2.2 Nhiệm vụ Với những mục đích nêu trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau: - Nêu lên một số vấn đề lý luận: Nguyên tắc, phơng pháp nghiên cứu cơbản, các yêu cầu đối với ngời nghiên c
Trang 1
Bộ Giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh - -
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo khoaNgôn ngữ Trờng Đại học Vinh Đặc biệt, tôi xin cảm ơn giáoviên hớng dẫn: PGS - TS Phan Mậu Cảnh đã tận tình giúp đỡtôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn quý cơ quan: Trung tâm thôngtin th viện Thanh Hoá, th viện huyện Nga Sơn, các phòng
1
Trang 3
Mục Lục Trang Mở đầu 1
1 Lớ do chọn đề tài 1
2 Mục đớch và nhiệm vụ nghiờn cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiờn cứu 3
4 Lịch sử vấn đề 3
5 Phương phỏp nghiờn cứu 8
6 Những đúng gúp của đề tài 9
7 Kết cấu của luận văn 9
Chơng 1: Vấn đề địa danh và địa danh ở Nga Sơn 10
1.1 Vấn đề địa danh và địa danh học 10
1.1.1 Cơ sở lý luận về địa danh và địa danh học 10
1.1.2 Mối quan hệ giữa địa danh học với các ngành khác16
1.1.3 ý nghĩa của việc nghiên cứu địa danh 20
1.2 Địa danh Nga Sơn - những vấn đề liên quan 21
1.2.1 Khái quát về Huyện Nga Sơn 21
1.2.2 Địa danh Nga Sơn - Kết quả thu thập và phân loại 26
1.3 Tiểu kết 35
Chơng 2: Đặc điểm cấu tạo, phơng thức định danh và ý nghĩa của địa danh Nga Sơn 37
2.1 Đặc điểm cấu tạo37
2.1.1 Khái niệm cấu tạo 37
2.1.2 Mô hình cấu tạo địa danh Nga Sơn 38
2.1.3 Thành tố A (thành tố chung) 42
2.1.4 Thành tố B 59
2.2 Quan hệ Ngữ pháp trong cấu tạo địa danh 62
2.2.1 Quan hệ chính phụ 62
2.2.2 Quan hệ đảng lập 64
2.2.3 Quan hệ chủ vị 65
2.3 Các phơng thức cấu tạo địa danh 66
2.3.1 Phơng thức tự tạo 68
2.3.2 Phơng thức ghép 70
2.3.3 Phơng thức chuyển hoá72
2.3.4 Phơng thức vay mợn 76
2.3.5 Phơng thức rút gọn 77
3
Trang 4
2.3.6 Phơng thức dựa vào những câu chuyện huyền thoại, truyền thuyết dân gian 77
2.4 ý nghĩa của địa danh Nga Sơn 81
2.4.1 Vấn đề ý nghĩa đợc phản ánh trong địa danh 81
2.4.2 Các nhóm nội dung đợc phản ánh trong địa danh Nga Sơn 82
2.5 Tiểu kết 89
Chơng 3: Đặc điểm ngôn ngữ - văn hoá thể hiện trong địa danh Nga Sơn 91
3.1 Mối quan hệ ngôn ngữ và văn hoá 91
3.1.1 Về khái niệm văn hoá 92
3.1.2 Về mối quan hệ ngôn ngữ - văn hoá92 3.2 Một số đặc điểm văn hoá huyện Nga Sơn thể hiện trong địa danh 95
3.2.1.Đặc điểm văn hoá thể hiện qua dấu ấn của tôn giáo trong địa danh 95
3.2.2 Đặc điểm văn hoá qua dấu ấn tín ngỡng trong địa danh 99
3.2.3 Đặc điểm văn hoá thể hiện qua địa danh chỉ làng nghề 105
3.2.4 Đặc điểm văn hoá thể hiện qua địa danh chỉ nền văn minh nông nghiệp 107
3.2.5 Đặc điểm văn hoá thể hiện qua địa danh liên quan đến lịch sử 108
3.3 Tiểu kết 111
Kết luận 113
Tài liệu tham khảo 117
Phụ lục
Mở đầu
1 Lớ do chọn đề tài
1.1 Nghiên cứu địa danh là nghiên cứu tên đất trên các mặt từ nguyên,
mặt xã hội, đồng thời chỉ ra qui tắc cấu tạo của địa danh, nhằm thiết thực phục
vụ cho việc nghiên cứu ngôn ngữ học và các ngành khác (văn hoá học, xã hội học, dân tộc học, văn học…).)
Địa danh là một trong những chứng cứ quan trọng để tìm hiểu quá trình hình thành của một bộ tộc, một dân tộc ở các mặt địa lý, tổ chức xã hội…).qua các thời kì; “là những di chỉ khảo cổ không nằm trong lòng đất”, là những “vật hoá thạch ngôn ngữ minh chứng về văn hoá, lịch sử, ngôn ngữ”{79} Nhờ địa danh ngời ta có đợc hiểu biết về sự giao tiếp và sự bảo lu ngôn ngữ, về quá
4
Trang 5
trình lịch sử văn hoá, của một địa bàn, một dân tộc; những vấn đề về lãnhthổ, lãnh hải, vấn đề chủ quyền quốc gia,
1.2 Địa danh là đơn vị đợc cấu tạo từ chất liệu ngôn ngữ, là biểu hiện của
ngôn ngữ Địa danh là một phần của từ vựng, thuộc đối tợng nghiên cứu của từvựng học Địa danh còn sự tác động của các quy luật ngữ âm nên còn đối tợngnghiên cứu của ngữ âm học Địa danh cũng đợc cấu tạo theo các phơng thứccấu tạo từ, cấu tạo cụm từ nên cũng còn là đối tợng mà ngữ pháp học quantâm Ngoài ra, địa danh còn có quan hệ chặt chẽ với phơng ngữ học, ngôn ngữhọc so sánh, ngôn ngữ học lịch sử Vì vậy, những kết quả nghiên cứu địadanh sẽ góp phần soi sáng nhiều mặt cho các chuyên ngành khác của ngônngữ học
1.3 Nằm trong khu vực nền văn minh sông Mã, Nga Sơn là một vùng đất
Việt cổ có truyền thống văn hoá lâu đời và giữ một vai trò quan trọng của XứThanh Đồng hành cùng lịch sử dân tộc, trải qua hàng ngàn năm xây dựng,khai phá và phát triển trên mảnh đất giàu truyền thống, mỗi ngọn núi, đámruộng, thửa vờn, tên đất, tên làng, nơi nào cũng hằn sâu dấu vết lịch sử, vănhoá, chỗ nào cũng lung linh những kỳ tích xây dựng và đấu tranh hào hùngcủa cha ông Đó là một gia tài văn hoá to lớn mà nhân dân Nga Sơn đã sángtạo, giữ gìn, không ngừng bổ sung, hun đúc trong lịch sử phát triển của mình,
để đến bây giờ trở thành một kho vô giá, một truyền thống đặc sắc, tốt đẹp màmọi ngời dân Nga Sơn đều có quyền tự hào Vì vậy, nghiên cứu địa danh NgaSơn Thanh Hoá góp phần vào việc tìm hiểu đặc điểm trong cách đặt tên của mộtvùng địa lý dân c, những đặc trng của đời sống văn hoá tinh thần thể hiện qua
địa danh đó,đồng thời làm phong phú thêm nguồn t liệu về Nga Sơn - một vùng
đất mang đậm dấu ấn lịch sử, văn hoá Xứ Thanh
2 Mục đớch và nhiệm vụ nghiờn cứu
Trang 6
- Qua khảo sát, thu thập số liệu, qua điều tra điền dã, bớc đầu nêu lên mộtvài ý kiến trong việc tìm hiểu địa danh dới góc độ ngôn ngữ tại một địa bàn làNga Sơn
- Khảo sát đặc điểm phơng thức định danh, cấu tạo nguồn gốc, ý nghĩa,cách thức định danh
- Từ góc nhìn ngôn ngữ, qua các lớp địa danh, góp phần tìm hiểu thêm vềcác mặt phơng ngữ, văn hoá, lịch sử của Nga Sơn, từ đó làm phong phú thêmnhững đặc trng ngôn ngữ, văn hoá của Xứ Thanh
- Góp phần nhỏ bé trong việc từng bớc hớng đến khảo sát toàn bộ địadanh trên lãnh thổ Việt Nam
2.2 Nhiệm vụ
Với những mục đích nêu trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nêu lên một số vấn đề lý luận: Nguyên tắc, phơng pháp nghiên cứu cơbản, các yêu cầu đối với ngời nghiên cứu và quá trình nghiên cứu địa danh, vịtrí của địa danh, mối quan hệ của địa danh học với các ngành khoa học khác
- Khảo sát một số đặc điểm cơ bản của địa danh nh: Khảo sát các phơngthức định danh , đối sánh cách thức định danh một số địa bàn để tìm hiểu nétchung và riêng của địa danh Nga Sơn Tìm hiểu đặc điểm về mặt cấu tạo của
địa danh, giải thích nội dung nghiên cứu địa danh, để qua đó thấy đợc mốiquan hệ giữa văn hoá và ngôn ngữ, đồng thời hiểu đợc ý nghĩa của tên gọi địadanh
- Đề xuất một số ý kiến về cách thức định danh cho các đối tợng địa lýtrên địa bàn, đặc biệt là với các địa danh đặt theo ngôn ngữ địa phơng
3 Đối tượng và phạm vi nghiờn cứu
3.1 Đối tợng nghiên cứu của luận văn là t liệu điều tra thực tế địa danh
trên địa bàn huyện Nga Sơn, bao gồm đối tợng tự nhiên (sông, suối, núi,
đồi…).), địa lý nơi c trú (thôn, xóm, xã, ) Su tầm cả những câu ca dao, tụcngữ, truyện kể dân gian chứa đựng yếu tố địa danh, trên địa bàn huyện NgaSơn Tổng số địa danh đã đợc su tầm ở địa bàn Nga Sơn là 5493 đơn vị
3.2 Khảo sát các loại địa danh trên địa bàn trên phạm vi hành chính hiện
hành, dựa trên các tài liệu đã thu thập đợc(bao gồm điều tra thực tế, trên sáchbáo), các nhân chứng…) ớc đầu dựng nên bức tranh toàn cảnh về địa danhBhuyện Nga Sơn
4 Lịch sử vấn đề
6
Trang 7
4.1 Việc nghiên cứu địa danh trên thế giới
Việc nghiên cứu địa danh đã xuất hiện tứ rất lâu ở cả phơng Đông và
ph-ơng Tây Tuy nhiên chỉ đến thế kỉ XIX, địa danh học mới đợc nghiên cứu với
t cách là bộ môn khoa học độc lập với hệ thống các đối tợng, phơng pháp,nghiên cứu và lý thuyết riêng
ở Trung Quốc, nhiều sách lịch sử, địa chí thời cổ đã ghi chép về địadanh, trong đó có không ít địa danh đợc lí giải cụ thể, nh Ban cố thời Đông
Hán (25 -92), đã ghi chép hơn 4000 địa danh trong Hán Th (một số trong đó
đợc thuyết minh lý do gọi tên và quá trình diễn biến) Thời Bắc Nguỵ
(446?-527), Lê Đạo Nguyên ghi chép trên 2 vạn địa danh trong Thuỷ kinh chú, trong
đó số địa danh giải thích là trên 2000
ở phơng Tây, từ điển địa danh đầu tiên xuất hiện ở ý vào thế kỉ XVII, nhngphải sang thế kỉ XIX mới xuất hiện các công trình nghiên cứu có tính chất lí luận
cao nh Địa danh học (1872) của j.j Egli ngời Thuỵ Sĩ ; của j.w Nagl ngời áo
cũng có cuốn Địa danh học (1903); Từ địa điểm hay sự minh hoạ có tính nguyên
lai về lịch sử, dân tộc học và địa lí học(1864) của Isac Taylor
Sang thế kỉ XX, việc nghiên cứu về địa danh tiếp tục đạt đợc nhữngthành tựu mới trong đó các nhà nghiên cứu đã cố gắng xây dựng một hệ thống
lý thuyết về địa danh Có thể kể đến Atlat ngôn ngữ Pháp của J Gilénon tìm hiểu địa danh dới góc độ địa lý học hay Nguồn gốc và sự phát triển của địa danh của A.Dauzat đề xuất phơng pháp văn hoá - địa lý học để nghiên cứu các lớp niên đại của địa danh Năm 1948, ông lại cho xuất bản Địa danh học Pháp Năm 1963, chính Dauzat, A.Rostaing Ch lại cho ra đời cuốn Từ điển ngữ nguyên học các địa danh ở Pháp.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của việc nghiên cứu địa danh, năm 1890,
Uỷ ban địa danh nớc Mỹ (BNG) đợc thành lập; Năm 1902, Uỷ ban địa danh Thuỵ Điển ra đời và năm 1919 đến lợt Uỷ ban địa danh nứơc Anh (PCGN) đợc
ớng nghiên cứu địa danh học (1964) của E.M.Muraev; Đặc biệt, tác giả
7
Trang 8
A B.Xu-pen-ran-xkai-a có Những nguyên lý của đại danh học (1964) và Địa
danh là gì?(1985) Đây là hai công trình mang tính tổng hợp, trình bày toàn
diện những kết quả nghiên cứu địa danh Từ đó cho đến nay, địa danh ngàycàng đợc các nhà khoa học thuộc nhiều nghành khác nhau quan tâm nghiêncứu Đi cùng với nó, đối tợng, tính chất, phơng pháp nghiên cứu địa danh họccũng ngày càng đợc mở rộng, hoàn thiên cả về lý luận và thực tiễn
4.2 Việc nghiên cứu địa danh ở Việt Nam
ở Việt Nam, nhiều tài liệu liên quan đến địa danh cũng xuất hiện khásớm Từ đàu thế kỉ XX đã có một số công trình tổng hợp, khảo cứu địa danh,nhng những công trình nghiên cứu trớc đây chủ yếu chỉ dừng lại ở góc độ địalý- lịch sử nhằm tìm hiểu đất nớc con ngời từ một góc độ nào đó đồng thời cáctài liệu Tiền Hán Th, Hậu Hán Th, Tấm Th…).Và thời Bắc thuộc cũng đã đềcập đến địa danh Việt Nam
Sang thế kỉ XIV trở đi, những suy nghĩ, tìm hiểu về địa danh mới đợc cácnhà nghiên cứu nớc ta quan tâm một cách đặc biệt, nghĩa là thống kê ghi chép,miêu tả các đặc điểm, thuộc tính của địa danh Với những tác phẩm tiêu biểu
nh: D địa chí của Nguyễn Trãi (1380 - 1442); Đại Việt sử kí toàn th của Ngô
Sĩ Liên (Thế kỉ XV); Ô cận châu lục của Dơng Văn An (Thế ki XVI); Phủ
biên tạp lục của Lê Quý Đôn (thế kỉ XVIII); Lịch triều hiến chơng loại chí
của Phan Huy Chú (thế kỉ XIX); Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài
Đức (1765- 1825); Đại Nam nhất thống chí ( cuối thế kí XIX); Đồng Kháng
d địa chí (cuối thế kỉ XIX); Phơng Đình d địa chí của Nguyễn Hán Siêu…)
ở góc độ ngôn ngữ học, thì vấn đề địa danh xuất hiện muộn hơn (khoảng
thập kỉ 60 của thế kỉ XX), Có thể kể đến các bài viết: Đất nớc Việt Nam qua các đời của Đào Duy Anh{3}, đã làm sáng rõ quá trình xác lập, phân định
lãnh thổ và từng khu vực, trong đó địa danh là một trong những chứng cớ quan
trọng.Với Mối liên hệ ngôn ngữ Cổ Đại ở Đông Nam á qua một vài tên sông
(1964) Hoàng Thị Châu{26} là ngời đầu tiên nghiên cứu địa danh trên bình
diện ngôn ngữ học Rồi tác giả Đinh Văn Nhật đề cập nhiều đến vấn đề vậndụng địa danh nhng chủ yếu dới góc độ lịch sử Đặc biệt Nguyễn Văn Âu{5}
với Địa danh Việt Nam,{7}Một số vấn đề về địa danh học ở Việt Nam và Trần
Thanh Tâm{63}{64} Thử bàn về địa danh Việt Nam đã tập trung ý kiến vào
phần lý luận của địa danh học cũng nh đa ra nhng nét khái quát về địa danh và
địa danh hoc Việt Nam, Nguyễn Quang Ân {4}với Việt nam những thay đổi
8
Trang 9
địa danh và địa giới các đơn vị hành chính 1945-1997, đã trình bày một cách
cụ thể quá trình thay đổi địa danh ở nớc ta (đến xã , phờng, thị trấn) trong hơn
50 năm qua kể từ ngày đất nớc giành đợc độc lập…)
Trong thập niên cuối của thế kỉ XX, địa danh học Việt Nam đã đạt đợcnhiều thành tựu với các công trình nghiên cứu địa danh trên một địa bàn cụthể với những nét đặc trng của nó thuộc bình diện ngôn ngữ học hai luận án
PTS: Những đặc điểm chính của điạ danh Thành phố Hồ Chí Minh (1990) của
Lê Trung Hoa{45}, và Những đặc điểm chính của địa danh Hải Phòng (1996)
của Nguyễn Kiên Trờng{80} Hai công trình này tuy trình bày theo hai cáchkhác nhau ( cách phân loại, về nguyên tắc) nhng đều đề cập đến những vấn đềcơ bản khi nghiên cứu địa danh Về phơng diện nội dung tác giả đã tìm ra đợcnhững giải pháp nhằm giải thích đợc cấu tạo, ý nghĩa của một số địa danh.Không những thế, họ còn giait thích đợc nguồn gốc và sự biến đổi của Ngoài
ra, các tác giả còn trình bày một số khía cạnh của vấn đề khi nghiên cứu địadanh và trình bày cụ thể về địa danh ở một số địa phơng khác Có thể xem cácbài viết {45}{46}{47}{48}{49}{50}của Lê Trung Hoa; {78}{79} {80}{81}của Lê Kiên Trờng Theo hớng tiếp cận địa lý - lịch sử - văn hoá, Nguyễn Văn
Âu đã có công trình “Một số vấn đề địa danh học Việt Nam” (2000)…).lànhững công trình có giá trị đã nghiên cứu lý giải, khái quát một số đặc điểm
chính của địa danh Việt Nam Các luận án TS: Nghiên cứu địa danh Quảng Trị (2003) của Từ Thu Mai; Những đặc điểm chính của địa danh Đak Lak
(2004) của Trần Văn Dũng, Khảo sát địa danh Nghệ An (2005) của Phan
Xuân Đạm Năm 2000, Trần Trí Dõi đã công bố hàng loạt bài viết {30}{31}
{32} về địa danh theo khuynh hớng so sánh- lịch sử Đó là các bài viết: “Về
địa danh Cửa Lò , Về một vài địa danh, tên riêng gốc Nam Đảo trong vùng” “
Hà Nội xa , Không gian ngôn ngữ và tính” “ kế thừa đa chiều của địa danh (qua phân tích một vài địa danh ở Việt Nam)”, 2001, và Vấn đề địa danh“
biên giới Tây Nam: Một vài nhận xét và những kiến nghị”(2001) Còn có một
số bài viết về địa danh ở từng vùng cụ thể, nh: Nguyễn Nhã Bản - Trịnh thị
Nh Thuỳ{16} với Về địa danh Hội An Phan Xuân Đạm- Nguyễn Nhã Bản
Địa danh Nghệ Tĩnh trong thơ ca dân gian Trần Văn Phơng với Những
đặc điểm chính về địa danh Nghi Lộc - Cửa Lò, Nghệ An Đặc biệt cuốn Sổ
tay địa danh Việt Nam của Nguyễn Dợc - Trung Hải {34} và Đinh Xuân
Vịnh {84}, đã tập trung giải thích một cách cụ thể các địa danh của Việt
9
Trang 10
Nam Ngoài ra cũng phải kể đến hàng loạt các luận văn Thạc sĩ của họcviên các trờng Đại học trong cả nớc về tìm hiểu địa danh ở cấp huyện, thịxã, thành phố…)
4.3 Vấn đề nghiên cứu địa danh ở huyện Nga Sơn - Thanh Hoá
Cho đến nay, ở nớc ta cha có nhiều công trình đi sâu vào nghiên cứu địadanh trên địa bàn huyện ở tỉnh Thanh Hoá địa danh chủ yếu đợc thống kê,tập hợp dới góc nhìn địa lý, lịch sử, thể hiện rải rác trong một số công trình:
Địa chí Thanh Hoá(2000); Tên làng xã Thanh Hoá Đối với huyện Nga Sơn
cha có sự tập hợp t liệu, phân tích, lý giải địa danh một cách cụ thể Vì vậynghiên cứu địa danh Nga Sơn dới góc độ ngôn ngữ học rõ ràng là một hớngtiếp cận mới mẻ Dù năng lực của bản thân còn hạn chế, nội dung vấn đề lớn,
địa bàn nghiên cứu rộng, song tôi muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bécủa mình trong tiến trình tìm hiểu, nhận diên những giá trị truyền thống củaquê hơng
5 Phơng pháp nghiên cứu
- Phần t liệu thu thập để thực hiện việc nghiên cứu các đặc điểm của địadanh huyện Nga Sơn bao gồm các nguồn t liệu sau:
5.1 Phơng pháp thu thập và sử lý t liệu
5.1.1 T liệu điều tra điền dã
- Trực tiếp tìm hiểu, điều tra ở 1 thị trấn và 26 xã ( trong đó có 8 xã vùng biển)
- Phiếu điều tra thăm dò địa danh đối với học sinhh các trờng THPT: Ba
Đình, Đinh Công Tráng, Mai Anh Tuấn, Trần Phú
5.1.2 T liệu trong sách báo
- Những bài viết liên quan đến địa danh Nga Sơn
- Những bài ca dao tục ngữ, truyền thuyết, lịch sử
- Sắc chỉ, gia phả, văn bia…) Đã đợc dịch ra Tiếng Việt (nếu có)
5.1.3 T liệu khác
- Bản đồ hành chính huyện Nga Sơn
- Tranh ảnh các loại có liên quan
- Danh bạ điện thoại
5.2 Phơng pháp thống kê
- Thống kê sắp xếp t liệu theo tiêu chí loại hình
- Khảo sát, đối chiếu từng đề mục để thực hiện nhiệm vụ của đề tài
10
Trang 11
5.3 Phơng pháp miêu tả, phân tích, tổng hợp
- Miêu tả: Miêu tả Các đặc điểm của đối tợng địa danh
- Phân tích: Phân tích các đặc điểm hình thức, cấu tạo, các loại ngữ nghĩacủa địa danh
- Tổng hợp: Là sự khái quát một số đặc điểm cơ bản của địa danh
6 Những đóng góp của đề tài
Luận văn có những đóng góp sau:
- Là công trình khoa học đầu tiên đi sâu nghiên cứu về địa danh Nga Sơn
ở cả phơng diện lý thuyết lẫn thực tế, luận văn của chúng tôi bớc đầu sẽ trìnhbày, thống kê tạo dựng bức tranh tổng quát về hệ thống địa danh trên địa bànhuyện
- Tìm hiểu cấu tạo, phơng thức định danh, mối quan hệ ngôn ngữ, vănhoá với vấn đề địa danh ý nghĩa của địa danh gắn với sự kiện lịch sử văn hoá
địa phơng
- Nghiên cứu trên cả hai phơng diện cả lý thuyết và thực tế để cung cấpmột cái nhìn mới mẻ dới góc nhìn ngôn ngữ về địa danh, từ đó góp nguồn tliệu quý cho việc nghiên cứu tìm hiểu các mặt văn hoá, lịch sử, địa lý, ở địaphơng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, phầnnội dung chính gồm 3 chơng
Chơng 1: Vấn đề địa danh và địa danh Nga Sơn.
Chơng 2: Đặc điểm cấu tạo, phơng thức định danh và ý nghĩa của địa
danh Nga Sơn
Chơng 3: Một số đặc điểm văn hoá thể hiện qua địa danh Nga Sơn.
11
Trang 12
Chơng 1 Vấn đề địa danh và địa danh Nga Sơn
1.1 Vấn đề địa danh và địa danh học
1.1.1 Cơ sở lý luận về địa danh và địa danh học
1.1.1.1 Khái niệm về địa danh
Vấn đề định nghĩa địa danh cho đến nay vẫn còn thiếu nhất quán, mặc dùmọi ngời đều hiểu địa danh là tên gọi, đối tợng địa lý hay cụ thể hơn là tên đất
nh là chấp nhận một điều hiển nhiên Theo Đào Duy Anh {1}(Hán Việt từ
điển) thì “Địa danh là tên các miền đất”
Nguyễn Văn âu {7}: “Địa danh là tên địa lý các địa phơng; địa danh học
là một môn khoa hoc chuyên nghiên cứu về tên địa lý các địa phơng”
Lê Trung Hoa {45} đa ra dịnh nghĩa: “Địa danh là những từ hoặc ngữ cố
định; đợc dùng làm tên riêng của địa hình thiên nhiên, các công trình xâydựng, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ Trớc địa danh có thể đặt mộtdanh từ chung chỉ tiểu loại địa danh đó”
Nguyên Kiên Trờng {80} Thì cho rằng: “Địa danh là tên chỉ các đối tợng
địa lý tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái đất”
Các định nghĩa trên đều nêu đợc nét chung cơ bản của địa danh nhng cònmột một số chỗ cha thoả đáng các định nghĩa của Lê Trung Hoa cho rằng
“Địa danh là những từ hoặc ngữ cố định…).” Trong thực tế, tính cố định của
địa danh chỉ mang tính tơng đối Có nhiều địa danh biến đổi do những nguyênnhân trong và ngoài ngôn ngữ Định nghĩa của Nguyễn Văn Âu đã nêu đợcnhựng nét khái quát nhất Tuy nhiên, tác giả cha đề cập đến những đối tợng docon ngời kiến tạo mà chủ yếu chỉ đề cập đến những đối tợng tự nhiên NguyễnKiên Trờng thì đặt vấn đề các đối tợng địa lý của địa danh phải “Có vị trí xác
t-12
Trang 13
1.1.1.2 Những vấn đề của địa danh học
Địa danh học là một bộ phận của ngôn ngữ học nằm trong từ vựng học.Những vấn đề của địa danh học bao gồm:
a- Vấn đề chức năng của địa danh
Chức năng cơ bản của địa danh là định danh và cá thể hoá đối tợng, phản
ánh hiện thực, làm công cụ giao tiếp Địa danh là tên gọi đối tợng địa lý (tự nhiênhoặc nhân văn) do vậy địa danh có chức năng định danh sự vật.Tuy nhiên, vì làtên gọi nên địa danh còn mang chức năng của danh từ riêng là cá thể hoá đối t -ợng Nhờ vào các chức năng này, địa danh giúp con ngời khu biệt đối tợng đểthực hiện tốt chức năng giao tiếp Và do vậy, địa danh đã trở thành một bộ phậnngôn ngữ cần thiết, không thể tách rời đời sống của chúng ta
Mặc dù các chủ thể đặt tên và gọi tên không có ý đồ thật rõ ràng về việcgán cho địa danh chức năng phản ánh hiện thực, nhng dấu ấn mà họ gửi vào
địa danh đã phản ánh sự tồn tại khách quan, ít nhất ở thời điểm ra đời của địadanh Ví dụ: cửa biển Thần Phù, núi Trích Chợ, chợ Hồ Vơng
Bên cạnh chức năng định danh, địa danh còn có chức năng phản ánh lịch
sử Mỗi địa danh hoặc một lớp địa danh đều ra đời trong một hoàn cảnh lịch
sử xã hội nhất định, do đó nó thể hiện rõ chức năng phản ánh lịch sử ở địa
ph-ơng Nhiều địa danh ở Nga Sơn đã ghi nhận một sự kiên, một biến cố lịch sử,ghi danh một vị anh hùng hoặc một ngời có vai trò đặc biệt quan trọng trongmột hoàn cảnh lịch cụ thể Chẳng hạn: tiểu khu Ba Đình: Khởi nghĩa BaĐỡnh là một trong cỏc cuộc khởi nghĩa của phong trào Cần Vương cuối thế kỷ
19 của nhõn dõn Việt Nam chống lại ỏch đụ hộ của thực dõn Phỏp, diễn ra vàonăm 1886-1887 tại Ba Đỡnh, huyện Nga Sơn; Đền thờ Nguyễn Thị Hoa: là địadanh ghi tên dấu ấn của nữ tớng ngời Nga Sơn dới thời Bà Triệu
Ngoài ra, địa danh còn có phản ánh đặc điểm văn hoá của một vùng dân
c (làng Hậu Trạch, chợ Hồ Vơng, bến Chính Đại, phủ Liễu Hạnh)
b- Vấn đề phân loại địa danh
Phân loại địa danh cũng là một vấn đề khá phức tạp, do cha có sự thốngnhất về cách phân loại cũng nh sự khác nhau về mục đích và phơng diênnghiên cứu
Nh đã nói ở trên, vấn đề địa danh đã đợc quan tâm từ rất sớm nhng trớc
đây các nhà nghiên cứu chủ yếu làm công việc miêu tả đối tợng địa lý và giải
13
Trang 14
thích ý nghĩa từ vựng Có rất nhiều tác giả, nhiều công trình đã đặt vấn đề giảithích của địa danh nh là mục đích nghiên cứu do cha có đầy đủ về cơ sở lýthuyết cung nh cha có một phơng pháp nghiên cứu thích hợp nên việc tìm hiểu
địa danh đôi khi sa vào lối phân tích từ nguyên học dân gian, dẫn đến sự sailạc trong nghiên cứu
Từ thế kỉ XIX trở đi, trên cơ sở ra đời của địa danh học, ngời ta mới chútrọng đến yếu tố ngôn ngữ và xem ngôn ngữ là phơng tiện chủ yếu để nghiêncứu đối tợng này
Địa danh học phơng Tây và Xô Viết phân loại địa danh theo hai tiêu chí:a) Nguồn gốc ngữ nguyên cấu thành địa danh b) Đối tợng mà địa danh phản
ánh Các nhà nghiên cứu địa danh Việt Nam dựa trên ý kiến của các nhànghiên cứu nớc ngoài đã cố gắng tìm ra cách tiếp cận mới Chung quy lại cónhững cách phân loại nh sau:
Theo Lê Trung Hoa {45} và Nguyễn Kiên Trờng {80} thì các nhà địadanh học Pháp thờng trình bày địa danh theo lớp ngữ nguyên hoạc đối tợngphản ánh
- Dauzat trong La toponymie Francaise thì cho rằng các địa danh cụ thể
đ-ợc chia làm bốn phần( theo bón hớng ngữ nguyên)
1) Vấn đề cơ sở tiền ấn - Âu
2) Các danh từ tiền La Tinh về nớc trong thuỷ danh học
3) Các từ nguyên Gôloa- La mã
4) Địa danh học Gôloa- La mã của vung Auvergne và Velang
- Ch.Rostaing trong Les noms des lims nghiên cứu các vấn đề:
1) Nhng cơ sở tiền ấn - Âu
2) Các lớp tiền Xen- Tich
3) Lớp Gôloa
4) Những phạm vi Gôloa - La mã
5) Các sự hình thành Lamã
6) Những đóng góp của tiếng Giéc-manh
7) Các hình thức của thời phong kiến
8) Những danh từ có nguồ gốc tôn giáo
9) Những hình thái hiện đại
10) Các địa danh và tên đờng phố
11) Tên sông và núi
14
Trang 15
Cách phân loại thành 11 nhóm trên đây còn thiếu tính hệ thống
Một số nhà nghiên cứu địa danh Xô Viết lại đa ra cách phân loại địa danhtheo nội dung biêu thị Có thể nhận ra điều này qua bảng phân loại sau đây:
- G.P.Xmo-li-xnai-a và M.V.Gor-ba-nep-xki chia địa danh thanh bốn loại:1) Phơng danh (tên địa phơng)
2) Phố danh (tên các đối tợng trong phố)
3) Sơn danh (tên nui, đồi ,gò…).)
4) Thuỷ danh (tên các dòng chảy, ao, vũng, sông…) )
- A.V.Xu-pe-ran-xkai-a lại chia địa danh thảnh bảy loại:
1) Phơng danh (tên các địa phơng)
2) Thuỷ danh (tên các dòng chảy, ao, hồ,…) )
3) Sơn danh (tên núi, đồi, gò,…).)
4) Phố danh (tên các đối tợng trong phố)
5) Viên danh (tên các quảng trờng)
6) Lộ danh (tên các đờng phố)
7) Đạo danh (tên các đờng giao thông trên đất, dới nớc, trên không)
Hai cách phân loại của các tác giả của các tác giả trên đã đa ra đợcnhững nhóm địa danh cơ bản nhất nhng vẫn cha đầy đủ
ở Việt Nam, theo tác giả Nguyễn Văn Âu {7} thì vấn đề phân loại địa
danh đã đợc Đặng Xuân Bảng nghiên cứu trong sử học bị khảo phần địa lý khảo hạ, ông đã trình bày địa danh Việt Nam theo diên cách(sự biến đổi cũ
mới) cách trình bày này giúp ta tìm hiểu đợc nguồn gốc của địa danh.Nguyễn Văn Âu phân loại địa danh theo phơng pháp địa lý tổng hợp, tức làsắp xếp địa danh thành các kiểu khác nhau, theo các đối tợng địa lý tự nhiên
và kinh tế xã hội, trong một hệ thống phân loại nhất định Hệ thống này bao
gồm ba cấp chủ yếu là: loại, kiểu và dạng địa danh Theo tác giả địa danh Việt
Nam đợc chia thành 2 loại, 7 kiểu và 12 dạng khác nhau Mỗi dạng lại có thểphân chia thành các á dạng (tức tên các đối tợng cụ thể) Ví dụ: sông(Mã,Chu, Bởi, ), suối (Lê Nin, ), hay hồ ( Tây, Ba Bể,Con Nhạn, ), đầm (Vạc),ao( Trâu), phá ; các làng nông nghiệp (làng hoa, làng khoai, làng mía, ),làng thủ công (làng chiếu, làng nón, ), các làng buôn bán( Chợ Giàu, ), cáclàng liên quan đến giao thông (Điền Hộ, Lộ Bắc ), hay các làng liên quan đếnquá khứ xa xa (làng Viềng, làng Chiềng, )
15
Trang 16
Năm 1976, Trần Thanh Tâm {63}{64} trong Thử bàn về địa danh Việt Nam đã chia địa danh Việt Nam thành 6 loại:
1) Loại đặt theo địa hình và đặc điểm
2) Loại đặt theo vị trí không gian và thời gian
3) Loại đặt theo tín ngỡng, tôn giáo,lịch sử
4) Loại đặt theo hình thái, tính chất, khí hậu
5) Loại đặt theo đặc sản, nghề nghiệp và tổ chức kinh tế
6) Loại đặt theo sinh hoạt xã hội
Tác giả Lê Trung Hoa {45} đa ra cách phân loại theo hai tiêu chí:
Tiêu chí 1: Dựa vào thuộc tính của đối tợng, tác giả chia địa danh thành hai nhóm:a) Nhóm địa danh chỉ các đối tợng tự nhiên, gồm các đối tợng địa lý tựnhiên nh núi, sông, gó, đầm, trạch,
b) Nhóm địa danh chỉ các đối tợng không tự nhiên (nhân tạo)
Tiêu chí 2: Dựa vào ngữ nguyên, tác giả chia thành hai nhóm:
a) Nhóm địa danh thuần Việt
b) Nhóm địa danh không thuần Việt
Nguyễn Kiên Trờng{80} đã đa ra 3 tiêu chí để phân loại địa danh:
Tiêu chí 1: Dựa vào thuộc tính đối tợng, tác giả chia địa danh Hải Phòng thành
2 nhóm:
a) Nhóm địa danh chỉ đối tợng địa lý tự nhiên
b) Nhóm địa danh chỉ đối tợng địa lý nhân văn
Tiêu chí 2: Dựa vào ngữ nguyên, tác giả chia địa danh Hải Phòng thành 6 loại:1) Địa danh có nguồn gốc Hán - Việt
2) Địa danh có nguồn gốc thuần Việt
3) Địa danh có nguồn gốc Pháp
4) Địa danh có nguồn gốc Tày- Thái, Việt- Mờng, Môn- Khmer, Mã Lai
Chăm-5) Địa danh có nguồn gốc hỗn hợp
6) Địa danh cha xác định đợc nguồn gốc
Tiêu chí 3: Dựa vào chức năng giao tiếp, tác giả chia ra 4 loại:
1) Loại địa danh có tên gọi chính thức do Nhà nớc đặt và có trong các vănbản hành chính
2) Loại địa danh theo cách gọi dân gian (tên quen gọi trong dân gian)
3) Loại (địa danh) tên cũ, tên cổ
16
Trang 17
4) Loại (địa danh) tên khác
Lê Trung Hoa rất chú ý đến các địa danh c trú nên có thêm địa danhvùng (tác giả đã tách địa danh vùng ra khỏi địa danh hành chính) NguyễnKiên Trờng lại rất quan tâm đến chức năng giao tiếp nên đã đa thêm cáchphân loại theo chức năng này Cách phân loại của cả hai tác giả đều rất cụ thể,chi tiết và có tính khoa học Tuy vậy, mỗi cách phân chia vẫn có một số điềucần bàn thêm, đó là cha đa ra một giải pháp phân loại có tính khái quát chungcho mọi địa bàn
Tiếp thu ý kiến của những ngời đi trớc, sẽ giúp ta thấy đợc đặc điểm cấutạo của từng địa danh, sự thay đổi, chuyển hoá của các dịa danh và ý nghĩacủa các yếu tố trong địa danh
Cũng phải nói thêm rằng, các cách phân loại trên chỉ mang tính chất tơng
đối mà thôi, miễn sao sự phân loại, phân lớp đó ứng khớp với thực tế,và có sứcbao quát nhiều đối tợng
1.1.2 Mối quan hệ giữa địa danh học với các ngành khác
Là sản phẩm của quá trình nhận thức và định danh, tên riêng nói chung
và địa danh học nói riêng còn chịu tác động của các yếu tố ngoài ngôn ngữ:
Đặc điểm quá trình tộc ngời, đặc điểm lịc sử, không khí chính trị thời đại, đặc
điểm tâm lý xã hội, trình độ Cùng với tác động của quy luật ngôn ngữ, cácyếu tố đó tạo nên đăc điểm văn hoá của địa danh
Địa danh có tính bảo lu hơn so với nhân danh, vật danh, hiệu danh, vìchúng ra đời và tồn tại gắn với cộng đồng sử dụng nó Những thông tin địadanh cung cấp cho ta nhiều tài liệu quý về dân tộc, lịch sử, văn hoá, địa lý, địa
lý, kinh tế, xã hội,
- Đối với dân tộc học, hệ thống địa danh là chứng nhân đáng tin cậy củaquá trình hình thành một cộng đồng, nơi c trú của một tộc ngời nào đấy Vídụ: Phía Bắc huyện Nga Sơn, trên bờ nam của sông Chính Đại, tại các xã: NgaPhú, Nga Thiện, Nga Giáp đã phát hiện đợc những chứng cứ vật chất về hoạt
động của con ngời từ thời đại đồ đồng, cách ngày nay khoảng 4000 năm Nhànghiên cứu văn hoá dân gian Cao Huy Đỉnh đã có cơ sở khi ông cho rằng, thờitiền sử đã có một bộ lạc định c ở cửa biển Thần Phù, sau đó thiên di lên vùngchân núi Ba Vì Di tích, lễ hội, truyền thuyết về Mai An Tiêm ở các xã venBiển phía bác Nga Sơn đã cho thấy, từ thời các vua Hùng dựng nớc Văn Lang,vùng đất này đã có hoạt động của con ngời
17
Trang 18
Nh vậy, muốn qua địa danh để tìm hiểu quá trình tộc ngời, chúng ta phảitìm hiểu theo nhiều cách nhng chủ yếu là “lột tả” đợc các thành tố chung đãcấu thành địa danh và sự phân bố của chúng Việc xác định các lớp tên gọi địa
lý, việc xác lập sự phân bố của các thành tố chung trong cấu tạo địa danh giúp
ta có thêm t liệu để tìm hiểu các vấn đề về tộc ngời Việt Nam Ngợc lại, những
cứ liệu về dân tộc học giúp địa danh học xác định đợc các lớp địa danh, ýnghĩa và nguồn gốc của chúng
- Đối với lịch sử, hệ thống địa danh đều ít nhiều ghi dấu ấn qua những sựkiện, những biến động lịch sử trên địa bàn Ví dụ: xã Ba Đình; chợ Hồ Vơng, đềnthờ Đinh Công Tráng, Qua địa danh có thể phục nguyên lại một địa bàn, mộtkhu vực địa lý nào đó mà thời gian đã làm mất đi cái ranh giới cổ xa Chẳng hạn,
địa danh núi Lã Vọng- một ngọn núi đợc thiên nhiên gọt đẽo nh hình ông LãVọng đang cần mẫn ngày đêm ngắm nhìn dòng sông chảy, tựa nh ngời ngồi câucá thờng thấy trong các tích cổ, Đồng thời qua lịch sử, ta có thể dễ dàng xác
định đợc nguồn gốc ngữ nguyên và phơng thức định danh
- Địa danh còn có liên quan trực tiếp và chặt chẽ với địa lý Qua địa danh,chúng ta biết đợc cảnh quan thiên nhiên, đặc điểm địa hình của địa bàn Địadanh giúp ta tìm kiếm một con sông, con suối, ngon núi, đặc điểm sinh thái, giúp hiểu đợc điều kiện, môi trờng cuộc sống của ngời xa Ví dụ: núi ConCóc, hang Bạch ác, làng Vạn Chài
- Địa danh và bản đồ cũng có mối quan hệ hai chiều Địa danh cung cấpcho ngời lập bản đồ cách thể hiện chữ viết, sự chuẩn mực ngôn ngữ Bản đồ lạigiúp ngời nghiên cứu địa danh tìm kiếm đối tợng mà mình quan tâm
- Địa danh còn cho biết một số thông tin về văn hoá, chính trị- xã hội, đặc
điểm tâm lý, tôn giáo, về chính sách, về sự quản lý hành chính, trong việcphân vùng lãnh thổ, điều chỉnh địa giới của chính quyền nhà nớc qua các thời
kỳ, trong xu hơng dặt tên mới thay tên cũ Đồng thời những vấn đề của xã hộihọc, văn hoá học, giúp địa danh học xác định đợc các phơng thức định danh
Trang 19
có một ngành nhỏ là Danh xng học - chuyên nghiên cứu về tên gọi Danh xnghọc lại có thể chia làm ba ngành nhỏ hơn: nhân danh học, hiệu danh học và
địa danh học Nhân danh học là chuyên nghiên cứu tên ngời gồm tên họ, tên
đệm,tên thật, tên hiệu, tên tự, bút danh, bí danh, Còn hiệu danh học làchuyên nghiên cứu tên các công sở, trờng học, nhà máy, xí nghiệp, các thơnghiệu, cửa hiệu (thiên về không gian ba chiều) Địa danh học nghiên cứu tênriêng địa lý trên các lĩnh vực, các đặc trng của chúng nh phơng thức đặt tên,cấu tạo, nguồn gốc, ý nghĩa, sự hình thành và biến đổi tên gọi của đối tợng địalý
Nh vậy, địa danh, nhân danh, hiệu danh, đều là bộ phận của danh xng, làcác đối tợng của danh xng học thuộc từ vựng học Địa danh, nhân danh, hiệudanh, nằm trong hệ thống tên riêng hợp với các từ chung tạo nên vốn từ vựng
có trong đời sống giao tiếp Sự khác nhau về cơ bản giữa địa danh và nhândanh, hiệu danh là đối tợng đợc gọi tên; là tính hệ thống trong xu hớng và quátrình định danh Tính hệ thống của nhân danh và hiệu danh thờng bị chi phối
trực tiếp bởi các nhân tố nội ngôn ngữ theo lát cắt đồng đại và xu hớng tâm lý
xã hội, không khí chính trị có tính thời sự trong một khoảng thời gian nhất
định xét trong cả tiến trình lịch sử của một cộng đồng Tuy vậy, chúng có tínhnhất thời, ít tính bảo lu nh địa danh và chỉ phản ánh đời sống của một ngônngữ trên bề mặt Địa danh có tính bảo thủ cao hơn, đợc bảo tồn khá lâu trongvốn từ và trong vốn văn hoá dân tộc Tính hệ thống của địa danh ít bị tác nhân
xã hội- chính trị nhất thời tác động Trong khi định danh, tính tuỳ tiện của địa
danh không còn phụ thuộc vào ý chí cá nhân mà bị tác động bởi hàng loạtnhân tố thuộc về lịch sử, văn hoá cộng đồng; chịu ảnh hởng của các quá trìnhtộc ngời đầy phức tạp; chịu ảnh hởng của cả quá trình hình thành, tồn tại vàphát triển của một ngôn ngữ Vì vậy, cùng với ngôn ngữ, hệ thống địa danh làchứng nhân đáng tin cậy của quá trình hình thành, tồn tại và phát triển khôngnhững của một cộng đồng mà có khi của nhiều cộng đồng cùng khu vực Vàbởi vậy, địa danh có tính hệ thống cao hơn và ổn định hơn hệ thống nhân danh
và hiệu danh
Qua địa danh có thể hiểu thêm từ ngữ địa phơng, xem xét đợc hiện tợng
đồng nghĩa của ngôn gnữ, và có thể thấy đợc diện mạo lịch sử ngữ âm củatiếng Việt, sự tiếp xúc ngôn ngữ giữa các tộc ngời
19
Trang 20
Tuy nhiên, nh đã trình bày ở trên, quá trình nghiên cứu địa danh khôngchỉ vận dụng phơng pháp ngôn ngữ học và phải vận dụng phơng pháp nghiêncứu đa ngành và liên ngành Vì vậy, cùng với văn hoá học, xã hội học, dân tộchọc, khảo cổ học học, lịch sử học, địa lý học , ngôn ngữ học là một ngànhkhoa học có lên quan chặt chẽ, có tác động qua lại đặc biệt đối với địa danh
học Các mối quan hệ trên có thể thể hiện bằng sơ đồ
20
Trang 21Nhân danh học Địa danh học Hiệu danh học
Hình 1.1: Sơ đồ về vị trí của địa danh học trong ngôn ngữ học
Hình 1.2: Sơ đồ về mối quan hệ giữa địa danh với các ngành khoa học khác
1.1.3 ý nghĩa của việc nghiên cứu địa danh
Địa danh có một vị trí quan trọng đối với cuộc sống con ngời trên tất cảcác lĩnh vực, nó giúp chúng ta hiểu đợc các mối quan hệ về nhiều vấn đề kháctrong đời sống xã hội trong quá khứ và hiện tại Nhờ đó những thành tựu củanền văn minh nhân loại không còn phải đóng khung trong một không gian chậthẹp của nó nữa; sự giao lu giữa các dân tộc đợc hình thành và phát triển
Từ những giá trị đặc biệt của địa danh, cồn tác nghiên cứu về lĩnh vựcnày có một ý nghĩa hết sức to lớn về mặt lý luận và thực tiễn
a) Về lý luận, việc nghiên cứu địa danh góp phần định hình một ngànhkhoa học mới( ngành địa danh học) với những phơng pháp phù hợp, thích ứngvới loại hình ngôn ngữ tiếng Việt, đồng thời, xác định đợc vị trí của địa danh
Trang 22
trong mối quan hệ với các ngành khoa học xã hội và khoa học nhân văn khácnh: văn hoá học, sử học, dân tộc học, nhân chủng học, xã hội học, địa lý học,kinh tế - chính trị học
b) Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu địa danh cùng với thành tựu củacác ngành khoa học khác trong quan hệ nhiều chiều, giải quyết tốt những vấn
đề mà lình vực quan tâm, góp phần thúc đẩy sự phất triển kinh tế xã hội của
địa bàn nghiên cứu
c) Về mặt ngôn ngữ, những đặc điểm tâm lý, văn hóa của ngời Vịêt màkết quả khảo sát tên riêng địa lý mang laị, chắc chắn sẽ có những gợi ý cholĩnh vực Từ vựng học, ngữ pháp học những hớng mới trong nghiên cứu; giúplĩnh vực nghiên cứu lịch sử tiếng Việt xác định một cách chắc chắn hơn nhữngyếu tố của các nhóm ngôn ngữ địa phơng đã có ảnh hởng nh thế nào đến sựhình thành và phát triển tiếng Việt, đồng thời giúp các nhà quan lý xây dựngcác chính sách ngôn ngữ có liên quan đến tttên riêng địa lý hiện nay và trongtơng lai
1.2 Địa danh Nga Sơn - những vấn đề liên quan
1.2.1 Khái quát về Huyện Nga Sơn
- Phía Bắc giáp huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình và huyện Hà Trung tỉnhThanh Hoá
- Phía Đông giáp Huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình và biển Đông
- Phía Tây giáp huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hoá
- Phía Nam giáp huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hoá
Huyện có 26 xã và 01 thị trấn, với tổng diện tích tự nhiên là 15.053,99 ha
( theo số liệu tổng kiểm kê đất đai năm 2005), bằng 1,35 % tổng diện tích tự
nhiên toàn tỉnh Dân số tính đến 01/10/2005 là 149.096 ngời, bằng 4.14 % dân
số toàn tỉnh, mật độ dân số là 943 ngời /km2 (mật độ toàn tỉnh là 326 ời/km 2 ).
ng-22
Trang 23
Nga Sơn đợc bao bọc bởi hai con sông thuộc hệ thống sông Mã nh:sông Càn, sông Hoạt, sông Lèn và biển Đông, tạo nên thuận lợi cho giaothông đờng thuỷ Giao thông đờng bộ có Quốc lộ 10 chạy qua địa phận huyệndài 18 km theo hớng Bắc Nam, tạo thành trục giao thông chính, tỉnh lộ 13 nốiQuốc lộ 10 tại xã Nga Mỹ( gần thị trấn Nga Sơn) dài khoảng 5 km trên địaphận của huyện Cầu Báo Văn( nằm trên tỉnh lộ 13) nối với Quốc lộ 10 và cầu
Điền Hộ( nằm trên Quốc lộ 10) nối với tỉnh Ninh Bình
đúc Ngời dân nơi đây, có đặc thù sống trong cái nôi làng nghề Cói từ cách
đây hàng trăm năm nên có đầy đủ tố chất của một ngời thợ thủ công chânchính với bàn tay khéo léo, sự nhạy bén, tính linh hoạt cao
Nga Sơn là nơi có lịch sử lâu đời và liên tục, là vùng đất có truyền thốngvăn hoá
Tôn giáo và tín ngỡng ở huyện Nga Sơn phong phú và đa dạng đợc phân bốtơng đối rõ ràng ở các xã vùng ven biển có tới 90% đồng bào theo đạo Thiênchúa nh các xã Nga Liên, Nga Thái , Nga Phú, Nga Thanh, Nga Tiến, Nga Tân,Nga Điền với 7 nhà thờ xứ và 44 họ đạo Nga Sơn cũng là huyện có đồng bàotheo đạo Thiên chúa nhiều nhất tỉnh Thanh Hoá Phần lớn các xã còn lại nhândân hớng theo phật và các tín ngỡng dân gian nh thờ cúng tổ tiên, thờ thànhHoàng làng và các nhân vật anh hùng của quê hơng đất nớc: Bà Lê Thị Hoa (NgaThiện), Thám Hoa Mai Anh Tuấn (Nga Thạch )
Nga Sơn cũng là miền quê nổi tiếng với những huyền thoại, những danhlam thắng cảnh và di tích lịch sử nh sự tích qua Da Hấu của Mai An Tiêm, TừThức gặp tiên, Lã Vọng câu cá, cửa Thần Phù, đền thờ bà Lê Thị Hoa, căn cứcuộc khởi nghĩa Ba Đình, cùng những câu ca dao phơng ngôn, dân ca lutruyền đã phản ánh nét đẹp văn hoá của một vùng quê có bề dày truyền thống
23
Trang 24
Đồng hành cùng lịch sử, trải mấy nghìn năm dựng nớc và giữ nớc, khi nớc
ta mang tên là Văn Lang, Nga Sơn là đất của bộ Cửu Chân, đời Âu Lạc vẫnthế Thời thuộc Hán, Nga Sơn là vùng đát ở phía Đông Bắc huyện D Phát ĐờiTam Quốc- Lỡng Tấn - Nam Bắc triều Nga Sơn là đất thuộc huyện Kiến Sơ
Đời Tuỳ(581- 618) Nga Sơn thuộc vùng đất huyện Long An Từ thời thuộc ờng đến Đinh- Lê, tiền Lê, Lý là đất thuộc huyện Sùng An rồi Sùng Bình.Thời Trần Hồ, Nga Sơn có tên gọi là huyện Chi Nga thuộc Châu ái Thời LêSơ, đổi tên huyện Chi Nga thành huyện Nga Giang thuộc phủ Hà Trung Và
Đ-đên thời Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ 19, đổi tên thành huyện Nga Sơn Saucách mạng
tháng 8/1945 vẫn giữ nguyên là huyện Nga Sơn Năm 1977 theo QĐ số
177-CP ngý 05/07/1977 của Hôi đồng Chính phủ hợp nhất huyện Hà Trung vàhuyện Nga Sơn, lấy tên chung là huyện Trung Sơn Ngày 30/08/1992 Hội
đồng Bộ tởng ra quyết định số 149- HĐBT chia huyện Trung Sơn thành haihuyện Nga Sơn và Hà Trung
1.2.1.3 Đặc điểm ngôn ngữ
Trên lĩnh vực ngôn ngữ, Giáo s Trần Quốc Vợng nhận xét: “Ngời xứThanh có một cách phát âm tiếng Việt khó lẫn, không nhẹ lớt nh tiếng HàNội- Xứ Bắc, không nặng - lặng trầm nh tiếng Nghệ - Xứ Trung, Xứ Thanh là
sự mở đầu của mô - tê - răng - rứa của miền Trung, dân Hà Nội phải nghe lâu
và phải học thì mới biết đợc” Về tiếng nói ngời Thanh Hoá là ngời Bắc Kỳnên có nhiều điểm tơng đồng:
Về mặt phụ âm đầu: Cả ngời xứ Bắc và xứ Thanh đều không phân biệtkhi phát âm giữa:
- Tr và ch đều là ch: Trồng trọt/ chồng chọt; trăng/ chăng
- R, gi và d đều là d: rằng, giằng và dằng đều là dằng; ra, gia,da đều là da
- S và x đều là x: song, xông đều là xông, sao, xao đều là xao
Nhìn chung các âm uốn lỡi không có hay hầu nh không có
Về mặt phụ âm cuối: cũng có một số âm phát âm nh vậy:
- iu và u nhập thành iu: Cấp cứu/ cấp cíu; cây lựu/ cây lịu; về hu/ về hiu
- i và iê nhập thành i: Con kiến/ con kín; nhũng nhiễu/ nhũng nhĩu; năngkhiếu/ năng khíu; dệt chiếu/ dệt chíu
- uo nhập thành u: nguồn nớc / ngùn nớc, con chuột / con chụt
24
Trang 25
- ây thành i: con chấy / con chí; mày/ mi ; bữa nay/ bữa ni
- ơ nhập thành iê: rợi/ riệu; con hơu/ con hiêu
Tóm lại, là một số từ có nguyên âm đôi, khi phát âm thờng đợc bỏ đimột số phụ âm Song không phải là tất cả các từ có nguyên âm đôi đều đợcphát âm nh vậy
Trên địa bàn huyện, ở phía Đông Bắc (tiêu biểu là hai xã Nga Phú và Nga
Điền) đã có hiện tợng một số từ âm đầu nh:
- Hà Nội/ Hà lội; lấp liếm/ nấp niếm; nói/ lói
- Hoặc lẫn lộn giữa dấu hỏi và dấu ngã: cũn cỡn/ củn cởn, lần lữa/ lần lửa
Đi lên một số xã Nga Thắng, Nga Văn khi phát âm có những từ đáng lẽ
là âm mở thành âm khép: nguồn nớc/ ngùn nớc, nhũng nhiễu / nhũng nhĩu,khuyên bảo/ khuyn bảo
Một số từ nguyên âm đôi, một nguyên âm hơi tụt xuống: thuốc/ thuốc;
đuốc /đuốc ,(ô tụt xuống và nặng hơn)
Đi xuống một số xã thuộc khu vực miền biển nh Nga Tiến, Nga Tân, Nga Tháithì lại có hiện tợng:
- Thêm phụ âm g những từ có phụ âm n đàng sau: mần/ mầng; quan/ quang; ýkiến/ ý kiếng; gian nan/ giang nang
- Biến những từ có phụ âm cuối là t thành c: dắt/ dắc; cụt/ cục; mụt/ mục
- Thêm nguyên âm vào một số từ có một nguyên âm thành nguyên âm đôi nh:có/ cúơ, đó/ đuớ, ngó/ nguớ
Vùng làng Bái Nại, Cầu Hải ( Nga Hải), và các xã xung quanh, ngoài các hiệntợng ngôn ngữ nh trên, lại có thêm các hiện tợng:
Phát âm: ô thành o ( đi đồng / đi đòng; mồng gà/ mòng gà; ); â thành a (gầy / gày; lầy lội/ lày lội; đầy vơi/ đày vơi; cậu/ cạu; thầy giáo/ thày giáo ); ê thành a ( mắc bệnh/ mắc bạnh; mệnh lệnh/ mạnh lạnh ); o thành ô (đóng/
đoóng; cọc/ coọc; móng/ moóng )
Trên đây tôi đã nêu ra một số vùng ở Nga Sơn với những nét khác biệttrong cái tơng đồng chung của cả huyện nói riêng và của đặc trng vùng đất xứThanh nói chung Rõ ràng trong một vùng đất nhỏ bé cũng có khá nhiều thổngữ, phần lớn các thổ ngữ đều có thể giải thích bằng quy luật diễn bién củangữ âm
25
Trang 26
Nh chúng ta đã biết phơng ngữ là một phạm trù lịch sử, song nhân tố giaotiếp mới là quyết định Tuy nằm trong ngữ hệ Việt- Mờng song huyện NgaSơn ở miền xuôi của tỉnh Thanh Hoá, lại là vùng đất hoc, có nhiều ngời đi đó
đây, quá trình giao lu tiếp biến văn hoá diễn ra mạnh mẽ, liên tục, nên tiếngViệt cổ, cách phát âm so với tiếng phổ thông tuy có một số âm cha thật chuẩn,nhng nhìn chung đã nhẹ nhàng thanh thoát hơn so với các nơi khác trongtỉnh(nh Thọ Xuân, Thiệu Hoá, Nông Cống, Yên Định, ) và chịu ảnh hởngcủa âm điêụ ngôn ngữ vùng đồng bằng sông Hồng, giảm đợc rất nhiều sự thôphát trong lời ăn tiếng nói hằng ngày
Tóm lại, dấu vết cổ xa của ngôn ngữ Việt vẫn còn lu giữ và tiếng nói củangời Nga Sơn gần với phơng ngữ Bắc hơn là phơng ngữ Trung
1.2.2 Địa danh Nga Sơn - Kết quả thu thập và phân loại
1.2.2.1 Kết quả thu thập
Dựa vào tiêu chí đã đề ra trong phần mở đầu của luận văn, sau quá trình
điền dã, tìm hiểu, khảo sát, từ các nguồn t liệu, chúng tôi đã thu thập đợc 5493
địa danh bằng chữ và số trên địa bàn huyện Nga Sơn, số địa danh này bao gồm
65 loại hình, đợc phân bố rộng khắp trên địa bàn nghiên cứu và xuất hiệntrong nhiều thời điểm khác nhau Ngoài ra có thể khôi phục lại tơng đối đầy
đủ diện mạo của một vùng đất qua các thời kỳ, chúng tôi khôi phục cả những
địa danh nay chỉ còn là những tên gọi Số lợng các địa danh thu thập đợc trên
địa bàn huyện có thể cha thật đầy đủ song về cơ bản đã cho ta cái nhìn tơng
đối khái quát, đầy đủ về cảnh quan địa lý, chiều dài lịch sử của Nga Sơn trong
đó có những địa danh đã tồn tại rồi mất đi, có những địa danh có mặt từ thuở
xa xa cho đến hôm nay và có những địa danh mới đợc xuất hiện thời gian gần
đây
Số lợng các địa danh trên, đợc thu thập từ các nguồn: Văn bản hànhchính, bản đồ các loại, th tịch ghi chép lại, các tài liệu có liên quan và các cứliệu điền dã thực tế
1.2.2.2 Phân loại
Có thể khái quát các mặt của địa danh Nga Sơn, chúng tôi phân loại theo
ba hình thức:
- Phân loại theo thuộc tính của đối tợng địa lý
- Phân loại theo ngữ nguyên
26
Trang 27
- Phân loại theo chức năng giao tiếp
a Phân loại theo thuộc tính của đối tợng địa lý
Theo cách phân loại này chúng tôi chia địa danh thành các nhóm lớn:
- Địa danh chỉ đối tợng địa lý tự nhiên (những địa danh do tác động của cácyếu tố tự nhiên tạo nên rồi đợc con ngời đặt tên): Hồ, ao, núi, đồi, đồng,
- Địa danh chỉ đối tợng do con ngời kiến tạo( gọi là nhân văn) gồm ba nhómnhỏ:
* Địa danh chỉ các công trình văn hoá( gọi tắt là địa danh văn hoá) gồm đình,chùa, miếu, nhà thờ, nhà văn hoá
* Địa danh c trú hành chính: bao gồm cả địa danh vùng nh xã, thị trấn, thônlàng, xóm, tiểu khu,
* Địa danh chỉ các công trình xây dựng(gọi tắt là địa danh xây dựng) gồm:cầu, cống, đập, giếng, chợ, đờng, đê,
Để tiện cho việc theo dõi, chúng tôi sẽ trình bày cách phân loại đia danh đãthu thập đợc qua bảng phân loại và thống kê số liệu cụ thể với những quy ớc
nh sau:
* Số thứ tự: chỉ số lợng loại hình địa danh thu thập đợc.
* Tần số: là số lần xuất hiện của loại địa danh này trong hệ thống địa danh ở
Nga Sơn Số lợng này sẽ không tơng đồng với số đối tợng địa lý tự nhiên hoặcnhân văn có trên địa bàn Nga Sơn do mỗi đối tợng có nhiều tên gọi
* Cách sắp xếp: để dễ nhận biết đặc điểm loại hình của địa danh Nga Sơn
(thiên về loại nào) chúng tôi sắp xếp theo nhóm, trong từng nhóm đợc sắp xếptheo thứ tự chữ cái
* Đối với những địa danh đi cùng với khu vực hành chính, chúng tôi thốngnhất viết tắt theo quy ớc sau:
Nga An (N An) Nga Thạch (N Thạch)
Ba Đình (B Đình) Nga Thanh (N.Thanh)
Nga Hng (N Hng) Nga Thiện (N Thiện)
27
Trang 29V¨n ho¸
(Nga Liªn)
41
§Þa danh x©y dùng
29
Trang 30là có bề dày về thời gian và để lại nhiều dấu ấn qua hệ thống các lớp địa danhdày đặc.
c Phân loại theo tiêu chí ngữ nguyên(nguồn gốc ngôn ngữ)
Trong cách phân loại này, chúng tôi chia địa danh Nga Sơn thành cácnhóm sau:
* Địa danh có nguồn gốc Hán Việt:
Loại địa danh này chiếm số lợng lớn trong loại địa danh cứ trú hànhchính và địa danh tự nhiên (đặc biệt là tên núi, hang động, tên làng, tênxã, ) và một số địa danh chỉ công trình xây dựng, địa danh văn hoá Tuynhiên trong địa danh chỉ đối tợng địa lý tự nhiên, địa danh xây dựng, và địadanh c trú, nhất là các xứ đồng, ao, bãi, tên ngõ, tên xóm thì rất ít xuấthiện âm tiết gốc Hán Việt, trong khi đó loại đối tợng này chiếm tỷ lệ lớntrong địa danh ở Nga Sơn Đó là lý do giải thích tại sao địa danh nguồn gốcHán Việt chỉ có tỷ lệ 20.2% trong địa danh Nga Sơn Ví dụ: Làng Chính
30
Trang 31
Đại (Nga Điền), Chợ Hồ Vơng (Nga Hải), núi Lã Vọng (Nga Thiện), PhủBái Nại (Nga Hải),
- Địa danh có nguồn gốc thuần Việt:
Loại địa danh nay chiếm tỷ lệ cao 74.2 % xuất hiện nhiều nhất trong
địa danh chỉ đối tợng địa lý tự nhiên và một số công trình xây dựng Ví dụ:
Đồng Rụt (Nga Mỹ), núi con Cóc (Nga Phú), Chùa cầu Đá(Nga Yên), cầu Sắt(Nga Trung), kênh sông Vàng (Nga Trung)
* Địa danh có nguồn gốc hỗn hợp: 5.3%
Hỗn hợp Việt- Hán Việt, xuất chủ yếu tên các xứ đồng, tên nghĩa địa,tên kênh trên địa bàn huyện; ví dụ: Xứ đồng Ao Lai (Nga Bạch), nghĩa địa
Đội Hồn (Nga Trung), kênh Trên Hoằng (Nga Trung),
* Địa danh cha xác định nguồn gốc 0.3%
Ví dụ: đồng Nhĩnh (N.Điền), đồng Nhẵm (N.An), bái Rện (N.Vịnh), bãi Lớc(N.Hải),
Bảng phân loại địa danh theo ngữ nguyên:
Nguồn gốc hồn hợp 5.3% Xứ đồng Ao Lai (Nga Bạch)Cha xác định nguồn gốc 0.3% đồng Nhĩnh (N.Điền)
Qua khảo sát số liệu thống kê ở mỗi nhóm địa danh theo ngữ nguyên,trong tổng số địa danh Nga Sơn đã thu thập đợc, tỷ lệ địa danh có nguồn gốcHán Việt không nhiều Các địa danh Thuần Việt, địa danh dân gian chiếm tỷ
lệ lớn, và luôn tồn tại song song với địa danh Hán Việt chúng tỏ sự tr ờng tồncủa ngôn ngữ bản địa và đó chính là dấu ấn ngôn ngữ- văn hoá còn lại rất
đáng giá cho nghiên cứu lịch sử tiếng Việt Trải qua bao thăng trầm của lịch
sử dân tộc, nhân dân Nga Sơn vẫn lu giữ, bảo tồn, nâng niu những cái tên làng,tên đất, tên sông, tên núi, vốn có từ rất xa xa, để thế hệ mai sau tiếp nhậnnhững địa danh đậm đà bản sắc dân tộc và giàu giá trị ngôn ngữ, văn hoá nhngày hôm nay
d Phân loại địa danh theo chức năng giao tiếp
Cũng nh nhiều đại phơng khác, phân loại theo chức năng giao tiếp dophong cách sử dụng địa danh “quan phơng” và không “quan phơng” nên cóhiện tợng nhiều địa danh trên địa bàn huyện cùng lúc tồn tại song hành tênchính thức và tên gọi dân gian; tên cổ, tên cũ và tên gọi hiện nay Vì vậy việc
31
Trang 32
phân biệt tên cổ- cũ của một đối tợng là hết sức khó khăn, và vì nhợc điểm lớnnhất của địa danh là không có niên đại rõ ràng Xuất phát từ lý do trên, chúngtôi chỉ phân ra ba nhóm:
* Tên chính thức:
Do chính quyền đặt ra, đa số là từ Hán Việt, đợc dùng trong các vănbản hành chính và trong các tài liệu, th tịch Tên chính thức còn đợc dùngtrong lễ bái thờ cúng Ví dụ: chùa Tiên (Nga Thiện), núi Mai An Tiêm (NgaAn), làng Giáp Ngoại (Nga Giáp), làng Yên Tân (Nga Tân),
*Tên dân gian:
Là những tên do dân gian đặt và thờng là từ Thuần Việt gằn liền vớinhững đặc điểm chính của đối tợng và đợc dùng phổ biến trong giao tiếp hàngngày ở Nga Sơn, loại tên này thông thờng đợc dùng để gọi các đối tợng địa lý
tự nhiên nh núi, sông, và địa danh c trú hành chính nh thôn, làng, xóm,
Ví dụ: chùa Chõ, dốc Eo Ba,(Nga Giáp), núi Vầu (Nga An), cồn MãLãnh (Nga Yên), chợ Huyện (thị trấn), chợ Hoàng (Nga Văn),
*Tên gọi khác: Do việc xác định thời gian hoặc niên đại của một địadanh không dễ chút nào nên chúng tôi xếp tất cả các tên cũ, tên cũ vào cũngnhóm với tên khác Việc phân biệt tên dân gian với loại tên khác có thể dẫm
đạp lên nhau do đặc điểm riêng về mặt hình thức, thờng là từ Thuần Việt ngắngọn và có chức năng giao tiếp khác Tên khác có thể cũng là tên chính thứcnhng chỉ khác về tính lịch sử
Ví dụ: Làng Hồ Đông (Nga Thành) còn có tên là Ngoại Thôn;
Làng Văn (Nga Văn) còn có tên là Văn Tiến
Động Bạc á (Nga Thiện) còn có tên gọi là Bạch ác,
Bảng phân loại địa danh theo chức năng giao tiếp
Loại Tên chính Tên dân gian Tên gọi khác
Qua cách phân loại trên có thể giúp ta có một cái nhìn khái quát về hệthống địa danh ở Nga Sơn:
32
Trang 33
Phân loại dựa vào thuộc tính đối tợng địa lý giúp ta nhận ra đợc những
đặc điểm địa lý văn hoá tiêu biểu của địa bàn này: Nga Sơn là một huyện đồngbằng ven biển với phần lớn là diện tích bằng phẳng, phì nhiêu và trên mảnh
đất này là những xóm làng sầm uất, trù mật, với những công trình văn hoá
đang đợc xây dựng Tất cả đều mang dấu vết bàn tay, khối óc của con ngờitrong suốt hàng nghìn năm xây dựng Cũng nh các làng quê khác trên đất nớc
ta, Nga Sơn là địa phơng có đời sống tôn giáo tín ngỡng khá phong phú, đặcsắc Hầu hết các làng ở Nga Sơn đều có thờ Mẫu (Liễu Hạnh công chúa), vớimong muốn đợc che trở, phù hộ cho cuộc sống của nhân dân hạnh phúc, maymắn, tốt lành
Bên cạch đó đây là vùng đất hội tụ rất nhiều tôn giáo lớn: Phật giáo,Nho giáo, Thiên chúa giáo Tuy thời điểm xuất hiện có khác nhau và sự ảnh h-ởng đến đời sống văn hoá tinh thần của ngời dân không giống nhau, nhng đãtạo cho huyện Nga Sơn một bộ mặt văn hoá tinh thần đa dạng, phong phú
Phân loại dựa vào ngữ nguyên: Giúp ta nắm đợc lịch sử hình thành cộng
đồng dân c ở Nga Sơn cũng nh sự tiếp xúc ngôn ngữ, văn hoá trên địa bàn
Phân loại dựa vào chức năng giao tiếp giúp ta thấy đợc sự phong phú, đadạng trong cách đặt tên ở một vùng phơng ngữ Ngoài những tên chính thứccòn có tên gọi dân gian, loại tên này còn đợc sử dụng rộng rãi hơn tên gọichính thức Ngoài ra do nhiều nguyên nhân khác nhau, địa danh Nga Sơn cũng
có những thay đổi nhất định đa đến nhiều tên gọi khác cùng chỉ một đối tợng
Sự đa dạng đó làm cho việc nghiên cứu địa danh ở Nga Sơn trở nên thú vị, vàhấp dẫn hơn
1.3 Tiểu kết
Qua lợc sử nghiên cứu, các cơ sở lý luận về địa danh học cũng nh ngữngnét khái quát về địa bàn, địa danh ở Nga Sơn, chúng tôi rút ra một số điểm kếtluận sau:
1.3.1 Địa danh có một vị trí quan trọng trong nhiều lình vực của đời sống
xã hội Vì vậy, việc nghiên cứu địa danh bên cạnh những phơng pháp mangtính chuyên biệt phải đạt nó trong mối quan hệ với nhiều lĩnh vực khác, nghĩa
là phải nghiên cứu theo phơng pháp đa ngành và liên ngành Đồng thời phải có
sự nhất quán trong quan niệm của ngời nghiên cứu ngay từ đầu vì nó ảnh hởng
đến cách trình bày và nội dung của đề tài đang nghiên cứu và tìm hiểu
33
Trang 34
1.3.2 Địa danh Việt Nam nói chung và địa danh Nga Sơn nói riêng, rất
phong phú, đa dạng nhng cũng rất phức tạp Sự phong phú thể hiện ở nhiềuloại địa danh khác nhau Tuy nhiên cũng có những loại địa danh đợc sếp ở loạihình này nhng cũng có thể xuất hiện ở loại hình khác Ví dụ: địa danh vănhoá: chùa, đình, đền thờ cũng có thể xếp vào địa danh chỉ các công trình xâydựng; hoặc các công trình giao thông đờng xá cũng có thể xếp vào địa danhhành chính Do vậy trong cách hiểu của chúng tôi, đôi chỗ vẫn chỉ là tơng đối
mà thôi
1.3.3 Địa danh- thành tố của ngôn ngữ luôn chịu sự chế định của văn hoá,
lịch sử, dân c Vì vậy trong quá trình nghiên cứu địa danh, việc quan tâm đếnnhững nhân tố trên cần phải đợc lu tâm đặc biệt Chính điều này sẽ dẫn tới sựkhác biệt trong việc nghiên cứu địa danh thuần tuý lịch sử, địa lý so vớinghiên cứu địa danh dới góc độ ngôn ngữ học Vì vậy hệ thống địa danhhuyện Nga Sơn sẽ là một trong những cứ liệu để nghiên cứu trên nhiều mặt:Chính trị, văn hoá, lịch sử, ngôn ngữ của địa phơng
34
Trang 35
Chơng 2
Đặc điểm cấu tạo, phơng thức định danh và ý nghĩa
của địa danh Nga Sơn
Một trong những nội dung cơ bản của địa danh học là nghiên cứu cấủ tạocủa địa danh (tức là phơng thức tạo lập hay cấu tạo để gọi tên sau khi chọn lựacác thuộc tính, đặc điểm của đối tợng hay gán cho đối tợng một thuộc tính nào
đó) Về phơng diện này, địa danh học quan tâm đến việc ngời ta đã dùng
ph-ơng tiện gì (ký hiệu gì, từ ngữ nào) và bằng cách nào, theo nguyên tác nào đểbiến những phơng tiện đó trở thành địa danh Việc đặt tên cho một đối tợng
địa lý (tự nhiên hoặc nhân văn) thờng chứa đựng một ý nghĩa nào đó liên quan
đến đối tợng hoặc chủ thể đặt tên ý nghĩa đó đợc thể hiện nh thế nào, nhằmmục đích gì tuỳ thuộc vào phơng thức định danh và cấu tạo của nó
Mỗi dân tộc, mỗi địa phơng do đặc điểm ngôn ngữ và văn hoá khác nhaunên thờng có những nguyên tắc và cấu tạo địa danh khác nhau Nghiên cứucách đặt tên của một địa phơng( thậm chí của một tộc ngời) là nghiên cứunhững nguyên tắc cấu tạo ngôn ngữ, tức là nghiên cứu các mối quan hệ ngữpháp, cấu trúc nội bộ của địa danh, các phơng thức chuyển hoá, vay mợn đểqua đó tìm ra những quy luật phổ biến trong việc định danh ở một vùng phơng
ngữ Trong chơng này chúng tôi nêu ra các vấn đề cơ bản: Đặc điểm cấu tạo, phơng thức định danh và ý nghĩa của địa danh Nga Sơn.
2.1 Đặc điểm cấu tạo
2.1.1 Khái niệm cấu tạo
Cùng với khái niệm hệ thống, khái niệm cấu tạo đợc sử dụng rất phổ biếntrong ngành ngôn ngữ học Có thể hiểu cấu tạo đợc sử dụng rất phổ biến
trong ngôn ngữ học Có thể hiểu cấu trúc là toàn bộ “những quan hệ bên tronggiữa các thành phần tạo nên một chỉnh thể”{60}
Hệ thống địa danh vùng miền nào bao giờ cũng liên quan mật thiết với dân
c, văn hoá, tâm lý của vùng miền đó và chúng mang một khuôn mẫu- mô hìnhchung nhất định Vì vậy, để phân biệt mô hình địa danh giữa các địa bàn khácnhau, thuật ngữ cấu trúc đợc chúng tôi dùng là để mô hình hoá các địa danh Địa danh là một đơn vị định danh, gọi tên đối tợng tự nhiên- không tựnhiên và bao giờ cũng liên quan chặt chẽ với đối tợng và chủ thể dặt tên Dovậy mỗi vùng có cấu trúc địa danh khác nhau
2.1.2 Mô hình cấu tạo địa danh ở Nga Sơn
35
Trang 36
2.1.2.1 Mô hình cấu tạo địa danh
Từ trớc đến nay, khi xem xét, lý giải mô hình cấu tạo của một địa danh,tuy diễn đạt có khác nhau, nhng nhìn chung, các nhà nghiên cứu đã thống nhấtvới nhau ở việc xác định các thành phần cấu tạo nên Theo đó, mỗi địa danhgồm hai thành tố: Thành tố A và thành tố B Thành tố A là danh từ chung(thành tố chung)
Ví dụ: Chợ Bạch Câu(N Bạch), cầu Điền Hộ(N.Phú), làng Chiêm Ba(N.Văn),…).Trong đó chợ, cầu, làng là thành tố chung, còn Bạch Câu, Điền
Trên thực tế, có những địa danh, để hiểu đợc thánh tố B nhất thiết phảidựa vào thành tố A Chẳng hạn: Cầu Điền Hộ - chợ Điền Hộ - làng Điền Hộ(N Phú) Hoặc quy tắc viết hoa, nếu chỉ viết hoa âm tiết đầu thì trong nhữngtrờng hợp nh: Núi Trích Chợ (N.An), chùa Vờn Đào (N.Thiện), sẽ viết hoa
âm tiết nào Có lẽ giải pháp tốt nhất là vấn đề quan niệm phức thể địa danh.Vấn đề này, Nguyễn Kiên Trờng cho rằng: “Địa danh mang trong mình haithông tin: a) đối tợng đợc gọi tên thuộc loại hình địa lý nào (đôi, sông, phố,làng, ) thể hiện qua ý nghĩa của danh từ chung; b) Có nghĩa nào đó (phản ánh
điều gì đó) thể hiện qua tên riêng.{80}” Còn Hoàng Tất Thắng: “Sự khác
nhau giữa các từ chung với tên riêng là nhóm từ thứ nhất mang tính khái quátcao nhất, còn nhóm từ thứ hai mang tính định danh cao nhất{74}”
Nh vậy, thành tố A và B có vai trò, chức năng riêng Thành tố A mangtính khái quát, chỉ ra loại hình đối tợng, còn thành tố B mang tính cụ thể, giúp
ta phân biệt các đối tợng Theo đó địa danh chỉ đợc hiểu là phần tên riêng, còntên chung đặt trớc tên đó có tính chất đi kèm, chỉ loại đối tợng
Việc nhận diện ý nghĩa, chỉ tìm hiểu thông tin của yếu tố thứ nhất- thành
tố A khá đơn giản, đa số chúng khá quen thuộc, gần gũi với nhiều ngời và cóthể tìm hiểu qua những cuốn từ điển thông thờng Tuy vậy, nếu đi vào chi tiết
36
Trang 37
tìm hiểu cho thật kỹ thành tố A quả là không đơn giản chút nào, vì rằng thành
tố chung- thành tố A lại gắn chặt với từng địa phơng, từng phơng ngữ cụ thểvới đặc trng văn hoá, lịch sử, tâm lý riêng Gặp những hoàn cảnh này, nếukhông phải là ngời bản ngữ âm tờng thì cũng khó có thể giải mà các thông tincần giải mã từ thành tố A
Còn việc nhận diện, tìm hiểu thành tố thứ hai- tên riêng (địa danh) đơngnhiên phức tạp và khó khăn hơn nhiều, nó đòi hỏi công sức và thì giờ, đôi khikhông chỉ cần đợc lý giải qua cảm thức của ngời bản ngữ thông thờng mà cần
có sự gia công, trợ giúp của các chuyên gia Tuy nhiên nếu khai thác hết cácthông tin ở yếu tố thứ hai này thì sự đóng góp vào việc nghiên cứu địa danh là
có giá trị lớn, đành rằng sẽ khó khăn và phức tạp
Ví dụ: Về tên gọi sông Mã; nếu nh sông Hồng có đến 50 tên gọi khácnhau nh: Hông Hà, Nhị Hà, Hồng Thuỷ, Diệp Du, Tây Nhĩ, Lê Xá, Tây Đạo,Văn Lang…) thì tên gọi sông Mã cũng chẳng thua kém gì, nó có các tên nh:
Định Minh, sông Ngu, sông Ngung, Nguyệt Thờng, Hội Thơng, Thanh Giang,Hồng Cừ,…) nhng tên phổ biến nhất là sông Mã Tuy nhiên, cách hiểu nghĩacủa địa danh này là gì lại có hai cách giải thích:
Thứ nhất: theo sử sách, truyền thuyết ghi nhận và chiết tự theo từ HánViệt thì sông Mã có nghĩa là sông Ngựa
Thứ hai: Mã nghĩa là mẹ vì Mã đợc biến âm từ mạ trong tiếng Thái nên gọi là sông Mẹ ( vì thực tế con sông này là con sông lớn nhất tỉnh, đợc chia
làm nhiều nhánh trớc khi đổ ra biển)
Về cách viết hoa, theo quy định hiện hành của tiếng Việt, thành tố chungviết thờng, chỉ viết hoa tên riêng nếu là từ đơn tiết hoặc từ Hán Việt; nếu tênriêng là từ thuần Việt đa tiết thì cũng viết hoa cả hai âm tiết
2.1.2.2 Mô hình cấu tạo địa danh huyện Nga Sơn
Địa danh Nga Sơn nói riêng và tất cả địa danh Việt Nam nói chung baogồm hai yếu tố chứa đựng hai nội dung thông tin
- Yếu tố 1: Danh từ chung, chứa đựng thông tin về loại hình của đối tợng:núi, sông, đồi, bãi, làng, xóm,…)
- Yếu tố 2: Tên riêng, chứa đựng thông tin về đặc điểm riêng của đối tợnghoặc những ý nghĩa mà chủ thể đặt tên gửi gắm: Ví dụ: làng Chiêm Ba, thôn
Cự Phách, núi Song Ngu, đỉnh Lã Vọng, chùa Vân Lỗi,…)
37
Trang 38đựng, nhất thiết phải thông qua chiếc cầu ngôn ngữ mà đầu tiên phải tìm hiểumô hình cấu tạo
Qua khảo sát tài liệu, cũng nh điạ danh nhiều vùng khác, mô hình cấu tạotổng quát của địa danh Nga Sơn nh sau:
Số lợng dài của B chủ yếu ở địa danh văn hoá
Tuy nhiên cũng cần phải nhìn nhận rằng, số lợng thành rố dài ngắn khácnhau một phần còn phụ thuộc vào quan niệm của ngời nghiên cứu
Mô hình cấu trúc địa danh này, đợc chúng tôi lập ra dựa trên kết quảkhảo sát các địa danh qua t liẹu hiện có Tất nhiên, không phải tất cả địa danh
đợc phân bố đầy đủ, trọn vẹn và lấp đày các vị trí trên
Trong khi đó, mỗi bộ phận của phức thể địa danh có vai trò, chức năng riêngbiệt Quan hệ giữa thành tố A và thành tố B là quan hệ giữa cái hạn định và cái đ-
ợc hạn định; A biểu thị một loạt đối tợng cùng thuộc tính, còn B dùng để chỉnhững đối tợng cụ thể, đợc xác định trong lớp đối tợng mad A đã chỉ ra Nói theolôgic học, thành tố B có tác dụng thu hẹp nội hàm của khái niệm( phức thể địadanh) Tức là nội hàm và ngoại diên bao giờ cũng tỉ lệ nghịch với nhau: Nội hàmtăng thì ngoại diên giảm và ngợc lại Với một phức thể địa danh, có thể hiểu đơngiản nh một tiên đề rằng kích thớc của thành tố B càng lớn, tức là ngoại diêncàng rộng thì cái nội hàm do khái niệm phức thể địa danh đó biểu thị càng bị thu
38
Trang 39
hẹp, do đó ngoại diên của nó sẽ đợc mở rộng Nói khác đi, thành tố B trong mộtphức thể địa danh càng lớn, thì các đối tợng địa lý và nhân văn mà chúng gọi têncàng giảm Còn nói theo kiểu ngôn ngữ học thì yếu tố thứ 2- thành tố B đóng vaitrò là định ngữ trong một danh ngữ
Nh vậy, số lợng định ngữ có mặt trong địa danh càng nhiều bao nhiêu, thìkhả năng biểu hiện, gọi tên các đối tợng tự nhiên và nhân văn càng ít bấynhiêu Minh chứng cụ thể hơn cho vấn đề này, chúng tôi đi tìm hiểu lần lợttừng thành tố
2.1.3 Thành tố A (thành tố chung)
2.1.3.1 Khái niệm thành tố chung
a) Về tên gọi thành tố chung
Về cách gọi thành tố chung, các nhà nghiên cứu đã có những cách hiểu
giống nhau và cho rằng: Đó là danh từ chung chỉ loại hình đối tợng, nhng lạicha có sự thống nhất cao trong việc sử dụng thuật ngữ Những thuật ngữ nh:
Từ chung, yếu tố chung, danh từ chung, yếu tố tổng loại và thành tố tố chungchính là biểu đạt sự cha thống nhất đó
Theo chúng tôi, địa danh thông thờng là một danh từ hoặc một cụm danh
từ đợc bao bọc bởi hai bộ phận: chỉ loại - phân loại Sự kết hợp giữa chúng cho
ta một phức thể địa danh và trong đó danh từ chung chỉ loại luôn đi trớc tênriêng, nó là một bộ phận, một thành tố trong phức thể địa danh Do vậy, hiệnnay dùng thuật ngữ thành tố chung để gọi đơn vị thứ nhất trong phức thể địadanh là đợc nhiều ngời chấp nhận hơn cả
c) Khái niệm thành tố chung
Khái niệm thành tố chung đã đợc nhiều nhà địa danh học quan tâm và cơ bản đã có sự thồng nhất về đồi tợng Đơn cử một vài quan niệm:
Trong luận án Tiến sĩ của mình, Nguyễn Kiên Trờng đã dẫn ra hai ý kiến:
Một là, ý kiến của Popovcho rằng: “Bất cứ hiện tợng hàng loạt (lặp lại,
t-ơng tự) trong toàn bộ địa danh, luôn cần đợc nghiên cứu cẩn thận vì các yếu tốlặp lại đó thờng biểu hiện thể và giống của địa danh và cũng là một đặc trng
của một ngôn ngữ”{80};
Hai là ý kiến củ A.V.Superanskaija: “Tên chung là những tên gọi chung
liên kết các đối tợng địa lý với mọi vật khác của thế giới hiện thực Chúng dợcdiễn đạt bằng các danh từ chung vốn đợc dùng để gọi tên và để xếp loaị các
đối tợng cùng kiểu, có cùng đặc điểm nhất định ”{80}
39
Trang 40
Qua những quan niệm trên, có thể hiểu một cách chung nhất về thành tố
chung nh sau: Thành tố chung là những thuật ngữ địa lý thuộc về danh từ
chung, đợc dùng để chỉ một lớp đối tợng (địa lý) cùng loại hình, cùng thuộctính bản chất, và về vị trí nó đứng trớc địa danh để chỉ ra loại hình đối tợng
Nh vậy, thành tố chung vừa có ý nghĩa về mặt hình thức: Tạo nên chỉnhthể cho phức thể địa danh, tạo nên một khái niệm, cho phép hiểu đúng địadanh; vừa mang ý nghĩa về mặt về mặt nội dung: Xác định loại hình đối tợng
đợc gọi tên Ví dụ: Song Ngu (N An), núi Chiếc Đũa (N.Điền), làng ĐôngHải ( N Hải), làng Bách Lợi (N Hng), chùa Vân Lỗi (N Lĩnh), chùa ThạchTuyền ( N Thạch), sông Chính Đại (N Điền), sông Càn (N Phú), đồng CănViên (N Lĩnh), đồng Quan Thùng ( N Giáp), phủ Quy Nhân (N Thanh), phủBái Nại (N Hải)…)
2.1.3.2 Thành tố chung trong địa danh Nga Sơn
a) Về số lợng:
Với tổng số 5493 địa danh đợc thu thập trên địa bàn Huyện Nga Sơn,gồm 65 loại hình đối tợng địa lý, tơng đơng với 65 thành tố chung và đợc phân
bố theo từng loại hình địa danh
Địa danh tự nhiên:
Gồm 24 thành tố: Ví dụ: Ao Cửa Thần(N Giáp), núi Tam Linh(N.Thắng), bãi Soi (N Thiện), đồng Bầu (N Mỹ), gò Vần Vàng (B Đình),…)
Địa danh do con ngời kiến tạo:
* Địa Danh văn hoá: gồm 17 thành tố: ví dụ: chùa Tiên(N Thiện), bếnChính Đại(N Yên), đền Trần Hng Đạo (N Điền), di tích chùa Thợng (N.Thắng),…)
* Địa danh Xây dựng: gồm 18 thành tố: ví dụ: bến đò Thánh Giã(N.Phú), cầu Điền Hộ (N Điền), chợ Bạch Câu (N Bạch), giếng Tam Linh (N.Thắng), kênh Sao Xa(N Lĩnh), ngã năm Hạnh (N.Mỹ),…)
* Địa danh c trú hành chính: gồm 6 thành tố: làng Nhân Sơn (N An), ngõ
Ông Quế (N Lĩnh), tiểu khu Hng Long (thị trấn N Sơn), xã Ba Đình,…)
b) Về cấu tạo:
Qua t liệu hiện có, số lợng đơn vị (âm tiết) trong thành tố chung trong địadanh trên địa bàn huyện Nga Sơn có số lợng 1 âm tiết chiếm đa số 87.6%,
40