Một số công trình nghiên cứu đã đề cập những khía cạnh khác nhau của hoạt động du lịch như: Tổ chức lãnh thổ du lịch của Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ 1998 tổng quan cơ sở lý luận của tổ ch
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Lê Văn Tẻo
PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH HẬU GIANG
THEO HƯỚNG BỀN VỮNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Lê Văn Tẻo
PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH HẬU GIANG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu
và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, chính xác và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
Tác giả: Lê Văn Tẻo
Trang 4Xin chân thành cảm ơn Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Hậu Giang; Trung tâm xúc tiến thương mại – đầu tư và du lịch Hậu Giang; Cục thống kê Hậu Giang; Thư viện tỉnh Hậu Giang đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn
Xin chân thành cám ơn BGH và các đồng nghiệp trường THPT Vị Thanh, TP Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt thời gian học tập
Cuối cùng, Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, những người thân yêu, bạn bè đã dành tình cảm, động viên và giúp đỡ trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Thành phố Hồ Chí Minh năm 2020
Tác giả
Lê Văn Tẻo
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÀ DU LỊCH BỀN VỮNG 10
1.1 Những vấn đề cơ bản về du lịch 10
1.1.1 Khái niệm về du lịch 10
1.1.2 Tài nguyên du lịch 11
1.1.3 Phân loại tài nguyên du lịch 11
1.1.4 Các loại hình du lịch 13
1.1.5 Sản phẩm du lịch 15
1.1.6 Khách du lịch 19
1.2 Du lịch bền vững và phát triển du lịch bền vững 19 1.2.1 Phát triển bền vững 19
1.2.2 Du lịch bền vững 21
1.2.3 Mục tiêu của du lịch bền vững 21
1.2.4 Phát triển du lịch bền vững 21
1.2.5 Tính tất yếu của phát triển du lịch bền vững 22
1.2.6 Sự khác biệt giữa phát triển du lịch bền vững với du lịch Đại chúng 24
1.2.7 Mối quan hệ biện chứng giữa 3 bộ phận của phát triển du lịch bền vững 26
1.2.8 Những nguyên tắc đảm bảo cho phát triển du lịch bền vững 27
1.2.9 Các tiêu chí phát triển du lịch bền vững 32
Trang 61.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch 35
1.3.1 Vị trí địa lí 35
1.3.2 Tài nguyên du lịch 35
1.3.3 Cơ sở hạ tầng 36
1.3.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật 37
1.3.5 Nguồn nhân lực du lịch 37
1.4 Sơ lược về phát triển du lịch bền vững trên thế giới và Việt Nam 38
1.4.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững một số nước trên thế giới 38
1.4.2 Mô hình phát triển du lịch bền vững của một số địa phương tại Việt Nam 42
Tiểu kết chương 1 45
Chương 2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH HẬU GIANG GIAI ĐOẠN 2010 – 2019 THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 47
2.1 Khái quát về tỉnh Hậu Giang 48
2.1.1 Vị trí địa lý 48
2.1.2 Đặc điểm về tự nhiên 48
2.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội 49
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch 51
2.2.1 Vị trí địa lí 51
2.2.2 Tài nguyên du lịch 54
2.2.3 Cơ sở hạ tầng 72
2.2.4 Cơ sở vật chất - kỹ thuật 75
2.2.5 Nguồn nhân lực du lịch 80
2.3 Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2010 – 2019 82
2.3.1 Lượng khách du lịch đến Hậu Giang 82
2.3.2 Doanh thu du lịch 83
Trang 72.3.3 Phát triển du lịch theo lãnh thổ 86
2.3.4 Phát triển thị trường 93
2.3.5 Phát triển nhân lực du lịch 94
2.3.6 Vốn đầu tư cho phát triển du lịch 95
2.3.7 Quản lý hoạt động kinh doanh du lịch 99
2.3.8 Đánh giá chung về thực trạng phát triển du lịch ở Hậu Giang 101
2.4 Đánh giá chung về phát triển du lịch bền vững 107
2.4.1 Từ góc độ bền vững về kinh tế 107
2.4.2 Từ góc độ bền vững về xã hội 109
2.4.3 Từ góc độ bền vững về tài nguyên - môi trường 110
Tiểu kết chương 2 111
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH HẬU GIANG ĐẾN NĂM 2030 THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 112
3.1 Những căn cứ của định hướng 112
3.1.1 Định hướng phát triển du lịch Việt Nam 112
3.1.2 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hậu Giang 113
3.1.3 Dự báo phát triển du lịch của tỉnh Hậu Giang đến 2030 115
3.2 Định hướng phát triển du lịch tỉnh Hậu Giang 117
3.2.1 Những định hướng chung 117
3.2.2 Các định hướng cụ thể 118
3.3 Giải pháp phát triển du lịch tỉnh Hậu Giang theo hướng bền vững 123
3.3.1 Nhóm giải pháp phát triển bền vững về kinh tế 123
3.3.2 Giải pháp phát triển bền vững về văn hóa xã hội 135
3.3.3 Giải pháp phát triển bền vững về tài nguyên và môi trường 139
3.4 Một số kiến nghị 144
3.4.1 Đối với nhà nước 144
3.4.2 Đối với Tổng cục Du Lịch 145
Trang 83.4.3 Đối với UBND tỉnh Hậu Giang 146 3.4.4 Với các doanh nghiệp kinh doanh du lịch 147 3.4.5 Với cộng đồng dân cư địa phương có quản lý tài nguyên du lịch 148
PHẦN KẾT LUẬN 149 TÀI LIỆU THAM KHẢO 151 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Cơ cấu lao động ngành du lịch Hậu Giang năm 2019 80Bảng 2.2 Nguồn nhân lực ngành du lịch Hậu Giang giai đoạn 2010 –
2019 80Bảng 2.3 Trình độ nguồn nhân lực du lịch Hậu Giang năm 2019 81Bảng 2.4 Lượt khách du lịch và doanh thu ngành du lịch Hậu Giang
2010 – 2019 82Bảng 2.5 Doanh thu du lịch tỉnh Hậu Giang 2016 - 2019 84Bảng 2.6 Kết quả khảo sát khách du lịchvề du lịch Hậu Giang 102Bảng 2.7 Kết quả khảo sát cộng đồng địa phương về du lịch Hậu Giang 105Bảng 2.8 Dự báo lượng khách du lịch đến Hậu Giang 2019 - 2030 116Bảng 2.9 Dự báo cơ sở lưu trú du lịch Hậu Giang 2019 - 2030 116
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Lượt khách du lịch đến Hậu Giang 2010 – 2019 83Biểu đồ 2.2 Doanh thu du lịch tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2016 - 2019 85
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngày nay, cùng với sự phát triển vượt bậc và không ngừng của xã hội, của nền kinh tế tri thức đã đưa con người thoát khỏi sự ràng buộc của nhu cầu sinh tồn mà hướng đến thỏa mãn nhu cầu cao hơn, là nhu cầu hưởng thụ và nhu cầu phát triển Dưới sức ép ngày càng cao của xã hội, của cuộc sống, của công việc luôn làm cho con người rơi vào tình trạng stress; vì vậy mọi người rất cần được nghỉ ngơi, thư giãn nhằm khôi phục lại sức khỏe, tinh thần Do
đó, hoạt động du lịch ngày càng trở thành một hoạt động không thể thiếu trong đời sống hiện đại Hiện nay, ngành du lịch được đánh giá là một trong các loại hình dịch vụ mang lại hiệu quả kinh tế cao góp phần đắc lực vào công cuộc phát triển kinh tế đất nước
Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng chung đó Nhận thấy vai trò
to lớn của ngành du lịch, Đảng và Nhà nước đã xác định “Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao” (Pháp lệnh du lịch, 1999) và đề ra mục tiêu “Phát triển du lịch thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn” (Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, 2001) và “Phát triển du lịch
là một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước” (Chỉ thị 46/CT-TW của Ban Bí thư TW Đảng khóa VII, 1994)
Nằm trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Hậu Giang là một tỉnh có khá nhiều lợi thế cho phát triển kinh tế - xã hội, với hệ thống sông ngòi chằng chịt Là một tỉnh nông nghiệp lâu đời, sản xuất nhiều lương thực và các loại nông, thủy sản có giá trị xuất khẩu Có tài nguyên đất màu mỡ, xóm làng trù phú bốn bề cây cối xanh tươi Tuy nhiên, Hậu Giang không nằm ngoài qui luật phát triển chung của xã hội đang từng ngày vươn lên nhằm khẳng định vị thế của mình, biểu hiện đó là sự chuyển dịch về cơ cấu kinh tế, các ngành
Trang 12dịch vụ trong đó phải kể đến ngành du lịch đang có những bước tiến mới Nhắc đến Hậu Giang là nhắc đến một vùng đồng nước mênh mông vừa giàu về thiên nhiên sinh thái, vừa giàu về truyền thống cách mạng Về thăm Hậu Giang du khách như được trở về với cội nguồn bởi nét hoang sơ thiên nhiên, nhất là vào mùa nước nổi Đến với Hậu Giang du khách sẽ được thưởng thức những thú vị của sông nước, đặc sản sông nước, con người sông nước hiền hòa; đây là những điều hết sức hấp dẫn du khách mọi nơi Bên cạnh
đó, hiện nay tỉnh cũng đã, đang và tiếp tục có những đầu tư thích đáng trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm phục vụ cho nhu cầu du lịch nói riêng và
sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung
Thiên nhiên, truyền thống lịch sử và con người là những nguồn lực quý báu trong hành trang vào thế kỷ XXI của tỉnh Hậu Giang để phát triển một nền kinh tế tổng hợp, đa ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; trong đó có du lịch Tuy nhiên, sự phát triển hoạt động du lịch của tỉnh vẫn chưa tương xứng với tiềm năng đã có, đây là một bài toán cho du lịch tỉnh Hậu Giang.Vấn đề này có nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch của tỉnh còn hạn chế, chất lượng
và số lượng các dịch vụ còn thấp Tài nguyên du lịch hầu như chưa được khai thác và chưa sử dụng có hiệu quả; các khu vui chơi giải trí có khả năng hấp dẫn nhằm kéo dài ngày lưu trú của du khách hầu như chưa có; sản phẩm du lịch còn nghèo nàn, đơn điệu làm hạn chế hoạt động và phát triển du lịch Xuất phát từ những thực tế trên thì việc nghiên cứu phát triển du lịch tỉnh Hậu Giang theo hướng bền vững trở nên là điều rất cần thiết và cấp bách, tạo
đà thúc đẩy sự phát triển du lịch cũng như góp phần phát triển kinh tế - xã hội
của tỉnh Và đó là lí do để tôi chọn và nghiên cứu đề tài: “Phát triển du lịch tỉnh Hậu Giang theo hướng bền vững”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Vận dụng cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển du lịch bền vững trên
Trang 13thế giới và Việt Nam vào nghiên cứu phát triển du lịch Hậu Giang và đưa ra các định hướng và giải pháp phát triển theo hướng bền vững
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Tổng quan một số vấn đề lý luận và thực tiễn về du lịch bền vững trên thế giới và Việt Nam vận dụng vào thực tế phát triển du lịch tỉnh Hậu Giang + Khảo sát, thu thập, tổng hợp, thống kê tư liệu, tài liệu, số liệu có liên quan đến đề tài
+ Phân tích các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Hậu Giang từ năm 2010 - 2019 trên quan điểm phát triển bền vững
+ Đề xuất các định hướng và giải pháp cụ thể nhằm phát triển du lịch tỉnh Hậu Giang đến 2030 theo hướng bền vững
4 Giới hạn nội dung và phạm vi nghiên cứu
+ Thời gian: Luận văn nghiên cứu sử dụng nguồn tư liệu, số liệu có liên
quan trong giai đoạn 2010 – 2019
+ Nội dung: Luận văn tập trung vào việc nghiên cứu tổng quan các cơ
sở lý luận về phát triển du lịch và du lịch bền vững Phân tích các nhân tố ảnh hưởng và hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2010 - 2019
và đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch tỉnh Hậu Giang đến 2030 theo hướng bền vững
+ Không gian: Được giới hạn trong phạm vi địa bàn tỉnh Hậu Giang
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1 Các quan điểm nghiên cứu
5.1.1 Quan điểm hệ thống
Hệ thống lãnh thổ du lịch được cấu thành bởi nhiều phân hệ khác nhau
về bản chất, nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau Quan điểm hệ thống giúp chúng ta nắm bắt và điều khiển được hoạt động của mỗi phân hệ nói riêng và toàn bộ hệ thống du lịch nói chung Hệ thống lãnh thổ du lịch là một
hệ thống mở phức tạp gồm nhiều thành phần có mối liên hệ chặt chẽ với
Trang 14nhau Đây là một dạng đặc biệt của địa hệ mang tính chất hỗn hợp, có đủ các thành phần: tự nhiên, kinh tế, xã hội và chịu sự chi phối của nhiều quy luật cơ bản Vì vậy, quan điểm hệ thống luôn quán triệt trong nghiên cứu luận văn
5.1.2 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Các đối tượng nghiên cứu của địa lý không thể tách rời một lãnh thổ cụ thể với những đặc trưng riêng Lãnh thổ du lịch được tổ chức như là một hệ thống liên kết không gian của các đối tượng du lịch và trên cơ sở của các nguồn tài nguyên, các dịch vụ cho du lịch Quan điểm này được vận dụng vào luận văn thông qua việc phân tích các tiềm năng và những tác động nhiều mặt cho sự phát triển du lịch Hậu Giang theo hướng bền vững
5.1.3 Quan điểm sinh thái bền vững
Phát triển du lịch bền vững phải đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái là rất quan trọng Mục tiêu của du lịch bền vững là bảo vệ tài nguyên và môi trường, tăng cường bảo tồn các tài nguyên tự nhiên, tôn tạo các tài nguyên nhân văn đảm bảo sự phát triển bền vững về sau Vận dụng quan điểm này, tính toàn vẹn lãnh thổ của hệ sinh thái được coi trọng, trong đó các tác động của du lịch đến khả năng chịu đựng của hệ sinh thái cần được tính đến, đảm bảo sự phát triển du lịch trên cơ sở môi trường được bảo tồn một cách có hiệu quả và bền vững Từ đó, quan điểm sinh thái bền vững được quán triệt xem như là một quan điểm chủ đạo trong nghiên cứu của luận văn
5.1.4 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Tất cả các sự vật, hiện tượng đều có sự vận động biến đổi theo quy luật
tự nhiên Nghiên cứu quá khứ để có những đánh giá đúng đắn ở hiện tại, phân tích nguồn gốc phát sinh, phát triển và có cơ sở đưa ra những dự báo về xu hướng phát triển trong tương lai Vận dụng quan điểm này để phân tích các giai đoạn chủ yếu của quá trình hình thành, phát triển hệ thống du lịch, các phân hệ cũng như xu hướng phát triển của hệ thống lãnh thổ
Trang 155.2 Các phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp thông tin, xử lý thông tin
Phương pháp này được sử dụng ngay sau khi đã xác định được hướng nghiên cứu của đề tài Đây là một phương pháp không thể thiếu được trong bất cứ đề tài nghiên cứu nào vì nó sẽ giúp cho đề tài mang tính định lượng và đáng tin cậy hơn
Việc nghiên cứu đề tài được thực hiện dựa trên nhiều nguồn tài liệu, số liệu, thông tin khác nhau Do vậy, phương pháp thu thập, xử lý số liệu, thông tin du lịch là rất quan trọng và cần thiết Những tài liệu, số liệu, thông tin thu thập được phải mang tính chính xác, đầy đủ và cập nhật Trên cơ sở thu thập được, tác giả tiến hành xử lý, đối chiếu, so sánh để có được những nội dung khoa học, chính xác, đầy đủ và đồng bộ về thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Hậu Giang, cũng như việc đưa ra định hướng phát triển của ngành trong tương lai nhằm đảm bảo phát triển bền vững
5.2.2 Phương pháp khảo sát thực địa và điều tra xã hội học
Điều tra thực địa là phương pháp truyền thống của địa lý học, được sử dụng rộng rãi trong địa lý du lịch nhằm tích lũy tài liệu thực tế về sự hình thành, phát triển và đặc điểm của tổ chức lãnh thổ du lịch Các thông tin thu thập được qua điều tra xã hội học giúp các nhà nghiên cứu tổng hợp được các
ý kiến, các quan điểm đa dạng từ du khách, cư dân, các nhà quản lý một cách khách quan mà quan sát của một người không thể có được Trong quá trình nghiên cứu đề tài, phương pháp này luôn được coi trọng nhằm có được cái nhìn thực tế về phát triển du lịch tỉnh Hậu Giang và những đặc trưng của lãnh thổ nghiên cứu Các hoạt động chính trong khi tiến hành phương pháp này bao gồm quan sát, mô tả, điều tra, ghi chép, tham gia các buổi thuyết trình, hội thảo
5.2.3 Phương pháp dự báo
Sử dụng phương pháp này nhằm đưa ra các số liệu dự báo về sự phát
Trang 16triền của hoạt động kinh doanh du lịch trong tương lai Đây là cơ sở quan trọng mang tính chất định hướng, cũng như đề ra các giải pháp nhằm phát triển bền vững du lịch tỉnh Hậu Giang đến năm 2030
5.2.4 Phương pháp biểu đồ, bản đồ
Bản đồ là “ngôn ngữ thứ hai” của nghiên cứu Địa lí, thể hiện sự tổng hợp, ngắn gọn và súc tích; đồng thời đó cũng là phương tiện trực quan hóa các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội của lãnh thổ nói chung, của các yếu tố du lịch và sự phát triển du lịch tỉnh Hậu Giang nói riêng
Biểu đồ được sử dụng để phản ánh qui mô, cơ cấu, động lực của các quá trình hoạt động du lịch của tỉnh Hậu Giang theo không gian và thời gian Cùng với bản đồ, biểu đồ làm cụ thể hóa các quá trình hoạt động du lịch của tỉnh, giúp việc thể hiện kết quả nghiên cứu trở nên trực quan và sinh động hơn
Đây là một phương pháp hữu hiệu giúp chúng ta có thể đánh giá hiện trạng trực quan và sinh động hơn
Đây là một phương pháp hữu hiệu giúp chúng ta có thể đánh giá hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Hậu Giang, đồng thời đưa ra được những định hướng và giải pháp hiệu quả trong phát triển du lịch bền vững tỉnh Hậu Giang
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả vận dụng các kiến thức về bản đồ kết hợp với ứng dụng công nghệ GIS (với sự hỗ trợ đắc lực của các phần mềm máy tính, đặc biệt là phần mềm MAPINFO) để thành lập các bản đồ có liên quan đến đề tài
5.2.5 Phương pháp phân tích hệ thống
Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng và tính xã hội hóa sâu sắc Phân tích hệ thống nhằm thấy rõ vai trò, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố, các thành phần trong hệ thống tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường đối với phát triển du lịch cũng như mối liên hệ giữa phát triển du lịch
Trang 17của địa phương trong hệ thống lãnh thổ du lịch của vùng và cả nước
5.2.6 Phương pháp so sánh
Thông tin, số liệu sau khi được thu thập sẽ được so sánh, phân tích cho phù hợp với mục đích của từng phần Quá trình so sánh các yếu tố như tài nguyên, thực trạng phát triển du lịch… sẽ rút ra được những mặt mạnh, mặt yếu nhằm mang lại cái nhìn khái quát, đầy đủ về du lịch Hậu Giang Qua phân tích, so sánh các thông tin sẽ được chắt lọc với độ tin cậy và hiệu quả cao nhất
6 Những công trình nghiên cứu liên quan
Trên thế giới: Du lịch hiện nay được xem là một trong những ngành kinh
tế rất được quan tâm Vì vậy, hoạt động du lịch được rất nhiều chuyên gia, nhà khoa học và các nhà quản lí quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, mãi đến những năm 80 của thế kỷ XX, khái niệm “phát triển bền vững” mới được xuất hiện và đến đầu những năm 90 khái niệm về “du lịch bền vững” mới được đề cập Từ đó, các nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững đã được tiến hành
“Đáng chú ý là những công trình của một số nhà địa lí cảnh quan của trường Đại học Tổng hợp Matxcơva đã tiến hành nghiên cứu các vùng thích hợp cho mục đích nghỉ dưỡng trên lãnh thổ Liên Xô (trước đây) Các nhà địa lí Anh,
Mỹ và Canada cũng đã tiến hành đánh giá sử dụng tài nguyên thiên nhiên
phục vụ mục đích giải trí du lịch” (Phạm Lê Thảo, luận án tiến sỹ “Tổ chức
lãnh thổ du lịch Hòa Bình trên quan điểm phát triển bền vững”) [41]
Từ đầu những năm 1990 những nghiên cứu về phát triển du lịch trên
quan điểm phát triển bền vững đã được tiến hành Năm 1996, hưởng ứng
Earth Summit, ngành du lịch toàn cầu đại diện bởi ba tổ chức quốc tế gồm
Hội đồng Lữ hành Du lịch Thế giới (WTTC), Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) và Hội đồng Trái đất (Earth Council), đã ứng dụng những nguyên tắc của Agenda 21 vào du lịch, phối hợp xây dựng một chương trình hành động
với tên gọi “Chương trình Nghị sự 21 về Du lịch: Hướng tới phát triển bền
Trang 18vững về môi trường” Chương trình Nghị sự 21 về Du lịch đã nhấn mạnh sự
cần thiết phải phối hợp hành động giữa các Chính phủ, ngành du lịch và các
tổ chức phi Chính phủ trong việc phát triển du lịch theo hướng bền vững Việt Nam, nghiên cứu về du lịch mới được đề cập nhiều vào những năm
1990, khi hoạt động du lịch dần dần trở nên khởi sắc Một số công trình nghiên cứu đã đề cập những khía cạnh khác nhau của hoạt động du lịch như:
Tổ chức lãnh thổ du lịch của Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ (1998) tổng quan
cơ sở lý luận của tổ chức lãnh thổ du lịch, khái quát sự phân hóa lãnh thổ du
lịch Việt Nam và giới thiệu các vùng du lịch Việt Nam; Năm 2000, cuốn Tài
nguyên và môi trường du lịch Việt Nam do Phạm Trung Lương chủ biên đã hệ
thống cơ sở lí luận và thực tiễn trong đánh giá tài nguyên và môi trường du
lịch Việt Nam; Giáo trình Du lịch bền vững của Nguyễn Đình Hoè – Vũ Văn
Hiếu (2001), tổng quan tác động nhiều mặt của hoạt động du lịch đối với môi
trường, giới thiệu sơ lược về du lịch bền vững; Tổng quan du lịch (2002) và
Quy hoạch du lịch những vấn đề lý luận và thực tiễn (2005) của Tiến sỹ Trần
Văn Thông, Qui hoạch du lịch, Tài nguyên du lịch (2007) của Bùi Thị Hải
Yến (chủ biên)… cung cấp những vấn đề lý luận và bức tranh chung về phát
triển du lịch, tài nguyên du lịch Việt Nam; Địa lý du lịch do Nguyễn Minh
Tuệ (chủ biên) và tập thể tác giả (2010) phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến
sự hình thành và phát triển du lịch, tổ chức lãnh thổ du lịch, các vùng du lịch Việt Nam Và đặc biệt, các công trình khoa học của Viện Nghiên cứu Phát
triển Du lịch về Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở
Việt Nam, Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Nam Trung Bộ và Nam
Bộ đến năm 2020; của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Quy hoạch phát triển kinh tế đảo Việt Nam đến năm 2020… đã xác định quan điểm, mục
tiêu, những định hướng và giải pháp chính cho phát triển du lịch Việt Nam Những công trình trên đã phân tích cơ sở lí luận cho phát triển du lịch,
Trang 19đánh giá tổng hợp tài nguyên phục vụ du lịch, dự báo nhu cầu chiến lược phát triển du lịch, đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của phát triển du lịch, là những tài liệu quí giá cho quá trình nghiên cứu của luận án
Tại Hậu Giang công tác nghiên cứu, qui hoạch phát triển du lịch đang được chú trọng, với nhiều dự án đầu tư phát triển các vùng sinh thái du lịch Tuy vậy, Hậu Giang chưa có nghiên cứu nào cho phát triển du lịch theo hướng bền vững Vì vậy, luận văn có thể sẽ đóng góp một phần nào đó cho phát triển du lịch bền vững của tỉnh Hậu Giang
7 Cấu trúc luận văn
Trang 20Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT
Hiện nay, trên thế giới có nhiều học giả đưa ra các định nghĩa khác nhau
về du lịch như sau:
Theo Tổ chức du lịch thế giới IUOTO (international Union of Official Travel Organisation): “Du lịch là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải làm một nghề hay một việc để kiếm tiền sinh sống”
Quan niệm về du lịch được thể hiện trong Tuyên ngôn Manila về du lịch năm 1980 là: “Du lịch được hiểu như hoạt động chủ yếu trong đời sống của các quốc gia do hiệu quả trực tiếp của nó trên các lĩnh vực xã hội, văn hóa, giáo dục, kinh tế của các quốc gia và trong mối quan hệ quốc tế trên thế giới” Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch ở Roma năm 1963: “Du lịch là tổng hoà các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước với mục đích hoà bình Nơi họ đến không phải là nơi làm việc của họ”
Theo điều 4 của Luật Du lịch được Quốc hội thông qua ngày 19/6/2017 định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham
Trang 21quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
1.1.2 Tài nguyên du lịch
Theo luật du lịch Việt Nam (năm 2005) qui định tại điều 4, chương 1 thì cho rằng: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu
tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”
Theo Nguyễn Minh Tuệ và cộng sự, “Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục, phát triển thể lực, trí tuệ của con người, khả năng lao động và sức khỏe của
họ Những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp, cho việc sản xuất dịch vụ du lịch”
Từ những luận điểm trên về tài nguyên du lịch, có thể thấy được điểm chung là: “Tài nguyên du lịch là tất cả những gì thuộc về tự nhiên và các giá trị văn hóa do con người sáng tạo ra có sức hấp dẫn du khách, có thể được bảo
vệ, tôn tạo, sử dụng cho ngành du lịch, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường.”
Như vậy, tài nguyên du lịch là điều kiện cần trong phát triển du lịch, bao gồm tài nguyên du lịch có thể do thiên nhiên tạo ra (tài nguyên thiên nhiên) và cũng có thể do con người tạo ra (tài nguyên nhân văn) đang được khai thác và chưa được khai thác
1.1.3 Phân loại tài nguyên du lịch
Có nhiều cách phân loại tài nguyên du lịch tùy thuộc vào việc sử dụng các tiêu chí khác nhau
Năm 1997, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã phân tài nguyên du lịch thành 3 loại với 9 nhóm tài nguyên, bao gồm:
Trang 22Loại cung cấp tiềm tàng, có 3 nhóm: văn hóa kinh điển, tự nhiên kinh điển, vận động vui chơi
Loại cung cấp hiện tại, có 3 nhóm: giao thông, thiết bị, hình tượng tổng thể
Loại tài nguyên kỹ thuật, có 3 nhóm: khả năng hoạt động, cách thức, tiềm lực khu vực
Ở nước ta, từ cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ XX, có một số tác giả (Vũ Tuấn Cảnh, Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, Đặng Duy Lợi, Phạm Trung Lương) đã phân thành 2 nhóm:
Tài nguyên du lịch tự nhiên: bao gồm địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật
Tài nguyên du lịch nhân văn: gồm có các loại di tích, lễ hội, làng nghề, văn hóa – văn nghệ dân gian, ẩm thực, …
Trong Luật du lịch Việt Nam (năm 2005) thì tài nguyên du lịch cũng được chia làm 2 nhóm cơ bản: Tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn
Tài nguyên tự nhiên
+ Địa hình: Đối với du lịch, điều kiện quan trọng nhất là địa phương
phải có địa hình đa dạng với những đặc điểm tự nhiên như: biển, rừng, sông,
hồ, núi với những phong cảnh đẹp, những nơi có địa hình và phong cảnh đơn điệu thường được cho là tẻ nhạt và không phù hợp với du lịch
+ Khí hậu: Những nơi có khí hậu điều hoà thường được khách du lịch ưa
chuộng Khách du lịch thường tránh những nơi quá lạnh, quá nóng, quá khô, quá ẩm hoặc nhưng nơi có nhiều gió
+ Nguồn nước: Các nguồn tài nguyên nước như: ao, hồ, sông, ngòi,
đầm tạo điều kiện để điều hoà không khí, phát triển giao thông vận tải và tạo điều kiện cho việc phát triển nhiều loại hình du lịch riêng biệt như: du lịch chữa bệnh (bằng nước khoáng, bùn )
Trang 23+ Vị trí địa lý: Thông thường, vị trí địa lý được coi là thuận lợi đối với
du lịch là: điểm du lịch nằm trong khu vực phát triển du lịch, khoảng cách từ điểm du lịch đến các nguồn gửi khách du lịch không quá xa (để khách có thể tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại trong chuyến du lịch của mình Trong một
số trường hợp, khoảng cách xa lại có sức hút đối với khách du lịch có khả năng thanh toán cao và có tính hiếu kỳ
Tài nguyên nhân văn
+ Các giá trị lịch sử là đối tượng quan tâm của khách du lịch có hứng thú hiểu biết Giá trị lịch sử được chia thành 2 nhóm: Nhóm những giá trị lịch sử gắn với nền văn hoá chung của loài người và nhóm những giá trị lịch sử đặc biệt
+ Các phong tục tập quán cổ truyền, các thành tựu về kinh tế của đất nước hay của vùng cũng có sức thu hút đối với khách du lịch
1.1.4.1 Du lịch sinh thái (Ecotourism)
Theo Luật du lịch Việt Nam (năm 2005): “Du lịch sinh thái là hình thức
du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững”
Du lịch sinh thái còn có thể được hiểu bằng nhiều tên gọi khác nhau như:
Du lịch thiên nhiên (Nature Tourism)
Du lịch dựa vào thiên nhiên (Nature – Based Tourism)
Du lịch môi trường (Environmental Tourism)
Du lịch đặc thù (Particular Tourism)
Du lịch xanh (Green Tourism)
Trang 24Du lịch thám hiểm (Adventure Tourism)
Du lịch bản xứ (Indigenous Tourism)
Du lịch có trách nhiệm (Responsible Tourism)
Du lịch nhạy cảm (Sensitized Tourism)
Du lịch nhà tranh (Cottage Tourism)
Du lịch bền vững (Sustainable Tourism)
Du lịch sinh thái là hoạt động nhằm thỏa mãn du khách về việc tìm hiểu các hệ sinh thái tự nhiên và văn hóa bản địa Địa điểm tổ chức loại hình du lịch sinh thái thường là những khu vực có hệ sinh thái còn tương đối hoang
sơ, có phong cảnh đẹp, văn hóa bản địa đang được bảo tồn gần như nguyên vẹn như các vườn quốc gia, các khu dự trữ sinh quyển, các khu bảo tồn thiên nhiên, các làng, bản văn hóa… Loại hình này hiện đang thu hút sự chú ý của hầu hết các du khách yêu chuộng thiên nhiên và văn hóa trên toàn thế giới
1.1.4.2 Du lịch văn hóa
Theo Luật du lịch Việt Nam (năm 2005) : “Du lịch văn hóa là hình thức
du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng động nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống”
Du lịch văn hóa tức là nội dung văn hóa do du lịch – hiện tượng xã hội độc đáo này thể hiện ra, là văn hóa do du khách và người làm công tác du lịch tích lũy và sáng tạo ra trong hoạt động du lịch
Du lịch văn hóa là loại hình du lịch nhằm nâng cao hiểu biết cho du khách về lịch sử, kiến trúc, kinh tế - xã hội, lối sống và phong tục tập quán ở nơi họ đến thăm Địa điểm đến thăm của du khách có thể là các di tích văn hóa – lịch sử, bảo tàng, lễ hội địa phương, liên hoan nghệ thuật, thể thao, …
1.1.4.3 Du lịch MICE
MICE là loại hình du lịch kết hợp với việc thực hiện nhiệm vụ công tác hoặc nghề nghiệp nào đó, như tham dự các hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện, du lịch khen thưởng của các công ty cho nhân viên, đối tác
Trang 25MICE - viết tắt của Meeting (hội họp), Incentive (khen thưởng), Convention (hội nghị, hội thảo) và Exhibition (triển lãm) Tên đầy đủ tiếng Anh là Meeting Incentive Conference Event
Thành phần chính của loại hình MICE thường là những người đại diện cho các giai cấp, Đảng phái, quốc gia, một hãng kinh doanh hay một công ty Các đoàn khách MICE thường rất đông (vài trăm khách) và đặc biệt mức chi tiêu cao hơn khách đi tour bình thường (do Ban tổ chức các hội nghị quốc tế bao giờ cũng đặt phòng cho khách ở khách sạn 4 - 5 sao, dịch vụ cao, các tour sau hội nghị phải thiết kế chuyên biệt theo yêu cầu
MICE hiện là loại hình du lịch mang lại nguồn thu rất lớn cho ngành du lịch ở các nước Địa điểm tổ chức loại hình du lịch này thường là ở các trung tâm thành phố lớn với các yêu cầu đặc thù về cơ sở hạ tầng, hệ thống các dịch
vụ đi kèm cũng như các dịch vụ khác như: ăn uống, vui chơi, mua sắm, kết hợp với xây dựng các tour du lịch, tham quan, nghỉ dưỡng, tổ chức party ngoài trời, xây dựng chương trình team building, hội chợ thương mại… cho
du khách (Theo Trần Văn Thông)
1.1.5 Sản phẩm du lịch
1.1.5.1 Khái niệm
Có rất nhiều khái niệm liên quan đến sản phẩm du lịch
Theo Tiến sĩ Thu Trang Công Thị Nghĩa: “Sản phẩm du lịch là một loại sản phẩm tiêu dùng đáp ứng cho nhu cầu của du khách, nó bao gồm di chuyển, ăn ở và giải trí”
Theo Tiến sĩ Trần Văn Thông, “Sản phẩm du lịch là sự kết hợp hàng hóa
và dịch vụ trên cơ sở khai thác hợp lý tài nguyên du lịch nhằm đáp ứng mọi nhu cầu cho du khách trong hoạt động du lịch”
Tại chương 1, Luật du lịch Việt Nam (2005): “Sản phẩm du lịch là một tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”
Trang 26Tại điều 3, chương 1, Luật du lịch Việt Nam (2017): “Sản phẩm du lịch
là sự kết hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch”
1.1.5.2 Cơ cấu của sản phẩm du lịch
Nội dung cơ cấu cấu của sản phẩm du lịch rất phong phú, đa dạng liên quan đến rất ngành nghề và có thể phân ra các thành phần chủ yếu sau:
Những thành phần tạo lực hút (lực hấp dẫn đối với du khách): bao gồm các điểm du lịch, tuyến du lịch để thỏa mãn nhu cầu tham quan, thưởng ngoạn của du khách; đó là những cảnh quan thiên nhiên đẹp, nổi tiếng, các kỳ quan, các di sản văn hóa thế giới, các di tích lịch sử mang đậm nét đặc sắc văn hóa của các quốc gia, các vùng, …
Cơ sở du lịch (điều kiện vật chất để phát triển ngành du lịch): bao gồm mạng lưới cơ sở lưu trú như khách sạn, làng du lịch để phục vụ cho nhu cầu lưu trú của du khách, cửa hàng phục vụ ăn uống, cơ sở kỹ thuật phục vụ cho vui chơi giải trí của du khách, hệ thống các phương tiện vận chuyển nhằm phục vụ cho việc đi lại của du khách
Dịch vụ du lịch: đây được xem là hạt nhân của sản phẩm du lịch; việc thực hiện nhu cầu chi tiêu du lịch của du khác không tách rời các loại dịch vụ
mà nhà kinh doanh du lịch cung cấp Sản phẩm du lịch mà nhà kinh doanh du lịch cung cấp cho du khách ngoài một số sản phẩm vật chất hữu hình như ăn, uống thì phần nhiều thể hiện bằng các loại dịch vụ Dịch vụ du lịch là một qui trình hoàn chỉnh, là sự liên kết hợp lí các dịch vụ đơn lẻ tạo nên; do vậy phải tạo ra sự phối hợp hài hòa, đồng bộ trong toàn bộ chỉnh thể để tạo ra sự đánh giá tốt của du khách về sản phẩm du lịch hoàn chỉnh (Theo Trần Văn Thông)
1.1.5.3 Các đặc tính của sản phẩm du lịch
Tính tổng hợp
Hoạt động du lịch là hoạt động tổng hợp, bao gồm nhiều mặt như hoạt động xã hội, kinh tế, văn hóa, chính trị, giao lưu quốc tế; bên cạnh đó nhu cầu
Trang 27của du khách cũng hết sức đa dạng, phong phú, vừa bao gồm nhu cầu đời sống vật chất cơ bản vừa bao gồm nhu cầu cuộc sống tinh thần ở cấp cao hơn Tính tổng hợp của sản phẩm du lịch thể hiện ở sự kết hợp các loại dịch
vụ mà cơ sở kinh doanh du lịch cung ứng nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách, nó vừa bao gồm sản phẩm lao động vật chất và phi vật chất Mặt khác, tính tổng hợp của sản phẩm du lịch thể hiện ở việc sản xuất liên quan đến rất nhiều ngành nghề và bộ phận
Do tính tổng hợp của sản phẩm du lịch mà các quốc gia, các vùng du lịch phải tiến hành qui hoạch du lịch toàn diện
Tính không dự trữ
Là một loại sản phẩm dịch vụ, sản phẩm du lịch có tính chất “không thể
dự trữ” như sản phẩm vật chất nói chung, có nghĩa là không thể tồn kho
Sau khi du khách mua sản phẩm du lịch, cơ sở kinh doanh du lịch liền trao quyền sử dụng liên quan trong thời gian qui định Nếu sản phẩm du lịch chưa thể bán ra kịp thời thì không thể thực hiện giá trị của nó, thiệt hại gây nên sẽ không bù đắp được
Đặc tính không thể dự trữ của sản phẩm du lịch cho thấy trong việc sản xuất du lịch và thực hiện giá trị phải lấy việc mua thực tế của du khách làm tiền đề (“khách hàng là thượng đế”)
Tính không thể chuyển dịch
Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch xảy ra song song cùng một thời gian và không gian sản xuất ra chúng; vì vậy du khách chỉ có thể tiêu thụ ở nơi sản xuất ra sản phẩm du lịch chứ không thể như sản phẩm vật chất nói chung có thể chuyển ra khỏi nơi sản xuất và đem đi tiêu thụ ở một nơi khác
Trong quá trình trao đổi sản phẩm du lịch không xảy ra việc chuyển dịch quyền sở hữu sản phẩm, du khách chỉ có quyền sử dụng tạm thời đối với sản phẩm du lịch trong thời gian và địa điểm nhất định chứ không có quyền sở hữu sản phẩm
Trang 28Do tính không thể chuyển dịch của sản phẩm du lịch, việc lưu thông sản phẩm du lịch chỉ có thể biểu hiện ra qua việc thông tin về sản phẩm, nhờ thế dẫn đến sự lưu động của du khách, hiệu suất và tốc độ thông tin về sản phẩm
du lịch sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới lượng cầu du lịch Vì vậy mà công tác tuyên truyền quảng cáo và tiếp thị du lịch có vai trò cực kì quan trọng trong công việc đưa sản phẩm du lịch đến với du khách
Tính dễ dao động (dễ bị thay đổi)
Quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch chịu ảnh hưởng và hạn chế của nhiều nhân tố, trong đó dù chỉ thiếu một điều kiện cũng sẽ ảnh hưởng tới toàn bộ quá trình trao đổi sản phẩm du lịch, ảnh hưởng tới việc thực hiện giá trị sản phẩm du lịch
Con người luôn có nhu cầu khám phá, tìm hiểu cái mới; do vậy du khách
ít trung thành với một sản phẩm du lịch duy nhất, việc tiêu dùng sản phẩm du lịch luôn thay đổi phụ thuộc vào trào lưu tiêu thụ du lịch và mốt du lịch
Do tính dễ dao động của sản phẩm du lịch về sản xuất và tiêu thụ, nơi tới
du lịch phải tuân thủ qui luật phát triển theo tỉ lệ, làm tốt công tác qui hoạch
du lịch, thiết lập và xử lí đúng đắn quan hệ tỉ lệ giữa các bộ phận, giữa các yếu tố
Các tổ chức kinh doanh du lịch cần lấy sự thay đổi nhu cầu của thị trường du lịch làm căn cứ nhằm xác định sách lược kinh doanh, tiêu thụ linh hoạt, thúc đẩy việc thực hiện giá trị sản phẩm du lịch
Tính thời vụ
Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch có tính thời vụ Nguyên nhân là do lượng cung sản phẩm du lịch khá ổn định trong một khoảng thời gian nhất định, trong khi đó nhu cầu thường xuyên thay đổi làm cho quan hệ cung – cầu cũng thay đổi, có thể cung vượt cầu và cũng có thể cầu vượt cung, gây khó khăn lớn trong việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch (Theo Trần Văn Thông)
Trang 291.1.6 Khách du lịch
Tại điều 3, chương 1, luật du lịch Việt Nam (năm 2017): “Khách du lịch
là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến.”
Tuy nhiên, có hai khái niệm khác nhau để phân biệt về thời gian lưu trú của du khách như sau:
- Khách tham quan là du khách dừng chân tìm hiểu và thưởng ngoạn điểm đến chỉ trong ngày
- Khách du lịch là du khách đến tham quan và lưu trú nghỉ lại qua đêm tại địa phương có điểm đến tham quan
Khách du lịch quốc tế (International tourist): Những người được
thống kê là khách du lịch quốc tế phải có những đặc trưng cơ bản sau:
- Là người nước ngoài, người Việt Nam cư trú ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch (khách Inbound)
- Công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch (khách Outbound)
Mục đích chuyến đi của họ là tham quan, thăm thân nhân, tham dự hội nghị, đi công tác, khảo sát thị trường, thể thao, chữa bệnh, hành hương, nghỉ ngơi
Khách du lịch nội địa (Domestic tourist):
Bất kỳ người nào ngụ tại một quốc gia nào, bất kể quốc tịch gì đi du lịch đến một nơi khác với chỗ thường trú của mình trong phạm vi quốc gia trong thời gian 24 giờ hay một đêm và vì bất kỳ lý do nào khác hơn là thực hiện một hoạt động trả công tại nơi đến thăm
1.2 Du lịch bền vững và phát triển du lịch bền vững
1.2.1 Phát triển bền vững
Năm 1980, IUCN - Liên minh Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên cho rằng “phát triển bền vững” phải và cân nhắc đến
Trang 30việc khai thác các tài nguyên có khả năng phục hồi và không phục hồi, cần xem xét các điều kiện khó khăn cũng như thuận lợi trong việc tổ chức xen kẽ các hoạt động ngắn hạn và dài hạn
Đến năm 1987, WCED - Ủy ban môi trường và phát triển thế giới - do
bà Grohalem Brundtland thành lập đã công bố thuật ngữ “phát triển bền
vững” trong bản báo cáo “Tương lai chúng ta” như sau: “Phát triển bền vững
được hiểu là sự phát triển có thể đáp ứng những điều kiện hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”
Tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về phát triển bền vững (năm 2002)
đã xác định “phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững
là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất lượng môi trường sống”
Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam khẳng định “phát
triển bền vững là con đường tất yếu của Việt Nam
Quan điểm phát triển bền vững đã được tái khẳng định trong các văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam
và trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 là: "Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường" và "Phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học"
Mục tiêu của phát triển bền vững: Là “đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên; phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa được ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển xã
Trang 31hội và bảo vệ môi trường”
1.2.2 Du lịch bền vững
Du lịch bền vững là việc di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một cách có trách nhiệm với môi trường để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên (và tất cả những đặc điểm văn hoá kèm theo, có thể là trong quá khứ và
cả hiện tại) theo cách khuyến cáo về bảo tồn, có tác động thấp từ du khách và mang lại những lợi ích cho sự tham gia chủ động về kinh tê-xã hội của cộng đồng địa phương (World Conservation Union,1996)
Theo Hens L,1996: “Du lịch bền vững đòi hỏi phải quản lý tất cả các dạng tài nguyên theo cách nào đó để chúng ta đáp ứng tất cả các nhu cầu kinh
tế , xa hội và thẩm mỹ trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hóa, các quá trình sinh thái cơ bản, đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự sống”
Theo hội đồng du lịch và lữ hành quốc tế (WTTC) (1996) thì: Du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch
mà vẫn đảm bảo những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai”
Du lịch bền vững đòi hỏi phải quản lý tất cả các dạng tài nguyên theo cách nào đó để chúng ta đáp ứng tất cả các nhu cầu kinh tế, xa hội và thẩm
mỹ trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hóa, các quá trình sinh thái cơ bản,
đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự sống
1.2.3 Mục tiêu của du lịch bền vững
- Phát triển gia tăng sự đóng góp của du lịch vào kinh tế và môi trường
- Cải thiện tính công bằng xã hội trong phát triển
- Cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng bản địa
- Đáp ứng cao độ nhu cầu của du khách
- Duy trì chất lượng môi trường
1.2.4 Phát triển du lịch bền vững
Phát triển bền vững là việc quản lý toàn bộ các thành phần cấu thành
Trang 32nghành du lịch đảm bảo phát triển cân bằng để có thể mang lại những kết quả
có lợi về kinh tế, xã hội mang tính lâu dài mà không gây ra những tổn hại cho môi trường tự nhiên và bản sắc văn hoá của du lịch Qúa trình phát triển du lịch bền vững phải kết hợp hài hoà nhu cầu của hiện tại và tương lai trên cả hai góc độ và sản xuất và tiêu dùng du lịch, nhằm mục đích bảo tồn và tái tạo nguồn tài nguyên thiên nhiên, giữ gìn và phát huy bảo sắc văn hoá dân tộc Phát triển du lịch bền vững là sự đáp ứng đầy đủ nhất, tiện nghi nhất các nhu cầu của khách du lịch, tạo sức hút du khách đến vùng, điểm du lịch ngày nay đồng thời bảo vệ và nâng chất lượng cho tương lai Nó được định ra để hướng việc quản lý toàn bộ các tài nguyên, các điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái và các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá kèm theo, theo cách mà chúng ta có thể thoả mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội và thẩm mỹ, đồng thời duy trì tính toàn vẹn về văn hoá, các quá trình sinh thái chủ yếu, sự đa dạng sinh học và các hệ thống duy trì nuôi dưỡng sự sống
Phát triển du lịch bền vững cần phải đảm bảo vấn đề quan trọng nhất là bền vững về môi trường, bền vững về văn hoá xã hội,bền vững về kinh tế
- Đối với văn hoá xã hội thì phát triển bền vững cần phải đảm bảo đem lại lợi ích lâu dài cho xã hội như tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần nâng cao mức sống người dân và ổn định về mặt xã hội, đồng thời bảo tồn các giá trị về văn hoá xã hội
- Đối với sự phát triển bền vững về tài nguyên và môi trường đòi hỏi khai thác, sử dụng tài nguyên để đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai Điều này được thể hiện rõ ở sử dụng tài nguyên một cách hợp lý đảm bảo sự bảo tồn đa dạng sinh học, không có những tác động tiêu cực đến môi trường
1.2.5 Tính tất yếu của phát triển du lịch bền vững
Phát triển du lịch bền vững là tất yếu do các nguyên nhân sau:
- Do đặc tính của nghành du lịch đó là nghành kinh doanh tổng hợp, phức tạp và cần phải có quy hoạch phát triển đồng bộ
Trang 33- Do các yếu tố tạo thành sản phẩm của nghành du lịch phải kết hợp của
cả tài nguyên có khả năng phục hồi, tài nguyên khó phục hồi và hoàn toàn không thể phục hồi được đó là các tài nguyên xã hội, tài nguyên nhân văn và tài nguyên tự nhiên
- Do nhu cầu của khách hay xã hội nói chung về du lịch ngày càng nhiều
và với chất lượng cao hơn và các loại hình du lịch phải phong phú hơn do mức sống của con người nói chung đang được nâng lên rất nhanh, trình độ văn hoá xã hội ngày càng được cải thiện
- Việc phát triển du lịch bền vững mang lại nhiều lợi ích, cụ thể:
Lợi ích cho nhà cung cấp: Các nhà cung cấp kinh doanh do lợi ích có thể có nhiều loại hình, sản phẩm du lịch lớn hơn để có thể cung cấp cho khách
du lịch nhiều sản phẩm, dịch vụ phong phú hơn và có thể thu được lợi nhuận lớn hơn Do tính chu kỳ sống của sản phẩm du lịch và điểm du lịch nên khi phát triển du lịch bền vững sẽ kéo dài tuổi sống của các điểm, các khu du lịch hơn Nhà cung cấp cũng có thể phát triển mở rộng quy mô hoạt động, giảm được rủi ro trong kinh doanh
Lợi ích cho khách du lịch: Khách du lịch có thể được tiếp cận và khám phá, nghiên cứu về các nền văn hoá, hong tục tập quán lâu đời trường tồn qua thời gian, được chiêm ngưỡng, khám phá các phong cảnh, cảnh quan tự nhiên, hoang sơ kết hợp với sự tu bổ, kết hợp với các công trình văn hoá, lịch sử cổ kính và hiện đại, được sử dụng các sản phẩm và du lịch tốt nhất chi phí thấp
Lợi ích cho điểm du lịch: Ban quản lý của các điểm du lịch có thể cung cấp sản phẩm dịch vụ cho các đơn vị kinh doanh và khách du lịch và từ
đó thu lợi nhuận và tiếp tục đầu tư để cải tạo và nâng cấp, bảo vệ cho khu du
lịch, tạo điều kiện công ăn việc làm cho người dân địa phương
Trang 341.2.6 Sự khác biệt giữa phát triển du lịch bền vững với du lịch Đại chúng
- Du lịch bền vững thì được
lập kế hoạch một cách cẩn
thận từ lúc bắt đầu để mang
lại những lợi ích cho cộng
đồng địa phương, tôn trọng
văn hoá, bảo tồn nguồn lợi
nhiều lợi ích được nằm lại
với cộng đồng địa phương
và các nguồn lợi tự nhiên,
các giá trị văn hoá của vùng
thời còn đóng góp vào công
tác bảo tồn và sức khoẻ của
cộng đồng về cả mặt kinh tế
- Du lịch đại chúng không được lập kế hoạch cẩn thận cho việc nâng cao công tác bảo tồn hoặc giáo dục, không mang lại những lợi ích cho cộng đồng địa phương và có thể phá huỷ nhanh chóng các môi trường nhạy cảm
- Kết quả của du lịch đại chúng là có thể phá huỷ hoặc làm thay đổi một cách không thể nhận ra được các nguồn lợi và văn hoá mà chúng phụ thuộc vào
- Trong nhiều trường hợp, các hoạt động du lịch đại chúng trong quá khứ có thể mang đến những tác động xấu đến bảo tồn biển do việc thiếu các điều khiển quản lý và
cơ chế lập kế hoạch hiệu
Trang 35và xã hội Du lịch bền vững
cũng tạo ra lợi nhuận như
du lịch đại chúng, tuy nhiên
cộng đồng địa phương được
hưởng nhiều hơn từ lợi tức
đó, và các nguồn lợi tài
nguyên thiên nhiên và văn
hoá của vùng được bảo vệ
- Những cơ hội và các đe doạ
có thể chỉ được điều khiển
- Du lịch đại chúng không cung cấp nguồn quỹ tài trợ cho cả các chương trình bảo tồn lẫn cộng đồng địa phương bảo vệ vùng tránh khỏi những hoạt động và phát triển mà có thể gây hại đến cảnh đẹp tự nhiên của vùng
Tóm tắt
1 Được lập kế hoạch với 3 1 Có một mục đích: lợi tức
Trang 36mục đích: lợi tức, môi
trường và cộng đồng (3 bộ
phận)
2 Thường được lập kế hoạch
trước cùng với sự tham gia
của các bên liên quan
3 Định hướng đến địa phương
4 Do địa phương điều khiển,
ít nhất là một phần
5 Tập trung vào các kinh
nghiệm giáo dục
6 Bảo tồn nguồn lợi tự nhiên
được xem là ưu tiên
7 Đánh giá văn hoá địa
phương là ưu tiên
8 Có nhiều lợi tức được để lại
cho cộng đồng địa phương
và khu bảo tồn biển
2 Thường không được lập kế hoạch từ trước; “chỉ đến lúc xảy ra”
6 Không ưu tiên cho bảo tồn
7 Không ưu tiên cho cộng đồng
8 Phần lớn lợi tức được đưa
về cho các nhà điều hành và đầu tư từ bên ngoài
1.2.7 Mối quan hệ biện chứng giữa 3 bộ phận của phát triển du lịch bền vững: (lợi ích kinh tế; lợi ích văn hóa xã hội; bảo vệ môi trường)
Theo International Ecotourism Society (2004), mối quan hệ biện chứng giữa 3 bộ phận của phát triển du lịch bền vững (3 chân) bao gồm lợi ích kinh
tế; lợi ích văn hóa – xã hội; bảo vệ môi trường
Lợi ích kinh tế
Du lịch bền vững đóng góp về mặt kinh tế cho cộng đồng và tạo ra những thu nhập công bằng và ổn định cho cộng đồng địa phương cũng như càng nhiều bên liên quan khác càng tốt Nó mang lợi ích cho người chủ, cho
Trang 37nhân viên và cả người xung quanh Nó không bắt đầu một cách đơn giản để sau đó sụp đổ nhanh do các hoạt động kinh doanh nghèo nàn
Mỗi đơn vị kinh doanh du lịch có đủ 3 tiêu chí trên thì sẽ” kinh doanh tốt nhờ làm tốt” Điều này có nghĩa là việc thực hiện kinh doanh du lịch trong nhiều cách có thể không phá huỷ các nguồn lợi tự nhiên, văn hoá và kinh tế, nhưng cũng khuyến khích đánh giá cao những nguồn lợi mà du lịch phụ thuộc vào Việc kinh doanh mà được thực hiện dựa trên 3 tiêu chí này có thể tăng cường việc bảo tồn nguồn lợi tự nhiên, đánh giá cao giá trị văn hoá và mang lợi tức đến cho cộng đồng và có thể cũng sẽ thu lợi tức
Lợi ích văn hóa – xã hội
Tôn trọng văn hóa và truyền thống của địa phương (không gây hại đến các cấu trúc xã hội hoặc văn hoá của cộng đồng nơi mà chúng được thực hiện)
Khuyến khích các bên liên quan (các cá nhân, cộng đồng, nhà điều hành tour và các nhà quản lý du lịch) trong tất cả các giai đoạn của việc lập kế hoạch, phát triển và giám sát, giáo dục các bên liên quan về vai trò của họ trong việc bảo tồn văn hóa
Bảo vệ môi trường
Du lịch bền vững giảm thiểu các tác động đến môi trường (thực, động vật; các sinh cảnh sống, nguồn lợi sống; sử dụng năng lượng và ô nhiễm…)
và cố gắng đến mức cao nhất có lợi cho môi trường
1.2.8 Những nguyên tắc đảm bảo cho phát triển du lịch bền vững
1.2.8.1 Khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên một cách bền vững
Phát triển du lịch bền vững cần đảm bảo lưu lại cho các thế hệ tương lai nguồn tài nguyên không kém hơn so với những gì mà các thế hệ trước được hưởng
Vì vậy, trong quá trình khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên cần phải tính đến các giải pháp nhằm ngăn chặn sự mất đi của các loại sinh vật, sự suy
Trang 38giảm những chức năng thiết yếu của các hệ sinh thái có giá trị du lịch như các rừng nguyên sinh, các rạn san hô,… Ngăn chặn sự phá hoại các giá trị văn hoá lịch sử, truyền thống dân tộc; Phát triển và thực thi các chính sách môi trường hợp lý trong mọi lĩnh vực của du lịch; Bảo vệ và ủng hộ việc thừa hưởng các di sản văn hoá và lịch sử của các dân tộc, tôn trọng các quyền lợi của người dân địa phương trong việc khai thác các tài nguyên du lịch
1.2.8.2 Hạn chế việc sử dụng quá mức tài nguyên và giảm thiểu chất thải
Tiêu thụ quá mức các nguồn tài nguyên dẫn đến sự huỷ hoại môi trường địa phương, đi ngược lại sự phát triển bền vững lâu dài của ngành công nghiệp du lịch Giảm tiêu thụ quá mức và giảm chất thải sẽ tránh được những chi phí tốn kém cho việc hồi phục tổn hại về môi trường và đóng góp cho chất lượng của du lịch
Việc khai thác sử dụng quá mức tài nguyên và không kiểm soát được lượng chất thải từ hoạt động du lịch sẽ góp phần dẫn đến sự suy thoái môi trường mà hậu quả của nó là sự phát triển không bền vững của du lịch nói riêng và kinh tế – xã hội nói chung
1.2.8.3 Phát triển du lịch gắn liền với việc bảo tồn tính đa dạng
Tính đa dạng về thiên nhiên, về văn hoá và xã hội là nhân tố đặc biệt quan trọng tạo nên sự hấp dẫn của du lịch, làm thoả mãn nhu cầu đa dạng của
du khách, tăng cường sự phong phú về sản phẩm du lịch Sự đa dạng của môi trường tự nhiên, văn hoá và xã hội là một thế mạnh tránh việc quá phụ thuộc vào một hay một vài nguồn hỗ trợ sinh tồn Đa dạng là trụ cột chính của ngành công nghiệp du lịch Đa dạng là một nhân tố quan trọng quyết định sự lựa chọn nơi tham quan của du khách, là mối quan tâm, là nguồn lợi của các nhà điều hành du lịch Nơi nào có tính đa dạng cao về thiên nhiên, văn hoá và
xã hội, nơi đó sẽ có khả năng cạnh tranh cao về du lịch và có sức hấp dẫn lớn, đảm bảo cho sự phát triển Việc duy trì và phát triển tính đa dạng của thiên
Trang 39nhiên, văn hoá và xã hội là rất quan trọng đối với du lịch bền vững, là chỗ dựa sinh tồn của ngành công nghiệp du lịch
1.2.8.4 Phát triển phải phù hợp với quy hoạch tổng thể kinh tế – xã hội
Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng cao vì vậy mọi phương án khai thác tài nguyên để phát triển phải phù hợp với các quy hoạch chuyên ngành nói riêng và quy hoạch tổng thể kinh tế – xã hội nói chung ở phạm vi quốc gia, vùng và địa phương Ngoài ra, đối với mỗi phương
án phát triển cần tiến hành đánh giá tác động môi trường nhằm hạn chế các tác động tiêu cực đến tài nguyên và môi trường Điều này sẽ góp phần đảm bảo cho sự phát triển bền vững của du lịch trong mối quan hệ với các ngành kinh tế khác cũng như với việc sử dụng có hiệu quả tài nguyên, đảm bảo môi trường
1.2.8.5 Chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương
Để phát triển kinh tế – xã hội nói chung và từng ngành kinh tế nói riêng việc khai thác các tiềm năng tài nguyên là tất yếu Tuy nhiên, thực tế cho thấy trên một địa bàn lãnh thổ nếu mỗi ngành chỉ biết đến lợi ích của mình không
có sự hỗ trợ đối với sự phát triển kinh tế và chia sẻ quyền lợi với cộng đồng địa phương thì sẽ làm cho kinh tế và cuộc sống người dân địa phương gặp nhiều khó khăn Điều này buộc cộng đồng địa phương phải khai thác tối đa các tiềm năng tài nguyên của mình làm đẩy nhanh quá trình cạn kiệt tài nguyên và tổn hại đến môi trường sinh thái Kết quả các quá trình đó sẽ gây những tác động tiêu cực đến sự phát triển bền vững của ngành du lịch nói riêng và kinh tế – xã hội nói chung Ngành du lịch hỗ trợ tích cực các hoạt động kinh tế địa phương và có tính đến các giá trị và chi phí về mặt môi trường thì mới bảo vệ được các nền kinh tế địa phương Chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương là một nguyên tắc quan trọng trong phát triển du lịch bền vững
Trang 401.2.8.6 Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương
Cư dân địa phương, nền văn hoá, lối sống và truyền thống của địa phương là những nhân tố quan trọng thu hút khách du lịch tới điểm du lịch Khi cộng đồng được tham gia chỉ đạo phát triển du lịch thì sẽ tạo ra được những điều kiện đặc biệt thuận lợi cho du lịch bởi cộng đồng là chủ nhân và
là người có trách nhiệm chính với tài nguyên và môi trường khu vực Điều này sẽ tạo ra khả năng phát triển lâu dài của du lịch
Thường xuyên trao đổi tham khảo ý kiến với cộng đồng địa phương và các đối tượng có liên quan
Trao đổi tham khảo ý kiến quần chúng là một quá trình nhằm dung hoà giữa phát triển kinh tế với những mối quan tâm lớn hơn của cộng đồng địa phương, với những tác động tiềm ẩn của sự phát triển lên môi trường tự nhiên, văn hoá – xã hội Quá trình tham khảo ý kiến trong trường hợp này có
ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi nó bao hàm việc trao đổi thông tin, ý kiến, đánh giá và hành động dựa vào kỹ năng, kiến thức và các nguồn lực địa phương Việc tham khảo ý kiến trên diện rộng vì lợi ích của cả cộng đồng địa phương, du khách, và các ngành công nghiệp là việc làm hết sức cần thiết đối với mục tiêu phát triển du lịch bền vững
1.2.8.7 Chú trọng việc đào tạo nâng cao nhận thức về tài nguyên môi trường
Đối với bất kỳ sự phát triển nào, con người luôn đóng vai trò quyết định Một lực lượng lao động được đào tạo có trình độ nghiệp vụ không những đem lại lợi ích về kinh tế cho ngành mà còn nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch Một đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ nghiệp vụ, có hiểu biết cao về văn hoá, môi trường là yếu tố quan trọng nếu không nói là quyết định để đảm bảo cho chất lượng của sản phẩm du lịch, là một trong những nguyên tắc then chốt đối với sự phát triển du lịch bền vững