Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây: a Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; b Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của phá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA: HÌNH SỰ
~~~~~~~~~~~
Lớp: 117 – Hình sự khoá 45 – Nhóm 3
• Danh sách thành viên nhóm:
Tên MSSV
1. Nguyễn Minh Thuận 205 380101 3157
2. Nguyễn Duy Thức 205 380101 3158
3. Đỗ Nữ Nguyên Trà 205 380101 3163
4. Nguyễn Thị Thanh Trà 205 380101 3165
5. Nguyễn Hoàng Vũ 205 380101 3197
6. Bùi Quốc Tuân 205 380101 3186
7. Trần Hà Trang 195 380109 0132
8. Lê Thị Thùy Trang 205 380101 3174
BÀI THẢO
Năm học: 2021 - 2022
Trang 2BÀI TẬP 1 : NĂNG LỰC PHÁP LUẬT DÂN SỰ CỦA CHỦ THỂ TRONG XÁC LẬP GIAO DỊCH.
*Tóm tắt bản án số 32/2018/DS-ST ngày 20-12-2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long:
Nguyên đơn là ông J Ph T và bà A Th Ph (L Th H) khởi kiện bà L K Đ yêu cầu bà hoàn trả toàn bộ tài sản là căn nhà cấp 4 và quyền sử dụng đất cùng toàn bộ cây trồng trên đất cho nguyên đơn
Bà L K Đ thừa nhận có nhận 05 lần tiền của nguyên đơn và đồng ý bán cho vợ chồng nguyên đơn 1 căn nhà cấp 4 và quyền sử dụng đất có diện tích 1.251,8 m2 , khi nào nguyên đơn về Việt Nam thì bà trả lại nhà và đất Nhưng khi nguyên đơn yêu cầu bà trao trả lại căn nhà và mảnh đất thì bà chỉ đồng ý trả lại số tiền 13.950 USD mà nguyên đơn
đã đưa cho bà, đồng thời yêu cầu được sử dụng nhà và đất này, số tiền này quy đổi ra tiền Việt Nam là 329.220.000 đồng, tuy nhiên bị đơn tình nguyện trả 350.000.000 đồng chứ không phải 550.000.000 đồng theo như nguyên đơn yêu cầu Bên cạnh đó, bị đơn xin đề nghị miễn án phí vì tuổi đã cao, khó khăn về kinh tế
Tòa án tuyên xử chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà L K Đ hoàn trả cho vợ chồng nguyên đơn 350.000.000 đồng
Câu 1.1: So với BLDS 2005, BLDS 2015 có gì khác biệt về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự? Suy nghĩ của anh/chị về sự thay đổi trên?
Điều 122 của BLDS 2005 quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:
1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;
b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;
c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện
Trang 32 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp
pháp luật có quy định
Điều 117 BLDS 2015 quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:
1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch
dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không
trái đạo đức xã hội
2 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong
trường hợp luật có quy định
* So sánh – nhận xét:
Điều 122 của BLDS
Năng lực
xác lập
giao dịch
- Người tham gia giao
dịch có năng lực hành v
i dân sự
- Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng l
ực hành vi dân sự phù
hợp với giao dịch dân sự được xác lập
- Quy định tại Điều 117 của
BLDS
2015 đã quy định một cách chặt chẽ, rạch ròi và rõ ràng hơn về năng lực xác lập giao dịch ngoài cónăng lực hành thì còn cần phải
có năng lực pháp luật dân sự (vì trên thực tế có những chủ thể có năng lực pháp luật hành vi nhưn glại không có năng lực pháp luật dân sự để thực hiện giao dịch dâ
Trang 4nsự đó).
tránh tình trạng giao dịch dân sự vượt quá khả năng cho phép, trái pháp luật
Đối tượng
xác lập
giao dịch
- Là “người tham gia” - Là “chủ thể”
- Ở BLDS
2015 đã mở rộng đối tượng được xác lập giao dịch dân sự Trong trường hợp này chủ thể có thể được hiểu là cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác (những tổ chức không có tư cách pháp nhâ n) đáp ứng đủ điều kiện của Luật
để xác lập giao dịch dân sự
- >Hướng mở rộng này là phù hợp với xu thế phát triển của đất nước ta hiện nay
Mục đích
của giao
dịch
- Mục đích của giao dịch
dân sự là lợi ích hợp
pháp mà các bên mong
muốn đạt được khi xác
lập giao dịch đó
(Điều 123 BLDS 2005)
- Mục đích và nội dung
của giao dịch không vi
phạm điều cấm của
pháp luật, không trái
đạo đức xã hội
- Mục đích của giao dịch
dân sự là lợi ích mà chủ th
ể mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó
(Điều 118 BLDS 2015)
- Mục đích và nội dung
của giao dịch dân sự
không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo
đức xã hội
- Đã có sự thay đổi từ mục đích
của giao dịch không vi phạm điều cấm của Pháp luật sang không vi phạm điều cấm của Luật Việc thay đổi đã tạo nên sự thống nhất trong việc giới hạn
về mục đích của giao dịch dân sự , tránh được sự chồng chéo giữa các văn bản do các CQNN khác ban hành Tránh được việc làm quyền, lạm dụng chức hạng…
Giới hạn
tự do về
hình thức
- Hình thức giao dịch dân
sự là điều kiện có hiệu
lực của giao dịch trong
trường hợp pháp luật
có quy định
- Hình thức của giao dịch
dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân
sự trong trường hợp luật có quy định.
- Đã có sự giới hạn, làm hẹp đi
yêu cầu về mặt hình thức -> Chặt chẽ, mạch lạc
Loại hình
thức của
giao dịch
- Giao dịch dân sự thông
qua phương tiện điện tử
dưới hình thức thông
điệp dữ liệu được coi là
giao dịch bằng văn bản
- Giao dịch dân sự thông
qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp
dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là
- Điểm mới: đề cập đến Pháp luậ
t về giao dịch điện tử
- Bỏ hình thức văn bản không có công chứng chứng thực như: văn bản viết tay, văn bản đánh máy
Trang 5- Trong trường hợp pháp
luật quy định giao dịch d
ân sự phải được thể hiện
bằng văn bản, phải có cô
ng chứng hoặc chứng
thực, phải đăng ký hoặc
xin phép thì phải tuân th
eo các quy định đó
giao dịch bằng văn bản
- Trường hợp luật quy
định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó
Không coi xin phép là một hình thức nữa
->
Thể hiện sự thay đổi trong tư duy của các nhà làm luật
-> phù hợp và hợp lí hơn
Câu 1.2: Đoạn nào của bản án trên cho thấy ông T và bà H không có quyền sở hữu
nhà ở tại Việt Nam?
Trích trong bản án số 32/2018/DS-ST phần nhận định của tòa án: “Giấy cho nền thổ cư
ngày 31/5/2004, giấy nhường đất thổ cư ngày 02/6/2004 được lập giữa nguyên đơn và bị
đơn L K Đ xét về hình thức thì tờ cho đất thổ cư và tờ nhường đất thổ cư không tuân thủ
theo quy định của pháp luật, không được công chứng, chứng thực theo quy định tại Điều
127 của Luật đất đai năm 2003 và Điều 117 của Bộ luật dân sự nên không phát sinh hiệu
lực của hợp đồng Hơn nữa ông Ph J T và bà L Th H là người Việt Nam ở nước ngoài đã
nhập quốc tịch Mỹ thì theo quy định Luật đất đai năm 2003 và Điều 121 của Luật nhà ở
năm 2005 thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền sở hữu nhà ở Việt Nam
khi thỏa mãn các điều kiện sau: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư lâu dài
tại Việt Nam, người có công đóng góp với đất nước, nhà hoạt động văn hóa, nhà khoa học
có nhu cầu hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất
nước, người được phép về sống ổn định tại Việt Nam và các đối tượng khác do Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định được sở hữu nhà ở tại Việt Nam” “Người Việt Nam định
cư ở nước ngoài không thuộc diện quy định này đã về Việt Nam cư trú với thời hạn được
phép từ 6 tháng trở lên được sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ”, do đó ông T và
bà H không được sở hữu quyền sử dụng đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm tại Việt
Nam vì vậy các giao dịch giấy cho nền thổ cư ngày 31/5/2004, giấy nhường đất thổ cư
ngày 02/6/2004, giấy cam kết ngày 16/3/2011 bị vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp
luật và do không tuân thủ quy định về hình thức theo Điều 117, 123, 129 của Bộ Luật dân
sự và căn cứ theo Điều 131 của Bộ luật dân sự thì các đương sự phải khôi phục lại tình
trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận
Trang 6Câu 1.3: Đoạn nào của bản án trên cho thấy giao dịch của ông T và bà H với bà Đ đã
bị Tòa án tuyên bố vô hiệu?
Trích trong bản án số 32/2018/DS-ST ngày 20/12/2018 trong Nhận định của Toàn án cho
thấy giao dịch của ông T và bà H với bà Đ đã bị Toàn án tuyên bố vô hiệu ở đoạn: Hơn nữa ông Ph J T và bà L Th H là người Việt Nam ở nước ngoài đã nhập quốc tịch Mỹ thì theo quy định của Luật đất đai năm 2013 và điều 121 Luật nhà ở năm 2005 thì người Việt định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà cửa ở Việt Nam khi thõa mãn các quy định sau: “ Người Việt định cư ở nước ngoài về đầu tư lâu dài ở Việt Nam, người có công đóng góp cho đất nước, nhà hoạt động văn hóa, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước, người được phép
về sống ổn định tại Việt Nam và các đối tượng khác do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định được sở hữu nhà cửa ở Việt Nam; Người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc diện quy định này đã về Việt Nam cư trú với thời hạn được phép là sáu tháng trở lên được sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ” do đó ông T và bà H không được
sở hữu quyền sử dụng đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm tại Việt Nam Vì vậy, các giao dịch giấy cho đất nền thổ cư 31/5/2004, giấy nhường đất thổ cư ngày 02/6/2004, giấy cam kết ngày 16/3/2011 bị vô hiệu hóa do vi phạm điều cấm của pháp luật và do không tuân thủ quy định về hình thức theo Điều 117, 123, 129 của Bộ luật dân sự và căn
cứ theo điều 131 của Bộ luật dân sự thì các đương sự phải khôi phục lại tình trạng ban đầu và hoàn trả cho nhau những gì đã nhận
Câu 1.4: Suy nghĩ của anh/chị (trong mối quan hệ với năng lực pháp luật của chủ thể) về căn cứ để Tòa án tuyên bố giao dịch trên vô hiệu?
Toà án đã dựa vào năng lực pháp luật của chủ thể để làm căn cứ tuyên bố giao dịch trên
vô hiệu Theo đó, vì nguyên đơn là người Việt Nam ở nước ngoài không thuộc các trường hợp được quy định trong Điều 121 của Luật nhà ở năm 2005 nên không được quyền sở hữu quyền sử dụng đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm tại Việt Nam Vì vậy giao dịch giấy cho nền thổ cư ngày 31/5/2004, giấy nhường đất thổ cư ngày 02/6/2004, giấy cam kết ngày 16/3/2011 bị vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật và do không tuân thủ quy định về hình thức theo Điều 117, 123,129 của Bộ Luật dân sự và căn cứ theo Điều 131 của BLDS thì các đương sự phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận
Trang 7BÀI TẬP 2: GIAO DỊCH XÁC LẬP BỞI NGƯỜI KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG NHẬN THỨC.
• Tóm tắt quyết định số 329/2013/DS-GĐT ngày 25-7-2013 của Tòa án nhân dân tối cao:
Ông Đặng Hữu Hội và bà Phạm Thị Hương có 1 ngôi nhà gắn liền với quyền sử dụng 167,3m2 đất ở số 25 Lê Trung Kiên, phường 1, Tuy Hoà, Phú Yên Ngoài ra, ông bà có chung 5 người con gồm: Đặng Thị Kim Ánh, Đặng Văn Bình, Đặng Thị Hoà Minh, Đặng Thị Thu Thuỷ và Đặng Văn Toàn
Năm 2007, ông Hội bị tai biến nằm liệt một chỗ
7/2/2011, chị Ánh kiện bà Hương tự ý bán nhà và đất cho vợ chồng ông Lưu Hoàng Phi Hùng, bà Bùi Thị Tú Trinh với giá 580.000.000 đồng vào tháng 12/2009 trong lúc ông Hội bị bệnh nặng mà không hỏi ý các con trừ anh Bình Theo chị Ánh, bà Hương bán nhà trong lúc ông Hội không có khả năng nhận thức, còn bà Hương và vợ chồng ông Hùng khẳng định ngược lại là dù bệnh nặng nhưng ông Hội vẫn nhận thức được về việc mua bán
Hợp đồng mua bán nhà và đất đã được UBND phường 1 chứng thực, có điểm chỉ của ông Hội Vợ chồng ông Hùng đã giao 310.000.000 triệu cho bà Hương, còn bà Hương đã giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hùng Chị Ánh yêu cầu Toà huỷ hợp đồng mua bán giữa cha mẹ chị với vợ chồng ông Hùng, bà Trinh Còn bà Hương và vợ chồng ông Hùng, bà Trinh không đồng ý
Ngày 22/12/2011, tại phiên toà sơ thẩm, TAND TP.Tuy Hoà chấp nhận yêu cầu của chị Ánh, tuyên bố hợp đồng giữa bà Hương và vợ chồng ông Hùng, bà Trinh vô hiệu
Ngày 5/1/2012, vợ chồng ông Hùng, bà Trinh kháng cáo
Ngày 10/7/2012, tại phiên toà phúc thẩm, TAND tỉnh Phú Yên chấp nhận kháng cáo, công nhận hợp đồng có hiệu lực
Tại phiên toà Giám đốc thẩm, HĐXX huỷ toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm và phúc thẩm, giao hồ sơ vụ án cho TAND TP.Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm lại
Câu 2.1: Từ thời điểm nào ông Hội thực chất không còn khả năng nhận thức và từ thời điểm nào ông Hội bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự?
Đó là năm 2007, ông Hội bị tai biến nằm liệt một chỗ không nhận thức được, từ cuối năm
2008 hàng tháng gia đình phải lo tiền thuốc men cho ông Tuy nhiên, mãi đến ngày 7/5/2010, ông Hội mới bị Toà án tuyên mất năng lực hành vi dân sự
Trang 8Câu 2.2: Giao dịch của ông Hội ( với vợ là bà Hương ) được xác lập trước hay sau khi ông Hội bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự ?
Giao dịch giữa ông Hội (với cả bà Hương) được xác lập trước khi ông Hội bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự Cụ thể, ông Hội được tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự vào ngày 10/08/2010 còn giao dịch đã diễn ra từ trước ngày 08/02/2010
Câu 2.3: Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giao dịch của ông Hội có bị vô hiệu vì xảy ra vào thời điểm ông Hội nằm liệt một chỗ không nhận thức được.
Dựa trên điểm c khoản 1 Điều 122 của BLDS 2005: Điều kiện có hiệu lực của giao dịch
dân sự là “Chủ thể phải hoàn toàn tự nguyện” và Điều 133 BLDS 2005 về Giao dịch dân
sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình: “Người
có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.”
Câu 2.4: Trong thực tiễn xét xử, có vụ việc nào giống hoàn cảnh của ông Hội không
và Tòa án đã giải quyết theo hướng nào? Cho biết tóm tắt vụ việc mà anh/ chị biết.
Bản án số 01/2006/DSST ngày 21/02/2006 của Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái có tình tiết tương tự hoàn cảnh của ông Hội Hướng giải quyết của Tòa án: Tuyên bố GDDS vô hiệu toàn bộ do vi phạm quy định tại Điều 133 BLDS 2005 (giao dịch vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ hành vi của mình)
Ngày 20/01/2004, ông Cường và bà Bính (vợ ông Cường) ký giấy chuyển nhượng cho anh Thăng (con riêng của bà Bính) một bất động sản (BĐS) Đến ngày 10/08/2005, anh Hưng là con trai ông Cường và bà Chế (đã ly hôn năm 1979) mới đăng ký việc giám hộ cho ông Cường tại UBND xã
Tại biên bản giảm định pháp y tâm thần số 147/GĐPY ngày 15/12/2005 có kết luận: ông Cường bị mắc bệnh “Loạn thần do sử dụng rượu” Thời điểm mắc bệnh là trước ngày 1/1/2004 với biểu hiện của chứng bệnh là mất hoàn toàn khả năng tư duy, khả năng hiểu biết và khả nảng điều khiển hành vi của mình Từ đó, Tòa án xác định: “Ông Cường được coi là mất hoàn toàn năng lực trách nhiệm, năng lực hành vi dân sự từ thời điểm trước ngày 01/01/2004.” Như vậy, hợp đồng được xác lập ngày 20/01/2004 nhưng sau ngày này ông mới được Tòa án xác nhận mất năng lực hành vi dân sự
Thêm vào đó, bất động sản này được coi là tài sản riêng của ông Cường nên việc bà Bính
tự ý định đoạt BĐS này là trái với quy định của pháp luật về quyền sở hữu Vì vậy, hợp đồng giao dịch giữa ông Cường, bà Bính và anh Thăng là giao dịch dân sự vô hiệu toàn
bộ do vi phạm Điều 133 BLDS 2005 Cuối cùng, Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn đã ra quyết định hủy bỏ hợp đồng giao dịch đã xác lập giữa các bên; yêu cầu anh Hưng (người
Trang 9đại diện cho ông Cường) và bà Bính phải cùng chịu trách nhiệm hoàn trả lại toàn bộ số tiền từ anh Thăng và chi phí khi anh Thăng đầu tư xây dựng công trình trên đất
Câu 2.5: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong
vụ việc trên (liên quan đến giao dịch do ông Hội xác lập)? Nêu cơ sở pháp lý khi đưa
ra hướng xử lý.
Hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong vụ việc trên (liên quan đến giao dịch
do ông Hội xác lập) là hợp lý Vì tòa án đã công nhận quyền khởi kiện của chị Ánh trong giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Hội, bà Hương cho ông Hùng, bà Trinh
Ông Hội bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự vào ngày 7/5/2010 Ngày 10/8/2010 chị Ánh được mọi người thống nhất cử là người đại diện cho ông hội và là người thừa kế quyền, nghĩa vụ của ông Hội Do đó, chị Ánh có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 130 Bộ luật dân sự năm 2005 về giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
xác lập, thực hiện: “Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Toà án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện”
Câu 2.6: Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch đó
có bị vô hiệu không? Vì sao?
Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch đó không bị vô hiệu Vì theo khoản 2 Điều 125 BLDS 2015 :” Giao dịch dân sự của người quy định tại Khoản 1 điều này không bị vô hiệu trong điều sau đây: Điểm b: Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ” Giao dịch tặng cho ông Hội chỉ làm phát sinh quyền cho ông Hội nên giao dịch này không bị vô hiệu
BÀI TẬP 3: GIAO DỊCH XÁC LẬP DO CÓ LỪA DỐI.
Tóm tắt án:
1 Tóm tắt quyết định giám đốc thẩm số 521/2010/DS-GĐT ngày 19/8/2010 của Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao
Nguyên đơn: ông Nguyễn Văn Đô, bà Phạm Thị Thu (vợ ông Đô)
Trang 10Bị đơn: bà Trần Thị Phố, anh Nguyễn Thế Vinh
Nội dung: Hợp đồng mua bán căn nhà mà 115/7E Nguyễn Kiệm, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh giữa bên bán là ông Nguyễn Danh Đô, bà Phạm Thị Thu với bên mua
là bà Trần Thị Phố (Trần Thị Phú) ngày 25/3/2004 đã được công chứng chứng thực và hoàn thành thủ tục sang tên đăng ký quyền sở hữu mang tên bà Phố Các bên đều thừa nhận sẽ mua bán căn nhà là 330 lượng vàng, bà Phố đã trả 230 lượng vàng, còn lại 100 lượng vàng chưa thanh toán Tuy nhiên, mặc dù không có thỏa thuận của bà Phố nhưng anh Nguyễn Thế Vinh (con của bà Phố) lại thỏa thuận với vợ chồng bà Thu hoán nhượng cho bà Thu sở hữu sử dụng 1/2 diện tích nhà, đất tại thửa 2352, tờ bản đồ số 01, phường
An Lợi Đông, quận 2, thành phố Hồ Chí Minh và bà Phố không phải trả số vàng 100 lượng mua bán còn lại
Tòa án sơ thẩm xác định hợp đồng mua bán căn nhà 115/7E Nguyễn Kiệm, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh giữa vợ chồng ông Đô, bà Thu và bà Phố có hiệu lực
Tòa án phúc thẩm: xác định hợp đồng mua bán căn nhà 115/7E Nguyễn Kiệm, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh giữa vợ chồng ông Đô, bà Thu và bà Phố có hiệu lực
Quyết định giám đốc thẩm: hủy bản án dân sự sơ thẩm và bản án dân sự phúc thẩm Giao
hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật
2 Tóm tắt Quyết định số 210/2013/DS-GĐT ngày 21/5/2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao
Nguyên đơn: Bà Châu Thị Nhất
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Dưỡng
Bà Châu Thị Nhất trình bày: Hai vợ chồng bà có tài sản chung là 5 lô đất với diện tích 162,220m2 Sau khi từ Đài Loan về nước, bà và ông Dưỡng li hôn, lúc này bà mới biết ông Dưỡng bán lô đất mang tên bà cho ông Nguyễn Minh Tài Bà yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa bà với ông Tài vì ông Dưỡng giả chữ kí của bà để bán phần tài sản chung của hai vợ chồng
Ông Nguyễn Văn Dưỡng trình bày: Trong thời gian bà Nhất sang Đài Loan ông phải nuôi
3 con nhỏ, vì cần tiền nuôi con ăn học ông đã bán hết 5 lô đất, trong đó có lô đất đứng tên
bà Nhất, ông kí tên bà để sang tên GCNQSDĐ cho ông Võ Minh Tài Hai vợ chồng ông chỉ có tài sản chung là 2 lô đất, 1 lô bà đứng tên, 1 lô ông đứng tên, lô đất em ông đứng tên không phải tài sản chung của 2 vợ chồng Từ đó xảy ra tranh chấp
Bản án dân sự sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà Nhất, hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ của bà Châu Thị Nhất và ông Võ Minh Tài là hợp đồng không có hiệu lực pháp luật Công nhận QSDĐ của bà Châu Thị Nhất đối với thửa đất 03, buộc những người mua đất