1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tiềm năng tài nguyên nhân văn phục vụ phát triển du lịch tỉnh quảng trị

83 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá tiềm năng tài nguyên nhân văn phục vụ phát triển du lịch tỉnh Quảng Trị
Tác giả Trần Thị Lễ
Người hướng dẫn PGS.TS Đậu Thị Hòa
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Địa lý học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2017
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (7)
  • 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu (8)
    • 2.1. Mục tiêu (8)
    • 2.2. Nhiệm vụ (8)
  • 3. Lịch sử nghiên cứu của đề tài (9)
  • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (9)
  • 5. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu (9)
    • 5.1. Quan điểm nghiên cứu (9)
    • 5.2. Phương pháp (10)
  • 6. Những đóng góp chủ yếu của khóa luận (10)
  • Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI (0)
    • 1.1. Những vấn đề cơ bản của du lịch và tài nguyên du lịch (11)
      • 1.1.1. Những khái niệm liên quan (11)
      • 1.1.2. Đặc điểm tài nguyên du lịch (13)
      • 1.1.3. Phân loại tài nguyên du lịch (13)
    • 1.2. Những nhân tố tác động đến sự phát triển du lịch nhân văn (16)
      • 1.2.1. Các nhân tố kinh tế -xã hội và tài nguyên DLNV (16)
    • 1.3. Khái quát chung về đánh giá về tài nguyên du lịch nhân văn (20)
      • 1.3.1. Lý luận chung (20)
      • 1.3.2. Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn (20)
    • 1.4. Tiểu kết chương I (22)
    • 2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên –kinh tế -xã hội (23)
      • 2.1.1. Vị trí địa lý (23)
      • 2.1.2 Đặc điểm tự nhiên (24)
      • 2.1.3. Khái quát về đặc điểm kinh tế - xã hội (27)
    • 2.2. Các tài nguyên du lịch nhân văn tỉnh Quảng Trị (32)
      • 2.2.1. Các di tích lịch sử văn hóa (32)
      • 2.2.2. Lễ hội truyền thống (45)
      • 2.2.3. Nghệ thuật dân gian (47)
      • 2.2.4. Nghệ thuật ẩm thực (49)
      • 2.2.5. Làng nghề truyền thống (50)
    • 2.3. Đánh gía tiềm năng du lịch nhân văn tỉnh Quảng Trị (54)
    • 2.4. Tiểu kết chương II (61)
    • 3.1. Hiện trang khai thác tài nguyên du lịch nhân văn tỉnh Quảng Trị (63)
      • 3.1.1. Việc giới thiệu, quảng bá hình ảnh về tài nguyên du lịch nhân văn của tỉnh Quảng Trị (63)
      • 3.1.2. Về thị trường khách và doanh thu từ du lịch (66)
      • 3.1.3 Về hiện trạng các di tích lịch sử văn hóa của tỉnh Quảng Trị (0)
      • 3.1.4. Về đội ngũ lao động trong ngành du lịch (70)
      • 3.1.5 Về hệ thống sản phẩm du lịch của Quảng Trị (70)
      • 3.1.6 Các tour, tuyến du lịch đang được khai thác (71)
    • 3.2. Nhận xét đánh giá về việc khai thác các tài nguyên du lịch nhân văn phục vụ phát triển du lịch tỉnh QT trong thời gian qua (73)
    • 3.3. Đề xuất những giải pháp nhằm bảo vệ và khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch nhân văn tỉnh Quảng Trị (75)
      • 3.3.1. Tuyên truyền, giáo dục nhân dân địa phương hiểu và ý thức được giá trị văn hóa lịch sử của di tích để cùng chính quyền địa phương bảo tồn di tích (75)
      • 3.3.2. Định vị thị trường khách trọng điểm (76)
      • 3.3.3. Xây dựng hệ thống hạ tầng và dịch vụ điểm đến (77)
      • 3.3.4. Kế hoạch xúc tiến quảng bá các sản phẩm du lịch (78)
      • 3.3.5. Xây dựng môi trường du lịch văn minh, an ninh an toàn cho du khách (80)
    • 3.4. Tiểu kết chương III (80)
    • 1. Kết quả đạt được (81)
    • 2. Những hạn chế (82)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (83)

Nội dung

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu

Xác định và đánh giá đúng các tài nguyên nhân văn tại tỉnh Quảng Trị là rất quan trọng để phát huy tiềm năng du lịch nhân văn Việc này không chỉ giúp nâng cao giá trị văn hóa địa phương mà còn thúc đẩy phát triển du lịch bền vững trong thời kỳ đổi mới.

Nhiệm vụ

Tài nguyên du lịch nhân văn là yếu tố quan trọng trong phát triển du lịch, bao gồm các giá trị văn hóa, lịch sử và xã hội Mối quan hệ giữa tài nguyên và du lịch nhân văn thể hiện sự tương tác giữa di sản văn hóa và hoạt động du lịch, giúp nâng cao trải nghiệm của du khách Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn cần dựa trên các tiêu chí như giá trị văn hóa, mức độ bảo tồn và khả năng thu hút du khách, từ đó định hướng phát triển bền vững cho ngành du lịch.

- Nghiên cứu đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Trị và về văn hóa địa phương của tỉnh Quảng Trị

Nghiên cứu tài nguyên du lịch nhân văn tại tỉnh Quảng Trị nhằm đánh giá giá trị của những tài nguyên này, từ đó phục vụ cho việc phát triển du lịch bền vững trong khu vực Việc khai thác và phát huy các tài nguyên du lịch nhân văn không chỉ góp phần nâng cao nhận thức về văn hóa địa phương mà còn thu hút du khách, thúc đẩy kinh tế địa phương Quảng Trị với những di sản văn hóa phong phú cần được chú trọng hơn nữa để tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn.

Nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch tại tỉnh Quảng Trị nhằm đánh giá tiềm năng và thực trạng hiện tại Đề xuất các giải pháp hiệu quả để phát triển và khai thác tài nguyên du lịch nhân văn của tỉnh, nhằm thu hút du khách và nâng cao giá trị văn hóa địa phương Việc phát triển du lịch bền vững sẽ góp phần thúc đẩy kinh tế và bảo tồn di sản văn hóa tại Quảng Trị.

Lịch sử nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu về du lịch Quảng Trị đã được thực hiện qua các khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ và các nghiên cứu địa phương, nhấn mạnh thế mạnh của cơ sở vật chất kỹ thuật tại đây.

- Nghiên cứu phát triển du lịch hoài niệm tại khu di tích lịch sử Thành cổ Quảng Trị ( Phan Thị Mỹ Lan 78 K43 - Khoa Du lịch, trường ĐH ngoại ngữ

- Đánh giá tài nguyên sinh khí hậu phục vụ phát triển du lịch tỉnh Quảng Trị (Nguyễn Thám, Nguyễn Hoàng Sơn, Trường Đại học Sư phạm, Đại học

- Xây dựng bản đồ du lịch tỉnh Quảng Trị (Quang Tri Toumap) bằng công nghệ GIS” (Hà Văn Hành - Trường Đại hoc Khoa học Huế)

Các nghiên cứu về du lịch tỉnh Quảng Trị tập trung vào nhiều khía cạnh khác nhau, bao gồm việc khám phá giá trị Hoài Niệm, phân tích điều kiện sinh khí hậu, và phát triển bản đồ du lịch nhằm nâng cao trải nghiệm cho du khách.

Đề tài nghiên cứu của chúng tôi là một công trình mới mẻ, vì chưa có nghiên cứu nào đi sâu đánh giá các tài nguyên du lịch nhân văn của tỉnh Quảng Trị.

Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

Quan điểm nghiên cứu

Khi nghiên cứu về Tổ chức Nguồn nhân lực, quan điểm này được áp dụng để phát triển cấu trúc nội bộ và động lực của tổ chức Tổ chức Nguồn nhân lực bao gồm nhiều yếu tố liên kết chặt chẽ với nhau.

Sau khi phân tích các yếu tố và thành phần, quan điểm này được áp dụng để phác họa tổng thể du lịch nông thôn trên địa bàn nghiên cứu, cho thấy sự liên kết chặt chẽ giữa các yếu tố này.

Tài nguyên du lịch văn hóa (DLNV) của một lãnh thổ là một hệ thống đa dạng với nhiều cấp bậc khác nhau, bao gồm các di tích lịch sử, văn hóa và lễ hội truyền thống Những thành phần này không chỉ tồn tại độc lập mà còn tương tác lẫn nhau, tạo nên một tổng thể phong phú Do đó, khi nghiên cứu về DLNV, cần xem xét toàn bộ hệ thống và các thành phần cấu thành của nó để hiểu rõ hơn về giá trị và tiềm năng phát triển.

5.1.3 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh

Mọi hệ thống tự nhiên, kinh tế và xã hội đều có nguồn gốc phát triển, trong đó yếu tố con người đóng vai trò quan trọng Du lịch nông nghiệp Việt Nam (DLNV) cũng không ngoại lệ, mà diễn ra theo quá trình địa lý từ quá khứ đến hiện tại.

Phương pháp

5.2.1 Phương pháp thu thập, xử lý, phân tích và tổng hợp tài liệu

- Thu thập tài liệu, tư liệu, xử lý thông tin về tài nguyên nhân văn, các tư liệu về thực trạng phát triển du lịch địa phương

- Xử lý các số liệu, tài liệu thu thập được Phân tích tổng hợp để rút ra kết luận cần thiết cho đề tài

5.2.2 Phương pháp nghiên cứu bản đồ

Phân tích bản đồ các khu di tích, lịch sử, bản đồ du lịch địa phương

5.1.3 Phương pháp khảo sát thực địa

Khảo sát một số điểm du lịch để đánh giá tiềm năng du lịch nhân văn.

Những đóng góp chủ yếu của khóa luận

- Đề tài tổng hợp phân tích mối quan hệ giữa tài nguyên du lịch nhân văn và du lịch trên phương diện lý luận

- Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp khả thi nhằm bảo vệ và khai thác hiệu quả tài nguyên nhân văn ở tỉnh Quảng Trị.

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

Những vấn đề cơ bản của du lịch và tài nguyên du lịch

1.1.1 Những khái niệm liên quan

Du lịch hiện nay đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến ở cả các nước phát triển và đang phát triển, bao gồm Việt Nam Mỗi người có cách hiểu khác nhau về du lịch tùy thuộc vào hoàn cảnh và góc độ nghiên cứu của họ Điều này dẫn đến việc có nhiều định nghĩa về du lịch từ các tác giả khác nhau.

Ausher định nghĩa du lịch là nghệ thuật đi chơi của cá nhân, trong khi Nguyễn Khắc Viện cho rằng du lịch là sự mở rộng không gian văn hóa của con người, thể hiện những quan điểm khác nhau nhưng đều nhấn mạnh tầm quan trọng của trải nghiệm và văn hóa trong hoạt động du lịch.

Viện sĩ Nguyễn Khắc Viện và PGS Trần Nhạn có quan điểm khác với Ausher về du lịch Trong cuốn "Du lịch và kinh doanh du lịch", PGS Trần Nhạn định nghĩa: "Du lịch là quá trình hoạt động của con người rời khỏi quê hương đến một nơi khác nhằm trải nghiệm những giá trị vật chất và tinh thần độc đáo, khác lạ với quê hương, không nhằm mục đích sinh lời bằng tiền." Điều này cũng được phản ánh trong Luật Du lịch Việt Nam.

Du lịch là các hoạt động liên quan đến việc di chuyển ra khỏi nơi cư trú thường xuyên để tham quan, tìm hiểu, giải trí và nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.

1.1.1.2 Khái niệm về tài nguyên du lịch a Khái niệm về tài nguyên

Tài nguyên, theo định nghĩa của Phạm Trung Lương trong cuốn "Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam", bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, năng lượng và thông tin trên Trái Đất và trong không gian vũ trụ mà con người có thể sử dụng cho cuộc sống và sự phát triển Trong khi đó, PGS.TS Trần Đức Thanh trong cuốn "Nhập môn Khoa học Du lịch" nhấn mạnh rằng tài nguyên là tất cả các nguồn thông tin, vật chất và năng lượng được khai thác phục vụ cho sự phát triển của xã hội loài người, bao gồm cả những thành tạo tự nhiên và sản phẩm do con người tạo ra Mặc dù mỗi khái niệm đều có những ưu điểm và hạn chế riêng, nhưng chúng đều nhấn mạnh tầm quan trọng của tài nguyên trong phát triển kinh tế và xã hội.

Theo Nguyễn Minh Tuệ trong cuốn Địa lý du lịch, tài nguyên du lịch bao gồm tổng thể tự nhiên và văn hóa lịch sử, cùng các thành phần của chúng, có vai trò quan trọng trong việc khôi phục và phát triển thể lực, trí tuệ, khả năng lao động và sức khỏe của con người Những tài nguyên này được sử dụng cho cả nhu cầu trực tiếp và gián tiếp trong sản xuất dịch vụ du lịch (NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1997) Điều 4, khoản 4 của Luật Du Lịch Việt Nam cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của tài nguyên du lịch trong phát triển ngành du lịch.

Theo quy định năm 2005, tài nguyên du lịch bao gồm cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác, phục vụ nhu cầu du lịch Đây là yếu tố quan trọng trong việc hình thành các khu du lịch, điểm du lịch và tuyến du lịch Nguyễn Minh Tuệ nhấn mạnh rằng tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên, kinh tế - xã hội và văn hóa, có vai trò trong việc phục hồi sức khỏe và phát triển thể lực.

Bà cho rằng tinh thần con người được hình thành từ nhiều yếu tố như địa hình, thủy văn, khí hậu, động thực vật, di tích lịch sử văn hóa, văn hóa nghệ thuật và lễ hội, tất cả đều là tài nguyên du lịch Tuy nhiên, không phải mọi dạng địa hình, kiểu khí hậu hay giá trị văn hóa đều có sức hấp dẫn đối với khách du lịch và khả năng kinh doanh du lịch.

1.1.2 Đặc điểm tài nguyên du lịch Đặc điểm chung của tài nguyên du lịch: Một số loại tài nguyên du lịch là đối tượng khai thác của nhiều ngành kinh tế - xã hội Tài nguyên du lịch có phạm trù lịch sử nên ngày càng có nhiều loại tài nguyên du lịch được nghiên cứu, phát hiện, tạo mới và được đưa vào khai thác, sử dụng Tài nguyên du lịch mang tính biến đổi Hiệu quả và mức độ khai thác tài nguyên du lịch phụ thuộc vào các yếu tố: khả năng nghiên cứu, trình độ phát triển khoa học công nghệ, nguồn tài sản quốc gia Tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng; có các giá trị thẩm mỹ, văn hóa lịch sử, tâm linh, giải trí; có sức hấp dẫn với du khách Tài nguyên du lịch bao gồm các loại tài nguyên vật thể và tài nguyên phi vật thể Tài nguyên du lịch là những loại tài nguyên có thể tái tạo được Tài nguyên du lịch có tính sở hữu chung Việc khai thác tài nguyên du lịch gắn chặt với vị trí địa lý Tài nguyên du lịch thường có tính mùa vụ và việc khai thác tài nguyên mang tính mùa vụ Tài nguyên du lịch mang tính diễn giải và cảm nhận

1.1.3 Phân loại tài nguyên du lịch

1.1.3.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên

Theo Luật Du Lịch Việt Nam năm 2005, tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm các yếu tố như địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và cảnh quan tự nhiên Những yếu tố này hiện đang được khai thác hoặc có tiềm năng phục vụ cho mục đích du lịch.

Tài nguyên du lịch tự nhiên có những đặc điểm nổi bật, và nếu được quy hoạch, bảo vệ, cũng như khai thác một cách hợp lý theo hướng bền vững, thì chúng sẽ mang lại giá trị lớn cho ngành du lịch.

Tài nguyên du lịch tự nhiên được phân loại thành tài nguyên vô tận, tài nguyên tái tạo hoặc tài nguyên có khả năng suy thoái chậm Việc khai thác những tài nguyên này thường phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, và nhiều điểm đến phong cảnh tự nhiên thường nằm xa khu vực đông dân cư.

1.1.3.2 Tài nguyên du lịch nhân văn a Khái niệm

Theo Luật Du Lịch Việt Nam năm 2005, tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm các yếu tố văn hóa, di tích lịch sử, và di sản văn hóa vật thể, phi vật thể do con người tạo ra Tài nguyên này chỉ được công nhận khi có sức hấp dẫn với du khách và có khả năng phát triển du lịch, mang lại hiệu quả xã hội, kinh tế và môi trường Tài nguyên nhân văn vật thể bao gồm di tích lịch sử, công trình đương đại và bảo vật quốc gia, trong khi tài nguyên phi vật thể gồm lễ hội, nghề truyền thống, văn hóa ẩm thực, phong tục, tập quán và các nguồn tri thức.

Tài nguyên du lịch nhân văn, do con người tạo ra, dễ bị suy thoái và hủy hoại do tác động của thời gian, thiên nhiên và chính con người Di tích lịch sử - văn hóa khi bị bỏ hoang sẽ xuống cấp nhanh chóng, trong khi những giá trị văn hóa phi vật thể như dân ca, vũ khúc, lễ hội, làng nghề truyền thống và phong tục tập quán cũng dễ bị mai một.

Tài nguyên du lịch nhân văn cần được bảo tồn và phát huy hiệu quả để tránh bị mai một Việc khai thác tài nguyên này cho phát triển du lịch đòi hỏi đầu tư khoa học và thường xuyên Tài nguyên nhân văn, do con người sáng tạo ra, mang tính phổ biến và có mặt ở mọi nơi có con người, tạo nên sự đa dạng và hấp dẫn cho du khách Mỗi vùng, mỗi quốc gia có những đặc sắc riêng trong tài nguyên du lịch nhân văn, nhờ vào điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội khác nhau Điều này góp phần tạo ra các sản phẩm du lịch độc đáo, có sức cạnh tranh cao Trong quá trình khai thác, cần chú trọng bảo vệ và phát huy giá trị độc đáo của tài nguyên Tài nguyên nhân văn thường tập trung gần khu dân cư và ít bị ảnh hưởng bởi thời tiết, do đó tính mùa vụ cũng thấp hơn so với tài nguyên tự nhiên.

1.1.3.3 Vai trò của tài nguyên nhân văn đối với sự phát triển du lịch

Những nhân tố tác động đến sự phát triển du lịch nhân văn

1.2.1 Các nhân tố kinh tế -xã hội và tài nguyên DLNV

Tài nguyên du lịch nhân văn và các thành tựu kinh tế-chính trị đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển đặc trưng của một địa điểm, vùng hoặc quốc gia Chúng thu hút đông đảo du khách với những nhu cầu và mục đích khác nhau cho chuyến đi của họ.

1.2.1.1 Tài nguyên du lịch nhân văn

Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm các yếu tố vật chất và tinh thần do con người tạo ra, như giá trị văn hóa và lịch sử Những tài nguyên này, đặc biệt là các giá trị lịch sử, thu hút mạnh mẽ khách du lịch có trình độ cao và đam mê khám phá Mỗi quốc gia đều sở hữu những tài nguyên du lịch lịch sử độc đáo, góp phần tạo nên sự đa dạng và hấp dẫn cho ngành du lịch toàn cầu.

Du lịch lịch sử thu hút du khách với sức hấp dẫn riêng, đặc biệt là những người có kiến thức sâu rộng về lịch sử dân tộc.

Các tài nguyên có giá trị lịch sử và văn hóa thu hút đông đảo khách du lịch đến tham quan và nghiên cứu Trong số đó, các viện khoa học, thư viện lớn và nổi tiếng, bảo tàng, cùng với các di tích lịch sử đóng vai trò quan trọng trong việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa của mỗi quốc gia.

Các tài nguyên du lịch nội địa không chỉ hấp dẫn du khách đến để tham quan và nghiên cứu, mà còn thu hút nhiều khách từ các lĩnh vực khác với mục đích đa dạng.

1.2.1.2 Một số tình hình và sự kiện đặc biệt

Các sự kiện đặc biệt như hội nghị, đại hội, cuộc hội đàm quốc tế, thi đấu thể thao, và lễ kỉ niệm tín ngưỡng hay chính trị có thể thu hút khách du lịch mạnh mẽ Những sự kiện này diễn ra trong thời gian ngắn nhưng mang lại ý nghĩa lớn trong việc phát triển du lịch.

1.2.1.3 Sự sẵn sàng tiếp đón khách

Sự sẵn sàng tiếp đón khách du lịch phụ thuộc vào ba nhóm điều kiện chính: tổ chức, kỹ thuật và kinh tế Những điều kiện này có ảnh hưởng lớn đến chất lượng phục vụ và trải nghiệm của du khách.

Các điều kiện tổ chức để đón tiếp khách du lịch bao gồm sự hiện diện của các tổ chức và doanh nghiệp du lịch chuyên nghiệp Những tổ chức này đảm bảo việc di chuyển và cung cấp dịch vụ trong suốt thời gian lưu trú của du khách.

Các điều kiện kỹ thuật ảnh hưởng đến sự sẵn sàng tiếp đón khách du lịch bao gồm trang thiết bị tiện nghi tại điểm đến và việc duy trì cơ sở vật chất Sự đầu tư vào cơ sở hạ tầng là yếu tố cần thiết để nâng cao trải nghiệm du khách.

Các điều kiện kinh tế ảnh hưởng đến sự sẵn sàng đón tiếp du khách bao gồm việc cung ứng đầy đủ vật tư hàng hóa và lương thực thực phẩm Để tổ chức du lịch hoạt động hiệu quả, việc đảm bảo nguồn cung cấp hàng hóa một cách đều đặn và ổn định là rất cần thiết.

12 phải quan tam đến chất lượng và giá cả sản phẩm để đảm bảo cho tổ chức du lịch có đủ sức cạnh tranh trên thị trường

1.2.1.4 Dân cư – nguồn lao động

Dân cư đóng vai trò là nguồn lực sản xuất thiết yếu trong xã hội, đồng thời nhu cầu nghỉ ngơi và du lịch của họ ngày càng gia tăng, phản ánh sự phát triển trong các hoạt động sản xuất và đời sống.

Ngành du lịch bao gồm nhiều hoạt động đa dạng như dịch vụ hướng dẫn viên, khách sạn, giao thông thương mại, ẩm thực và thể thao, tất cả đều yêu cầu một đội ngũ nhân lực lớn.

- Như vậy dân cư là lực lượng sản xuất, vừa là thị trường tiêu thụ các sản phẩm du lịch

Sự phát triển du lịch phụ thuộc vào trình độ văn hóa chung của người dân trong một quốc gia Khi văn hóa cộng đồng được nâng cao, nhu cầu du lịch của người dân cũng gia tăng đáng kể Ở các nước phát triển, du lịch đã trở thành một nhu cầu thiết yếu, được xem là tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng cuộc sống.

Trình độ dân trí thấp có thể được nhận diện qua hành động và cách ứng xử cụ thể của người dân đối với môi trường xung quanh Điều này thể hiện rõ ràng qua thái độ của họ đối với du khách, cũng như cách cư xử của du khách tại các điểm du lịch.

1.2.1.5 Thu nhập bình quân đâu người

Sự phát triển của nền kinh tế đã nâng cao mức sống của người dân, từ đó tạo điều kiện cho họ có khả năng chi trả cho các nhu cầu du lịch trong nước và quốc tế.

Khái quát chung về đánh giá về tài nguyên du lịch nhân văn

1.3.1 Lý luận chung Điều tra và đánh giá tài nguyên du lịch là cơ sở quan trọng để mỗi địa phương, mỗi quốc gia tiến hành phát triển, quản lý, bảo tồn, tôn tạo và khai thác tài nguyên cũng như lập quy hoạch phát triển du lịch Để tiến hành điều tra, kiểm kê, đánh giá tài nguyên cần phải dựa vào hệ 12 thống phân loại nhất định, hệ thống phân loại này cần có ích cho việc định lựa đánh giá tài nguyên sau khi điều tra Căn cứ vào hệ thống phân loại tài nguyên nhất định mà tiến hành điều tra, kiểm kê tài nguyên du lịch, sau đó đánh giá vị trí, đẳng cấp và sự đặc sắc của tài nguyên từ đó tiến hành quy hoạch phát triển du lịch Việc điều tra thường được tiến hành với từng loại tài nguyên, còn việc đánh giá phải được tiến hành với từng loại tài nguyên và tổng hợp các loại tài nguyên trong lãnh thổ quy hoạch phát triển du lịch

1.3.2 Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn Đánh giá các loại tài nguyên du lịch là một việc làm khó và phức tạp vì có liên quan tới yêu cầu, sở thích, đặc điểm tâm lý, sinh lý của con người rất khác nhau, đặc điểm của tài nguyên và các điều kiện kỹ thuật Các nhà nghiên cứu chỉ ra bốn kiểu đánh giá tài nguyên du lịch:

Kiểu tâm lý – thẩm mỹ trong du lịch dựa vào cảm nhận và sở thích của du khách cũng như cư dân đối với tài nguyên môi trường Đánh giá này được thực hiện thông qua các cuộc điều tra thống kê và khảo sát xã hội để hiểu rõ hơn về sự thu hút của các điểm đến.

Kiểu sinh khí hậu được sử dụng để đánh giá các dạng tài nguyên khí hậu và thời gian tối ưu cho sức khỏe con người hoặc các hoạt động du lịch Đánh giá này dựa trên các chỉ số khí hậu và giá trị của tài nguyên du lịch đối với các loại hình du lịch cụ thể, từ đó xác định các điểm đến, khu du lịch và trung tâm du lịch phù hợp.

Kiểu đánh giá kỹ thuật là phương pháp sử dụng tiêu chí và công cụ kỹ thuật để đánh giá số lượng và chất lượng tài nguyên du lịch Mục tiêu của việc này là xác định giá trị của tài nguyên du lịch cho các loại hình phát triển du lịch, cũng như trong quá trình lập và thực hiện các dự án quy hoạch phát triển du lịch tại các hệ thống lãnh thổ du lịch cụ thể.

Kiểu đánh giá kinh tế là quá trình áp dụng các phương pháp và tiêu chí để xác định hiệu quả kinh tế - xã hội hiện tại và dự báo trong tương lai của các khu vực có nguồn lực.

* Các bước kiểm kê một di tích kiến trúc nghệ thuật hoặc một công trình đương đại (di tích lịch sử văn hóa)

Vị trí và tên gọi của di tích đóng vai trò quan trọng trong việc xác định diện tích lãnh thổ và cảnh quan xung quanh Khoảng cách từ di tích đến thị trường khách du lịch cũng như chất lượng các loại đường giao thông ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận Bên cạnh đó, khoảng cách đến các di tích văn hóa và tự nhiên khác cũng cần được xem xét Về lịch sử hình thành và phát triển, cần nêu rõ thời gian và đặc điểm của giai đoạn khởi đầu cùng với những lần trùng tu lớn đã diễn ra.

Các lễ hội là một phần quan trọng trong văn hóa du lịch, bao gồm việc khảo sát số lượng, thời gian diễn ra, giá trị và quy mô của các lễ hội Cần đánh giá sức hấp dẫn của các lễ hội đối với du khách, cũng như cách thức bảo tồn và khôi phục chúng Hơn nữa, việc tổ chức và quản lý các lễ hội, cùng với môi trường diễn ra lễ hội tại từng điểm du lịch và địa phương, cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao trải nghiệm du khách.

Lễ hội là những sự kiện văn hóa quan trọng, phản ánh lịch sử phát triển và tôn vinh các nhân vật được kính trọng Mỗi lễ hội có thời gian diễn ra và quy mô khác nhau, có thể mang tính quốc gia hoặc địa phương Các giá trị văn hóa, phong tục và tập quán thể hiện rõ qua phần lễ và phần hội, bao gồm các trò chơi dân gian và hoạt động văn hóa nghệ thuật Những lễ hội này không chỉ giữ gìn bản sắc văn hóa mà còn có giá trị lớn đối với hoạt động du lịch.

Nghề và làng nghề thủ công truyền thống đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn văn hóa và phát triển kinh tế địa phương Việc điều tra và đánh giá số lượng cũng như thực trạng của các nghề và làng nghề thủ công giúp hiểu rõ hơn về sự phân bố và đặc điểm của chúng Các làng nghề không chỉ tạo ra sản phẩm độc đáo mà còn góp phần vào việc duy trì các giá trị văn hóa truyền thống.

Nghề và làng nghề truyền thống đóng vai trò quan trọng trong hoạt động du lịch trên toàn quốc và tại các địa phương quy hoạch Để điều tra và đánh giá mỗi làng nghề, cần xem xét các yếu tố như vị trí địa lý, lịch sử phát triển, quy mô của làng nghề, cùng với các yếu tố tự nhiên và kinh tế liên quan.

Xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc nuôi dưỡng và phát triển nghề cũng như làng nghề truyền thống, với diện tích làng và số lượng người tham gia sản xuất đáng kể Nghệ thuật sản xuất được thể hiện qua việc lựa chọn nguyên liệu, cơ cấu chủng loại, số lượng và chất lượng sản phẩm, tạo ra giá trị thẩm mỹ và công dụng cao Môi trường làng nghề ảnh hưởng đến việc tiêu thụ sản phẩm, trong khi giá cả và mức thu nhập từ sản xuất thủ công góp phần quan trọng vào đời sống của cư dân Tỷ trọng thu nhập từ các nghề thủ công so với các hoạt động kinh tế khác trong làng nghề cho thấy sự đóng góp lớn của chúng, đồng thời phản ánh những giá trị văn hóa gắn liền với nghề và làng nghề truyền thống.

Văn hóa nghệ thuật đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút du khách và phát triển du lịch tham quan, giải trí và nghiên cứu Việc bảo tồn và khôi phục các giá trị văn hóa nghệ thuật không chỉ làm phong phú thêm tài nguyên du lịch mà còn góp phần phát triển các loại hình du lịch khác như du lịch sông nước, du lịch văn hóa các dân tộc, du lịch tham quan và du lịch lễ hội.

Tiểu kết chương I

Du lịch và tài nguyên du lịch có mối quan hệ chặt chẽ, trong đó tài nguyên du lịch tự nhiên phục vụ nhu cầu nghỉ dưỡng và thư giãn, còn tài nguyên du lịch nhân văn mang lại giá trị nhận thức sâu sắc, bồi dưỡng tâm hồn và tự giáo dục nhân cách Sự tương tác giữa du lịch và văn hóa tạo nên mối liên hệ bền vững, giúp làm phong phú thế giới tinh thần và thẩm mỹ của con người Khai thác tài nguyên du lịch nhân văn không chỉ phát triển du lịch mà còn củng cố văn hóa, tạo ra các loại hình du lịch văn hóa đa dạng và thúc đẩy động cơ cho du khách.

Giá trị của tài nguyên du lịch nhân văn cần được đánh giá một cách khách quan và khoa học, không chỉ dựa vào cảm tính Việc nghiên cứu các lý luận về đánh giá tài nguyên sẽ cung cấp cơ sở vững chắc để áp dụng vào thực tiễn.

CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN

Khái quát về điều kiện tự nhiên –kinh tế -xã hội

Quảng Trị nằm ở vị trí địa lý quan trọng, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Bình, phía Nam giáp tỉnh Thừa Thiên-Huế, phía Tây tiếp giáp các tỉnh Savannakhet và Saravane của Lào, và phía Đông giáp biển Đông Tỉnh lỵ của Quảng Trị là thành phố Đông Hà, cách thủ đô Hà Nội 593 km về phía Bắc và cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.120 km về phía Nam qua Quốc lộ 1A.

Quảng Trị là một tỉnh thuộc miền Trung Việt Nam, đóng vai trò là cầu nối giữa hai miền Bắc và Nam Tọa độ địa lý của Quảng Trị nằm trên đất liền, xác định vị trí chiến lược của tỉnh trong bối cảnh địa lý Việt Nam.

+ Cực Bắc là 17°10′ vĩ Bắc, thuộc địa phận thôn Mạch Nước, xã Vĩnh Thái, huyện Vĩnh Linh

+ Cực Nam là 16°18′ vĩ Bắc thuộc bản A Ngo, xã A Ngo, huyện Đa Krông Ngập úng vào mùa mưa lũ

+ Cực Đông là 107°23′58″ kinh Đông thuộc thôn Thâm Khê, xã Hải Khê, Hải Lăng

+ Cực Tây là 106°28′55″ kinh Đông, thuộc địa phận đồn biên phòng Cù Bai, xã Hướng Lập, Hướng Hóa

Quảng Trị, tỉnh nằm ở phía Bắc, giáp huyện Lệ Thủy (tỉnh Quảng Bình), trong khi phía Nam tiếp giáp hai huyện A Lưới và Phong Điền (tỉnh Thừa Thiên-Huế) Phía Tây của tỉnh là biên giới chung với tỉnh Savanakhet (Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào), với chiều dài 206 km, được chia tách bởi dãy Trường Sơn hùng vĩ.

Phía Đông của khu vực giáp biển Đông với bờ biển dài 75 km, được bảo vệ bởi đảo Cồn Cỏ, tọa lạc tại tọa độ 17°9′36″ vĩ Bắc và 107°20′ kinh Đông.

Cỏ cách bờ biển (Mũi Lay) 25 km, diện tích khoảng 4 km² Chiều ngang trung bình của tỉnh 63, 9 km, (chiều ngang rộng nhất 75, 4 km, chiều ngang hẹp nhất 52, 5 km)

Quảng Trị, với tọa độ địa lý đặc trưng, sở hữu không gian lãnh thổ có khí hậu nhiệt đới ẩm, điển hình cho vòng đai nội chí tuyến Bắc bán cầu, và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ biển Đông.

2.1.2 Đặc điểm tự nhiên a Địa hình Địa hình đa dạng bao gồm núi, đồi, đồng bằng, cồn cát và bãi biển chạy theo hướng tây bắc - đông nam Quảng Trị có nhiều sông ngòi với 7 hệ thống sông chính là sông Thạch Hãn, sông Bến Hải, sông Hiếu, sông Ô Lâu, sông Bến Đá, sông Xê Pôn và sông Sê Păng Hiêng Sông ở các huyện miền núi có khả năng xây dựng thủy điện vừa và nhỏ Nhìn đại thể, địa hình núi, đồi và đồng bằng Quảng Trị chạy dài theo hướng tây bắc - đông nam và trùng với phương của đường bờ biển

Sự trùng hợp địa hình giữa Trường Sơn Đông và Trường Sơn Tây thể hiện rõ ở Quảng Bình, nơi các đỉnh cao nhất nằm gần biên giới Việt - Lào, trong khi ở Quảng Trị, các đỉnh cao lại nằm sâu trong lãnh thổ Việt Nam Các con sông lớn như Sê Păng Hiêng và Sê Pôn bắt nguồn từ Việt Nam và chảy qua Lào Tuy nhiên, khi xem xét địa hình chi tiết hơn, các dãy núi và dải đồi lại có xu hướng song song với các thung lũng sông lớn như Cam Lộ, Thạch Hãn và Bến Hải.

Quảng Trị, nằm ở phía Nam Bắc Trung Bộ, thuộc khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, là vùng chuyển tiếp giữa hai miền khí hậu Miền khí hậu phía bắc có mùa đông lạnh, trong khi miền nam lại nóng ẩm quanh năm.

Khí hậu khắc nghiệt, chịu ảnh hưởng nặng nề từ gió tây nam khô nóng, bão và mưa lớn, dẫn đến sự biến động mạnh trong thời tiết Điều này gây ra nhiều khó khăn trong sản xuất và đời sống của người dân.

Quảng Trị nằm hoàn toàn trong nội chí tuyến Bắc bán cầu, hàng năm có hai lần mặt trời đi qua thiên đỉnh vào tháng 5 và tháng 8, với nền bức xạ cao, đạt cực đại vào tháng 5 và cực tiểu vào tháng 12 Tổng lượng bức xạ hàng năm dao động từ 70-80 Kcalo/cm², trong đó bức xạ mùa hè gấp 2-3 lần mùa đông Số giờ nắng trung bình hàng năm ở Quảng Trị từ 1.700-1.800 giờ, cao nhất vào tháng 7 với 240-250 giờ Nhiệt độ trung bình hàng năm dao động từ 20-25 °C, trong đó tháng 7 là tháng nóng nhất và tháng 1 là tháng lạnh nhất Nhiệt độ tối cao có thể vượt quá 40 °C ở vùng đồng bằng và 34-35 °C ở vùng núi thấp, trong khi nhiệt độ tối thiểu có thể xuống tới 8-10 °C ở đồng bằng và 3-5 °C ở vùng núi cao Gió phơn tây nam khô nóng, hay còn gọi là "gió Lào", thường xuất hiện từ tháng 3 đến tháng 9, gay gắt nhất từ tháng 4 đến tháng 8, với khoảng 40-60 ngày khô nóng mỗi năm.

Mùa mưa tại khu vực này diễn ra từ tháng 9 đến tháng 1, chiếm 75-85% tổng lượng mưa hàng năm, với lượng mưa lớn nhất tập trung vào các tháng 9-11, đạt khoảng 600 mm Ngược lại, từ tháng 2 đến tháng 7 là thời gian khô nhất, với lượng mưa thấp nhất chỉ khoảng 40 mm/tháng Tổng lượng mưa hàng năm dao động từ 2.000 đến 2.700 mm, với số ngày mưa từ 130 đến 180 ngày Độ ẩm tương đối trung bình trong mùa mưa đạt 85-90%, trong khi tháng khô thường dưới 50%, có thể xuống tới 30%.

Quảng Trị sở hữu hệ thống sông ngòi phong phú với mật độ trung bình từ 0,8 đến 1 km/km² Đặc điểm địa hình bề ngang hẹp cùng dãy Trường Sơn hùng vĩ ở phía Tây khiến các sông tại đây thường ngắn và dốc Tỉnh có 12 con sông lớn nhỏ, tạo thành ba hệ thống sông chính: sông Bến Hải, sông Thạch Hãn và sông Ô Lâu (Mỹ Chánh).

Ở phía Tây giáp biên giới Việt - Lào, có nhiều sông nhánh chảy theo hướng Tây thuộc hệ thống sông Mê Kông, trong đó các nhánh điển hình là sông

Sê Pôn đoạn cửa khẩu Lao Bảo - A Đớt, sông Sê Păng Hiêng đoạn đồn biên phòng Cù Bai, Hướng Lập (Hướng Hóa)

Hệ thống suối ở Quảng Trị phân bố dày đặc tại vùng thượng nguồn, với các thung lũng suối hẹp và độ dốc lớn, tạo ra nhiều thác cao hàng trăm mét và bậc phức tạp Điều kiện thủy văn thuận lợi của khu vực này cung cấp nguồn nước dồi dào cho sản xuất và đời sống, đồng thời mang lại tiềm năng thủy điện để xây dựng các nhà máy thủy điện có công suất vừa và nhỏ.

Thủy triều trên bờ biển Quảng Trị có chế độ bán nhật triều không đều, với khoảng 2 lần nước lớn và 2 lần nước rũng trong một ngày Mực nước đỉnh triều cao nhất từ tháng 8 đến tháng 12, trong khi từ tháng 1 đến tháng 7 mực nước thấp hơn Biên độ triều lên lớn nhất hàng tháng dao động từ 59 - 116 cm, và biên độ triều xuống cũng không chênh lệch nhiều Trong kỳ nước cường, độ lớn triều có thể đạt tới 2,5m, tạo nên một cảnh quan sinh vật phong phú.

Các tài nguyên du lịch nhân văn tỉnh Quảng Trị

Quảng Trị nổi bật với 518 di tích lịch sử cách mạng, trong đó có nhiều di tích quan trọng như Đường mòn Hồ Chí Minh, Đường 9 - Khe Sanh, địa đạo Vĩnh Mốc, và nghĩa trang quốc gia Trường Sơn Các địa điểm này không chỉ mang giá trị lịch sử mà còn thu hút du khách, với khu du lịch di tích lịch sử cách mạng gắn liền với Đường mòn Hồ Chí Minh được công nhận là một trong hơn 20 khu du lịch trọng điểm của cả nước.

2.2.1 Các di tích lịch sử văn hóa

2.2.1.1 Khu di tích lưu niệm Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn

Di tích lưu niệm danh nhân của Đảng nằm bên bờ sông Thạch Hãn, thuộc làng Hậu Kiên, xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong, cách quốc lộ 1A khoảng 3km về phía Đông Bắc Nằm gần chợ Sãi, nơi từng là trung tâm buôn bán sôi động và phát triển nghề tiểu thủ công nghiệp của vùng đồng bằng Triệu Phong, di tích này là nơi sinh ra và nuôi dưỡng đồng chí Lê Duẩn, một lãnh tụ cách mạng vĩ đại của Việt Nam.

Đồng chí Lê Duẩn, tên khai sinh là Lê Văn Nhuận, sinh ngày 7/4/1907 tại làng Hậu Kiên, xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị Ông xuất thân từ một gia đình nông dân, với thân phụ là cụ Lê Hiệp, một nhà nho làm nghề mộc, và thân mẫu là bà Võ Thị Đạo, người làm ruộng để sinh sống.

Sinh ra và lớn lên tại Quảng Trị, nơi có bề dày lịch sử và truyền thống yêu nước, đồng chí Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn là một lãnh tụ xuất sắc của Đảng ta Ông mang trong mình dòng máu của một dòng họ nổi tiếng với nhiều người học rộng, tài cao, điều này đã hun đúc và tạo nên con người ưu tú, góp phần quan trọng vào sự nghiệp cách mạng của đất nước.

Lê Văn Nhuận, một thanh niên chưa tròn 20 tuổi, đã sớm chịu ảnh hưởng tư tưởng tiến bộ và quyết tâm thoát khỏi cảnh đói nghèo, áp bức do thực dân Pháp gây ra Trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, Lê Duẩn được bầu vào Bộ Chính trị, giữ chức Bí thư thứ nhất và Bí thư Quân uỷ Trung ương Trong 15 năm lãnh đạo, Lê Duẩn đã kiên định đường lối độc lập, tự chủ, tranh thủ sự viện trợ quốc tế và lãnh đạo nhân dân đánh thắng giặc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa đất nước tiến vào chủ nghĩa xã hội.

28 b.Quy mô và gía trị của khu lưu niệm:

Nhà lưu niệm cố Tổng Bí thư Lê Duẩn tọa lạc trên diện tích 400m2, trước đây là nhà và vườn của cụ thân sinh Lê Hiệp Ngôi nhà gỗ khang trang đã trải qua hai cuộc chiến tranh tàn khốc, bị đốt cháy nhiều lần, chỉ còn lại nền và khu vườn hoang vắng Sau khi đất nước hòa bình thống nhất, huyện Triệu Hải cùng bà con quê hương đã xây dựng một ngôi nhà để làm nơi lưu niệm, thờ cúng gia tộc và là chỗ nghỉ ngơi cho đồng chí Lê Duẩn mỗi lần về thăm quê Công trình được khởi công vào tháng 2/1976 và hoàn thành vào cuối năm đó, ban đầu lợp tranh và xung quanh được che chắn bằng gỗ ván.

Ngày 29/10/2010, Khu lưu niệm Tổng Bí thư Lê Duẩn được công nhận là di tích cấp Quốc gia theo Quyết định số 3810/QĐ-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch Khu lưu niệm này không chỉ là nơi giáo dục tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc, mà còn là một địa chỉ quan trọng trong việc giáo dục truyền thống và tổ chức các hoạt động văn hóa cho các thế hệ, không chỉ riêng cho Quảng Trị mà còn cho toàn quốc.

2.2.1.2 Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn a Vị trí, diện tích.

Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn nằm trên đồi Bến Tắt, gần quốc lộ 15, thuộc xã Vĩnh Trường, huyện Gio Linh Địa điểm này cách trung tâm tỉnh lỵ Đông Hà khoảng 38km về phía Tây Bắc và cách quốc lộ 1A tại thị trấn huyện Gio Linh khoảng hơn 20km về phía Tây Bắc.

Sau khi đất nước thống nhất, Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng đã phê duyệt dự án xây dựng nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn tại Quảng Trị, nhằm tưởng niệm và tôn vinh những người con dũng cảm của tổ quốc đã hy sinh xương máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc trên các nẻo đường Trường Sơn.

29 c.Giá trị của nghĩa trang

Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn là nơi quy tụ 10.333 phần mộ của các liệt sỹ, với tổng diện tích 140.000m² Trong đó, diện tích đất mộ chiếm 23.000m², khu tượng đài 7.000m², khu trồng cây xanh 60.000m², khu hồ cảnh 35.000m², và mạng đường ô tô rải nhựa trong khuôn viên nghĩa trang là 15.000m² Phần đất mộ được chia thành 10 khu vực chính.

Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn là nơi yên nghỉ vĩnh hằng của các chiến sĩ hy sinh trên tuyến đường mòn Hồ Chí Minh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ Đây là công trình đền ơn đáp nghĩa lớn nhất, mang tính nghệ thuật cao, thể hiện lòng tri ân sâu sắc của toàn Đảng, quân đội và nhân dân đối với những người con đã hy sinh vì sự nghiệp giải phóng và thống nhất đất nước.

30 a Vị trí và quá trình hình thành

Thành cổ Quảng Trị, tọa lạc giữa trung tâm thị xã Quảng Trị, cách quốc lộ 1A khoảng 2km về phía Đông và 200m về phía Nam bờ sông Thạch Hãn, là biểu tượng uy nghi của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Nơi đây không chỉ là di sản văn hóa mà còn là chứng nhân lịch sử, nơi đã ghi dấu ấn của hàng ngàn chiến sĩ và đồng bào Quảng Trị, những người đã hy sinh vì khát vọng tự do và độc lập.

Thành có bốn cửa chính giữa các mặt: Tiền, Hậu, Tả, Hữu, được xây dựng với vòm cuốn bằng gỗ lim, mỗi cửa rộng 3,4m và có vọng lâu mái cong lợp ngói âm dương Bên trong nội thành, có nhiều công trình kiến trúc nổi bật như Hành cung, cột cờ, dinh Tuần Vũ, dinh án Sát, dinh Lãnh Binh, Ty Phiên, Ty Niết, kho thóc, nhà kiểm học và trại lính.

Hành cung là công trình nổi bật với hệ thống tường dày bao quanh, chu vi 400m và hai cửa ra vào Ngôi nhà rường có kết cấu 3 gian, 2 chái, mái lợp ngói liệt, được trang trí tinh xảo với các họa tiết rồng, mây, hoa, lá, thể hiện giá trị lịch sử và văn hóa đặc sắc.

Thành cổ Quảng Trị, với hơn 160 năm lịch sử, đã từng là trung tâm chính trị quan trọng của vùng này Trong thời kỳ Mỹ - ngụy, nơi đây được biến thành khu quân sự và trung tâm chỉ huy chiến dịch, đồng thời là nhà giam để đàn áp phong trào cách mạng Thành cổ đã chứng kiến nhiều cuộc đấu tranh chống Mỹ, đặc biệt là trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1968, cùng với các trận chiến oai hùng của quân và dân ta Nổi bật là cuộc chiến đấu kiên cường trong suốt 81 ngày đêm mùa hè đỏ lửa năm 1972, khi quân ta chống lại các đợt phản kích tái chiếm Thành Cổ của ngụy quyền Sài Gòn.

Đánh gía tiềm năng du lịch nhân văn tỉnh Quảng Trị

Đánh giá bằng phương pháp: Chọn tiêu chí – chấm điểm và phân hạng

Chọn chỉ tiêu và phân hạng đánh giá

Tỉnh Quảng Trị sở hữu nguồn tài nguyên du lịch nhân văn đa dạng và phong phú, với sự kết hợp hài hòa giữa các di tích lịch sử và lễ hội truyền thống, tạo nên sức hấp dẫn lớn cho khách du lịch Để phát triển du lịch tương xứng với tiềm năng hiện có, cần có cái nhìn tổng quát và đánh giá cụ thể mức độ thuận lợi của từng điểm và yếu tố du lịch Việc đánh giá này là cần thiết để xác định các điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bền vững của ngành du lịch tại tỉnh.

Để đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn tỉnh Quảng Trị một cách khoa học và chính xác, cần xác định chỉ tiêu đánh giá cụ thể làm cơ sở cho việc hình thành các điểm du lịch Quá trình này bao gồm việc thiết lập thang điểm và thang đánh giá, trong đó cần xác định các yếu tố căn cứ để đánh giá, các bậc của thang đánh giá, chỉ tiêu của từng bậc, số điểm tương ứng, và cách tính kết quả.

Kết quả đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn được xác định thông qua việc cộng điểm, với tổng số điểm càng cao cho thấy tài nguyên đó có điều kiện thuận lợi hơn để phát triển du lịch.

2.3.1 Độ hấp dẫn Độ hấp dẫn là yêu tố đầu tiên thu hút khách du lịch Nó có tính chất tổng hợp và thường xác định bằng vẻ đẹp phong cảnh, sự đa dạng của địa hình, sự thích hợp của khí hậu, đặc sắc và độc đáo của các di tích lịch sử Độ hấp dẫn của khu vực có thể được đánh giá theo 4 bậc tương ứng với mức độ thuận lợi với các mục tiêu cụ thể sau:

- Rất hấp dẫn có trên 5 cảnh đẹp, đa dạng Có 6 hiện tượng di tích đặc sắc độc đáo ứng trên 5 loại hình du lịch

- Khá hấp dẫn: có 3-5 phong cảnh đẹp, đa dạng Có 2 hiện tượng di tích đăc sắc, độc đáo đáp ứng 3-5 loại hình du lịch

- Trung bình: có 1-2 phong cảnh đẹp, đa dạng Có 1 hiện tượng di tích đặc săc, độc đáo hấp dẫn đáp ứng 1-2 loại hình du lịch

- Kém: phong cảnh đơn điệu đáp ứng 1 loại hình du lịch

Xác định độ hấp dẫn du lịch tại các tỉnh, huyện ở Quảng Trị dựa trên các di tích lịch sử đặc sắc và cảnh quan văn hóa tiêu biểu Những địa điểm này không chỉ có chất lượng cao mà còn có khả năng kết hợp nhiều loại hình du lịch khác nhau, phục vụ cho mục đích phát triển du lịch bền vững.

BẢNG 1: ĐỘ HẤP DẪN KHÁCH DU LỊCH

Huyên/Thị xã/Thành phố

Di tích lịch sử cấp quốc gia

Di tích cấp tỉnh Tổng

Số loại hình du lịch

Theo đánh giá từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị, mức độ hấp dẫn du lịch của tỉnh này đạt 9 điểm, cho thấy sự thu hút khá cao Trong số các huyện, Vĩnh Linh nổi bật là điểm đến hấp dẫn nhất cho du khách, tiếp theo là Gio Linh và Khe Sanh - Lao Bảo Các khu vực có sức hấp dẫn trung bình bao gồm tỉnh Quảng Trị và thành phố Đông Hà.

2.3.2 Thời gian hoạt động du lịch

Thời gian hoạt động du lịch là khoảng thời gian lý tưởng nhất, phù hợp với điều kiện khí hậu tốt cho sức khỏe du khách Đây cũng là thời điểm thuận lợi cho việc khai thác, kinh doanh đầu tư và phục vụ ngành du lịch.

Thời gian hoạt động du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tính thường xuyên và mùa vụ của các hoạt động du lịch Điều này ảnh hưởng đến các chiến lược khai thác, đầu tư và kinh doanh trong lĩnh vực du lịch.

Thời gian hoạt động du lịch được đánh giá theo 4 bậc, cụ thể: a Rất dài, với trên 200 ngày/năm có thể khai thác tốt và hơn 180 ngày/năm có khí hậu phù hợp cho sức khỏe b Khá dài, từ 150-200 ngày/năm có thể khai thác tốt và 120-180 ngày/năm có khí hậu thích hợp c Trung bình, từ 120-150 ngày/năm có thể khai thác tốt và 90-120 ngày/năm có khí hậu phù hợp cho sức khỏe con người.

Trong năm, có 100 ngày có tiềm năng khai thác tốt cho các hoạt động du lịch, trong khi 90 ngày còn lại có điều kiện khí hậu thuận lợi cho sức khỏe con người.

Số ngày thích hợp cho hoạt động du lịch và điều kiện khí hậu thuận lợi cho sức khỏe con người tại tỉnh Quảng Trị được thể hiện rõ trong bảng dưới đây.

BẢNG 2: THỜI GIAN HOẠT ĐỘNG DU LỊCH

Số ngày có thể khai thác du lịch

Số ngày có điều kiện thích hợp nhất Số điểm

Theo Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch tỉnh Quảng Trị, thời gian hoạt động của năm huyện trong tỉnh được đánh giá là khá thuận lợi, với điểm trung bình cộng đạt 9,6.

Thời gian hoạt động du lịch dài nhất được ghi nhận tại Đông Hà và Khe Sanh - Lao Bảo, trong khi các huyện Gio Linh, Vĩnh Linh và tỉnh Quảng Trị có thời gian hoạt động thấp hơn.

2.3.3 Sức chứa khách du lịch

Sức chứa khách du lịch tại mỗi khu vực được xác định là tổng sức chứa của các địa điểm du lịch, phản ánh khả năng và quy mô hoạt động du lịch Các chỉ tiêu này được thiết lập thông qua khảo sát, thiết kế, thực nghiệm và kinh nghiệm thực tế Sức chứa được phân loại thành bốn mức: rất lớn (trên 1000 người/ngày), khá lớn (từ 500-1000 người/ngày), trung bình (từ 100-500 người/ngày) và nhỏ (dưới 100 người/ngày).

Sức chứa du lịch tại các huyện, thị trên địa bàn tỉnh Quảng Trị thể hiện ở bảng sau:

BẢNG 3: SỨC CHỨA KHÁCH DU LỊCH

Khả năng sức chứa tại điểm du lịch (người/ngày)

1 Tỉnh Quảng Trị trên 1000 người 8

3 Khe Sanh- Lao Bảo 100- 500 người 4

Theo đánh giá của Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch tỉnh Quảng Trị, sức chứa du lịch của 5 huyện thị trong tỉnh đạt mức trung bình khá lớn, với điểm số 6, phản ánh tiềm năng phát triển du lịch tại đây.

2.3.4 Vị trí của điểm du lịch

Tiểu kết chương II

Chương II của khóa luận đi sâu vào đánh giá nguồn tài nguyên du lịch nhân văn của tỉnh Quảng Trị Từ những phân tích này có thể đánh giá sơ bộ về khả năng phát triển du lịch của tỉnh Quảng Trị Tỉnh Quảng Trị có nguồn tài nguyên du lịch nhân văn rất phong phú và đa dạng Đây là điều kiện tốt cho các doanh nghiệp khi doanh dịch vụ du lịch khai thác tốt để phát triển du lịch của thành phố Tuy nhiên du lịch tỉnh cũng phải đôi mặt với rất nhiều thách thức như: nhiều di tích đã bị xuống cấp, đất đai bị lấn chiếm, ô nhiễm…

Đầu tư phát triển du lịch cần được chú trọng hơn, đặc biệt trong việc quản lý và bảo vệ tài nguyên, cũng như cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng còn yếu kém Công tác xúc tiến và quảng bá du lịch hiện chưa được đánh giá đúng mức, dẫn đến sản phẩm du lịch nghèo nàn và thiếu hấp dẫn, khiến khách du lịch không ở lại lâu Để tạo điểm nhấn cho thương mại dịch vụ và gìn giữ bản sắc của thành phố, cần có những chiến lược phát triển hiệu quả.

Tỉnh Quảng Trị đang đồng lòng đầu tư và tôn tạo các tài nguyên du lịch nhân văn nhằm nâng cao hiệu quả cho các hoạt động du lịch, tạo ra một môi trường hưng thịnh và yên bình cho du khách.

CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG, MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO VỆ VÀ KHAI THÁC HIỆU QUẢ TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN CỦA

Hiện trang khai thác tài nguyên du lịch nhân văn tỉnh Quảng Trị

Nghiên cứu về du lịch Quảng Trị giai đoạn 2005-2015 cho thấy sự phát triển mạnh mẽ, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch nhân văn, thu hút đông đảo khách du lịch hàng năm Tuy nhiên, các tour chủ yếu chỉ đưa khách đến một số địa điểm nổi bật như thành cổ Quảng Trị, địa đạo Vĩnh Mốc, nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn và sân bay Tà Cơn, trong khi nhiều di tích lịch sử văn hóa khác lại ít được chú ý Việc quản lý các di tích chưa thống nhất giữa các cơ quan như Sở Văn hóa, Thể Thao và Du lịch, Trung tâm Bảo tồn Di tích và Bảo tàng tỉnh Quảng Trị, cùng với việc thiếu quy trình và quy định hướng dẫn, đã ảnh hưởng đến việc khai thác các di tích này.

DTLSVH tỉnh Quảng Trị mang lại tiềm năng du lịch phong phú, nhưng ngành du lịch tại đây vẫn gặp nhiều khó khăn và cần được cải thiện để phát huy hết giá trị của các tài nguyên du lịch.

Cụ thể đi vào các khía cạnh sau:

3.1.1 Việc giới thiệu, quảng bá hình ảnh về tài nguyên du lịch nhân văn của tỉnh Quảng Trị

Tỉnh Quảng Trị đặc biệt chú trọng đến việc quảng bá hình ảnh du lịch, không chỉ qua các phương tiện truyền thông địa phương mà còn mở rộng ra toàn quốc và một số nước bạn Phòng Văn hóa thông tin tỉnh đã xác định rằng việc quảng bá cần phải đa dạng hóa, bao gồm cả các kênh truyền thống như báo chí, đài phát thanh, truyền hình và website của tỉnh.

Phòng Văn hóa Thông tin tỉnh Quảng Trị đang tích cực quảng bá du lịch của địa phương thông qua các website uy tín như Tổng cục Du lịch Việt Nam và các trang web của các công ty lữ hành hàng đầu như Vietnamtourism.gov.vn, vietnamtourism.com, saigontourist.net, dulichviet.com, dulichhoanggia.com, amitour.com.vn, và dulichsonghong.com.

Phòng cũng phát hành tờ rơi, tập san và tập gấp nhằm giới thiệu chi tiết về các điểm du lịch nổi bật ở tỉnh Quảng Trị cho du khách.

Một trong những kênh quảng bá hình ảnh du lịch hiệu quả nhất của thành phố là thông qua các lễ hội và sự kiện văn hóa Những lễ hội truyền thống thu hút hàng nghìn du khách mỗi năm, cùng với các lễ hội mới, đã góp phần phát huy giá trị văn hóa tinh thần, tín ngưỡng và di sản văn hóa của tỉnh.

Lịch sử các di tích tại tỉnh Quảng Trị trong những năm qua đã được khôi phục và phát huy thông qua các lễ hội dân gian Những sự kiện này không chỉ giới thiệu và quảng bá giá trị văn hóa lịch sử đến người dân và du khách, mà còn tạo tiền đề cho tỉnh Quảng Trị trở thành điểm đến hấp dẫn cho khách du lịch trong và ngoài nước trong tương lai gần.

Tính đến năm 2013, Quảng Trị đã được giao 17.114 triệu đồng từ ngân sách để phát triển cơ sở hạ tầng du lịch, trong đó 16.993 triệu đồng từ nguồn Trung ương và 122 triệu đồng từ ngân sách tỉnh Mặc dù các công trình hoàn thành đảm bảo chất lượng và tiến độ, nguồn vốn đầu tư vẫn còn hạn chế, không đáp ứng đủ nhu cầu phát triển du lịch của tỉnh do điều kiện kinh tế khó khăn Đầu tư chủ yếu tập trung vào việc tôn tạo và xây dựng các di tích lịch sử - cách mạng Chính quyền tỉnh đã tăng cường các hoạt động marketing và xúc tiến du lịch, ưu tiên hợp tác với các địa phương trong Hành lang Kinh tế Đông - Tây và các tỉnh Bắc miền Trung, tuy nhiên, hoạt động này vẫn cần được đẩy mạnh hơn nữa.

Quảng Trị cần xây dựng một kế hoạch marketing và xúc tiến du lịch chuyên nghiệp, nhằm phát triển Hành lang kinh tế Đông - Tây Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ với các tổ chức để khắc phục những bất cập hiện tại về quy mô và mức độ chuyên sâu trong lĩnh vực du lịch.

60 trong và ngoài nước để tạo tiền đề phát triển du lích ngày một có hiệu quả hơn

3.1.2 Về thị trường khách và doanh thu từ du lịch

3.1.2.1 Về thị trường khách du lịch

Xác định thị trường trọng điểm và dự báo tiềm năng phát triển là yếu tố quan trọng giúp các nhà hoạch định chính sách du lịch xây dựng chiến lược phát triển hiệu quả cho du lịch tỉnh Quảng Trị Điều này không chỉ đảm bảo mục tiêu và kế hoạch phát triển được thực hiện một cách khoa học và thực tiễn, mà còn giúp duy trì và phát triển thị trường truyền thống, đồng thời thu hút ngày càng nhiều khách quốc tế đến tỉnh.

Do đặc điểm tài nguyên du lịch chủ yếu là tài nguyên nhân văn, thị trường khách du lịch nội địa của tỉnh chủ yếu là khách du lịch tôn giáo và nghiên cứu lịch sử văn hóa Điều này dẫn đến lượng khách tập trung đông vào những thời điểm nhất định trong năm, đặc biệt là mùa lễ hội di tích, trong khi vào những thời điểm khác, lượng khách thường ít, nhỏ lẻ và không lưu trú lâu dài tại tỉnh.

Từ năm 2007 đến tháng 9/2014, nhờ vào những đầu tư tích cực, lượng khách du lịch đã tăng mạnh từ 509.000 lên 1.390.000 lượt, bao gồm cả khách nội địa và quốc tế Sự gia tăng này cũng dẫn đến doanh thu tăng từ 450 tỷ đồng năm 2007 lên 1.009 tỷ đồng vào tháng 9/2014.

Năm Khách trong nước Khách quốc tế Doanh thu (tỷ đồng)

(Nguồn: Sở văn hóa thể thao du lịch tỉnh Quảng Trị) Thị trường du lịch:

Trong những năm gần đây, lượng khách du lịch quốc tế đến Quảng Trị đã tăng đáng kể, nhờ vào vị trí chiến lược trên hành lang kinh tế Đông Tây và thương hiệu "Ngày ăn cơm 3 nước Việt Nam - Lào - Thái Lan" Khách quốc tế chủ yếu đến từ các nước Đông Nam Á, với thị trường Lào và Thái Lan chiếm 43,1%, tiếp theo là du khách từ Mỹ, Anh, Pháp, thường tham gia các chương trình du lịch thăm lại chiến trường xưa và các đoàn cựu chiến binh Mặc dù tốc độ tăng trưởng khách du lịch quốc tế của Quảng Trị vẫn thấp hơn một số tỉnh trong khu vực, nhưng sự gia tăng này là tín hiệu tích cực cho sự phát triển của du lịch văn hóa tâm linh tại địa phương.

62 lịch đến với Quảng Trị chủ yếu thăm quan các địa danh lịch sử cách mạng, viếng các nghĩa trang liệt sĩ

Quảng Trị là tỉnh tiên phong trong việc phát triển du lịch hoài niệm, thu hút hàng triệu lượt khách du lịch nội địa mỗi năm Du khách đến đây để tìm hiểu về truyền thống lịch sử cách mạng và tri ân các anh hùng liệt sĩ, đặc biệt vào các dịp lễ lớn như Ngày thương binh liệt sĩ 27-7, Ngày quốc khánh 2-9 và Ngày quân đội nhân dân Việt Nam 22-12 Tuy có nhiều tiềm năng, nhưng lượng khách nội địa đến Quảng Trị vẫn còn khiêm tốn trong những năm qua.

Hà Tĩnh và đứng sau toàn bộ các địa phương khác trong vùng

3.1.2.2 Về doanh thu du lịch và số ngày lưu trú

Số lượt khách lưu trú tại Quảng Trị đã giảm từ 75,5% năm 2007 xuống còn 53,8% vào tháng 9/2014, với thời gian lưu trú trung bình chỉ từ 1 đến 2 ngày Điều này ảnh hưởng tiêu cực đến doanh thu du lịch của tỉnh, khiến Quảng Trị có doanh thu thấp hơn so với các tỉnh khác trong khu vực Một cuộc khảo sát từ dự án EU cho thấy hơn 70% khách quốc tế muốn quay lại Việt Nam, nhờ vào sự hài lòng với thiên nhiên và lòng hiếu khách của người dân Khách quốc tế chi tiêu trung bình 102,3 USD mỗi ngày, trong khi khách nội địa chi khoảng 1,3 triệu đồng (tương đương 62 USD) cho mỗi đêm lưu trú.

2, 2 đến 2, 3 16 ngày (Đà Nẵng 3, 7 - 4 ngày; Hội An 4, 2 ngày đối với khách quốc tế và 1, 7 ngày đối với khách nội địa)

3.1.3Về hiện trạng các di tích lịch sử văn hóa của tỉnh Quảng Trị

Nhận xét đánh giá về việc khai thác các tài nguyên du lịch nhân văn phục vụ phát triển du lịch tỉnh QT trong thời gian qua

1 Hệ thống cơ sở lưu trú chưa đồng bộ và phát triển hoàn chỉnh Bên cạnh một số ít cơ sở lưu trú được xây mới thì chủ yếu các cơ sở còn lại đã cũ kỹ và chưa hoàn thiện so với yêu cầu lưu trú của du khách Đây là một trong bất lợi khiến cho lượng khách du lịch đến với Quảng Trị thấp hơn so với các tỉnh trong vùng

2 Hoạt động xuất khẩu tại chỗ về dịch vụ và các sản phẩm du lịch của Quảng Trị chưa hiệu quả Tính đến tháng 9/2014 du lịch Quảng Trị ghi nhận có trên 750.433 lượt khách không sử dụng dịch vụ lưu trú chiếm 53, 7% trong tổng số khách du lịch Như vậy, du lịch Quảng Trị đang thể hiện một sự kém hiệu quả trong khai thác và sử dụng tài nguyên du lịch, chưa chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng và các hoạt động vui chơi giải trí về đêm Nếu đặt du lịch Quảng Trị so sánh với hai tỉnh Quảng Bình và Thừa - Thiên Huế có thể thấy, du lịch Quảng Trị kém hấp dẫn hơn không phải nằm ở các sản phẩm du lịch mà ở chỗ các dịch vụ vui chơi giải trí về đêm của tỉnh quá nghèo nàn

3 Nhu cầu cao nhưng kinh phí nhẹ là điều Quảng Trị đang gặp phải trong việc bảo tồn và trùng tu các di tích lịch sử văn hóa phục vụ du lịch đang bị xuống cấp Nằm ở vùng đất nóng ẩm, nắng lắm và mưa nhiều đặc trưng, cùng với ý thức bảo vệ của du khách còn kém nên hệ thống cơ sở vật chất của các khu di tích đang bị xuống cấp trầm trọng Nếu không được bảo tồn và tôn tạo tốt sẽ không giữ được các di tích lâu dài

4 Chịu sự cạnh tranh lớn do nằm trên con đường di sản miền Trung và bao quanh là các tỉnh có thế mạnh lớn về phát triển du lịch Mặc dù, đây là điều kiện thuận lợi nhưng cũng là điều kiện bất lợi đối với Quảng Trị do quảng đường giữa các tỉnh ngắn, khách du lịch có thể thăm quan các địa điểm ở Quảng Trị và lưu trú ở các tỉnh khác

5 Nguồn nhân lực du lịch chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của phát triển du lịch Kinh doanh du lịch là một ngành kinh tế đặc thù, mang tính dịch vụ cao, phần lớn lao động tiếp xúc với khách hàng, lao động trực tiếp tạo ra sản phẩm du lịch - là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Vì vậy, chất lượng dịch vụ được cung cấp cho khách hàng không chỉ phụ thuộc vào trình độ, kỹ năng tay nghề của người lao động mà còn phải có sự tinh tế, khéo léo, mềm dẻo Bên cạnh đó, trình độ về ngoại ngữ và các chuyên môn khác cũng cần phải được nâng cao toàn diện Tuy nhiên, trình độ nguồn nhân lực du lịch của tỉnh lại chưa được nâng cao và còn mang tính nghiệp dư Đơn cử, tại các khu di tích lịch sử của tỉnh Quảng Trị, đội ngũ hướng dẫn viên chủ yếu được tốt nghiệp các ngành văn hóa, lịch sử và hầu hết không được đào tạo về chuyên ngành về du lịch

6 Các thủ tục hành chính còn rườm rà và phức tạp Muốn phát triển du lịch, các thủ tục hành chính cần phải được cải cách theo hướng mở cửa và hội nhập Nếu làm được như vậy, các nhà đầu tư sẽ dễ dàng đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng du lịch cho tỉnh

7 Việc chèo kéo khách du lịch đã làm xấu đi bộ mặt của con người và văn hóa Quảng Trị: Mặc dù có rất nhiều cơ sở kinh doanh du lịch đã cố gắng cải thiện để mang đến cho du khách những dịch vụ tốt nhất, nhưng cũng xảy ra hiện tượng chèo kéo khách du lịch đặc biệt là khách du lịch nước ngoài Những điều này vô hình dung gây ra cho du khách sự mất thiện cảm với con người và mãnh đất xứ Quảng Trị vốn nổn tiếng là nhiệt tình và thân thiện

8 Du lịch Quảng Trị thiếu tính bền vững: du lịch bền vững là mục tiêu của thế kỷ 21, khi những tài nguyên được khai thác phải được nhìn nhận dưới góc độ khai thác hôm nay và gìn giữ cho thế hệ mai sau Nhưng ở các điểm du lịch Quảng Trị, đặc biệt như các di tích lịch sử cách mạng, việc khai thác đang diễn ra tràn lan mà không có sự trùng tu, tôn tạo và bảo vệ gây ra những hư hại, xuống cấp Bên cạnh đó, tại các điểm du lịch cũng còn tồn tại tình

Việc vứt rác bừa bãi tại các khu điểm du lịch không chỉ gây mất mỹ quan mà còn ảnh hưởng đến hình ảnh của địa phương trong mắt bạn bè quốc tế, đồng thời làm giảm nguồn thu ngoại tệ quan trọng cho khu vực.

9 Sự giao lưu về văn hóa, ngôn ngữ và bản sắc dân tộc chưa được quan tâm: Những người làm nghề du lịch Quảng Trị (đặc biệt là cộng đồng dân cư) chưa có vốn ngoại ngữ tốt để bán hàng, cung cấp dịch vụ cho khách du lịch nước ngoài Và cũng chưa có sự đầu tư tìm hiểu về văn hóa, phong tục của địa phương để giới thiệu với các du khách quốc tế và các địa phương khác đến Chính điều này, gây ra sự thiếu gắn kết giữa cộng đồng địa phương và khách du lịch, khiến cho du khách không cảm thấy được chào đón, được trao đổi và được biết sâu hơn về con người, văn hóa của vùng đất mình đến Vì vậy hiệu quả xã hội của du lịch vẫn chưa được phát huy hiệu quả

10 Hoạt động quảng bá du lịch chưa được thực hiện hiệu quả: Quảng Trị mới phát triển du lịch và chưa có những kinh nghiệm trong việc đưa dịch vụ này trở thành một ngành công nghiệp không khói hiệu quả Vì vậy, hoạt động quảng bá du lịch Quảng Trị vẫn chưa hiệu quả trên các phương tiện thông tin đại chúng quốc gia và các quốc tế.

Đề xuất những giải pháp nhằm bảo vệ và khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch nhân văn tỉnh Quảng Trị

3.3.1 Tuyên truyền, giáo dục nhân dân địa phương hiểu và ý thức được giá trị văn hóa lịch sử của di tích để cùng chính quyền địa phương bảo tồn di tích

Các di tích tại Quảng Trị hiện đang xuống cấp nghiêm trọng, đòi hỏi nguồn kinh phí lớn để khắc phục, vượt khả năng tài trợ của Nhà nước Để giải quyết vấn đề này, Nhà nước đã ban hành thông tư liên Bộ Văn hóa – Thể Thao – Du lịch và Bộ Tài chính, quy định về quản lý và cấp phát ngân sách cho các hoạt động bảo tồn và bảo tàng trên toàn quốc Theo thông tư, có hai nguồn vốn chính cho việc tu bổ di tích: vốn xây dựng cơ bản và vốn chống xuống cấp, tuy nhiên ngân sách Trung ương vẫn còn hạn chế.

Để bảo tồn di tích văn hóa quan trọng, các địa phương cần chủ động dành ngân sách và xác định rõ trách nhiệm của nhân dân tỉnh Quảng Trị trong việc giữ gìn di sản Việc huy động sự đóng góp từ cộng đồng, bao gồm công sức và tiền bạc, là cần thiết để thực hiện nhiệm vụ này, nhằm khích lệ và động viên mọi người cùng tham gia vào sự nghiệp bảo tồn.

3.3.2 Định vị thị trường khách trọng điểm

Với vị trí địa lý thuận lợi và hệ thống tài nguyên du lịch phong phú, Quảng Trị đang phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ phục vụ khách du lịch Nguồn khách du lịch tâm linh tại Quảng Trị được xác định ưu tiên, trong đó nguồn khách trong nước đóng vai trò quan trọng nhất Đặc biệt, khu vực này tập trung vào ba nguồn khách chính, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển du lịch.

+ Hà Nội và các tỉnh phía Bắc

+ Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam

+ Khách nội vùng trong khu vực Miền Trung và Tây Nguyên

Với quyết tâm đầu tư mạnh mẽ, Quảng Trị sẽ phát triển nguồn khách du lịch nội địa đa dạng, bao gồm du lịch thuần túy, MICE, và du lịch theo chủ đề kết hợp với du lịch tâm linh Hành trình đến Quảng Trị có thể thực hiện qua nhiều phương tiện như hàng không (đến sân bay Huế và Đồng Hới), đường sắt, đường bộ và đường biển Thời gian cao điểm của khách du lịch thường rơi vào mùa hè từ tháng 5 đến tháng 9, trong khi mùa đông từ tháng 10 đến tháng 12 là thời gian thấp điểm Do đó, cần có các biện pháp xúc tiến hiệu quả để giảm thiểu tính mùa vụ trong du lịch.

Nguồn khách quốc tế đến Quảng Trị chủ yếu qua cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo và Cầu Treo Đây là nguồn khách tiềm năng, có khả năng phát triển mạnh mẽ trong tương lai, đặc biệt khi ASEAN trở nên thống nhất và hệ thống đường bộ cao tốc giữa các quốc gia được hoàn thiện.

Số lượng 71 được hình thành đồng bộ cho cả hai loại hình khách hàng: khách sử dụng xe của các công ty du lịch và khách tự lái (Caravan), bao gồm nhiều nguồn khách khác nhau.

+ Thị trường khách Thái Lan + Thị trường khách Lào + Thị trường khách Campuchia

+ Thị trường khách Singapore, Malaysia

Thị trường khách Châu Âu đang gia tăng, với nguồn khách quốc tế chủ yếu đến từ các chuyến bay nội địa từ Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Nguồn khách này đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu nguồn khách đến khu vực Thừa Thiên.

- Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam Nguồn khách này thường tham gia các chương trình dài ngày, đến cả ba miền Bắc - Trung - Nam Có thể điều chỉnh chương

36 trình để tham gia vào tour du lịch tâm linh Quảng Trị

Thị trường du lịch tàu biển tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Singapore, Malaysia và Indonesia, đang phát triển mạnh mẽ Trong những năm gần đây, khu vực duyên hải Miền Trung Việt Nam đã đón khoảng 150 - 200 chuyến tàu biển du lịch đến các cảng Chân Mây, Tiên Sa và Nha Trang Sự gia tăng này phản ánh xu hướng thu hút khách du lịch nội địa và quốc tế, với sự quan tâm ngày càng lớn từ các hãng tàu biển lớn đối với khu vực.

Thị trường du lịch nội địa tại Quảng Trị đang có cơ hội lớn để đầu tư vào sản phẩm du lịch đường biển qua cảng Cửa Viết, đặc biệt là các chương trình du lịch tâm linh Việc quy hoạch và tìm kiếm nhà đầu tư phù hợp cho phát triển cảng biển du lịch là cần thiết để khai thác tiềm năng này.

3.3.3 Xây dựng hệ thống hạ tầng và dịch vụ điểm đến Để có thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của du khách và thu hút các nguồn khách một cách bền vững, nhất thiết phải đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở dịch vụ phục vụ du khách theo các hướng đề xuất sau:

Để phát triển hệ thống giao thông tại Quảng Trị, cần đầu tư nâng cấp quốc lộ 1A và quốc lộ 9, cải thiện năng lực ga Đông Hà và chỉnh trang cảng Cửa Việt nhằm thu hút khách du lịch bằng đường bộ, đường sắt và đường biển Đồng thời, cần xem xét đầu tư sân bay thương mại để tiếp cận nguồn khách cao cấp Về dịch vụ, cần có chính sách ưu đãi để thu hút các nhà đầu tư lớn, tập trung vào các dự án khách sạn, khu nghỉ dưỡng, khu vui chơi và dịch vụ mua sắm tại Đông Hà, Cửa Tùng và Lao Bảo, với mục tiêu tăng tỷ lệ du khách lưu trú Cuối cùng, cần rà soát và đầu tư hợp lý cho các điểm tham quan, cải thiện hạ tầng giao thông, khu vực đón tiếp và dịch vụ, đồng thời nâng cao chất lượng nhân lực và thông tin hướng dẫn du lịch.

3.3.4 Kế hoạch xúc tiến quảng bá các sản phẩm du lịch

Xúc tiến và quảng bá du lịch văn hóa tâm linh tại Quảng Trị cần được thực hiện một cách chuyên nghiệp và có trách nhiệm, tập trung vào các thị trường mục tiêu trọng điểm Để phát huy lợi thế của điểm đến với các giá trị du lịch tâm linh hấp dẫn, việc quảng bá sản phẩm du lịch Quảng Trị sẽ bao gồm nhiều nội dung đa dạng và phù hợp với nhu cầu của khách hàng.

Sự phối hợp giữa các bên trong công tác quảng bá, xúc tiến

Tổng cục Du lịch chủ trì các hoạt động xúc tiến du lịch quốc gia tại sự kiện và hội chợ, tổ chức đoàn khảo sát từ các thị trường lớn, nhằm giới thiệu sản phẩm du lịch của Quảng Trị, đặc biệt là du lịch tâm linh, với sự tham gia của các doanh nghiệp địa phương.

Tổng cục du lịch nên xem xét việc phân bổ ngân sách xúc tiến nhiều hơn cho Quảng Trị, nhằm hỗ trợ tỉnh này trong việc tổ chức các hội chợ, hội nghị và hội thảo chuyên đề.

Tiểu kết chương III

Để tỉnh Quảng Trị phát triển du lịch bền vững và thu hút du khách, cần có định hướng rõ ràng cùng các giải pháp ngắn hạn và dài hạn Những giải pháp này phải đảm bảo không làm mất đi giá trị văn hóa và lịch sử lâu đời của địa phương Dưới đây là một số đề xuất nhằm góp phần vào chiến lược phát triển du lịch bền vững tại Quảng Trị.

Kết quả đạt được

Quảng Trị có vị trí địa lý thuận lợi, nằm tại điểm giao cắt của các tuyến quốc lộ quan trọng nhất ở Việt Nam và khu vực, bao gồm trục Quốc lộ 1A.

Hồ Chí Minh không chỉ là một hành lang giao thông mà còn là hành lang kinh tế quan trọng của vùng GMS, giao cắt với Hành lang kinh tế Đông - Tây Tỉnh có hệ thống vận tải đường thủy phát triển qua các cảng Cửa Việt và Cửa Tùng Những điểm du lịch lịch sử - cách mạng nổi bật được phát triển dọc theo tuyến đường 9, đường Hồ Chí Minh, khu vực cầu Hiền Lương, sông Bến Hải, Vịnh Mốc và thị xã Quảng.

Các tuyến đường giao thông đang được đầu tư xây dựng và liên thông với nhau, tạo điều kiện thuận lợi để kết nối các địa điểm du lịch văn hóa tâm linh trong tỉnh Sự lãnh đạo và chỉ đạo kịp thời của Đảng, chính quyền và các ban ngành đã góp phần quan trọng vào sự phát triển ngành văn hóa, thể thao và du lịch Nhờ đó, trong những năm gần đây, ngành du lịch đã mang lại nguồn lợi kinh tế to lớn và rõ nét cho địa phương.

Qua nghiên cứu đề tài đã đạt được những kết quả sau:

Tài nguyên du lịch, đặc biệt là tài nguyên du lịch nhân văn, đóng vai trò quan trọng trong phát triển du lịch Bài viết này tổng hợp cơ sở lý luận về tài nguyên du lịch và khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa và xã hội của tỉnh QT, từ đó tạo nền tảng thực tiễn cho nghiên cứu đề tài.

Tỉnh QT sở hữu nhiều tài nguyên du lịch nhân văn quý giá, bao gồm các di tích lịch sử văn hóa, lễ hội truyền thống, làng nghề thủ công truyền thống và nghệ thuật dân gian Qua việc xác định các tiêu chí và phương pháp đánh giá, giá trị của những tài nguyên này đã được đánh giá một cách toàn diện.

Trong những năm qua, tỉnh Quảng Trị đã có những bước phát triển đáng kể trong lĩnh vực du lịch, với việc khai thác hiệu quả các tài nguyên du lịch nhân văn Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, vẫn tồn tại một số hạn chế trong việc sử dụng và quản lý các nguồn tài nguyên này, đòi hỏi tỉnh cần có những giải pháp hợp lý để nâng cao chất lượng dịch vụ và thu hút du khách.

Để phát triển du lịch bền vững tại tỉnh QT, cần triển khai 5 nhóm giải pháp nhằm khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên du lịch nhân văn Những giải pháp này bao gồm: nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị văn hóa, tăng cường quản lý và bảo tồn di sản, phát triển sản phẩm du lịch đa dạng gắn liền với văn hóa địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động du lịch bền vững, và khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp trong việc bảo vệ tài nguyên du lịch Những nỗ lực này không chỉ giúp bảo tồn di sản văn hóa mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế cho tỉnh.

Những hạn chế

Lần đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, nên không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót:

Đánh giá tài nguyên du lịch, đặc biệt là tài nguyên du lịch nhân văn, là một nhiệm vụ khó khăn, đòi hỏi kiến thức sâu rộng, thời gian nghiên cứu và nguồn kinh phí đáng kể Trong bối cảnh nghiên cứu của chúng tôi, với thời gian hạn chế, nguồn kinh phí không có và kiến thức về đánh giá còn hạn chế, kết quả đạt được chủ yếu mang tính định tính hơn là định lượng.

Việc xây dựng nền tảng cho chiến lược phát triển ngành du lịch là cực kỳ cần thiết và quan trọng, đặc biệt đối với tỉnh Quảng Trị Du lịch không chỉ phát huy những thế mạnh hiện có của tỉnh mà còn giúp khắc phục một số khó khăn mà địa phương đang phải đối mặt Qua nghiên cứu này, chúng tôi mong muốn góp phần nhỏ bé vào sự phát triển của quê hương.

Rất mong có được sự quan tâm đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện và sâu sắc hơn

Ngày đăng: 13/05/2021, 16:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7, Quốc hội Việt Nam - Luật Du lịch - Nxb Lao động, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội Việt Nam
Nhà XB: Nxb Lao động
9, Tổng cục du lịch - Non nước Việt Nam – Nxb Lao động – Xã hội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng cục du lịch - Non nước Việt Nam
Nhà XB: Nxb Lao động – Xã hội
1, Sở văn hóa thể thao – du lịch Quảng Trị - số liệu thống kê. http://dulich.quangtri.gov.vn Link
4, Báo cáo hội thảo quốc tế về du lịch Quảng Trị - hội nhập và phát triển( 2007) Khác
5, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Trị 2006-2010 Khác
8, Bùi Thị Hải Yến (Chủ biên), Phạm Hồng Long - Tài nguyên du lịch – Nxb Giáo dục, 2009 Khác
10, Trần Văn Thông – Quy hoạch du lịch – Những vấn đề lý luận và thực tiễn – Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2005 Khác
11, Vũ Triệu Quân - Bài giảng địa lý du lịch (dùng trong các trường trung học chuyên nghiệp Hà Nội) – Nxb Lao động Hà Nội, 2009 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w