Trong những tháng rét lạnh, nhiều động vật chân đốt có khả năng vượt đông để duy trì cuộc sống nhưng không vận động hoặc không phát triển đáng kể.. - Những can thiệp của con người dùng c
Trang 1
PHẦN 4
ARTHROPODA - ĐỘNG VẬT CHÂN ĐỐT
Trang 2
426
Trang 3
Chương 14
ĐẠI CƯƠNG ĐỘNG VẬT CHÂN ĐỐT
Động vật chân đốt là ngành động vật không có xương sống, có số lượng loài rất lớn, có khoảng trên 1.000.000 loài Chúng sống ở đất, nước hoặc bay nhảy tự
do trong không gian ở khắp nơi trên trái đất, sống tự do hoặc kí sinh
Môn kí sinh trùng y học nghiên cứu về đặc điểm hình thể, sinh lí, sinh thái, vai trò y học và cách phòng chống những loài động vật chân đốt có liên quan đến
y học như: ruồi, muỗi, ve, mò, bọ chét, chấy, rận
Hình 14.1: Một số động vật chân đốt truyền bệnh ở người
Ruồi không hút máu
Truyền bệnh: Thương hàn
tả lị Gây bệnh: dòi
Ruồi hút máu Truyền bệnh: Tularemia, onchocerciasis, ngủ Châu Phi
Muỗi Truyền bệnh: Sốt rét, SXH Giun chỉ, viêm não NB-B
Ve mềm Truyền bệnh: Sốt hồi quy
Bọ chét Truyền bệnh: Dịch hạch sán dây chó, sán dây chuột
Chấy rận Truyền bệnh: Sốt phát ban sốt hồi quy, sốt chiến bào
Bọ xít
Truyền bệnh: Chagas
Trang 4
428
1 Đặc điểm hình thể
1.1 Cấu tạo bên ngoài:
Động vật chân đốt có cấu tạo chung:
+ Thân chia thành đầu, ngực, bụng rõ rệt hoặc đầu giả và thân
+ Chân, râu (anten), pan (palpe) là những bộ phận có cấu tạo phân đốt, đối xứng
+ Thân có vỏ cứng bao bọc (exoskeleton), lớp vỏ này cấu tạo bằng lớp kitin
và một lớp hoà tan trong nước (arthropodin), được coi như là bộ xương của động vật chân đốt Lớp vỏ này không liên tục, gián đoạn theo từng phần của cơ thể, nối liền hai mảnh cứng có một màng kitin mỏng, có thể co giãn được nhưng rất hạn chế, vì vậy muốn lớn lên động vật chân đốt phải lột xác Lớp vỏ cứng này có chức năng giống như da bao bọc che chở các cơ quan bên trong, hạn chế sự mất nước, ngoài ra nó còn có chức năng giống như một bộ xương để các cơ bám vào
đó tạo hình dạng của động vật chân đốt (hình 14.1, 14.2)
+ Phân giới đực và cái riêng biệt
Miệng Đầu giả
Hình thể bên ngoài của ve
Trang 5
1.2 Cấu tạo trong:
Hoàn thiện hơn ngành giun sán, các cơ quan tuần hoàn, bài tiết, tiêu hoá
đã phát triển Đặc biệt cơ quan sinh dục rất phát triển và tương đối hoàn thiện
(hình 14.3, 14.4)
+ Hệ tiêu hoá:
Miệng động vật chân đốt là vòi để châm hút hoặc để gặm nhấm Tiếp theo là họng, thực quản, dạ dày, ruột, hậu môn, có hai tuyến nước bọt giúp cho tiêu hoá được dễ dàng
+ Hệ tuần hoàn:
Gồm có những xoang máu ở mặt lưng, máu từ các xoang này đổ vào các xoang rỗng ở toàn thân, máu không có nhiệm vụ vận chuyển oxy mà chỉ mang chất dinh dưỡng "Máu" thực chất chỉ là dịch tuần hoàn lưu chuyển được nhờ một cơ quan bơm "máu" gọi là "tim"
Hình 14.4: Cấu tạo bên trong của muỗi
Hình 14.3: Hình thể bên trong của ve
Hình 14.2: Hình thể bên ngoài muỗi và ve
Trang 6
430
1 Họng; 2 Thực quản; 3 Ống tuyến nước bọt; 5 Hạch ngực; 6
Điều; 7 Dạ dày; 8 Ruột sau; 9 Trực tràng; 10 Ống Manpighi
+ Hệ thần kinh:
Là những hạch nối với nhau như dây xích ở bụng, cuối cùng được nối với một hạch to hơn ở mặt lưng, gần thực quản, được coi như "não" của động vật chân đốt
+ Hệ sinh dục: phát triển tương đối hoàn thiện
- Cơ quan sinh dục đực gồm: tinh hoàn, túi tinh, các tuyến phụ và càng sinh dục
- Cơ quan sinh dục cái gồm: buồng trứng, ống dẫn trứng, âm đạo, túi chứa tinh Một số loài như chấy, rận có tuyến tiết chất dính để gắn trứng vào với nhau hoặc bám lên tóc, quần áo
2 Đặc điểm sinh học
2.1 Đặc điểm sinh thái:
+ Động vật chân đốt muốn tồn tại, phát triển cần những điều kiện thiên nhiên thích hợp: nguồn thức ăn, nơi trú ẩn, nơi sinh đẻ Những điều kiện này phụ thuộc vào yếu tố lí, hoá, sinh học của môi trường như: nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng,
độ xốp của đất, các chất hữu cơ, pH, các muối hòa tan, tốc độ gió, động thực vật
và yếu tố địa hình khu vực
+ Nghiên cứu sinh thái của động vật chân đốt là nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa động vật chân đốt và những điều kiện của môi trường
+ Nếu điều kiện thiên nhiên thích hợp, động vật chân đốt phát triển thuận lợi,
số lượng tăng lên nhiều, nếu điều kiện thiên nhiên không thích hợp, số lượng ít
đi Hiện tượng tăng, giảm về số lượng cá thể gọi là mùa phát triển của động vật chân đốt Mỗi loài động vật chân đốt thường phân bố trên từng khu vực nhất định gọi là vùng phân bố của động vật chân đốt
Trang 7
+ Sự phát triển của động vật chân đốt chịu sự tác động của yếu tố mùa, vùng
rõ rệt Do đó những bệnh do động vật chân đốt truyền thường là những bệnh diễn biến theo mùa và vùng
+ Khả năng thích nghi của động vật chân đốt với khí hậu: nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, gió, mưa đều có tác động đến sinh thái của động vật chân đốt Khí hậu
có thể tạo điều kiện thuận lợi cho động vật chân đốt phát triển, hoạt động với mức độ cao Điều kiện tối thiểu chỉ giúp cho động vật chân đốt sinh tồn nhưng khó phát triển và hoạt động Trong những tháng rét lạnh, nhiều động vật chân đốt
có khả năng vượt đông để duy trì cuộc sống nhưng không vận động hoặc không phát triển đáng kể
+ Khả năng thích nghi của động vật chân đốt với quần thể sinh vật: động vật chân đốt sống ở ngoại cảnh nhất thiết phải quần sinh với một số sinh vật khác, ở
đó động vật chân đốt tránh những yếu tố không thuận lợi và tìm đến những yếu
tố thuận lợi Ví dụ: ruồi, nhặng sống gần người và dựa vào những chất thải như phân, rác của người
+ Khả năng thích nghi của động vật chân đốt với các yếu tố bất lợi:
- Động vật chân đốt có khả năng thích nghi để đối phó lại những yếu tố chống lại chúng bằng cách tìm môi trường khác sống thuận lợi hơn
- Khi thiếu vật chủ thích hợp, động vật chân đốt có thể tạm thời kí sinh ở những vật chủ không thích hợp
- Những can thiệp của con người (dùng các biện pháp xua, diệt động vật chân đốt) cũng có thể dần dần làm thay đổi sinh thái của động vật chân đốt, chúng không những không chịu tiếp xúc với hóa chất mà còn có thể chuyển hoá những hóa chất đó để tạo nên sự quen hoặc sức đề kháng với hóa chất
- Khả năng thích nghi của động vật chân đốt với các yếu tố chống lại chúng
có thể tạo nên những biến động sinh thái của động vật chân đốt Vì vậy, đòi hỏi phải có những biện pháp chống động vật chân đốt tận gốc như cải tạo môi trường
và ngoại cảnh, nhân giống những động vật có khả năng diệt động vật chân đốt
2.2 Đặc điểm sinh lí:
+ Thức ăn của động vật chân đốt rất đa dạng: máu, mủ, dịch mô hay các tổ chức bị giập nát của vật chủ Có loài động vật chân đốt chỉ kí sinh trên một vật chủ được gọi là loài “đơn thực” Ví dụ: chấy, rận chỉ kí sinh ở trên người, thức ăn chỉ là máu người, không ăn máu các loài động vật khác Có loài động vật chân
Trang 8
432
đốt kí sinh trên nhiều loài vật chủ, có thể là người hoặc các loài động vật khác,
đó là loài “đa thực” Ví dụ: bọ chét Xenopsylla cheopis kí sinh cả trên người, cả
trên chuột, chó, mèo
+ Loài đơn thực chỉ truyền bệnh trong từng loài vật chủ, loài đa thực truyền bệnh cho nhiều loài vật chủ khác nhau Ví dụ: chấy, rận chỉ truyền bệnh cho người, bọ chét truyền bệnh cho cả người và chuột
2.3 Vòng đời:
+ Vòng đời động vật chân đốt thường phát triển qua 4 giai đoạn: trứng (eggs) -
ấu trùng (larvae) - thanh trùng (nympha) - trưởng thành (imago) Đây là loại vòng đời thường gặp trong thiên nhiên như vòng đời của muỗi, ve, mò
+ Có một số loài động vật chân đốt đẻ ra ấu trùng không có giai đoạn trứng,
như một số ruồi (Glossina), nhặng xám (Sarcophagidae) những loài này mỗi
lần đẻ không nhiều, từ 1 đến 15 ấu trùng
+ Ở giai đoạn thanh trùng, một số loài hình thành nhộng (pupa) không ăn,
không hoạt động, như ruồi (Muscidae), ruồi vàng (Simulidae)
3 Vai trò y học
Những động vật chân đốt có vai trò y học phần lớn là những ngoại kí sinh trùng hút máu (trừ ruồi nhà, gián), chúng có thể truyền bệnh và gây bệnh Vai trò chủ yếu của chúng là truyền bệnh, vai trò gây bệnh chỉ là thứ yếu nhưng đôi khi cũng gây nguy hiểm đến tính mạng con người
3.1 Vai trò gây bệnh:
+ Gây bệnh tại vết đốt và dị ứng: động vật chân đốt khi hút máu truyền độc tố gây đau, dị ứng, mẩn ngứa, lở loét, hoại tử (mò đốt), nặng hơn có thể viêm tấy cục bộ, choáng, tê liệt (bọ cạp hoặc ve đốt)
+ Gây bệnh tại vị trí kí sinh: bọ chét Tunga kí sinh ở da, ấu trùng ruồi
Gasterophilidae kí sinh ở dạ dày, cái ghẻ Sarcoptes scabiei kí sinh ở da
3.2 Vai trò truyền bệnh:
+ Bệnh do động vật chân đốt truyền gọi là bệnh có vật môi giới (vector), có đặc điểm:
- Thường là những bệnh nguy hiểm, có thể chết người: dịch hạch, sốt rét
- Bệnh phát thành dịch, lây lan nhanh: sốt xuất huyết, viêm não B Nhật Bản
Trang 9
- Bệnh thường xảy ra theo mùa, khu trú ở từng địa phương: viêm não, sốt mò
- Bệnh lây lan giữa người với người, giữa người với động vật
+ Tiêu chuẩn xác định động vật chân đốt là vector truyền bệnh:
- Động vật chân đốt phải hút máu người hoặc sống gần người
- Mầm bệnh phát triển trong động vật chân đốt đến giai đoạn lây nhiễm
- Mùa phát triển của động vật chân đốt phù hợp với mùa của bệnh
- Gây nhiễm thực nghiệm có kết quả
+ Phương thức truyền bệnh của động vật chân đốt:
Động vật chân đốt truyền bệnh theo hai phương thức: đặc hiệu và không đặc hiệu
- Truyền bệnh đặc hiệu (truyền sinh học): trong thiên nhiên nhiều loại động vật chân đốt chỉ truyền được một hoặc hai loại mầm bệnh nhất định, những mầm bệnh này tăng sinh, phát triển ở động vật chân đốt Các hình thức phát triển hoặc tăng sinh của mầm bệnh ở động vật chân đốt:
- Mầm bệnh trong động vật chân đốt tăng sinh đơn thuần về số lượng từ một mầm bệnh ban đầu sau một thời gian tăng lên hàng ngàn cá thể trong động vật chân đốt như vi khuẩn dịch hạch trong bọ chét
- Mầm bệnh không tăng sinh về số lượng chỉ phát triển từ giai đoạn chưa lây nhiễm được đến giai đoạn có khả năng lây nhiễm Ví dụ: ấu trùng giun chỉ trong muỗi
- Mầm bệnh vừa tăng sinh số lượng vừa phát triển giai đoạn như kí sinh trùng sốt rét trong muỗi
- Ngoài ra còn có một vài loại mầm bệnh được động vật chân đốt truyền cho
đời sau qua trứng như mầm bệnh Rickettsia orientalis ở mò
Do quá trình biến đổi trong cơ thể động vật chân đốt, mầm bệnh muốn truyền được sang người hoặc sang vật chủ khác cần phải có thời gian Thời gian này phụ thuộc vào từng loại mầm bệnh và nhiệt độ của môi trường
Ví dụ: Plasmodium falciparum muốn phát triển được trong muỗi, nhiệt độ
của môi trường phải lớn hơn 160C, Plasmodium vivax phải trên 14,50C
Trang 10- Mầm bệnh còn có thể ở trong ống tiêu hoá của động vật chân đốt, rồi theo chất bài tiết mà lây sang người Một số mầm bệnh như trứng giun, sán, kén đơn bào có thể tồn tại trong cơ thể động vật chân đốt suốt trong quá trình sống của
nó Tác hại của phương thức này rất lớn
+ Khả năng truyền bệnh của động vật chân đốt:
Động vật chân đốt có thể truyền hầu hết các loại mầm bệnh kí sinh trùng,
vi khuẩn, virut cho người và động vật:
- Muỗi Anopheles truyền kí sinh trùng sốt rét, giun chỉ Ví dụ: An.minimus và
An.dirus là những vector chính truyền sốt rét ở Việt Nam, tập trung ở một số
vùng sốt rét trọng điểm như vùng núi phía Bắc, Tây Nguyên
- Muỗi Culex truyền giun chỉ, viêm não B Nhật Bản
- Muỗi Aedes truyền bệnh sốt vàng, sốt xuất huyết Dengue, giun chỉ, và một
số virus khác
- Muỗi Mansonia truyền giun chỉ Ở Việt Nam một số vùng có ổ dịch giun chỉ như các tỉnh đồng bằng châu thổ sông Hồng: Thái Bình, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương , một số tỉnh duyên hải miền Trung: Khánh Hoà, Quảng Bình…
- Muỗi cát Phlebotomus truyền Leishmania (ở Việt Nam đã phát hiện bệnh nhân mắc Leishmania: Hải Dương, Quảng Ninh…)
- Ve truyền Rickettsia và virus viêm não châu Âu
- Mò truyền Rickettsia orientalis gây bệnh sốt mò, Việt Nam có ổ bệnh sốt
mò ở Mộc Châu, Sơn La
- Ruồi ngủ Tsetse (Glossina) truyền Trypanosoma gây bệnh ngủ châu Phi Ruồi vàng (Simulium) truyền bệnh mù đường sông Ruồi trâu (Tabanidae) truyền giun chỉ Loa loa Những bệnh này chưa gặp ở Việt Nam
Trang 11
- Ruồi nhà, nhặng, gián truyền mầm bệnh vi khuẩn: tả, lị, thương hàn, lao, trứng giun sán, kén đơn bào, virut bại liệt, viêm gan trong các vụ dịch tả, ruồi nhà có vai trò truyền bệnh rất quan trọng
- Chấy rận truyền sốt phát ban chấy rận
- Bọ chét truyền dịch hạch, ở Việt Nam có bọ chét Xenopsylla cheopis truyền
dịch hạch, đã phát hiện được một số ổ dịch nhỏ ở Tây Nguyên
+ Vai trò của động vật chân đốt trong ổ bệnh thiên nhiên:
- Động vật chân đốt có vai trò quan trọng trong sự tồn tại và lưu hành của những bệnh có ổ bệnh thiên nhiên Động vật chân đốt là vật môi giới (vector)
nhiều khi còn là vật dự trữ mầm bệnh: mò Leptotrombidium deliense mang mầm bệnh sốt mò Rickettsia orientalis suốt đời và truyền sang đời sau
- Do mầm bệnh phát triển trong động vật chân đốt, nên mùa phát triển bệnh phụ thuộc vào mùa phát triển của động vật chân đốt Ví dụ: mầm bệnh virus viêm não Nhật Bản B chỉ phát triển trong muỗi khi nhiệt độ trên 200C, mùa phát triển
là mùa xuân - hè, ít gặp trong mùa đông Vật môi giới là những động vật chân đốt hút máu đảm bảo sự truyền mầm bệnh từ động vật này sang động vật khác
4 Phân loại động vật chân đốt
Theo phân loại hiện nay, ngành động vật chân đốt được chia làm bốn ngành
phụ là: Trilobitomorpha, Chelicerata, Branchiata (Crustacea) và Tracheata
(Uniramia), trong đó có khoảng hơn mười lớp nhưng các có hai lớp có vai trò y
học chủ yếu là lớp nhện Arachnida thuộc ngành phụ Chelicerata và lớp côn trùng (Insecta) thuộc ngành phụ Tracheata (Uniramia)
4.1 Lớp nhện (Arachnida):
+ Đặc điểm hình thể:
Là những động vật chân đốt mà cơ thể là một khối hình bầu dục gọi là idiosoma, miệng có bộ phận hút là kìm, không có anten, không có cánh, có 4 đôi chân, mỗi chân gồm 6 đốt
Lớp nhện có một số loài thở bằng khí quản (ve, mạt), có loài thở qua da (cái ghẻ) Bộ máy tiêu hoá có cấu tạo đặc biệt: có nhiều ngăn, chứa được rất nhiều máu, vì vậy khi ăn no thân lớn rất nhiều so với lúc đói
+ Vòng đời và phân loại:
Trang 12+ Ngực: có 3 đốt, dính thành một khối, chia 3 thành phần: ngực trước, ngực giữa, ngực sau, mỗi phần ngực mang một đôi chân Chân côn trùng chia nhiều đốt: đốt hông, đốt háng, đốt đùi, đốt cẳng và đốt bàn chân Trên ngực còn có một hoặc hai đôi cánh, cũng có loài côn trùng không có cánh Trên cánh có gân dọc, gân ngang, có lông hoặc vảy phủ trên các gân
+ Bụng: có từ 5 - 11 đốt, đốt cuối cùng thường là bộ phận sinh dục đực hoặc cái
* Vòng đời và phân loại:
Vòng đời phát triển của côn trùng thường qua bốn giai đoạn: trứng - ấu trùng - thanh trùng và trưởng thành Lớp côn trùng chia thành hai nhóm: nhóm phát triển biến thái hoàn toàn và nhóm phát triển biến thái không hoàn toàn
+ Nhóm phát triển biến thái không hoàn toàn: Các giai đoạn phát triển ấu trùng có hình thái tương tự như con trưởng thành, chỉ khác về kích thước, cơ quan sinh dục Trong nhóm này có hai bộ liên quan đến y học:
- Không cánh: bộ Anoplura (bộ Chấy rận)
- Bốn cánh: bộ Hemiptera (bộ Rệp) gồm họ Rệp và họ Bọ xít
+ Nhóm phát triển biến thái hoàn toàn: Các giai đoạn ấu trùng và trưởng thành rất khác nhau và trải qua giai đoạn chuyển tiếp là nhộng Nhóm này gồm những bộ liên quan đến y học là:
Trang 13
- Không cánh: bộ Siphonaptera (tên cũ là Aphaniptera, bộ Bọ chét)
- Hai cánh: bộ Diptera Bộ hai cánh được phân loại theo số đốt của râu và
đường costa trên cánh:
Râu dưới 3 đốt: bộ phụ Brachycera, trong đó có họ Tabanidae (có hai chi liên quan đến y học là Chrysops và Tabanus), họ Muscidae, Sarcophagidae, Oestridae Râu trên 3 đốt: bộ phụ Nematocera Bộ này gồm các họ sau:
Costa chạy tới đầu cánh:
Râu ngắn: họ Simulidae (ruồi vàng)
Râu dài: họ Chiromomidae (dĩn, gián)
Costa chạy vòng quanh cánh:
Trên gân cánh có lông: họ Psychodidae có chi Phlebotomus (muỗi cát) và
Lutzomyia liên quan đến y học
Trên gân cánh có vẩy: họ Culicidae (muỗi)
Ngoài cách phân loại như trên, người ta còn phân loại động vật chân đốt theo vai trò của chúng đối với y học
+ Phải có kế hoạch phòng chống động vật chân đốt trong thời gian lâu dài, liên tục, dựa vào kế hoạch hành chính của chính quyền từ Trung ương đến cơ sở,
vì các bệnh do động vật chân đốt truyền thường kéo dài, tái nhiễm liên tiếp
Trang 14+ Kết hợp nhiều biện pháp với nhau, từ thô sơ đến hiện đại, kết hợp các biện pháp cơ - lí - hóa - sinh học để phòng chống động vật chân đốt truyền bệnh + Lồng ghép việc phòng chống động vật chân đốt truyền bệnh với các hoạt động/các chương trình, các dịch vụ y tế, sức khoẻ khác Kết hợp phòng chống động vật chân đốt truyền bệnh với việc chăm sóc sức khoẻ ban đầu, nhất là ở tuyến cơ sở
5.2 Biện pháp chung:
+ Biện pháp cơ học - lí học: phá bỏ những ổ động vật chân đốt, thay đổi môi trường làm mất nơi trú ẩn hoặc nơi sinh đẻ của chúng Đối với động vật chân đốt trưởng thành có thể bắt, đập, bẫy, quạt, hun khói, xua đuổi cách li không cho tiếp xúc với người biện pháp này đơn giản dễ làm, nhưng muốn đạt hiệu quả cao mọi người để phải tham gia, tốn nhiều công sức
+ Biện pháp hoá học: dùng các hoá chất có hiệu lực để diệt động vật chân đốt khi chúng tiếp xúc hoặc ăn phải các hoá chất đó Cần lựa chọn hoá chất, lựa chọn cách thức sử dụng, không tạo điều kiện để động vật chân đốt kháng thuốc, không gây ô nhiễm môi trường
+ Biện pháp sinh học: sử dụng kẻ thù tự nhiên của động vật chân đốt để diệt chúng, hoặc làm giảm mật độ động vật chân đốt gây hại Ví dụ: dùng kiến để diệt rệp, cá ăn bọ gậy hoặc dùng phương pháp tiệt sinh: sử dụng những kĩ thuật làm giảm sức sinh sản của động vật chân đốt hay làm biến đổi cấu trúc di truyền của động vật chân đốt Phương pháp này có thể diệt được động vật chân đốt mà không gây độc cho người và môi trường
Trang 15
5.3 Biện pháp cụ thể:
Do có nhiều loại động vật chân đốt truyền bệnh khác nhau nên không thể cùng một lúc tiến hành phòng chống mọi loại động vật chân đốt Phải căn cứ theo yêu cầu, khả năng thực hiện để xây dựng kế hoạch phòng chống động vật chân đốt có trọng tâm trọng điểm Với từng loại động vật chân đốt, căn cứ theo sinh thái mà áp dụng các biện pháp khác nhau để phòng chống một cách toàn diện Có
ba phương pháp chính:
* Phương pháp cơ học - lí học:
Bắt và diệt các côn trùng trung gian truyền bệnh, cải tạo môi trường làm phá
vỡ, hạn chế điều kiện phát triển, bất lợi cho loài động vật chân đốt truyền bệnh, phương pháp này không gây ô nhiễm môi trường
Phá bỏ những ổ động vật chân đốt, thay đổi môi trường làm mất nơi ẩn, nơi sinh đẻ của chúng, khơi thông cống rãnh, phát quang bụi rậm, phá nơi sinh sản
cư trú của động vật chân đốt
Đối với động vật chân đốt trưởng thành có thể bắt, đập, bẫy, hun khói, xua đuổi cách li không cho tiếp xúc với người biện pháp này đơn giản dễ làm, nhưng muốn đạt hiệu quả cao mọi người đều phải tham gia, tốn nhiều công sức
* Phương pháp hoá học:
Nguyên lí của biện pháp này là dùng các hoá chất độc để diệt động vật chân đốt khi chúng tiếp xúc hoặc ăn phải hoá chất, hoặc dùng những chất có mùi đặc biệt làm cho côn trùng sợ không dám tấn công vào vật chủ
Cần lựa chọn hoá chất, lựa chọn cách sử dụng, không tạo điều kiện để động vật chân đốt kháng thuốc, không gây ô nhiễm môi trường Phương pháp này có tác dụng nhanh, trên phạm vi rộng Thường sử dụng các nhóm thuốc sau:
+ Nhóm thuốc xua: dùng những hoá chất có mùi đặc biệt để xoa lên những chỗ da hở, hoặc tẩm vào màn, lưới, quần áo làm cho côn trùng sợ phải bỏ đi
Có nhiều thuốc xua côn trùng có tác dụng tốt như tinh dầu xả, DEP (diethyl phtalat), DMP (dimethyl phtalat)
+ Nhóm thuốc diệt: nhóm này bao gồm nhiều hoá chất:
- Nhóm hoá chất vô cơ: xanh Paris, acetoarseniat đồng Các hoá chất này thường được thả xuống nước để diệt ấu trùng động vật chân đốt trong nước
Vol 30; ĐS/2005 Vol 30; ĐS/2005
Trang 16
440
- Nhóm hoá chất clo hữu cơ: dichlorodiphenyltrichloroetan (DDT) hoặc hexachlorocychlohexan (HCH, 666) methoxychlor Các hoá chất này được sử dụng từ lâu, diệt côn trùng nhanh, tồn lưu lâu nhưng có nhược điểm gây độc cho người và động vật, làm ô nhiễm môi trường
- Nhóm lân hữu cơ: malathion, fenthion, dichlorodivynilphosphat (DDVP)… Các chất này có tác dụng diệt động vật chân đốt nhanh nên thường được sử dụng khi cần dập tắt nhanh các ổ dịch Thuốc tồn lưu ngắn (thường từ 15 ngày tới 3 tháng), rất độc đối với người và động vật nên khi sử dụng cần đề phòng nhiễm độc
- Nhóm carbamat: những chất kháng enzym cholinesterase thường dùng để diệt bọ gậy tồn lưu lâu nhưng giá thành đắt nên ít được sử dụng
- Nhóm pyrethroid: pyrethrin tự nhiên là những chất chiết xuất từ hoa cây
thuộc họ cúc, chi Chrysanthenum Pyrethrinoid tổng hợp: permethrin, deltamethrin,
lamdacyhalothrin (ICON), trebon Các hoá chất thuộc nhóm này có tác dụng tốt diệt động vật chân đốt, ít độc với người, hệ số an toàn cao, ít gây ô nhiễm môi trường
Cách sử dụng hoá chất: tùy theo đặc tính lí, hoá và độ an toàn mà các hoá chất kể trên có thể được sử dụng dưới các dạng: phun tồn lưu, phun dưới dạng sương mù, dạng khói, tẩm màn hoặc quần áo Dùng hoá chất dưới dạng nào cũng phải đảm bảo yêu cầu diệt được động vật chân đốt nhưng không gây độc cho người, động vật, không làm ô nhiễm môi trường Để tránh hiện tượng động vật chân đốt kháng hóa chất cần sử dụng chúng đúng mục đích, đúng kĩ thuật không
để dư thừa và có kiểm soát, cần thường xuyên theo dõi mức độ kháng để kịp thời thay đổi hoá chất hoặc phối hợp các biện pháp Cách tăng liều hoá chất, rất ít sử dụng vì gây độc cho người và động vật
* Phương pháp sinh học:
+ Sử dụng kẻ thù tự nhiên của động vật chân đốt để diệt chúng, hoặc làm giảm mật độ động vật chân đốt gây hại Ví dụ: dùng kiến để diệt rệp, dùng cá để ăn
bọ gậy muỗi, ấu trùng muỗi Toxorhychites hoặc Culex ăn ấu trùng muỗi khác ,
hoặc dùng một số loại virut, vi khuẩn, nấm để diệt muỗi hoặc bọ gậy muỗi
+ Phương pháp tiệt sinh: là phương pháp sử dụng những kĩ thuật làm giảm sức sinh sản của côn trùng gây hại hay làm biến đổi cấu trúc di truyền của động vật chân đốt Có thể vô sinh con đực (bằng hoá chất hoặc tia X, hay , vô sinh
Trang 17
bằng phương pháp lai ghép tạo con lai F1 vô sinh) rồi thả vào thiên nhiên, những côn trùng đực vô sinh này có khả năng giao phối cạnh tranh với quần thể ngoài tự nhiên để sinh ra thế hệ lai không có khả năng sinh sản hoặc mất khả năng truyền bệnh Phương pháp này có thể diệt được một loài động vật chân đốt, không gây độc cho người, không gây ô nhiễm môi trường, nhưng cần thời gian dài và thực hiện ở một khu biệt lập để động vật chân đốt ở khu vực xung quanh không di chuyển tới
6 Động vật chân đốt và chiến tranh sinh học
Ngành động vật chân đốt được chia thành 4 ngành phụ, trong đó có nhiều lớp
nhưng lớp côn trùng (insecta) và lớp nhện (arachnida) có vai trò quan trọng trong
truyền những tác nhân sinh học
+ Động vật chân đốt vừa có khả năng gây bệnh vừa có khả năng vận chuyển
và truyền mầm bệnh (tác nhân sinh học) cho người Ví dụ về khả năng gây bệnh của động vật chân đốt: một số loài động vật chân đốt khi hút máu truyền độc tố gây đau, dị ứng, mẩn ngứa (vết loét do mò đốt) hoặc có thể gây choáng, tê liệt nhiễm độc và chết (bọ cạp, rết độc) Khả năng gây bệnh của động vật chân đốt cho người rất hạn chế nhưng khả năng vận chuyển và truyền tác nhân sinh học cho người thì vô cùng to lớn và nguy hiểm
Một số loài động vật chân đốt chỉ nhiễm mầm bệnh một lần mà có khả năng truyền mầm bệnh qua nhiều thế hệ sau
Người ta có thể tạo ra các loài động vật chân đốt lạ có khả năng vận chuyển
và truyền các tác nhân sinh học đã được gây biến đổi gen, kháng thuốc và rất nguy hiểm
Người ta cũng có thể tạo ra các loài động vật chân đốt có khả năng chịu đựng, dung nạp và kháng các hoá chất diệt
Trong chiến tranh sinh học, kẻ địch có thể dùng động vật chân đốt như là một vật mang, vận chuyển hay truyền những tác nhân sinh học, gây ra những vụ dịch lớn, nhằm tiêu diệt đối phương
+ Động vật chân đốt có thể vận chuyển và truyền rất nhiều loại mầm bệnh (tác nhân sinh học) cho người và động vật:
+ Mầm bệnh là kí sinh trùng: ruồi Glossina truyền Trypanosoma gây bệnh Chagas (bệnh ngủ), muỗi cát (Phlebotomus) truyền Leishmania gây bệnh
Kala-aza (bệnh sốt đen)
Trang 18
442
- Mầm bệnh là vi khuẩn: ruồi nhà, nhặng, gián truyền bệnh tả, lị, thương hàn,
lao, bọ chét truyền bệnh dịch hạch (Yersinia pestis)
- Mầm bệnh là virut: muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết (Dengue), viêm não B Nhật Bản Ve truyền bệnh viêm não ve, bệnh sốt Colorado
- Mầm bệnh là Rickettsia: mò truyền bệnh sốt mò, ve truyền bệnh sốt Q, chấy
rận truyền bệnh sốt phát ban
+ Chính vì động vật chân đốt có khả năng truyền được nhiều mầm bệnh nguy hiểm như vậy nên nó có vai trò rất quan trọng trong khủng bố sinh học Thực tiễn cho thấy kẻ thù đã sử dụng nhiều loài động vật chân khớp mang những mầm bệnh nguy hiểm tấn công vào đối phương
Ví dụ: sử dụng vai trò truyền bệnh của bọ chét mang mầm bệnh Y.pestis như:
- Thời kỳ năm 1346 - 1347, quân đội Tác Ta đã phản công thủy quân Thiên Chúa Giáo bằng cách sử dụng súng phóng đá, bắn xác những người Tác Ta chết
vì bệnh dịch hạch vào quân Genoe Dịch hạch bùng phát và quân đội Genoe đã phải rút quân về
- Các hoạt động quân sự của Pháp ở Ai Cập vào năm 1798 đã gặp phải trở ngại lớn vì bệnh dịch hạch và đã hủy bỏ cuộc tấn công vào Alexandria
- Trong chiến tranh thế giới thứ II, quân đội Nhật Bản đã thành lập đơn vị chuyên nghiên cứu vũ khí sinh học (đơn vị 731) Sau những nghiên cứu tạo ra
loài bọ chét (Pulex irritans) có sức đề kháng cao, có tính chọn lọc vật chủ là
người và lây truyền vi khuẩn dịch hạch vào quần thể chuột tại địa phương Tháng 10/1941, Nhật Bản đã thả xuống Chanteh (Trung Quốc) nhiều hàng hoá hỗn tạp như lúa mì, lúa, đồ bông, len… Kết quả sau 2 tuần đã có nhiều người dân ở đây
bị chết vì dịch hạch
- Những năm tiếp theo, Mĩ và Liên Xô (cũ) đã phát triển kĩ thuật phân tán vi khuẩn dịch hạch trực tiếp vào không khí mà không phụ thuộc vào bọ chét
- Năm 1970, Tổ chức Y tế thế giới thông báo, nếu tung 50 kg Yersinia pestis
vào không khí một thành phố 5 triệu dân, thì có khoảng 150.000 người mắc bệnh dịch hạch thể phổi và sẽ có khoảng 36.000 trường hợp tử vong
Chương 15
ARACHNIDA - LỚP NHỆN
Trang 19Hình ống dài, có các khúc giống như đốt trúc: có cái có 18 - 22 khúc, dài
9 - 10 cm; con đực có 10 - 17 khúc, dài 4 - 5 cm Con trưởng thành kí sinh ở phổi các loài rắn lớn; ở người, kí sinh dưới dạng ấu trùng tạo thành nang ở gan Người nhiễm do ăn phải trứng
Cả hai bệnh này chưa gặp ở Việt Nam
BỘ ACARINA - BỘ VE
Ve - Acarina có đầu, ngực, bụng dính liền một khối, bộ phận miệng còn gọi
là đầu giả (capitulum)
Acarina trưởng thành có 8 chân, ấu trùng có 6 chân, không có râu, không có
cánh
Phân loại Acarina theo cách thở và lỗ thở:
+ Lỗ thở ở giữa cơ thể: Ixodidae và Gamasidae
+ Lỗ thở ở trước thân: Trombidoiae
+ Không có lỗ thở, thở qua da: Sarcoptoidae
Trang 20
444
HỌ VE IXODIDAE
Thường gọi là ve có lỗ thở nằm ở giữa cơ thể Đầu giả mang hai càng không di
động được, có 2 họ phụ: ve mềm (Argasinae) không có mai, đầu giả nằm ở dưới bụng (ít gặp ở Việt Nam) và ve cứng (Ixodinae) có mai, đầu giả nằm ở phía
trước
Ve có thành phần loài rất phong phú, kí sinh trên nhiều loài động vật Trên thế
giới phát hiện được 750 loài Ixodinae và trên 100 loài Argasinae Miền Bắc Việt
Nam đã phát hiện được 49 loài và phân loài ve cứng, 1 loài ve mềm kí sinh trên các động vật máu nóng (trâu, bò, chó, chuột, gà, chim ) và bò sát (rắn, kì đà )
1 Ve mềm (Argasinae)
+ Ve mềm (Argasinae) có các chi Argas và Ornithodoros
+ Năm 1942 Toumanoff gặp ve mềm kí sinh trên dơi
+ Không có mai lưng ở tất cả các giai đoạn phát triển, mặt bụng chỉ có những
đĩa bằng kitin, đầu giả nằm ở dưới bụng (hình 15.1)
Mặt lưng Mặt bụng
Ve Omithocdoros moubata (truyền bệnh sốt hồi quy ở Châu Phi)
Vòng đời của ve thân mềm
Omithodoros moubata
Trưởng thành
Thanh trùng Trứng trong kén Trứng
Hình 15.1: Hình thể và vòng đời của ve mềm
Trang 21Có bộ phận hút máu gọi là đầu giả (capitulum) nằm ở phía trước, gồm một đôi pan, một đôi kìm và một vòi xếp thành hàng, mọc quay xuống phía thân Mỗi pan
có 4 đốt, đốt thứ 4 nằm trong đốt thứ 3, có cơ quan khứu giác để tìm mồi Mặt lưng
có mai (mảng kitin), con đực có mai to trùm toàn bộ lưng; con cái mai nhỏ chỉ chiếm một phần phía trước Đốt cuối của đôi chân trước có cơ quan cảm giác
(cơ quan Haller) để đánh hơi tìm mồi (hình 15.2) Ấu trùng ve chỉ có ba đôi chân
Ve cứng Ixodes ricinus
Ve Amblyomma hebraeum
Ve cứng núi đá
Dermacento andersoni
Trang 22
446
Hình 15.2: Hình thể ve cứng.
2.2 Đặc điểm sinh học:
Vòng đời phát triển trải qua 4 giai đoạn: trứng - ấu trùng - thanh trùng -
trưởng thành Ve đực thường chết sau khi giao phối
Ve cái tìm mồi hút máu và đẻ trứng Cả đời ve chỉ đẻ 1 lần, đẻ hết trứng và
teo xác lại rồi chết Thời gian đẻ trứng kéo dài trong 14 - 20 ngày với số lượng từ
2000 - 8000 trứng Sau 2 - 7 tuần, trứng nở ra ấu trùng Mỗi giai đoạn phát triển
ấu trùng, thanh trùng và trưởng thành đều cần hút máu, có no mới lớn lên và lột
xác chuyển giai đoạn Nhìn chung các loài ve hút máu nhiều loài vật chủ (đa vật
chủ), một số loài chỉ có ít vật chủ thích hợp là người và động vật Các hình thức
kí sinh của ve có thể là:
Kí sinh trên một loài vật chủ ở tất cả các giai đoạn: Boophylus caudatus
Kí sinh trên 2 vật chủ, giai đoạn ấu trùng và thanh trùng trên 1 vật chủ, giai
đoạn trưởng thành trên 1 vật chủ khác: Rhipicephalus bursa
Mỗi giai đoạn phát triển vòng đời kí sinh trên 1 vật chủ như: Dermacentor,
Haemaphysalis
Thời gian hoàn thành vòng đời phát triển của ve tùy thuộc vào thức ăn và
nhiệt độ môi trường, kéo dài 2 - 3 tháng hoặc hơn
Khu vực phân bố của ve tùy thuộc vào vật chủ Có loài gặp nhiều ở rừng rậm,
đồng cỏ; có loài ở xung quanh chuồng gia súc Những động vật là vật chủ của
ve: chuột, sóc, trâu, bò, ngựa và người Trên vật chủ ve thường tìm nơi da ẩm
như: cổ, nách, bẹn, sau tai để kí sinh hút máu
Ve cái trưởng thành Đám trứng
Ve đực Thanh trùng Ấu trùng
Trưởng
Đám trứng
Ấu trùng
Trang 23
Hình 15.3: Vòng đời ve cứng
Ve rình mồi bằng cách bám trên ngọn cỏ, lá cây ở các đường đi của vật chủ Ve nằm im, đưa 2 chân trước lên đánh hơi tìm mồi, hướng về phía vật chủ đang đi lại Khi vật chủ đi qua, ve bám ngay vào lông tóc, quần áo sau đó tìm nơi kí sinh Sau khi bám vào vật chủ 50 - 60 phút ve mới hút máu Ở nhiệt độ 19
- 200C, độ ẩm 80% ve hoạt động mạnh Khi trời nắng ấm, khô ráo ve hoạt động mạnh Khi trời âm u, trời mưa ve hoạt động ít hơn, có khi ngừng hoạt động
Mùa phát triển của ve ở Việt Nam khác nhau tùy từng loài: Haemaphysalis,
Amblioma, Dermacentor phát triển vào hè thu (tháng 4 - tháng 8); Boophylus
phát triển quanh năm nhưng nhiều vào đông xuân
Ve có sức chịu đói cao: ấu trùng có thể nhịn đói khoảng 1 tháng, thanh trùng
và trưởng thành nhịn đói được hàng năm Ve có thể sống khoảng 5 năm
2.3 Vai trò y học:
2.3.1 Vai trò truyền bệnh:
Ve có thể truyền được nhiều loại mầm bệnh: vi khuẩn, vi rút, Rickettsia
+ Mầm bệnh là Rickettsia:
- Sốt Q: mầm bệnh là R.burnetti (Coxiella burnetti) Bệnh phát hiện lần đầu
tiên ở vùng Queensland (Australia) Hiện bệnh phân bố rộng rãi trên toàn thế
giới Bệnh do ve Rhipicephalus, Dermacentor truyền; bệnh cũng có thể lây qua
đường hô hấp và tiêu hoá
- Sốt phát ban vùng núi đá: mầm bệnh là R.rickettsi, do ve Dermacentor
truyền, hay gặp ở vùng Tây châu Mĩ (Braxin, Canada, Colombia, Panama và Mĩ)
- Sốt phát ban Siberie: mầm bệnh là R.sibirica do ve Dermacentor,
Haemaphysalis, Rhipicephalus truyền Bệnh phân bố ở Nhật Bản, Liên Xô (cũ)
và vùng Thái Bình Dương Bệnh do loài ve rừng châu Á Dermacentor silvarum
truyền
- Bệnh sốt phát ban do R.conorii: ở vùng Trung Cận Đông, châu Phi và Nam
Á do ve chó nâu Rhipicephalus sangiuneus truyền
- Bệnh sốt phát ban do R.australis xảy ra ở vùng Queensland (Australia):
do loài ve yếm Ixodes holocychis truyền
Điều trị: có thể dùng tetracyclin hoặc cloramphenicol
Phòng bệnh: tránh không cho ve đốt, nhanh chóng thận trọng lấy ve ra khỏi
chỗ đốt Rickettsia có thể nhiễm cho người vài giờ sau khi ve bám vào vật chủ
+ Mầm bệnh là virút:
Trang 24
448
Một số bệnh viêm não do ve truyền là do virut gây viêm cấp ở não, màng não, tủy sống Triệu chứng thay đổi tùy theo bệnh Nhiều người bị nhiễm nhưng không có biểu hiện gì Trường hợp nặng có đau đầu dữ dội, sốt cao, buồn nôn, hôn mê, có thể tử vong
- Viêm não ve hay viêm não vùng rừng Taiga (còn gọi là viêm não vùng Viễn
Đông): do ve Taiga Ixodes persulcatus truyền
- Viêm não châu Âu (viêm não vùng Trung Âu từ Ural cho đến Pháp): do ve
đậu Ixodes ricinus truyền
- Bệnh sốt Colorado: do ve rừng Mĩ Dermacentor andessoni, bệnh được
nghiên cứu nhiều ở châu Mĩ
săn và thợ rừng có nguy cơ nhiễm bệnh cao
Bệnh điều trị bằng kháng sinh streptomycin
Dự phòng: tránh ve đốt; sử dụng găng tay không thấm nước để giết ve và tiếp xúc với các động vật săn được Nấu chín thịt động vật hoang dại và nước ở vùng
có bệnh
- Bệnh Lime: mầm bệnh là xoắn khuẩn Borrelia burrefery, phát hiện từ năm
1975 tại làng Lime (Mĩ) Bệnh xảy ra chủ yếu ở vùng ôn đới phía Bắc Trái Đất gồm: Trung Quốc, châu Âu, Mĩ và Liên Xô (cũ)
Bệnh đã được phát hiện ở Việt Nam trên một bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện 103 (Nguyễn Phú Kháng và CS, 1990)
Bệnh phát triển qua 3 giai đoạn:
Giai đoạn cấp: giống cảm cúm, sau khi nhiễm bệnh 10 - 15 ngày Tại chỗ ve đốt có ban đỏ
Giai đoạn vào khớp: viêm khớp, viêm cơ tim, viêm màng trong tim, cuối sùng suy tim nhất là suy tim phải và kèm theo loạn thần Giai đoạn này tử vong 15% Giai đoạn mạn tính: để lại di chứng không hồi phục
Bệnh chủ yếu do ve Ixodes truyền, phổ biến nhất vào mùa hè, khi có nhiều
thanh trùng ve
Trang 25
Các loài gặm nhấm nhỏ, đặc biệt là chuột, đóng vai trò nguồn bệnh trong khi
đó các thú lớn chủ yếu đóng vai trò vật chủ nuôi giữ quần thể ve Ấu trùng ve nhiễm bệnh trong khi đốt chuột, thanh trùng và trưởng thành có thể truyền bệnh trong những lần đốt tiếp theo
Tại những vùng ôn đới phía bắc bệnh đã trở nên phổ biến hơn khi những đàn hươu, nai tăng lên và đã thích nghi với cuộc sống gần người Có thể giảm sự tiến triển bệnh hoặc dự phòng bằng tetracyclin hoặc penicillin trong 2 - 4 tuần
2.3.2 Vai trò gây bệnh của ve:
+ Gây ngứa tại chỗ: vết ve đốt rất đau, ngứa do phản ứng của vật chủ; hoặc
do đầu giả của ve bị đứt lại trong da làm nổi sẩn cục, sưng đau, ngứa, phù nề
+ Thiếu máu: nếu bị ve đốt nhiều có thể gây thiếu máu, đặc biệt ở gia súc
bị ve kí sinh nhiều có thể giảm khả năng sinh truởng, giảm sản lượng sữa (bò, dê, ngựa )
+ Độc tố của ve có thể gây liệt (liệt tạm thời), hay gặp ở trẻ em, đôi khi liệt
cơ hô hấp có thể gây tử vong; liệt xuất hiện sau khi bị ve đốt 5 - 7 ngày, gây tê liệt ở chân và ảnh hưởng đến khả năng nói, nuốt và thở Bệnh xảy ra phổ biến trên thế giới, nguy hiểm ở trẻ em dưới 2 tuổi Điều trị bằng cách lấy ve ra khỏi cơ thể
3 Phòng chống ve
+ Khi lao động hoặc đi qua nơi có ve hoạt động, định kì khoảng 50 phút 1 lần cần nghỉ để bắt ve trên thân thể, quần áo; tốt nhất là 2 người kiểm tra cho nhau Khi đã bị ve đốt, nhẹ nhàng lấy kim châm hoặc đốt vào thân ve để ve tự nhả ra, tránh dứt mạnh làm đầu giả của ve bị đứt lại trong da gây viêm đau
+ Dùng hoá chất xua côn trùng bôi lên chỗ da hở; không ngồi trực tiếp xuống đất, cỏ
+ Phá nơi sinh sản và trú ẩn của ve: lấp khe kẽ trên nền nhà, chuồng chăn nuôi Bộ đội trú quân ở rừng cần phát quang xung quanh lán trại, nhà và đốt sạch mùn rác
+ Diệt ve trên gia súc (trâu, bò, ngựa ), dùng hoá chất diệt côn trùng phun vào nơi có nhiều ve trú ẩn
TROMBICULIDAE - HỌ MÒ
Trang 26
450
Họ mò - Trombiculidae thuộc bộ ve bét (Acariformes), cho đến nay trên thế
giới đã phát hiện hơn 3000 loài, trong đó có 19 loài truyền bệnh sốt mò (sốt phát
ban Tsutsugamushi do R.tsutsugamushi) phân bố ở nhiều nơi trên thế giới
Mò thường kí sinh ở các thú nhỏ, chủ yếu là chuột, một số ở chim, gà và bò sát Mò đốt gây ngứa, dị ứng
Ở Việt Nam đã phát hiện hơn 106 loài mò, trong đó có 17 loài đặc hữu cho khu hệ mò Việt Nam; có 5 loài trong số 19 loài đã được xác định có vai trò truyền bệnh sốt mò trên thế giới (Nguyễn Văn Châu, 1994)
Một số đặc điểm hình thể của mò:
+ Thân dính liền thành một khối, có đầu giả, khiên (mai) ở mặt lưng
+ Mò trưởng thành và thanh trùng có 8 chân, trên thân phủ đầy lông, kích thước 1 - 1,25 mm
+ Ấu trùng mò có 6 chân, kích thước lúc đói 0,25 - 0,5 mm; lúc no kích thước
có thể tăng gấp đôi Thân ấu trùng mò hình bầu dục, có nhiều lông, mặt lưng có 1 khiên, hình dạng khiên biến đổi tùy theo từng loài: 4 cạnh, 5 cạnh hoặc 6 cạnh Màu sắc của mò khác nhau: vàng, đỏ, trắng
Cả mò trưởng thành và mò thanh trùng đều không đốt máu người và động vật Chúng sống trong đất và ăn các bét khác, côn trùng nhỏ hoặc trứng bét Ấu trùng mò hút máu ở da Trứng sau khi nở ra ấu trùng, ấu trùng bò lên cỏ hoặc những bụi cây thấp, đám lá mục để đợi vật chủ là người hoặc động vật Mò bám chặt vào da của bò sát, chim, thú, người đi qua hoặc nghỉ lại ở nơi chúng sống
Ở người chúng chọn nơi bám là những nơi quần áo bó sát vào da, thắt lưng
và mắt Thời gian ấu trùng mò bám vào da vật chủ để hút máu từ 2 ngày đến 1 tháng tùy theo từng loài Sau khi no, chúng rơi xuống, chui vào đất, phát triển thành thanh trùng và trưởng thành
Mò phân bố rải rác trong những vùng rất nhỏ vì nhu cầu riêng của chúng Mò thanh trùng và trưởng thành cần có điều kiện nhất định để sống, còn ấu trùng cần
có những động vật làm vật chủ như: chuột hoang, các loài động vật gặm nhấm nhỏ và chim Nơi thích hợp cho mò trưởng thành là những đồng cỏ, những vùng cây bụi, rừng, đồng lúa tốt tươi và những cánh rừng đã bị phát quang Mò còn
Trang 27
thấy cả ở những công viên, vườn, bãi cỏ và những nơi ẩm dọc theo bờ hồ, bờ suối Vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới, các bụi tre là những nơi mò rất ưa thích
Ở Việt Nam đã phát hiện hơn 106 loài mò thuộc 23 chi, 2 phân họ của họ
Trombicuidae Số lượng tập trung chủ yếu ở 2 chi: Leptotrombidium (28 loài) và
Ấu trùng Leptotrombidium deliense có thân hình trứng, màu đỏ, khiên nằm ở
phía trước thân Khiên có hình chữ nhật, cạnh trước hơi lõm, cạnh sau hình cung Trên khiên có 5 lông, trong đó 4 lông mọc ở 4 góc và 1 lông nằm ở giữa cạnh trước Ngoài ra còn có 2 lông cảm giác, ngọn lông có phân nhánh Mặt lưng có
28 lông xếp thành 6 hàng có thứ tự từ trên xuống dưới như sau: 2 - 8 - 6 - 6 - 4 -
2 Hai bên khiên có mắt Mặt bụng có 18 - 20 lông
2 Đặc điểm sinh học
Mò phát triển qua 4 giai đoạn: trứng - ấu trùng - thanh trùng và trưởng thành
Mò thanh trùng và trưởng thành sống tự do, ăn thực vật rữa nát hoặc trứng các loài côn trùng nhỏ khác Chỉ có ấu trùng mò mới sống kí sinh hút máu, dịch
mô hoặc tổ chức bị phá hủy (mò kí sinh rất lâu từ 2 ngày đến 2 tháng)
Để ăn no, ấu trùng mò L deliense cần trung bình từ 2 - 6 ngày Sau khi ăn no,
ấu trùng rơi xuống đất, chui xuống đất mùn Sau khoảng 12 ngày, ấu trùng lột xác thành thanh trùng; sau khoảng 30 ngày thanh trùng lột xác và phát triển thành
mò trưởng thành Ở nhiệt độ 22 - 300C, độ ẩm 100% thời gian hoàn thành vòng đời khoảng 3 tháng Ấu trùng sống được khoảng 9 tháng
Trang 28Mò có tính chọn lọc vật chủ kí sinh: mò ưa kí sinh ở động vật gặm nhấm, động vật ăn côn trùng Mò cũng có thể kí sinh ở gà, chim, dơi và các loài bò sát
ấu trùng mò L deliense thích kí sinh trên chuột nhà (Rattus flavipectus) và một
số loài chuột khác sống người
Ấu trùng mò cũng có tính chọn lọc vị trí kí sinh: ở chuột mò thường kí sinh trong lỗ tai, quanh mắt, quanh vú Ở người, mò thường kí sinh ở nách, rốn, bẹn Nói chung ấu trùng mò có xu hướng thích kí sinh ở nơi da mềm, ẩm của vật chủ
Ấu trùng mò ưa vật thể màu đen, nơi có ánh sáng và CO2
Cách ăn của ấu trùng mò: ấu trùng cắm vòi vào da vật chủ, tiết men theo nước bọt làm tan rữa mô của vật chủ tạo thành một ống dẫn, trong có chứa dịch lỏng của mô, máu và nước bọt Mò hút chất dịch đó vào dạ dày, rồi lại tiết nước bọt ra theo ống dẫn làm phá hủy sâu hơn tổ chức, mô của vật chủ Nơi bị kí sinh lúc đầu là một sẩn tịt có đường kính 3 - 6 mm, sau đó hình thành bọc nước ở giữa, xung quanh tấy đỏ, đau, ngứa, khó chịu Cuối cùng bọc nước vỡ ra để lại một vết loét đặc hiệu có giá trị chẩn đoán bệnh Ấu trùng mò chỉ kí sinh ở vật chủ
1 lần, ăn cho đến no mới rời vật chủ
Trang 29
Mò thường không phát tán rải rác, chúng thường tập trung hoạt động trong phạm vi có đường kính 3 m, gọi là ổ mò Tuy nhiên, do nước lũ hoặc do vật chủ hoạt động, mò có thể đi xa hơn đến nơi mới Ở khu vực có điều kiện thích hợp,
có thể hình thành nhiều ổ mò
Mò L deliense phát triển quanh năm, nhưng cao nhất trong mùa hè từ tháng
5 đến tháng 8 Ở nơi có khí hậu 2 mùa: mưa và khô, mò phát triển mạnh vào mùa mưa
Khu vực phân bố của mò: ở vùng núi thường gặp ở thung lũng, ven suối, gần nguồn nước, gần làng bản là những nơi có vị trí thấp, râm mát, có độ ẩm cao, cây
cỏ rậm, có nhiều chuột hoạt động; ở vùng đồng bằng, thành phố, gặp ở những bãi, vườn hoang có nhiều hồ ao, cây cỏ rậm rạp, có nhiều chuột qua lại; ở vùng
bờ biển thường gặp ở bãi lầy, rậm ở ven đê hay bị ngập nước và có nhiều chuột
3 Vai trò y học
+ Mò kí sinh gây ngứa, khó chịu, tạo vết loét dễ gây nhiễm trùng Vết loét kéo dài 2 - 3 tháng mới khỏi
+ Mò hút máu của các động vật mang mầm bệnh trong tự nhiên như chuột,
các thú nhỏ Rickettsia tập trung lên tuyến nước bọt của mò và truyền được
cho người
+ Mò đã nhiễm mầm bệnh sẽ mang mầm bệnh Rickettsia trong suốt quá trình
phát triển từ giai đoạn thanh trùng (nhộng) cho đến trưởng thành, thậm chí truyền cho cả mò tự do khác chỉ sống tự do ăn trứng và côn trùng nhỏ; truyền cả
Rickettsia cho trứng và thế hệ sau
+ Mò truyền bệnh sốt mò Tsutsugamushi, còn gọi là bệnh sốt triền sông Nhật
Bản Mầm bệnh là Rickettsia orientalis
+ Biểu hiện lâm sàng: sốt cao, nhức đầu, nổi hạch ở nách, bẹn gần chỗ mò đốt Sau 4 - 5 ngày sốt có nổi ban Đôi khi bệnh diễn biến nặng có thể hôn mê và chết vào khoảng ngày thứ 9 đến ngày thứ 15 của bệnh
+ Đây là bệnh có ổ bệnh thiên nhiên Mầm bệnh được truyền cho thế hệ sau, nhờ đó nhờ mới có khả năng truyền bệnh sốt mò vì cả đời mò chỉ kí sinh hút máu
có 1 lần
+ Mò hút máu các động vật mang mầm bệnh trong tự nhiên như: chuột, các thú nhỏ làm mò bị nhiễm mầm bệnh Mò đã mang mầm bệnh có thể mang mầm bệnh suốt quá trình phát triển từ giai loạn trứng cho đến trưởng thành
Trang 30
454
Thậm chí mò có thể truyền mầm bệnh cho mò trưởng thành sống tự do và chỉ ăn
côn trùng và động vật chân đốt nhỏ; truyền mầm bệnh Rickettsia cho thế hệ sau
+ Dùng hoá chất xua côn trùng DMP, DETA bôi lên da khi phải tiếp xúc với
mò Khi hành quân, lao động, lúc nghỉ ngơi không ngồi bệt xuống đất, cỏ
+ Phun hoá chất diệt côn trùng để diệt mò
+ Điều trị sốt mò bằng clormycetin, tetracycline
Trang 311 Mạt gà - Dermanysus gallinae
+ Hình thể:
Kích thước: con đực 0,6 0,2 mm; con cái 0,75 0,4 mm
Thân có hình trứng, đầu nhỏ, bụng có lông ngắn, thưa Chân ngắn khoẻ, hai chân trước gần bằng chiều dài của thân, ống thở dài tới gốc đôi chân thứ hai
(hình 15.5) Màu trắng, đỏ hoặc tím tùy theo lúc mạt đói hay no
+ Sinh lí, sinh thái:
Mạt hoạt động về đêm Ban ngày mạt trú ẩn ở các tổ chim, ổ gà, khe vách chuồng gà đêm đến bò ra đốt chim, gà, đôi khi đốt cả người
Mạt có khả năng nhịn đói nhiều tuần Khi đói lâu, mạt không đốt được người nhưng bò trên người gây cảm giác ngứa ngáy, khó chịu
+ Vai trò gây bệnh và truyền bệnh Nước bọt của mạt rất độc với gà, nếu nhiều có khả năng làm chết gà trong vòng 24 giờ, nhất là vào cuối mùa hạ Mạt đốt người gây ngứa dữ dội và tạo những đám nổi mẩn mọng nước
Mạt có khả năng truyền bệnh viêm não - màng não cho người
Ở Việt Nam, mạt gà có nhiều nhưng vai trò truyền bệnh chưa rõ
2 Mạt chuột - Dermanyssus sanguineus
Con đực nhỏ hơn con cái; thân hình trái xoan, màu nâu vàng
Mạt chuột thường kí sinh trên chuột đen (Rattus rattus), chuột cống (Rattus
norvegicus) phổ biến ở nước ta
Mạt chuột có khả năng truyền bệnh đậu do Rickettsia (giống bệnh thủy đậu)
và bệnh sốt phát ban chuột
Một số tác giả đã phân lập được mầm bệnh sốt phát ban do virut Liponyssus
bacoti, bệnh truyền từ chuột sang người
Trang 32Gần như không thể nhìn thấy cái ghẻ bằng mắt thường Cái ghẻ có thân hình
bầu dục hoặc gần tròn (hình 15.6) kích thước: con cái 0,33 - 0,45 0,25 - 0,35 mm;
con đực 0,2 - 0,24 0,15 - 0,20 mm
Màu vàng nhạt, mình ngắn, lưng gồ, không có mắt,
không có lỗ thở, có nhiều lông dài
2 Đặc điểm sinh học
Cái ghẻ đào hang trong da để đẻ trứng, mỗi ngày đẻ
1 - 2 trứng, cả đời đẻ 40 - 50 trứng Sau 3 - 4 ngày trứng
nở ra ấu trùng, sau 3 - 10 ngày ấu trùng phát triển thành
thanh trùng (nhộng), khoảng ngày thứ 21 đến ngày thứ
22 thành ghẻ trưởng thành Sau giao phối, ghẻ cái phải
lột xác lần nữa mới đào hang để đẻ trứng Mỗi ngày ghẻ
cái có thể đào hang dài 2 - 10 mm Đời sống của cái ghẻ
khoảng 2 - 5 tuần Ghẻ đào hang về đêm
Cái ghẻ có khả năng kí sinh trên nhiều loài vật chủ khác nhau: người, động vật nuôi và động vật hoang dã , hình thể rất thay đổi (quan sát KHV điện tử), do
đó có thêm nhiều tên phụ loài như: Sarcoptes scabiei hominis, S scabiei equi,
S scabiei ovis
Tất cả các giai đoạn phát triển đều có khả năng đào hầm trong da, nhất là con
cái đã thụ tinh đào những đường hầm rất đặc trưng (hình 15.7) Gần như toàn bộ
Trang 333 Tác hại
+ Sarcoptes scabiei gây bệnh ghẻ Cái ghẻ khi đào hang tiết ra chất độc gây
hủy hoại mô, chúng dùng chân để đào gây ngứa dữ dội về ban đêm Ghẻ thường đào hang ở kẽ ngón tay, bàn tay, bìu Do ngứa nhiều, gãi nhiều, da bị xây xát dễ
bị nhiễm trùng, mưng mủ gọi là ghẻ mủ
+ Bệnh lây lan là do tiếp xúc, nằm cùng giường, bắt tay, chung đụng đồ dùng Bệnh gặp nhiều ở những khu dân cư có mức sống thấp, nhà ở chật hẹp, điều kiện vệ sinh thấp kém
+ Một dạng ghẻ khác hiếm gặp là ghẻ Na Uy: nó kết hợp số lượng lớn cái ghẻ với những vẩy, nắp rõ nét, đặc biệt ở lòng bàn tay, bàn chân Bệnh xảy ra ở người thiếu hụt miễn dịch (như nhiễm HIV) nhiều hơn ở người có hệ miễn dịch bình thường
4 Phòng chống
+ Giữ vệ sinh thân thể, quần áo tắm giặt thường xuyên, luộc quần áo + Khi mắc bệnh ghẻ có thể áp dụng kinh nghiệm dân gian dùng các loại lá đắng (lá chuối, ba gạc ) nấu nước tắm hoặc ngâm chân, tay bị ghẻ
+ Bôi mỡ lưu huỳnh hoặc DEP (diethylphtalat), bôi dầu permethrine 5% điều trị
Hình 15.7: Hang ghẻ
Trang 34
458
+ Thường khi nhiễm ghẻ phải điều trị cho cả gia đình hoặc tập thể
+ Nên điều trị 2 đợt cách nhau từ 2 - 7 ngày Các thuốc nên bôi để 15 phút cho khô mới mặc quần áo, đến hôm sau mới rửa
Chương 16
INSECTA - LỚP CÔN TRÙNG
DIPTERA - BỘ HAI CÁNH
Cấu trúc cơ thể của bộ hai cánh gồm 3 phần: đầu, ngực, bụng
Đầu: có 2 mắt kép (một số loài ruồi có mắt đơn), có hai râu, hai pan và một vòi
Ngực có ba đốt dính liền thành một khối, mỗi đốt mang một đôi chân, đốt giữa còn có một đôi cánh mỏng, trên cánh có những đường gân ngang và dọc Chân có nhiều đốt: đốt đùi, cẳng chân và bàn chân
Bụng thường có 9 đốt, đốt cuối là bộ phận sinh dục và hậu môn
Bộ hai cánh có hai bộ phụ được phân biệt theo số đốt của râu (anten):
Hình 16.1: Các loại côn trùng hai cánh
Trang 36
460
CULICIDAE - HỌ MUỖI
ĐẠI CƯƠNG MUỖI
Muỗi thuộc lớp côn trùng, bộ 2 cánh, râu dài, chỉ có muỗi cái hút máu, muỗi đực hút nhựa cây Muỗi phân bố ở khắp mọi nơi từ hải đảo đến đất liền, từ vùng nhiệt đới tới vùng hàn đới Muỗi thuộc nhóm biến thái hoàn toàn
Phân biệt muỗi đực, muỗi cái dựa vào râu, râu muỗi đực rậm, râu muỗi cái thưa
1 Hình thể
1.1 Hình thể muỗi trưởng thành:
Đầu muỗi có một đôi râu gồm 16 đốt, dùng để đánh hơi tìm mồi, một đôi pan
có tác dụng như cơ quan xúc giác, một vòi để hút máu, một đôi mắt kép
Ngực có 3 đôi chân chia nhiều đốt, riêng bàn chân có 5 đốt được gọi đốt bàn
1 đến đốt bàn 5 có giá trị trong phân loại muỗi Gốc cánh muỗi ở đốt ngực giữa, trên cánh gồm các gân dọc: gân costa, gân dưới costa và 6 đường gân khác được dánh số thứ tự L1 - L6 Trên gân cánh có các vẩy cùng màu, hoặc khác màu, tùy loại muỗi Ngoài ra còn có gân ngang nối liền các gân dọc với nhau Diềm cánh mọc ở bờ ngoài cánh
Bụng muỗi có 9 đốt, đốt thứ 9 có cơ quan sinh dục đực hoặc cái
Cấu tạo bên trong của muỗi: gồm cơ quan tiêu hoá và các tuyến nước bọt, xoang máu, cơ quan sinh dục
1.2 Hình thể của trứng:
Trứng muỗi hình thoi, màu đen hoặc đen nâu, có thể đẻ từng chiếc như chi
Aedes hoặc thành bè nổi trên mặt nước như chi Culex, hoặc chùm ở dưới lá cây
thủy sinh như chi Mansonia
1.3 Hình thể bọ gậy:
Bọ gậy muỗi hình giống con sâu, màu nâu hoặc nâu đen tùy môi trường sống,
cơ thể chia ra làm 3 phần Phần đầu bọ gậy bơi tròn có hai pan, phần miệng có các lông môi, chùm lông bàn chải và có các lông đầu
Ngực bọ gậy phình to, có nhiều lông mọc thành từng cụm tùy loài muỗi mà
số lông và hình dạng khác nhau
Trang 37
Bụng bọ gậy có 9 đốt, trên các đốt có vẩy kitin hình khánh và các lông lá cọ
(chi Anopheles), hoặc không có vẩy kitin và lông lá cọ (chi Aedes, Culex )
Các loại bọ gậy muỗi không truyền sốt rét, đốt thứ 9 chia làm hai, một bên là bánh lái và một bên là ống thở, từ ống thở có hai ống khí quản chạy dọc hai bên
bụng của bọ gậy Bọ gậy Anopheles (muỗi truyền sốt rét), cuối đốt thứ 8 có hai lỗ
thở nối liền hai ống khí quản, đốt thứ 9 là bánh lái
Hình 16.2: Các giai đoạn phát triển của muỗi
1 Trứng (eggs); 2 Bọ gậy (larvae); 3 Cung quăng (pupa); 4 Muỗi trưởng thành
2.1 Giai đoạn trước trưởng thành:
Giai đoạn sống dưới nước: muỗi đẻ trứng dưới nước, ở nơi đất ẩm hoặc nơi
có lá cây mục nát nhưng muốn phát triển thì trứng rơi xuống nước mới nở thành
Muỗi trưởng thành Cung quăng
Trứng muỗi
Mặt nước
Trang 38Bọ gậy rất phàm ăn, ăn tất cả các chất hữu cơ, tảo, vi khuẩn và các vi sinh vật
trong nước Bọ gậy thở oxy của không khí qua ống thở (bọ gậy Aedes, Culex,
Mansonia), hoặc lỗ thở (bọ gậy Anopheles) nằm ở đốt cuối bụng
Bọ gậy thường tập trung ở trên mặt nước (bọ gậy Aedes, Culex, Anopheles) hoặc cắm ống thở vào rễ cây thủy sinh để lấy oxy (Mansonia)
Nơi khí hậu ấm, giai đoạn bọ gậy khoảng 4 - 7 ngày, hoặc dài hơn nếu thiếu thức ăn Sau đó bọ gậy phát triển thành quăng có hình dấu phẩy Quăng không
ăn, có sức chịu đựng cao với môi trường và hoá chất và hầu như chỉ ở trên mặt nước Giai đoạn này thường ngắn khoảng 1 - 3 ngày Toàn bộ thời gian từ trứng đến muỗi trưởng thành, ở điều kiện tốt nhất là khoảng 7 - 13 ngày
Thời gian hoàn thành vòng đời của muỗi phụ thuộc vào nhiệt độ và thức ăn của môi trường
Thời gian hoàn thành vòng đời (N) được tính:
Trong đó:
222,7 : tổng nhiệt độ cần thiết
t : nhiệt độ môi trường
10,2 : nhiệt độ tối thiểu
Trang 39
thích hợp cho muỗi phát triển khoảng 250C - 300C Ngoài nhiệt độ, thức ăn cũng
là yếu tố cần thiết cho sự phát triển của bọ gậy, hai yếu tố này kết hợp chặt chẽ với nhau, thiếu một trong hai yếu tố, muỗi chậm hoặc ngừng phát triển
2.2 Giai đoạn muỗi trưởng thành:
Sau khi nở 24 giờ muỗi trưởng thành bay thành từng đàn, giao phối trong không gian (thường vào các buổi chiều tối) cả đời muỗi chỉ giao phối một lần Sau đó muỗi bay đi tìm mồi hút máu Muỗi bị thu hút bởi mùi, CO2 và nhiệt toả
ra từ cơ thể người hay động vật Muỗi hút máu khoảng vài phút mới no Mỗi loài
có vật chủ thích hợp, Anopheles minimus thích hút máu người, Aedes aegypty hút
cả máu người và động vật Có loài muỗi chỉ thích hút máu trong nhà (endophile)
như Culex quinquefasciatus, nhưng có loài muỗi chỉ hút máu ngoài nhà (exsophile) như: Anopheles dirus, Aedes albopictus chỉ hút máu vào ban ngày, muỗi Mansonia annulifera chỉ hút máu ban đêm, thời gian còn lại chúng đậu
nghỉ Khi đã tìm được mồi chúng theo mồi rất dai phải ăn đủ no mới bay đi nơi khác
Muỗi no, tìm nơi trú ẩn để tiêu máu, đó là nơi kín gió, ấm, ẩm và tối Mỗi
loài muỗi có nơi trú ẩn khác nhau, Anopheles minimus đậu nghỉ ở trong nhà còn
Anopheles dirus đậu nghỉ ở ngoài nhà trong các hang hốc, lùm cây…trong thời
gian tiêu máu, đồng thời trứng cũng phát triển, máu tiêu đến đâu, trứng chín đến đó
Thời gian tiêu máu và chín trứng (M) được tính:
Khi muỗi hoàn thành giai đoạn tiêu máu thì trứng đã chín, muỗi tìm nơi đẻ trứng Tùy theo loài, muỗi cái có thể đẻ từ 30 đến 300 trứng mỗi lần Nhiều loài
đẻ trứng rời từng chiếc một (Anopheles), hoặc dính với nhau thành bè (Culex) trên mặt nước, một số loài (Aedes) đẻ trứng ngay cạnh thành mặt nước hoặc nơi
37 37 : tổng nhiệt độ cần thiết
M = t : nhiệt độ nơi muỗi trú ẩn
t - 9 9 : nhiệt độ tối thiểu
37
Nếu t = 25; M = ; M 2,4 ngày đêm
25 - 9