hay những di tích lịch sử - văn hóa như đền thờ Lương Văn Chánh, mộ và đền thờ Lê Thành Phương, chùa Đá Trắng, địa đạo Gò Thì Thùng, làng Ngân Sơn – Chí Thạnh,…và các lễ hội dân gian nhi
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên của Khóa luận, em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong khoa Địa
Lý, trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng đã nhiệt tình truyền đạt những kiến thức cần thiết cho em trong quá trình học tập tại trường Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến đến Ths Nguyễn Đặng Thảo Nguyên – Khoa Đại Lý đã hướng dẫn em một cách tận tình, chu đáo trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này
Em cũng gửi lời cảm ơn đến tất cả người thân, bạn bè và tập thể lớp 13CDDL đã giúp đỡ động viên em trong thời gian nghiên cứu đề tài
Vì năng lực và kinh nghiệm của bản than còn hạn chế nên khóa luận không sao tránh khỏi những điều thiếu sót Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn Em Xin chân thành cảm ơn!
Cuối cùng em xin chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp trồng người cao quý
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
CSHT Cơ sở hạ tầng CSVCKT Cơ sở vật chất kỹ thuật DSVH Di sản văn hóa
HĐND Hội đồng nhân dân
Sở VHTTDL Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch TNDL Tài nguyên du lịch
TP Thành phố UBND Ủy ban nhân dân
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bản đồ 2.4 Bản đồ cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch tỉnh Phú Yên 26
Trang 6MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
2.1 Mục đích nghiên cứu 2
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Lịch sử nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
5.1 Phương pháp thống kê tài liệu: 3
5.2 Phương pháp bản đồ, biểu đồ: 3
5.3 Phương pháp khảo sát thực địạ: 4
6 Bố cục đề tài 4
B NỘI DUNG 5
CHƯƠNG1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT CỦA 5
NGÀNH DU LỊCH TỈNH PHÚ YÊN 5
1.1 Các khái niệm liên quan đến du lịch 5
1.1.1 Khái niệm về du lịch 5
1.1.2 Khái niệm về sản phẩm và loại hình du lịch 7
1.1.2.1 Sản phẩm du lịch 7
1.1.2.2 Loại hình du lịch 7
1.1.3 Khái niệm về thị trường du lịch 8
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển du lịch 8
1.2.1 Tài nguyên du lịch 8
1.2.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 10
1.2.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 10
1.2.2 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật 12
1.2.2.1 Cơ sở hạ tầng (CSHT) 12
1.2.2.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật (CSVCKT) du lịch 12
1.2.3 Nguồn nhân lực 13
Trang 71.3 Một số bài học kinh nghiệm về phát triển du lịch của các địa phương 13
1.3.1 Tạo thương hiệu điểm đến du lịch 13
1.3.2 Kinh nghiệm cho du lịch Phú Yên 15
1.3.2.1 Giải quyết các thực trạng đang tồn tại 15
1.3.2.2 Kinh nghiệm học được 16
Tiểu kết chương 1 16
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH PHÚ YÊN 17
2.1 Tiềm năng phát triển du lịch tỉnh Phú yên 17
2.1.1 Vị trí địa lí 17
2.1.2 Tài nguyên du lịch 18
2.1.2.1 Tài nguyên và điều kiện thiên nhiên 18
Bản đồ 2.2: Bản đồ tài nguyên du lịch tự nhiên tỉnh Phú Yên 18
2.1.2.1.1 Địa hình 18
2.1.2.1.3 Thủy Văn 20
2.1.2.1.4 Tài nguyên sinh vật 20
2.1.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 21
2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 24
2.1.3.1 Cơ sở hạ tầng 24
2.1.3.2 Cơ sở vật chất kĩ thuật 26
2.1.3.3 Nguồn nhân lực du lịch 29
2.2 Tác động của các tiềm năng đến thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Yên 31
2.2.1 Loại hình, sản phẩm du lịch 31
2.2.2 Thị trường du lịch 32
2.2.3 Doanh thu và lượt khách 33
2.2.3.1 Doanh thu 33
2.2.3.2 Lượt khách du lịch 34
2.2.4 Hoạt động lữ hành 34
2.2.5 Họat động xúc tiến du lịch 37
2.2.6 Nguồn nhân lực du lịch 38
2.2.7 Khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường du lịch 39
2.3 Đánh giá thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Yên 41
2.3.1 Những kết quả đạt được 41
Trang 82.3.2 Những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân 42
2.3.2.1 Hạn chế 42
2.3.2.2 Nguyên nhân 43
Tiểu kết chương 2 46
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH PHÚ YÊN 47
3.1 Phương hướng phát triển du lịch tỉnh Phú Yên 47
3.1.1 Quan điểm phát triển du lịch tỉnh Phú Yên 47
3.1.2 Mục tiêu phát triển du lịch Phú Yên 48
3.1.2.1 Mục tiêu chung 48
3.1.2.2 Mục tiêu cụ thể 48
3.1.3 Phương hướng phát triển du lịch tỉnh Phú Yên 49
3.1.3.1 Thị trường khách du lịch 49
3.1.3.2 Phát triển loại hình và sản phẩm du lịch 49
3.1.3.3 Đầu tư phát triển du lich 50
3.2 Cơ hội và thách thức cho sự phát triển du lịch tỉnh Phú Yên 50
3.2.1 Cơ hội phát triển du lịch tỉnh Phú Yên 50
3.2.2 Thách thức cho ngành du lịch tỉnh Phú Yên 52
3.3 Các giải pháp nhằm phát triển du lịch tỉnh Phú Yên 54
3.3.1 Nhóm giải pháp chung cho ngành du lịch tỉnh Phú Yên 54
3.3.1.1 Giải pháp về tổ chức quản lý 54
3.3.1.2 Giải pháp đầu tư và thu hút vốn đầu tư phát triển du lịch 55
3.3.1.3 Giải pháp xây dựng các sản phẩm du lịch đa dạng, mang đặc sắc riêng dựa trên thế mạnh về tiềm năng du lịch của Phú Yên 57
3.3.1.4 Giải pháp tuyên truyền, quảng bá du lịch 61
3.3.1.5 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 62
3.3.1.6 Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế 63
3.3.1.7 Giải pháp bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch 64
3.3.1.8 Mở rộng hợp tác, liên kết phát triển du lịch 66
3.3.1.9 Giải pháp phát triển du lịch có sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương 68
Trang 93.3.2 Nhóm giải pháp hoạt động của các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh Phú
Yên 69
3.3.2.1 Chủ động nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường 69
3.3.2.2 Đề cao trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp 69
3.3.2.3 Tăng cường đầu tư mới, nâng cấp cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ khách du 70
lịch, khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch của tỉnh, mở rộng các sản phẩm dịch vụ du lịch đặc trưng, xây dựng các tour tuyến của địa phương 70
3.3.2.4 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 71
Tiểu kết chương 3 72
C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74
1 Kết luận 74
2 Kiến nghị 76
2.1 Cần có cơ chế chính sách đãi ngộ phù hợp để thu hút nguồn lao động 76
2.2 Ban hành cơ chế chính sách đền bù thỏa đáng cho người dân vùng quy hoạch, đồng thời tạo công ăn việc làm, chỗ định cư mới cho người dân 77
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
TIẾNG VIỆT 78
Trang 10A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Có thể nhận thấy, du lịch là một ngành kinh tế phát triển nhanh, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao Đây không chỉ là một ngành có khả năng tạo ra nguồn thu nhập rất lớn cho xã hội mà còn góp phần thực hiện chính sách mở cửa, giao lưu văn hóa, thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, giải quyết các vấn đề xã hội, tạo ra nhiều việc làm cho mọi người
Với những điều kiện về tự nhiên, cùng nền văn minh cũng như lịch sử đấu tranh lâu đời, Việt Nam có những tiềm năng, thế mạnh riêng để phát triển du lịch so với các quốc gia khác Đó là tiềm năng lớn vô cùng phong phú, Việt Nam coi du lịch là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, đồng thời thông qua đó để chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước Trong bối cảnh đó, việc phát triển du lịch của Phú Yên là phù hợp với xu thế của thời đại, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Phú Yên là tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ, có vị trí địa lý tốt và nằm trên trục giao thông lớn, gần với tam giác kinh tế Đông Nam Bộ là cửa ngõ của Tây Nguyên, của đường xuyên Á ra biển nối với đường hàng hải quốc tế Một trong những thế mạnh lớn nhất của tỉnh, đó là tiềm năng du lịch biển với bờ biển đẹp thuận lợi cho việc phát triển du lịch Hầu như địa phương nào cũng có những danh thắng, di tích mang giá trị về mặt văn hóa, lịch sử, tâm linh và nghỉ dưỡng Những thắng cảnh thiên nhiên nổi tiếng như gành Đá Đĩa, đầm Ô Loan, núi Đá Bia, hòn Vọng Phu, rừng dừa Sông Cầu, hòn Chùa, Vũng Lắm, Vũng Rô… hay những di tích lịch sử - văn hóa như đền thờ Lương Văn Chánh, mộ và đền thờ Lê Thành Phương, chùa Đá Trắng, địa đạo
Gò Thì Thùng, làng Ngân Sơn – Chí Thạnh,…và các lễ hội dân gian nhiều màu sắc với những loại hình phong phú từ núi xuống biển như: Đâm trâu, bỏ mả, cầu ngư, hát bài chòi, nguyên tiêu, cúng tá điền tá thổ,… cùng với cộng đồng dân cư đa sắc tộc: Kinh, Hoa, Chăm, Bahna, Êđê… Đặc biệt, khi các điểm du lịch khác đã bão hòa, Phú Yên đang nổi lên như một điểm đến mới thu hút khách
Với nhiều lợi thế, danh lam thắng cảnh đẹp, tuy nhiên, tiềm năng to lớn của tỉnh Phú Yên đến nay vẫn chưa được khai thác để góp phần phát triển kinh tế xã hội, dẫn đến sự “tụt hậu” về kinh tế cũng như du lịch khá xa so với một số tỉnh trong khu vực Thực lực kinh tế và cơ sở vật chất còn hạn chế; sản phẩm du lịch đơn điệu, trùng lắp,
Trang 11nghèo nàn; chất lư/ợng các dịch vụ còn yếu kém Quy mô và chất lượng các loại hình
du lịch chưa ngang tầm với tiềm năng, lợi thế đặc thù của địa phương, phát triển du lịch chưa gắn với phát huy bản sắc văn hóa dân gian và lễ hội truyền thống Những tiềm năng du lịch Tỉnh Phú Yên nhiều nhưng chưa được khai thác có hiệu quả đúng với tiềm năng của nó
Xuất phát từ thực tế trên,góp phần phát triển kinh tế tỉnh Phú Yên tôi đã mạnh dạn
chọn đề tài “ Nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển du lịch tỉnh Phú Yên”
làm khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích tổng quát của đề tài là nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp góp phần phát triển du lịch của tỉnh Phú Yên
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng quan nghiên cứu cơ sở lý luận về du lịch; kinh nghiệm phát triển du lịch của một số địa phương trong vùng duyên hải Nam Trung Bộ, thông qua đó rút ra các bài học nhằm phát triển du lịch tỉnh Phú Yên
Phân tích tiềm năng về tự nhiên, kinh tế - xã hội và tác động của chúng đến thực trạng phát triển của ngành du lịch tỉnh Phú Yên; xác định được điểm mạnh, điểm yếu,
cơ hội, thách thức cũng như đánh giá những kết quả đạt đươc, chỉ rõ những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân làm du lịch Phú Yên chậm phát triển
Đề xuất các giải pháp khắc phục những hạn chế góp phần phát triển du lịch tỉnh
Phú Yên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những tiềm năng cũng như nguồn lực của ngành du lịch tỉnh Phú Yên
Nghiên cứu thực trạng hoạt động của ngành du lịch tỉnh Phú Yên trong những năm
Trang 12Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu thưc trạng phát triển du lịch của tỉnh Phú Yên từ
2005 đến nay, định hướng, đề xuất giải pháp phát triển
“Du lịch duyên hải Nam Trung Bộ - Quy hoạch đúng sẽ tăng trưởng” của tác giả Nguyễn Tiến Sĩ,,và các báo cáo tổng hợp quy hoạch phát triển du lịch của các Sở Văn hóa Thể thao và du lịch của các địa phương
Ở Phú Yên, cũng có các công trình nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề
du lịch như: Phát triển du lịch sinh thái tỉnh Phú Yên của tác giả Nguyễn Thị Lệ Chi, Ngoài ra còn có một số bài báo, tạp chí, thông tin khoa học cũng nghiên cứu vấn đề trên Song cho đến nay, vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Yên, vì vậy tôi mạnh dạn nghiên cứu về vấn đề này hi vọng
đóng góp vào sự phát triển du lịch tỉnh Phú Yên
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thống kê tài liệu:
Những tài liệu thống kê của hoạt động du lịch liên quan với nhiều lĩnh vực như lượng khách, doanh thu, đầu tư, là những số liệu mang tính định lượng Trên cơ sở khai thác từ nhiều nguồn như Tổng cục du lịch, viện nghiên cứu phát triển du lịch, các thống kê tình hình du lịch của sở du lịch, các cửa khẩu quốc tế, được đưa vào xử lý phân tích, từ đó rút ra những kết luận, đánh giá có tính thực tiễn cao
5.2 Phương pháp bản đồ, biểu đồ:
Việc trình bày các dữ kiện du lịch trên bản đồ rất cần thiết vì nó giúp chúng ta dễ
dàng nắm bắt những thong tin quan trọng, cập nhật đáp ứng cho việc đi lại tham quan, giải trí, ăn ở Những bản đồ du lịch thường được thực hiện trên các bản đồ chức năng như: địa hình, GTVT, kinh tế, dân cư tài nguyên du lịch,… từ đó bản đồ du lịch sẽ thể
Trang 13hiện những thông tin cần thiết cho khách du lịch Phương pháp áp dụng với sự trợ giúp của hệ thống thong tin địa lý GIS có phần mềm Mapinfo
5.3 Phương pháp khảo sát thực địạ:
Ngành du lịch rất gắn bó với thực tế tự nhiên, xã hội Phương pháp này giúp chúng
ta tiếp cận một cách chủ động sát sao Đặc biệt là công tác điều tra những điểm du lịch phổ biến ở những nơi hoạt động du lịch diễn ra ở mức độ cao Công tác quan sát, điều tra, phân tích miêu tả, chụp ảnh tư liệu các điểm nghiên cứu cũng như trao đổi bàn bạc với người dân sở tại, chính quyền và trwucj tiếp các buổi báo cáo thuyết minh giúp chúng ta tránh được sự chủ quan, làm tang khả năng am hiểu thưc tế, khả năng vận dụng nhanh chóng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất
6 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung của khóa luận được triển khai thành 3 chương:
Chương 1 cơ sở lý luận và thực tiễn phát của ngành du lịch tỉnh phú yên
Chương 2 thực trạng phát triển du lịch tỉnh phú yên
Chương 3 Định hướng và giải pháp nhằm phát triển du lịch phú yên
Trang 14B NỘI DUNG CHƯƠNG1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT CỦA
NGÀNH DU LỊCH TỈNH PHÚ YÊN 1.1 Các khái niệm liên quan đến du lịch
1.1.1 Khái niệm về du lịch
Ngày nay du lịch trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến Hiệp hội lữ hành quốc tế đã công nhận du lịch là một ngành kinh tế lớn nhất thế giới vượt lên cả ngành sản xuất ô tô, thép điện tử và nông nghiệp Vì vậy, du lịch đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia trên thế giới Thuật ngữ du lịch đã trở nên khá thông dụng, nó bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với ý nghĩa là đi một vòng Du lịch gắn liền với nghỉ ngơi, giải trí, tuy nhiên do hoàn cảnh, thời gian và khu vực khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau nên khái niệm du lịch cũng không giống nhau Luật Du lịch Việt Nam 2005 đã đưa ra khái niệm như sau: “Du lịch là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
Theo liên hiệp Quốc các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of Official Travel Oragnization: IUOTO): Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với điạ điểm cư trú thường xuyên cuả mình nhằm mục đích không phải
để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống
Tại hội nghị LHQ về du lịch họp tại Roma – Italia (21/8 – 5/9/1963), các chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú cuả cá nhân hay tập thể
ở bên ngoài nơi ở thường xuyên cuả họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình Nơi
họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc cuả họ
Theo các nhà du lịch Trung Quốc: họat động du lịch là tổng hoà hàng loạt quan hệ
và hiện tượng lấy sự tồn tại và phát triển kinh tế, xã hội nhất định làm cơ sở, lấy chủ thể du lịch, khách thể du lịch và trung gian du lịch làm điều kiện
Theo I.I pirôgionic, 1985: Du lịch là một dạng hoạt động cuả dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghĩ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ
Trang 15nhận thức văn hoá hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh
tế và văn hoá
Theo nhà kinh tế học người Áo Josep Stander nhìn từ góc độ du khách: Khách du lịch là loại khách đi theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thoả mãn sinh họat cao cấp mà không theo đuổi mục đích kinh tế Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian cuả du khách: du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc
Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghĩ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác
Nhìn từ góc độ nhu cầu của du khách: Du lịch là một sản phẩm tất yếu của sự phát triển kinh tế - xã hội của loài người đến một giai đoạn phát triển nhất định chỉ trong hoàn cảnh kinh tế thị trường phát triển, gia tăng thu nhập bình quân đầu người, tăng thời gian rỗi do tiến bộ cuả khoa học - công nghệ, phương tiện giao thông và thông tin ngày càng phát triển, làm phát sinh nhu cầu nghĩ ngơi, tham quan du lịch cuả con người Bản chất đích thực của du lịch là du ngoạn để cảm nhận những giá trị vật chất và tinh thần có tính văn hoá cao
Xét từ góc độ các quốc sách phát triển du lịch: Dựa trên nền tảng của tài nguyên du lịch để hoạch định chiến lược phát triển du lịch, định hướng các kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn lựa chọn các sản phẩm du lịch độc đáo và đặc trưng từ nguốn nguyên liệu trên, đồng thời xác định phương hướng qui hoạch xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật và cơ sở hạ tầng dịch vụ du lịch tương ứng
Xét từ góc độ sản phẩm du lịch: Sản phẩm đặc trưng cuả du lịch là các chương trình du lịch, nội dung chủ yếu cuả nó là sự liên kết những di tích lịch sử, di tích văn hoá và cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng cùng với cơ sở vật chất - kỹ thuật như cơ sở lưu trú, ăn uống, vận chuyển
Xét từ góc độ thị trường du lịch: Mục đích chủ yếu của các nhà tiếp thị du lịch là tìm kiếm thị trường du lịch, tìm kiếm nhu cầu cuả du khách để “mua chương trình du lịch”
Trang 161.1.2 Khái niệm về sản phẩm và loại hình du lịch
1.1.2.1 Sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch cũng là một dạng sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch của con người Trong đó, nhu cầu du lịch là sự mong muốn của con người đi đến một nơi khác với nơi ở của mình để có được những xúc cảm mới, trải nghiệm mới, hiểu biết mới, để phát triển các mối quan hệ xã hội, phục hồi sức khoẻ, tạo sự thoải mái dễ chịu
về tinh thần Nhu cầu của khách du lịch: những mong muốn cụ thể của khách du lịch trong chuyến du lịch cụ thể
Theo nghĩa rộng: Từ góc độ thỏa mãn chung của sản phẩm du lịch Sản phẩm du lịch là sự kết hợp các dịch vụ hàng hóa cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực:
cơ sở vật chất kỹ thuật và nhân lực tại một cơ sở, một vùng, địa phương hay của một quốc gia
Theo nghĩa hẹp: Từ góc độ thỏa mãn đơn lẻ từng nhu cầu đi du lịch Sản phẩm du lịch là sản phẩm hàng hóa cụ thể thỏa mãn các nhu cầu khi đi du lịch của con người
Có nghĩa là bất cứ cái gì có thể mang ra trao đổi để thỏa mãn mong muốn của khách
du lịch Bao gồm sản phẩm hữu hình và sản phẩm vô hình Ví dụ: món ăn, đồ uống, chỗ ngồi trên phương tiện vận chuyển, buồng ngủ, tham quan, hàng lưu niệm
Theo quan điểm Marketting: "Sản phẩm du lịch là những hàng hoá và dịch vụ có thể thoả mãn nhu cầu của khách du lịch, mà các doanh nghiệp du lịch đưa ra chào bán trên thị trường, với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm và tiêu dùng của khách du lịch"
Theo Điều 4 chương I - Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 giải thích từ ngữ: “Sản phẩm du lịch (tourist product) là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”
1.1.2.2 Loại hình du lịch
Căn cứ vào nhu cầu của thị trường và trên cơ sở của tài nguyên du lịch có khả năng khai thác và các điều kiện phát triển du lịch, người ta thường kết hợp các yếu tố này với nhau để xác định các loại hình du lịch Mục đích của việc xác định các loại hình du lịch nhằm vào việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch của quốc gia, của địa phương và định hướng chiến lược kinh doanh cho các doanh nghiệp du lịch Mỗi một loại hình du lịch có một thị trường khác nhau và có những đòi hỏi về quy trình, cách
Trang 17thức tổ chức, con người phục vụ, trang thiết bị và chất lượng phục vụ khác nhau.Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động du lịch có sự đan xen giữa các loại hình
du lịch trong quá trình phục vụ khách du lịch.Việc phân loại các loại hình du lịch căn
cứ vào những tiêu thức cơ bản sau: phạm vi vị trí lãnh thổ, mục đích của chuyến đi, phương tiện vận chuyển
1.1.3 Khái niệm về thị trường du lịch
Trong lịch sử phát triển du lịch, ban đầu khách đến một vùng nào đó rất ít ảnh hưởng đến cư dân điểm du lịch Việc đi lại, ăn ở của khách tự bố trí hay ở nhà bà con, bạn bè… Nhưng cùng với quá trình phát triển của nhu cầu du lịch nên du lịch trở thành một hiện tượng phổ biến của toàn xã hội, do vậy đã xuất hiện những tổ chức chuyên kinh doanh vận chuyển, ăn uống và lưu trú, vui chơi giải trí và khách du lịch cho những yêu cầu dịch vụ đó Như vậy thị trường du lịch đã được hình thành trong quá trình chuyển đổi tiền – hàng giữa khách du lịch và các cơ sở chuyên kinh doanh Cần lưu ý rằng các sản phẩm và dịch vụ này có thể được sử dụng cho các khách du lịch và
cả người không có nhu cầu du lịch cho nên có mối quan hệ chặt chẽ với thị trường chung
Định nghĩa về thị trường du lịch: Thị trường du lịch là bộ phận của thị trường chung, một phạm trù của sản xuất và lưu thong hàng hóa, dịch vụ du lịch, phản ánh toàn bộ quan hệ trao đổi giữa người mua và người bán, giữa cung và cầu và toàn bộ các mối quan hệ, thong tin kinh tế kĩ thuật gắn với mối quan hệ đó trong lĩnh vực du lịch
để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.”(Điều 4,
Trang 18Chương 1- Luật Du Lịch 20015) Do đó cần lưu ý rằng việc thỏa mãn những yêu cầu trên chỉ có thể đạt được trên cơ sở có các đối tượng và hiện tượng thuộc phạm trù tài nguyên du lịch
Vậy khái niệm tài nguyên du lịch được hiểu là tổng thể tự nhiên và văn hóa lịch sữ cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục và phát triển thể lực và trí lực của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ Những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp hay gián tiếp, cho việc tổ chức sản xuất, cung ứng các loại hình và dịch vụ du lịch
Đặc điểm của tài nguyên du lịch
Để khái thác và sử dụng tốt các tài nguyên du lịch trước hết cần phải nguyên cứu các đặc điểm nguồn tài nguyên này Tài nguyên du lịch có những đực điểm chính sau: Khối lượng các tài nguyên du lịch và diện tích phân bổ các nguồn tài nguyên là cơ sở cần thiết để xác định khả năng khai thác và tiềm năng của hệ thống lãnh thổ nghỉ ngơi,
Vốn đầu tư thấp, giá thành chi phí sản xuất không cao, cho phép triển khai các công trình hạ tầng nhanh, đưa loại hình du lịch và dịch vụ vào sử dụng sớm và mang lịa hiệu quả kinh tế xã hội cao
Khả năng sử dụng nhiều lần và lâu dài tài nguyên du lịch theo hướng phát triển bền vững
Có giá trị vừa vô hình (sách báo, nghe kể, phương tiện truyền thông và hữu hình) Việc đánh giá tài nguyên du lịch có vai trò quan trọng, vì có vậy chúng ta mới rút ra được những luận chứng mang tính khoa học áp dụng vào thực tiễn để thỏa mãn nhu cầu phong phú và đa dạng của khách du lịch Việc nhìn nhận và đánh giá này đòi hỏi
sự tổng hợp của nhiều tri thức như mỹ học, sinh lý học, địa lý tự nhiên và kinh tế, lịch
sữ văn hóa nghệ thuật, kiến trúc và đô thị, quy hoạch lãnh thổ kinh tế du lịch, môi trường…
Trang 191.2.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
Là đối tượng và hiện tượng trong môi trường tự nhiên bao quanh chúng ta làm cho con người ưa thích Chỉ có các thành phần và các thể tổng hợp tự nhiên trực tiếp hoặc gián tiếp được khai thác sử dụng để tạo nên các sản phẩm du lịch, phục vụ cho mục đích phát triển du lịch mới được xem là tài nguyên du lịch tự nhiên Các thành phần tự nhiên tạo nên tài nguyên du lịch tự nhiên thường là địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật
Theo Khoản 1 (Điều 13, Chương II) Luật Du Lịch Việt Nam năm 2005 quy định: “Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên đang được khai thác hoặc có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”
Đặc điểm của tài nguyên du lịch tự nhiên
Nếu được quy hoạch, bảo vệ, khai thác hợp lý theo hướng bền vững thì phần lớn các loại tài nguyên du lịch tự nhiên được xếp vào loại tài nguyên vô tận, tài nguyên có khả năng tái tạo hoặc có quá trình suy thoái chậm
Hầu hết việc khai thác tài nguyên du lịch tự nhiên chịu ảnh hưởng nhiều vào điều
kiện thời tiết
Một số điểm phong cảnh và du lịch dựa vào tài nguyên tự nhiên thường nằm xa các
khu đông dân cư
1.2.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
Theo Khoản 2 (Điều 13, Chương II) Luật Du Lịch Việt Nam năm 2005 quy định:
“Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”
Nếu hiểu theo nguồn gốc hình thành có thể hiểu tài nguyên du lịch nhân văn là tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo do con người sáng tạo ra Tuy nhiên chỉ có những tài nguyên nhân văn có sức hấp dẫn với du khách và có thể khai thác phát triển du lịch
để tạo ra hiệu quả xã hội, kinh tế, môi trường mới được gọi là tài nguyên du lịch nhân văn
Tài nguyên du lịch nhân văn gồm các loại tài nguyên nhân văn vật thể như: các di tích lịch sử, các di tích lịch sử văn hóa, các công trình đương đại, vật kỷ niệm, bảo vật
Trang 20quốc gia Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể gồm các lễ hội, nghề và làng nghề truyền thống, văn hóa nghệ thuật, văn hóa ẩm thực, phong tục, tập quán, ngôn ngữ, chữ viết, tôn giáo, các nguồn thông tin và nguồn tri thức khoa học, kinh nghiệm sản xuất
Đặc điểm của tài nguyên du lịch nhân văn
Tài nguyên du lịch nhân văn do con người tạo ra nên chịu tác động của thời gian, thiên nhiên và do chính con người.Vì vậy dễ bị suy thoái, hủy hoại và không có khả năng tự phục hồi ngay cả khi không có sự tác động của con người Vì vậy di tích lịch
sữ - văn hóa khi bị bỏ hoang cũng bị xuống cấp nhanh chóng; những giá trị văn hóa phi vật thể như những làn điệu dân ca, các vũ khúc, các lễ hội, các làng nghề truyền thống, phong tục tập quán,…khi không được bảo tồn và phát huy có hiệu quả sẽ bị mai một hoặc biến mất Do vậy, khi khai thác tài nguyên du lịch nhân văn cho mục đích phát triển du lịch cần quan tâm đầu tư cho bảo tồn, tôn tạo thường xuyên, khoa học và
có hiệu quả
Tài nguyên du lịch nhân văn là do con người sáng tạo ra nên có tính phổ biến Ở đâu có con người, ở đó có tài nguyên nhân văn Vì vậy, các địa phương, các quốc gia đều có tài nguyên nhân văn, trong đó có nhiều loại có sức hấp dẫn với du khách, đã hoặc sẽ có thể sử dụng cho phát triển du lịch
Tài nguyên du lịch nhân văn ở mỗi vùng, mỗi quốc gia thường mang những đặc sắc riêng Do điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội là những yếu tố nuôi dưỡng tạo thành tài nguyên du lịch nhân văn ở mỗi địa phương, mỗi quốc gia không giống nhau nên tài nguyên du lịch nhân văn ở mỗi khu vực, mỗi quốc gia có giá trị đặc sắc riêng, góp phần tạo nên những sản phẩm du lịch độc đáo có sức cạnh tranh và hấp dẫn
du khách riêng Do vậy, trong quá trình khai thác, bảo tồn tài nguyên du lịch nhân văn cần coi trọng việc bảo vệ, phát huy giá trị độc đáo của tài nguyên
Tài nguyên du lịch nhân văn thường được phân bố gần các khu dân cư, đặc biệt tập trung nhiều ở những khu vực đông dân cư Bởi nó được sinh ra trong quá trình phát triển xã hội và là sản phẩm do con người sáng tạo ra Khác với tài nguyên du lịch tự nhiên, việc khai thác phần lớn tài nguyên du lịch nhân văn thường ít chịu ảnh hưởng của các hiệ tượng thời tiết gây nên như mưa hay rét nên tính mùa vụ cũng ít hơn so với tài nguyên du lịch tự nhiên
Trang 211.2.2 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật
1.2.2.1 Cơ sở hạ tầng (CSHT)
Là những phương tiện vật chất không phải do các tổ chức du lịch xây dựng lên mà
là của toàn xã hội Đó là hệ thống đường sá, nhà ga, sân bay, bến cảng, đường sắt, công viên của toàn dân, mạng lưới thương nghiệp của khu dân cư, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống cấp thoát nước, mạng lưới điện, các rạp chiếu phim, nhà hát, viện bảo tàng…Cơ sở hạ tầng là yếu tố cơ sở nhằm khai thác tiềm năng du lịch và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch và ngược lại phát triển du lịch cũng là một yếu tố tích cực thúc đẩy, nâng cao mở rộng cơ sở hạ tầng của một vùng hay của cả đất nước Trong cơ sở hạ tầng, yếu tố phục vụ đắc lực nhất, có tầm quan trọng nhất đối với du lịch là hệ thống giao thông vận tải (đường không, đường bộ, thủy) Hệ thống thông tin liên lạc; hệ thống cấp, thoát nước; hệ thống cung cấp điện, đây chính là cơ sở vật chất bậc hai đối với du lịch Nó được xây dựng để phục vụ người dân địa phương
và sau nữa là phục vụ cả khách du lịch Đây là cơ sở có tầm quan trọng đặc biệt vì nó nằm sát ngay nơi du lịch, nó quyết định nhịp độ phát triển du lịch và trong chừng mực nào đó còn quyết định chất lượng phục vụ du lịch
Như vậy, CSHT là tiền đề, là đòn bẩy của mọi hoạt động kinh tế, trong đó có du lịch Ngày nay, sự hoàn thiện của CSHT còn được coi là một hướng hoàn thiện chất lượng phục vụ du lịch, là phương thức cạnh tranh giữa các điểm du lịch, giữa các quốc gia
1.2.2.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật (CSVCKT) du lịch
CSVCKT của tổ chức du lịch bao gồm toàn bộ nhà cửa và phương tiện kỹ thuật như: khách sạn, nhà hàng, phương tiện giao thông vận tải, các khu vui chơi giải trí, cửa hàng, công viên, đường sá, hệ thống thoát nước, mạng lưới điện trong khu vực của cơ sở du lịch (có thể là của một cơ sở du lịch, có thể là của một khu du lịch Thuộc về CSVCKT còn bao gồm tất cả những công trình mà tổ chức du lịch xây dựng bằng vốn đầu tư của mình (rạp chiếu phim, sân thể thao….) CSVCKT đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch cũng như quyết định mức độ khai thác các tiềm năng du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của du khách Chúng tồn tại một cách độc lập tương đối nhưng lại có một quan hệ khăng khít: tính đồng bộ của hệ thống phục vụ du lịch góp phần nâng cao tính đồng bộ của sản
Trang 22phẩm du lịch, tính hấp dẫn của điểm du lịch Do vậy, việc phát triển ngành du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện CSVCKT du lịch
1.2.3 Nguồn nhân lực
Con người là nhân tố trung tâm và là mục đích của nền sản xuất xã hội Con người giữ vai trò quyết định đối với sản xuất Trong điều kiện ngày nay, cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển, vị trí trung tâm của con người càng được nhấn mạnh Các yếu tố của nguồn nhân lực có ảnh hưởng quyết định tới chất lượng sản phẩm và năng suất lao động là số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực
Du lịch là một lĩnh vực hoạt động cung cấp dịch vụ có nhiều đặc thù Sản phẩm du lịch về cơ bản là không cụ thể, không tồn tại dưới dạng vật thể Thành phần chính của sản phẩm du lịch là dịch vụ (thường chiếm 80% - 90% về mặt giá trị), lao động trực tiếp chiếm tỷ trọng rất lớn trong giá trị của sản phẩm du lịch Sản phẩm còn có một đặc điểm khác là quá trình sản xuất và tiêu dùng trùng khít nhau về mặt không gian và thời gian, chất lượng phục vụ du lịch không chỉ phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm du lịch mà còn phụ thuộc vào sự cảm nhận của khách du lịch, và sự đánh giá của du khách luôn phụ thuộc rất lớn vào trạng thái tâm lý của họ khi tiếp xúc với nhân viên phục vụ Như vậy, chất lượng nguồn nhân lực là nhân tố quyết định chất lượng sản phẩm, quyết định chất lượng phục vụ trong du lịch Nguồn nhân lực trong du lịch cũng quyết định hiệu quả khai thác cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, TNDL
1.3 Một số bài học kinh nghiệm về phát triển du lịch của các địa phương
1.3.1 Tạo thương hiệu điểm đến du lịch
Khánh Hòa là tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, có bờ biển trải dài 385km với hơn
200 hòn đảo lớn nhỏ, môi trường tự nhiên khá trọn vẹn, khí hậu ôn hòa đầy nắng gió quanh năm là điều kiện lý tưởng để vùng biển xinh đẹp này phát triển mạnh du lịch biển, đảo Chính nhờ đó, năm 2003 Vịnh Nha Trang được gia nhập câu lạc bộ các vịnh đẹp nhất thế giới, tạo đà để ngành du lịch địa phương xây dựng thương hiệu du lịch biển Nha Trang - Khánh Hòa ngày càng mang tính chuyên nghiệp, tạo sức hút đặc biệt với mọi du khách trong và ngoài nước Nhờ tính chuyên nghiệp cao, cộng với công tác xúc tiến quảng bá hình ảnh môi trường du lịch văn minh, thân thiện, nhất là công tác bảo vệ môi trường luôn được coi trọng, nên Nha Trang đã trở thành thành phố chuyên
tổ chức các sự kiện, nhiều chương trình mang tầm cỡ quốc tế được tổ chức thành công tại đây Tiêu biểu như cuộc thi Hoa hậu Trái Đất, Hoa hậu Hoàn vũ, Hoa hậu thế giới
Trang 23người Việt; các hội nghị, hội thảo quốc tế, Festival Biển Nha Trang; kết nối con đường
di sản miền Trung, Tháng Tám Nha Trang điểm hẹn, các cuộc thi du thuyền quốc tế, thể thao trên biển tạo được những tiếng vang lớn trong quá trình xây dựng và khẳng định thương hiệu du lịch Nha Trang - Khánh Hòa Sự ra đời của các khu du lịch lớn như Vinpearlland, Diamond Bay, White Sand Dốc Lết, Hòn Tằm góp phần tôn vinh hình ảnh không thể thiếu thị trường du lịch khách nội địa và quốc tế
Mặt khác, được sự hỗ trợ của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên thế giới, khu vực biển quanh đảo Hòn Mun nằm trong Vịnh Nha Trang đã được chọn làm khu bảo tồn biển đầu tiên của Việt Nam vào năm 2000 Mục tiêu của dự án là bảo tồn hệ sinh thái biển
đa dạng và còn nguyên sơ tại khu vực này, đồng thời chú trọng tạo việc làm cho cư dân sống quanh đảo và lợi ích của cộng đồng cũng được quan tâm hơn, khẳng định vai trò to lớn của cộng đồng dân cư và các doanh nghiệp trong xây dựng môi trường biển thân thiện và bền vững Cùng với đó, Khánh Hòa còn hình thành nên hệ thống công viên cây xanh tạo nên những cảnh quan thiên nhiên độc đáo; đi đôi với việc xây dựng đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng, xử lý nước thải trên các tuyến đường phố chính; khuyến khích các doanh nghiệp có những ý tưởng sáng tạo trong việc đầu tư xây dựng các khu du lịch, sản phẩm, dịch vụ mang tính chất gần gũi với thiên nhiên; yêu cầu người dân và các doanh nghiệp sử dụng các chất liệu có trong tự nhiên, hạn chế tối đa việc khai thác quá mức, hủy hoại đến môi trường sinh thái; tập trung phát triển du lịch thám hiểm biển, thể thao, giải trí trên biển, du lịch nghỉ dưỡng và du lịch sinh thái Theo nhận xét của một số chuyên gia về du lịch thì phát triển du lịch ở tỉnh nói riêng và ở Việt Nam nói chúng vẫn mới chỉ là những tuyến điểm du lịch đơn lẻ, chưa mang tầm vóc thương hiệu quốc gia Sự tăng trưởng lượng khách du lịch biển hầu như phụ thuộc vào việc khai thác, tận dụng những lợi thế sẵn có của tự nhiên, mà chưa có
sự tái đầu tư và bảo tồn tài nguyên du lịch biển một cách bài bản Việc lựa chọn, triển khai các hoạt động xúc tiến du lịch ở nước ngoài còn khó khăn do bị động, nhân sự mỏng nên gặp nhiều hạn chế Ý nghĩa và tư duy xây dựng thương hiệu du lịch biển chưa được các doanh nghiệp du lịch xác định một cách thấu đáo Việc khai thác tài nguyên du lịch biển chồng chéo và mâu thuẫn giữa các ngành và lĩnh vực, nên tiềm năng biển, đảo Việt Nam không phát huy được tối đa cho hoạt động du lịch, sản phẩm
du lịch mang tính đặc thù của Việt Nam Do đó, Khánh Hòa đã và đang có những định hướng lớn trong công tác quy hoạch du lịch theo hướng phát triển có trọng tâm, trọng
Trang 24điểm, cùng với việc nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm để tạo bước đột phá nhằm tạo dựng thương hiệu Du lịch biển Nha Trang - Khánh Hòa, để khai thác, phát triển bền vững và bảo tồn tiềm năng du lịch đặc sắc ở vùng biển đảo này
1.3.2 Kinh nghiệm cho du lịch Phú Yên
Từ cách làm du lịch của tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên cần rút ra được kinh nghiệm, học tập cách làm của họ cũng như đổi mới để đưa du lịch Phú Yên ngày càng phát triển và sau đây tỉnh Phú Yên cần làm những việc sau:
1.3.2.1 Giải quyết các thực trạng đang tồn tại
Phú Yên là một vùng đất có tài nguyên du lịch phong phú tuy nhiên vẫn chưa khai thác một cách hiệu quả để xứng tầm với tiềm năng Để khai thác có hiệu quả Phú Yên cần có những chính sách để thu hút vốn đầu tư vào du lịch nâng cấp toàn bộ hệ thống
cơ sở hạ tầng vì đây là vấn đề mà tỉnh Phú Yên cần giải quyết triệt để nếu muốn du lịch trở thành ngành trọng điểm của tỉnh Hiện nay cơ sở hạ tầng nơi đây còn quá đơn
sơ, chưa được đồng bộ, đặc biệt hệ thống giao thông vận tải đang xuống cấp nghiêm trọng cũng như chưa đáp ứng nhu cầu đi lại của du khách đây được xem là trở ngại lớn nhất mà tỉnh Phú Yên cần phải giải quyết
Vấn đề thứ hai đó chình là, hệ thống thông tin liên lạc chưa được chú trọng, cần phải đầu tư phát triển hơn Cùng với đó là công tác quảng cáo, xúc tiến của tỉnh Phú Yên chưa cao, còn rất nhiều hạn chế vậy nên du lịch Phú Yên chưa được khách du lịch biết đến nhiều vì vậy mà du lịch ở đây chưa phát triển đúng với tiềm năng sẵn có Vấn đề tiếp theo đó là hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật chưa thật sự hiện đại để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch Cần đầu tư mạnh mẽ hơn, trang thiết bị hiện đại hơn để đem lại cảm giác ấm áp, thoải mái nhất đến du khách Cùng với đó là
cơ sở ăn uống cần tạo nên những món ăn riêng, hương vị đặc trưng của tỉnh đem lại cảm giác khó quên cho du khách khi đến với Phú Yên Và một vấn đề không thể thiếu
đó là đội ngũ lao động du lịch, cần đào tạo những người có nghiệp vụ chuyên môn cao vững để phục vụ du khách tốt nhất Thường xuyên mở các lớp tập huấn để họ trao dồi kiến thức và học tập Cũng nên tổ chức cho nguồn nhân lực này đi cọ xát học hỏi với các tỉnh bạn như: TP.HCM, Hà Nội, Đà Nẵng, Khánh Hòa, để họ có thể học hỏi lẫn nhau và nâng cao trình độ hơn nữa
Trang 251.3.2.2 Kinh nghiệm học được
Qua những cách làm du lịch của Khách Hòa, tỉnh Phú Yên đã học tập được những kinh nghiệm bổ ích Cần phải đầu tư mạnh mẽ vào công tác quảng cáo, xúc tiến đưa du lịch Phú Yên tiến gần hơn đến du khách Tạo một điểm nhấn mạnh mẽ vào du lịch nghỉ dưỡng biển để có thể khai thác hiệu quả tiềm năng biển đảo nơi đây, tạo thương hiệu điểm đến thật sự để du khách có thể an tâm khi đến nghỉ ngơi tại Phú Yên
Tỉnh Phú Yên cần có những chính sách hộ trợ cho các doanh nghiệp lữ hành của tỉnh để doanh nghiệp an tâm trong việc kinh doanh của mình, cũng như tạo điều kiện tốt nhất trong việc bảo hộ và đầu tư phát triển kinh doanh như: hổ trợ vay vốn, thủ tục pháp lí và sự giúp đỡ khi cần thiết Cần có những định hướng trọng tâm để đầu tư hiệu quả trành tình trạng đầu tư dàn trải mà không hiệu quả Do đó, tỉnh Phú yên đã và đang có những định hướng lớn trong công tác quy hoạch du lịch theo hướng phát triển
có trọng tâm, trọng điểm, cùng với việc nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm
để tạo bước đột phá nhằm tạo dựng thương hiệu Du lịch Phú Yên
Tiểu kết chương 1
Như chúng ta đã biết, ngày nay du lịch phát triển rất nhanh và mang lại rất nhiều lợi ích cho quốc gia nói chung và một địa phương nói riêng Tuy nhiên, nếu một địa phương phát triển du lịch chỉ chú trọng đến lợi ích kinh tế trước mắt thì tất yếu sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường về văn hóa, xã hội và môi trường Do đó để khắc phục vấn đề “lợi bất cập hại” này, thì phải có một cái nhìn và cách làm đúng dựa trên những nguyên tắc nhất định để phát triển du lịch nhằm mang lại hiệu quả cao nhất
Phát triển du lịch ngoài dựa trên những nguyên tắc căn bản Bên cạnh đó, còn phải nghiên cứu về điều kiện để phát triển Đây là một công việc hết sức quan trọng tạo tiền
đề cho sự phát triển du lịch của mỗi địa phương
Sự liên kết hợp lý giữa các địa phương sẽ tạo nên chuỗi du lịch hấp dẫn, không chỉ hạn chế được tình trạng nhàm chán về hoạt động du lịch mà còn tạo thành khu du lịch mạnh về địa điểm, dịch vụ, cơ sở hạ tầng, từ đó giảm được giá tour và du khách có nhiều cơ hội trong việc lựa chọn điểm đến Đây là việc làm không mới đối với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Sự liên kết cần những nỗ lực chung và quyết tâm
từ các địa phương, sự vào cuộc của doanh nghiệp cùng làm du lịch để lợi ích sẽ tăng
và được chia đều cho các bên, góp phần cho nền du lịch địa phương phát triển bền vững
Trang 26CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH PHÚ YÊN 2.1 Tiềm năng phát triển du lịch tỉnh Phú yên
2.1.1 Vị trí địa lí
Tỉnh Phú Yên trải dài từ 12°42'36" đến 13°41'28" vĩ bắc và từ 108°40'40" đến 109°27'47" kinh đông, phía bắc giáp tỉnh Bình Định, phía nam giáp tỉnh Khánh Hòa, phía tây giáp tỉnh Đăk Lăk và Gia Lai, phía đông giáp biển Đông Phú Yên là tỉnh duyên hải Nam Trung bộ, cách Hà Nội 1.160km về phía bắc , cách tp Hồ chí Minh 561km về phía nam theo tuyến quốc lộ 1A Diện tích tự nhiên: 5.045 km², chiều dài bờ biển 189km
Vị trí địa lý đã tạo nên cơ hội thuận lợi để tỉnh Phú Yên phát triển ngành du lịch: tỉnh Phú Yên có thể kết nối dễ dàng với khu vực Tây Nguyên bằng đường bộ, đường hàng không và đường sắt tương lai Ưu thế ngã ba giao lưu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh còn thể hiện ở khả năng kết nối kinh tế với cả hai đầu Bắc – Nam như vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung (tỉnh Thừa Thiên Huế, thành phố Đà Nẵng), các trung tâm du lịch lớn nhất cả nước (Lâm Đồng, Khánh Hòa) và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương…)
Bản đồ 2.1: Bản đồ hành chính Tỉnh Phú Yên
Trang 272.1.2 Tài nguyên du lịch
2.1.2.1 Tài nguyên và điều kiện thiên nhiên
Bản đồ 2.2: Bản đồ tài nguyên du lịch tự nhiên tỉnh Phú Yên 2.1.2.1.1 Địa hình
Địa hình khá đa dạng: đồng bằng, đồi núi, cao nguyên, thung lũng xen kẽ nhau và thấp dần từ Tây sang Đông Nằm giữa đèo Cù Mông ở phía Bắc và đèo Cả ở phía Nam, tỉnh Phú Yên được các dãy núi cao của dãy Trường Sơn nối tiếp nhau 41 bao bọc cả ba mặt: Bắc - Tây - Nam và hướng ra biển Đông Tỉnh Phú Yên có tiềm năng
về tài nguyên du lịch tự nhiên phong phú, đa dạng Trong đó nổi bật là: địa hình núi và
bờ biển
a, Địa hình núi: Ngoại trừ một vài đỉnh núi cao vượt quá 1.000m nằm ở phía tây huyện Đồng Xuân, tây nam huyện Tây Hòa, phía nam huyện Sông Hinh, tổng thể núi của tỉnh Phú Yên nhìn chung không cao lắm, có độ dao động ở mức từ 300m đến 600m và được phân bố ở khắp nơi Trong đó quan trọng nhất là núi Thơm, núi Chóp Chài, núi Đá Bia có giá trị về mặt du lịch
b, Địa hình bờ biển Tỉnh Phú Yên có bờ biển dài 189 km, nhiều nơi khúc khuỷu, quanh co, núi biển liền kề nhau tạo nên nhiều vịnh, đầm mang vẻ đẹp tự nhiên hoang
sơ như: Đầm Cù Mông, đầm Ô Loan, vịnh Xuân Đài, vịnh Vũng Rô; nhiều bãi tắm đẹp như: Bãi Bàng, Bãi Bàu, Bãi Rạng, Bãi Nồm, Bãi Tràm, Bãi Từ Nham, Long Thủy, Bãi Tiên, Bãi Môn, Bãi Xép , có những gành đá nổi tiếng như: Gành Đá Đĩa,
Trang 28gành Đỏ, gành Dưa, gành Yến và nhiều đảo nhỏ ven bờ như: Nhất Tự Sơn, hòn Lao Mái Nhà, hòn Chùa, hòn Than, hòn Yến, hòn Dứa, hòn Nưa
C hoặc có thể thấp hơn nữa, giống như phân
bố nhiệt ở vùng Tây Nguyên Từ trên 1000 m đến độ cao 1500 m nhiệt độ trung bình năm xuống dưới 200C
Tổng nhiệt độ năm giữa các vùng đều chênh lệch tương tự như nhiệt độ trung bình năm Vùng đồng bằng ven biển tổng nhiệt độ năm đạt trên 95000C, vùng đồi núi dưới 500m giảm còn 8500 - 95000C C, trên 500 m khoảng 80000C, và ở độ cao 1500 m tổng nhiệt độ năm chỉ còn 65000C
Độ ẩm tương đối trung bình năm ở đây khoảng 80 - 85% Phân bố không gian của yếu tố này thể hiện quy luật tăng theo độ cao địa hình, vùng đồng bằng và ven biển độ
ẩm tương đối trung bình năm là 80 - 82%, vùng núi thấp 83 - 85%, trên cao nguyên đến 1000 m đạt 85 - 90%
Tổng số giờ nắng trung bình khoảng 2300 - 2600 giờ mỗi năm Phân bố nắng ở các vùng hoàn toàn phù hợp với phân bố mây, vùng ven biển ít mấy nhất tương ứng có số ngày nắng cao nhất
Tốc độ gió trung bình năm dao động trong khoảng 2 - 2,5 m/s, độ chênh lệch qua từng tháng không quá 0,5 m/s Nhìn chung các tháng mùa hè tốc độ gió trung bình lớn hơn mùa đông
Bão và áp thấp nhiệt đới: Mùa bão với mùa mưa diễn ra từ tháng 8 đến tháng 12 nhưng có năm cuối tháng 6 đầu tháng 7 đã có bão đổ bộ vào khu vực này, cho nên vào giữa mùa gió Tây khô nóng cũng không loại trừ khả năng bão đổ bộ
Trang 292.1.2.1.3 Thủy Văn
a, Nước mặt
Phú Yên là tỉnh có nguồn tài nguyên nước mặt tương đối phong phú Toàn tỉnh có
5 sông lớn, 21 sông nhánh cấp I, 18 sông nhánh cấp II và một số sông suối nhỏ khác Tổng lượng dòng chảy trung bình toàn tỉnh khoảng 13,5 tỉ m3/năm, trong đó lượng nước từ các tỉnh lân cận chảy vào khoảng 7,9 tỉ m3
và lượng nước sinh ra trong nội tỉnh khoảng 5,6 tỉ m3 Riêng về nguồn nước ngầm, chất lượng nước khá phức tạp Mức
độ chứa nước trong các tầng chứa nước cũng khác nhau, trong đó có triển vọng hơn cả
là tầng chứa nước lỗ hổng trong các trầm tích Đệ tứ Phú Yên có khoảng 50 con sông
có chiều dài trên 10km bao gồm nước chảy trên bề mặt (sông, hồ) như hệ thống Sông
Đà Rằng, sông Bàn Thạch, sông Kỳ Lộ, hồ thủy điện Sông Hinh với tổng diện tích lưu vực là 16.400km2, tổng lượng dòng chảy 11.8 tỷ m3 Hiện nay trên lưu vực sông Ba có hơn 400 hồ chứa, đập dâng, trạm bơm Phần lớn các công trình thủy lợi đó được xây dựng tập trung ở vùng trung lưu lưu vực sông Ba, lấy nước từ dòng chảy cơ bản của sông nhưng không đủ hồ chứa tạo nguồn ở phía thượng lưu nên đã làm cạn kiệt nước trong mùa khô của nhiều sông suối Với hoạt động du lịch, hệ thống sông hồ, nước ngầm phong phú là nguồn nước quan trọng, cung cấp nước sinh hoạt phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của du khách
b, Nước ngầm
Phú Yên là tỉnh được đánh giá là có tài nguyên nước ngầm phong phú với trữ lượng tự nhiên và với tiềm năng khai thác có thể đạt tới 1,2027 x 106 m3/ngày, là điều kiện thuận lợi mà không phải bất kỳ tỉnh duyên hải miền Trung nào cũng có được.
Ngoài ra tỉnh còn có nhiều suối nước khoáng nóng như: Phú Sen, Triêm Đức, Trà Ô, Lạc Sanh, suối Đập Hàn Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa được điều tra, đánh giá một cách đầy đủ và hệ thống khoa học để khai thác hợp lý Riêng nguồn nước khoáng Phú Sen từ 1996 đã được khai thác để chế biến với công suất 7,5 triệu lít/năm, đến nay công suất khai thác nguồn nước khoáng này là 10 triệu lít/năm
2.1.2.1.4 Tài nguyên sinh vật
Các nhân tố địa hình, khí hậu, thủy văn và đất đai đã ảnh hưởng quyết định đến sự phân bố thực vật và động vật rừng Tỉnh Phú Yên nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa
có nhiều điều kiện để phát triển thảm rừng nhiệt đới và theo đó là các loài động vật Các kiểu rừng phân bố rộng rãi nhất ở đây là kiểu rừng rậm nhiệt đới ẩm ở địa hình
Trang 30thấp Rừng có 3 kiểu chính là rừng kín lá rộng, rừng khộp (là một kiểu rừng đăc trưng với các cây thuộc họ Dầu lá rộng chiếm ưu thế và chỉ có ở khu 43 vực Đông Nam Á)
và rừng trồng Trong đó, rừng kín lá rộng chiếm 96,5% diện tích rừng tự nhiên; rừng rụng lá (rừng khộp) chiếm tỷ lệ 3,5% Còn lại, là rừng trồng với khoảng 20.963,0 ha
Hệ động thực vật rừng khá phong phú, có 43 họ chim với 114 loài (trong đó, có 7 loài quý hiếm); thú có 20 họ với 51 loài (trong đó, có 21 loài quý hiếm), bò sát có 3 họ và
22 loài (trong đó, có 1 loài quý hiếm) Động vật chim quý hiếm bao gồm: Công, trĩ, gà lôi trắng, gà lôi hồng tía….Thú quý như: khỉ mặt đỏ, chà vá, vượn, gấu chó, gấu ngựa,
hỗ, báo hoa mai, cà tong, hưu vàng, bò rừng, tê tê… ; Tỉnh Phú Yên có hai khu bảo tồn thiên nhiên Krong Trai và khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Đèo Cả có giá trị về mặt khoa học và còn có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động du lịch
2.1.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
Bản đồ 2.3: Bản đồ tài nguyên du lịch nhân văn tỉnh Phú Yên
Với lịch sử 400 năm ở vùng đất trấn biên – vùng Đất Phú Trời Yên này đã tạo ra nhiều giá trị văn hoá độc đáo và đây cũng chính là nguồn tài nguyên du lịch có giá trị
a, Di tích lịch sữ - văn hóa, kiến trúc
Là những công xây dựng, địa điểm lịch sử, đồ vật tài liệu và các tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học nghệ thuật… hoặc liên quan đến các sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa xã hội Những công trình kiến trúc mang dậm văn hóa Champa cho thấy
Trang 31nơi đây từng chứng kiến cuộc sống sinh hoạt và phát triển của người Chiêm Thành, đồng thời với những dấu ấn lịch sử mang dậm nét chiến tranh cũng đã tạo nên sự độc đáo, phong phú của mảnh đất này Hay những ngôi chùa cổ kính mang đến nền Phật Giáo đã tồn tại ở nơi đây từ rất lâu Tất cả đã tạo nên sự phong phú trong văn hóa xưa tồn tại mảnh đất này
Tháp Nhạn, Đá Bia, Vũng Rô với di tích lịch sử Đường Hồ Chí Minh trên biển; Mộ
và Đền thờ Lương Văn Chánh, Lê Thành; Tháp Nhạn cổ kính bên sông Đà Rằng, thành Hồ có niên đại từ thế kỷ XII – XV Nhiều công trình tôn giáo lâu đời như: Chùa
Đá Trắng, Chùa Tổ, chùa Bảo Tịnh, chùa Bửu Lâm, chùa Hồ Sơn, nhà thờ Mằng Lăng, nhà thờ Tuy Hòa Bên cạnh đó còn có các công trình đương đại có khả năng thu hút khách du lịch cao như: cầu Đà Rằng, Đập Đồng Cam, thủy điện Sông Hinh…
b, Lễ hội
Tỉnh Phú Yên có nhiều lễ hội đặc trưng như một bảo tàng bách khoa năng động về lịch sử, văn hoá, nghệ thuật, tín ngưỡng và tôn giáo, phản ánh những quá trình lao động, những phong tục và những biến cố xã hội quan trọng của vùng 44 đất thần kỳ này Cũng như hầu hết các lễ hội Việt Nam, lễ hội Việt Nam, lễ hội nơi đây thường được tổ chức tập trung vào mùa xuân, đó cũng là mùa chính của khách du lịch quốc tế đến khu vuc miền Trung Các lễ hội tiêu biểu như: Lễ hội đánh bài chòi với các bài hát chòi dân gian, đậm bản sắc văn hóa của Phú Yên; lễ hội đầm Ô Loan; lễ đâm trâu của người Ba Na; lễ bỏ mả của người Êđê; lễ cúng đất của người Kinh; lễ hội cầu ngư của người Kinh và một số lễ hội khác như: hội đua thuyền sông Đà Rằng, lễ hội Đồng Cam, lễ hội chùa Từ Quang, lễ hội Sông nước Tam Giang; hội thơ đêm nguyên tiêu; lễ hội đền Lê Thành Phương; lễ hội đền Lương văn Chánh…
c, Nghề và làng nghề truyền thống
Nơi đây đã tồn tại nhiều truyền thống làng nghề khác nhau mang đậm nét phong tục của người Phú Yên Những làng nghề đó đã cho thấy Phú Yên từ xưa đã phát triển ngành thủ ông công nghiệp Những làng nghề gắn liền với cuộc sống hằng ngày, phong tục sinh hoạt của người dân nơi đây Qua các làng nghề chúng ta cảm nhận được nơi đây đã từng chứng kiến những thăng trầm của đất nước cũng nhuwnguoiwf dân Phú Yên
Bánh tráng Hòa Đa, gốm sứ Quảng Đức, trồng hoa Bình Ngọc, gốm Phụng Nguyên, đan đát Vinh Ba, dệt chiếu An Cư
Trang 32d, Văn hóa dân gian
Dân Phú Yên có một kho tàn về sử thi và tục ngữ vô cùng phong phú, bên cạnh đó còn có thể loại hát chòi, đó là một thể loại hát dân gian rất phổ biến ở Phú Yên Tỉnh Phú Yên cũng chính là nơi đã phát hiện ra nhiều di sản văn hoá, như bộ trường ca quý giá của các dân tộc thiểu số, bộ đàn đá Tuy An có độ chuẩn về cung bậc thuộc loại chính xác nhất và những chiếc kèn đá có một không hai
e, Ẩm thực
Đến với Phú Yên ngoài việc thưởng ngoạn các danh thắng, di tích du khách sẽ còn được thưởng thức hương vị tuyệt vời từ những món ăn bình dân như: bánh cuốn, chả dông, gà nướng, lẩu gà lá giang, đến các món ăn thủy đặc sản cao cấp như: gỏi cá Ngừ đại dương, bào ngư, gỏi Tôm, cua Huỳnh Đế hấp, cháo cá thu, các món chế biến
từ cua đinh, cá ngừ đại dương…bên cạnh còn có nhiều món ăn nổi tiếng gắn liền với những địa danh sinh ra chúng như: cốm nếp ở Hòa Phong, bánh tráng ở Hòa Tân, sò huyết Đầm Ô Loan, ghẹ, ốc nhảy, sò điệp, cá mú ở Sông Cầu, tôm hùm ở Vũng Rô, Nói đến văn hóa ẩm thực mà không nhắc đến nước mắm thì thật là thiếu sót, nước mắm Phú Yên nổi tiếng trong Nam ngoài Bắc với nhiều nhãn hiệu của hàng trăm cơ sở sản xuất khác nhau
Nhận xét: Phú Yên có tài nguyên du lịch tương đối đa dạng và cũng mang
những nét đặc trưng riêng, đã và đang được khai thác một cách có hiệu quả hơn Tuy nhiên, tính đến 2015 các tài nguyên này chưa được khai thác triệt để đúng với tiềm năng mà nơi này có Cùng với các sản phẩm du lịch còn khá nghèo nàng dẫn đến tình trạng khách hàng chỉ đến một lần do nguyên nhân là: Tỉnh Phú Yên chưa có những chính sách khai thác tài nguyên hợp lý cùng với việc chậm đổi mới sản phẩm để thu hút khách du lịch vì vậy dẫn đến tình trạng nhàm chán Từ năm 2016 đến nay, Phú Yên có những đổi mới trong việc tạo ra những sản phẩm đặc trưng để thu hút khách như: thể thao biển, tắm biển kết hợp du lịch nghĩ dưỡng biển cùng với đó là du lịch văn hóa , tìm về các lễ hội truyền thống đặc biệt là tìm hiểu văn hóa đàn đá chỉ có ở Phú Yên, bên cạnh đó hiệu ứng trong bộ phim “ Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh” đã và đang thu hút một lượng khách rất lớn đến du lịch tại Phú Yên
Trang 332.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.3.1 Cơ sở hạ tầng
a, Hệ thống giao thông
+ Hệ thống giao thông đường bộ: Tỉnh Phú Yên có hệ thống giao thông khá thuận lợi Quốc lộ 1A chạy xuyên suốt chiều dài của tỉnh, nối liền với thủ đô Hà Nội và TP
Hồ Chí Minh Quốc lộ 25 và Tỉnh lộ 645 từ Tuy Hòa đi Gia Lai, Đắc Lắk đã được đầu
tư nâng cấp, trong tương lai sẽ nối Đông Bắc Campuchia và Nam Lào Hệ thống đường nội tỉnh được bố trí hợp lý và được nâng cấp kiên cố hóa, đảm bảo thông suốt đến các huyện, xã Mạng lưới giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh đã phân bố đều khắp và đã hình thành các trục đối ngoại theo hướng Bắc Nam, Đông Tây Mạng lưới đường bộ tỉnh đến năm 2010 có tổng cộng là 2.920 km, trong đó tổng chiều dài quốc
lộ là 208 km (quốc lộ 1A qua tỉnh 123,6 Km, quốc lộ 25 qua tỉnh 70,18 km, quốc lộ 1D qua tỉnh dài 14 km) Bên cạnh đó còn có 10 tuyến tỉnh lộ với tổng chiều dài 377
Km, 100 tuyến huyện lộ với tổng chiều dài 614 km, 698 tuyến xã, liên xã, thôn với tổng chiều dài 864,72 km, 52 tuyến đô thị (TP Tuy Hoà) dài 44,75 km Về chất lượng mạng đường bộ: Đường bê tông xi măng 62 km chiếm 3,14%, đường bê tông nhựa 307,1 km chiếm 15,56% (trong đó quốc lộ 1A 123,6 km), đường láng và thấm nhập nhựa 178,7 km chiếm 9,05%, đường đá dăm 19,6 km chiếm 0,99%, đường cấp phối đồi và đất 1.406,3 km chiếm 71,25
+ Đường sắt: Chiều dài đường sắt đi qua tỉnh 96km, có 8 ga đón nhận hàng hóa và hành khách, tuy nhiên chỉ có 01 ga lớn Tuy Hòa đón nhận hành khách, các ga còn lại
là những ga nhỏ chủ yếu tiếp nhận hàng hóa Tuyến đường sắt chạy qua tỉnh cũng đóng vai trò quan trọng trong kế hoạch phát triển du lịch tỉnh, đây là một phần của tuyến du lịch xuyên việt và trong tương lai là một phần huyết mạch của tuyến du lịch Đông Tây nối liền Phú Yên – Đắc Lắc – Stung (Campuchia) – Bắc Xế (Lào) – U Bon (Thái Lan)
+ Đường thủy: Cảng Vũng Rô có khả năng tiếp nhận tàu có trọng tải trên 5.000 tấn, hiện nay đang xây dựng bến cảng thương mại với qui mô lớn
+ Đường hàng không: Có sân bay Tuy Hòa nằm về phía Đông bắc huyện Tuy Hòa được xây dựng vào cuối thập kỷ 60, sân bay được qui hoạch và xây dựng tốt Hiện nay sân bay Tuy Hoà đang khai thác tuyến đường bay Tuy Hòa đi thành phố Hồ Chí Minh, Tuy Hòa đi Hà Nội và ngược lại, tần suất 01 chuyến mỗi ngày
Trang 34b, Hệ thống cung cấp điện, nước
Về thủy điện, năng lượng của sông Đà Rằng được đánh giá rất cao, sông Ba xếp thứ năm trong các con sông có năng lượng khai thác lớn của cả nước Hiện nay nhà máy thủy điện Sông Hinh công suất 70MW đã hòa vào lưới điện quốc gia và hàng năm sản xuất ra khoảng 390 triệu Kwh Bên cạnh đó, đang xây dựng nhà máy thủy điện Sông Ba Hạ công suất 220MW, thủy điện Krông Năng công suất 66MW và cùng với các dự án thủy điện nhỏ khác khác đang được triển khai xây dựng khi đưa vào sử dụng
sẽ cung cấp điện cho hệ thống quốc gia, cắt lũ cho vùng hạ lưu Đà Rằng, tăng khả năng nâng cấp nước cho đồng bằng Tuy Hòa và góp phần phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Phú Yên nói chung và phục vụ du lịch nói riêng Hệ thống cung cấp nước: tỉnh Phú Yên có nguồn nước ngầm có chất lượng tốt được người dân khai thác và sử dụng
Về nguồn nước mặt Phú Yên có 50 con sông lớn nhỏ, trong đó nổi bậc nhất là 3 con sông Kỳ Lộ, sông Ba, sông Bàn Thạch và nhiều hồ chứa nước vừa và nhỏ như hồ chứa nước thủy điện Sông Hinh, sông Ba Hạ, hồ Đồng Tròn, hồ Phú Xuân…cung cấp và bổ sung nguồn nước ngầm Hiện nay, Phú Yên có nhiều nhà máy nước hoạt động cung cấp nhu cầu nước cho nhu cầu sinh hoạt và phát triển kinh tế như: nhà máy nước Tuy Hòa công suất 28.000 m 3 / ngày đêm; nhà máy nước thị trấn La Hai, Chí Thạnh, Hai Riêng, Củng Sơn, Phú Hòa công suất 3.000 m3 / ngày đêm, nhà máy nước Sông Cầu công suất 5.000 m3 / ngày đêm
c, Thông tin liên lạc
Trong thời gian qua nhiều dịch vụ mới được triển khai có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh như: dịch vụ điện thoại IP, dịch vụ điện thoại di động, dịch vụ MegaVN, dịch vụ chuyển phát nhanh….chất lượng dịch vụ viễn thông nông thôn được nâng cao thông qua việc cáp quang hóa các tuyến truyền dẫn xuống xã và cụm 47 xã Đến năm
2015, điểm bưu điện văn hóa xã sẽ cung cấp hầu hết các dịch vụ bưu chính mà bưu cục cung cấp Đến hết năm 2015, hầu hết các thôn, cụm thôn sẽ có điểm phục vụ, cung cấp các dịch vụ thiết yếu về bưu chính viễn thông, phát triển các dịch vụ bưu chính điện tử (E – Post), datapost, duy trì tốc độ tăng doanh thu hàng năm từ 18 - 25 %, tốc
độ tăng trưởng của nhóm dịch vụ thường đạt khoảng 9%/năm, của các dịch vụ mới đạt
25 - 30% Doanh thu từ bưu chính đến năm 2010 đạt khoảng 10 tỉ đồng, năm 2007 –
2010 đạt 19%, giai đoạn 2011 – 2015 đạt 21% Hiện nay tỉnh đang xây dựng và phát triển mạng lưới bưu chính – viễn thông với công nghệ hiện đại, an toàn và tin cậy, có
Trang 35độ bao phủ rộng, chất lượng cao, hoạt động hiệu quả, đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng Cung cấp cho
xã hội, người tiêu dùng các dịch vụ bưu chính – viễn thông và internet đa dạng, phong phú với chất lượng tốt, giá cả phù hợp Đầu tư chiều sâu hệ thống thông tin truyền thông, phát thanh truyền hình Phát triển các điểm bưu điện văn hóa xã, phổ cập dịch
vụ bưu chính viễn thông cơ bản
Tình hình phát triển: Trong giai đoạn 2000 – 2009, hệ thống cơ sở lưu trú Phú Yên
đã phát triển với tốc độ khá nhanh Năm 2000 cả tỉnh chỉ có 12 cơ sở lưu trú đi vào hoạt động với 251 buồng và 512 giường; thì đến năm 2005 tăng lên 24 cơ sở với 536 buồng và 1.051 giường; đến cuối năm 2010 đầu 2011 có 88 cơ sở với 1.970 buồng;
Trang 36đến tháng 6 năm 2012, toàn tỉnh có 111 cơ sở kinh doanh lưu trú du lịch, trong đó có
01 khách sạn 5 sao, 02 khách sạn 4 sao, 01 khách sạn 3 sao, 05 khách sạn 2 sao, 31 khách sạn 1 sao, 36 nhà nghỉ đạt tiêu chuẩn kinh doanh du lịch Tổng số buồng lưu trú
du lịch hiện có là: 2.392 buồng, tăng so với cuối năm 2011: 41 buồng, trong đó có 500 buồng đạt tiêu chuẩn 3 – 5 sao Đến cuối năm 2015, toàn tỉnh có 130 cơ sở kinh doanh lưu trú du lịch (2 khách sạn 5 sao, 2 khách sạn 4 sao, 1 khách sạn 3 sao, 5 khách sạn 2 sao, 36 khách sạn 1 sao), với 2.660 buồng, trong đó có 500 buồng đạt tiêu chuẩn 3-5 sao.Tốc độ tăng trưởng trung bình cho giai đoạn 2000 – 2009 về cơ sở lưu trú là 21,1%/năm, về số lượng buồng là 21,8%/năm; tính riêng cho giai đoạn 2005 – 2012 về
cơ sở lưu trú là 29,7%/năm, về số lượng buồng là 32,4%/năm Đến 2015 32,6%/năm
về số lượng phòng là 34,1%
Công suất sử dụng buồng: Theo kết quả điều tra cho thấy công suất sử dụng buồng trung bình của hệ thống cơ sở lưu trú năm 2007 và 2008 (50%), 2009 ( 55%), 2010 (57%), 2013(60%), tính đến 2015 là (62%)
Chất lượng cơ sở lưu trú: Hầu hết các cơ sở lưu trú đều quan tâm nâng cao chất lượng dịch vụ như tăng cường trang thiết bị, tiện nghi phục vụ; đào tạo lao động; đa dạng hóa sản phẩm hướng tới tính chuyên nghiệp trong hoạt động kinh doanh, phục vụ khách
Quy mô cơ sở lưu trú: nhìn chung hệ thống cơ sở lưu trú toàn tỉnh có quy mô vừa
và nhỏ, đạt trung bình 22,09 buồng/1cơ sở Số cơ sở dưới 20 buồng chiếm 55,2% tổng
số cơ sở, 20 – 40 buồng chiếm 26,86%, toàn tỉnh chỉ có 8 cơ sở có từ 40 buồng trở lên chiếm 11,94% tổng số cơ sở (trong đó có 6 cơ sở có từ 100 buồng trở lên như: khách sạn Cendeluxe 263 buồng, khách sạn Vĩnh Thuận 168 buồng, khách sạn Công Đoàn có
126 buồng, khách sạn Hương Sen và Kaya cùng có 116 buồng, khách sạn Sài Gòn – Phú Yên 100 buồng
b, Dịch vụ ăn uống
Hiện nay, Phú Yên có khoảng 35 cơ sở ăn uống nằm trong các cơ sở lưu trú với khoảng 15.000 chỗ ngồi, phục vụ các món ăn khác nhau đáp ứng nhu cầu của khách lưu trú 45 cơ sở kinh doanh ăn uống bên ngoài khách sạn đáp ứng 6.000 chỗ ngồi (trong đó có 26 cơ sở có chất lượng cao phân bố chủ yếu tại thành phố Tuy Hòa
Trang 37Bài trí nhà hàng giản dị, món ăn phong phú, giá cả bình dân, chất lượng món ăn đáp ứng nhu cầu du khách Song, do mặt bằng hẹp các nhà hàng thường thiếu không gian cây xanh, chỗ để xe nên gây khó khăn khi đón các đoàn lớn
c, Dịch vụ vận chuyển
Trên địa bàn tỉnh có nhiều đơn vị kinh doanh vận tải như công ty cổ phẩn Thuận Thảo, hợp tác xã vận tải cơ giới đường bộ Tuy Hòa, Quốc Tường, Thành Ban, Cúc Tư… với đội ngũ xe chất lượng cao, có đủ chủng loại, số lượng khá nhiều và chất lượng phục vụ khách cũng chuyên nghiệp Đến nay, toàn tỉnh có khoảng 199 xe từ 04 đến 45 chỗ ngồi, hoạt động trên 58 tuyến; bên cạnh đó còn có 73 xe taxi 4 – 7 chỗ thuộc các doanh nghiệp Thuận Thảo, Mai Linh, Ái Cúc….phục vụ khách du lịch Ngoài ra, về phương tiện công cộng thì có xe bus chạy tất cả các điểm trên địa bàn tỉnh
Tỉnh Phú Yên có hệ thống ngân hàng phát triển, đảm bảo cung cấp các dịch vụ ngân hàng thuận lợi, đáp ứng đầy đủ các nhu cầu về trao đổi, thanh toán của khách du lịch quốc tế Các hình thức thanh toán quốc tế thông qua ngân hàng của doanh nghiệp
du lịch và khách du lịch đã khá phong phú và có nhiều thuận lợi
Về dịch vụ bảo hiểm du lịch, hiện trên địa bàn tỉnh có 3 doanh nghiệp bảo hiểm (Bảo Việt, Bảo Minh và PJICO) tham gia bảo hiểm du lịch, đáp ứng nhu cầu cung ứng dịch vụ bảo hiểm cho khách du lịch
Về dịch vụ y tế không ngừng củng cố và phát triển, hiện tại có 14 bệnh viện, 13 phòng khám đa khoa, 106 trạm y tế cấp xã, phường và 22 cơ sở y tế khác Tổng số giường bệnh trong toàn tỉnh là 1.605 giường, trong số đó số giường tại các bệnh viện
là 1.230 Đội ngũ cán bộ y tế được nâng lên cả về số lượng và chất lượng, gồm 428 bác sĩ và nhiều cán bộ y tá, dược sĩ, kỹ thuật viên khác
Trang 38 Nhận xét: Phú Yên là một vùng đất còn nghèo, với cơ sở hạ tầng tương đối
nghèo chưa đáp ứng được trong du lịch Trong những năm 2014 trở lại đây, nhận thấy tầm quan trọng của cơ sở hạ tầng trong phát triển du lịch nên Tỉnh đã ngày càng đầu tư
để có sở hạ tầng ngày càng hoàn thiện như ngày nay: Đường xá 100% được trải nhự đường, hay việc nâng cấp sân bay Tuy Hòa cùng với việc mở thêm các tuyến bay như: Thuy Hòa – Hà Nội, hay việc sửa sang và mở rộng nhà ga Tuy Hòa Chính vì thế mà lượng khách du lịch đến Phú Yên ngày càng lớn và di chuyển một cách thuận tiện và
dễ dàng hơn nhiều
Không những thế Phú Yên còn chú trọng vào việc phát triển cơ sở vật chất kĩ thuật, nâng cấp các cơ sở cũ và đầu tư cơ sở mới ngày càng hiện đại hơn và quy mô lớn hơn
để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch Đến cuối năm 2015, toàn tỉnh
có 130 cơ sở kinh doanh lưu trú du lịch (2 khách sạn 5 sao, 2 khách sạn 4 sao, 1 khách sạn 3 sao, 5 khách sạn 2 sao, 36 khách sạn 1 sao), với 2.660 buồng, trong đó có
500 buồng đạt tiêu chuẩn 3-5 sao Tuy nhiên so với hai tỉnh lân cận là Khánh Hòa và Bình Định thì Phú Yên vẫn còn kém xa vì vậy đòi hỏi Tỉnh cần có nhiều chính sách
để thu hút vốn đầu tư cả về cơ sở hạ tầng lẫn cơ sở vật chất kĩ thuật để đáp ứng nhu cầu của khách một cách tốt nhất
2.1.3.3 Nguồn nhân lực du lịch
Theo số liệu thống kê, năm 2001cả tỉnh có 252 lao động trong ngành du lịch, đầu năm 2006 là 880, 2009 là 2.000, 2011 là khoảng 3.250 và theo báo cáo mới nhất đầu năm 2012 là 3.300 người Số lượng lao động có tăng lên hàng năm, tốc độ tăng trưởng bình quân là 28,9% nhưng chất lượng chuyên môn chưa được cải thiện nhiều
Nhìn chung, nguồn nhân lực du lịch chưa đủ, chưa đảm bảo về chất lượng và hợp
lý về cơ cấu Thực tế cho thấy, số lượng lao động chưa qua đào tạo nghiệp vụ còn cao, trình độ sơ cấp chiếm số lượng lớn, trình độ ngoại ngữ và tin học còn yếu
Trình độ đại học và trên đại học chỉ dao động ở mức 10% đến 14,8% trên tổng số lao động ngành du lịch Nếu xét theo nhu cầu để đáp ứng cho ngành du lịch Phú Yên thì lao động trong ngành thiếu cả về số lượng và chất lượng Đến năm 2012, tổng số lao động có 3.300 người; trong đó số lao động trên đại học chiếm 0,32 %; số lao động có trình độ đại học, cao đẳng 311 người, chiếm 9,45%; trung cấp chuyên nghiệp
560 người chiếm 16,98%; sơ cấp 856 người chiếm 25,94% và số lao động được đào tạo tại chỗ và học các lớp bồi dưỡng ngắn hạn chiếm 47,31% Và đến cuối năm 2015,
Trang 39toàn tỉnh có khoảng 3.625 lao động trong lĩnh vực du lịch, trong đó trình độ trên đại học chiếm 0,5%, đại học cao đẳng chiếm 20,5 %; trung cấp chuyên nghiệp 25,7% , sơ cấp chiems 13,2 % và các lớp bồi dƣỡng ngắn hạn chiếm 40,1%
Bảng 2.1: Hiện trạng lao động du lịch Phú Yên (2005 – 2015)
Năm Tổng số
Trình độ đại học Đại học – Cao Đẳng Trung cấp – Sơ cấp Lao động khác
Trang 402.2 Tác động của các tiềm năng đến thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Yên
2.2.1 Loại hình, sản phẩm du lịch
Những năm qua, du lịch Phú Yên đã đạt được những kết quả nhất định về phát triển sản phẩm du lịch Những loại hình du lịch đã được khai thác phục vụ du lịch chủ yếu là: Loại hình du lịch nghỉ dưỡng biển; du lịch văn hóa lễ hội gắn với các di tích lịch sử văn hóa, các đặc trưng văn hóa của dân tộc ít người, du lịch sinh thái kết hợp tham quan các bản làng dân tộc ít người; du lịch nghỉ dưỡng chữa bệnh; du lịch MICE Việc đa dạng hóa sản phẩm du lịch là phù hợp với định hướng quy hoạch và phù hợp với nhu cầu ngày càng đa dạng của du khách Tuy nhiên, do việc xác định loại hình và xây dựng sản phẩm du lịch chưa mang tính đặc trưng, nên du lịch Phú Yên chưa thực sự thu hút khách, đặc biệt là khách quốc tế, thời gian khách lưu lại không lâu
Tài nguyên du lịch ở Phú Yên đa dạng và phong phú khi có những bãi biển đẹp như Bãi Môn – Mũi Điện với ngọn hải đăng hàng trăm năm tuổi, thắng cảnh Gành Đá Đĩa “độc nhất vô nhị” tại Việt Nam…Bên cạnh đó là không gian văn hóa nghệ thuật dân gian bài chòi đang được lập hồ sơ trình UNESCO công nhận là Văn hóa phi vật thể của nhân loại Ngoài ra, các sinh hoạt văn hóa truyền thống gắn liền với tâm thức
về biển như: Lễ hội cầu ngư, hò bá trạo…Tất cả làm cho diện mạo du lịch của Phú Yên có gắn kết giữa giá trị thiên nhiên với giá trị nhân văn
Ngoài ra với địa hình đa dạng, tài nguyên phong phú, các nhà hoạch định chiến lược đều thừa nhận Phú Yên có tiềm năng có thể phát triển nhiều loại hình du lịch Trong đó, du lịch nghỉ dưỡng gắn với tài nguyên biển, đảo được nhận định là thế mạnh, điểm nhấn khi nói đến Phú Yên Theo các chuyên gia hoạch định, với đặc điểm địa hình, tài nguyên (thiên nhiên và nhân văn) hiện có, du lịch Phú Yên đang có rất nhiều tiềm năng và lợi thế Trong đó nổi bật nhất là dải bờ biển dài và đẹp với nhiều vũng, vịnh, đảo còn rất tự nhiên, hoang sơ Chính vì thế, trong quy hoạch phát triển du lịch Phú Yên giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2020 và tầm nhìn 2025 xác định rõ: “Tập trung các dịch vụ gắn với biển, đảo như: tắm biển, nghỉ dưỡng biển, các trò chơi giải trí dưới nước tại khu vực vịnh Xuân Đài, Vũng Lắm, Vũng Rô và nhiều hòn đảo gần
bờ như hòn Chùa, Lao Mái Nhà, hòn Dứa, hòn Nưa , tại các bãi tắm như bãi Tiên, bãi Rạng, bãi Nồm, bãi Môn – Mũi Điện và ghềnh Đá Đĩa” Bên cạnh nhiều chương trình, hoạt động văn hóa, du lịch sẽ diễn ra trong Tuần Văn hóa - Du lịch do tỉnh Phú Yên tổ