DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BCHPCTT Ban chỉ huy Phòng chống thiên tai BĐKH Biến đổi khí hậu BĐRC Hội Chữ thập đỏ tỉnh Bình Định CBDRM Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng DRR Giảm th
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
-
HÀ VĂN CÁT
SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG
QUẢN LÝ RỦI RO THIÊN TAI TRÊN ĐỊA BÀN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do cá nhân tôi khảo sát, tham khảo tài liệu và thực hiện Mọi trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều đƣợc dẫn nguồn và có độ chính xác cao trong phạm vi hiểu biết của cá nhân tôi Luận văn đƣợc thực hiện trên cơ sở tổng hợp những kiến thức, nghiên cứu các dữ liệu, tài liệu nhiều cơ quan, đơn vị và khảo sát thực tế của tác giả./
TP Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 12 năm 2016
TÁC GIẢ
HÀ VĂN CÁT
Trang 41.2 Mục tiêu nghiên cứu: 4
1.2.1 Mục tiêu tổng quát: 4
1.2.2 Mục tiêu cụ thể: 4
1.3 Câu hỏi nghiên cứu: 4
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 4
1.4.1 Đối tượng: 4
1.4.2 Phạm vi: 4
1.5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn thông tin: 5
1.5.1 Phương pháp nghiên cứu: 5
1.5.2 Nguồn thông tin dự kiến: 7
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8
2.1 Tình hình thiên tai và Biến đổi khí hậu ở Việt Nam: 8
2.2 Tình hình thiên tai và BĐKH ở tỉnh Bình Định: 12
2.2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội: 12
2.2.1.1 Vị trí địa lý: 13
2.2.1.2 Đặc điểm địa hình: 13
2.2.1.3 Đặc điểm khí hậu: 14
2.2.1.4 Đặc điểm sông ngòi: 15
2.2.1.5 Hiện trạng kinh tế - xã hội: 17
2.2.2 Các loại hình thiên tai và phạm vi ảnh hưởng: 20
2.2.2.1 Đặc điểm và phạm vi ảnh hưởng của các loại hình thiên tai: 20
2.2.2.2 Tác động của thiên tai đến các mặt của đời sống xã hội: 22
2.2.2.3 Tác động của BĐKH tại tỉnh Bình Định: 25
2.2.3 Tình hình quản lý và đánh giá rủi ro thiên tai trên thế giới và ở Việt Nam: 25
2.2.3.1 Thực tiễn quản lý và đánh giá rủi ro thiên tai trên thế giới: 26
Trang 5tỉnh Bình Định: 29
2.2.3.4 Khái quát tình trạng dễ bị tổn thương ở tỉnh Bình Định: 32
2.2.3.5 Nhận định về nguy cơ những loại hình thiên tai (lụt bão) có thể xảy ra trong thời gian tới: 32
CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT, CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
3.1 Lý thuyết về sự tham gia của người dân: 34
3.1.1 Một số quan niệm: 34
3.1.2 Cơ sở lý thuyết về sự tham gia của người dân: 35
3.2 Tổng quan các nghiên cứu trước về sự tham gia của người dân: 42
3.3 Khái niệm thiên tai, BĐKH và tình trạng dễ bị tổn thương: 44
3.3.1 Thiên tai: 44
3.3.2 Rủi ro thiên tai và cấp độ rủi ro thiên tai: 44
3.3.3 Hiểm họa: 45
3.3.4 Biến đổi khí hậu: 45
3.3.5 Thích ứng với BĐKH: 46
3.3.6 Năng lực phòng, chống thiên tai (ứng phó): 46
3.3.7 Tình trạng dễ bị tổn thương: 46
3.3.8 Đối tượng dễ bị tổn thương trong thiên tai: 47
3.3.9 Đánh giá rủi ro có sự tham gia: 47
3.4 Phương pháp nghiên cưú: 48
3.4.1 Địa bàn nghiên cứu: 48
3.4.2 Cách tiếp cận của phương pháp nghiên cứu: 48
CHƯƠNG 4: 51
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN 51
4.1 Đặc điểm tình hình các xã, phường nghiên cứu: 51
Trang 64.1.4 Xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Thạnh: 53
4.2 Thực trạng tham gia của người dân trong QLRRTT: 54
4.2.1 Thông tin về thiên tai, BĐKH: 54
4.2.2 Ứng phó của người dân trong PCTT: 59
4.2.3 Người dân tham gia đóng góp ý kiến vào kế hoạch PCTT: 61
4.2.4 Người dân trực tiếp tham gia QLRRTT: 66
4.2.5 Người dân tham gia kiểm tra, giám sát: 71
4.3 Một số khó khăn khi người dân tham gia QLRRTT: 73
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 75
5.1 Kết luận: 75
5.2 Khuyến nghị: 77 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Phụ luc 2
Phụ lục 3
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCHPCTT Ban chỉ huy Phòng chống thiên tai
BĐKH Biến đổi khí hậu
BĐRC Hội Chữ thập đỏ tỉnh Bình Định
CBDRM Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng
DRR Giảm thiểu rủi ro thảm họa
DMC Trung tâm Phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai
HVCA Đánh giá hiểm họa, tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực
phòng tránh giảm nhẹ thiên tai (Còn gọi là Đánh giá rủi ro thiên tai)
GRC Hội Chữ thập đỏ Đức
GIZ Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức
IPCC Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu
IFRC Liên đoàn quốc tế Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ
RRTT Rủi ro thiên tai
NNPTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
PCD Phương pháp phát triển cộng đồng
PCLB Phòng chống lụt bão
PCTT Phòng chống thiên tai
PR Nghiên cứu sự tham gia (Participatory Research)
PAR Nghiên cứu hành động tham gia (Participatory Action Research) TKCN Tìm kiếm cứu nạn
TNTM Tài nguyên và Môi trường
UNDP Chương trình Phát triển Liên hợp Quốc
(United Nations Development Programme)
UBND Ủy ban nhân dân
VCA Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực
VNRC Hội Chữ thập đỏ Việt Nam
WB Ngân hàng Thế giới (World bank)
Trang 8
Sơ đồ 1.1: Khung phân tích 6
Sơ đồ 1.2: Trình tự các bước nghiên cứu 7
Sơ đồ 3.1: Các cấp độ tham gia của người dân 38
Sơ đồ 3.2 Bậc thang của sự tham gia 38
Sơ đồ 3.3 Bậc thang của sự tham gia từ cao xuống thấp 40
Bảng: Bảng 2.1: Số lượng và cơ cấu lao động phân theo ngành 18
Bảng 2.2: Cơ cấu kinh tế phân theo ngành giai đoạn 2005 - 2015 19
Bảng 2.3: Một số chỉ tiêu về tăng trưởng kinh tế theo GDP (%) 19
Biểu đồ: Biểu đồ 4.1: Thông tin nhận biết về thiên tai của người dân 56
Biểu đồ 4.2: Công tác chuẩn bị của người dân khi nắm bắt thông tin về thiên tai 57
Biểu đồ 4.3: Tỷ lệ người dân biết về BĐKH 58
Biểu đồ 4.4: Nhận thức của người dân về tác động của BĐKH 59
Biểu đồ 4.5: Nhận thức của người dân về quản lý, ứng phó với RRTT 61
Biều đồ 4.6: Tỷ lệ người dân biết kế hoạch PCTT ở địa phương 62
Biểu đồ 4.7: Tỷ lệ người dân biết về mục đích của kế hoạch PCTT 62
Biểu đồ 4.8: Ý kiến người dân là quyết định trong lập kế hoạch PCTT 63
Biểu đồ 4.9: Nhận thức của người dân về tầm quan trọng của Bản đồ QLRRTT 64
Biểu đồ 4.10: Tỷ lệ người dân tham gia các hoạt động PCTT tại địa phương 66
Biểu đồ 4.11: Tỷ lệ người dân biết phương châm “4 tại chỗ” 67
Biểu đồ 4.12: Người dân quyết định về mức đóng góp các công trình 68
Biểu đồ 4.13: Hình thức đóng góp của người dân 69
Biểu đồ 4.14: Tỷ lệ người dân tham gia kiểm tra, giám sát 72
Hình: Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Bình Định 12
Hình 4.2: Bản đồ PCTT phường Nhơn Bình, thành phố Quy Nhơn 65
Trang 9TÓM TẮT
Hiện nay, trong điều kiện thiên tai ngày càng diễn biến cực đoan do tác động của biến đổi khí hậu, làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống xã hội và sự phát triển của đất nước Trong đó người dân là đối tượng chịu tác động nhiều nhất
Mục tiêu của luận văn tập trung giải quyết những vấn đề cơ bản là: phân tích
sự tham gia của người dân trong quản lý rủi ro thiên tai, các yếu tố ảnh hưởng, khó khăn, thuận lợi… và đưa ra một số khuyến nghị để làm tốt hơn công tác quản lý rủi
ro thiên tai tại cộng đồng
Luận văn sử dụng Lý thuyết “Bậc thang của sự tham gia” của David Arnstein’s, và cách tiếp cận “Nghiên cứu sự tham gia” (PR), “Nghiên cứu cộng đồng tham gia” (PAR), cùng với việc phân tích thống kê, tham vấn, thực chứng để đưa ra các giải pháp tối ưu nhất Tác giả luận văn đã đi nghiên cứu, khảo sát 120 hộ dân với phương pháp chọn mẫu phi xác suất tại 4 xã, phường trọng điểm về thiên tai (bão lũ) và mang tính đại diện cho các vùng, địa phương của tỉnh, gồm: Phường Nhơn Bình, thành phố Quy Nhơn; xã Cát Chánh, huyện Phù Cát; xã Ân Hảo Đông, huyện Hoài Ân và xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Thạnh Thời gian thực hiện khảo sát
“ỷ lại” và “trông chờ” hỗ trợ từ bên ngoài sang chủ động, ứng phó, bảo vệ tính mạng bản thân, gia đình và xây dựng cộng đồng mà họ đang sinh sống an toàn hơn Chính quyền và các tổ chức xã hội ở địa phương có trách nhiệm tham gia và hỗ trợ người dân trong công tác này
Đề tài đã đưa ra 7 khuyến nghị cơ bản nhất với mục đích góp phần cùng với địa phương và người dân làm tốt công tác quản lý rủi ro thiên tai trên địa bàn tỉnh Bình Định
Trang 10CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Bối cảnh nghiên cứu:
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, là một trong những ổ bão của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương thường xuyên phải đối mặt với nhiều loại hình thiên tai khốc liệt, nhất là thiên tai bão lụt Trong 10 năm trở lại đây, trung bình hàng năm có 750 người chết và mất tích, thiệt hại về người và tài sản ước tính tương đương khoảng 1 - 1,5% GDP Thêm vào đó, BĐKH toàn cầu đã và đang làm thiên tai ở nước ta có chiều hướng ngày càng gia tăng và phức tạp, kèm theo những đột biến khó lường (DMC - BNNPTNT, 2011) Minh chứng cụ thể nhất là Cơn bão số
6 (Xangsane) năm 2006 đã gây thiệt hại 1,2 tỉ đô la Mỹ tại 15 tỉnh miền Trung Hoàn lưu cơn bão số 3 ở các tỉnh phía Bắc và lũ lụt ở các tỉnh Bắc miềm Trung
2016 đã làm hàng chục người chết và mất tích, thiệt hại cho các tỉnh này lên đến hàng trăm tỷ đồng Cơ sở hạ tầng và dân cư ngày càng tập trung tại các vùng có mức độ tổn thương cao như vùng đồng bằng hay bị lũ lụt và vùng ven biển Qua đó thấy rằng thiệt hại sẽ ngày càng lớn trong tương lai, khoảng 70% dân số Việt Nam
dễ bị rủi ro thiên tai - nhất là tại các vùng nông thôn, nơi sinh kế bị đe dọa nhiều nhất (WB) Trong bối cảnh đó, những năm qua, công tác phòng chống thiên tai được Đảng, nhà nước và nhân dân ta xác định là một trong những nhiệm vụ ưu tiên
và xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Bên cạnh đầu tư kinh phí
và sức lực liên tục trong nhiều năm để xây dựng hệ thống các công trình, cơ sở vật chất phòng chống thiên tai, nhà nước đã quan tâm hoàn thiện thể chế, chiến lược, chính sách, tăng cường năng lực và nhận thức của người dân Chiến lược quốc gia phòng chống thiên tai đến năm 2020 và gần đây là Luật Phòng, chống thiên tai được ban hành, các đề án, dự án đã và đang được tổ chức thực hiện đã chứng minh cho
nỗ lực đó của Đảng và Nhà nước ta Đề án “Nâng cao nhận thức cộng đồng và QLRRTT dựa vào cộng đồng” đã được Thủ tướng Chính phủ thông qua (Quyết định số 1002/QĐ-TTg ngày 13/7/2009) với mục tiêu tăng cường nhận thức, kỹ năng cho người dân các xã - vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng bởi thiên tai, qua đó
Trang 11người dân chủ động tham gia đánh giá hiểm họa, xác định nguồn lực, xây dựng kế hoạch PCTT với trọng tâm là xây dựng phương châm “4 tại chỗ”
Bình Định là một tỉnh trong khu vực Duyên hải miền Trung, chịu nhiều tác động mạnh của thiên tai như: bão, lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn… Trong các loại hình thiên tai, thì bão, áp thấp nhiệt đới, lũ lụt gây hậu quả rất nặng nề trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, xã hội, môi trường cho các địa phương Hàng năm, UBND tỉnh
và các cấp chính quyền địa phương đều xây dựng các kế hoạch, phương án phòng chống thiên tai, nhưng những thiệt hại do thiên tai, nhất là thiên tai bão, lũ lụt gây ra cho Bình Định không những giảm mà còn có xu hướng tăng lên với cường độ mạnh hơn, đời sống của người dân luôn bị de dọa, sản xuất nông - lâm - thủy sản bấp bênh, tổn hại do bão, lũ lụt những năm gần đây đã gây ra rất nhiều thiệt hại lớn cho tỉnh Từ 1990 đến nay, ở tỉnh Bình Định, năm nào cũng xảy ra bão, lũ lụt; bình quân mỗi năm xảy ra 3,5 đợt lũ lụt, chịu ảnh hưởng của 0,5 cơn bão; trong giai đoạn 1999
- 2015, tỉnh Bình Định chịu ảnh hưởng trực tiếp của 10 cơn bão, làm 368 người chết, 279 người bị thương, 6.972 hộ bị sập nhà, 56.533 hộ bị hư hỏng, 500 tàu bị chìm và hư hỏng nặng, tổng thiệt thiệt hại khoảng 6.600 tỷ đồng Điển hình năm
2009, hai cơn bão số 9 và số 11 kết hợp lũ lụt đã làm 29 người chết, 72 người bị thương, thiệt hại kinh tế khoảng 972 tỷ đồng Năm 2013, do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 15 kết hợp với không khí lạnh tăng cường và nhiễu động gió Đông trên cao, khu vực tỉnh Bình Định có mưa rất to, mưa lũ từ ngày 13 - 18/11/2013 đến đã làm 19 người chết, 14 người bị thương, 101.470 nhà bị ngập nước, 510.000 người bị ảnh hưởng, thiệt hại ước tính 2.125 tỷ đồng (UBND - KHPCTT, 2015) Từ đầu tháng 11 đến tháng 12/2016, tại tỉnh Bình Định đã xảy ra năm đợt mưa lũ lớn, lượng mưa bình quân 416 mm Nước các sông trong tỉnh ở mức báo động 3 và trên báo động 3 Đỉnh lũ trên sông Kôn tại Bình Nghi là 17,1 m, dưới báo động 3 0,4 m Trong năm đợt mưa lũ vừa qua đã gây thiệt hại nặng nề ở các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh với 42 người chết, 10 người bị thương, 908 nhà sập hoàn toàn, 409 nhà tốc mái hư hỏng nặng, 110.697 lượt nhà ngập nước; 114/159 xã, phường ngập trong nước, trên 70.000 hộ dân phải di dời Hạ tầng giao thông, thủy lợi, đê điều,
Trang 12thiệt hại về sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp… là rất lớn; thiệt hại về tài sản ước tính 2.214 tỷ đồng (UBND, 2016) Theo các cụ lớn tuổi định cư lâu năm tại địa phương, thì từ năm 1953 đến nay, tỉnh Bình Định hứng chịu 7 đợt mưa lũ lớn gây thiệt hại nhiều về người và tài sản (Các cơn mưa lũ lớn diễn ra vào các năm: 1953,
1964, 1972, 1984, 2009, 2013 và 2016) Diễn biến mưa lũ năm 2016 có thể xem đây
là đợt mưa lũ lịch sử, thiệt hại nhất của tỉnh Bình Định từ trước tơi nay
Để chủ động ứng phó với thiên tai, cần giúp người dân nhận thức một cách đầy đủ và rõ ràng về tác hại của nó; nhận thức vai trò và tầm quan trọng của chính
họ trong các giải pháp ứng phó với thiên tai và thích ứng với điều kiện BĐKH hậu hiện nay Sự tham gia của người dân, cộng đồng trong QLRRTT,nhất là QLRRTT lụt bão là một quá trình mà trong đó người dân đang đối mặt với RRTT, tham gia tích cực vào việc xác định, phân tích các rủi ro; trên cơ sở đó lập kế hoạch thực hiện, theo dõi và đánh giá các hoạt động nhằm mục đích giảm nhẹ các tình trạng dễ
bị tổn thương và tăng cường khả năng thích nghi, ứng phó của người dân trước
thiên tai và BĐKH Điều này cũng có nghĩa là người dân trở thành trung tâm của
quá trình ra quyết định và triển khai các hoạt động QLRRTT Chính quyền và các tổ chức xã hội ở địa phương có trách nhiệm tham gia và hỗ trợ người dân trong suốt quá trình đó
Tại một số xã, phường trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua có triển khai một
số dự án về giảm thiểu rủi ro thảm họa (lụt bão) dựa vào cộng đồng, do Hội Chữ thập đỏ Na Uy, Đức, Mỹ, Hà Lan, Ngân hàng Thế giới, các tổ chức phi chính phủ tài trợ (Các cơ quan thực hiện như: Hội Chữ thập đỏ, Sở NNPTNT, Sở TNMT…)
đã huy động đông đảo người dân được tham gia vào các hoạt động của dự án, bước đầu mang lại nhiều hiệu quả thiết thực và có nhiều quyết định đúng đắn trong QLRRTT, giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản do thiên tai gây ra Tuy nhiên,
phạm vi thực hiện còn hẹp, sự tham gia của người dân chưa nhiều
Đề tài “Sự tham gia của người dân trong quản lý rủi ro thiên tai trên địa bàn tỉnh Bình Định” là cần thiết, góp phần giải quyết những thực trạng nêu trên
trong giai đoạn hiện nay
Trang 131.2 Mục tiêu nghiên cứu:
1.2.1 Mục tiêu tổng quát:
Đánh giá sự tham gia của người dân trong QLRRTT trên địa bàn tỉnh Bình Định, từ đó đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao vai trò, sự tham gia của người dân trong hoạt động QLRRTT trong điều kiện BĐKH hiện nay
1.2.2 Mục tiêu cụ thể:
Luận văn làm rõ các vấn đề sau:
- Phân tích và đánh giá sự tham gia, các yếu tố ảnh hưởng, thuận lợi, khó khăn… của người dân trong QLRRTT trong điều kiện với BĐKH
- Đưa ra một số khuyến nghị để nâng cao sự tham gia của người dân trong QLRRTT
1.3 Câu hỏi nghiên cứu:
Đề tài tập trung vào các câu hỏi nghiên cứu sau:
Câu hỏi 1: Tại sao cần phải có sự tham gia của người dân trong công tác
phòng, chống và QLRRTT?
Câu hỏi 2: Sự tham gia của người dân Bình Định trong các hoạt động
QLRRTT, các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân như thế nào?
Câu hỏi 3: Làm thế nào để tăng cường hơn nữa tính chủ động, tham gia tích
cực của người dân trên địa bàn tỉnh trong QLRRTT, thích ứng trong điều kiện BĐKH?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
1.4.1 Đối tượng:
Sự tham gia của người dân trong QLRRTT trên địa bàn tỉnh Bình Định 1.4.2 Phạm vi:
- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu mức độ tham gia của người dân
tại 4 xã, phường trọng điểm về thiên tai (lụt bão) của tỉnh Bình Định, gồm: Phường Nhơn Bình - Thành phố Quy Nhơn (đô thị loại 1, phía Nam tỉnh), xã Ân Hảo Đông
- Huyện Hoài Ân (xã trung du, huyện trung du, phía Bắc tỉnh), xã Cát Chánh- Huyện Phù Cát (xã ven biển, huyện đồng bằng của tỉnh) và xã Vĩnh Thịnh - Huyện
Vĩnh Thạnh (xã miền núi, huyện miền Núi của tỉnh)
Trang 14- Phạm vi thời gian: Thu thập thông tin, số liệu trong tỉnh và tại các xã, phường nghiên cứu từ năm 2005 đến 2015
1.5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn thông tin:
1.5.1 Phương pháp nghiên cứu:
- Cách tiếp cận của đề tài: Từ người dân tại địa bàn các xã, phường trọng điểm thiên tai lụt, bão của của 4 huyện, thành phố trong tỉnh
- Số liệu nghiên cứu:
+ Số liệu thứ cấp: Các số liệu được cập nhật từ nguồn tài liệu của IFRC; BNNPTNT; BTNMT; VNRC; Văn phòng thường trực Ban chỉ huy Phòng chống thiên tai Quốc gia; các cục, viện, trường đại học… Văn phòng Ban chỉ huy PCTT
và TKCN các cấp của tỉnh, cùng với số liệu các cơ quan liên quan như: Sở NNPTNT, Sở TNMT, Văn phòng Điều phối BĐKH tỉnh, Hội Chữ thập đỏ tỉnh, Cục Thống kê tỉnh; UBND và Hội Chữ thập đỏ các xã, phường nghiên cứu
+ Số liệu sơ cấp: Khảo sát 120 người dân tại 4 xã, phường nghiên cứu
- Phương pháp xử lý số liệu: Phương pháp nghiên cứu định tính, nghiên cứu
số liệu thực chứng từ người dân; cùng với phân tích, so sánh, thống kê mô tả để trả lời các câu hỏi nghiên cứu đề ra ở trên
- Các công cụ sử dụng trong đề tài: Thang đo của David Arnstein’s, cách tiếp cận “Nghiên cứu sự tham gia” (PR), “Nghiên cứu cộng đồng tham gia” (PAR)
và các nghiên cứu khác về sự tham gia của người dân để đánh giá, phân tích
Trang 15- Khung phân tích sự tham gia của người dân trong QLRRTT trên địa bàn tỉnh Bình Định:
Phương pháp nghiên
cứu PA, PAR, phân
tích mô tả…
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về PCTT và RRTT
Tham khảo kinh nghiệm và thực chứng với người dân tại cộng đồng
Hộ dân Chính quyền, hội đoàn thể ở địa phương hỗ
trợ trong công tác QLRRTT
Thu thập và phân tích số liệu thứ cấp,
sơ cấp
Trang 16Sơ đồ 1.2: Trình tự các bước nghiên cứu
(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)
1.5.2 Nguồn thông tin dự kiến:
Các số liệu được cập nhật từ nguồn tài liệu của IFRC; BNNPTNT; BTNMT; VNRC; Văn phòng thường trực Ban chỉ huy Phòng chống thiên tai Quốc gia; các cục, viện, trường đại học… Văn phòng Ban chỉ huy PCTT và TKCN các cấp của tỉnh, cùng với số liệu các cơ quan liên quan như: Sở NNPTNT, Sở TNMT, Văn phòng Điều phối BĐKH tỉnh, Hội Chữ thập đỏ tỉnh, Cục Thống kê tỉnh; UBND và Hội Chữ thập đỏ các xã, phường nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận, chuẩn
bị bảng hỏi, câu hỏi phỏng vấn…
Thu thập thông tin dữ liệu
thứ cấp
Viết và trình bày luận văn
Điều tra qua bảng hỏi người dân
Góp ý của chuyên gia
Thu thập thông tin thứ cấp khác
Tổng hợp, phân tích thông
tin, dữ liệu (Phân tích thống
kê, PR, PAR…)
Trang 17CHƯƠNG 2:
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Tình hình thiên tai và Biến đổi khí hậu ở Việt Nam:
Việt Nam là quốc gia hàng năm phải đối mặt với nhiều loại hình thiên tai khác nhau, đặc biệt là lũ lụt, bão Trong 10 năm trở lại đây, trung bình hàng năm có tới 750 người chết và mất tích, thiệt hại về tài sản ước tính tương đương khoảng 1 - 1,5% GDP đã tác động xấu đến nhiều mặt về phát triển kinh tế, xã hội và môi trường Trong bối cảnh BĐKH hiện nay ngày càng biểu hiện rõ ở Việt Nam, thiên tai được dự báo là sẽ ngày càng khốc liệt, khó lường, gia tăng cả về cường độ và tần suất khiến người dân, chính quyền và các thành phần xã hội khác phải gánh chịu những rủi ro thiên tai lớn hơn bao giờ hết
Theo thống kê của Ban chỉ đạo PCTTTW: Từ năm 1996 đến năm 2011, số người chết do lụt bão có xu hướng gia tăng (năm 2003 là 180 người, đến năm 2008
là 474 người), đồng thời thiệt hại về kinh tế cũng có xu hướng tăng mạnh, từ 1.589
tỷ năm 2003 đến hơn 18.565 tỷ năm 2006
Năm 2015, theo ước tính thiên tai đã làm 154 người chết, hơn 445.000 ha diện tích lúa và hoa màu bị thiệt hại, hàng triệu m³ đất đá giao thông, thủy lợi bị sạt
lở, bồi đắp Ước tổng thiệt hại khoảng 8.114 tỷ đồng Tác động của BĐKH tại nước
ta là nghiêm trọng, diễn biến của BĐKH thực tế diễn ra nhanh hơn nhiều so với các
dự báo (Lê Minh Nhật - BTNMT, 2015)
Chính phủ và nhân dân Việt Nam rất quan tâm đến giảm thiểu rủi ro thiên tai
và ứng phó với BĐKH Chính phủ đã thể hiện một cam kết mạnh mẽ trong việc giảm nhẹ thiên tai và thích ứng với BĐKH thông qua việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 172/2007/QĐ-TTg ngày 16/11/2007 và Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 5/12/2011 về Phê duyệt Chiến lược quốc gia về BĐKH, và sau
đó cụ thể hóa bằng Quyết định số 1002/QĐ-TTg ngày 13/7/2009 về Phê duyệt Đề
án nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, Quyết định số 1183/QĐ-TTg ngày 30/8/2012 Phê duyệt Chương trình mục tiêu
Trang 18quốc gia ứng phó với BĐKH giai đoạn 2012 - 2015 Đặc biệt, Luật Phòng chống thiên tai đã được Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII,
kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 19/6/2013 Hiện nay, mọi nỗ lực đang được tiến hành
để triển khai rộng các chính sách nói trên tại các địa phương trên toàn quốc
Mục tiêu chung của Chiến lược quốc gia về phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai là huy động mọi nguồn lực để thực hiện có hiệu quả công tác phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai từ nay đến năm 2020, nhằm giảm đến mức thấp nhất thiệt hại về người và tài sản, hạn chế sự phá hoại tài nguyên thiên nhiên, môi trường và di sản văn hóa, góp phần quan trọng bảo đảm phát triển bềnh vững của đất nước, đảm bảo quốc phòng, an ninh Để thực hiện thành công Chiến lược quốc gia về phòng, chống
và giảm nhẹ thiên tai thì nhận thức và sự tham gia của người dân và chính quyền địa phương là rất quan trọng Chính vì vậy, ngoài các chương trình nâng cấp cơ sở hạ tầng, Chính phủ còn ban hành Đề án 1002 về Nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, trước mắt thực hiện cho 6.000 xã có nguy cơ rủi ro thiên tai cao trong toàn quốc Bên cạnh đó, mục tiêu chiến lược của Chương trình quốc gia ứng phó với BĐKH là đánh giá được mức độ tác động của BĐKH với các lĩnh vực, ngành và địa phương trong từng giai đoạn và xây dựng được kế hoạch hành động có tính khả thi để ứng phó với BĐKH cho từng giai đoạn ngắn hạn và dài hạn, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước, tận dụng các cơ hội phát triển nền kinh tế theo hướng cacbon thấp và tham gia cùng cộng đồng quốc tế trong nỗ lực giảm nhẹ BĐKH, bảo vệ hệ thống khí hậu trái đất
Việt Nam đã tham gia nhiều hoạt động cấp khu vực và toàn cầu về BĐKH Đến nay, nhiều bộ, ngành, địa phương đã ban hành kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH Kịch bản ứng phó với BĐKH đã được Bộ TNMT xây dựng năm 2009, được bổ sung, cập nhật cho các vùng năm 2012 là cơ sở quan trọng để các bộ, ngành, địa phương xây dựng chương trình hành động ứng phó phù hợp Việt Nam cũng đã triển khai một số chương trình nghiên cứu về ứng phó BĐKH, phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai có hiệu quả từ nguồn ngân sách nhà nước, từ nguồn tài trợ của các tổ chức quốc tế, Ngân hàng Thế giới, các tổ chức phi chính phủ… qua đó, đã
Trang 19tăng cường tính chủ động và tích cực của cộng đồng để ứng phó với những ảnh hưởng của thiên tai và BĐKH thông qua giảm thiểu tình trạng dễ bị tổn thương, tăng cường năng lực cho cộng đồng bám sát phương châm “4 tại chỗ” là vấn đề quan tâm hàng đầu trong chiến lược và hành động của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Tại Hội nghị lần thứ 21 về BĐKH (COP21) - Thủ đô Paris (Pháp), 12/2015, Ông Nguyễn Tấn Dũng đã có bài phát biểu cam kết thực hiện các giải pháp về BĐKH tại Việt Nam là: “Một là, giai đoạn từ nay đến năm 2020, trong điều kiện
khó khăn về nguồn lực nhưng chúng tôi tiếp tục tích cực triển khai Chiến lược, Chương trình, kế hoạch về ứng phó với biến đổi khí hậu trên nhiều lĩnh vực với các biện pháp thiết thực Thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ trong Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu và Nghị định thư Kyoto Việt Nam sẽ đóng góp
1 triệu USD vào Quỹ Khí hậu xanh giai đoạn 2016 - 2020 Hai là, đối với giai đoạn
sau năm 2020, mặc dù là một nước đang phát triển còn nhiều khó khăn, chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu, Việt Nam vẫn cam kết giảm 8% lượng phát thải khí nhà kính vào năm 2030 và có thể giảm đến 25% nếu nhận được hỗ trợ hiệu quả
từ cộng đồng quốc tế Việt Nam sẽ xem xét định kỳ, điều chỉnh phù hợp với điều kiện thực tế” (Nguyễn Tấn Dũng, 2015)
“Biến đổi khí hậu mà trước hết là nóng lên toàn cầu và nước biển dâng là một thách thức lớn đối với nhân loại trong thế kỷ 21 Ứng phó với biến đổi khí hậu phải được đặt trong mối quan hệ toàn cầu; không chỉ là thách thức mà còn tạo cơ hội thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng phát triển bền vững Phải tiến hành đồng thời thích ứng và giảm nhẹ, trong đó thích ứng với biến đổi khí hậu, chủ động phòng, tránh thiên tai là trọng tâm” (NQ 24 BCHTW Đảng, Khóa XI, 2013) Thiên tai và các hiện tượng khí hậu cực đoan đang ngày càng gia tăng chưa từng có ở nhiều nơi trên thế giới, đang là mối lo ngại của các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam BĐKH sẽ tác động nghiêm trọng đến đời sống con người trên phạm vi toàn cầu: theo dự báo đến năm 2080, sản lượng ngũ cốc có thể giảm 2
Trang 20- 4 %, khi đó giá sẽ tăng 13 - 45%, số người thiếu lương thực sẽ là 36 - 50% Nước biển dâng cao là nguyên nhân chính gây ngập lụt, nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng mạnh đến nông nghiệp, gây rủi ro lớn đến công nghiệp và các hoạt động kinh
tế khác cũng như đời sống người dân Các công trình hạ tầng được thiết kế theo tiêu chuẩn hiện tại khó lòng đáp ứng đầy đủ các dịch vụ trong tương lai Tại Việt Nam, trong 50 năm qua nhiệt độ trung bình tăng khoảng 0,7oC, mực nước biển dâng cao khoảng 20 cm Thiên tai và các hiện tượng khí hậu cực đoan đã tác động đến nước
ta ngày càng khốc liệt Theo dự báo, đến năm 2100 nhiệt độ trung bình ở Việt Nam
sẽ tăng lên 3oC và mực nước biển dâng cao 1m (UBND, Kịch bản ứng phó BĐKH Bình Định, 2011)
Theo Tổng quan Báo cáo phát triển con người: Nếu nhiệt độ trái đất tăng lên
3 - 4oC có thể khiến cho 330 triệu người phải di dời tạm thời hay vĩnh viễn do lũ lụt, trong đó khoảng 22 triệu người Việt Nam có thể chịu ảnh hưởng bởi sự nóng lên toàn cầu và nước biển dâng Theo kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam năm 2012, nếu mực nước biển dâng lên 1 mét, sẽ có khoảng 39% diện tích ở đồng bằng sông Cửu long, trên 10% diện tích đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, gần 9% dân số các tỉnh ven biển miền Trung và khoảng 7% dân số Thành phố Hồ Chí Minh sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp; trên 4% hệ thống đường sắt, trên 9% hệ thống quốc
lộ và khoảng 12% hệ thống tỉnh lộ của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng (UNDP - 2007 – 2008)
Việt Nam là một quốc gia nằm ở trong 5 ổ bão của thế giới, trước diễn biến bất thường của BĐKH, tình hình thiên tai ngày càng diễn biến phức tạp và mức độ rủi ro thiệt hại đã và sẽ ngày càng tăng trong các năm tới, đòi hỏi chúng ta phải có những hành động ứng phó với lâu dài và kịp thời
Trang 222.2.1.1 Vị trí địa lý:
Bình Định là tỉnh duyên hải miền Trung Việt Nam Lãnh thổ của tỉnh trải dài
110 km theo hướng Bắc - Nam, diện tích tự nhiên: 6.025 km² với 11 đơn vị hành chính gồm thành phố Quy Nhơn, thị xã An Nhơn và 9 huyện, diện tích vùng lãnh hải: 36.000 km² Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, điểm cực Bắc có tọa độ:
14042’10” Bắc, 108055’4” Đông Phía Nam giáp tỉnh Phú Yên, điểm cực Nam có tọa độ: 13039’10” Bắc, 108054’00” Đông Phía Tây giáp tỉnh Gia Lai, điểm cực Tây
có tọa độ: 140
27’ Bắc, 108027’ Đông Phía Đông giáp biển Đông với bờ biển dài
134 km, điểm cực Đông là xã Nhơn Châu (Cù Lao Xanh) thuộc thành phố Quy Nhơn, có tọa độ: 13036’33” Bắc, 109021’ Đông Bình Định được đánh giá là có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, được xem là một trong những cửa ngõ ra biển của các tỉnh Tây Nguyên và vùng nam Lào, đông bắc Campuchia
Vùng đồi: tiếp giáp giữa miền núi phía tây và đồng bằng phía đông, có diện tích khoảng 159.276 ha, có độ cao dưới 100 m, độ dốc tương đối lớn từ 100 - 150
Vùng đồng bằng: Diện tích khoảng 1.000 km², được tạo thành do các yếu tố địa hình và khí hậu, thường nằm trên lưu vực của các con sông hoặc ven biển và được ngăn cách với biển bởi các đầm phá, các đồi cát hay các dãy núi
Vùng ven biển: Bao gồm các cồn cát, đụn cát tạo thành một dãy hẹp chạy dọc ven biển với hình dạng và quy mô biến đổi theo thời gian Bình Định còn có 33
Trang 23đảo lớn nhỏ được chia thành 10 cụm đảo hoặc đảo đơn lẻ, trong đó đảo Nhơn Châu
là đảo lớn nhất (364 ha) cách thành phố Quy Nhơn 24 km, có trên 2.000 dân
2.2.1.3 Đặc điểm khí hậu:
Khí hậu Bình Định thuộc khí hậu Duyên hải Nam Trung Bộ - miền khí hậu đông Trường Sơn Có hai mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 01 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến hết tháng 12, trong mùa mưa thường chịu ảnh hưởng các cơn bão với tần suất trung bình từ 1 - 2 cơn/năm
Căn cứ vào các chỉ tiêu phân vùng, khí hậu Bình Định được phân thành ba vùng chính: Vùng 1 - vùng núi phía Tây Bắc của tỉnh bao gồm huyện An Lão, Vĩnh Thạnh, các xã phía Tây huyện Hoài Ân và các xã vùng núi phía Tây huyện Hoài Nhơn, có tổng lượng mưa năm từ 2.200 mm trở lên, nhiệt độ trung bình năm dưới
260C; Vùng 2 - vùng núi phía Nam tỉnh bao gồm huyện Tây Sơn, Vân Canh và các
xã phía Tây huyện Phù Cát, có tổng lượng mưa năm từ 1.800 - 2.100 mm, nhiệt độ trung bình năm dưới 260C; Vùng 3 - vùng đồng bằng ven biển của tỉnh, có tổng lượng mưa năm dưới 1.700 - 2.200mm, nhiệt độ trung bình năm trên 260C
Chế độ nhiệt: Tổng lượng bức xạ hàng năm khá cao: Từ 140 đến 150
cal/cm2 Nhiệt độ trung bình hàng năm là 27,10C Trung bình cao nhất là 34,60C trung bình thấp nhất là 19,90C Biên độ ngày đêm trung bình 5 - 80C
Số giờ nắng: Bình Định là tỉnh nằm trong vùng có số giờ nắng khá cao;
trung bình hàng năm có số giờ nắng 2.268 - 2.412 giờ Thời kỳ nhiều nắng là từ tháng 3 đến tháng 9 và các tháng ít nắng là tháng 11 và tháng 12
Bốc hơi: Lượng bốc hơi tiềm năng trong năm và tăng dần từ Bắc vào Nam
tỉnh Tại Hoài Nhơn là 1.029 mm và tăng dần đến Quy Nhơn là 1.131 mm Bốc hơi tập trung trong các tháng mùa hạ từ tháng 6 đến tháng 8 và các tháng có lượng bốc hơi ít là từ tháng 10 đến tháng 11
Chế độ ẩm: Độ ẩm trong khu vực khá thấp, trung bình hàng năm khoảng
79% Các tháng 10 đến tháng 12 hàng năm tương đối ẩm và từ tháng 1 đến tháng 9
là thời kỳ khô
Trang 24Chế độ mưa: Lượng mưa bình quân hàng năm ở Bình Định dao động từ
1.800 - 3.300 mm Lượng mưa giảm dần từ Bắc đến Nam, cao nhất là tại vùng núi huyện An Lão với 3.300 mm, thấp nhất tại các xã phía Đông huyện Tuy Phước với lượng mưa dưới 1.700 mm
Mùa mưa ngắn, chỉ tập trung vào 4 tháng (từ tháng 9 đến tháng 12), chiếm 70% đến 80% tổng lượng mưa năm Do mùa mưa ngắn, cường độ mưa lớn nên thường gây ngập, úng làm thiệt hại cho sản xuất và đời sống nhân dân trong vùng
Mùa khô kéo dài 8 tháng (từ tháng 1 đến tháng 8), chiếm khoảng 20 đến 30% tổng lượng mưa năm Đây là mùa ít mưa nên thường xảy ra tình trạng khô hạn
Gió, bão: Hướng gió thịnh hành trong các tháng: mùa Đông thịnh hành là
hướng Tây Bắc, sau đó đổi sang hướng Bắc và Đông Bắc Hướng gió thịnh hành mùa Hạ là hướng Tây hoặc Tây Nam Thời gian chuyển tiếp giữa hai mùa có gió Đông, Đông Bắc, Đông Nam Bão thường tập trung chủ yếu vào 3 tháng: tháng 9, tháng 10 và tháng 11 Nhiều nhất là tháng 10 chiếm 47% tổng số cơn bão đổ bộ và ảnh hưởng đến Bình Định hàng năm
2.2.1.4 Đặc điểm sông ngòi:
Các sông ngòi trên khu vực tỉnh Bình Định không lớn, độ dốc cao, ngắn, hàm lượng phù sa thấp, tổng trữ lượng nước khoảng 5,2 tỷ m³ Có 4 lưu vực sông chính là sông Lại Giang, sông La Tinh, sông Kôn và sông Hà Thanh Đặc điểm các sông như sau:
+ Sông Lại Giang:
Sông Lại Giang gồm hai nhánh sông: sông An Lão bắt nguồn từ vùng núi phía bắc An Lão giáp tỉnh Quảng Ngãi chảy qua huyện An Lão theo hướng bắc - nam; sông Kim Sơn bắt nguồn từ vùng núi rừng huyện Hoài Ân chảy theo hướng tây nam - đông bắc Sông An Lão và sông Kim Sơn nhập lưu tại ngã ba cách cầu Bồng Sơn khoảng 2 km về phía tây rồi đổ ra biển qua cửa An Dũ Diện tích lưu vực tính đến ngã ba nhập lưu của sông An Lão và sông Kim Sơn là 1.272 km2
Trong đó sông An Lão là 697 km2
sông Kim Sơn là 575 km2, tổng diện tích lưu vực là 1.40
km2, chiều dài sông chính là 85 km
Trang 25+ Sông La Tinh:
Sông La Tinh là sông nhỏ nhất trong bốn con sông chính của tỉnh, sông bắt nguồn từ vùng rừng núi cao 400 - 700 m phía tây huyện Phù Mỹ, Phù Cát chảy theo hướng tây bắc - đông nam đến đập Cây Gai chuyển sang hướng tây - đông, sau đó đến đập Cây Ké chuyển hướng đông bắcvà đổ vào đầm Nước Ngọt rồi thông qua biển qua cửa Đề Gi; diện tích lưu vực là 780 km2, chiều dài sông chính là 52 km
+ Sông Kôn:
Sông Kôn là sông lớn nhất trong các sông trong tỉnh có tổng diện tích lưu vực là 3.067 km2 chiều dài sông chính 178 km Sông bắt nguồn từ vùng rừng núi của dãy Trường Sơn với độ cao từ 700 - 1.000 m Sông chảy theo hướng tây bắc - đông nam đến Thanh Quan - Vĩnh Phúc sông chảy theo hướng bắc - nam về đến Bình Tường sông chảy theo hướng tây - đông và đến Bình Thạnh sông chia thành hai nhánh chính: nhánh Đập Đá chảy ra cửa An Lợi rồi đổ vào đầm Thị Nại; nhánh Tân An có nhánh sông Gò Chàm cách ngã ba về phía hạ lưu khoảng 2 km, sau khi chảy trên vùng đồng bằng rồi nhập với sông Tân An cùng đổ vào đầm Thị Nại tại cửa Tân Giảng Tất cả các nhánh sông Đập Đá và Tân An sau khi đổ vào đầm Thị Nại được thông ra biển qua cửa Quy Nhơn
+ Sông Hà Thanh:
Sông Hà Thanh bắt nguồn từ những đỉnh núi cao 1.100 m phía tây nam huyện Vân Canh chảy theo hướng tây nam - đông bắc Khi chảy về đến Diêu Trì sông chia thành hai nhánh: nhánh Hà Thanh và Trường Úc đổ vào đầm Thị Nại qua hai cửa Hưng Thạnh và Trường Úc rồi thông ra biển qua cửa Quy Nhơn Diện tích lưu vực toàn bộ là 539 km2, chiều dài sông chính là 58 km
+ Các lưu vực sông nhỏ ven biển tỉnh Bình Định:
Lưu vực sông Quy Thuận là sông nhỏ của tỉnh Bình Định, sông bắt nguồn
từ vùng núi cao 700 m phía tây xã Hoài Sơn của huyện Hoài Nhơn chảy theo hướng tây bắc - đông nam sau đó chuyển sang hướng tây - đông và đổ qua cửa biển Tam Quan ra biển Đông Diện tích hứng nước 82,38 km2
Trang 26Lưu vực sông Nồm là lưu vực nhỏ nằm trong tỉnh Bình Định, các sông của lưu vực bắt nguồn từ vùng núi cao 600 m phía tây xã Hoài Phú và xã Hoài Hảo của huyện Hoài Nhơn chảy theo hướng tây bắc - đông nam rồi đổ ra biển qua cửa Tam Quan Bắc Diện tích hứng nước 90,68 km2
Lưu vực sông Ông Điều là lưu vực nhỏ bao gồm những con sông nhỏ của tỉnh Bình Định, các sông bắt nguồn từ vùng núi cao 500 m phía tây xã Mỹ Châu và
xã Mỹ Lộc của huyện Phù Mỹ chảy theo hướng tây bắc - đông nam và đổ vào đầm Trà Ổ rồi thông ra biển Đông Diện tích hứng nước 41,63 km2
Lưu vực sông Công Sơn phía bắc giáp lưu vực sông Ông Điều, phía nam giáp lưu vực sông Trà Ổ, phía tây giáp lưu vực sông Lại Giang và lưu vực sông La Tinh Là sông nhỏ của tỉnh Bình Định, sông bắt nguồn từ vùng rừng núi cao 500 m phía tây xã Mỹ Lộc của huyện Phù Mỹ chảy theo hướng tây bắc - đông nam sau đó chuyển sang hướng tây - đông và đổ vào đầm Trà Ổ rồi thông ra Biển Đông Diện tích hứng nước 26,68 km2
Lưu vực sông Trà Ổ phía bắc giáp lưu vực sông Công Sơn, phía tây và nam giáp lưu vực sông La Tinh, phía đông giáp xã Mỹ Thạnh của huyện Phù Mỹ là lưu vực nhỏ của tỉnh Bình Định, sông bắt nguồn từ vùng rừng núi cao 600 m phía tây xã
Mỹ Phong của huyện Phù Mỹ chảy theo hướng tây bắc - đông nam sau đó chuyển sang hướng tây - đông và đổ vào đầm Trà Ổ rồi thông ra biển Đông Diện tích hứng nước 36,65 km2
2.2.1.5 Hiện trạng kinh tế - xã hội:
+ Đặc điểm dân cư:
Dân số của Bình Định hiện nay là 1.506.600 người (Trong đó: nữ chiếm khoảng 51,0% và nam chiếm khoảng 49,0% dân số toàn tỉnh)
Dân cư nông thôn có 1.041.900 người, chiếm 69,15% dân số toàn tỉnh; thành thị có 464.700 người, chiếm 30,85% dân số toàn tỉnh Cộng đồng dân cư gồm nhiều dân tộc cùng chung sống, trong đó: dân tộc Kinh chiếm 98%; dân tộc Ba Na chiếm 1,14%; dân tộc Hrê chiếm 0,4%, dân tộc Chăm chiếm 0,2% và các dân tộc khác chiếm 0,26%
Trang 27Mật độ dân số trung bình toàn tỉnh là 248,2 người/km2 Dân số phân bố không đều, ở miền núi chỉ 31 - 114 người/km2, các huyện đồng bằng ven biển 492 -
836 người/km2, khu vực đô thị xấp xỉ 1.000 người/km2
Tổng số lao động xã hội đã tăng từ 836.200 người năm 2010 lên 898.100 người vào năm 2015, bình quân tăng 16.100 người/năm So sánh lao động các ngành gồm: lao động nông - lâm - ngư nghiệp giảm từ 485.900 người năm 2010 xuống 481.400 người năm 2015, bình quân giảm 1.300 người/năm; ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 161.800 người lên 197.800 người, bình quân tăng 7.000 người/năm; ngành dịch vụ tăng từ 189.200 người lên 257.900 người, bình quân tăng 10.500 người/năm
Bảng 2.1: Số lượng và cơ cấu lao động phân theo ngành
Nông, lâm , ngư 485,4 484,9 481,1 481,4
Công nghiệp, xây dựng 161,6 169,3 174,6 197,8
Khu vực dịch vụ 189,2 198,7 212,8 257,9
Nông, lâm , ngư 58,0 56,9 55,4 52,2
Công nghiệp, xây dựng 19,3 19,8 20,1 22,0
sản là 29,6%, Công nghiệp - Xây dựng là 31,1% và Dịch vụ là 39,3%
Trang 28Bảng 2.2: Cơ cấu kinh tế phân theo ngành giai đoạn 2005 - 2015
Tt Chỉ tiêu/ năm Đơn vị Năm
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Định từ năm 2010 - 2015)
Cả giai đoạn của thời kỳ 2010 - 2015 kinh tế của tỉnh có mức tăng trưởng liên tục Tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) của Bình Định năm 2010 đạt 5.608 tỷ đồng đến năm 2015 đã đạt 4.950 tỷ đồng Nhịp độ tăng trưởng GDP thời kỳ 2001 -
2010 tăng bình quân hàng năm là 9,85%, thời kỳ 2011-2015 là 9,96%, trong đó các ngành thuộc khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 14,04% và 14,02%; khu vực nông, lâm, ngư nghiệp tăng 6,48% và 4,27%; dịch vụ tăng 11,04% và 11,77% tương ứng với 2 giai đoạn trên
Bảng 2.3: Một số chỉ tiêu về tăng trưởng kinh tế theo GDP (%)
Chia theo ngành kinh tế
1 Công nghiệp - Xây dựng 18,5 6,9 14,0 13,4 16,0
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Định năm 2010-2015)
Trang 292.2.2 Các loại hình thiên tai và phạm vi ảnh hưởng:
2.2.2.1 Đặc điểm và phạm vi ảnh hưởng của các loại hình thiên tai:
Khu vực tỉnh Bình Định hằng năm thường bị tác động trực tiếp của các loại thiên tai gồm bão, áp thấp nhiệt đới, lũ, lụt, nắng nóng, hạn hán, giông lốc, triều cường, xâm nhập mặn, sạt lở đất và các hiện tượng thời tiết cực đoan khác như nước biển dâng do siêu bão, động đất, sóng thần, gió Tây khô nóng, gió mùa Đông Bắc…
Bão và áp thấp nhiệt đới là một trong những loại hình thiên tai đặc trưng nhất
ở khu vực tỉnh Bình Định, thường xuất hiện vào thời kỳ mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12, nhiều nhất là tháng 10 và 11 Trung bình mỗi năm Bình Định chịu tác động trực tiếp của 1 - 2 cơn bão Khi đổ bộ vào đất liền, bão thường gây mưa từ 200
- 300 mm trong 2 - 3 ngày; bán kính 100 - 200 km; phía Bắc tâm bão mưa nhiều hơn Khi kết hợp với không khí lạnh diện mưa sẽ mở rộng, thời gian mưa tới 5 - 6 ngày, lượng mưa có thể tới 700 mm Đặc biệt, nơi có địa hình đón gió bão thường
có mưa rất lớn
Lũ lụt xảy ra hằng năm ở Bình Định trên phạm vi rộng lớn, bìnhquân mỗi năm xảy ra 3,5 đợt lũ Năm nhiều nhất có 8 đợt lũ (1999), năm ít nhất có 2 trận lũ (2004) Lũ lụt phổ biến nhất là lũ chính vụ xuất hiện vào thời kỳ mưa nhiều nhất trong năm, tháng 10, 11 Lũ tiểu mạn xuất hiện vào thời kỳ mùa hạ, tháng 5, còn lũ sớm thường xuất hiện vào tháng 9 và lũ muộn xuất hiện vào tháng 12 Thời gian mưa gây lũ mỗi đợt thường từ 2 - 3 ngày có đợt lên đến 5 ngày, tổng lượng mưa từ
200 - 300 mm, có đợt lên đến 400 - 750 mm (từ ngày 20 - 25/11/1992) Đợt lũ lịch
sử tháng 11/2013 ghi nhận lượng mưa phổ biến từ 250 - 450 mm (từ ngày 14 - 17/11/2013) Dòng chảy mùa lũ các sông trong tỉnh rất lớn và biến đổi rất phức tạp, tổng lượng dòng chảy trong mùa lũ chiếm tới 70% lượng dòng chảy cả năm Đối với các sông trong tỉnh vào thời kỳ đầu mùa lũ với lượng mưa trung bình trên lưu vực xấp xỉ 50 mm chỉ làm mực nước trên các sông dao động hoạc lũ nhỏ Lũ ở mức báo động I - II thường xuất hiện khi trên lưu vực có lượng mưa từ 100 - 150 mm, với lượng mưa trên lưu vực từ 150 - 250 mm mực nước các sông ở hạ lưu xấp xỉ
Trang 30hoặc vượt báo động III Qua số liệu thống kê nhiều trận lũ trong nhiều năm lượng mưa sinh trong lũ trung bình thường đạt khoảng 130 - 200 mm
Tình hình khô hạn ở Bình Định xảy ra khi các tháng mùa cạn có lượng mưa
ít thiếu hụt từ 50 - 70% so với lượng mưa trung bình nhiều năm cùng kỳ, nhiệt độ cao, độ ẩm thấp, hầu hết các lưu vực sông trong tỉnh thường xảy ra khô hạn khi nắng nóng kéo dài, có năm liên tiếp nhiều tháng không mưa hoặc có lượng mưa không đáng kể, dẫn đến lượng dòng chảy trên các sông suối thiếu hụt từ 30 - 50%
so với lượng dòng chảy trung bình nhiều năm cùng kỳ, trong khi lượng nước dùng cho sản xuất và sinh hoạt trong mùa khô lại rất lớn Qua số liệu quan trắc những năm gần đây cho thấy, tình hình hạn hán xảy ra nghiêm trọng vào mùa cạn, nhiều sông suối cạn kiệt nước hoàn toàn toàn Hiện nay, trong tình hình BĐKH làm cho mưa trong mùa cạn rất ít, nắng nóng gay gắt, bốc hơi lớn diễn ra đã gây nên tình hình hạn hán ngày càng nghiêm trọng hơn
Bình Định cũng như các tỉnh miền Trung, hàng năm đều chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Thời kỳ đầu khoảng tháng 10, tháng 11 có năm đến tháng 12, lúc này gió mùa đem thời tiết khô hanh cho các tỉnh miền Bắc, nhưng quá trình di chuyển xuống phía Nam lại gây ra kiểu thời tiết ẩm ướt ở các tỉnh Duyên hải Trung
Bộ Đợt gió mùa Đông Bắc đầu tiên xuống đến Bình Định thường từ tháng 10, song cũng có năm mới tháng 9 hoặc đến tháng 11 mới có đợt gió mùa Đông Bắc đến Bình Định Thời gian kết thúc thường vào tháng 4, nhưng thỉnh thoảng có năm đến tháng 5 vẫn còn Nhìn chung trong các tháng mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, trung bình có trên 1 đợt gió mùa ảnh hưởng đến Bình Định, trong đó tháng
12 là nhiều nhất chiếm khoảng 20% số đợt trong năm
Hàng năm, ở Bình Định vào khoảng hạ tuần tháng 4, gió Tây khô nóng xuất hiện ở những vùng thung lũng thấp của tỉnh, vào giữa và cuối tháng 5 thì xuất hiện hầu hết những vùng còn lại trong tỉnh Trung bình hàng năm gió Tây khô nóng có khoảng 20 - 40 ngàyvùng ven biển, những thung lũng thấp từ 40 - 60 ngày Thời kỳ thịnh hành nhất của loại thời tiết khắc nghiệt này là các tháng 6 - 8, trong đó tháng 7
Trang 31và tháng 8 là hai tháng có số ngày gió Tây khô nóng nhiều nhất chiếm 55% số ngày trong năm
Dông, lốc là hiện tượng xảy ra chủ yếu trong mùa hạ, liên quan với sự phát triển mạnh mẽ của đối lưu nhiệt và các nhiễu động khí quyển Theo số liệu quan trắc được ở các địa phương Bình Định, hằng năm trung bình vùng đồng bằng phía Nam tỉnh có từ 33 - 48 ngày dông; còn ở vùng núi, thung lũng và phía Bắc tỉnh có
số ngày dông xuất hiện nhiều hơn từ 60 - 90 ngày dông Năm có số ngày dông cao nhất lên đến 65 - 70 ngày ở vùng đồng bằng phía nam, từ 90 - 110 ngày dông ở vùng núi và phía bắc tỉnh Năm có số ngày dông ít nhất cũng từ 25 - 35 ngày ở vùng đồng bằng phía Nam và từ 50 - 60 ở vùng núi và phía Bắc tỉnh Mùa dông bắt đầu
từ tháng 3 và kết thúc vào cuối tháng 11, trong đó tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10 Tháng 5 và tháng 9 là thời kỳ tranh chấp mạnh mẽ giữa các khối không khí, điều kiện nhiệt - ẩm cũng thuận lợi cho sự hình thành mây dông, nên đây cũng
là hai tháng nhiều dông nhất trong năm Tháng 1 và tháng 12 đôi khi cũng quan trắc thấy dông trong những đợt không khí lạnh kèm dông lạnh tràn về
2.2.2.2 Tác động của thiên tai đến các mặt của đời sống xã hội:
Trong các loại hình thiên tai thì loại hình thiên tai bão, áp thấp nhiệt đới, lũ lụt gây hậu quả nặng nề nhất trên nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường Từ
1990 đến nay, ở Bình Định năm nào cũng xảy ra bão, lụt Bình quân mỗi năm xảy
ra 3,5 đợt lũ, chịu ảnh hưởng của 0,5 cơn bão, trong giai đoạn 1999 - 2014, tỉnh Bình Định chịu ảnh hưởng trực tiếp của 10 cơn bão, làm chết 368 người, 279 người
bị thương, 6.972 hộ sập, 56.533 hộ bị hư hỏng, 500 tàu bị chìm và hư hỏng nặng, giá trị thiệt hại 6.600 tỷ đồng Điển hình năm 2009, hai cơn bão số 9 và số 11 kết hợp lũ lụt đã làm 29 người chết, 72 người bị thương, thiệt hại kinh tế khoảng 972 tỷ đồng Năm 2013, do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 15 kết hợp với không khí lạnh tăng cường và nhiễu động gió Đông trên cao, khu vực tỉnh Bình Định có mưa rất to, mưa lũ từ ngày 13 - 18/11/2013 đến đã làm 19 người chết, 14 người bị thương, 101.470 nhà bị ngập nước, 510.000 người bị ảnh hưởng, thiệt hại ước tính 2.125 tỷ đồng (UBND - KHPCTT, 2015) Từ đầu tháng 11 đến tháng 12/2016, tại tỉnh Bình
Trang 32Định đã xảy ra năm đợt mưa lũ lớn, lượng mưa bình quân 416 mm Nước các sông trong tỉnh ở mức báo động 3 và trên báo động 3 Đỉnh lũ trên sông Kôn tại Bình Nghi là 17,1 m, dưới báo động 3 0,4 m Trong năm đợt mưa lũ vừa qua đã gây thiệt hại nặng nề ở các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh với 42 người chết, 10 người bị thương, 908 nhà sập hoàn toàn, 409 nhà tốc mái hư hỏng nặng, 110.697 lượt nhà ngập nước; 114/159 xã, phường ngập trong nước, trên 70.000 hộ dân phải di dời
Hạ tầng giao thông: 240,7 km đường giao thông bị hư hỏng, sạt lở, 113 cống tiêu và
57 cầu bị sập, hư hỏng, làm ách tắt giao thông cục bộ tại nhiều địa phương; Thủy lợi, đê điều: 86,6 km đê, kè bị sạt lở nặng, uy hiếp đến nhiều khu dân cư đang sinh sống, 247 km kênh muơn bị sạt lở, bồi lấp ảnh hưởng đến sản xuất vụ Đông Xuân,
36 đập dâng lớn nhỏ bị hư hỏng, 285,3 kênh mương bị sạt lở, bồi lấp, 227 đập tạm, đập dâng nhỏ bị hư hỏng, 32 km kênh bờ song bị sạt lỡ; về sản xuất 2.253 ha lúa vụ Mùa trong giai đoạn trổ chín bị ngập ngã, 18.829 ha lúa Đông Xuân mới gieo sạ bị ngập hư hỏng, 5.262 ha hoa màu hư hỏng, 3.775 ha ruộng sa bồi, thủy phá, 36.600 con gia súc, 196.200 con gia cầm bị ngật chết, cuốn trôi, 4.848 tấn lương thực, 1.012 tấn lúa giống bị ngập, hư hỏng; 338 ha nuôi trồng thủy sản bị ngập nước và
25 tàu cá bị chìm…Thiệt hại về tài sản ước tính 2.214 tỷ đồng (UBND, 2016)
Hạn hán thường xảy ra vào thời kỳ mùa khô gây thiệt hại đáng kể cho sản xuất
và đời sống, đặc biệt trong lĩnh vực nông, ngư nghiệp là một trong những khu vực sản xuất chiếm tỷ trọng lớn trong GDP của tỉnh, hơn nữa đây là khu vực chiếm đại
đa số lao động nghèo, đối tượng dễ bị tổn thương nhất khi xảy ra thiên tai Ngành nông nghiệp của tỉnh thường chịu tác động trực tiếp của hạn hán, những năm thiếu nước phần lớn diện tích canh tác đất nông nghiệp phải bỏ hoang và chuyển đổi cơ cấu cây trồng Diện tích nuôi trồng thủy sản không canh tác được do độ mặn tăng cao Giống vật nuôi sản xuất kém, dễ phát sinh dịch bệnh và chết làm ô nhiễm môi trường sống Theo thống kê của Sở NNPTNT tỉnh: từ năm 2010 - 2014, hạn hán đã làm giảm năng suất 78.705 ha cây màu, trong đó có 7.962 ha cây trồng bị mất trắng 376.260 lượt người/94.065 hộ thiếu nước sinh hoạt
Trang 33Gió Tây khô nóng ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống và sản xuất Trong vụ Đông xuân nếu xuất hiện sớm vào tháng 3 và kéo dài vài ngày sẽ ảnh hưởng đối với lúa vụ Đông xuân trong thời kỳ trổ bông nở hoa, ngậm sữa làm tăng tỷ lệ hạt lép Đối với vụ hè thu, gió Tây khô nóng có thể gây hại từ thời kỳ gieo sạ đến thu hoạch
ở những vùng không chủ động nước tưới của nhiều loại cây như lúa, ngô, mè, đậu, mía Ngoài ra, gió Tây khô nóng còn làm giảm năng xuất thịt, sữa, trứng của gia súc, gia cầm, thậm chí phát sinh nhiều dịch bệnh ảnh hưởng đến sức khỏe của con người
So với các loại hình thiên tai bão, lũ, hạn hán, thì triều cường ít xuất hiện hơn nhưng tính khốc liệt của nó lại rất lớn, nhất là các vùng ven biển Khi mặt trăng hoàn thành chu kỳ của nó quay quanh Trái Đất, ở Bình Định triều cường thường xuất hiện vào thời kỳ trăng non của các tháng cuối mùa mưa Tác động của triều cường gây sạt lở đất, cuốn trôi nhà cửa, tàu thuyền, chết người…
Xâm nhập mặn cũng thường xảy ra vào mùa khô hạn Độ mặn của nước tại các cửa sông, đầm và ven biển tăng nhanh vào thời kỳ này lấn sâu vào đất liền làm thay đổi môi trường nước ngọt, một số diện tích lớn đất canh tác nông nghiệp, thủy sản nước ngọt bị nhiễm mặn không sản xuất được Một khi hạn hán kéo dài kết hợp các đợt thủy triều dâng cao sẽ làm cho độ mặn của nước tăng cao và xâm nhập mặn phát tán nhanh trên phạm vi rộng hơn
Hiện tượng sạt lở đất ở các vùng đồi núi, bờ sông, bờ biển đã trở thành hiện tượng phổ biến trong tỉnh, nhất là khi có tác động mạnh của bão, lũ, triều cường Sạt
lở đất thường gây hư hỏng các công trình cơ sở hạ tầng, uy hiếp các khu dân cư sinh sống gần bờ, làm mất đất Hằng năm, sạt lở đất gây thiệt hại lớn về kinh tế xã hội và môi trường
Trong cơn dông, lốc đôi khi kèm theo mưa với sức gió mạnh có thể làm đổ nhà cửa, cây cối, các công trình xây dựng Mưa dông thường không kéo dài, nhưng với những trận mưa cường độ mạnh sẽ gây xói hoặc bào mòn lớp đất màu trên sườn đồi, núi trọc hoặc ruộng bậc thang
Trang 34Ngoài ra, các loại hình thiên tai mang tính tiềm ẩn như siêu bão, động đất, sóng thần tuy chưa xảy ra nhưng cũng đang được quan tâm Bộ TMMT đã xác định: tỉnh Bình Định có khả năng chịu ảnh hưởng trực tiếp hoặc đổ bộ của những cơn siêu bão cấp 15, 16 với nguy cơ nước biển dâng tổng cộng trong bão có thể lên tới 3,0 - 3,2 m Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam đã nghiên cứu nhiều tổ hợp bão - nước biển dâng khác nhau và xác định kịch bản bất lợi nhất với Bình Định là bão mạnh cấp 16 đổ bộ vào phía Nam tỉnh, kèm theo nước biển dâng tới trên 2,5 m
2.2.2.3 Tác động của BĐKH tại tỉnh Bình Định:
Cũng như các tỉnh trong khu vực Duyên hải miền Trung, Bình Định cũng sẽ
bị ảnh hưởng và tác động của BĐKH Theo kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH tỉnh Bình Định trong khuông khổ Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH Việt Nam - Văn phòng điều phối BĐKH tỉnh Bình Định (CCCO), thì Bình Định có cơ cấu lao động trong nông nghiệp, phát triển và định hướng tập trung vào nông nghiệp, công nghiệp thủy sản và dịch vụ, tỉnh có sự đa dạng về tài nguyên thiên nhiên và biển, phía đông giáp biển, tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào nhiều tài nguyên đất đai, tài nguyên tự nhiên Do những đặc điểm trên, BĐKH sẽ tác động nhiều mặt đến kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội và sản xuất nông nghiệp cũng như đời sống người dân
BĐKH làm gia tăng tần suất và cường độ thiên tai như bão, lũ, hạn hán, mưa lớn, nắng nóng và có thể trở thành thảm họa, gây rủi ro lớn cho phát triển kinh tế,
xã hội hoặc xóa đi những thành quả nhiều năm của sự phát triển
2.2.3 Tình hình quản lý và đánh giá rủi ro thiên tai trên thế giới và ở Việt Nam:
Để thực hiện công tác QLRRTT, dưới sự hướng dẫn, hỗ trợ của các cấp chính quyền, Ban chỉ huy PCTT và TKCN các cấp, thì việc đánh giá RRTT là hết sức quan trọng, là nền tảng cho việc thực hiện QLRRTT tại cộng đồng
QLRRTT dựa vào cộng đồng là một quá trình trong đó người dân trong cộng đồng chủ động và tham gia tích cực vào việc xác định và phân tích các RRTT, lập
Trang 35kế hoạch, thực hiện, theo dõi và đánh giá các hoạt động nhằm, thích nghi của cộng đồng với tác động của thiên tai, đặc biệt trong bối cảnh BĐKH (DMC, 2015)
2.2.3.1 Thực tiễn quản lý và đánh giá rủi ro thiên tai trên thế giới:
Quản lý và đánh giá rủi ro theo cách tiếp cận dựa vào cộng đồng đã được nhiều tổ chức, cá nhân ứng dụng trong nghiên cứu giảm nghèo Tại Châu Âu, cuối thế kỷ 20, phương pháp phát triển cộng đồng có sự tham gia (PCD) đã được sử dụng ở Trung Âu, nơi các hội ngành đang phải đối mặt với những khó khăn mà không có được sự hỗ trợ cần thiết Cùng lúc đó, nghèo khó đã gia tăng ra nhiều tập đoàn Đầu những năm 2000, 9 Hiệp hội đã cùng sử dụng một phương pháp luận gọi
là phát triển cộng đồng có sự tham gia để lấy lại sức sống cho ngành hàng của họ PCD là cách để giải quyết các vấn đề của con người tại các địa phương Sau này chúng cũng được áp dụng để đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực ứng phó với thiên tai và trở thành VCA
Tại Mỹ Latinh, ban đầu phương pháp xây dựng chương trình có sự tham gia của cộng đồng là một phương pháp làm việc ở cấp cơ sở để giải quyết các vấn đề chưa liên quan trực tiếp đến thiên tai Phương pháp này càng ngày càng lôi kéo được sự tham gia rộng rãi của cộng đồng nhằm xử lý những bất cập và giảm tình trạng dễ bị tổn thương cho người dân trong cộng đồng Nó thúc đẩy sự hợp tác giữa các bên liên quan trong và ngoài cộng đồng và thúc đẩy sự hợp tác giữa chính quyền trung ương và địa phương, các tổ chức tôn giáo và các tổ chức phi chính phủ (IFRC, 2006)
Đến những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX khi thiên tai và BĐKH tác động ngày càng lớn đến sản xuất và sinh hoạt của người dân tại nhiều nơi trên thế giới thì cách tiếp cận VCA này lại được sử dụng để nghiên cứu về những RRTT mà các cộng đồng gặp phải
Năm 2003, tại Rwanda, Hội Chữ thập đỏ Rwanda đã sử dụng công cụ VCA
để đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực ứng phó với các vấn đề địa lý và kinh tế - xã hội của cộng đồng tại các địa phương trên cả nước (IFRC, 2003)
Trang 36Năm 2007, tại các nước Châu phi, IPCC đã tiến hành nghiên cứu đánh giá tác động, tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng của người dân Châu Phi trong bối cảnh biến đổi khí hậu Nghiên cứu này đã chỉ ra những tác động và tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu gây ra tại các quốc gia Châu Phi trên các khía cạnh nguồn nước, năng lượng, sức khỏe, nông nghiệp, hệ sinh thái, vùng ven biển, du lịch, lắng đọng trầm tích, công nghiệp và cơ sở hạ tầng, nhất là tại Ai Cập
Tại Châu Á, từ đầu thế kỷ 21, phương pháp VCA được sử dụng ngày càng phổ biến và mang lại kết quả thiết thực
Tại Philippin, từ những năm 2000, Tổ chức Oxfam đã hướng dẫn và phối hợp với người dân và chính quyền nước này đánh giá VCA tại nhiều địa phương trong cả nước với cách tiếp cận dựa vào cộng đồng trên cơ sở gắn kết giữa giảm nhẹ thiên tai và phát triển Cách làm này đã giúp các cộng đồng dễ bị tổn thương tại Philippin có được cuộc sống an toàn và ổn định hơn trước, trong và sau thiên tai Mặc dù vậy tính hiệu quả vẫn còn hạn chế
Năm 2003, Chương trình sử dụng bền vững và bảo vệ đa dạng sinh học đất ngập nước Mê Kông phối hợp với Trung tâm Sẵn sàng Ứng phó với Thảm họa Châu Á đã thực hiện nghiên cứu Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương từ những rủi
ro khí hậu tại tỉnh Attapeu Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Từ đánh giá này đã chỉ
ra được những rủi ro do khí hậu tác động đến các cộng đồng dễ bị tổn thương trong khu vực và đưa ra những khuyến nghị kịp thời
Tại Ấn Độ, từ năm 2011 đến nay, đánh giá hiểm họa, tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai đã được Cơ quan Quản lý thiên tai Quốc gia và các Dự án sử dụng ngày càng phổ biến để đánh giá cho nhiều cộng đồng dễ bị tổn thương như: Bihar, Andaman, Nicobar, Islands, Kashmir, Kerala and Tamil, Nadu.Từ đó xây dựng các kế hoạch ứng phó tối ưu nhất
Năm 2012, Bobenrieth và cộng sự đã tiến hành VCA tại tỉnh Koh Kong và Kampot - Vương quốc Cambodia giúp nâng cao nhận thức cộng đồng và đề xuất các giải pháp để giảm nhẹ tình trạng dễ bị tổn thương và tăng cường năng lực cho
Trang 37các địa phương căn cứ vào kết quả nghiên cứu và đặc thù địa phương (VNRC, 2010)
Đánh giá HVCA là nội dung đánh giá được bổ sung, phát triển từ VCA mà nhiều tổ chức nghiên cứu trên thế giới sử dụng để điều tra, nghiên cứu về một cộng đồng nhất định Đối với VCA, mục đích quan trọng nhất là đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực phòng tránh và giảm nhẹ rủi ro thiên tai Đối với HVCA, ngoài 2 nội dung đánh giá như VCA còn chú trọng việc đánh giá hiểm họa tự nhiên tại khu vực nghiên cứu Mặc dù chưa đầy đủ như HVCA nhưng VCA cũng mang lại những tiền đề quan trọng góp phần giảm nhẹ thiên tai tại nhiều nơi trên thế giới nhất
là tại các quốc gia đang phát triển thuộc Châu Phi và Châu Á
2.2.3.2 Đánh giá rủi ro thiên tai có sự tham gia của người dân (dựa vào cộng đồng) tại Viêt Nam:
Tại Việt Nam, từ những năm 1990 và đầu những năm 2000 đến nay, với sự tiên phong của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và các tổ chức xã hội dân sự, VCA đã được áp dụng trong nhiều cuộc điều tra, nghiên cứu sao cho phù hợp với bối cảnh
và điều kiện của đất nước Trước đây các nghiên cứu VCA chủ yếu do Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và các Hội Chữ thập đỏ tỉnh triển khai và thực hiện đánh giá chỉ mới chú trọng đến thiên tai mà chưa đề cấp đến biến đổi khí hậu Mặt khác, nhiều cuộc đánh giá, mức độ triển khai đánh giá còn chưa triệt để, và chưa đánh giá đúng mức các đối tượng dễ bị tổn thương nhất là trẻ em, người khuyết tật Hiện nay, Bộ NNPTNT và Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đã nghiên cứu, ban hành tài liệu hướng dẫn đánh giá VCA mang tính toàn diện hơn, trong đó có phân tích các yếu tố tác động
do BĐKH
Mặc dù là đã có sự chuyển biến về nội dung và phương pháp tiến hành theo thời gian Tuy nhiên, để đảm bảo việc đánh giá ngày càng khách quan, đầy đủ và chính xác đòi hỏi chúng ta không chỉ đánh giá được tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực của người dân mà còn phải phải đánh giá cụ thể sự tác động của các loại hiểm họa tự nhiên trên địa bàn nghiên cứu dưới ảnh hưởng của BĐKH Trong đánh
Trang 38giá này, các loại hiểm họa và tác hại của chúng được tập trung thảo luận sâu cùng với việc phân tích kỹ tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai
2.2.3.3 Công tác PCTT và đánh giá rủi ro thiên tai có sự tham gia của người dân tại tỉnh Bình Định:
Trước tình hình thiên tai và BĐKH diễn biến hết sức phức tạp và khó lường trên địa bàn tỉnh, Tỉnh ủy và UBND tỉnh Bình Định đã có nhiều nỗ lực trong việc ứng phó với những thách thức do thiên tai và BĐKH Năm 2007, UBND tỉnh đã ban
Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược quốc gia về ngăn ngừa, ứng phó và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020; Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia và kịch bản ứng phó với BĐKH giai đoạn 2010 - 2015 tầm nhìn 2020, và năm 2013 UBND tỉnh ban hành quyết định triển khai thực hiện Đề án 1002 của Thủ tướng chính phủ về Nâng cao nhận thức cho người dân trong QLRRTT dựa vào cộng đồng
trên địa bàn tỉnh
Ban chỉ huy PCTT và TKCN tỉnh được thành lập và phân công nhiệm vụ cụ thể từng thành viên Các sở, ngành, địa phương đã thành lập Ban Chỉ huy PCTT và TKCN, triển khai công tác chuẩn bị PCTT và TKCN ở đơn vị, trên địa bàn Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, Công an tỉnh là lực lượng chủ yếu trong công tác TKCN trong tỉnh Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh hằng năm có kế hoạch hiệp đồng các đơn vị chủ lực của Quân khu, các đơn vị của Bộ đóng trên địa bàn tổ chức lực lượng, phương tiện, phân công khu vực đảm nhiệm thực hiện nhiệm
vụ TKCN theo kế hoạch thống nhất của địa phương Các địa phương có phương án huy động lực lượng trên địa bàn Ở huyện, huy động lực lượng công an, bộ đội và Đoàn thanh niên.Ở xã, huy động đoàn viên thanh niên, dân quân, tự vệ.Các đội xung kích ở cấp xã, phường có 30 - 40 người.Ngoài ra, còn có kế hoạch huy động nhân lực, phương tiện của các doanh nghiệp, các cơ quan chính phủ, các tổ chức phi chính phủ đóng trên địa bàn
Theo Báo cáo khảo sát về năng lực phòng chống thiên tai - Dự án Phòng chống ngập úng và thoát nước tại thành phố Quy Nhơn, do Hội Chữ thập đỏ tỉnh
Trang 39thực hiện, Hội Chữ thập đỏ Đức và Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức (GIZ) tài trợ (2013 - 2015), thì hàng năm từ tỉnh, huyện, thành phố và phường, xã đều có lập kế hoạch PCTT và TKCN chung cho từng cấp Nhiều sở, ban, ngành cũng có lập kế hoạch riêng cho đơn vị mình Tuy nhiên, tiến trình lập kế hoạch còn mang nặng tính
1 chiều từ trên xuống, kế hoạch năm sau kế thừa năm trước Hiện nay, vẫn chưa có mẫu thống nhất chung đồng bộ cho các cấp về tiến trình, nội dung và hình thức của các kế hoạch PCTT, đặc biệt là ở cấp phường xã Đa số cán bộ trong Ban chỉ huy PCTT ở các cấp vẫn còn kiêm nhiệm, nên nhiều thành viên đã không được đào tạo
kỹ về kiến thức chuyên môn trong Quản lý thiên tai, đặc biệt là ở cấp phường xã Thêm vào đó, thông tin dự báo chưa thực sự có độ tin cậy cao cũng đã gây khó khăn cho người lập kế hoạch Các giải pháp đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả của công tác lập kế hoạch cũng như chất lượng của bản kế hoạch tập trung chủ yếu đó là: Sự lãnh đạo, chỉ đạo, hỗ trợ thường xuyên của cấp trên; tăng cường công tác tuyên truyền vận động nhân dân tham gia vào tiến trình lập kế hoạch; nâng cao khả năng cũng như chất lượng của các dự báo; sự phối hợp đồng bộ và hiệu quả trong Ban chỉ huy PCTT; mẫu hướng dẫn thống nhất về nội dung và hình thức, phương án ứng phó cho từng loại hình thiên tai tại địa phương; lập kế hoạch từ dưới lên, thường xuyên
và kịp thời nắm bắt diễn biến thời tiết và các thông tin số liệu liên quan để điều chỉnh kế hoạch kịp thời và hiệu quả; nâng cao kỹ năng xây dựng kế hoạch, phân công bộ phận lập kế hoạch theo đúng chức năng và nhiệm vụ; các ngành phải lập kế hoạch riêng; cần phải dự phòng ngân sách cho PCLB để chủ động hơn trong công tác PCTT và TKCN Kế hoạch thường được triển khai ngay trong họp tổng kết hàng năm Trước khi thiên tai (bão lụt) xảy ra, tùy theo tình hình cụ thể của loại thiên tai
đó mà kế hoạch ứng phó thường được điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh địa phương Mặc dù vậy, trong quá trình ứng phó, Ban chỉ huy PCTT các cấp cũng gặp khá nhiều khó khăn Điển hình là nguồn lực địa phương còn hạn chế (về kinh phí,
về nhân lực như đội ứng phó nhanh chưa được đào tạo chuyên nghiệp, đặc biệt là ở cấp phường xã, và về vật lực như thiếu các trang thiết bị ứng phó), cơ chế phối hợp ngang và dọc còn thiếu chặt chẽ và ý thức cũng như khả năng ứng phó cộng đồng
Trang 40còn hạn chế Các giải pháp chính được đề xuất để nâng cao tính hiệu quả trong công tác triển khai kế hoạch là: Kiện toàn bộ máy chuyên trách, bồi dưỡng đào tạo chuyên môn trong công tác ứng phó cho các cán bộ chuyên trách; nâng cấp các công cụ hỗ trợ dự báo và truyền tin, tăng cường huy động tối đa nguồn lực cộng đồng; tăng cường công tác kiểm tra và giám sát thường xuyên việc triển khai kế hoạch; từng bước cân đối kinh phí và bổ sung các trang thiết bị ứng phó cần thiết, thành lập đội ứng phó TKCN chuyên nghiệp; chủ động kinh phí và vận động các nguồn tài trợ ngoài địa phương Trong công tác di dời, để đảm bảo an toàn tính mạng cho những người dân sống trong vùng nguy cơ, nhiều thành viên đề xuất thực hiện các biện pháp chế tài mạnh đối với các hộ gia đình không chịu di dời Tuy nhiên, tốt nhấtvẫn nên đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của
nhười dân để họ tự thay đổi suy nghĩ, hành vi của mình; làm cho người dân từ “ỷ lại
và trông chờ hỗ trợ từ bên ngoài” sang “chủ động ứng phó và bảo vệ tính mạng bản thân và gia đình”
Trước những hạn chế nói trên, một số hoạt động phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai và QLRRTT với sự tài trợ của trung ương, các tổ chức quốc tế, ngân hàng thế giới, các tổ chức phi chính phủ được triển khai trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên, các hoạt động này chủ yếu tập trung vào các giải pháp công trình như cải thiện các hệ thống đê điều, hồ đập Bên cạnh đó, hiện có một số hoạt động nâng cao nhận thức cộng đồng là dự án về CBDRM tại huyện Tuy Phước, Phù Cát, Hoài Ân và thị xã
An Nhơn, do Hội Chữ thập đỏ Na Uy tài trợ (giai đoạn 2010 - 2014); Dự án Phòng chống ngập úng và thoát nước tại thành phố Quy Nhơn, do Hội Chữ thập đỏ Đức và
Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức (GIZ), Dự án Diphicho 8 do Hội Chữ thập đỏ Hà Lan tài trợ tại huyện Hoài Nhơn (2013); Dự án Phục hồi, quản lý hệ sinh thái rừng ngập mặn đầm Thị Nại, Lá chắn Xanh, triển khai tại thành phố Quy Nhơn; dự án WB3 do Ngân hành Thế giới tài trợ tại huyện Tuy Phước và thị xã An Nhơn… với tổng kinh phí tài trợ hàng trăm tỷ đồng Qua đó, đã có hàng ngàn lược cán bộ từ cấp tỉnh đến cấp thôn được tập huấn, bồi dưỡng, nâng cao năng lực và khả năng trong công tác PCTT và QLRRTT Tuy nhiên, những kết quả đạt được so với yêu cầu còn