họ quan tâm nhất và dùng làm yếu tố cơ sở để đặt tên cho đất mới vì chúng mang tính thực tiễn, đồng thời giúp họ dễ xác định nơi chốn, địa điểm [65, tr.35]
Về vị trí chuyển hóa của thành tố A sang B, có hai khả năng xẩy ra:
chuyển hóa thành tên riêng và chuyển hóa thành một bộ phận của thành tố
riêng Trong 106 trường hợp chúng tôi khảo sát, có 18 danh từ chung chuyển
hóa thành tên riêng, chiếm 17% (Ví dụ: đồng Chùa (TQ, TT), đồng Làng (TM), đồng Nghĩa địa (TH), đồng Đập (HHT), di tích Võ Miếu (TG), chợ
Đình (TM), hào Thành (TG) Số danh từ chung chuyển hóa thành một bộ phận
thành tố riêng là 88 trường hợp, chiếm 83,02% Trong đó, chuyển hóa vào vị
trí thứ nhất của thành tố riêng chiếm 76,35% (Ví dụ: đồng Cồn Rêu (TQ), nghĩa địa Đồng Chăm (TQ), sông Cầu Đông (TL), miếu Làng Hoàn (DTC), cầu Hói Sở (TL), vv) và chuyển hóa vào vị trí thứ 2 của thành tố riêng chiếm
Trang 395,65 % (ví dụ: đồng Cửa Miệu (THạ), đồng Thượng Đập (VY), đền Đông
Miếu (VY), ) Quá trình chuyển hóa vào vị trí thứ 3 của thành tố riêng chỉ có
2 trường hợp: nghĩa địa Vùng Càm Thôn (ĐN), đồng Sác Cựa Làng (TH) đều
thuộc nhóm địa danh chỉ đối tượng địa lý tự nhiên
Bảng 3: Thành tố A chuyển hóa vào thành tố B
So sánh với các địa danh khác thì địa danh thành phố Hà Tĩnh chỉ có sự chuyển hóa đến vị trí thứ ba, chưa thấy xuất hiện ở vị trí thứ tư của tên riêng (như trong địa danh Nghệ An, Quảng Trị)
Từ chức năng trên, có thể thấy, thành tố A dễ chuyển hóa thành tên riêng hay một phần của thành tố riêng Khi chúng là những danh từ đơn tiết, nếu dùng độc lập thì yếu tố không rõ nghĩa, nhưng khi chuyển hóa vào thành
tố B thì nghĩa lại rất rõ ràng Chúng tôi cho rằng, việc chuyển hóa của thành tố chung vừa tạo nên sự độc đáo, đa dạng của địa danh, vừa là cơ sở cho ra đời một lớp từ mới trên quy luật phổ quát của ngôn từ là dùng cái hữu hạn để biểu thị cái vô hạn, đáp ứng được nhu cầu thực tiễn cuộc sống
- Chức năng khu biệt hạn định cho tên riêng
Theo một nguyên tắc chung nhất giữa hai thành tố A và B, thành tố A luôn mang tính khái quát, chỉ loại hình đối tượng, thành tố B là thành tố riêng,
có chức năng hạn định, khu biệt đối tượng Tuy nhiên, trong thực tế, do tính chất biểu hiện đồng nhất về mặt ngữ âm nên trong một số địa danh, thành tố B không thể làm tròn chức năng của mình: khu biệt đối tượng Ví dụ, trong các
phức thể địa danh: sông Nài, rú (núi) Nài, bến Nài, cầu Nài, đồng Nài, chùa
Trang 40năng khu biệt hạn định đối tượng “thay” cho tên riêng – thành tố B Các thành
tố chung như: sông, rú (núi), bến, cầu, đồng, chùa có chức năng phân biệt loại
hình đồng thời có tác dụng khu biệt hạn định cho tên riêng, giúp phân định tên riêng một cách rõ ràng Chức năng hạn định cho thành tố B của thành tố A là rất quan trọng trong việc xác định ý nghĩa cho các địa danh có tính chất đồng
âm ở thành tố B
d Khả năng kết hợp của các thành tố chung với tên riêng
- Khả năng kết hợp của nhóm thành tố chung chỉ đối tượng địa lý tự nhiên
+ Đồng: Khoảng đất rộng và bằng phẳng dùng để cày cấy và trồng trọt
đồng Voi Mẹp (ĐN), đồng Đất Đỏ (VY), đồng Hoang Nậy (TB), đồng Sác
Năn, vv Hầu hết các phường xã của thành phố Hà Tĩnh đều có địa danh cánh
đồng, xứ đồng Sự phân bố đều khắp này cho thấy yếu tố đồng đã phán ánh về
địa bàn của thành phố từ xưa đến nay có dấu ấn đậm nét của cư dân nông
nghiệp, sinh sống và sản xuất gắn với nông nghiệp lúa nước Đồng chuyển
hóa từ thành tố chung sang thành tên riêng hay bộ phận của tên riêng cũng
xuất hiện trong một số trường hợp như: nghĩa địa Đồng Chăm (TQ), nghĩa địa
Đồng Vôi (TĐ), nghĩa địa Đồng Đuồi (TM), làng Đồng Môn (ĐDC), vv
Khả năng kết hợp của danh từ chung đồng rất phong phú, đa dạng với các từ, tổ hợp từ khác nhau như: kết hợp với tên riêng chỉ cây cối: đồng Sim (TH), đồng Mướp (ĐN), đồng Cồn Dừa (THạ), đồng Sắn (TH), đồng Nụ Nồi (TQ) kết hợp với tên riêng tạo thành xứ đồng mang tên người: đồng Bà Đoan (TH), đồng Đội Dương (THạ), đồng Bà Cạnh (TL) ; kết hợp với đập:
đồng Đập Quảng (THạ), đồng Đập Mười (THạ), đồng Đập Mới (TM), đồng