CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG11.1.Nợ công và Khủng hoảng nợ công11.1.1.Khái niệm11.1.2.Phân loại nợ công11.1.3.Các hình thức vay nợ của Chính Phủ31.2.Nguyên nhân xảy ra khủng hoảng nợ công31.2.1.Tiết kiệm trong nước thấp41.2.2.Chi tiêu kích cầu kinh tế sau khủng hoảng năm 200841.2.3.Các nguyên nhân khác51.3.Tác động của khủng hoảng nợ công51.3.1.Tác động tích cực61.3.2.Tác động tiêu cực61.4.Giải pháp hạn chế và khắc phục khủng hoảng nợ công10Error! Bookmark not defined.CHƯƠNG 2: KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI122.1. Liên minh Châu Âu (EU)122.2. Khủng hoảng nợ công tại Ireland132.2.1. Kinh tế trước năm 2008:132.2.2. Kinh tế từ năm 2008 đến nay:132.2.3. Nguyên nhân gây ra khủng hoảng nợ công tại Ireland162.2.4. Hậu quả của cuộc khủng hoảng nợ công tại Ireland172.2.5. Giải pháp của Chính phủ Ireland182.2.6. Những thay đổi trong nền kinh tế - xã hội của Ireland sau cuộc khủng hoảng192.2.7. Bài học kinh nghiệm202.3. Khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp202.3.1. Kinh tế Hy Lạp trước khủng hoảng202.3.2. Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp212.3.3. Hậu quả242.3.4. Giải pháp262.3.5. Bài học kinh nghiệm27CHƯƠNG 3: QUẢN LÝ VÀ KIỂM SOÁT NỢ CÔNG27TẠI VIỆT NAM293.1. Khái niệm nợ công Việt Nam293.2. Phân loại nợ công tại Việt Nam293.2.1. Theo nguồn gốc:293.2.2. Theo thời hạn nợ:293.3. Các hình thức vay nợ của Chính phủ Việt Nam293.3.1. Phát hành trái phiếu chính phủ293.3.2. Vay trực tiếp303.4. Thực trạng nợ công tại Việt Nam303.4.1. Thống kê con số nợ công ở Việt Nam303.4.2. Cơ cấu nợ công ở Việt Nam353.4.3 Tình hình sử dụng vốn vay nước ngoài ở Việt Nam.363.4.4. Tình hình trả nợ vốn vay nước ngoài ở Việt Nam.373.5. Quản lý nợ công tại Việt Nam393.5.1. Sự cần thiết phải quản lý nợ công393.5.2. Thực trạng quản lý nợ công tại Việt Nam403.5.2.2. Hệ thống các văn bản quản lý nợ công ở Việt Nam423.5.2.3. Một số vấn đề tồn tại433.5.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nợ công47
Trang 1VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
Trang 3DANH SÁCH NHÓM 03
1 Mai Thị Thanh Bình
2 Võ Văn Hiền
3 Nguyễn Văn Ngoan
4 Nguyễn Hoài Thiêm
5 Đinh Văn Vang (Nhóm Trưởng)
6 Trần Trịnh Như Quỳnh
7 Ngô Văn Thống
8 Ngô Thị Thơ
9 Nguyễn Thị Tư Trâm
10 Đặng Thị Mai Trang
MỤC LỤC
MỤC LỤC i CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG 1 1.1.Nợ công và Khủng hoảng nợ công 1
1.1.1.Khái niệm 1
Trang 41.1.2.Phân loại nợ công 1
1.1.3.Các hình thức vay nợ của Chính Phủ 3
1.2.Nguyên nhân xảy ra khủng hoảng nợ công 3
1.2.1.Tiết kiệm trong nước thấp 4
1.2.2.Chi tiêu kích cầu kinh tế sau khủng hoảng năm 2008 4
1.2.3.Các nguyên nhân khác 5
1.3.Tác động của khủng hoảng nợ công 5 1.3.1.Tác động tích cực 5
1.3.2.Tác động tiêu cực 6
1.4.Giải pháp hạn chế và khắc phục khủng hoảng nợ công 9
CHƯƠNG 2: KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 10
2.1 Liên minh Châu Âu (EU) 10 2.2 Khủng hoảng nợ công tại Ireland 11 2.2.1 Kinh tế trước năm 2008: 11
2.2.2 Kinh tế từ năm 2008 đến nay: 12
2.2.3 Nguyên nhân gây ra khủng hoảng nợ công tại Ireland 14
2.2.4 Hậu quả của cuộc khủng hoảng nợ công tại Ireland 15
2.2.5 Giải pháp của Chính phủ Ireland 16
2.2.6 Những thay đổi trong nền kinh tế - xã hội của Ireland sau cuộc khủng hoảng 17
2.2.7 Bài học kinh nghiệm 18
2.3 Khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp 18 2.3.1 Kinh tế Hy Lạp trước khủng hoảng 18
2.3.2 Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp 18
2.3.3 Hậu quả 21
2.3.4 Giải pháp 24
2.3.5 Bài học kinh nghiệm 24
Đánh giá đúng thực lực của nền kinh tế: 24
Trang 5CHƯƠNG 3: QUẢN LÝ VÀ KIỂM SOÁT NỢ CÔNG 25
TẠI VIỆT NAM 25
3.1 Khái niệm nợ công Việt Nam 25 3.2 Phân loại nợ công tại Việt Nam 26 3.2.1 Theo nguồn gốc: 26
3.2.2 Theo thời hạn nợ: 26
3.3 Các hình thức vay nợ của Chính phủ Việt Nam 26
3.3.1 Phát hành trái phiếu chính phủ 26
3.3.2 Vay trực tiếp 26
3.4 Thực trạng nợ công tại Việt Nam 26 3.4.1 Thống kê con số nợ công ở Việt Nam 26
3.4.2 Cơ cấu nợ công ở Việt Nam 31
3.4.3 Tình hình sử dụng vốn vay nước ngoài ở Việt Nam 32
3.4.4 Tình hình trả nợ vốn vay nước ngoài ở Việt Nam 33
3.5 Quản lý nợ công tại Việt Nam 35 3.5.1 Sự cần thiết phải quản lý nợ công 35
3.5.2 Thực trạng quản lý nợ công tại Việt Nam 36
Công tác trả nợ Chính phủ trong và ngoài nước luôn được thực hiện đầy đủ, đúng hạn, không để xảy ra nợ quá hạn như những năm về trước Việc tích cực đàm phán xử lý các khoản nợ cũ với các chủ nợ nước ngoài (thuộc Câu lạc bộ Pa - ri, Câu lạc bộ Luân Đôn) đã giúp giảm đáng kể nghĩa vụ nợ của Việt Nam 38
3.5.2.2 Hệ thống các văn bản quản lý nợ công ở Việt Nam 38
Quyết định số 958/QĐ-TTg ngày 27-7-2012 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài quốc gia giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến 2030, chỉ tiêu an toàn về nợ công và nợ nước ngoài của Việt Nam được định hướng như sau: Nợ công đến năm 2020 không quá 65% GDP, trong đó dư nợ Chính phủ không quá 55% GDP và nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50% GDP; nghĩa vụ trả nợ trực tiếp Chính phủ (không kể cho vay lại) so với tổng thu NSNN hàng năm dưới 25% giá trị XK hàng hóa và dịch vụ; tỷ lệ dự trữ ngoại hối nhà nước so với tổng dư nợ nước ngoài ngắn hạn hàng năm trên 200% 39
3.5.2.3 Một số vấn đề tồn tại 39
3.5.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nợ công 42
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Với cơ cấu nợ công của Việt Nam nghiêng về nợ nước ngoài nhiều thì ảnh hưởng của tỉ giá tới khả năng hoàn trả vốn khi quản lý nợ công là cao Về thời hạn, khi đa số các khoản vay nước ngoài là vay trung và dài hạn thì rủi ro tín dụng và rủi
ro tỉ giá là cao Rủi ro kép với mức chênh lệch lãi suất được đánh giá theo lãi suất thị trường Nếu như chênh lệch lãi suất quá lớn giữa thị trường trong nước và thị trường Quốc tế để thực hiện cân bằng tài khoản vốn có thể gia tăng mức độ đôla hoá và tạo
Trang 7áp lực lên tỉ giá Khả năng kiềm chế lạm phát, khi tính toán tỉ giá thực và sức mua ngang giá của tiền đồng vào từng thời kỳ Vì vậy, giữa số vốn vay và số vốn trả nợ khi đáo hạn vốn vay nước ngoài sẽ chịu tác động của tỉ giá rất lớn, nếu như sử dụng
và quản lý vốn vay không có hiệu quả
Khủng hoảng nợ công là một vấn đề rất đáng lo ngại của Thế giới Khủng hoảng nợ công tại một Quốc gia sẽ ảnh hưởng tới hoạt động của toàn bộ nền kinh tế Thế giới
Được sự hướng dẫn của TS DIỆP GIA LUẬT chúng tôi đã tiến hành nghiên
cứu và hoàn thành bái báo cáo đề tài “Khủng hoảng nợ công” Qua bài báo cáo, chúng tôi cung cấp một cách nhìn tổng quan nhất về Khủng hoảng nợ công, những ví
dụ điển hình cũng như tình hình quản lý nợ công tại Việt Nam
Trang 8CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG
1.1 Nợ công và Khủng hoảng nợ công
1.1.1 Khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm nợ công
Nợ chính phủ, còn gọi là Nợ công hoặc Nợ quốc gia, là tổng giá trị các khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay Việc đi vay này là nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách nên nói cách khác, nợ chính phủ là thâm hụt ngân sách luỹ kế đến một thời điểm nào đó Để dễ hình dung quy mô của nợ chính phủ, người ta thường đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêu phần trăm
so với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
1.1.1.2 Khái niệm khủng hoảng nợ công
Khủng hoảng nợ công là tình trạng nợ công tăng cao (vỡ nợ), làm chao đảo nền kinh tế do sự mất cân đối giữa thu va chi ngân sách quốc gia Nhu cầu chi nhiều quá trong khi thu không đáp ứng nổi, chính phủ đi vay tiền thông qua nhiều hình thức như phát hành trái phiếu, công trái, hiệp định tín dụng… để chi Từ đó dẫn đến tình trạng vỡ nợ Thâm hụt ngân sách kéo dài làm nợ công gia tăng Nợ không trả sớm, để lâu thành “lãi mẽ đẻ lãi con” và ngày càng chồng chất thêm
1.1.2 Phân loại nợ công
Có nhiều tiêu chí để phân loại nợ công, mỗi tiêu chí có một ý nghĩa khác nhau trong việc quản lý và sử dụng nợ công
1.1.2.1 Theo tiêu chí nguồn gốc địa lý của vốn vay
Nợ công gồm có hai loại: nợ trong nước và nợ nước ngoài Nợ trong nước là
nợ công mà bên cho vay là cá nhân, tổ chức Việt Nam Nợ nước ngoài là nợ công mà bên cho vay là Chính phủ nước ngoài, vùng lãnh thổ, tổ chức tài chính quốc tế, tổ chức và cá nhân nước ngoài Như vậy, theo pháp luật Việt Nam, nợ nước ngoài không được hiểu là nợ mà bên cho vay là nước ngoài, mà là toàn bộ các khoản nợ công không phải là nợ trong nước Việc phân loại nợ trong nước và nợ nước ngoài có
ý nghĩa quan trọng trong quản lý nợ Việc phân loại này về mặt thông tin sẽ giúp xác định chính xác hơn tình hình cán cân thanh toán quốc tế Và ở một số khía cạnh, việc quản lý nợ nước ngoài còn nhằm đảm bảo an ninh tiền tệ của Nhà nước Việt Nam, vì các khoản vay nước ngoài chủ yếu bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi hoặc các phương tiện thanh toán quốc tế khác
Trang 91.1.2.2 Theo phương thức huy động vốn
Nợ công có hai loại là nợ công từ thỏa thuận trực tiếp và nợ công từ công cụ
nợ Nợ công từ thỏa thuận trực tiếp là khoản nợ công xuất phát từ những thỏa thuận vay trực tiếp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cá nhân, tổ chức cho vay Phương thức huy động vốn này xuất phát từ những hợp đồng vay, hoặc ở tầm quốc gia là các hiệp định, thỏa thuận giữa Nhà nước Việt Nam với bên nước ngoài Nợ công từ công cụ nợ là khoản nợ công xuất phát từ việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hành các công cụ nợ để vay vốn Các công cụ nợ này có thời hạn ngắn hoặc dài, thường có tính vô danh và khả năng chuyển nhượng trên thị trường tài chính
1.1.2.3 Theo tính chất ưu đãi của khoản vay làm phát sinh nợ công
Nợ công có ba loại là nợ công từ vốn vay ODA, nợ công từ vốn vay ưu đãi và
nợ thương mại thông thường
1.1.2.4 Theo trách nhiệm đối với chủ nợ
Nợ công được phân loại thành nợ công phải trả và nợ công bảo lãnh Nợ công phải trả là các khoản nợ mà Chính phủ, chính quyền địa phương có nghĩa vụ trả nợ
Nợ công bảo lãnh là khoản nợ mà Chính phủ có trách nhiệm bảo lãnh cho người vay
nợ, nếu bên vay không trả được nợ thì Chính phủ sẽ có nghĩa vụ trả nợ
1.1.2.5 Theo cấp quản lý nợ
Nợ công được phân loại thành nợ công của trung ương và nợ công của chính quyền địa phương Nợ công của trung ương là các khoản nợ của Chính phủ, nợ do Chính phủ bảo lãnh Nợ công của địa phương là khoản nợ công mà chính quyền địa phương là bên vay nợ và có nghĩa vụ trực tiếp trả nợ Theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 thì những khoản vay nợ của chính quyền địa phương được coi là nguồn thu ngân sách và được đưa vào cân đối, nên về bản chất nợ công của địa phương được Chính phủ đảm bảo chi trả thông qua khả năng bổ sung từ ngân sách trung ương
Trang 101.1.3 Các hình thức vay nợ của Chính Phủ
1.1.3.1 Vay nợ trong nước
Nợ trong nước: được thực hiện bằng cách phát hành trái phiếu chính phủ là chứng chỉ nhận nợ của chính phủ để phát hành để vay vốn của các tầng lớp dân cư và các tổ chức kinh tế xã hội Trái phiếu chính phủ tồn tại dưới các hình thức sau:
Tín phiếu kho bạc: là trái phiếu chính phủ ngắn hạn, thời hạn dưới một năm,
được phát hành để huy động vốn nhằm giải quyết mất cân đối thu chi tiền mặt tạm thời trong năm tài chính
Trái phiếu kho bạc: là trái phiếu trung và dài hạn, có thời hạn trên một năm
được phát hành để huy động vốn nhằm giải quyết bội chi ngân sách đã được Quốc hội phê chuẩn
Trái phiếu đầu tư: là loại trái phiếu chính phủ trung và dài hạn, có thời hạn
trên một năm được phát hành để huy động vốn cho các công trình cụ thể và cho Quỹ
hỗ trợ phát triển theo kế hoạch đầu tư đã được duyệt của Nhà nước
1.1.3.2 Vay nợ nước ngoài
Nợ nước ngoài: là khoản vay ngắn hạn, trung - dài hạn phải trả lãi hoặc không phải trả lãi do Nhà nước, Chính phủ, doanh nghiệp và tổ chức khác của Việt Nam vay của chính phủ nước ngoài, vùng lãnh thổ, tổ chức tài chính quốc tế, tổ chức và cá nhân nước ngoài Các hình thức vay nợ nước ngoài:
Vay hỗ trợ phát triển chính thức: là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà
nước hoặc Chính phủ với nhà tài trợ là Chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên Chính phủ
Vay thương mại nước ngoài của Chính phủ: tùy theo nhu cầu đầu tư phát
triển, Chính phủ có thể huy động nguồn vốn vay thương mại nước ngoài thông qua các hình thức vay trực tiếp, phát hành trái phiếu chính phủ ra thị trướng vốn Quốc tế hoặc các hình thức phù hợp khác, trong khuôn khổ hạn mức vay thương mại hàng năm
1.2 Nguyên nhân xảy ra khủng hoảng nợ công
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến nợ công Ở mỗi nước và tùy từng thời kỳ lại có các nguyên nhân khác nhau Chẳng hạn, tại Hy Lạp, nguyên nhân gia tăng nợ là những số liệu được làm giả để đối phó với các điều kiện khắt khe của Liên minh châu
Trang 11Âu Tại Ailen, nguyên nhân là hệ thống ngân hàng quá yếu kém lại không được kiểm soát tốt.
Tuy nhiên, tình trạng nợ công hiện nay ở nhiều nước đều có chung một số nguyên nhân cơ bản như: Sự kiểm soát chi tiêu và quản lý nợ của Nhà nước kém, không chặt chẽ, thậm chí bị buông lỏng, cộng thêm với tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư và chi tiêu, cùng với tệ tham nhũng gia tăng ở nhiều nước, cũng trở thành nguyên nhân không kém phần quan trọng Bên cạnh đó, các nguồn thu (chủ yếu
từ thuế) tăng không kịp với nhu cầu chi, thậm chí một số loại thuế chịu áp lực phải cắt giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau, đặc biệt như thuế quan và phí hải quan của hầu hết các nước phải cắt giảm hoặc loại bỏ để phù hợp với các quy định của WTO và các thỏa thuận thương mại khác mà họ tham gia Cùng với đó, vấn đề quản
lý các nguồn thu, nhất là thuế, gặp không ít khó khăn ở nhiều nước do tình trạng trốn thuế, tệ tham nhũng, hối lộ, kiểm soát không chặt và xử lý không nghiêm của các cơ quan chức năng Có thể khái quát những nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến nợ công bao gồm những lý do sau:
1.2.1 Tiết kiệm trong nước thấp
Tỷ lệ tiết kiệm của Mỹ giảm liên tục trong thập niên gần đây Nếu như vào những năm 70 của thế kỷ trước, người dân Mỹ tiết kiệm khoảng 10% tổng thu nhập, thì tỷ lệ này đã giảm liên tục từ đầu thập kỷ 80 và tụt xuống mức 1 – 2% (năm 2007)
Tỷ lệ tiết kiệm giảm trong điều kiện tăng chi ngân sách cũng được xem là nguyên nhân dẫn đến nợ công của Nhật Bản Từ lâu, Nhật Bản được biết đến với tỷ lệ tiết kiệm dân cư cao nhất trong những nước công nghiệp phát triển Vào đầu những năm
80 của thế kỷ XX, các hộ gia đình Nhật Bản đã tiết kiệm khoảng 15% thu nhập sau thuế Mặc dù tỷ lệ tiết kiệm nội địa đã giảm dần vào cuối thập kỷ 80 nhưng vẫn chiếm khoảng 10% trong năm 1990 và tiếp tục giảm mạnh xuống mức 5% vào cuối thập kỷ 90 và đạt trên 2% (năm 2009) Tiết kiệm thấp kết hợp với bội chi ngân sách cao dẫn đến thâm hụt ngân sách và tăng nợ công
1.2.2 Chi tiêu kích cầu kinh tế sau khủng hoảng năm 2008
Chính sách kích cầu kinh tế của Chính phủ các quốc gia, hiệu quả trong ngắn hạn thì có, nhưng xét về dài hạn lại đang tạo ra nguy cơ tiềm ẩn của một cuộc khủng hoảng nợ hết sức nghiêm trọng Các gói kích thích kinh tế với tổng số vốn hơn 2,2 nghìn tỷ USD (năm 2009) tương đương 4,7% GDP toàn cầu được các nước triển khai
Trang 12nhanh chóng khiến thâm hụt ngân sách của các chính phủ tăng vọt Nguy cơ khủng hoảng nợ công hiện tập trung vào những nước có tỷ lệ nợ công lớn, đồng thời cơ cấu
nợ thiên lệch về những khoản nợ ngắn hạn (thời hạn dưới 12 tháng) và nợ nước ngoài cũng như do hạn chế về khả năng quản trị nợ
1.2.3 Các nguyên nhân khác
Thứ nhất, sự kiểm soát chi tiêu và quản lý nợ kém, không chặt chẽ, thậm chí bị
buông lỏng, cộng thêm với tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư và chi tiêu, cùng với tệ tham nhũng phát triển cũng trở thành nguyên nhân không kém phần quan trọng
Thứ hai, do bội chi ngân sách lớn và kéo dài khiến vay nợ trở thành nguồn lực
chính bổ sung thâm hụt là nguyên nhân khiến tình hình nợ công ngày càng trở thành
gánh nặng cho nền kinh tế Nguồn thu ngân sách từ thuế sụt ỉam, chi phí phúc lợi gia tăng, dân số già hóa dẫn đến thâm hụt ngân sách
Thứ ba, Chính phủ liên tục tăng khối lượng phát hành trái phiếu để lấy tiền
trang trải chi phí an sinh xã hội và để bù đắp thâm hụt ngân sách.
Tóm lại, tình trạng nợ công của các nước đều do các nguyên nhân nêu trên gây
ra, tuy nhiên nợ công không hẳn là vấn đề đáng lo ngại đối với nền kinh tế quốc dân Chính nợ công là một nguồn lực để thúc đẩy tăng trưởng Nhưng nếu quản lý nợ công không tốt, sử dụng nguồn lực nợ công không hiệu quả, làm khối lượng nợ công công ngày càng tăng, sẽ gây áp lực lên chính sách tài chính tiền tệ quốc gia, đe dọa sự
ổn định nền kinh tế, thậm chí dẫn đế khủng hoảng Do vậy mọi quốc gia cần quan tâm đến việc sử dụng hiệu quả nguồn lực này và đến giới hạn an toàn của nợ công
1.3 Tác động của khủng hoảng nợ công
Nợ công vừa có nhiều tác động tích cực nhưng cũng có một số tác động tiêu cực Nhận biết những tác động tích cực và tiêu cực nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực là điều hết sức cần thiết trong xây dựng và thực hiện pháp luật về quản lý nợ công
1.3.1 Tác động tích cực
Nợ công làm gia tăng nguồn lực cho Nhà nước, từ đó tăng cường nguồn vốn
để phát triển cơ sở hạ tầng và tăng khả năng đầu tư đồng bộ của Nhà nước
Việt Nam đang trong giai đoạn tăng tốc phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó cơ sở hạ tầng là yếu tố có tính chất quyết định
Trang 13Muốn phát triển cơ sở hạ tầng nhanh chóng và đồng bộ, vốn là yếu tố quan trọng nhất Với chính sách huy động nợ công hợp lý, nhu cầu về vốn sẽ từng bước được giải quyết để đầu tư cơ sở hạ tầng, từ đó gia tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế
Huy động nợ công góp phần tận dụng được nguồn tài chính nhàn rỗi trong dân
cư
Một bộ phận dân cư trong xã hội có các khoản tiết kiệm, thông qua việc Nhà nước vay nợ mà những khoản tiền nhàn rỗi này được đưa vào sử dụng, đem lại hiệu quả kinh tế cho cả khu vực công lẫn khu vực tư
Nợ công sẽ tận dụng được sự hỗ trợ từ nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế
Tài trợ quốc tế là một trong những hoạt động kinh tế – ngoại giao quan trọng của các nước phát triển muốn gây ảnh hưởng đến các quốc gia nghèo, cũng như muốn hợp tác kinh tế song phương Nếu Việt Nam biết tận dụng tốt những cơ hội này, thì sẽ có thêm nhiều nguồn vốn ưu đãi để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, trên cơ
sở tôn trọng lợi ích nước bạn, đồng thời giữ vững độc lập, chủ quyền và chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước
Trong những năm gần đây, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng trong dài hạn một khoản nợ chính phủ lớn (tỷ lệ của nó so với GDP cao) làm cho sự tăng trưởng của sản lượng tiềm năng chậm lại vì những lý do sau:
Nếu một quốc gia có nợ nước ngoài lớn thì quốc gia đó buộc phải tăng cường xuất khẩu để trả nợ nước ngoài và do đó khả năng tiêu dùng giảm sút
Một khoản nợ công cộng lớn gây ra hiệu ứng thế chỗ cho vốn tư nhân: thay vì
sở hữu cổ phiếu, trái phiếu công ty, dân chúng sở hữu nợ chính phủ (trái phiếu chính phủ) Điều này làm cho cung về vốn cạn kiệt vì tiết kiệm của dân cư đã chuyển thành
nợ chính phủ dẫn đến lãi suất tăng và các doanh nghiệp hạn chế đầu tư
Trang 14Nợ trong nước tuy được coi là ít tác động hơn vì trên góc độ nền kinh tế là một tổng thể thì chính chủ chỉ nợ công dân của chính nước mình, tuy vậy nếu nợ trong nước lớn thì chính phủ buộc phải tăng thuế để trả lãi nợ vay Thuế làm méo mó nền kinh tế, gây ra tổn thất vô ích về phúc lợi xã hội.
Ngoài ra khi nợ công tăng cao, vượt quá xa giới hạn được coi là an toàn, nền kinh tế rất dễ bị tổn thương và chịu nhiều sức ép cả bên trong và bên ngoài như:
Thứ nhất, nợ công không chỉ là vấn đề của những nước chậm hoặc đang phát
triển So khoản nợ công với GDP, hiện nay, gánh trên vai gánh nặng nợ công lớn nhất
là các nền kinh tế phát triển, trong đó, khu vực đồng ơ-rô đang đứng trước những thử thách to lớn khi Hy Lạp phải viện đến gói cứu trợ của EU và IMF để tránh rơi vào tình trạng vỡ
Trong báo cáo được công bố ngày 9-6 "Hậu quả do khủng hoảng tài chính toàn cầu gây ra trên phương diện thuế khóa", các chuyên gia của IMF khẳng định rằng, vào đầu năm 2010 tổng nợ công của 10 nước giàu nhất thế giới sẽ đạt mức 106% GDP (tương đương mỗi người dân nợ 50 nghìn USD) Vào đầu năm 2007 con
số này là 78% Như vậy, trong vòng 3 năm, nợ công của "10 nước giàu nhất” đã tăng hơn 9 nghìn tỉ USD
Các chuyên gia của IMF cho rằng, theo kịch bản tương đối lạc quan, trong năm 2014,
nợ của "10 nước giàu nhất" sẽ lên trên mức 114% GDP, còn theo kịch bản bi quan, con số này là 150% GDP
Thứ hai, khi nợ công quá lớn, việc thắt chặt chi tiêu, thực hiện chính sách
"thắt lưng buộc bụng" để giảm thâm hụt ngân sách là điều kiện phải đáp ứng để được nhận sự hỗ trợ cần thiết từ các tổ chức tín dụng quốc tế, thế nhưng, "thắt lưng buộc bụng" lại dẫn tới những cuộc biểu tình phản đối của quần chúng, gây căng thẳng, bất
ổn chính trị, xã hội, bởi những người nghèo, những người yếu thế trong xã hội là những người bị tác động mạnh nhất từ chính sách cắt giảm phúc lợi, cắt giảm chi tiêu của chính phủ Chẳng hạn, để được nhận gói cứu trợ nhằm giải quyết khủng hoảng
nợ, Chính phủ Hy Lạp đã phải quyết định tăng nhiều loại thuế, từ thuế giá trị gia tăng đến thuế thu nhập, thuế bất động sản và đánh thuế vào nhiều sản phẩm như rượu, thuốc lá…, đồng thời chấp nhận áp dụng các biện pháp cắt giảm chi tiêu mạnh tay
Để phản đối chính sách này của chính phủ, các cuộc tổng đình công đã diễn ra, hàng
Trang 15chục ngàn người đã tham gia biểu tình trên khắp đất nước Hy Lạp, nhất là tại thủ đô A-ten.
Thứ ba, trong thời điểm hiện nay, khi nền kinh tế toàn cầu mới thoát khỏi
khủng hoảng, bắt đầu có dấu hiệu phục hồi do kết quả của các gói kích thích kinh tế
mà chính phủ các nước đã chi ra trong những năm trước đây, thì việc cắt giảm chi tiêu, tăng thuế sẽ làm giảm đầu tư, kìm hãm sự phục hồi của nền kinh tế, làm chậm tốc độ tăng trưởng, thậm chí có thể đẩy nền kinh tế vào "khủng hoảng kép" Nghiêm trọng hơn, việc tung ra các gói kích thích kinh tế chính là một trong những nguyên nhân làm tăng nợ công của các chính phủ, vậy nếu như khủng hoảng “tái xuất” thì liệu các chính phủ có còn đủ khả năng xoay xở, cứu vãn nền kinh tế của mình? Vấn
đề đặt ra cho các chính phủ là phải chèo lái để giải quyết được thâm hụt ngân sách nhưng không đẩy nền kinh tế trở lại tình trạng suy thoái, trong khi các biện pháp để giải quyết hai vấn đề này lại có tác động không thuận
Thứ tư, khi nợ công liên tục tăng cao, nền kinh tế bị hạ bậc tín nhiệm theo
báo cáo của các tổ chức chuyên đi đánh giá tín nhiệm các công ty và quốc gia khác, niềm tin của người dân và giới đầu tư bị lung lay, khi đó nền kinh tế dễ trở thành mục tiêu tấn công của các thế lực đầu cơ quốc tế Thí dụ, đối với Hy Lạp, khi tổ chức xếp hạng tín dụng Standard & Poor’s hạ bậc tín nhiệm đối với trái phiếu chính phủ của A-ten, các quỹ đầu tư lớn lập tức bán ra loại trái phiếu này, đồng thời từ chối mua vào trong các đợt phát hành tiếp theo Nếu chính phủ muốn huy động tiền từ thị trường tài chính sẽ phải chấp nhận chi phí vốn cao hơn và sau đó, rơi vào vòng xoáy: tiếp tục bị tụt bậc tín nhiệm Việc đưa ra xếp hạng tín nhiệm trong thời điểm nhạy cảm, dễ tổn thương của nền kinh tế có nguy cơ làm cho cuộc khủng hoảng thêm trầm trọng, có tác dụng như một "cú huých", đẩy nền kinh tế lún sâu thêm vào khó khăn, bế tắc
Thứ năm, việc căn cứ vào mức nợ công trên GDP để xác định tình trạng nợ
công là hết sức quan trọng, tuy nhiên, điều quan trọng không kém là phân tích "thực chất" nợ công Đó là: nợ chính phủ là vay nợ trong nước hay vay nợ nước ngoài; tốc
độ tăng trưởng của nền kinh tế, hay tình trạng "sức khỏe" nói chung của nền kinh tế; lượng dự trữ quốc gia… Chẳng hạn, hiện nay, dư luận đang lo ngại liệu Nhật Bản có thể trở thành “một Hy Lạp thứ hai”, thế nhưng, một số nhà phân tích, khi phân tích
nợ công của Nhật Bản đã cho thấy có sự khác biệt khá lớn giữa nợ công của nước này với nợ công của Hy Lạp, thể hiện ở chỗ, 95% trái phiếu chính phủ của Nhật Bản do
Trang 16người dân nước này nắm giữ, trong khi 70% nợ chính phủ Hy Lạp do người nước ngoài nắm giữ Bên cạnh đó, Nhật còn tự chủ về tỷ giá hối đoái, dự trữ ngoại tệ của Nhật cũng ở mức rất cao (theo con số mà Bộ Tài chính Nhật Bản công bố ngày 12-5, tính đến cuối tháng 4-2010, dự trữ quốc gia của Nhật là 1.046,873 tỉ USD) Do vậy, nền kinh tế Nhật Bản, mặc dù ngoài nợ công cao còn đứng trước nhiều khó khăn khác nữa, nhưng vẫn được dự báo là khó có thể trở thành mục tiêu tấn công của giới đầu cơ quốc tế.
Như vậy, việc đánh giá đúng nợ công và “thực chất” nợ công của một nền kinh tế, một quốc gia là vô cùng quan trọng, đặc biệt trong những thời điểm nhạy cảm Bởi lẽ, nếu chỉ chú trọng vào con số tỷ lệ nợ công cao một cách thuần túy sẽ gây nên hiệu ứng tâm lý hoang mang, kích động, thiếu tin tưởng, làm gia tăng căng thẳng
xã hội, bị giới đầu cơ lợi dụng tấn công, dễ gây rối loạn nền kinh tế, thậm chí dẫn nền kinh tế đến bên bờ vực phá sản Ngược lại, nếu yên tâm với tỷ lệ nợ công còn trong giới hạn an toàn, mà không phân tích cẩn trọng, chú ý đúng mức đến khoản nợ đó được hình thành như thế nào, bằng cách nào, thực trạng nền kinh tế ra sao và khả năng trả nợ thế nào…, cũng sẽ dễ đẩy nền kinh tế rơi vào vòng xoáy thâm hụt ngân sách – "thắt lưng buộc bụng" – tác động tiêu cực đến tăng trưởng
1.4 Giải pháp hạn chế và khắc phục khủng hoảng nợ công
Hoàn thiện thể chế chính sách và các công cụ quản lý nợ công
Nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn vay, đặc biệt trong sử dụng vốn ODA, chúng ta phải khắc phục bất hợp lý và phải gắn kết từ khâu huy động đến khâu trả nợ Xây dựng chương trình đầu tư công trên cơ sở rà soát lại các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình dự án trọng điểm để làm căn cứ cho việc huy động, phân bổ nguồn vốn phù hợp Tranh thủ nguồn vốn vay ODA, vay ưu đãi ở mức hợp
lý, tiếp tục hài hòa hóa thủ tục vay nợ viện trợ
Tăng cường công tác giám sát và quản lý rủi ro về nợ công, trước hết là nghiên cứu, xây dựng và triển khai phương án xử lý rủi ro Trước đây nợ công chúng
ta huy động nhiều nhưng giờ đây cách tiếp cận chuyển hướng sang việc thay vì chỉ huy động nhiều, mục tiêu là chúng ta phải giám sát và quản lý rủi ro Chúng ta có những bài học từ nợ xấu, cần phải xây dựng những phương án, khuôn khổ, thể chế để chuyển đổi nợ thành viện trợ đầu tư, mua bán nợ, hoán đổi nợ, phải chủ động trích lập, bố trí nguồn dự phòng vì rủi ro rất lớn
Trang 17 Kiểm soát chặt chẽ việc cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ Tăng cường phát triển thị trường trái phiếu trong nước: Phát triển thị trường trái phiếu sơ cấp là ưu tiên hàng đầu Phát triển thị trường thứ cấp nhằm tăng cường tính thanh khoản và minh bạch của thị trường trái phiếu Xây dựng đường cong lãi suất trái phiếu Chính phủ.
Chú trọng công tác quản lý nợ chính quyền địa phương Hiện nay, nợ chính quyền địa phương theo hai khuôn khổ: nợ công và phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, ngoài ra còn theo luật ngân sách Vì thế, chúng ta phải hoàn thiện cơ chế huy động vốn vay và trả nợ vốn vay chính quyền địa phương Đa dạng hóa hình thức huy động vốn đầu tư phát triển
Xây dựng, hoàn thiện mô hình cơ quan quản lý nợ công theo hướng hiện đại hóa và từng bước phù hợp với thông lệ quốc tế Tăng cường công tác kiểm toán nội
bộ, giám sát rủi ro hoạt động, tự đánh giá công tác quản lý đối chiếu với các tiêu chuẩn quốc tế Đào tạo và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý nợ
Tiếp tục từng bước tăng cường cập nhật và công khai minh bạch hoá thông tin
về nợ công thông qua việc xây dựng hệ thống thông tin theo dõi, giám sát và đánh giá bền vững nợ công
Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa và nâng cao hiệu quả cơ quan quản lý nợ
Đẩy mạnh quan hệ hợp tác quốc tế và nghiên cứu để từng bước cải thiện hệ số tín nhiệm quốc gia
CHƯƠNG 2: KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 2.1 Liên minh Châu Âu (EU)
Liên minh châu Âu (the European Union, gọi tắt là EU) thành lập vào ngày 1/11/1993 hiện gồm 27 nước thành viên: Pháp, Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan, Lúc-xăm-bua, Anh, Ai Len, Đan Mạch, Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Áo, Thụy Điển,
Trang 18Phần Lan, Séc, Hung-ga-ri, Ba Lan, Slô-va-kia, Slô-ve-nia, Lít-va, Lát-vi-a, nia, Man-ta, Síp, Bun-ga-ri và Ru-ma-ni.
+ Trụ sở chính: Brussels (Bỉ)
+ Diện tích: 4.422.773 km² (nước có diện tích lớn nhất là Pháp với 554.000
km2 và nhỏ nhất là Malta với 300 km2);
+ Dân số: Khoảng 500 triệu người, chiếm 7,3% toàn thế giới (dân số lớn nhất
là Đức với 82 triệu, ít nhất là Malta với 0,4 triệu)
+ GDP (EU 27): 17,57 nghìn tỷ USD
+ Thu nhập bình quân: 32,900 USD/người/năm
- EU là một thực thể chính trị và kinh tế lớn và quan trọng hàng đầu thế giới EU có
2/5 nước thành viên thường trực HĐBA LHQ, 4/7 nước công nghiệp hàng đầu thế giới (nhóm G7) và 4/20 nước trong nhóm G20
+ Một trong những nền kinh tế lớn nhất thế giới: GDP năm 2011 đạt 17,57
nghìn tỷ USD
+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): năm 2009 là 281 tỷ Euro, năm 2010 FDI của EU trên toàn cầu chỉ đạt được 107 tỷ Euro
+ Nhà tài trợ hợp tác phát triển lớn nhất thế giới: 53 tỷ Euro viện trợ phát triển
(ODA) dành cho các nước đang phát triển trong năm 2011, chiếm hơn 60% tổng viện trợ của thế giới
- Điều kiện để tham gia vào liên minh kinh tế và tiền tệ:
+ Lạm phát thấp, không vượt quá 1,5% so với mức trung bình của 3 nước có mức lạm phát thấp nhất;
+ Thâm hụt ngân sách không vượt quá 3% GDP;
+ Nợ công dưới 60% GDP và biên độ dao động tỷ giá giữa các đồng tiền ổn định trong hai năm theo cơ chế chuyển đổi (ERM);
+ Lãi suất (tính theo lãi suất công trái thời hạn từ 10 năm trở lên) không quá 2%
so với mức trung bình của 3 nước có lãi suất thấp nhất
2.2 Khủng hoảng nợ công tại Ireland
2.2.1 Kinh tế trước năm 2008:
Từ khi Ireland gia nhập Cộng đồng Kinh Tế Châu Âu (1973) đạt được tốc độ phát triển đáng kể Nông nghiệp chỉ sử dụng 13% lực lượng lao động, chăn nuôi cung cấp 90% nguồn thu nhập từ nông nghiệp Công nghiệp phát triển và đa dạng
Trang 19Tập trung vào xuất khẩu và khuyến khích đầu tư nước ngoài Ireland xuất khẩu chủ yếu là các mặt hàng chế biến thực phẩm, đồ uống, quần áo, đồ thủ công, hoá chất, dược, máy điện tử, thiết bị thông tin Hiện nay có hơn 1000 công ty đa quốc gia hoạt động tại Ireland, hầu hết trong số đó là công ty của Mỹ.
Từ giữa giai đoạn 1995 đến 2002, Ireland là một trong những điểm đến hấp dẫn với các nhà đầu tư, giữ một vị thế lớn trên thị trường tài chính khu vực 1995-
2000 tăng trưởng kinh tế 10% ở mức cao bậc nhất thế giới với tỷ lệ thất nghiệp dưới 4% và 7% giai đoạn 2001-2004 , GDP đầu người của Ireland đứng thứ 16 trên thế giới
Sau năm 2002, sản lượng sản xuất không tăng, lạm phát cao trong khi tăng trưởng GDP chủ yếu phụ thuộc vào thị trường nhà ở Bên cạnh đó, chi phí lao động tăng cũng gây ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của Ireland
2.2.2 Kinh tế từ năm 2008 đến nay:
Năm 2007, thị trường nhà đất Ireland lên mức đỉnh điểm Trong năm này, doanh thu thuế của chính phủ bắt đầu giảm, trong khi số nhà xây mới lần đầu tiên giảm kể từ năm 1988
Năm 2008, lần đầu tiên sau 15 năm, tỷ lệ thất nghiệp tăng Số nợ chưa thanh toán của các ngân hàng Ireland cũng tăng mạnh Niềm tin của giới đầu nhanh chóng giảm xuống và phải đối mặt với cuộc khủng hoảng “bay hơi” ngoại tệ nghiêm trọng Các khoản vay liên ngân hàng ngắn hạn, nguồn quỹ chủ yếu của các ngân hàng
Ireland vào thời điểm đó, cũng trở nên khó tiếp cận hơn
Để giảm áp lực cho các ngân hàng, chính phủ Ireland quyết định bảo hiểm trên quy mô lớn cho các khoản vay của ngân hàng và sử dụng các quỹ công cho hoạt động tái cấp vốn Tuy nhiên, các biện pháp này không những không hiệu quả, mà còn làm trầm trọng thêm tình trạng thâm hụt ngân sách
Đến tháng 11/2010, lợi suất trái phiếu chính phủ đã lên đến mức không bền vững 9% và có thể Ireland bị buộc phải rời khỏi thị trường trái phiếu thế giới Không thể vay tiền từ quốc tế để bù đắp thâm hụt ngân sách, Ireland đối mặt với nguy cơ phải đóng cửa và xóa bỏ hoàn toàn các dịch vụ công Ireland đã phải chấp nhận gói cứu trợ gần 100 tỉ Euro từ các nước Eurozones
Tỷ lệ nợ công trên GDP:
Trang 20Nợ chính phủ của Ireland lần cuối báo cáo tháng 11/2011 là 99.4% GDP Từ năm 1980 đến năm 2010, nợ chính phủ trung bình trên GDP là 68.95%, từng đạt mức cao trog lịch sử là 109,2% (12/1987) và ở mức thấp là 24,8 % ( 12/2006)
Thâm hụt ngân sách:
Trước quý I năm 2008, ngân sách luôn trong trạng thái thặng dư và từ đó trở
đi tình trạng ngân sách ngày càng xấu đi, mức thâm hụt lên đến 31,3% GDP (theo báo cáo năm 2010) Ireland là nước có thâm hụt ngân sách cao nhất Eurozones
2008-2011, giá nhà giảm đến 50-60% làm tỷ lệ nợ xấu (đặc biệt là công ty bất động sản) tăng đến mức báo động hệ thống ngân hàng theo đó đặt trước nguy cơ đỗ vỡ khiến Chính phủ can thiệp làm cho nợ công càng tăng cao Thâm hụt ngân sách của Ireland hiện cao gấp hơn 10 lần mức quy định của Liên minh châu Âu (EU)
Cơ cấu nợ :
Trang 21Từ năm 2003, nợ nước ngoài của Ireland tăng lên liên tục Từ 2009, 2010 tỷ trọng nợ của các tổ chức tiền tệ có phần giảm xuống, bù lại tỷ lệ đầu tư trực tiếp từ nước ngoài và nợ trong các lĩnh vực khác tăng lên
Trong cơ cấu nợ của Ireland, nợ của các tổ chức tài chính tiền tệ luôn chiếm tỷ trong lớn nhất, những khoản nợ này tăng rất nhanh trong 2003-2008 do ngân hàng dễ dãi trong việc cho vay (đặc biệt là bất động sàn)
2.2.3 Nguyên nhân gây ra khủng hoảng nợ công tại Ireland
Có 4 nguyên nhân chính dẫn đến khủng hoảng nợ công ở Ireland:
Thứ nhất, tăng trưởng trong giai đoạn trước 2008 của Ireland là tăng trưởng không bền vững, điển hình là việc năng suất lao động bất ngờ sụt giảm thê thảm sau năm 2002
Thứ hai, sự mở rộng quá nhanh trong tín dụng của Ireland đã tạo nên bong bóng tài sản, đẩy danh mục đầu tư quốc gia vượt quá quy mô của nền kinh tế Ireland dùng tiền của chính phủ để duy trì các tài sản ngày càng xuống giá của nền kinh tế và bơm vốn để vực dậy khu vực ngân hàng làm thâm hụt ngân sách, biến nợ xấu của khu vực tư nhân thành nợ chính phủ
Thứ ba, sự suy giảm đột ngột của giá tài sản thế giới đã ảnh hưởng không nhỏ tới thị trường tài sản Ireland
Trang 22 Thứ tư, niềm tin các nhà đầu tư suy giảm đã đẩy Ireland vào cuộc khủng hoảng bay hơi ngoại tệ trầm trọng.
2.2.4 Hậu quả của cuộc khủng hoảng nợ công tại Ireland
Xếp hạng tín nhiệm bị hạ bậc:
Một trong những tác động rõ nét nhất của khủng hoảng nợ công là việc xếp hạng tín nhiệm bị hạ bậc Xếp hạng tín nhiệm của Ireland theo Moody’s:
Giá trái phiếu giảm và lãi suất tăng:
Từ năm 1999 đến năm 2011, lãi suất trung bình đạt 5,36%/năm nhưng từ khi xảy ra nợ công lãi suất trái phiếu liên tục tăng và đạt mức lịch sử 14.04% (7/2011)
Đầu tư trực tiếp FDI giảm:
Có sự thay đổi mạnh mẽ dòng vốn chảy vào Ireland Năm 2004 đạt 20 tỷ USD nhưng năm 2005 thì -30 tỷ USD và tiếp tục giảm Nhà đầu tư mất lòng tin vào thị trường Ireland
Tốc độ tăng trưởng GDP giảm
Trang 232.2.5 Giải pháp của Chính phủ Ireland
2.2.5.1 Chương trình cứu trợ của
Lo ngại Ireland vỡ nợ và buộc phải rời Khu vực đồng tiền chung châu Âu (eurozone), ngày 29/11/2010, chính phủ Ireland đã thỏa thuận xin cứu trợ từ EU và IMF với số tiền 85 tỷ euro (trong đó 17,5 tỷ euro là do phía Ireland đóng góp) Gói cứu trợ tài chính khẩn cấp từ các đối tác châu Âu đã giúp ngăn chặn nguy cơ vỡ nợ của Ireland, đồng thời giúp các dịch vụ tài chính công cơ bản của quốc gia này vẫn tiếp tục hoạt động
Tháng 7/2011, các nhà lãnh đạo EU chấp thuận hạ lãi suất nợ, đồng thời cung cấp thêm một số khoản vay mới cho Ireland Bên cạnh đó, nó còn giúp cải thiện độ bền vững trong nợ quốc gia của Ireland
Ba yếu tố chính trong chương trình cứu trợ cho Ireland của EU và IMF
Thứ nhất, là chiến lược trong lĩnh vực tài chính giúp lĩnh vực ngân hàng của Ireland được tinh giản gọn gàng hơn và được cấp vốn tốt hơn
Thứ hai, là chiến lược củng cố tài chính, trong đó gói cứu trợ tập trung hướng nền tài chính công của Ireland theo con đường bền vững trong trung hạn
Thứ ba, các chủ nợ yêu cầu Ireland nghiêm túc thực hiện cải cách chương trình nghị sự nhằm khôi phục năng lực cạnh tranh và củng cố sức mạnh tăng trưởng cho nền kinh tế
2.2.5.2 Những quyết sách quan trọng của Ireland
Trang 24Cải cách ngân hàng, tái cấp vốn cho toàn bộ các ngân hàng trong nước với chi phí thấp hơn dự kiến ban đầu Ngoài ra, Ireland cũng tiến hành giảm dần nợ cho các ngân hàng, mặc dù điều kiện thị trường vẫn còn rất nhiều khó khăn Các ngân hàng yếu kém bị buộc phải sáp nhập trước thời hạn, kèm theo đó là toàn bộ ban lãnh đạo của những ngân hàng này cũng bị thay mới hoàn toàn.
Trong lĩnh vực tài chính, chủ trương khôi phục lại tính bền vững của tài chính công, và cho đến nay quá trình này vẫn tiếp tục được thực hiện Mục tiêu thâm hụt ngân sách năm 2012 được chính phủ Ireland nghiêm túc thực hiện Chính phủ Ireland cũng cam kết sẽ giảm nợ xuống mức 7,5% GDP trong năm 2013 và tiến tới mục tiêu 3% vào năm 2015
Cải cách cơ cấu đồng thời tiến hành các biện pháp cải thiện tính linh hoạt của thị trường lao động đối với người thất nghiệp Ngoài ra, Ireland còn khuyến khích tính cạnh tranh trong các lĩnh vực được bảo hộ nhằm giảm chi phí lao động và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
2.2.6 Những thay đổi trong nền kinh tế - xã hội của Ireland sau cuộc khủng hoảng
Giữa năm 2011, Ireland bắt đầu tăng trưởng trở lại ở mức khiêm tốn 1,6%, trong khi gánh nặng nợ cũng ở mức khá cao 109% GDP, tỷ lệ thất nghiệp xấp xỉ gần 15% Cho đến nay, Ireland là một trong những quốc gia hiếm hoi ở eurozone có thặng dư tài khoản vãng lai tương đối lớn
Ireland vẫn còn khá nhiều thách thức như thâm hụt ngân sách thuộc hàng cao nhất eurozone, nợ công chưa giảm trong khi tỷ lệ thất nghiệp vẫn cao so với mặt bằng chung
Thị trường nhà đất – một trong những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng – của Ireland cũng bộc lộ dấu hiệu ổn định Trong khi đó, tăng trưởng việc làm trở lại, còn tỷ lệ thất nghiệp cũng duy trì ở mức ổn định, dù vẫn còn khá cao
Niềm tin và cảm tính của các nhà đầu tư đã quay trở lại Lợi suất trái phiếu chính phủ giảm giúp Ireland có cơ hội tái xuất thị trường trái phiếu, điều này thể hiện
rõ qua việc một loạt trái phiếu ngắn hạn và dài hạn của Ireland đều được bán hết veo ngay trong ngày đấu giá đầu tiên Trên thực tế, việc các hãng xếp hạng như Fitch nâng xếp hạng tín dụng của Ireland cũng góp phần đáng kể giúp trái phiếu nước này được các nhà đầu tư đón nhận
Trang 252.2.7 Bài học kinh nghiệm
Với những quyết sách quyết đoán từ chính phủ, kinh tế Ireland đã dần phục hồi trở lại với những dấu hiệu đáng mừng như kinh tế lấy lại đà tăng trưởng, xuất khẩu hồi sinh ấn tượng Mặc dù nhu cầu nội địa vẫn khá yếu, song một loạt chỉ số kinh tế như doanh số bán lẻ, chỉ số quản lý thu mua (PMI) dịch vụ và sản xuất lại tăng trưởng vô cùng khả quan
Để có thể thoát khỏi tình trạng hiện tại, một trong những yêu cầu lớn nhất mà eurozone phải thực hiện đó là thay đổi cách thức hoạt động và quản lý nền kinh tế, trong đó chính phủ các nước cần quyết đoán hơn, và chấp nhận từ bỏ một số lợi ích
để cải cách triệt để nền kinh tế
Bên cạnh đó, Eurozone cũng cần xây dựng một khuôn khổ giảm sát để ngăn chặn tình trạng mất cân bằng tái diễn, và gây ra những cuộc khủng hoảng kinh tế mới như của Ireland
2.3 Khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp
2.3.1 Kinh tế Hy Lạp trước khủng hoảng
Hy Lạp là quốc gia có nền kinh tế phát triển cao, chỉ số phát triển con người HDI năm 2006 là 0,921 đứng 24 thế giới, thu nhập bình quân đầu người năm 2007 là 23.500 USD
Cơ cấu kinh tế: dịch vụ chiếm 74,4%, công nghiệp 20,6% và nông
nghiệp 5,1%; dịch vụ chiếm tỷ trọng quan trọng trong nền kinh tế Hy Lạp, đặc biệt là
du lịch, du lịch là nguồn thu ngoại tệ chủ yếu của Hy Lạp và đóng góp tới 15%GDP
Năm 2006, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Hy Lạp đạt 4,3%, cao hơn so với mức trung bình của Liên minh Châu Âu
Năm 2006, xuất khẩu khoảng 24,4 tỷ USD, nhập khẩu khoảng 59,1 tỷ USD
2.3.2 Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp
2.3.2.1 Nguồn gốc dẫn tới khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp
Từ lúc bắt đầu tham gia sử dụng đồng tiền chung châu Âu (Euro) vào giữa năm 2001 cho đến năm 2008 - khi khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra, ngân sách quốc gia Hy Lạp luôn nằm trong tình trạng thâm hụt với mức trung bình 5% GDP/năm trong khi tính trung bình cho toàn khu vực sử dụng đồng tiền chung châu
Âu (Eurozone), con số này chỉ dừng lại ở mức 2%/năm Cùng với thâm hụt ngân sách, cán cân vãng lai của quốc gia này cũng liên tục bị thâm hụt, trung bình vào
Trang 26khoảng 9% GDP hàng năm (so với mức trung bình của toàn khu vực Eurozone là 1%).
Cả hai mức thâm hụt ngân sách và thâm hụt cán cân vãng lai của Hy Lạp đều vượt quá trần quy định cho phép của Liên minh Tiền tệ và Kinh tế châu Âu (EMU), đặc biệt là Hiệp ước Bình ổn và Tăng trưởng của Liên minh châu Âu (EU) với quy định trần thâm hụt ngân sách 3% GDP và trần nợ nước ngoài 60% GDP
Để bù đắp cho khoản thâm hụt kép này, Hy Lạp đã đi vay trên thị trường vốn quốc tế
và trong suốt một thập kỷ trước khi diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm
2008, chính phủ này đã vay mượn khá nặng nề từ bên ngoài, trở thành một con nợ triền miên với tổng số nợ nước ngoài lên tới 115% GDP vào năm 2009
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng nổ vào mùa thu năm 2008 khiến nhiều quốc gia gặp khó khăn trong vấn đề thanh khoản, tạo căng thẳng cho ngân sách của nhiều chính phủ, trong đó Hy Lạp không phải là ngoại lệ, do nhu cầu chi tiêu tăng lên trong khi nguồn thu từ thuế lại giảm đi Và cũng từ đây, bi kịch nợ công của
Hy Lạp bắt đầu được vén màn
2.3.2.2 Nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp
Tiết kiệm trong nước thấp, phải vay nợ nước ngoài cho chi tiêu công:
Thập niên 90 tỷ lệ tiết kiệm trong nước bình quân của Hy Lạp ở mức 11%, thấp hơn mức 20% của Bồ Đào Nha, Ý, Tây Ban Nha và đang có xu hướng sụt giảm nhanh chóng Do vậy đầu tư trong nước phụ thuộc khá nhiều vào dòng vốn bên ngoài
Chi tiêu công cao dẫn đến thâm hụt ngân sách:
Trong giai đoạn 2001 – 2007 mức chi tiêu chính phủ tăng 87%, trong khi mức thu chỉ tăng 31%
Sự già hoá dân số và hệ thống lương hưu vào loại hào phóng bậc nhất Châu Âu Ước tính tổng số tiền chi trả lương hưu khu vực công sẽ tăng từ 11,5%GDP (2005) lên 24%GDP (2050)
Trang 27 Nguồn thu giảm sút cũng là một nhân tố dẫn tới thâm hụt ngân sách và gia tăng nợ công:
Trốn thuế và hoạt động kinh tế ngầm là nhân tố giảm nguồn thu ngân sách Theo đánh giá WB kinh tế không chính thức của Hy Lạp chiếm tới 25-30%GDP.Theo Tổ chức minh bạch thế giới, Hy Lạp là một trong những nước có tỷ lệ tham nhũng cao nhất trong EU Năm 2008, hơn 13% người Hy Lạp đã chi tới 750 triệu EUR tiền phong bì
Trang 28 Sự tiếp cận dễ dãi với nguồn vốn đầu tư nước ngoài và việc sử dụng nguồn vốn không hiệu quả:Việc gia nhập Eurozone năm 2001 là cơ hội lớn để Hy Lạp tiếp cận với thị trường vốn quốc tế Hy Lạp có được hình ảnh ổn định cao và chắc chắn trong mắt các nhà đầu tư, dễ dàng thu hút vốn đầu tư nước ngoài với mức lãi suất thấp Tuy nhiên Hy Lạp đã chi tiêu quá tay (phần lớn chi cho cơ sở hạ tầng) mà hầu như không quan tâm kế hoạch trả nợ.
Thiếu tính minh bạch và niềm tin của nhà đầu tư: Các số liệu thống kê ảo của
Hy Lạp đã làm mất niềm tin của nhà đầu tư mà quốc gia này đã xây dựng được với tư cách là thành viên Eurozone và nhanh chóng xuất hiện làn sóng rút vốn ồ ạt khỏi các ngân hàng Hy Lạp
2.3.3 Hậu quả
2.3.3.1 Chính trị – xã hội:
Đóng cửa đài phát thanh và truyền hình quốc gia ERT đã có truyền thống 60 năm hoạt động
Tình hình xã hội rối ren, biểu tình, đình công, Hy Lạp phải tăng cường an ninh ở những nơi công cộng
2.3.3.2 Kinh tế
Xếp hạng tín dụng bị hạ bậc: Moody’s đã hạ 4 bậc xếp hạng tín dụng của Hy Lạp xuống mức không đầu tư và cảnh báo