1. Trang chủ
  2. » Tất cả

DS Tuần 3

18 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 89,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Căn cứ quy định tại điểm 8 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 thì giấy tờ có giá là: “Bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy có giá trong một thời

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT QUỐC TẾ



BUỔI THẢO LUẬN THỨ BA

TÀI SẢN VÀ QUYỀN ĐỐI VỚI TÀI SẢN

Bộ môn: Những quy định chung về luật dân sự, tài sản và thừa kế Lớp: 125-TMQT.A1

Sinh viên thực hiện: Thái An Bình MSSV: 2053801090019 Giảng viên: Ths Ngô Thị Anh Vân

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 4 năm 2021

Trang 4

VẤN ĐỀ THỨ NHẤT: KHÁI NIỆM TÀI SẢN

*Tóm tắt quyết định số 06/2017/GĐ-PT ngày 11/7/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh

Khánh Hòa.

-Nguyên đơn: Ông Phan Hai

-Bị đơn: Ông Phan Quốc Thái

-Nội dung: Ông Hai kiện ông Thái yêu cầu trả lại “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” số

phát hành 0926009 cấp ngày 23/7/1999 của Ủy ban nhân dân huyện Duyên Khánh mang tên

Lương Thị Xà Tòa sơ thẩm đình chỉ giải quyết án vì cho rằng “Giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất” là văn bản chứng quyền, không phải là tài sản và không thể xem là loại giấy tớ có

giá nên không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa nhưng ông Hai kháng cáo Tòa phúc thẩm tiếp tục đình chỉ vụ án và trả lại đơn khởi kiện cho ông Hai

*Tóm tắt Bản án số 39/2018/DSST ngày 28/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long

- Nguyên đơn: Ông Võ Văn B và bà Bùi Thị H

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thủy T

- Nội dung: Ông B và bà H khởi kiện bà T yêu cầu trả lại “Giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất” số AM 09090902 cấp cho hộ ông Võ Văn B Năm 2012 gia đình ông B sửa nhà, sau hơn

10 ngày dọn vào nhà thì phát hiện “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” bị mất Sau đó, ông

làm đơn cơ mất và xin cấp lại thì được Ủy ban nhân huyện Long Hồ cấp lại nhưng khi có giấy thì ông B không được nhận với lý do là có người tranh chấp Tại phiên tòa cấp sơ thẩm, Tòa án

chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông B và bà H buộc bà T trả lại giấy “Giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất”.

*Tóm tắt Bản án số 22/2017/HC-ST ngày 21/9/2017 Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Việt Cường

- Bị đơn: Chi cục trưởng cục thuế thành phố Bến Tre; Cục trưởng cục thuế tỉnh Bến Tre

- Nội dung: Ông Cường khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 714/GĐ-CCT ngày 12/5/2016

chi cục trưởng cục thuế thành phố Bến Tre và Quyết định số 1002/GĐ-CCT ngày 18/5/2017 của trưởng Cục thuế tỉnh Bến Tre vì đã truy thuế về việc ông Cường mua bán tiền ảo, tiền kỹ thuật số (Bitcoin) Xét thấy, căn cứ pháp lý để xác định ông Cường có phải nộp thuế gia trị gia tăng và thuế thu nhập thì phải xem xét tiền kỹ thuật số có phải là đối tượng chịu thuế tại Điều 3 Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2008, cũng như theo quy định tại Điều 2 và Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 thì đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú có thu nhâp chịu thuế từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Tuy nhiên, khung pháp lý về tiền kỹ thuật số đang hoàn thiện và hiện chưa có một văn bản quy phạm pháp luật quy định về điều này Tòa sơ thẩm quyết định chấp nhận việc khởi kiện của ông Cường và tuyên xử hủy quyết định của chi cục trưởng Cục thuế thành phố Bến Tre và Quyết định của Cục trưởng cục thuế tỉnh Bến Tre

*Tóm tắt Quyết định số 05/2018/GS-GDT ngày 10/4/2018 của Hội đồng thẩm phán nhân

dân tối cao

-Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H

-Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim L

-Nội dung: Năm 1998, khi bà L có đơn gửi Hội đồng nhà đất Quân khi 7 xin mua hóa giá căn

nhà theo nghị định số 61/CP ngày 5/7/1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở thì

Trang 5

bà H và ông T1 khiếu nại, không đồng ý cho bà L mua nhà theo chế độ của cụ T Tại biên bản giải quyết khiếu nại ngày 5/7/2001 của Thanh tra Bộ Quốc phòng, hai bên đã thống nhất đồng

ý để bà L đứng tên mua căn nhà số 63 đường B, việc phân chia tài sản trừ đi các khoản chi phí nghĩa vụ đối với Nhà nước, giá trị còn lại do chị em bàn bạc thỏa thuận Ngày 02/10/2001l, cục

A Quân khu 7 ký hợp đồng cho bà L thuê căn nhà trên Sau đó, Hội đồng nhà đất Quân khu 7 làm thủ tục bán căn nhà cho bà L theo Nghị định số 61/CP, bà L và ông T1 được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất Như vậy, việc bà L mua căn nhà số 63 đường B là do sự thống nhất giữa bà H, ông T1 và bà L ngày 5/7/2001 và đó là tài sản chung của họ Tòa án phúc thẩm nhận định sai việc ông T ủy quyền cho bà L giải quyết việc liên quan đến thủ tục căn nhà chứ không phải ủy quyền cho bà L sở hữu Ngoài ra, Tòa sơ phẩm và phúc thẩm vẫn chưa xác minh rõ việc bà L mua nhà theo chế độ ưu tiên của ông T hay chế độ con liệt sỹ và tỷ lệ % xét giảm như thế nào Mặt khác, Tòa sơ thẩm xác định sai tỉ lệ phần giá trị để chia, Tòa phúc thẩm cho rằng việc trả lại căn nhà số 4/1 đường HV cho Nhà nước là do sự đánh đổi đang được hưởng để xác định căn nhà số 63 đường B thuộc quyền sở hữu của bà L và ông H3 là không đúng, không đảm bảo quyền lợi của các con cụ T Vì các lẽ trên, Tòa Giám đốc thẩm chấp nhận Quyết định kháng nghị ngày 22/8/2017 của Viện trường Viện kiểm sát nhân dân tối cao, hủy bản án sơ thẩm và phúc thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân TP.Hồ Chí Minh xét xử lại

*Tóm tắt Quyết định giám đốc thẩm số 111/2013/GS-GĐT

-Nguyên đơn: Cụ Dư Thị Hảo

-Bị đơn: Chị Nhữ Thị Vân

-Nội dung: Nhà số 2 Hàng Bút là tài sản riêng của cụ Hảo Năm 1954, cụ Hảo vào Sài Gòn

buôn bán nên giao lại nhà cho con là vợ chồng ông Chinh và bà Châu quản lý Năm 1968, vợ chồng ông Chinh và bà Châu đi công tác ở Thái Nguyên nên cho ông Hải thuê nhà Tuy nhiên theo chị Vân thì nghe ông nội (Ông Hải) nói là thuê nhà cụ Hảo từ năm 1954 Chị Vân không biết cụ Hảo là ai mà chỉ biết ông Chính là người cho gia đình chị thuê nhà, hàng năm đóng tiền thuê cho ông Chính Sau khi ông Hải và ông Sơn (bố chị) mất, chị không trả tiền thuê nhà nữa

và bán tầng 1 cho vợ chồng, anh Sơn và chị Dương Tòa án giám đốc thẩm nhận định: Gia đình chị Vân ở tại căn nhà này trên 30 là chiếm hữu ngay tình, liên tục và công khai theo quy định của pháp luật Vì những lẽ trên, Tòa án quyết định hủy bản án sơ thẩm và phúc thẩm, giao hồ

sơ cho Tòa sơ thẩm xét xử lại

1 Thế nào là giấy tờ có giá? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời và cho ví dụ minh họa về giấy tờ

có giá.

- Giấy tờ có giá 1 là giấy tờ chứng nhận một quyền tài sản, có giá trị trao đổi, thực hiện việc thanh toán trực tiếp hoặc có thể xuất trình để thực hiện quyền tài sản ghi nhận trên đó Giấy

tờ có giá có thể được phát hành bởi Nhà nước, ngân hàng, tổ chức có chức năng kinh doanh tiền tệ có liên quan tới người được cấp giấy tờ đó hoặc các doanh nghiệp có cơ sở sản xuất

có nhu cầu huy động vốn Theo quy định tại điểm 8 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt

Nam năm 2010 thì giấy tờ có giá là: “Bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức

phát hành giấy có giá trong một thời gian nhất định, điều kiện trả lãi trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác” Căn cứ vào pháp luật hiện hành thì giấy

tờ có giá bao gồm:

1 Trường Đại học Luật TP.HCM, Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữ và thừa kế, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam

2019, Hồ Chí Minh, tr 54-56.

Trang 6

- Công cụ chuyển nhượng gồm: Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác

- Chứng khoản gồm các loại gồm:

a Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỷ.

b Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương

lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoản

c Hợp đồng góp vốn đầu tư.

d Các loại chứng khoán do Bộ Tài chính quy định.

Các loại giấy tờ có giá khác: Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, thương phiếu của doanh nghiệp, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi…

2 Trong thực tiễn xét xử, “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở

hữu nhà ở” có là giấy tờ có giá không? Quyết định số 06 và Bản án số 39 có cho câu trả

lời không?

- Trong thực tiễn xét xử, “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu

nhà” không được xem là giấy tờ có giá Căn cứ quy định tại điểm 8 Điều 6 Luật Ngân hàng

Nhà nước Việt Nam năm 2010 thì giấy tờ có giá là: “Bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ

giữa tổ chức phát hành giấy có giá trong một thời gian nhất định, điều kiện trả lãi trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác” và căn cứ theo khoản 16 Điều 3

Luật đất đai năm 2013: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản

khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền

sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của ngườ có quyền sử dụng đất, quyền

sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất” Như vậy, “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà” đơn thuần chỉ coi là một vật và thuộc

sở hữu của người đứng tên trên đó

- Trong Quyết định số 06 có câu trả lời như sau:

Theo Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về tài sản như sau: “1 Tài sản là vật, tiền,

giấy tờ có giá và quyền tài sản, 2 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản

và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”; Điều 115 Bộ luật

dân sự 2015: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với

đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác” Căn cứ theo

khoản 16 Điều 3 Luật đất đai năm 2013: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu

nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của ngườ có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất” Vậy nên, “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở” chỉ là văn bản chứa

đựng thông tin về quyền sử dụng đất, là văn bản chứng quyền, không phải là tài sản và không thể xem là loại giấy tờ có giá Do đó, việc ông Phan Hai khởi kiện yêu cầu ông Phan Quốc Thái trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

- Trong Bản án số 39, Tòa không đề cập đến vấn đề “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,

giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà” có phải là giấy tờ giá hay không

3 Trong thực tiễn xét xử, “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở

hữu nhà ở” có là tài sản không? Quyết định số 06 và Bản án số 39 có cho câu trả lời

không?

Trang 7

Trong thực tiễn xét xử, “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu

nhà” không phải là tài sản Căn cứ theo khoản 16 Điều 3 Luật đất đai năm 2013: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của ngườ có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất” và căn cứ theo khoản 1 Điều 105 BLDS 2015: “Tài sản là vật, tiền, giấy

tờ có giá và quyền tài sản” Vậy nên có thể kết luận “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà” không là tài sản.

Quyết định số 06 có câu trả lời như sau:

Căn cứ theo khoản 1 Điều 105 BLDS 2015: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài

sản” và khoản16 Điều 3 Luật đất đai năm 2013: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền

sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất” Như vậy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là văn bản chứa đựng thông tin về quyền sử dụng đất, là văn bản chứng quyền, không phải là tài sản

Trong Bản án số 39 có câu trả lời như sau:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng là chứng thư pháp lý để nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất

4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Quyết định số 06 liên quan đến “Giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà”, nhìn từ khái niệm tài

sản (Và nếu có điều kiện, đối chiếu thêm với pháp luật nước ngoài).

- “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở” chỉ là chứng

thư pháp lý người chứng minh đó có quyền sử dụng đối với tài sản Việc Tòa án từ chối thụ lý

là đúng với quy định của pháp luật vì “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận

quyền sở hữu nhà ở” không phải là tài sản, khi từ chối thụ lý Tòa án hướng dẫn các bên đến

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và việc nguyên đơn tiếp tục kháng án là không có cơ sở pháp lý; việc bị Tòa án bác bỏ là hợp lý và đúng với quy định của pháp luật

- Nhìn từ khái niệm Tài sản quy định tại Điều 105 BLDS 2015: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ

có giá và quyền tài sản” thì “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhà ở” không phải là

tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản Còn xét ở khái niệm “Vật” được hiểu “Vật là một đối tượng, một thực thể tồn tại khách quan, con người có khả năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt” Vậy

trong trường hợp xét ở khái niệm này thì “Giấy chứng nhận quyền sở hữu đất và nhà ở” hoàn

toàn phù hợp với các điều kiện để được xem là một vật Vậy từ khái niệm tài sản ta hoàn toàn

có thể khẳng định “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhà ở” là tài sản.

- Trong pháp luật của các nước, rất hiếm có quy định trực tiếp định nghĩa về tài sản Tuy vậy,

có một vài BLDS của các nước có đề cập đến nghĩa về tài sản, chẳng hạn Điều 654 BLDS ciat bang California (Hoa Kỳ) định nghĩa: “…Trong Bộ luật này, vậy mà có thể sở hữu được gọi là

tài sản” Theo Điều 899 BLDS của Quesbec (Canada): “Tài sản, hoặc hữu hình hoặc vô hình,

được chia thành bất động sản và động sản” Điều 99 BLDS và Thương mại Thái Lan quy

định: “Tài sản bao gồm những vật cũng như các đối tượng không cụ thể, có thể có một giá trị

và có thể chiếm dụng được”2

2 Trường Đại học Luật TP.HCM, Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữ và thừa kế, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam

2019, Hồ Chí Minh, tr.14-tr.15

Trang 8

5 Nếu áp dụng BLDS năm 2015, “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở

hữu nhà ở” có phải là tài sản không? Vì sao?

Áp dụng BLDS năm 2015 thì “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu

nhà ở” là không phải tài sản Căn cứ theo Điều 105 BLDS 2015 quy định về tài sản:

1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản

2 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.

Điều 115 BLDS 2015 quy định về quyền tài sản: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng

tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác” Từ hai cơ sở pháp lý được nêu trên thì “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà ở” là chứng thư pháp lý xác lập mối quan hệ hợp pháp giữa

Nhà nước với người sử dụng đất và đó còn là một trong những điều kiện để tiến hành các giao dịch về quyền sử dụng đất Để có thể tiến hành các giao dịch chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.3

6 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Bản án số 39 liên quan đến “Giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở”, nhìn từ khái niệm tài sản.

Hướng giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ tại Bản án số 39/2018/DSST về “ Đòi

lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” là Tòa chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông B và bà H

buộc bà T giao trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 090902 Hướng giải quyết trên là hoàn toàn hợp lý đảm bảo được quyền và nghĩa vụ của các bên, đồng thời bảo vệ quyền và lợi

ích của nguyên đơn “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà

ở” không phải là giấy tờ có giá, tuy nhiên xét từ khái niệm tại Điều 105 BLDS 2015 có thể coi

đó là vật, do đó có thể xem nó như một loại tài sản “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy

chứng nhận quyền sở hữu nhà ở” là loại giấy tờ quan trọng thể hiện sự công nhận của Nhà

nước với người sử dụng đất, đồng thời, cũng là căn cứ cho phép xác định thẩm quyền của cơ quan Nhà nước có liên quan trong các tranh chấp liên quan về quyền sử dụng đất Thực tiễn xét

xử hiện nay không coi “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu

nhà ở” là tài sản dẫn đến việc khăn trong việc xác định thẩm quyền của các cơ quan để giải

quyết khiếu nại, làm tổn hại đến quan hệ pháp luật Dân sự Do đó Bản án số 39/2018/DSST đã đưa ra hướng giải quyết hợp lý đảm bảo quyền và lợi ích của ông B và bà H một cách thỏa đáng và đầy đủ

7 Bitcoin là gì?

Pháp luật Việt Nam hiện nay vẫn chưa có định nghĩa cụ thể về Bitcoin (tiền ảo)4 nên có thể hiểu định nghĩa Bitcoin như sau:

- Bitcoin (ký hiệu: BTC, XBT, BitcoinSign.svg) là một loại tiền mã hóa, được phát minh bởi

Satoshi Nakamoto dưới dạng phần mềm mã nguồn mở từ năm 2009 Bitcoin có thể được trao đổi trực tiếp bằng thiết bị kết nối Internet mà không cần thông qua một tổ chức tài chính trung gian nào

- Bitcoin có cách hoạt động khác hẳn so với các loại tiền tệ điển hình: Không có một ngân hàng trung ương nào quản lý nó và hệ thống hoạt động dựa trên một giao thức mạng ngang hàng trên Internet.Sự cung ứng Bitcoin là tự động, hạn chế, được phân chia theo lịch trình định sẵn dựa trên các thuật toán Bitcoin được cấp tới các máy tính "đào" Bitcoin để trả công cho việc xác

3 Đỗ Thành Công, “Vai trò của giấy chứng nhận quyền sử dụng đát và vấn đề kiện đòi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”

4 https://vi.wikipedia.org/wiki/Bitcoin

Trang 9

minh giao dịch Bitcoin và ghi chúng vào cuốn sổ cái được phân tán trong mạng ngang hàng, thông qua công nghệ blockchain

8 Theo Tòa án, Bitcoin có là tài sản theo pháp luật Việt Nam không?

Theo Tòa án, Bitcoin không là tài sản theo pháp luật Việt Nam

Trong Bản án 22/2017/HC-ST, Tòa án có đề cập như sau:

Cụ thể theo Điều 163 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có

giá” và theo Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Hàng hóa bao gồm: Tất cả các loại bất động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lại; những vật gắn liền với đất đai”.

Trong khi đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không chấp nhận tiền ảo là tiền lệ, phương tiện thanh toán hợp pháp, đồng thời Nghị định số 96/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 của Chính phủ quy định chế tài xử phạt hành chính đối với hành vi phát hành, cung ứng và sử dụng phương tiện thanh toán không hợp pháp như Bitcoin và các loại tiền ảo tương tự

9 Pháp luật nước ngoài có coi Bitcoin là tài sản không? Nếu có, nêu hệ thống pháp luật mà anh chị biết.

Bitcoin ra đời vào năm 2009 và được dự đoán là một loại tiền tệ tiềm năng có khả năng thay thế tiền pháp định Phần đông các quốc gia đã ủng hộ chấp nhận và lưu hành Bitcoin Trong khi

đó, có một số nước khác không ủng hộ nhưng cũng không cấm và một số ít cho rằng giao dịch Bitcoin là phạm pháp5

Nhìn chung, sẽ có những mức độ khác nhau trong sự ủng hộ tiền mã hóa của từng nước Và thái độ ủng hộ 100% đồng nghĩa không có bất kỳ sự ngăn cấm nào từ việc đào Bitcoin cho đến

sử dụng Bitcoin như phương thức thanh toán Tuy nhiên, chính phủ của những nước này hiện vẫn xem xét điều chỉnh hoặc củng cố luật và quy định về Bitcoin sao cho phù hợp hơn với bối cảnh nền kinh tế thị trường nói chung

Dưới đây là một vài quốc gia tiêu biểu, gây chú ý với sự tác động lớn đến thị trường tiền mã hóa nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung khi chấp nhận Bitcoin:

Nhật Bản

Nước đầu tiên hoàn toàn chấp nhận Bitcoin đó là Nhật Bản Từ ngày 1/4/2017, Bitcoin được coi là tài sản và là một phương thức thanh toán hợp pháp, được quản lý bởi Cơ quan Dịch vụ Tài Chính Nhật Bản (JFSA) Một số tổ chức lớn tại đây đã công nhận Bitcoin như một loại tiền tệ

Mỹ

Dù không chính thức hợp pháp tại Mỹ, song CFTC đã phân loại tiền mã hóa như một loại hàng hóa Trong khi đó, Bộ Tài Chính Mỹ lại xem đây là một doanh nghiệp dịch vụ tiền tệ (MSB) Chính phủ Mỹ đã cởi mở và tích cực hơn về Bitcoin so với nhiều quốc gia khác Dù không một nhà quản lý tài chính nào coi Bitcoin như một loại tiền tệ, đồng tiền mã hóa này vẫn được báo cáo trong các bản khai thuế Mạng lưới Khống chế Tội phạm Tài chính của Mỹ (Financial

5 https://tiendientu.org/phap-ly-bitcoin-tai-viet-nam-va-tren-the-gioi

Trang 10

Crimes Enforcement Network) đã và đang nghiên cứu về Bitcoin Hơn nữa, Bitcoin cũng đã có mặt trên thị trường tài chính phái sinh của Mỹ

10 Suy nghĩ của anh/chị về quan điểm của Tòa án đối với Bitcoin trong mối quan hệ với khái niệm tài sản ở Việt Nam.

Quan điểm của Tòa án đối với Bitcoin trong mối quan hệ với tài sản ở Việt Nam là hoàn toàn

hợp lý Căn cứ theo Điều 105 BLDS 2015: “1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài

sản; 2 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai” Cho đến thời điểm hiện tại, ở Việt Nam vẫn

chưa có bất cứ văn bản quy phạm pháp luật nào quy định tiền kỹ thuật số (tiền ảo) là hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam Cụ thể theo điều 163 BLDS

2005 quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” Trong khi đó,

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không chấp nhận tiền ảo là tiền lệ, phương tiện thanh toán hợp pháp Bên cạnh đó, tài sản trong trong pháp luật Dân sự phải thỏa mãn những điều kiện sau: (1) Tài sản phải có giá trị kinh tế; (2) Tài sản phải có giá trị sử dụng; (3) Tài sản phải là những gì

mà con người có thể chiếm giữ, kiểm soát hoặc xác lập quyền làm chủ; (4) Tài sản phải là những gì không bị pháp luật loại trừ dưới danh nghĩa tài sản trong lưu thông dân sự Vì các lẽ trên nên Bitcoin không được xem là một loại tài sản được liệt kê trong hai Bộ luật Dân sự 2005

và 2015; và không thỏa mãn những yêu cầu của pháp luật Dân sự Việt Nam

11 Quyền tài sản là gì?

Về mặt pháp lý, quyền tài sản được định nghĩa tại Điều 115 BLDS 2015: “Quyền tài sản là

quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”.

Hoặc

Tài sản có thể được định nghĩa như sau: Quyền tài sản là một dạng tài sản đặc thù, không tồn

tại dưới dạng vật chất hữu hình, là một loại quyền dân sự có nội dung kinh tế, có thể trị giá được bằng tiền, do chủ thể có quyền tự mình thực hiện hoặc yêu cầu người khác thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất hoặc tinh thần của người có quyền.

12 Có quy định nào cho phép khẳng định quyền thuê, quyền mua tài sản là quyền tài sản không?

Hiện nay chưa có quy định nào cho phép khẳng định quyền thuê, quyền mua tài sản là quyền

tài sản Vì theo Điều 115 BLDS 2015 quy định về Quyền tài sản: “Quyền tài sản là quyền trị

giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác” Do đó, quyền mua và quyền thuê tài sản là quyền tài sản

vì thỏa mãn được giá trị bằng tiền nhưng không có quy định nào khẳng định quyền thuê, quyền mua là quyền tài sản Vậy nên, quyền thuê và quyền mua chỉ là quyền phát sinh trong giao dịch tài sản, quyền thuê xuất phát từ quyền cho thuê, quyền mua xuất phát từ quyền bán mà các quyền này đều phụ thuộc vào đối tượng giao dịch là tài sản

13 Đoạn nào của Quyết định số 05 cho thấy Tòa án nhân dân tối cao theo hướng quyền thuê, quyền mua là tài sản?

Quyết định số 05 cho thấy Tòa án nhân dân tối cao theo hướng quyền thuê, quyền mua là tài sản nằm ở đoạn: “Đến thời điểm cụ T chết năm 1995, cụ chưa làm thủ tục mua hóa giá nhà đối với nhà số 63 nêu trên Theo quy định tại Điều 188 và Điều 634 Bộ luật Dân sự năm 1995, quyền thuê, mua hóa giá nhà của cụ T là quyền tài sản (trị giá được bằng tiền) và được chuyển

Ngày đăng: 01/05/2021, 11:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w