Họ Haliotidae: vỏ thấp, bộ phận xoắn ốc thoái hóa, tầng đáy rất phát triển, miệng vỏ lớn, một bên của tầng đáy có nhiều lổ, không có nắp vỏ.. Mặt khớp: là mặt trong, phía dưới đỉnh vỏ, c
Trang 1Họ Haliotidae: vỏ thấp, bộ phận xoắn ốc thoái hóa, tầng đáy rất phát triển, miệng vỏ lớn, một bên của tầng đáy có nhiều lổ, không có nắp vỏ
Họ Fissunellidae: vỏ hình bầu dục, giữa mép trước của vỏ có lỗ lõm vào hình tam giác
Họ Ốc nón Patellidae: vỏ hình chóp nón, không có tầng xoắn ốc
Họ Trochidae: có nắp vỏ và tâm điểm ở giữa, răng giữa, răng bên có 11 cái Họ Turbinidae: trên mặt vỏ có nhiều ụ nhô, miện vỏ đơn giản, hình tròn, nắp vỏ bằng đá vôi hình bán nguyệt
Họ Neritidae: tầng tháp vỏ thấp, tầng thân lớn, miệng vỏ hình bán nguyệt, không có lổ trục
Bộ trung túc (Mesogastropoda)
Hệ thần kinh tương đối tập
trung, công thức răng sừng thường
là 2:1:1:1:2, ống dẫn sản phẩm bài
tiết không làm nhiệm vụ dẫn sản
phẩm sinh dục
Họ Viviparidae (ốc ruộng): có
nắp vỏ bằng chất sừng mõng, sống
chủ yếu ở nước ngọt, noãn thai sinh
Cipangoludina: ốc lớn hơn
30mm, tháp ốc cao tương đương lổ
miệng, lổ rốn trông rõ
Angulyagra: ốc nhỏ hơn 30 mm, vỏ dày có nhiều vòng gờ xù xì, không có lỗ rốn
Hình 8.6: Bộ Mesogastropoda A: Crepidula; B: Littorina; C: Campeloma; D: Pleurocera; E: Strombus; F: Charonia; G: Vermiculata; (theo Tryon).
Trang 2Belamya: tương tự như Angulyagra nhưng vỏ mỏng, trên các vòng xoắn đều có đường chỉ mảnh màu đen
Sinotaia: tương tự như Angulyagra nhưng vỏ mỏng, chỉ có đường chỉ mảnh màu đen trên vòng xoắn cuối cùng
Họ Ampullariidae (Pilidae): vỏ mỏng, có tầng thân lớn, gần như hình cầu
Đa phần sống ở nước ngọt
Ampullarus và Pila: có vỏ quay về bên phải
Lanistes: vò quay bên trái
Họ Littorinidae: ốc nhỏ, miệng vỏ hình bầu dục hay hình tròn, có thể sống
ở môi trường nước và trên cạn
Họ Turritellidae (ốc viết): tháp ốc cao, có nhiều tầng xoắn ốc
Họ Solariidae: vỏ có dạng hình bánh xe, thấp, lổ trục sâu
Họ Vemertidae (ốc rắn): vỏ có dạng cuộn tròn, sống cố định
Họ Plamaeidae (ốc đen): vỏ nhỏ, tháp ốc cao, trên mặt vỏ có nhiều chấm đen, mặt trong mép ngoài miệng vỏ có răng
Họ Potamiidae (ốclen): vỏ ốc nhỏ, tháp cao, trên mặt vỏ có nhiều hạt, có mương trước miệng vỏ
Họ Strombidae: vỏ thấp, mép ngoài miệng vỏ rất phát triển, nắp vỏ có dạng lá và xung quanh có hình răng cưa Chân phát triển thành hình lưỡi dao
Họ Naiticidae: vỏ hình cầu, hình trứng hoặc hình vành tai, tầng đáy lớn, sống chui rút nên chân phát triển
Họ Cypraeidae (ốc mỏ chùa): vỏ hình trứng, tầng tháp nhỏ bị vùi lấp trong tầng thân, miệng vỏ hình hẹp dài có dạng răng cưa Không có nắp vỏ
Bộ Stenoglossa (lưỡi sừng hẹp)
Trungkhu thần kinh tập trung thành hạch rỏ ràng
Trang 3Miệng vỏ có mương trước.
Lưỡi sừng hẹp và công thức răng sừng là 1-1-1 hay 1-0-1
Họ Muricidae: mương
trước miệng vỏ rất dài, trên vỏ có
nhiều ụ nhô hay gai, ăn thịt
Họ Buccinidae (ốc hương
biển): có lổ trục, chân lớn Răng
giữa có từ 3 - 7 răng, răng giữa có
dạng răng cưa
Họ Obividae: vỏ hình trụ, mặt vỏ trơn, miệng hẹp dài
Họ Harpidae: mặt ngoài có nhiều gờ dọc trơn láng
Họ Volutidae: vỏ lớn, tháp vỏ bị thoái hóa
Họ Conidae: vỏ có hình tim gà, miệng vỏ hẹp dài Công thức răng sừng là 1-0-1
b Lớp phụ Opisthobranchia (mang sau)
Dây thần kinh nối hạch bên và hạch tạng không chéo nhau thành hình số 8
Xoang màng áo thoái hóa hoặc
không phát triển
Vỏ không phát triển hay không có
vỏ
Phân bố vùng nước lợ và mặn
Bộ Pleurocoela (xoang bên)
Bộ Acoela (không xoang màng áo)
- vỏ thoái hóa
Hình 8.7: Bộ Stenoglossa A: Murex; B: Urosalpinx; C: Busycon; D: Conus (theo Tryon).
Hình 8.8: Lớp phụ Opisthobranchia A: Haminea; B: cavolinia; C: Dendronotus; D: Aevlis (theo Tryon).
Trang 4- không có xoang màng áo
- mang có nhiều dạng
c Lớp phụ Pulmonata (ốc phổi)
Trung khu thần kinh tập trung thành khối xuang quanh xoang miệng Dây thần kinh nối hạch bên và hạch tạng không chéo nhau
Không có nắp vỏ
Họ Ancylidae: vỏ hình chóp nón, sống bám
Họ Plaborbidae: vỏ hình vành khăn dẹp
Họ Limnaeidae: vỏ hình vành tai, tháp ốc nhọn
Họ Achitinidae: sống trên cạn, vỏ có vân hình bầu dục, thức ăn của chúng là lá cây
III Lớp Pelecypoda (Chân Rìu) hay Bivalvia (Hai Mảnh Vỏ) hoặc Lamellibranchia (mang tấm)
1 Đặc điểm chung
Có khoảng 5000 loài hiện đang sống và có khoảng 1000 loài đã hóa đá Chúng phân bố rộng từ vùng biển cho đến các thủy vực nước ngọt Trong nhóm này có nhiều loài có giá trị kinh tế lớn
Thân thể dẹp, đối xứng hai bên Hai miếng da bao ngoài khép lại, bao bọc lấy phần thân mếm gọi là màng áo, đây là phần tiết ra vỏ
Hai mãnh vỏ liên kết nhau bằng bản lề cấu tạo bằng sừng Hai mảnh vỏ có thể bằng hay không bằng nhau Vỏ có thể che đậy toàn bộ cơ thể hay loài có ống hút và thoát nước không co rút vào trong được phải có vỏ phụ che đậy
+ Đỉnh vỏ (umbo): là bộ phận sinh trưởng khởi điểm của vỏ, nhô cao lên khỏi mặt lưng, hơi lệch về trước
Trang 5+ Mặt nguyệt (lunula): ở mặt trước, gần đỉnh vỏ có chổ lõm vào gọi là mặt nguyệt, phần này có thể thấy rỏ hày không
+ Mặt thuẩn (Escutcheon): phần sau đối nghịch với mặt nguyệt gọi là mặt thuẩn Ở trai quạt Pectinidae và trai ngọc Pteriidae có phiến vỏ nhô ra phía trước và sau đỉnh vỏ gọi là tai, ở phiá trước gọi là tai trước (anteriorlar), phía sau là tai sau (posteriorlar)
+ Đường sinh trưởng: là đường lấy đỉnh vỏ làm tâm khởi điểm và chạy quanh đỉnh vỏ Vì tốc độ tăng trưởng phụ thuộc vào điều kiện sinh lý và môi trường cho nên các đường này không liên tục và không không đều nhau Có thể nhìn vào đây để đoán tuổi của con vật
+ Đường phóng xạ: xuất phát từ điẻnh vỏ và chạy thẳng đến mặt bụng của vỏ, có loài đường này rất mịn ở dạng vân, có loài đường này thô và có gai hay gờ Cùng một loài đường có số lượng và hình dáng giống nhau
+ Bản lề: ở phiïa sau hay giữa đỉnh vỏ có màu nâu đen và đàn hồi Có hai loại bản lề là bản lề ngoài và bản lề trong(bám lên hai mang kéo dài đến giữa mặt khớp nên khi chúng khép lại thì không thấy) Bản lề có tác dụng làm vỏ mở ra
Giữa vỏ và phần thân mềm có hai cơ ngang gọi là cơ khép vỏ trước và cơ khép vỏ sau
Mặt trong của vỏ có
+ Vết màng áo: là vết bám xung quanh mép vỏ của cơ mép màng áo + Vịnh màng áo: là vết bám của cơ ống hút và thoát nước (ống càng lớn thì vết cơ càng to, ống không co rút vào được thì không có vịnh màng áo)
+ Vết cơ khép vỏ: nếu cơ phát triển thì vết này rất lớn, có loài có vết cơ khép vỏ trước nhỏ nên rất khó thấy
Trang 6Mặt khớp: là mặt trong, phía dưới đỉnh vỏ, có chổ nhô lên cao thành răng, và chổ lõm xuống thành khớp nênkhi vỏ khép lại thì rất chặc Có hai loại răng khớp là răng giữa và răng bên, có loài không có răng khớp (trai ngọc), có loài răng khớp rất nhiều nhưng không phân hóa thành răng giữa và răng bên (sò huyết)
Xác định các mặt của vỏ
với các chỉ tiêu như sau:
+ Mặt trước: là mặt có
đầu, mặt bụng là mặt có mang,
mặt lưng là mặt có tim và mặt
sau có hậu môn
+ Đỉnh vỏ ngã về phiá
nào thì đó là phía trước, khoảng cách từ đỉnh đến mặt trước ngắn hơn từ đỉnh đến mặt sau, mặt có vịnh màng áo là mặt sau Nếu có một vết cơ bám thì cơ lệch về cạnh sau, bản lề ngoài nằm sau đỉnh vỏ
+ Cầm vỏ sao cho đỉnh hướng lên trên, mủi hướng về phiá trước thì vỏ nằm ở tay bên nào thì đó là tên (trái hay phải) của vỏ
+ Kích thước của vỏ là cao, rộng và dài
Vỏ phụ có hai loại là (i) không liên quan hay quan hệ gì đến vỏ chính và (ii) vỏ phụ kết dính hai vỏ phải và trái lại với nhau
Vỏ phụ gồm các mảnh như sau (I) mảnh khởi điểm (photoplax) nằm trên đỉnh vỏ, che đậy phần trước vỏ (có hai mảnh, một mảnh hay không có); (ii) mảnh giữa (mesoplax) nằm phía sau mảnh trước (còn gọi là mảnh khởi điểm), có hình tam giác, chỉ có một mảnh bằng đá vôi, có loài không có; (iii) mảnh sau (metaplax) là phiến đá vôi hẹp và dài nằm giữa mảnh khởi điểm và mảnh giữa,
Hình 8.9: Cá6u tạo của một Acephala điển hình (theo Woodruff.
Trang 7có 1 hay 2 mảnh; (iv) mảnh bụng (hypoplax) hẹp và dài nằm phần sau mặt bụng và cuối cùng (v) là mảnh dẫn nước (siphonoplax) gồm có hai mảnh bằng đá vôi đối xứng nhau ở ống hút và thoát nước
Thân thể Bivalvia gồm có 3 phần là nang nội tạng, chân và màng áo Đầu đã thoái hóa nên gọi là lớp không đầu Acephala
+ Chân và tơ chân: nằm ở mặt bụng, dẹp hai bên như lưỡi rìu Ở phần giửa gốc chân có gan, ống tiêu hóa, tuyến sinh dục xâm nhập vào Chân có các dạng là (i) chân hình trụ tròn, tiết diện ngang có hình tròn và phần đáy bằng phẳng gọi là mặt đáy, loại chân này có ở những loài nguyên thủy; (ii) chân hình lưỡi rìu, dẹp hai bên, mặt trước và mặt sau kéo dài thành hai đầu nhọn và cuối cùng (iii) là loại chân thoái hóa, hình lưỡi hay hình que, chân này có ở những loài sống bám Các loài sống cố định hay bơi lội thì chân chỉ xuất hiện ở giai đoạn ấu trùng
+ Hoạt động của chân là do (i) đôi cơ co rút ở mặt trước; (ii) đôi cơ dãn chân ở mặt trước; (iii) đôi cơ co rút chân ở mặt sau và (iv) đôi cơ nâng chân ở giữa thân Các đôi cơ này đối xứng và bám vào mặt trong cạnh lưng của vỏ, đó là vị trí khoảng giữa 2 cơ khép vỏ Những loài có chân thoái hóa thì cơ co rút chân biến thành cơ co rút tơ chân
+ Tơ chân do tuyến tơ chântiết ra giúp con vật bám chặt vào giá thêm giữa mặt sau của chân thông với xoang tơ chân (có tế bào thượng bì và tế bào tuyến) Khả năng tiết tơ chân của con vật càng già thì càng kém
Màng áo: là hai lớp tế bào biểu bì và mô liên kết ở giữa Xung quanh mép màng áo cơ rất phát triển Màng áo có 3 nếp đó là (i) nếp ngoài là phần tiết ra vỏ nên gọi là nếp sinh vỏ; (ii) nếp giữa có nhiều tế bào cảm giác phân bố (ở trai quạt), nơi đây có nhiều xúc tu và (iii) nếp trong có cơ rất phát triển, có khả năng thun dản rất lớn nên có khả năng điều chỉnh lượng nước ra vào nên gọi là nếp
Trang 8điều tiết, có nhiều tế bào cảm giác vàtế bào sắc tố trên đây Căn cứ vào điểm kết hợp giữa hai mép màng áo mà người ta chia làm các dạng là (i) dạng đơn giản (dạng một lổ) là dạng mà hai màng áo dính nhau ở phần lưng và dính với nang nội tạng; (ii) dạng hai lổ là dạng mà trên màng áo ngoài điểm tiếp xúc ở phần lưng chúng còn có một chổ tiếp xúc khác ở phần sau của mép màng áo, chổ này tươgn ứng với hậu môn (lổ thoát nước), lổ thông với bên ngoài trước điểm kết hợp 1 là lổ chân mang; (iii) dạng ba lổ có ba điểm kết hợp của màng áo, ngoài hai lỗ 1 và 2 thì lổ thứ 3 có nhiệm vụ lấy thức ăn và hút nước nên gọi là lổ hút nước hay lổ mang và cuối cùng là (iv) dạng 4 lổ, dạng này có phần tiếp hợp thứ 2 kéo dài, chân thoái hóa, lổ chân hẹp lại Giữa lổ chân và mang có thêm lổ màng áo Những nhóm có 3-4 lổ thường sống trong bùn, đào hang nên cơ quan ống hút thoát nước rất phát triển
Xoang màng áo là khoảng trống giữa hai lá màng áo và bộ phận thân mềm
Quanh mép màng áo có cơ bám chắc vào hai vỏ đó là (I) cơ vòng, chúng phân bố quanh mép màng áo, điều tiết sự co dản của màng áo; (ii) cơ khép vỏ do
cơ màng áo hình thành, chúng xếp thành bó ngang liên kết từ mặt trongmàng áo đến vỏvà cuối cùng là (iii) cơ ống hút thoát nước do phần sau của cơ quanh mép màng áo hình thành, gốc cơ này dính chặt vào mặt trong phần sau của vỏ, chúng có dạng tam giác nên còn gọi là vịnh màng áo Những loài không có ống hút và thoát nước thì không có vịnh màng áo
Hệ thần kinh gồm có hạch nảo, hạch chân và hạch bên
+ Hạch nảo: nằm ở hai bên miệng hay phía sau cơ khép vỏ trước, hạch này điều tiết sự hoạt động của cơ khép vỏ trước, xúc biện, màng áo, cơ quan thăng bằng và cơ quan kiểm tra chất nước
Trang 9+ Hạch chân: nằm ở gốc chân, phân bố đến các bộ phân của chân, khống chế các hoạt động của chân Những loài có chân thoái hóa thì thần kinh chân rất nhỏ, những loài chân thoái hóa hoàn toàn thì không có hạch thần kinh chân
+ Hạch thần kinh bên: nằm sát hạch nảo
+ Hạch thần kinh tạng: nằm ở mặt bụng của cơ khép vỏ sau
+ Các giác quan
Cơ quan xúc giác: mặt da của cơ thể nhạy cảm với môi trường nước nhất là
ở mép màng áo và đầu ống hút và thoát nước (đầu mút dây thần kinh ở các gốc và gờ cảm giác), ngoài ra một số bộ phận khác như xúc biện, mang, ống tiêu hóa có tế bào có tiêm mao giữ nhiệm vụ vận chuyển thức ăn nhưng cũng có khả năng cãm giác nhưng không chủ yếu
Cơ quan thăng bằng: nằm ở gốc chân, cạnh thần kinh chân, những loài sống cố định thì không có cơ quan này
Cơ quan kiểm tra chất nước và cơ quan màng áo: ở mỗi gốc mang gần hạch thần kinh tạng (trên cơ khép vỏ sau), mỗi bên có hạch thần kinh phụ biến thành cơ quan cãm giác Thần kinh nảo khống chế hoạt động của cơ quan kiểm tra chất nước Cơ quan màng áo cũng có tác dụng như cơ quan kiểm tra chất nước
Thị giác: ở chân, mép màng áo, ống hút và thoát nước có tế bào sắc tố làm nhiệm vụ cãm quang
Hệ tiêu hóa: bắt đầu là miệng, đó là một khe ngang nằm giữa hai đôi xúc biện Xúc biện có hình tam giác, mặt trong có tiêm mao và nếm nhăn để lấy thức
ăn Thực quản có tiêm mao trên thành vách để vận chuyển thức ăn xuống dạ dày Dạ dày có hình túi và bên trong có nang tinh cá Bao quanh dạ dày là gan, đầu sau của dạ dày là ruột và cuối cùng là hậu môn
Trang 10Hệ hô hấp: do mang đãm nhận, nằm ở mặt trong phần sau của màng áo.ang có nhiều dạng (i) mang nguyên thủy có dạng lông chim, lá mang nhỏ mọc đối xứng hai bên trục mang; (ii) mang tơ là dạng mang nguyên thủy nhưng tơ mang phát triển thành sợi xếp có thứ tự, có khi tơ cong lên thành hình chữ V; (iii) mang thật giốngnhư mang tơ nhưng phiến
ngọn ngoài dính vào mặt trong của màng
áo và phiến trong dính vào mặt lưng củ gờ
nội tạng và cuối cùng là (iv) mang vách, đó
là dạng mang thoái hóa, các phiến gốc và
phiến ngọn dính liền nhau thành vách và
nối gờ lưng với màng áo Vách có lổ thông
với xoang bên trong, trên vách xoang có
mạch máu phân bố
Hệ tuần hoàn: bắt đầu từ tâm thất
máu sẽ theo động mạch lớn và động mạch nhỏ đi đến các bộ phận và cơ quan, máu đen sẽ theo xoang máu đi xuống tâm nhỉ rồi tiếp tục vòng tuần hoàn mới
Hệ bài tiết: bao gồm có thận và tuyến xoang tim Thận gồm có một đôi nằm ở mặt bụng của xoang tim, một đầu thông với xoang tim và đầu kia thông với xoang màng áo Tuyến xoang tim gồm những tế bào thượng bì mỏng, mặt trong là những bào mô liên kết có hình mạng lưới, nơi đây có nhiều mạch máu phân bố Ngoài hai phần chuyên hóa trên thì khắp cơ thể đều có tế bào thực bào phân bố, chúng mang cặn bả vào thận hay xoang tim
Hệ sinh dục: khác biệt giữa con đực và con cái tuy vậy cũng có một số loài đực cái đồng thể Tuyến sinh dục nằm hai bên nang nội tạng bao gồm bao Follicule, xoang sinh dục (sinh ra tế bào sinh dục) và ống dẫn sinh dục
Hình 8.10: Mặt cắt ngang của một Bivalvia thể hiện mang treo trong xoang màng áo (theo Howes).
Trang 11Phương thức sống: sống vùi trongbùn, sống cố định, sống đục khoét trong gổ hay đá vôi và cuối cùng là dạng sống tập đoàn, ký sinh hay cộng sinh
Thức ăn và phương thức bắt mồi: nhóm ăn lọc, ăn thịt và đục khoét
Địch hai: là sinh vật và môi trường sống
Phương thức tự vệ: bỏ đi và tìm nơi khác, tạo vỏ dày hay chui rúc trong bùn hoặc phóng chất bẩn hoặc thối
2 Những loài thường gặp
a Bộ răng hàng (Taxodonta)
Mặt khớp của vỏ có số lượng răng nhiều, xếp thành hàng Những răng này rất giống nhau và không phân hóa thành răng giữa, răng bên hay răng mé
Mang là dạng mang nguyên thủy hay mang tơ
b Bộ cơ lệch (Anisomyaria)
Cơ khép vỏ trước nhỏ hoặc thoái hoá hòa toàn, mặt khớp không có răng hay chỉ có dạng hạt
Giữa các sợi mang liên hệ bằng tiêm mao hay mô liên kết
c Bộ mang thật (Eulamellibranchia)
Vỏ có nhiều dạng, mặt khớp có số lượng răng ít, phân hóa thành răng giữa răng bên (có một số loài không có răng) Cơ khép vỏ trước và cơ khép vỏ sau phát triển gần bằng nhau Mép màng vỏ có 1-3 điểm kết hợp, lỗ dẫn nước vào và
ra phát triển thành ống hút và thoát nước
Mang có cấu tạo phức tạp, lổ sinh dục và lổ bài tiết riêng biệt nhau
+ Bộ phụ răng chẻ (Schizodonta): trên mỗi răng khớp có nhiều khe rãnh hay răng có dạng không bình thường, sống ở nước ngọt
+ Bộ phụ răng khác (Heterodonta): răng khớp phát triển thành răng giữa và răng bên, đa số có bản lề ngoài