- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu đặc điểm địa danh thị xã Quảng Yên trên các mặt: cấu tạo địa danh, nguồn gốc và ý nghĩa và sự biến đổi, cũng như đặc trưng văn hóa của địa
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NGỌC CHINH
Đà Nẵng – Năm 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trịnh Tam Anh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục đề tài 4
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1: NHỮNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH VÀ ĐỊA DANH HỌC 7
1.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH 7
1.1.1 Định nghĩa địa danh 7
1.1.2 Phân loại địa danh 9
1.1.3 Các phương diện nghiên cứu địa danh và hướng tiếp cận đề tài 13
1.2 NHỮNG NÉT CƠ BẢN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 15
1.2.1 Giới thiệu chung về Quảng Ninh 15
1.2.2 Vài nét về lịch sử, địa lý của địa bàn nghiên cứu 19
1.3 KẾT QUẢ THU THẬP VÀ PHÂN LỌAI ĐỊA DANH THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH 21
1.3.1 Kết quả thu thập địa danh thị xã Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh 21
1.3.2 Kết quả phân loại địa danh thị xã Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh 22
1.4 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 25
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA DANH THỊ XÃ QUẢNG YÊN 27
2.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO ĐỊA DANH THỊ XÃ QUẢNG YÊN 27
Trang 52.1.1 Vài nét khái quát về phức thể địa danh 27
2.1.2 Mô hình cấu trúc phức thể địa danh thị xã Quảng Yên 28
2.2 VẤN ĐỀ THÀNH TỐ CHUNG 30
2.2.1 Vài nét về khái niệm 30
2.2.2 Cấu tạo thành tố chung trong địa danh thị xã Quảng Yên 31
2.2.3 Khả năng chuyển hóa của thành tố chung 32
2.2.4 Khả năng chuyển hóa thành tố chung ở thị xã Quảng Yên 32
2.3 ĐỊA DANH (TÊN RIÊNG) 33
2.3.1 Khái niệm địa danh 33
2.3.2 Số lượng yếu tố cấu tạo địa danh 34
2.3.3 Các kiểu cấu tạo địa danh 35
2.3.4 Các phương thức cấu tạo địa danh 40
2.4 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 44
CHƯƠNG 3: Ý NGHĨA ĐỊA DANH VÀ Ý NGHĨA VĂN HÓA TRONG ĐỊA DANH THỊ XÃ QUẢNG YÊN 46
3.1 Ý NGHĨA ĐỊA DANH VÀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH Ý NGHĨA 46
3.1.1 Vấn đề ý nghĩa địa danh 46
3.1.2 Phương pháp xác định ý nghĩa địa danh 47
3.2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ Ý NGHĨA CỦA CÁC YẾU TỐ TRONG ĐỊA DANH THỊ XÃ QUẢNG YÊN 49
3.2.1 Phạm vi hiện thực mà địa danh phản ánh 49
3.2.2 Tính rõ ràng về ý nghĩa của các yếu tố trong địa danh 49
3.2.3 Các yếu tố trong địa danh thị xã Quảng Yên phản ánh tính đa dạng loại hình các đối tượng địa lý 51
3.3 PHÂN LOẠI Ý NGHĨA ĐỊA DANH 54
3.3.1 Nhóm địa danh phản ánh hiện thực khách quan 55
Trang 63.3.2 Nhóm địa danh có ý nghĩa phản ánh tâm lý, nguyện vọng của
chủ thể định danh 64
3.3.3 Nhóm chưa xác định được ý nghĩa 68
3.4 Ý NGHĨA VĂN HÓA TRONG ĐỊA DANH THỊ XÃ QUẢNG YÊN 68
3.4.1 Một số vấn đề về ngôn ngữ và văn hóa 68
3.4.2 Một số đặc điểm văn hóa thể hiện trong địa danh thị xã Quảng Yên 72
3.4.3 Các phương diện văn hóa trong địa danh 77
3.5 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 79
KẾT LUẬN 82 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Từ đầy đủ
ĐDĐHTN Địa danh chỉ địa hình tự nhiên
Trang 83.1 Thống kê địa danh theo các nhóm ý nghĩa phản ánh 54 3.2 Số lượng địa danh thuộc các trường nghĩa trong tiểu
nhóm phản ánh đặc điểm, tính chất của đối tượng địa danh
56
3.3 Số lượng địa danh thuộc các trường nghĩa nhóm phản
ánh mối liên hệ giữa đối tượng được định danh và các đối tượng liên quan
59
3.4 Số lượng địa danh thuộc các trường nghĩa trong nhóm
phản ánh tâm lý, tình cảm, nguyện vọng của chủ thể định danh
64
3.5 Số lượng địa danh có ý nghĩa phản ánh đời sống tín
ngưỡng tôn giáo
65
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Địa danh học (Toponymie) tuy mới được phát triển gần đây, nhưng địa danh học, nhất là ở nước ngoài, đã đạt được những kết quả khả quan và trở thành một khoa học độc lập Đối tượng nghiên cứu của địa danh học thật phong phú, nhưng hiện nay các quan niệm cũng chưa thật thống nhất Địa danh học rất phức tạp và bao gồm các ngành nhỏ như: Địa danh địa lý, Địa danh lịch sử và Địa danh văn hóa Riêng địa danh trong địa danh địa lý cũng khá rộng vì nội dung nghiên cứu gồm tên gọi các hiện tượng địa lý như: núi, sông, hồ… và các đối tượng địa lý kinh tế xã hội như làng mạc, quận, huyện, tỉnh, thành phố
Địa danh là một bộ phận đặc biệt của từ vựng, có nguồn gốc và ý nghĩa riêng biệt, là đối tượng của bộ môn từ vựng học Nghiên cứu địa danh giúp ta soi sáng nhiều mặt cho các ngành khác nhau của khoa học ngôn ngữ như: ngữ
âm, từ vựng, ngữ pháp… và còn cung cấp tài liệu cho nhiều ngành khoa học khác như: dân tộc học, địa lý học, lịch sử học… Từ đó địa danh được coi như một bức tranh khắc họa lại những giá trị như văn hóa, lịch sử của một cộng đồng người
Nghiên cứu địa danh góp phần soi sáng sự phát triển của tiếng Việt, tiếng địa phương trên các bình diện như: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp
Địa danh là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như: lịch sử, địa lý, văn hóa, khảo cổ, dân tộc học, ngôn ngữ học Tuy nhiên, mỗi ngành nghiên cứu địa danh dưới một góc độ khác nhau Địa danh phản ánh những đặc điểm văn hóa, tâm lý, tín ngưỡng của con người
Quảng Ninh là một trong những trung tâm phát triển kinh tế của đất nước Đây có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế như: Điện - đường -
Trang 11trường - trạm Quảng Ninh trữ lượng khoáng sản vô cùng quý giá
Bên cạnh đó, Quảng Ninh còn có vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới Ngoài ra, Quảng Ninh còn là nơi có dòng sông Bạch Đằng ba lần chiến thắng quân thù, còn có khu du lịch Yên Tử nơi xưa kia các vị vua đời Trần tu ở đây Quảng Ninh còn đa dạng về địa hình: không chỉ có núi non hùng vĩ mà Quảng Ninh còn có hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ và cả những cánh đồng Quảng Ninh là nơi cư trú của nhiều dân tộc anh
em như: Tày, Dao, Sán Chỉ, Sán Dìu, Hoa, Cao Lan, Chăm Chính những điều kiện như vậy đã tạo nên sự đa dạng, phức tạp về nguồn gốc, đặc điểm cấu tạo và phương thức định danh
Quảng Ninh có một sự khác biệt so với các địa phương khác là sự phân biệt vùng, sự khác biệt giữa miền đông và miền tây về địa hình, dân tộc, kinh
tế, văn hóa, ngôn ngữ, phong tục tập quán
Về mặt địa hình, miền đông là đồi núi, sông, suối, không có đảo và đồng bằng thì rất nhỏ Miền tây thì có đồng bằng rộng lớn, có hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ và hang động
Về ngôn ngữ, dân tộc, miền đông phần lớn là đồng bào thiểu số nên chi phối trực tiếp đến đời sống, văn hóa, kinh tế và địa danh của miền đông Ngược lại, miền tây dân tộc Kinh chiếm số lượng lớn từ đó ảnh hưởng mạnh
mẽ đến nhiều mặt Vì vậy, xét về mặt bằng chung thì kinh tế, văn hóa, đời sống sinh hoạt của người dân miền tây cao hơn rất nhiều so với miền đông Những đặc điểm khác biệt về lịch sử, ngôn ngữ, và văn hóa địa danh thị
xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh sẽ mang lại một hướng phát triển kinh tế mới như: du lịch thiên nhiên, du lịch văn hóa, du lịch lịch sử
Đó là lý do tôi chọn đề tài “Đặc điểm địa danh thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh” để nghiên cứu
Trang 122 Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua việc thu thập, khảo sát hệ thống địa danh trên phạm vi địa bàn thị xã Quảng Yên, luận văn hướng đến những mục tiêu sau:
- Chỉ ra những đặc điểm chính của địa danh thị xã QuảngYên
- Làm sáng tỏ một phần nào đó về những nét đặc thù như: nguồn gốc, cấu tạo, ý nghĩa (từ vựng) các địa danh
- Làm sáng tỏ một số đặc trưng văn hóa thông qua mối quan hệ của địa danh với lịch sử, địa lý
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ hệ thống địa danh thị xã Quảng Yên, bao gồm địa danh hành chính, địa danh chỉ địa hình tự nhiên và địa danh nhân văn Địa danh chỉ địa hình tự nhiên bao gồm (núi, đồi, gò, sông, suối…), địa danh nhân văn (cầu, đường, đình, chùa…), địa danh hành chính (xã, phường, xóm, làng…)
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu đặc điểm địa danh thị
xã Quảng Yên trên các mặt: cấu tạo địa danh, nguồn gốc và ý nghĩa và sự biến đổi, cũng như đặc trưng văn hóa của địa danh thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
4 Phương pháp nghiên cứu
A v Supeeranskaia cho rằng: “cần phải nghiên cứu địa danh bằng phương pháp tổng hợp, lấy phương pháp ngôn ngữ là chính, vận dụng các phương pháp bổ trợ như lịch sử học, địa lý học, khảo cổ học, nhân chủng học ”
Chúng ta có thể khẳng định địa danh học phát triển được là dựa vào ba ngành khoa học chủ yếu là: ngôn ngữ học, lịch sử, địa lý Vì vậy, khi muốn nghiên cứu về địa danh phải dùng phương pháp tổng hợp là điều tất yếu
Trong luận văn này chúng tôi sử dụng kết hợp một số phương pháp
Trang 13nghiên cứu sau:
Phương pháp điền dã: phương pháp này đã gúp cho tác giả thu thập toàn bộ địa danh từ người dân địa phương và cơ quan hành chính, nhất là những địa danh mang tính nhân gian không có ghi chép trong văn bản hành chính, phương pháp điền dã đã cung cấp một phần thông tin về nguồn gốc, ý nghĩa và sự hình thành của địa danh đó
Phương pháp phân tích, tổng hợp: muốn nghiên cứu một vấn đề một cách toàn diện, có tính thuyết phục cao, trình bày một cách khoa học thì phương pháp phân tích là một yếu tố rất quan trọng
Phương pháp so sánh đối chiếu: là một phương pháp rất quan trọng trong quá trình nghiên cứu, phương pháp này sử dụng nghiên cứu những sự biến đổi mang tính quy luật Phương pháp so sánh đối chiếu cũng cho ta thấy
sự khác nhau về một số đặc điểm của địa danh vùng này với địa danh vùng khác
5 Bố cục đề tài
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung của luận văn có bố cục 3 chương như sau:
Chương 1: Những cơ sở lý thuyết về địa danh và địa danh học
Chương 2: Một số đặc điểm địa danh thị xã Quảng Yên
Chương 3: Ý nghĩa địa danh và ý nghĩa văn hóa trong địa danh thị xã Quảng Yên
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
6.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu địa danh trên thế giới
Địa danh được thế giới nghiên cứu từ những năm đầu công nguyên, việc nghiên cứu này chưa thực sự đi sâu vào nghiên cứu mà chỉ dừng lại ở việc sưu tầm địa danh Những công trình đi đầu trong quá trình nghiên cứu địa danh như: “Hán Thư” của Ban Cố đời Đông Hán (32-92) có 4000 địa
Trang 14danh; “Thủy Kinh Chú sớ” của Lịch Đạo Nguyên thời Bắc Ngụy có 20000 địa danh, số được giải thích ngữ nguyên là trên 2300 ; “Thánh Kinh” của Thiên Chúa giáo có rất nhiều địa danh như cuốn “Ptolemy” có đến 8100 địa danh [3]
Theo tài liệu của Trung Quốc thì ở các nước phương tây bộ môn địa danh học chính thức được nghiên cứu từ cuối thế kỷ XIX Năm 1872, J.J Eghi (Thụy sĩ) viết về “Địa danh học” Những tác phẩm này đã bắt đầu chú trọng vào việc khảo chứng nguồn gốc địa danh
Địa danh chỉ thực sự được nghiên cứu một cách khoa học vào thế kỷ XIX – XX Các công trình có giá trị lớn phải kể đến như: “Địa lý học từ nguyên” (T.A Gison)
Địa danh học được nghiên cứu một cách mạnh mẽ vào thế kỷ XX với các công trình như: A Duzat “Nguồn gốc và sự phát triển địa danh”; A I Popov
“Bàn về địa danh học đồng đại”; A V Superanskaja “Địa danh học là gì”
6.2 Sơ lược về nghiên cứu địa danh ở Việt Nam
Địa danh ở Việt Nam cũng được quan tâm từ rất sớm Nhưng không phải người Việt nghiên cứu mà do người Hán viết để phục vụ cho việc xâm lược nước ta thời bấy giờ Theo các tài liệu Tiền Hán thư, Dư địa chí, Hậu Hán thư, Tấn thư thì trong thời kỳ Bắc thuộc đã đề cập đến địa danh ở Việt Nam Việc nghiên cứu địa danh ở Việt Nam chỉ thưc sự bắt đầu từ thế kỷ XV Trong thời gian này, địa danh mới chỉ được các tác giả thu thập, tìm hiểu về nguồn gốc và ý nghĩa Một số cuốn sách ra đời như: “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi (1435), “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú (1821),
“Phương đình dư địa chí” của Nguyễn Văn Siêu (1900) [4] Điều quan trọng
là Lê Quý Đôn đã góp một phần rất lớn vào việc nghiên cứu địa danh của Việt Nam Điều này được chứng minh qua một số công trình như: “Phủ biên tạp lục”, “Kiến văn tiểu lục” và “Vân đài loại ngữ” của ông
Trang 15Hoàng Thị Châu là người đưa vấn đề nghiên cứu địa danh của Việt Nam lên một tầm cao mới Với công trình “Mối quan hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông” (1964) công trình này được xem như đi đầu trong quá trình nghiên cứu địa danh ở Viêt Nam dưới góc nhìn ngôn ngữ
Sau Hoàng Thị Châu là Lê Trung Hoa với “Địa danh thành phố Hồ Chí Minh” (1991) đã sản sinh ra những lý thuyết làm cơ sở cho sự phân tích và chỉ ra những đặc điểm về cấu tạo, nguồn gốc và ý nghĩa… địa danh thành phố
Hồ Chí Minh Tiếp theo là Nguyễn Kiên Trường với luận án PTS những đặc điểm chính về địa danh Hải Phòng (1996), đã hoàn thiện hơn những gì mà Lê Trung Hoa còn thiếu Nguyễn Văn Âu cũng là một người có công rất lớn đối với vấn đề nghiên cứu địa danh ở Việt Nam [4] Ngoài ra còn phải kể đến các tác giả như Lê Hồng Chương [9], Phạm Xuân Đạm [12], Từ Thu Mai [25], Hoàng Hải Đường… có những công trình nghiên cứu về địa danh và có những đóng góp to lớn về địa danh học dưới góc nhìn ngôn ngữ
6.3 Sơ lược về nghiên cứu địa danh ở Quảng Ninh
Đối với Quảng Ninh vấn đề nghiên cứu về địa danh học vẫn còn là một
đề tài mới Là một miền đất mới cho những ai muốn nghiên cứu về địa danh Quảng Ninh dưới góc nhìn ngôn ngữ học Hiện nay mới chỉ có một vài công trình nghiên cứu về địa danh của một vài địa phương như: “Địa chí Quảng Ninh” (2002), chứ chưa có công trình nào mang tính bao quát toàn bộ địa danh Quảng Ninh dưới góc nhìn ngôn ngữ học Vì thế, thông qua luận văn này chúng tôi hy vọng sẽ góp một phần nhỏ bé để ngày càng hoàn thiện hơn
về bức tranh địa danh Quảng Ninh dưới góc nhìn ngôn ngữ học nhằm góp phần phát triển kinh tế và du lịch
Trang 16CHƯƠNG 1
NHỮNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH VÀ ĐỊA DANH HỌC
1.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH
1.1.1 Định nghĩa địa danh
Địa danh học là một bộ môn khoa học mà được nhiều ngành nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên, mỗi ngành lại nghiên cứu một khía cạnh, một góc
độ khác nhau Từ đó mỗi ngành lại có một định nghĩa khác nhau về địa danh
Không những thế, mỗi một quốc gia, hay một nhà nghiên cứu lại đưa ra một khái niệm riêng cho mình Như trong cuốn “Từ Điển Hán Việt”, Đào Duy Anh giải thích: “Địa danh là tên gọi các miền đất”, còn từ điển Hán Việt
do Hoàng Phê chủ biên coi “Địa danh là tên đất, tên địa phương”
Thực tế vấn đề định nghĩa địa danh cho đến bây giờ vẫn chưa có sự thống nhất, mỗi nhà nghiên cứu tùy theo hướng tiếp cận mà họ có một định nghĩa khác nhau Sau đây là một số định nghĩa về địa danh của các tác giả trong và ngoài nước
Theo A.V Superanskaja: “địa danh là tên gọi các địa điểm được biểu thị bằng những từ riêng Đó là các tên gọi địa lý, địa danh hay toponymia” [32, tr.1] Theo bà lý giải: “những địa điểm, mục tiêu địa lý đó là những vật thể tự nhiên hay nhân tạo với sự định vị xác định trên bề mặt trái đất, từ những vật thể lớn nhất (các lục địa và đại dương) cho đến những vật thể nhỏ nhất (những ngôi nhà vườn cây đứng riêng rẽ) đều có tên gọi” [32, tr.13]
Quan điểm của G M Kert thì: “Địa danh là tên gọi được đặt cho các đối tượng địa lý, ra đời trong một khu vực có người sinh sống, được tạo ra bởi một cộng đồng dân cư, một tộc người Chúng là một phần không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày và các hoạt động chính trị- xã hội ở nơi đó”
Trang 17Ở trong nước, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra định nghĩa riêng theo cách hiểu của riêng mình
Nguyễn văn Âu cho rằng “Địa danh học (tôpnymie) là một môn khoa học chuyên nghiên cứu về tên địa lý các địa phương” [4, tr.5], “Địa danh là tên đất , gồm tên sông, núi, làng mạc… hay tên các địa phương, tên các dân tộc” [5, tr.5]
Theo Hoàng Thị Châu thì: “Địa danh hay tên địa lý (toponym, geographical name) là tên vùng, tên sông, tên núi, là tên gọi các đối tượng địa hình khác nhau, tên nơi cư trú, tên hành chính… được con người đặt ra” [5] Tác giả Lê Trung Hoa đã phân loại địa danh theo các đối tượng địa lý (theo tiêu chí tự nhiên và không tự nhiên), theo nguồn gốc ngữ nguyên của địa danh, đã đúc kết ra định nghĩa về địa danh như sau: “địa danh là những từ hoặc ngữ, được dùng làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ và các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều” [20, tr.18]
Hoàng Tất Thắng qua bài địa danh học và việc nghiên cứu địa danh các tỉnh Trung Trung Bộ, tác giả cho rằng: “Địa danh là tên gọi của địa hình thiên nhiên, các công trình xây dựng, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ nào đó” [34]
Một số từ điển trong nước cũng giải thích về địa danh như sau: Đào Duy Anh với cuốn từ điển Hán Việt từ điển cho rằng địa danh là “tên các miền đất (nom de tere)”
Hoàng Phê với cuốn Từ điển tiếng Việt định nghĩa như sau: “Địa danh
là tên đất tên địa phương” [26, tr.314]
Từ điển bách khoa Việt Nam giải thích như sau: “Địa danh là tên gọi các lãnh thổ, các điểm quần cư (làng, xã, huyện, thành phố), các điểm kinh tế, (vùng nông thôn, khu công nghiệp), các quốc gia, các châu lục, núi, đèo, cao
Trang 18nguyên, thung lũng, đồng bằng, châu thổ, sông, hồ, vũng, vịnh, biển, eo biển, đại dương có tọa độ nhất định ghi lại trên bản đồ Địa danh có thể phản ánh quá trình hình thành, đặc điểm của các yếu tố tự nhiên và lịch sử với những nét đặc sắc về kinh tế, xã hội của các lãnh thổ” [39, tr.780]
Như vậy, qua những định nghĩa trên cho ta thấy có rất nhiều cách lý giải thế nào là địa danh Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi cách lý giải theo từ điển của Hoàng Phê, Đào Duy Anh và Từ điển bách khoa Việt Nam thì quá đơn giản và chưa thật sự toàn diện Theo chúng tôi, cách định nghĩa của Lê Trung Hoa là phù hợp với địa bàn chúng tôi nghiên cứu
1.1.2 Phân loại địa danh
Cũng như cách định nghĩa về địa danh thì phân loại cũng có nhiều cách phân loại khác nhau tùy thuộc vào mỗi quốc gia, mỗi nhà nghiên cứu khác nhau Vì mỗi nhà nghiên cứu khi đưa ra một cách phân loại hay một khái niệm thì họ lại có cái lý riêng của mình và cái khái niệm hay cách lý giải của
họ phần nào cũng đáp ứng được tính chất khách quan của nhân loại Tuy nhiên, mỗi cách lý giải có những ưu và nhược điểm khác nhau Sau đây là một số cách phân loại của một số nhà nghiên cứu như sau:
Theo tài liệu của Lê Trung Hoa [20, tr.9-11], hai nhà địa danh học người Pháp là A Dauzat và Charles Rostaing không phân loại địa danh một cách cụ thể nhưng các tác giả đều chia địa danh thành nhiều loại dựa vào tiêu chí ngữ nguyên A Dauzat trong cuốn La toponymie francaise đã chia địa danh làm bốn phần:
- Vấn đề những cơ sở tiền Ấn- Âu;
- Các danh từ tiền La tinh về nước trong thủy danh học;
- Các từ nguyên Gô- loa- La Mã của vùng Auvergne và Velay;
Còn Chatles Rostaing trong cuốn Les noms lieux ngoài việc dựa vào ngữ nguyên Chatles Rostaing còn kết hợp với đối tượng địa lý để chia như sau:
Trang 19- Những cơ sở tiền Ấn- Âu;
- Các lớp tiền Xên- tich;
- Lớp Gô- loa;
- Những phạm vi Gô- loa- La Mã;
- Các sự hình thành La Mã;
- Những đóng góp của tiếng Giecs- manh;
- Các hình thức của thời phong kiến;
- Những danh từ có nguồn gốc tôn giáo;
- Những hình thái đại diện;
- Các địa danh và tên đường phố;
- Tên sông và núi
Còn G P Smolicnaja và Gorbaevskij trong cuốn Toponimija Moskvy chia địa danh làm bốn loại như sau:
- Phương danh (tên các địa phương);
- Sơn danh (tên núi, đồi, gò…);
- Thủy danh (tên những dòng chảy, ao, vũng…);
- Phố danh (tên những đối tượng trong thành phố);
Và A V Superanskaja với Chto takoe toponimaka chia địa danh như sau:
- Phương danh;
- Thủy danh;
- Sơn danh;
- Phố danh;
- Viên danh (tên các quảng trường);
- Lộ danh (tên các đường phố);
- Đạo danh (tên các đường giao thông trên đất, dưới đất, trên nước và trên không)
Từ những cách chia trên cho ta thấy vẫn còn thiếu tính khái quát, chưa
Trang 20xác định rõ tiêu chí phân loại
Ở Việt Nam, người bàn về phân lọai địa danh đầu tiên là phải nói đến Đặng Xuân Bảng (1828- 1910) qua cuốn “Sử học bị khảo”, phần Địa lý khảo Sau đó, Hoàng Thị Châu với bài viết việc tìm sử liệu trong ngôn ngữ dân tộc [5, tr.44-47] cũng đề cập đến vấn đề phân loại địa danh thành hai hệ thống là tiểu địa danh (gồm: tên thôn xóm, gò đồi, khe suối, đầm hồ…) và đại địa danh (gồm: tên lục địa, đại dương, nước, vùng, thủ đô, thành phố…)
Trần Thanh Tâm trong “Thử bàn về địa danh Việt Nam” [33, tr.60-73] phân loại địa danh Việt Nam làm 6 loại như sau:
a Loại đặt theo địa hình và đặc điểm ( gồm 4 nhóm:………);
b Loại đặt theo vị trí không gian và thời gian;
c Loại đặt theo tín ngưỡng tôn giáo;
d Loại đặt theo hình thái, chất đất, khí hậu;
e Loại đặt theo đặc sản nghề nghiệp;
f Loại đặt theo sinh hoạt xã hội
Nguyễn Văn Âu [3], [4] chia địa danh thành 3 cấp: loại, kiểu và dạng Trong đó, có 2 loại: Địa danh tự nhiên và địa danh kinh tế- xã hội
Các kiểu: Thủy danh, lâm danh, sơn danh, làng xã, huyện thị, tỉnh, thành phố và quốc gia
Các dạng: Sông ngòi, hồ đầm, đồi núi, hải đảo, rừng rú, truông, bản, làng, xã, huyện, quận, thị trấn, tỉnh, tỉnh, thành phố,và quốc gia
Lê Trung Hoa trong công trình “các nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu địa danh” [20, tr.24-27] và “Địa danh học Việt Nam” [21, tr.14-16] phân loại như sau:
Căn cứ vào tiêu chí tự nhiên và không tự nhiên
Địa danh chỉ địa hình tự nhiên;
Địa danh chỉ các công trình xây dựng;
Trang 21Địa danh hành chính;
Địa danh vùng;
Căn cứ vào ngữ nguyên địa danh gồm các loại:
Địa danh thuần Việt;
Địa danh Hán Việt;
Địa danh gốc Pháp;
Địa danh gốc Khơ me
Theo Nguyễn Kiên Trường phân loại địa danh Hải Phòng dựa vào ba tiêu chí Thứ nhất, loại hình gồm nhóm địa danh chỉ nhóm đối tượng địa lý tự nhiên và nhóm địa danh chỉ đối tượng địa lý nhân văn (có các tiểu nhóm: 1 Nhóm địa danh cư trú - hành chính, các địa danh gắn với hoạt động con người, do con người tạo nên; 2 Nhóm địa danh đường phố và công trình xây dựng) Theo tiêu chí nguốn gốc ngữ nguyên, tác giả chia địa danh làm các tiểu loại có nguồn gốc khác nhau như: nguồn gốc Hán Việt, nguồn gốc thuần Việt, nguồn gốc từ tiếng Pháp, nguồn gốc từ phương ngữ Quảng Đông, nguồn gốc khác như Tày- Thái, Việt- Mường…nguồn gốc hỗn hợp và địa danh chưa xác định được nguồn gốc Ngoài ra, tác giả còn bổ sung thêm tiêu chí thứ ba là chức năng giao tiếp và theo hệ quy chiếu đồng đại - lịch đại [35, tr.41- 50]
Như vậy, chúng ta thấy có rất nhiều nhà nghiên cứu cả trong và ngoài nước đưa ra những phương pháp nghiên cứu, cách phân loại, khái niệm khác nhau Từ đó, dẫn đến không có sự nhất quán trong quá trình nghiên cứu về các mặt như: khái niệm thế nào là địa danh và địa danh học; cách phân loại địa danh thế nào cho phù hợp, đúng đắn và hợp lý nhất
Trong luận văn này, chúng tôi đã cố gắng tiếp thu những quan điểm của những nhà nghiên cứu cả trong và ngoài nước, để khi nghiên cứu địa danh thị
xã Quảng Yên cần có một tiêu chí thống nhất sao cho phù hợp với địa bàn nghiên cứu Khi nghiên cứu, chúng tôi vận dụng quan điểm của A V
Trang 22Superanskaja và nguyên tắc, phương pháp nghiên cứu của Lê Trung Hoa và một số tác giả khác
Như vậy, vận dụng phương pháp và nguyên tắc của Lê Trung Hoa hệ thống địa danh thị xã Quảng Yên được chúng tôi chia làm hai loại: loại thứ nhất là dựa trên đối tượng, loại thứ hai là dựa trên ngữ nguyên
a Lọai dựa trên đối tượng
Địa danh thị xã Quảng Yên dựa theo đối tượng được chúng tôi chia như sau:
Địa danh chỉ địa hình tự nhiên;
Địa danh chỉ địa hình tự nhiên gồm: sơn danh, thủy danh, vùng đất nhỏ Địa danh không tự nhiên được chúng tôi chia làm 2 loại: địa danh hành chính (tên phường, xã, thành phố ), địa danh nhân văn (tên đình, chùa, cầu, cống )
b Loại dựa trên ngữ nguyên
Địa danh thị xã Quảng Yên dựa trên ngữ nguyên được chúng tôi phân chia như sau:
Địa danh có nguồn gốc thuần Việt;
Địa danh có nguồn gốc Hán Việt;
Địa danh có nguồn gốc hỗn hợp và chưa xác định được nguồn gốc Như vậy, địa danh thị xã Quảng Yên phân theo ngữ nguyên gồm 4 nhóm: nhóm địa danh thuần Việt (được cấu tạo bởi những yếu tố có nguồn gốc thuần Việt); nhóm địa danh Hán Việt (được cấu tạo bởi các yếu tố có nguồn gốc Hán Việt); nhóm có nguồn gốc hỗn hợp (được cấu tạo bởi những yếu tố có nguồn gốc từ nước ngoài) và những địa danh chưa xác đinh nguồn gốc (được cấu tạo bởi những yếu tố mà chưa xác định rõ được nguồn gốc)
1.1.3 Các phương diện nghiên cứu địa danh và hướng tiếp cận đề tài
Địa danh được rất nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu Tuy
Trang 23nhiên, mỗi ngành lại nghiên cứu dưới góc độ khác nhau Như lịch sử đi sâu nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển, sự phân bố địa danh dưới góc độ mối quan hệ giữa các tộc người với tộc người, giữa dân tộc này với dân tộc kia Địa lý địa danh nghiên cứu sự phát triển, sự hình thành nhưng dưới góc
độ địa lý học Nhân học nghiên cứu địa danh để tìm hiểu mối quan hệ giữa những tộc người với nhau, hay mối quan hệ chính trong nội bộ của một cộng đồng người nhất định
Địa danh là một ngành của ngôn ngữ học Theo Nguyễn Đức Tồn, việc khảo sát định danh nói chung cần khảo sát 3 thông số:
a Nguồn gốc các định danh: định danh có thể theo cách sáng tạo mới hoặc vay mượn từ ngôn ngữ khác, theo nguồn gốc có thể chia thành định danh thuần Việt và định danh vay mượn
b Kiểu ngữ nghĩa: có thể phân loại nghĩa định danh là trực tiếp hay gián tiếp, nghĩa rộng hay nghĩa hẹp
c Cách thức biểu thị: cần tìm hiểu đó là cách biểu thị hòa kết hay phân tích, mức độ rõ tính lý do, cách chọn đặc trưng [35, tr.220]
Như vậy, khi nghiên cứu địa danh cần kết hợp nhiều ngành khoa học khác nhau như: dân tộc học, khảo cổ học, lịch sử, văn hóa từ đó, việc nghiên cứu địa danh sẽ có cái nhìn khách quan hơn Khi nghiên cứu địa danh có tính
hệ thống thì cần phải làm rõ những vấn đề như: nguồn gốc ngữ nghĩa, mô hình địa danh, các phương thức định danh
Để nghiên cứu địa danh thị xã Quảng Yên một cách thuận lợi và toàn diện nhất, chúng tôi đi tìm hiểu về nguồn gốc ngôn ngữ, cấu tạo, phương thức định danh, đặc điểm ý nghĩa và một số vấn đề văn hóa được phản ánh qua địa danh
Với những hướng tiếp cận của đề tài trên, chúng tôi hy vọng có thể làm
rõ được những đặc trưng địa danh thị xã Quảng Yên cũng như thông qua địa
Trang 24danh, văn hóa sẽ được tái hiện lại một cách sinh động nhất
1.2 NHỮNG NÉT CƠ BẢN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.2.1 Giới thiệu chung về Quảng Ninh
“Đất nhân thế núi làm thành, dựa chỗ cao mà giữ hiểm, có núi để dựa,
có biển vòng quanh, địa thế xa lánh mà xung yếu, trong thì giữ vững cương vực, ngoài thì khống chế đất Thanh Núi cao có Lôi Âm, sông lớn có Bạch Đằng, 22 cửa biển, hơn 10 đồn ải, hải đảo quanh co, sông bến khuất khúc, cũng là nơi then chốt ở ven biển”
Hay khi nói đến Quảng Ninh ta nhớ đến câu “Từ mũi Cà Mau đến địa đầu Móng Cái” Quảng Ninh nằm ở địa đầu phía đông bắc của tổ quốc Quảng Ninh là một tỉnh có đa dạng về địa hình Bao gồm cả rừng, đồi núi thấp, đồng bằng nhỏ, biển và đặc biệt là có hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ
Quảng Ninh là tỉnh có biên giới giáp với Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và giáp các tỉnh như Hải Phòng, Hải Dương, Lạng Sơn, Bắc Giang
Địa giới Quảng Ninh từ 106º 26’ đến 108º 33’ kinh đông và từ 20º 40’ đến 22º 40’ vĩ độ bắc
Trang 25Quảng Ninh có diện tích tự nhiên là 5.900 km², gồm 3 thành phố (Hạ Long, Uông Bí, Móng Cái), 2 thị xã (thị xã Quảng Yên, thị xã Cẩm Phả) và 9 huyện (Đông Triều, Hoành Bồ, Vân Đồn, Cô Tô, Ba Chẽ, Tiên Yên, Bình Liêu, Đầm Hà, Hải Hà)
Địa hình Quảng Ninh rất đa dạng và phong phú, vừa có đồi núi, đồng bằng ven biển, hệ thống biển đảo và thềm lục địa Với địa hình như vậy thì đây vừa là khó khăn nhưng đồng thời cũng là một thế mạnh cho Quảng Ninh phát triển kinh tế Diện tích đồng bằng ở đây rất thấp chỉ chiếm một số lượng rất nhỏ là 18%, được bồi đắp bởi con sông Thái Bình Đồi và núi thấp chiếm tỉ lệ rất lớn là 80% Số còn lại là diện tích đá vôi và hải đảo Ngoài ra, vùng biển Quảng Ninh rất đa dạng như: có diện tích sú, vẹt rất lớn, trên biển
có vịnh Hạ Long là một danh lam thắng cảnh nổi tiếng với hơn 2000 hòn đảo lớn nhỏ
Quảng Ninh là tỉnh có nhiệt độ vào mùa đông thấp hơn các tỉnh khác Bởi chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của gió mùa đông bắc
Hệ thống sông ngòi của Quảng Ninh cũng rất đa dạng và phong phú, rất nhiều hồ, đập từ đó tạo nên sự đa dạng của địa hình
Than là khoáng sản có trữ lượng lớn nhất cả nước chiếm 90% Hệ thống giao thông vận tải phât triển thuận lợi cho phát triển về kinh tế - văn hóa - xã hội
b Về mặt lịch sử
Quảng Ninh có lịch sử rất lâu đời Trong sách Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi, thời Hùng Vương (2.622 năm), vùng Quảng Ninh thuộc bộ Hải Ninh, nước Văn Lang
Trong thời kỳ Bắc thuộc- thời nhà Hán, Quảng Ninh thuộc quận Giao Chỉ, đến thời Tiền Lý và nhà Triệu, vùng Quảng Ninh thuộc quận Hải Ninh của nước Vạn Xuân
Trang 26Bắt đầu từ thế kỷ thứ X trở đi, các triều đại đã quan tâm đến hệ thống hành chính một cách hệ thống hơn Đời nhà Đinh chia nước ta làm 10 đạo Nhưng đến đời Tiền Lê đổi đạo làm lộ, phủ, châu Vùng Quảng Ninh thuộc lộ Triều Dương, vùng Đông Triều thuộc lộ Nam Sách Giang Bắt đầu từ đời nhà
Lý đến nhà Hồ lộ Triều Dương lần lượt được đổi thành châu Vĩnh An, lộ Hải Đông, lộ An Bang, lộ Phủ Tân An, Châu Tĩnh An
Năm thuận thiên thứ nhất, đời nhà Lê (1428), Quảng Ninh thuộc Đông Đạo Đến năm thuận thiên thứ 7 (1466) Quảng Ninh thuộc đạo thừa tuyên An Bang Đến thời Hậu Lê, trấn An Bang đổi thành trấn An Quảng, rồi lại đổi thành trấn Yên Quảng
Năm Minh Mạng thứ 3 (1822) đổi trấn Yên Quảng thành trấn Quảng Yên Đến năm Minh Mạng thứ 12 (1831) đổi trấn Quảng Yên thành tỉnh Quảng Yên Thành Thái năm thứ 18 (1906), phủ toàn quyền Pháp ra nghị định tách phủ Móng Cái của tỉnh Quảng Yên, thành lập tỉnh mới là tỉnh Hải Ninh
Từ đó, trải qua các triều đại khác nhau đến ngày 30-10- 1963 quyết định thành lập tỉnh Quảng Ninh
c Về mặt văn hóa
Văn hóa thời tiền sử Quảng Ninh được biết đến rất sớm nhất là các điểm thuộc văn hóa Soi Nhụ Nền văn hóa này tồn tại song song với các nền văn hóa như văn hóa Hòa Bình và Bắc Sơn
Văn hóa Soi Nhụ là các nhà khảo cổ đặt tên theo tên của hang Soi Nhụ Đây là nơi mà các nhà khảo cổ tìm thấy những bằng chứng để chứng minh rằng ở đây đã từng có một cộng đồng người tiền sử sinh sống Cuộc sống của
họ chủ yếu là trong hang động đá vôi và từ đó tạo ra nền văn hóa Soi Nhụ Sau này nền văn hóa Soi Nhụ phát triển thành nền văn hóa Hạ Long
Trang 27Cơ sở để chứng minh nơi đây đã từng tồn tại nền văn hóa Soi Nhụ là: Vào năm 1967 đã tìm thấy 19 đồ đá, 3 rìu đá, 2 hòn cuội, một chày đá và đồ gốm và đồ xương
Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy sự liên kết giữa các nền văn hóa như: văn hóa Soi Nhụ với các nền văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn, Hà Giang
và văn hóa Phùng Nguyên Qua đó cho ta thấy người dân Quảng Ninh xưa
đã có sự giao lưu văn hóa, kinh tế với cộng đồng người tại trung du Bắc Bộ
và đồng bằng
Quảng Ninh là tỉnh có nhiều thành phần dân tộc sinh sống xen kẽ nhau
Từ đó, sự hội tụ và phân ly văn hóa của văn hóa giữa các dân tộc đã tạo cho Quảng Ninh có sự đa dạng về nền văn hóa và đặc sắc về bản sắc các dân tộc
d Về mặt dân cư
Quảng Ninh là một vùng đất giàu tài nguyên thiên nhiên, đây là điều kiện thuận lợi cho con người sinh sống Nên từ rất lâu đã có người sinh sống Đây cũng là địa bàn sinh sống của một bộ phận người Việt cổ, nó gắn liền với văn hóa Soi Nhụ Đến đầu thế kỷ XX có một số dân tộc sinh sống như: Kinh, Tày, Sán Chay, Sán Dìu, Hoa Cho đến nay có thêm 5 dân tộc di cư đến đây: Nùng, Thái, Mường, Thổ, Khơ Me
Dân số Quảng Ninh là 1.215.307 người, trong đó dân tộc Kinh chiếm 89,20%, dân tộc Dao chiếm 4,47%, dân tộc Tày chiếm 2,86%
e Về mặt ngôn ngữ
Quảng Ninh là tỉnh có đa dạng về dân tộc, vì vậy ngôn ngữ cũng rất đa dạng Các dân tộc Quảng Ninh có nhóm ngôn ngữ như:
Nhóm ngôn ngữ Việt - Mường có dân tộc Kinh
Nhóm ngôn ngữ Mông - Dao có dân tộc Dao
Nhóm ngôn ngữ Tày - Thái có dân tộc Tày
Trang 28Nhóm ngôn ngữ Hán có dân tộc Hoa, Sán Dìu, Sán Chay (Sán Chỉ, Cao Lan)
Tiếng Việt là được dùng phổ biến
1.2.2 Vài nét về lịch sử, địa lý của địa bàn nghiên cứu
Hình 1.1: Bản đồ thị xã Quảng Yên – Tỉnh Quảng Ninh
Như vậy, Quảng Ninh là một tỉnh vừa đa dạng về tự nhiên và con người Từ những đặc điểm riêng biệt đó muốn nghiên cứu một cách đầy đủ thì chúng ta phải đi từng khía cạnh một và phải mang tính hệ thống chặt chẽ
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, bản khắc năm Chính Hòa 18 (1697): đời Đinh, Lê, Quảng Yên thuộc trấn Triều Dương; đời Lý Thái Tổ năm Thuận Thiên thứ 14 (1023) đổi trấn Triều Dương thành châu Vĩnh An; đời Trần, vua Trần Thái Tông năm Thiên Ưng Chính Bình thứ 11 (1242) gọi châu Vĩnh An
là lộ Hải Đông có tám huyện: Yên Bang, Chi Phong, Yên Lập, Yên Hưng, Tân An, Đại Độc, Vạn Ninh, Vân Đồn Nhà Lê, đời đầu Thuận Thiên (1428)
Trang 29gọi là Yên Bang (An Bang) thuộc Đông Đạo Năm Quang Thuận (1460) đặt
là An Bang Thừa Tuyên; từ năm Gia Thái đời vua Lê Thái Tông (1573 - 1577) vì kiêng húy nên đổi từ An Bang thành Yên Quảng, thị xã Quảng Yên thuộc Yên Quảng Trấn Yên Quảng có một phủ (Hải Đông), sáu huyện (Chi Phong, Yên Hưng (thị xã Quảng Yên), Hoành Bồ, Thủy Đường, Kim Thành, (An Dương) và ba châu (Vạn Ninh, Vĩnh An,Vân Đồn) Năm 1802, vua Gia Long trả Kinh Môn Lệ vào trấn cũ Hải Dương; vẫn lấy một phủ Hải Đông làm trấn Yên Quảng Trấn Yên Quảng còn một phủ (Hải Đông) trong đó có
ba huyện (Yên Hưng, Hải Đông, Hoành Bồ) và ba châu (Tiên Yên, Vạn Ninh, Vân Đồn) với 16 tổng, 123 phường, phố, vạn, xóm
Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) đổi trấn Quảng Yên thành tỉnh Quảng Yên Tỉnh Quảng Yên thuộc loại nhỏ nên chung một quan tổng đốc với tỉnh Hải Dương, gọi là tổng đốc Hải Yên, quân đội thuộc quân thứ Hải Yên Năm Minh Mạng thứ 17, đặt thêm phủ Sơn Định, bớt châu Vân Đồn Thị xã Quảng Yên là toàn bộ diện tích của huyện Yên Hưng được đổi tên thành thị xã Quảng Yên vào năm 2011
Thị Xã Quảng Yên là nằm ở ven biển phía Đông của tỉnh Quảng
Ninh, có diện tích tự nhiên 33 191, 6 ha Vị trí tọa độ từ 20º 02´ 09´´ độ vĩ Bắc và 106 -45-30 đến 106-0-59 độ kinh đông Phía bắc giáp thành phố Uông
Bí và huyện Hoành Bồ Phía nam Giáp đảo Cát Hải và cửa Nam Triệu Phía đông giáp thành phố Hạ Long Phía tây giáp huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng Đơn vị hành chính gồm 11 phường: Tân An, Đông Mai, Quảng Yên, Hà An, Nam Hòa, Phong Cốc, Cộng Hòa, Yên Hải, Yên Giang, Phong Hải và 8 xã: Cẩm La, Hiệp Hòa, Hoàng Tân, Liên Hòa, Sông Khoai, Tiền An, Tiền Phong, Minh Thành
Địa hình chủ yếu là đồng bằng và bãi bồi ven biển có xen lẫn đồi núi thấp của những dãy núi cánh cung Đông Triều chạy ra biển Đất đồi núi có
Trang 30diện tích 6.100ha, chiếm 15,3% diện tích thị xã Quảng Yên Đất đồng bằng có diện tích 14.800ha, chiếm 44,6% diện tích đất đai
Thị xã Quảng Yên có bờ biển dài hơn 30 km với nhiều cửa sông, bãi triều, vịnh là nơi trú ngụ của nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao Đất bãi bồi ven sông gồm các loại đất mặn, đất cát có diện tích 12.300 ha, chiếm 37,1% diện tích, phân bố chủ yếu ở khu vực ven biển và cửa sông
Thị xã Quảng Yên có có khí hậu đặc trưng của vùng ven biển miền bắc Việt Nam, khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23 - 24 độ C
Sông ngòi thị xã Quảng Yên khá dày đặc, hầu hết là chảy theo hướng tây bắc - đông nam rồi đổ ra biển qua các cửa sông Lớn nhất là sông Bạch Đằng với dòng chảy chính là 18 km
Tài nguyên khoáng sản gồm có đá vôi, đất sét, cát sỏi xây dựng, than đá
và tài nguyên rừng
Theo số liệu thống kê 2012, dân số thị xã Quảng Yên l34284 người
1.3 KẾT QUẢ THU THẬP VÀ PHÂN LỌAI ĐỊA DANH THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH
1.3.1 Kết quả thu thập địa danh thị xã Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh
Dựa vào kết quả điều tra điền dã khi đi thực tế và tài liệu do chính quyền thị xã Quảng Yên cung cấp, chúng tôi thống kê được 582 địa danh ở các xã, phường thuộc địa phận thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh bao gồm địa danh hành chính, địa danh chỉ địa hình tự nhiên và địa danh nhân văn Mỗi loại hình địa danh lại có sự phân bố khác nhau Sau đây kết quả được chúng tôi chia ở bảng 1.1 như sau:
Trang 31Bảng 1.1: Kết quả thu thập địa danh thị xã Quảng Yên
1.3.2 Kết quả phân loại địa danh thị xã Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh
a Phân loại theo tiêu chí tự nhiên và không tự nhiên
Địa danh chỉ địa hình tự nhiên: Tổng số địa danh tự nhiên thu được là
390 địa danh, chiếm 64,6%, trong đó:
Sơn danh là 173 địa danh (24,6%)
Ví dụ: núi Thành, núi Con Lợn, Nấm Chiêng, đồi Cây Rộc, Cửa Tràng,
Cỏ Khê
Thủy danh là 103 địa danh (19%)
Ví dụ: sông Bạch Đằng, chanh, Bỏ Nồi, Khoai, lạch Kháo, Láng Đông, khe Kem, Giá
Vùng đất nhỏ là 114 địa danh (21%)
Ví dụ: xứ đồng Hàn Sĩ, Hàn Bùi, Nguyễn Tư Giáp, Cống Vông, bãi Người Ngòi, Miếu
Địa danh không tự nhiên: Tổng số địa danh thu được là 192 địa danh
- Địa danh đơn vị hành chính 112 địa danh (20,7%) bao gồm cả địa danh có từ thời phong kiến và địa danh do chính quyền đặt
Ví dụ: từ thời phong kiến- xóm Đanh, xóm Méo, Bùi Xá
Chính quyền đặt: Tiền An 1, Hà An
- Địa danh nhân văn: 80 địa danh (14,7%)
Ví dụ: chùa Bùi Xá, đình Trung Bản, cầu Chắng
Trang 32Bảng 1.2: Kết quả phân loại địa danh theo tiêu chí địa hình tự nhiên và
Nhận xét: như vậy, qua cách phân loại theo tiêu chí tự nhiên và không
tự nhiên, ta rút ra một số kết luận như sau: Địa danh tự nhiên bao gồm sơn danh, thủy danh và vùng đất nhỏ chiếm số lượng nhiều nhất với 390 địa danh Địa danh không tự nhiên gồm địa danh đơn vị hành chính và địa danh nhân văn có số lượng ít hơn với 192 địa danh Từ kết quả phân chia này, đã một phần nào phản ánh được đặc trưng địa danh thị xã Quảng Yên và cho ta thấy những nét cơ bản về địa hình và con người nơi đây
b Phân loại theo tiêu chí nguồn gốc ngôn ngữ
Xét về tiêu chí nguồn gốc ngôn ngữ, theo chúng tôi địa danh thị xã Quảng Yên phân loại theo nguồn gốc ngôn ngữ có 3 nhóm: Thuần Việt, Hán Việt, chưa xác định rõ nguồn gốc
* Địa danh được cấu tạo bằng yếu tố thuần Việt
Địa danh đơn vị hành chính có số lượng là 58 địa danh
Ví dụ: xóm Cống, thôn 1, thôn 2, xóm Trong, xóm Ngoài
Địa danh chỉ địa hình tự nhiên có số lượng là 250 trường hợp
Trang 33Ví dụ: khe Nước, khe Giá, đầm Mới, đầm Con Tôm
Địa danh nhân văn có số lượng là 14 trường hợp
Ví dụ: cầu Câu Cá, cầu Chắng 1, cầu chắng 2
Như vậy, địa danh mang nguồn gốc thuần Việt phân bố ở các loại hình
là không đồng đều
* Địa danh được cấu tạo bằng yếu tố Hán Việt
Địa danh đơn vị hành chính được cấu tạo bằng yếu tố Hán Việt có số lượng là 54 trường hợp
Ví dụ: xóm Hữu Triều, Trung Bản, Yên Giang
Địa danh chỉ địa hình tự nhiên có cấu tạo bằng yếu tố Hán Việt có số lượng là 135 trường hợp
Ví dụ: sông Bạch Đằng, hồ Quán Đình, núi Văn Miếu
Địa danh nhân văn được cấu tạo bằng yếu tố Hán Việt có số lượng là
66 trường hợp
Ví dụ: miếu Hưng Linh, miếu Thập Cửu Tiên Công, miếu Sơn Thần Như vậy, số lượng địa danh có nguồn gốc Hán Việt là rất lớn
* Địa danh được cấu tạo có nguồn gốc hỗn hợp và chưa xác định
Những địa danh có nguồn gốc hỗn hợp và chưa xác định có số lượng rất hạn chế
Nguồn gốc hỗn hợp là một số trường hợp mượn tiếng Pháp như:
Ví dụ: đồn điền Culông, Iliêngmaru, Môngtruy
Những địa danh chưa xác định được nguồn gốc
Ví dụ: núi Ịch, xứ đồng Quêu Quao
Trang 34Bảng 1.3: Kết quả phân loại địa danh theo nguồn gốc ngôn ngữ
TT
Loại hình
Số lượng
Cộng Thuần Việt Hán Việt Hỗn hợp và chưa
xác định
Nhận xét: Từ kết quả phân loại theo nguồn gốc ngôn ngữ cho ta thấy có
sự khác biệt giữa các loại hình với nhau:
Địa danh chỉ nhân văn số lượng địa danh có nguồn gốc Hán Việt lớn hơn địa danh thuần Việt
Địa danh chỉ đơn vị hành chính số lượng địa danh có nguồn gốc thuần Việt lớn hơn Tuy nhiên sự khác biệt không lớn
Ngược lại, địa danh chỉ địa hình tự nhiên có nguồn gốc thuần Việt lớn hơn địa danh có nguồn gốc Hán Việt
Thị xã Quảng Yên là vùng đất có lịch sử phát triển rất lâu đời Cách đây 3000 đến 3500 năm khu Hoàng Tân đã có người Việt cổ sinh sống Các
Trang 35nhà khảo cổ học đã tìm thấy ở Hoàng Tân rất nhiều công cụ sản xuất, sinh hoạt bằng đá như: rìu, búa, đục, bàn mài, mũi khoan, chày nghiền của văn hóa
Hạ Long thời kỳ đồ đá mới Các đồ đồng của nền văn minh Đông Sơn triều đại của các Vua Hùng ở vùng cửa biển Lúc bấy giờ đất Quảng Yên thuộc Dương Tuyền hay Hải Tuyền thời Vua Hùng Ngoài ra, dân cư Quảng Yên còn có nguồn gốc từ sự di cư của người dân từ các tỉnh đồng bằng Sông Hồng qua nhiều năm tháng của lịch sử
Sự kết hợp dân cư Việt cổ và dân cư của đồng bằng Sông Hồng đã tạo nên những nét văn hóa rất riêng biệt của Quảng Yên Văn hóa đó một phần được khắc họa qua địa danh Đây cũng là điểm riêng so với các vùng miền khác
Từ kết quả thống kê và phân loại địa danh trên địa bàn thị xã Quảng Yên cho ta thấy được những đặc điểm cơ bản sau:
Qua những thành tố chung khảo sát trên địa bàn thị xã Quảng Yên dựa theo tiêu chí tự nhiên và không tự nhiên, từ đó cho ta thấy đặc trưng về địa hình rất đa dạng và phong phú, có đầy đủ các địa hình khác nhau như: đồi, núi, sông, khe, đồng bằng Đồi núi chủ yếu chỉ tập trung ở phía bắc thuộc các xã phường như Hiệp Hòa, Quảng Yên, Tiền An, Hoàng Tân còn các xã phường thuộc tổng Hà Nam (phía nam) toàn bộ diện tích là đồng bằng
Kết quả thống kê địa danh thị xã Quảng Yên theo nguồn gốc ngôn ngữ cho thấy sự khác biệt trong từng loại hình địa danh Những địa danh thuộc loại hình chỉ địa hình tự nhiên có nguồn gốc thuần Việt chiếm số lượng lớn hơn địa danh có nguồn gốc Hán Việt Những địa danh thuộc loại hình chỉ địa danh hành chính và địa danh nhân văn có ngồn gốc Hán Việt lớn hơn địa danh
có nguồn gốc thuần Việt Ngoài ra, có một số địa danh chưa xác định được nguồn gốc, nhưng số lượng rất nhỏ và chiếm tỉ lệ không đáng kể
Trang 36CHƯƠNG 2
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA DANH THỊ XÃ QUẢNG YÊN
2.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO ĐỊA DANH THỊ XÃ QUẢNG YÊN 2.1.1 Vài nét khái quát về phức thể địa danh
Phức thể địa danh bao gồm hai bộ phận, chúng được phân biệt rõ ở hình thức chính tả: Bộ phận viết thường là danh từ chung, thường đứng trước tên riêng (địa danh)
Ví dụ: thôn Đồng Mát, sông Bạch Đằng, núi Nấm Chiêng, bến Đò Lá
Bộ phận được viết hoa gọi là tên dùng để gọi địa danh cụ thể
Ví dụ: cống Chợ Đông, đượng Bỏ Bụt, đượng Nhọ Nồi
Qua đó, ta thấy mỗi phức thể địa danh bao gồm hai thành tố: Thành tố chung (A) và thành tố riêng (B) Thành tố chung là từ chỉ loại, thành tố riêng
để phân biệt giữa đối tượng địa lý này với đối tượng địa lý khác Tuy nhiên thành tố chung không được coi là địa danh, không tham gia vào việc xác định cấu tạo địa danh, nhưng thành tố chung vẫn có một vai trò vô cùng quan trọng trong việc xác định thành tố riêng Do trong một số trường hợp, việc xác định thành tố A hay thành tố B là địa danh rất khó Trong một số trường hợp thì phải dựa vào thành tố A thì mới giải nghĩa được
Ví dụ: Bến Dưới hay bến Dưới
Sông Bỏ Bụt, đượng Bỏ Bụt
Như vậy phức thể địa danh là gì ?
Khi nghiên cứu về tên gọi của đối tượng này thì các nhà nghiên cứu lại
có nhiều cách gọi khác nhau như: từ chung, yếu tố chung, danh từ chung, thành tố A, thành tố chung…
Khi đề cập vấn đề này, A V Superaskaja cho rằng: “ là những tên gọi chung liên kết với đối tượng địa lý với mọi vật khác của thế giới thực hiện,
Trang 37chúng được diễn đạt bằng các danh từ chung vốn được dùng để gọi tên và để xếp loại các đối tượng này kiểu có cùng đặc điểm nhất định”
Lê Trung Hoa đưa ra nhận xét như sau: “Các địa danh ở Nam Bộ có một đặc điểm nổi rõ rất dễ nhận thấy, đó là sự xuất hiện hàng loạt thành tố chung chẳng hạn Gò: gò Công, gò Vấp, gò Quan…; Cái: cái Răng, cái Mơn, cái Sắn…” [21, tr.69]
Theo Nguyễn Kiên Trường: “Như chúng ta đã biết, địa danh mang trong mình hai thông tin: A, đối tượng được gọi tên thuộc loại hình địa lý nào (đồi, sông, làng …) thể hiện qua ý nghĩa của danh từ chung; B, có nghĩa nào đó (phản ánh điều gì đó) thể hiện qua tên riêng (ví dụ làng Kênh Hữu vì ở bên phải của dòng sông) ”
Còn theo Hoàng Tất Thắng: “Tên chung là tên gọi, thường gắn với một lớp đối tượng cùng loại, còn tên riêng là tên gọi cho một đối tượng cá biệt, đơn nhất và xác định”
Như vậy, chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản nhất về phức thể địa danh như sau: phức thể địa danh là cụm từ gồm hai thành tố (thành tố A và thành tố B), trong đó mỗi thành tố có một vị trí, vai trò và chức năng xác định khác nhau
2.1.2 Mô hình cấu trúc phức thể địa danh thị xã Quảng Yên
Phức thể địa danh thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh cũng như tất cả địa danh ở các địa phương khác, được cấu tạo bởi hai bộ phận là thành tố chung và thành tố riêng (địa danh) Vấn đề quan hệ giữa thành tố chung (A)
và thành tố riêng (B) trong phức thể địa danh, phần lớn các tác giả đều thống nhất cho rằng: (A) là cái được hạn định và (B) là cái hạn định Như (A) biểu thị một loạt các đối tượng có cùng thuộc tính, còn thành tố (B) là cái hạn định, được dùng để chỉ những đối tượng cụ thể, được xác định trong lớp đối tượng
mà thành tố (A) chỉ ra
Trang 38Ví dụ: trong thôn Đồng Mát thì cái được hạn định là thôn, còn cái hạn định là Đồng Mát
Dựa vào kết quả điều tra, số lượng thành tố chung và thành tố riêng được thể hiện ở bảng như sau:
Bảng 2.1: kết quả thống kê thành tố chung của thị xã Quảng Yên
Trang 39Từ kết quả thống kê thị xã Quảng Yên, chúng tôi không tìm thấy có thành tố riêng nào lớn hơn 4 yếu tố
Qua kết quả thống kê về các yếu tố trong thành tố chung và thành tố riêng của thị xã Quảng yên, chúng tôi đưa ra mô hình cấu trúc phức thể địa danh thị xã Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh như sau:
Nghĩa trang nhân dân thị xã Quảng Yên
2.2 VẤN ĐỀ THÀNH TỐ CHUNG
2.2.1 Vài nét về khái niệm
Khi nhận định về cấu trúc của một phức thể địa danh các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng một phức thể địa danh bao giờ cũng có hai bộ phận,
bộ phận thứ nhất đi trước có chức năng gọi tên và chỉ vật và chỉ lớp sự vật, đối tượng có cùng thuộc tính (sông, núi, ao, hồ, làng, xã…)
Thành tố chung được A V Superanskaja khái quát như sau: “Là những tên gọi chung liên kết các đối tượng địa lý với mọi vật khác của thế giới hiện thực, chúng được diễn đạt bằng các danh từ chung vốn được dùng
để gọi tên và để xếp loại các đối tượng này kiểu có cùng đặc điểm nhất định”
Còn tác giả A I Popov lại quan niệm rằng “Bất cứ hiện tượng hàng loạt nào trong toàn bộ địa danh cần được nghiên cứu cẩn thận, vì các yếu tố lặp lại
Trang 40thường biểu hiện thể, giống của địa danh và cũng là đặc trưng của ngôn ngữ” [38, tr.57]
Theo từ điển tiến Việt Hoàng Phê thì danh từ chung được định nghĩa như sau: “Danh từ chung dùng để gọi cùng một loại tên như nhau những sự vật thuộc cùng một loại” [26]
Theo Phạm Xuân Đạm: “Thành tố chung có chức năng gọi tên và chỉ lớp
sự vật, đối tượng cùng thuộc tính Thành tố chung vừa mang ý nghĩa về mặt hình thức - tạo nên chỉnh thể của phức thể địa danh lại vừa mang ý nghĩa về mặt nội dung - xác định loại hình của đối tượng được gọi tên” [4]
Từ Thu Mai viết trong luận án của mình như sau: “ sự kết hợp hai bộ phận trong cấu trúc tồn tại của địa danh sẽ tạo nên một cụm từ - phức thể địa danh Trong đó, các danh từ (danh ngữ) chỉ loại chung luôn đi trước tên riêng
và có chức năng là một thành tố trong cụm từ Vì thế có thể gọi nó là một
2.2.2 Cấu tạo thành tố chung trong địa danh thị xã Quảng Yên
Đối với địa danh nhân văn gồm một nhóm chung chỉ các công trình xây dựng, nhưng được chia làm hai nhóm nhỏ:
Nhóm chỉ các công trình xây dựng thiên về tâm linh, văn hóa tinh thần (đình, chùa, miếu, nghĩa trang…)
Nhóm chỉ các công trình xây dựng thiên về sản xuất vật chất (đường, cầu, cống, đập,…)