Tại Khoản 3 Điều 9 của Luật Đất đai năm 2013 đã nêu: Nhà nước có chính sách khuyến khích người sử dụng đất đầu tư lao động, vật tư tiền vốn và áp dụng thành tựu khoa học, công nghệ, phát
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn này là kết quả nghiên cứu của tác giả dưới sự hướng dẫn khoa học của giáo viên hướng dẫn
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực, chính xác và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này đều đã được cảm ơn và mọi thông tin tham khảo, trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thừa Thiên Huế, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
VÕ THẾ DŨNG
Trang 2
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của quý phòng,
ban Trường Đại học Nông lâm - Đại học Huế, quý Thầy, Cô Khoa Tài nguyên đất và môi
trường nông nghiệp, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Huỳnh Văn Chương
Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Huỳnh Văn Chương, người hướng dẫn khoa
học chính của luận văn này đã tận tình giúp đỡ tôi rất nhiều về mọi mặt nhằm thực
hiện thành công đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn quý Thầy, Cô Khoa Tài nguyên đất và Môi trường
nông nghiệp, Phòng Sau Đại họcTrường Đại học Nông lâm - Đại học Huế đã giảng
dạy và tạo điều kiện tốt nhất giúp đỡ cho tôi trong quá trình hoàn thành được đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa, lãnh đạo
các, đơn vị: Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch, Sở kế hoạch và Đầu tư, Cục Thống kê
tỉnh; Trung tâm xúc tiến đầu tư, Trung tâm xúc tiến Du lịchđã nhiệt tình giúp đỡ, tạo
điều kiện cho việc thu thập thông tin và các tài liệu tham khảo giúp tôi thực hiện thành
công đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn quýThầy, Cô trong hội đồng bảo vệ luận văn đã góp ý
cho đề tài này
Cuối cùng,tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả các bạn bè đã
giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thừa Thiên Huế, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
VÕ THẾ DŨNG
Trang 3theo quy định pháp luật
Kết quả nghiên cứu cho thấy tình hình quản lý Nhà nước về đất phục vụ cho phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh được thực hiện khá tốt Cán bộ ngành và chính quyền địa phương đã thực hiện quản lý một cách nghiêm túc, đúng theo quy định của Luật Đất đai đề ra, đem lại sự ổn định và tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức sử dụng đất trên địa bàn yên tâm đầu tư, sử dụng đất có hiệu quả và góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của địa phương Đất sử dụng cho mục đích phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh từ năm 2010 đến năm 2015 nhìn chung không thay đổi nhiều Đất khu
du lịch có tăng thêm nhưng không đáng kể, chủ yếu được chính quyền cho thuê, giao đất lấy từ đất lâm nghiệp, đất chưa sử dụng Tuy nhiên, quá trình sử dụng đất, đặc biệt
là đất phát triển du lịch vẫn còn gặp một số tồn tại gây ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả sử dụng đất và đời sống của người dân Các dự án giao đất, cho thuê đất sau khi được bàn giao đất trên thực địa đã triển khai thực hiện cơ bản đảm bảo đúng tiến độ Bên cạnh đó, vẫn còn một số dự án được giao đất, cho thuê đất do nhiều nguyên nhân nên không triển khai hoặc triển khai chậm tiến độ gây lãng phí quỹ đất trong khi nhu cầu sử dụng đất lại rất cao Do đó, cần phải kịp thời có biện pháp xử lý các dự án treo
để cho cơ cấu sử dụng đất được hợp lý hơn, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất
Chính sách đất đai trong việc phát triển du lịch là điều chỉnh các quan hệ kinh
tế – xã hội và đất đai Trong khi nền kinh tế thị trường hiện đại đòi hỏi chính sách đất đai bao quát rộng và toàn diện trên các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đầu tư, du lịch, qui hoạch, giao thông, kinh doanh bất động sản…Chúng điều khiển hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch mang tính tài nguyên rõ rệt, luôn gắn liền tài nguyên du lịch nhân văn và tự nhiên, trong đó tài nguyên du lịch gồm có: đất đai, sông suối, biển đồi rừng
để đầu tư xây dựng cơ sở lưu trú ăn uống, khu vui chơi gải trí, hội nghị hội thảo, các hoạt động trải nghiệm khác, vậy đất đai có thể nói là yếu tố quyết định cho đầu tư cơ
sở lưu trú và khu du lịch UBND tỉnh đã đưa ra một số chủ trương mới để thu hút đầu
tư và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư như: cho phép nhà đầu tư chuyển đổi mục đích sử dụng đất du lịch sang đất ở du lịch, cho phép nhà đầu tư liên doanh với các tổ chức trong nước để thực hiện dự án, cho phép nhà đầu tư lựa chọn hình thức
Trang 4thuê đất trả tiền theo từng năm hoặc trả tiền một lần, nâng mật độ xây dựng từ 15% tăng lên 25% Các dự án có áp dụng chính sách chuyển từ đất dịch vụ thương mại sang đất ở (không hình thành đơn vị ở) như dự án xây dựng các biệt thự ven biển Bãi Dài – Cam Ranh, dự án Vinpearlland tại đảo Hòn Tre, dự án Vinpearl Empire Condotel Lê Thánh Tôn – Trần Phú đã thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài, góp phần phát triển du lịch tỉnh Khánh Hòa
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ x
MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1.1 Khái niệm và đặc trưng về đất đai 3
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất 5
1.1.3 Các khái niệm liên quan đến công tác quản lý Nhà nước về đất đai 8
1.1.4 Tổng quan nghiên cứu về chính sách và chính sách đất đai 11
1.1.5 Tổng quan về du lịch 14
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 17
1.2.1 Chính sách đất đai ở một số nước 17
1.2.2 Chính sách pháp luật đất đai của Việt Nam 18
1.2.3 Du lịch và hoạt động du lịch ở Việt Nam 21
1.2.4 Hoạt động du lịch và các dự án có loại hình đất ở trong khu du lịch ở tỉnh Khánh Hòa 23
Trang 61.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 25
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 28
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 28
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 28
2.2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.2.1 Nội dung nghiên cứu 28
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 28
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI 30
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 30
3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội 41
3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội 50
3.2 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT 52
3.2.1.Tình hình quản lý đất đai 52
3.2.2 Tình hình sử dụng đất 62
3.3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH KHÁNH HÒA 65
3.3.1 Quy mô, số lượng các doanh nghiệp kinh doanh du lịch 65
3.3.2 Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch 66
3.3.3 Tình hình cơ sở vật chất của ngành 67
3.3.4 Chất lượng dịch vụ du lịch 67
3.4 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 68
3.4.1 Hiện trạng sử dụng đất phát triển du lịch 68
3.4.2 Đánh giá tiềm năng đất đai để phục vụ cho việc phát triển du lịch 69
3.4.3 Tình hình giao đất, cho thuê đất và tiến độ thực hiện các dự án phát triển du lịch 72
3.4.4 Tình hình biến động đất phục vụ cho phát triển du lịch và sự ảnh hưởng đến cơ cấu sử dụng đất 73
3.4.5 Quy hoạch sử dụng đất phát triển du lịch tỉnh Khánh Hòa đến năm 2020 76
Trang 73.5 HOÀN THIỆN CƠ CHẾ ĐẶC THÙ CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI ĐỂ THÚC ĐẨY
PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH KHÁNH HÒA GIAI ĐOẠN 2016-2020 77
3.5.1 Cơ chế chính sách về đất đai hiện có tác động đến sự phát triển du lịch 77
3.5.2 Đánh giá tác động của chính sách đất đai đối với việc thu hút đầu tư phát triển du lịch tỉnh Khánh Hòa 85
3.6 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH KHÁNH HÒA 87
3.6.1 Định hướng phát triển khu vực kinh tế dịch vụ - du lịch 87
3.6.2 Giải pháp nhằm phát triển nhanh, bền vững du lịch tỉnh Khánh Hòa 89
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91
KẾT LUẬN 91
KIẾN NGHỊ 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Đặc trưng hình thái các sông lớn 34
Bảng 3.2 Các nhóm đất và loại đất tỉnh Khánh Hoà 35
Bảng 3.3 Danh mục các văn bản UBND tỉnh Khánh Hòa ban hành 2014-2015 53
Bảng 3.4 Kết quả thu ngân sách, nguồn thu từ đất đai của tỉnh Khánh Hoà giai đoạn 2010 - 2015 58
Bảng 3.5 Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Khánh Hòa năm 2015 62
Bảng 3.6 Doanh thu du lịch Khánh Hòa từ 2010-2015 66
Bảng 3.7 Doanh thu du lịch Khánh Hòa từ 2007-2015 67
Bảng 3.8 Diện tích đất sử dụng cho mục đích phát triển du lịch qua các năm từ 2010 đến 2015 của tỉnh Khánh Hòa 68
Bảng 3.9 Các công trình dự án thương mại dịch vụ và du lịch trong kì quy hoạch kế hoạch 2011-2015 của tỉnh Khánh Hòa 72
Bảng 3.10 Biến động diện tích đất phục vụ phát triển du lịch tỉnh Khánh Hòa so với năm 2010 74
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Hình 3.1 Bản đồ hành chính tỉnh Khánh Hòa 31 Hình 3.2 Cơ cấu sử dụng đất của tỉnh Khánh Hòa năm 2015 64 Hình 3.3 Biểu đồ biến động diện tích đất phục vụ phát triển du lịch tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2010-2015 74 Hình 3.4 Dự án Vinpearl Bãi Dài Villas thuộc Cam Ranh: 85
Trang 11MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Khánh Hòa là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ của Việt Nam, hội tụ đủ các dạng địa hình cơ bản: vùng núi bán sơn địa, đồng bằng duyên hải, bờ biển, biển và các đảo, quần đảo, như hình ảnh của đất nước Việt Nam thu nhỏ, có rừng núi, đồng bằng, miền ven biển, hải đảo Địa phận tỉnh Khánh Hòa nằm trên các đầu mối giao thông quan trọng của cả nước và thế giới Đường quốc lộ 1 và đường sắt xuyên Việt chạy qua 5 huyện, thị xã, thành phố của Tỉnh, nối liền Khánh Hòa với các tỉnh phía Bắc và phía Nam Đường quốc lộ 26 nối liền Khánh Hòa với các tỉnh Tây Nguyên Sân bay Cam Ranh, Nha Trang và các cảng Cam Ranh, Nha Trang, Hòn Khói nối liền Khánh Hòa với cả nước và quốc tế Đặc điểm này tạo điều kiện cho Khánh Hòa với cả nước
và quốc tế Đặc điểm này tạo điều kiện cho Khánh Hòa phát triển kinh tế toàn diện và quan trọng nhất là thế tổng hợp kinh tế biển trong đó có du lịch biển đảo chủ lực
Đồng thời Khánh Hòa là địa phương được thiên nhiên ban tặng khí hậu ôn hòa,
là địa phương ít bị lụt bão và thiên tai, nhiệt độ bình quân hàng năm là 26,5oC, mùa nắng kéo dài từ tháng 01 đến tháng 09 và tháng 12, mùa mưa từ tháng 10 đến tháng
11, đồng thời với đường bờ biển kéo dài 385km với hơn 200 hòn đảo lớn nhỏ, do đó việc khai thác các cơ sở lưu trú du lịch quanh năm, là điều kiện lý tưởng để phát triển nghành du lịch
Từ năm 2010 đến năm 2015, tỷ trọng các ngành dịch vụ-du lịch trong cơ cấu GDP tỉnh hánh Hòaluôn chiếmtrên 44%, Dịch vụ-du lịch đang từng bước phát huy lợi thế cạnh tranh của mình và từng bước vươn lên dẫn đầu trong cơ cấu kinh tế, phấn đấu đến năm 2020 tốc độ tăng trưởng hằng năm của nhóm ngành này là 13,4%
Tại Khoản 3 Điều 9 của Luật Đất đai năm 2013 đã nêu: Nhà nước có chính sách khuyến khích người sử dụng đất đầu tư lao động, vật tư tiền vốn và áp dụng thành tựu
khoa học, công nghệ, phát triển kết cấu hạ tầng để làm tăng giá trị của đất [16] Tỉnh
Khánh Hòa luôn khuyến khích nhà đầu tư đầu tư cơ sở du lịch ngày càng phong phú
và hiện đại để đáp ứng sự phát triển du lịch,nên đã quy hoạch loại hình đất ở (không hình thành đất ở) trong các khu du lịch Nhận thức được vai trò của du lịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, từ khi tiến hành đường lối đổi mới cho đến nay Đảng ta luôn xác định, phát triển du lịch là một hướng chiếnlược quan trọng trong phát triển kinh tế -xã hội ở nước ta Trên cơ sở đó, Đảng chủ trương khai thác các lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hoá, lịch sử của đất nước, mở rộng hợp tác với nước ngoài để “phát triển mạnhdu lịch và nâng cao chất lượng hoạt động du lịch, đa dạng hoá sản phẩm và các loại hình du lịch” nhằm “Phát triển du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn , sớm đạt trình độ phát triển du lịch của khu
Trang 12vực” để “từng bước đưa nước ta trở thành một trung tâm du lịch, thương mại – dịch vụ
có tầm cỡ trong khu vực.” [7] Đó chính là những cơ sở quan trọng để các địa phương
có tiềm năng du lịch trong đó có Khánh Hòa, vận dụng vào điều kiện cụ thể của địa phương mình, đề ra chủ trương, chính sách hợp lý nhằm đẩy mạnh phát triển du lịch
Để có chính sách quản lý phù hợp với sự phát triển khu du lịch nhằm thu hút đầu
tư cũng như tăng giá trị sử dụng đất, tỉnh Khánh Hòa đã quy hoạch sử dụng đất cho loại hình sử dụng đất trong các dự án du lịch và kèm theo cơ chế quản lý đất đai đối với loại hình sử dụng đất này để phục vụ phát triển du lịch trong giai đoạn 2016-2020
Xuất phát từ những vấn đề trên, Tôi chọn đề tài “Nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế đặc thù chính sách đất đai để thúc đẩy phát triển du lịch tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2016-2020”
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá được cơ chế chính sách pháp luật về đất đai đối với sự phát triển du lịch tỉnh Khánh Hòa và tác động của chính sách đất đai trong việc thu hút đầu tư đáp ứng quá trình phát triển du lịch Khánh Hòa giai đoạn 2016-2020 một cách bền vững, theo quy định pháp luật
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá vai trò ngành du lịch trong quá trình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Khánh Hòa
- Thực trạng sử dụng đất cho phát triển du lịch tỉnh Khánh Hòa
- Đánh giá tác động của chính sách đất đai đối với sự phát triển du lịch trong việc thu hút đầu tư phát triển cơ sở vật chất đáp ứng quá trình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Khánh Hòa
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng đất đối với sự phát triển du lịch tỉnh Khánh Hòa
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
3.1 Ý nghĩa khoa học
Hoàn thiện và đề xuất cơ chế quản lý của nhà nước về đất đai, trong đó việc quản lý việc sử dụng đất ở (không hình thành đơn vị ở) trong các khu du lịch nghỉ dưỡng để đáp ứng phát triển du lịch tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2016-2020
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Khái niệm và đặc trưng về đất đai
1.1.1.1 Khái niệm đất đai
Đất đai là một phạm vi không gian, như một vật mang những giá trịtheo ý niệm của con người Theo cách định nghĩa này, đất đai thường gắn với một giá trị kinh tế được thể hiện bằng giá tiền trên một đơn vị diện tích đất đai khi có sự chuyển quyền sở hữu Cũng có những quan điểm tổng hợp hơn cho rằng đất đai là những tài nguyên sinh thái và tài nguyên kinh tế, xã hội của của một tổng thể vật chất
Theo nghĩa thổ nhưỡng, đất là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập lâu đời, hình thành do kết quả của nhiều yếu tố: đá mẹ, động thực vật, khí hậu, địa hình, thời gian Giá trị tài nguyên đất được đánh giá bằng số lượng diện tích (ha, km2) và độ phì nhiêu, màu mỡ
Đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái, với khái niệm này đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất Đất theo nghĩa đất đai bao gồm: yếu tố khí hậu, địa hình, địa mạo, tính chất thổ nhưỡng, thủy văn, thảm thực vật tự nhiên, động vật và những biến đổi của đất do các hoạt động của con người
Về mặt đời sống xã hội, đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là
tư liệu sản xuất không gì thay thế được của ngành sản xuất nông - lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa và an ninh quốc phòng Nhưng đất đai là tài nguyên có hạn về diện tích, có vị trí cố định trong không gian
Một vạt đất là một diện tích cụ thể của mặt đất, xét về mặt địa lý có những đặc tính tương đối ổn định hoặc những tính chất biến đổi theo chu kỳcó thể dự đoán được của sinh quyển theo chiều thẳng đứng về phía trên và phía dưới của phần mặt đất này, bao gồm các đặc tính cuả phần không khí, thổ nhưỡng, địa chất, thuỷ văn, động thực vật sống trên đó và tất cả những kết quả hoạt động trong quá khứ và hiện tại của con người, ở chừng mực mà những đặc tính đó ảnh hưởng rõ tới khả năng sử dụng vạt đất này trước mắt và trong tương lai
Theo quan điểm đó, đất đai là một phần diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm các yếu tố cấu thành môi trường sinh thái ngay trên và dưới bềmặt đất như khí hậu, thổ nhưỡng, dạng địa hình, địa mạo, nước mặt (hồ, sông, suối, đầm lầy ), các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con
Trang 14người, những kết quả hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, xây dựng hồ chứa nước, hệ thống tiêu thoát nước, đường xá, nhà cửa vv) [14]
1.1.1.2 Đặc trưng của đất đai
- Đất đai giới hạn về số lượng (diện tích) Cùng với sự phát triển của sức sản xuất, các tư liệu sản xuất khác không ngừng được tăng lên về số lượng, riêng số lượng của đất đai bị giới hạn trong phạm vi ranh giới của lục địa [10] Bởi vì đất đai là sản phẩm của tự nhiên, diện tích đất đai do kích thước của quả đất quyết định Trải qua nhiều lần biến hóa địa chất như hoạt động núi lửa, động đất, hoạt động tạo núi, sự xâm thực của gió, mưa,… và các hoạt động của con người nhưng tất cả các hoạt động này chỉ làm thay đổi hình thái của đất đai, ảnh hưởng tới chất lượng còn tổng lượng của đất đai thì không hề thay đổi Trong khi đó, số lượng các tư liệu sản xuất khác sẽ tăng lên cùng với sự gia tăng của quá trình tái sản xuất, tuy nhiên cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật con người cũng không thể làm tăng thêm được diện tích đất đai Do vậy việc sử dụng hợp lý, triệt để đất đai và không ngừng làm tăng thêm hệ số sử dụng đất chính là một trong những biện pháp vô cùng quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người Đặc điểm này đặt ra yêu cầu quản lý đất đai phải chặt chẽ, quản lý về số lượng, chất lượng đất, cơ cấu đất đai theo mục đích sử dụng cũng như cơ cấu sử dụng đất đai theo các thành phần kinh tế, và xu hướng biến động của chúng để có kế hoạch phân bố và sử dụng đất đai có cơ sở khoa học
- Đất đai có vị trí cố định trong không gian: Đất đai là cố định về vị trí, không thể
di chuyển từ nơi này đến nơi khác Đây là tính chất đặc thù của đất, làm cho những mảnh đất ở những vị trí khác nhau có giá trị là không giống nhau Thực tế có thể thấy được những mảnh đất nằm ở vị trí thuận lợi như gần đường giao thông, gần khu đô thị, khu dân cư thì được khai thác triệt để, hiệu quả hơn các vùng hoang vu, hẻo lánh Do
đó đất ở vị trí thuận lợi sẽ có giá trị sử dụng và giá trị lớn hơn Do vị trí cố định và gắn liền với các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, thời tiết, khí hậu, nước, cây trồng, ) và các điều kiện kinh tế như kết cấu hạ tầng, kinh tế, công nghiệp trên các vùng và các khu vực nên tính chất của đất có khác nhau Vì vậy việc sử dụng đất đai vào các quá trình sản xuất của mỗi ngành kinh tế cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng tính chất của đất cho phù hợp Trong sản xuất nông nghiệp, việc sử dụng đất đai phải phù hợp với các điều kiện tự nhiên, kinh tế và chất lượng ruộng đất của từng vùng để mang lại hiệu quả kinh tế cao
- Đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế: Khác với các tư liệu sản xuất khác là có thể thay thế trong quá trình sản xuất, đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế đặc biệt trong nông lâm nghiệp
- Đất có khả năng tăng tính sản xuất: Trong quá trình sản xuất, mọi tư liệu sản xuất khác đều bị hao mòn, hư hỏng và dần dần bị đào thải để thay thế vào đó là một tư
Trang 15liệu sản xuất khác tốt hơn, hiện đại hơn và phù hợp hơn Riêng đất, nếu xét về mặt không gian thì đất là tư liệu vĩnh cửu, không chịu sự phá hủy của thời gian Hơn nữa, nếu sử dụng đúng và hợp lý độ phì nhiêu của đất sẽ được nâng cao, cải thiện, do đó đất
sẽ tốt lên về chất lượng [14] Sức sản xuất của đất đai tăng lên gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, với việc thực hiện phương thức thâm canh và chế độ canh tác hợp lý Sức sản xuất của đất đai biểu hiện tập trung
ở độ phì nhiêu của đất đai Vì vậy cần phải thực hiện các biện pháp hữu hiệu để nâng cao độ phì nhiêu của đất đai, cho phép năng suất đất đai tăng lên
Ngoài các đặc điểm trên đất đai còn có đặc điểm là sự chiếm hữu, sở hữu đất đai
Sự chiếm hữu, sở hữu đất đai được quy định trong luật đất đai Theo điều 5 Luật Đất đai
2003, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định; quy định quyền
và nghĩa vụ của người sử dụng đất [17]
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất
Sử dụng đất có liên quan đến chức năng hoặc mục đích của loại đất được sử dụng Việc sử dụng đất có thể được định nghĩa là: “những hoạt động của con người có liên quan trực tiếp tới đất, sử dụng nguồn tài nguyên đất, hoặc có tác động lên chúng”
Số liệu về quá trình và hình thái các hoạt động đầu tư (lao động, vốn, nước, phân hóa học,…), kết quả sản lượng (loại nông sản, thời gian, chu kì, mùa vụ…) cho phép nghiên cứu việc sử dụng đất, phân tích tác động môi trường và kinh tế, lập mô hình của việc biến đổi sử dụng đất hoặc chuyển đổi việc sử dụng đất này sang mục đích sử dụng đất khác
Phạm vi sử dụng đất, cơ cấu và phương thức sử dụng đất một mặt bị chi phối bởi các điều kiện và quy luật sinh thái tự nhiên, mặt khác bị kiềm chế bởi các điều kiện, quy luật kinh tế - xã hội và các yếu tố kỹ thuật Vì vậy, có thể khái quát một số điều kiện và nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất
1.1.2.1 Điều kiện tự nhiên
Khi sử dụng đất đai, ngoài bề mặt không gian như diện tích trồng trọt, mặt bằng xây dựng,… cần chú ý đến việc thích ứng điều kiện tự nhiên và quy luật sinh thái tự nhiên của đất cũng như các yếu tố bao quanh mặt đất như: yếu tố khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng
- Điều kiện khí hậu:
Những yếu tố khí hậu ảnh hưởng rất lớn, trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người Tổng tích ôn nhiều ít, nhiệt độ cao thấp, sự sai khác nhiệt độ về thời gian và không gian, biên độ tối cao và tối thấp giữa ngày và đêm, trực tiếp ảnh hưởng đến sự phân bổ, sinh trưởng, phát dục và tác dụng quang hợp của cây
Trang 16trồng Chế độ nước vừa là điều kiện quan trọng để cây trồng vận chuyển dinh dưỡng, vừa là vật chất giúp cho sinh vật sinh trưởng và phát triển Lượng mưa nhiều hay ít, bốc hơi mạnh hay yếu có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ và ẩm độ của đất, cũng như khả năng đảm bảo cung cấp nước cho các cây, con sinh trưởng, phát triển
- Điều kiện đất đai:
Sự khác nhau giữa địa hình, địa mạo, độ cao so với mặt biển, độ dốc và hướng dốc, mức độ xói mòn thường dẫn đến đất đai và khí hậu khác nhau, từ đó ảnh hưởng đến sản xuất và phân bố các ngành nông, lâm nghiệp, hình thành sựphân dị theo chiều thẳng đứng đối với nông nghiệp Địa hình và độ dốc ảnh hưởng đến phương thức sử dụng đất nông nghiệp, là căn cứ cho việc chọn cơ cấu cây trồng, xây dựng đồng ruộng, thuỷ lợi và canh tác, cũng như việc cơ giới hoá Đối với đất phi nông nghiệp, địa hình phức tạp sẽ ảnh hưởng tới việc thi công và chất lượng công trình cũng như ích lợi về kinh tế - xã hội mà khu đất đó mang lại Điều kiện thổ nhưỡng quyết định rất lớn đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp Độ phì của đất là tiêu chí quan trọng quyết định sản lượng cao hay thấp Độ dầy tầng đất và tính chất đất có ảnh hưởng lớn đối với sinh trưởng của cây trồng Mỗi vùng địa lý khác nhau có sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, nguồn nước và các điều kiện tự nhiên khác Những yếu tố này có ảnh hưởng rất lớn đến khảnăng, công dụng và hiệu quả sử dụng đất đai Điều kiện khí hậu kết hợp với điều kiện thổ nhưỡng là yếu tố tự nhiên trội đối với sản xuất, đặc biệt là đối với sản xuất nông nghiệp, nó tác động mạnh mẽ đến quá trình sản xuất và ảnh hưởng đến hiệu quả lao động cao hay thấp Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng đất đai cần tuân theo quy luật tựnhiên, tận dụng các lợi thế đó nhằm đạt hiệu ích cao nhất về xã hội, môi trường và kinh tế Tình trạng phổ biến hiện nay là việc sử dụng đất đai ở nhiều địa phương chưa hợp lý, đặc biệt trong công cuộc đổi mới, một số địa phương đã
sử dụng đất nông nghiệp để phát triển, mở rộng các KCN, khu kinh tế, xây dựng và phát triển đô thị một cách tràn lan, thiếu tính toán, nhiều nơi quy hoạch rồi để đấy không sử dụng, gây lãng phí đất canh tác, phá hoại môi trường
1.1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Bao gồm các yếu tố như chế độ xã hội, dân số, lao động, thông tin, các chính sách quản lý về môi trường, chính sách đất đai, yêu cầu về quốc phòng,sức sản xuất, các điều kiện về công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, điều kiện và trang thiết
bị vật chất cho công tác phát triển nguồn nhân lực, đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất Yếu tố kinh tế - xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với việc sửdụng đất đai
Phương thức sử dụng đất được quyết định bởi yêu cầu của xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định Điều kiện tự nhiên của đất đai cho phép xác định
Trang 17khả năng thích ứng về phương thức sử dụng đất Việc sử dụng đất như thế nào, được quyết định bởi sự năng động của con người và các điều kiện kinh tế xã hội, kỹ thuật hiện có; quyết định bởi tính hợp lý, tính khả thi về kinh tế kỹ thuật và mức độ đáp ứng của chúng, quyết định bởi nhu cầu thị trường
Trong một vùng hoặc trên phạm vi cả nước, điều kiện vật chất tự nhiên của đất đai thường có sự khác biệt không quá lớn, về cơ bản là giống nhau Nhưng với điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau dẫn đến tình trạng có vùng đất đai được khai thác sửdụng triệt để từ lâu đời và đem lại những hiệu quả kinh tế - xã hội rất cao; có nơi bỏhoang hoặc khai thác với hiệu quả rất thấp Cho dù điều kiện thiên nhiên có lợi thế, nhưng các điều kiện kinh tế - xã hội, kỹ thuật không tương ứng thì tiềm năng tài nguyên khó có thể trở thành sức sản xuất thực, cũng như chuyển hóa thành ưu thế kinh
tế Ngược lại, khi điều kiện kinh tế kỹ thuật được ứng dụng vào khai thác và sử dụng đất sẽ phát huy tiềm lực sản xuất của đất mạnh mẽ, đồng thời góp phần cải tạo điều kiện môi trường tự nhiên, biến điều kiện tựnhiên từ bất lợi thành điều kiện có lợi cho phát triển kinh tế - xã hội
Ảnh hưởng của điều kiện kinh tế đến việc sử dụng đất được đánh giá bằng hiệu quả sử dụng đất Thực trạng sử dụng đất liên quan tới lợi ích kinh tế của người sở hữu,
sử dụng và kinh doanh đất đai Trong điều kiện nền kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, đất được dùng cho xây dựng cơ sở hạ tầng đều dựa trên nguyên tắc hạch toán kinh tế, thông qua việc tính toán hiệu quả kinh doanh sản xuất Tuy nhiên,nếu có chính sách ưu đãi sẽ tạo điều kiện cải thiện và hạn chế việc sử dụng theo kiểu bóc lột đất đai Mặt khác, sự quan tâm quá mức đến lợi nhuận tối đa cũng dẫn đến tình trạng đất đai bị sử dụng không hợp lý, thậm chí huỷ hoại đất đai
Thí dụ: Việc gia tăng đô thị hoá và phát triển các KCN là một trong những chỉ tiêu đánh giá sự tiến bộ, phồn thịnh của xã hội, có thể đem lại lợi ích rất lớn cho những người kinh doanh bất động sản, chủ đất, các nhà công nghiệp, chủ doanh nghiệp Nhưng sự phân bố sử dụng đất đai không hợp lý, thiếu lý trí, không chú ý đến việc xử
lý nước thải, khí thải và chất thải đô thị, công nghiệp sẽ làm mất đi vĩnh viễn diện tích lớn đất canh tác, cùng với việc gây ô nhiễm môi trường đất đai, nguồn nước,bầu khí quyển, huỷ hoại chất lượng môi trường cũng như những hậu quả khôn lường khác Qua những vấn đề nêu trên cho thấy, các nhân tố điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội tạo ra nhiều tổ hợp ảnh hưởng đến việc sử dụng đất đai Tuy nhiên, mỗi yếu tố giữ vị trí và có tác động khác nhau Trong đó, điều kiện tự nhiên là yếu tốcơ bản để xác định công dụng của đất đai, có ảnh hưởng trực tiếp, cụ thể và sâu sắc, nhất là đối với sản xuất nông nghiệp Điều kiện kinh tế sẽ kiềm chế tác dụng của con người trong việc sử dụng đất; điều kiện xã hội tạo ra những khả năng khác nhau cho các yếu tố kinh tế và tự nhiên tác động tới việc sử dụng đất
Trang 181.1.2.3 Yếu tố không gian
Đây là một tính chất “đặc biệt” khi sử dụng đất do đất đai là sản phẩm của tự nhiên, tồn tại ngoài ý chí và nhận thức của con người Đất đai hạn chế về số lượng, có
vị trí cố định và là tư liệu sản xuất không thể thay thế được khi tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội
Không gian trong lĩnh vực tổ chức và quy hoạch không gian là không gian sinh sống, là thành phần của bề mặt quả đất, có 3 chiều và được con người sử dụng hoặc có thể sử dụng
Không gian, bao gồm cả vị trí và mặt bằng Đặc tính cung cấp không gian của đất đai là yếu tố vĩnh hằng của tự nhiên Vì vậy, không gian trở thành một trong những nhân tố hạn chế cơ bản nhất của việc sử dụng đất
Sự bất biến của tổng diện tích đất đai không chỉ hạn chế khả năng mở rộng không gian sử dụng đất mà còn chi phối giới hạn thay đổi của cơ cấu đất đai Điều này quyết định việc điều chỉnh cơ cấu đất đai theo loại, số lượng được sử dụng căn cứ vào sức sản xuất của đất và yêu cầu sản xuất của xã hội nhằm đảm bảo nâng cao lực tải của đất đai Khả năng không chuyển dịch của đất đai dẫn đến việc phân bố về số lượng và chất lượng đất đai mang tính khu vực rất chặt chẽ
1.1.2.4 Nhân tố con người
Đây là nhân tố chi phối chủ yếu trong quá trình sử dụng đất Thông qua các hoạt động của mình, con người tham gia sản xuất trên đất và đã có những tác động tích cực cũng như tiêu cực đến tài nguyên đất đai Đối với đất nông nghiệp, con người có vai trò rất quan trọng trực tiếp tác động đến đất như cuốc, cày, xới xáo… làm thay đổi tính chất của đất và tăng độ phì của đất [10]
1.1.3 Các khái niệm liên quan đến công tác quản lý Nhà nước về đất đai
1.1.3.1 Khái niệm quản lý Nhà nước về đất đai
- Khái niệm quản lý: Quản lý là sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định
-Quản lý nhà nước về đất đai: là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện bảo vệ quyền sở hữu nhà nước về đất đai, cũng như bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất thông qua 15 nội dung quản
lý quy định tại Điều 22 Luật đất đai 2013 Nhà nước đã nghiên cứu toàn bộ quỹ đất của toàn vùng, từng địa phương trên cơ sở các đơn vị hành chính để nắm chắc hơn về
số lượng và cả chất lượng, để từ đó có thể đưa ra các giải pháp và các phương án quy hoạch - kế hoạch sử dụng đất để phân bố hợp lý các nguồn tài nguyên đất đai đảm bảo đất được giao đúng đối tượng, sử dụng đất đúng mục đích phù hợp với quy hoạch, sử
Trang 19dụng đất hiệu quả và bền vững trong tương lai tránh hiện tượng phân tán và đất bị bỏ hoang hoá
1.1.3.2 Đối tượng, mục đích, yêu cầu của quản lý Nhà nước về đất đai
- Đối tượng của quản lý Nhà nước về đất đai là vốn đất của Nhà nước, đó là toàn
bộ đất đai trong phạm vi ranh giới quốc gia từ biên giới đến hải đảo, vùng trời, vùng biển đến từng chủ sử dụng đất
- Quản lý nhà nước về đất đai phải đảm bảo 4 mục đích sau:
Bảo vệ quyền sở hữu của nhà nước đối với đất đai, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người sử dụng
Bảo đảm sử dụng hợp lý vốn đất của nhà nước
Tăng cường hiệu quả kinh tế sử dụng đất
Bảo vệ đất, cải tạo đất và bảo vệ môi trường sống
- Yêu cầu của quản lý Nhà nước về đất đai: Phải đăng ký thống kê đất đai để nhà nước nắm chắc được toàn bộ diện tích, chất lượng đất đai ở mỗi đơn vị hành chính từ
cơ sở đến trung ương Đăng ký đất đai là cơ sở thiết lập nên hệ thống hồ sơ địa chính với đầy đủ các thông tin về tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng thửa đất [5]
1.1.3.3 Vai trò của quản lý nhà nước về đất đai
Quản lý Nhà nước về đất đai có vai trò rất quan trọng cho sự phát triển kinh tế,
xã hội, và đời sống nhân dân
- Thông qua hoạch định chiến lược, quy hoạch, lập kế hoạch phân bổ đất đai có
cơ sở khoa học nhằm phục vụ cho mục đích kinh tế, xã hội của đất nước; bảo đảm sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm, đạt hiệu quả cao, giúp cho Nhà nước quản lý chặt chẽ đất đai, giúp cho người sử dụng đất có các biện pháp hữu hiệu để bảo vệ và sử dụng đất đai có hiệu quả
- Thông qua công tác đánh giá phân hạng đất, Nhà nước quản lý toàn bộ đất đai
về số lượng và chất lượng để làm căn cứ cho các biện pháp kinh tế - xã hội có hệ thống, có căn cứ khoa học nhằm sử dụng đất có hiệu quả
- Thông qua việc ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật đất đai (văn bản luật
và dưới luật) tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, cá nhân trong những quan hệ về đất đai
- Thông qua việc ban hành và thực hiện hệ thống chính sách về đất đai như chính sách giá, chính sách thuế, chính sách đầu tư Nhà nước kích thích các tổ chức, các chủ thể kinh tế, các cá nhân sử dụng đầy đủ, hợp lý, tiết kiệm đất đai nhằm nâng cao khả năng sinh lợi của đất, góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội của cả nước
và bảo vệ môi trường sinh thái
Trang 20- Thông qua việc kiểm tra, giám sát quản lý và sử dụng đất, Nhà nước nắm chắc tình hình sử dụng đất đai, phát hiện những vi phạm và giải quyết những vi phạm pháp luật về đất đai [5]
1.1.3.4 Nguyên tắc quản lý nhà nước về đất đai
Theo quy định tại Điều 6 của Luật Đất đai năm 2013 quản lý Nhà nước về đất đai phải đảm bảo 03 nguyên tắc sau:
- Đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất
- Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh
- Người sử dụng đất thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng đất theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan
1.1.3.5 Nội dung quản lý nhà nước về đất đai
Tại Điều 22 Luật đất đai năm 2013 quy định việc quản lý Nhà nước về đất đai bao gồm 15 nội dung, đó là:
- Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó
- Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản
đồ hành chính
- Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất
- Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất
- Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất
- Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
- Thống kê, kiểm kê đất đai
- Xây dựng hệ thống thông tin đất đai
- Quản lý tài chính về đất đai và giá đất
- Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
- Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai
- Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai
Trang 21- Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai
- Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai
1.1.4 Tổng quan nghiên cứu về chính sách và chính sách đất đai
1.1.4.1 Khái niệm chính sách
Chính sách là một thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến và rộng rãi trong đời sống
xã hội, đặc biệt là được sử dụng rất nhiều trong các vấn đề liên quan đến chính trị và pháp quyền
Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia “chính sách” là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của chính phủ nó bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó Những mục tiêu này bao gồm
sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trường
Theo từ điển tiếng việt “chính sách” được hiểu là “ sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt được một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra chính sách …” [1]
Theo James Anderson 2003, chính sách là những phản ứng của chính quyền đối với sự mong đợi của công chúng Là những tính toán, định hướng của Chính phủ Là các khuôn mẫu, phương thức gắn kết với mục tiêu và chiến lược của doanh nghiệp, như đối tượng khách hàng ưu tiên, thanh toán, quản trị nội bộ…
Chính sách cần được hiểu ở những góc nhìn nhất định: xem xét nó một cách độc lập hay trong mối quan hệ với các phạm trù khác, chẳng hạn như chính trị hay pháp quyền Chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề Chính sách được hiểu
là những tư tưởng, những định hướng, những mong muốn cần hướng tới, cần đạt được Chính vì vậy, theo tôi so với khái niệm pháp luật, chính sách được hiểu rộng hơn nhiều Nếu xét nội hàm của khái niệm này trong mối quan hệ với chính trị và pháp quyền thì khái niệm chính sách cần được tìm hiểu ở một số khía cạnh sau đây:
- Chính sách là sự thể hiện cụ thể một đường lối chính trị chung Dựa vào đường lối chính trị chung, cương lĩnh chính trị của đảng cầm quyền mà người ta định ra chính sách
- Chính sách là cơ sở nền tảng để chế định nên pháp luật Hay nói cách khác, pháp luật là kết quả của sự thể hoá chính sách Có thể có chính sách chưa được hoặc không bao giờ được luật pháp hoá (thể chế hoá) vì nó không được lựa chọn để luật pháp hoá khi không còn phù hợp với tư tưởng mới hay sự thay đổi của thực tiễn Nhưng sẽ không
có pháp luật phi chính sách hay pháp luật ngoài chính sách Theo nghĩa đó, chính sách chính là linh hồn, là nội dung của pháp luật, còn pháp luật là hình thức, là phương tiện
Trang 22thể hiện của chính sách khi nó được thừa nhận, được “ nhào nặn” bởi “ bàn tay công quyền”, tức là được ban hành bởi nhà nước theo một trình tự luật định
Như vậy, chính sách luôn gắn liền với quyền lực chính trị, với đảng cầm quyền
và bộ máy quyền lực công - nhà nước
Tóm lại có thể hiểu: “Chính sách là đường lối cụ thể của một chính đảng hoặc một chủ thể quyền lực về một lĩnh vực nhất định cùng các biện pháp, kế hoạch thực hiện đường lối ấy”
1.1.4.2 Chính sách đất đai
Chính sách đất đai là tổng thể quan điểm, chủ trương, đường lối, phương pháp
và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động vào lĩnh vực đất đai nhằm thực hiện các mục tiêu mà Nhà nước mong muốn
Chính sách đất đai khác với các chính sách khác ở chỗ đối tượng mà nó tác động và mục đích của sự tác động đó Không thể hiểu đối tượng tác động của chính sách đất đai chỉ đơn thuần là đất đai mà phải cụ thể và trực diện hơn là sự vận động của yếu tố đất đai trong quá trình tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội theo quy luật nhất định Chính sách đất đai vừa mang tính chất đặc thù của chính sách công tác động đến nguồn lực quan trọng nhất của sự sống và phát triển đồng thời mang tính giai cấp chính trị và xã hội sâu sắc
1.1.4.3 Khái niệm vai trò của chính sách đất đai
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Quyền sử dụng đất là một loại tài sản và hàng hoá đặc biệt, nhưng không phải
là quyền sở hữu, được xác định cụ thể phù hợp với từng loại đất, từng đối tượng và hình thức giao đất, cho thuê đất
- Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất để sử dụng ổn định lâu dài hoặc có thời hạn và có các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất và được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, tuỳ theo từng loại đất
và nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật Người sử dụng đất có nghĩa vụ phải đăng ký quyền sử dụng đất, sử dụng đất đúng mục đích, tuân thủ quy hoạch, trả lại đất khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất, chấp hành pháp luật về đất đai
- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai; đẩy mạnh cải cách hành chính, bảo đảm công khai, minh bạch trong quản lý đất đai Phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ về đất đai Xây dựng hệ thống quản lý đất đai tiên tiến, ưu tiên đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, hạ tầng thông tin đất đai hiện đại
- Chính sách, pháp luật về đất đai phải góp phần ổn định chính trị - xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hội nhập quốc tế; huy
Trang 23động tốt nhất nguồn lực từ đất để phát triển đất nước; bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, của người sử dụng đất và của nhà đầu tư; bảo đảm cho thị trường bất động sản, trong đó có quyền sử dụng đất, phát triển lành mạnh, ngăn chặn tình trạng đầu cơ Sử dụng có hiệu quả các công cụ về giá, thuế trong quản lý đất đai nhằm khắc phục tình trạng lãng phí, tham nhũng, khiếu kiện
1.1.4.4 Vai trò, vị trí của chính sách về đất đai đối với sự phát triển
* Đối với cơ sở hạ tầng
Việt Nam là nước có nền kinh tế đang phát triển, nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đã có những thay đổi về mọi mặt như: đang trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, với tốc độ phát triển nhanh và đạt được những thành quả hết sức quan trọng trong quá trình đổi mới đất nước, luôn chú trọng, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các cá nhân, doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vốn, khoa học, kĩ thuật vào Việt Nam Do đó đã thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước Công tác bồi thường, GPMB là một công việc rất khó khăn, phức tạp và được xã hội đặc biệt quan tâm.Bởi công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các tổ chức, các cá nhân và hộ gia đình
- Về mặt kinh tế của dự án: GPMB được thực hiện tốt thì giảm tối đa cho chi phí GPMB, có điều kiện tập trung vốn đầu tư cho các công trình khác GPMB kéo dài dẫn đến chi phí bồi thường lớn, tiến độ hoàn thành dự án lâu dẫn đến sự quay vòng vốn chậm gây khó khăn cho các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư trong nước có nguồn vốn hạn hẹp thì việc quay vòng vốn là cần thiết để đảm bảo tận dụng các cơ hội đấu thầu của các công trình khác
- Về bồi thường thiệt hại: Điều tra khảo sát và lập phương án bồi thường hợp lí đảm bảo giải toả nhanh chóng Tuy nhiên, dù thực hiện theo hình thức nào thì Nhà nước cũng phải quan tâm, quản lí chặt chẽ các hoạt động cũng như tiến độ thực hiện các dự án, tránh sự tham nhũng trong quá trình thực hiện Nhà nước cần đề ra mức bồi thường thiệt hại cụ thể đối với từng dự án Tránh trường hợp các dự án của doanh nghiệp muốn đẩy nhanh tiến độ GPMB họ thường chi trả bồi thường cao hơn các dự
án có vốn ngân sách gây ra sự suy bì của người dân có đất bị thu hồi trong các dự án gây khó khăn cho GPMB [13]
* Đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Sự phát triển cơ sở hạ tầng của một quốc gia phản ánh trình độ phát triển kinh
tế cũng như phong tục tập quán và nền văn hoá của quốc gia đó Cho nên nhìn vào bộ mặt đô thị người ta có thể đánh giá nền kinh tế của quốc gia này mạnh hay yếu Ở nước ta việc quy hoạch đã không được thực hiện trong thời gian dài do đó việc phát
Trang 24triển mở rộng đô thị mang tính tự phát, không có quy mô rõ rệt, đường phố chật hẹp, các quy đinh về kiến trúc khu phố không được thiết lập, bộ mặt đô thị xuống cấp Nguyên nhân của vấn đề này một phần do sự quản lí yếu kém của các cơ quan nhà nước, phần khác do sự tăng trưởng quá nhanh về dân số đô thị, diện tích nhà ở bình quân thấp, nhu cầu về nhà ở ngày càng tăng, cộng với ý thức về kiến trúc về đô thị của người dân thấp, mạnh ai người ấy làm, ai mở rộng được bao nhiêu thì mở, gây ảnh hưởng tới việc sắp xếp lại đô thị cũng như xay dựng phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị
* Thị trường bất động sản
Có thể nói rằng, thị trường đất đai là một thị trường nhạy cảm Các yếu tố thị trường như cung cầu đất đai, giá cả của đất đai, tính chất của đất đai có ảnh hưởng lớn đến công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ tái định cư Trước đây, mức sống của người dân còn thấp, thu nhập hầu như chỉ đủ lo ăn mặc, lo sinh hoạt cuộc sống hằng ngày mà ít người ít nghĩ đến việc mua bán đất Nhưng do thu nhập được nâng cao, dân
số tăng nhanh, người dân có nhu cầu tìm chổ ở rộng rãi, thoải mái đang là một nhu cầu bức thiết đặc biệt trong quá trình đô thị hóa chóng mặt đặc biệt trong quá trình đô thị hóa như hiện nay Người dân ồ ạt ra các thành phố mua đất, làm cho đất đai nói chung
và đất đô thị nói riêng có giá tăng cao Do quá trình bồi thường, GPMB ở nhiều nơi phải tính toán đến những vấn đề này và ở mỗi nơi lại có những đặc điểm thị trường riêng nên
để hoàn thành được công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng cần hết sức chú ý đến công tác định giá đất, đến các đặc điểm thị trường đất đai của địa phương
Vấn đề giá cả là yếu tố quan trọng, giá đất cao hay thấp là một trong những điều kiện để người sở hữu, sử dụng đất ra quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận mức bồi thường, giao đất hoặc không giao đất Cung cầu đất trên thị trường là một nhân tố
có ảnh hưởng lớn đến giá đất Nếu cung lớn hơn cầu về đất đai, thì giá cả đất đai có xu hướng giảm xuống; ngược lại, nếu cầu đất lớn hơn cung về đất đai thì giá cả có xu hướng tăng lên Trong thực tế hiện nay, giá đất thường có xu hướng tăng lên đặc biệt ở các khu vực đô thị, do diện tích đất đai có hạn mà nhu cầu về đất đai của người dân tăng lên rất nhiều so với nguồn cung
1.1.5 Tổng quan về du lịch
1.1.5.1 Khái quát chung về du lịch
Trong lịch sử nhân loại, du lịch được ghi nhận như một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người Ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hoá - xã hội của người dân.Về mặt kinh tế, du lịch đã trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước công nghiệp phát triển Du lịch được coi như một ngành “công nghiệp không khói” và hiện nay ngành
“công nghiệp” này chỉ đứng sau ngành công nghiệp dầu khí và ô tô Thuật ngữ du lịch trong ngôn ngữ nhiều nước bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với ý nghĩa là đi một vòng,
Trang 25người Trung Quốc lại gọi thuật ngữ này là du lãm với ý nghĩa là đi chơi để nâng cao nhận thức.Vì vậy, cho đến tận ngày nay, nhận thức khái niệm về du lịch vẫn chưa thống nhất, cụ thể
Theo Luật Du lịch Việt Nam, du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định Hoạt động
du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, các di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch Tài nguyên du lịch có thể thuộc
sở hữu Nhà nước hoặc sở hữu của tổ chức, cá nhân Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác
- Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch
- Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch [21]
Tài nguyên du lịch phải được bảo vệ, tôn tạo và khai thác hợp lý để phát huy hiệu quả sử dụng và bảo đảm phát triển du lịch bền vững Nhà nước thống nhất quản lý tài nguyên du lịch trong phạm vi cả nước, có chính sách và biện pháp để bảo vệ, tôn tạo
và khai thác hợp lý tài nguyên du lịch, trong đó có tài nguyên đất đai
Cùng với sự phát triển không ngừng của xã hội, ngành du lịch ngày càng chứng
tỏ vị trí, vai trò quan trọng trong nền kinh tế Để đảm bảo phát triển du lịch bền vững, ngành du lịch cần tuân thủ đúng và thực hiện tốt những nguyên tắc phát triển đã đặt ra, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban nghành liên quan về công tác quản lý Nhà nước về du lịch
Những nhiệm vụ và nội dung quản lý Nhà nước về du lịch bao gồm:
- Tổ chức quản lý việc lập và thực hiện quy hoạch
- Phối hợp với các cơ quan quản lý, các bộ phận hoặc ngành có liên quan để thẩm định các dự án quy hoạch, các kế hoạch, các chương trình và các dự án đầu tư phát triển du lịch
Trang 26- Phối hợp với các cơ quan chức năng soạn thảo văn kiện, pháp chế, quy phạm về các hoạt động đầu tư, quản lý, bảo tồn, khai thác tài nguyên môi trường du lịch, các hoạt động kinh doanh du lịch, xúc tiến phát triển du lịch, sử dụng, đào tạo nguồn nhân lực
- Tổ chức quản lý mọi hoạt động du lịch trên lãnh thổ theo pháp luật và quy chế hiện hành của các địa phương và của quốc gia gồm các mặt:
+ Đầu tư khai thác du lịch theo quy hoạch phát triển du lịch
+ Điều tra đánh giá xếp hạng các cơ sở kinh doanh du lịch Các cơ sở lưu trú, nhà hàng hoặc các khu du lịch
+ Tổ chức đánh giá tài nguyên môi trường du lịch, phân tích thị trường và nguồn nhân lực du lịch
+ Xúc tiến phát triển du lịch: tổ chức các sự kiện du lịch, các hội nghị, hội chợ, hội thảo du lịch, thúc đẩy liên kết hợp tác quốc tế và trong nước trong các lĩnh vực; thành lập các trung tâm xúc tiến du lịch; tăng cường thông tin tuyên truyền và quảng
sự phát triển của ngành du lịch Khánh Hòa
Thứ hai, phát triển du lịch không chỉ đơn thuần là sự gia tăng về quy mô, số lượng mà còn bao hàm việc mở rộng chủng loại, phát triển đa dạng hóa các sản phẩm, các loại hình du lịch, như xây dựng tour, các tuyến du lịch, các sản phẩm đặc trưng… Bên cạnh việc mở rộng chủng loại, đa dạng hóa các sản phẩm, các loại hình du lịch,
Trang 27cần phải chú trọng nâng cao chất lượng các dịch vụ, sản phẩm, hàng hóa để phục vụ tiêu dùng cho du khách
Thứ ba, hoạt động kinh doanh của ngành du lịch ngày gia tăng hiệu quả và năng lực cạnh tranh so với các ngành du lịch khác Cơ cấu ngành du lịch thay đổi theo hướng tiến bộ, sự phát triển Kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế với tỷ trọng GDP của ngành du lịch ngày càng tăng, thúc đẩy ngành kinh tế khác trong hội cùng phát triển
Thứ tư, ngoài ra còn giải quyết việc làm, giữ gìn và bảo vệ môi trường [9]
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.2.1 Chính sách đất đai ở một số nước
1.2.1.1 Lào
Hiến pháp năm 1991, Luật đất đai năm 1997 của Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào đều khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý, là
tư liệu sản xuất đặc biệt, là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá
Chính sách về quản lý và sử dụng đất đai là một bộ phận quan trọng cùng với các chính sách phát triển kinh tế, ổn định xã hội của Đảng và Nhà nước Trải qua từng thời điểm khác nhau, chính sách sử dụng đất đai cũng có nhiều thay đổi và bổ sung phù hợp với sự thay đổi của tình hình mới Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân Dân Lào đã
có Luật đất đai năm 1997, nhưng những quy định của Luật chưa lường hết được những biến động của quan hệ đất đai Trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế, có nhiều vấn
đề đặt ra cần phải được xem xét, tổng kết để xây dựng và hoàn chỉnh chính sách đất đai phục vụ cho thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa VII của Đảng Nhân dân cách mạng Lào đã nêu: “ Luật đất đai năm 1997 sau hơn 6 năm thực hiện, bên cạnh những mặt tích cực đã bộc lộ một số điểm chưa thật phù hợp, chưa đủ cụ thể để xử lí những vấn đề mới phát sinh, nhất là trong việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, làm cho quan hệ về đất đai trong xã hội rất phức tạp, không chỉ về mặt kinh tế mà còn ảnh hưởng đến cả ổn định xã hội” Cụ thể hóa Nghị quyết Hội nghị trung ương 4 khóa VII, nhà nước Lào ban hành Luật Đất đai năm 2003
Trong quan hệ đất đai, nước Cộng hòa Nhân dân Lào vẫn giữ nguyên hình thức
sở hữu toàn dân nhưng giao người sử dụng đất các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, góp vốn kinh doanh, liên kết sản xuất kinh doanh Đất đai
là “tư liệu sản xuất đặc biệt”, sử dụng nó phải thông qua Nhà nước điều tiết để có hiệu quả hơn Nhà nước lập quy hoạch, kế hoạch và xác định mục đích sử dụng đất, tạo cơ
sở cho người sử dụng đất vừa phát huy được tính chủ động của mình trong quá trình
sử dụng đất, vừa đảm bảo các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội chung của cả cộng
Trang 28đồng, nhất là việc đảm bảo an toàn lương thực cho đất nước, nguyên liệu cho phát triển công nghiệp và môi trường sống [22]
1.2.1.2 Trung Quốc
Hệ thống sở hữu đất ở Trung Quốc kết hợp giữa quyền sử dụng cá nhân với sở hữu công cộng nhằm mục đích ưu đãi khuyến khích phát triển kinh tế cho các hộ nông dân Trong khi đó, Chính phủ Trung Quốc chưa cho phép trao toàn quyền sở hữu và chuyển nhượng đất cho nông dân Thông thường, đất nông nghiệp thuộc sở hữu chung của một nhóm từ 30 - 40 hộ gia đình, trong một số trường hợp, một làng là chủ sở hữu (có khoảng 10 nhóm trong mỗi làng)
Theo cách sở hữu chung, nông dân Trung Quốc không có quyền sở hữu đối với đất đai và đương nhiên càng không có quyền mua bán Thay vào đó, các quan chức địa phương tiến hành phân bổ quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình hoặc quyền canh tác trên những mảnh đất chuyên canh
Cũng giống như Việt Nam, Trung Quốc không thừa nhận tư hữu đối với đất đai Dưới hệ thống kinh tế kế hoạch XHCN, quyền sở hữu tài sản đối với tài nguyên thiên nhiên và các phương tiện sản xuất phần lớn đều bị quốc hữu hóa ngay sau khi Đảng Cộng sản Trung Quốc nắm quyền lực [12]
1.2.1.3 Đài Loan
Chính quyền đã thực hiện cải cách ruộng đất theo nguyên tắc phân phối đồng đều ruộng đất cho nông dân Ruộng đất đã được trưng thu, tịch thu, mua lại của các địa chủ rồi bán chịu, bán trả dần cho nông dân Điêù này đã tạo điều kiện cho ra đời các trang trại gia đình quy mô nhỏ Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn sau này đòi hỏi phải mở rộng quy mô của các trang trại gia đình nhằm ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm Nhưng ruộng đất vẫn không được tích tụ cho dù đã có nhiều người tuy là chủ đất nhưng đã chuyển sang làm những nghề phi nông nghiệp, vì người dân coi ruộng đất là tiêu chí
để đánh giá vị trí của họ trong xã hội nên ít có sự chuyển nhượng đất Năm 1983, Đài loan công bố Luật phát triển nông nghiệp trong đó công nhận phương thức sản xuất
uỷ thác của các hộ nông dân, Nhà nước công nhận sự chuyển quyền sử dụng ruộng đất cho các hộ khác nhưng chủ ruộng cũ vẫn được thừa nhận quyền sở hữu, ước tính
đã có tới trên 75% số trang trại áp dụng phương thức này để mở rộng quy mô ruộng đất sản xuất Ngoài ra để mở rộng quy mô sản xuất các trang trại trong cùng thôn xóm còn tiến hành các hoạt động hợp tác như làm đất, mua bán chung một số vật tư, sản phẩm nông nghiệp [4]
1.2.2 Chính sách pháp luật đất đai của Việt Nam
Các chính sách đất đai nói chung và chính sách ruộng đất nói riêng đối với nông dân luôn có tầm quan trọng và ý nghĩa đặc biệt, các chính sách ruộng đất ở nước ta
Trang 29luôn luôn phải xem xét giải quyết mọi hiện tượng và tình huống về đất đai không đơn thuần chỉ về mặt hiệu quả kinh tế mà còn cả về các mặt chính trị - xã hội đan xen và phải giữ được các nguyên tắc cơ bản theo định hướng XHCN, nhằm đáp ứng yêu cầu của các thời điểm phát triển nông nghiệp và nông thôn một cách ổn định, bền vững, thuận theo tiến trình đổi mới chung của đất nước
Hiến pháp năm 1980 quy định: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa đều thuộc sở hữu toàn dân”;
“Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch chung, nhằm bảo đảm đất đai được sử dụng hợp lý và tiết kiệm Những tập thể và cá nhân đang sử dụng đất đai được tiếp tục sử dụng và hưởng kết quả lao động cuả mình theo quy định của pháp luật Đất dành cho nông nghiệp và lâm nghiệp không được dùng vào việc khác, nếu không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép, đánh dấu một bước chuyển cơ bản và quan trọng về chính sách đất đai của Đảng và Nhà nước ta kể từ sau cải cách ruộng đất
và tập thể hoá nông nghiệp
Luật Đất đai năm 1993 quy định: " Nhà nước cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê đất Nhà nước cho tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê đất"; "Người sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận thì được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền xét và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Hộ gia đình, cá nhân được nhà nước giao đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất Thời gian giao đất sử dụng ổn định lâu dài để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản là 20 năm, để trồng cây lâu năm là 50 năm [1]
Luật Đất đai năm 1993 sau 5 năm thực hiện, bên cạnh những mặt tích cực đã bộc
lộ một số điểm chưa thật phù hợp, chưa đủ cụ thể để xử lý những vấn đề mới phát sinh, nhất là trong việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, làm cho quan hệ về đất đai trong
xã hội rất phức tạp, không chỉ về mặt kinh tế mà có ảnh hưởng đến cả ổn định xã hội Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1993, nhằm hoàn chỉnh thêm một bước về pháp luật, đáp ứng tình hình mới, yêu cầu mới của phát triển đất nước, nâng cao tính pháp lý các chế định của Luật mà trước hết là các chế định có liên quan đến việc bảo đảm các quyền, nghĩa vụ chính đáng của tổ chức, hộ gia đình, và cá nhân sử dụng đất Đối với các tổ chức được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất theo mục đích được giao và quyền của tổ chức kinh tế sử dụng đất vào sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối
Luật đất đai năm 1993 được sửa đổi bổ sung năm 1998 và năm 2001 là một trong những đạo luật quan trọng thể hiện đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước ta Những kết quả đạt được trong việc thực hiện luật đất đai đã thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội Công tác quản lý nhà nước về đất đai dựa trên nền tảng hệ thống pháp luật đất đai ngày càng hoàn thiện; hệ thống quản lý nhà nước về đất đai được tăng cường; chính
Trang 30sách, pháp luật đất đai đã trở thành một trong những động lực chủ yếu để đưa nước ta vào nhóm những nước hàng đầu thế giới về xuất khẩu nông sản và thủy sản Kinh tế nông nghiệp đã thoát khỏi tình trạng tự cấp, tự túc và chuyển sang sản xuất hàng hóa;
bộ mặt nông thôn được cải thiện Tuy nhiên, hệ thống chính sách, pháp luật đất đai đã được sửa đổi vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Mặt khác, các văn bản quy phạm pháp luật đất đai ban hành, sửa đổi nhiều lần, vừa thiếu đồng bộ vừa chồng chéo, mâu thuẫn và trong nhiều trường hợp thiếu sự thống nhất
Luật đất đai năm 2003 quy định việc Nhà nước có chính sách bảo đảm cho người
sử dụng đất trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối
có đất để sản xuất như Luật đất đai năm 2001; Bổ sung nội dung Nhà nước có chính sách phát triển ngành nghề, giải quyết việc làm cho lao động trong nông nghiệp nông thôn, chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất đồng bộ với quá trình chuyển đổi cơ cấo kinh tế, đảm bảp đời sống của nông dân và về sử dụng đất đai trong giai đoạn mới
Luật Đất đai là công cụ pháp lý quan trọng để Nhà nước quản lý, điều tiết các mối quan hệ về đất đai Qua hơn 10 năm thi hành, Luật Đất đai năm 2003 đã phát huy khá tốt vai trò ổn định các mối quan hệ về đất đai Tuy nhiên, nó cũng đã bộc lộ những hạn chế nhất định, dẫn đến việc thực thi pháp luật về đất đai còn nhiều bất cập, ảnh hưởng không tốt đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Do vậy, cần thiết phải ban hành Luật Đất đai mới thay thế Luật Đất đai năm 2003
Ngày 29/11/2013, Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai năm 2013, Luật này sẽ có hiệu lực kể từ 01/7/2014 So với Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm 2013 có 14 chương với 212 điều, tăng 7 chương và 66 điều, đã khắc phục, giải quyết được những tồn tại, hạn chế phát sinh trong quá trình thi hành Luật đất đai năm 2003
Luật Đất đai năm 2013 vừa tiếp tục kế thừa, luật hóa những quy định còn phù hợp đã và đang đi vào cuộc sống của Luật Đất đai năm 2003, nhưng đồng thời đã sửa đổi, bổ sung một số quy định định mới nhằm tháo gỡ những hạn chế, bất cập của Luật Đất đai năm 2003
Luật Đất đai năm 2013 đã cụ thể hóa các quyền của Nhà nước đối với đất đai như: Quy định rõ các quyền của Nhà nước đối với đất đai như quyền của đại diện chủ
sở hữu; quyền quyết định mục đích sử dụng đất; quy định hạn mức sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất; quyền quyết định thu hồi, trưng dụng đất đai; quyền quyết định giá đất; quyết định chính sách tài chính về đất đai…
Đồng thời, Luật cũng quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai như: trách nhiệm cụ thể của Nhà nước về quản lý đất đai, những bảo đảm của Nhà nước đối với người sử dụng đất; trách nhiệm của Nhà nước về đất ở, đất sản xuất nông nghiệp cho đồng bào dân tộc thiểu số; trách nhiệm của Nhà nước trong việc xây dựng, cung cấp thông tin đất đai và trách nhiệm của công chức địa chính tại xã, phường, thị trấn
Trang 31Luật mở rộng thời hạn giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sản suất nông nghiệp; mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất của hộ gia đình,
cá nhân đáp ứng yêu cầu tích tụ đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại phù hợp với đường lối phát triển nông nghiệp, nông thôn Cụ thể: nâng thời hạn giao đất nông nghiệp trong hạn mức đối với hộ gia đình, cá nhân từ 20 năm lên 50 năm, thống nhất cho các loại đất nông nghiệp (đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp); cho phép hộ gia đình, cá nhân tích tụ với diện tích lớn hơn (không quá 10 lần hạn mức giao đất nông nghiệp) Luật quy định hoàn chỉnh hơn các chính sách đất đai đối với khu vực nông nghiệp [24]
1.2.3 Du lịch và hoạt động du lịch ở Việt Nam
Sự bùng nổ của ngành kinh tế du lịch là một xu hướng tất yếu, khách quan trên phạm vi toàn cầu Ngoài ra, sự đi lại của con người và ăn nghỉ là quá trình tự nhiên
Do vậy, nhu cầu này trở nên ngày càng cao trong xã hội hiện đại
Mặt khác, xu hướng hợp tác đa phương và song phương của các quốc gia trên thế giới để đạt mục tiêu hòa bình và hữu nghị chính là động lực làm cho du lịch phát triển
và có vị thế hết sức quan trọng trong nền kinh tế của tất cả các quốc gia
Du lịch giúp thúc đẩy các hoạt động thương mại, giúp cho các dân tộc trên thế giới xích lại gần nhau về mặt văn hóa, ngôn ngữ và du lịch cũng góp cho người của quốc gia này mang tiền, tài sản của mình sang đầu tư ở quốc gia khác
Theo Tổ chức du lịch thế giới, năm 2012 tổng thu từ du lịch quốc tế ở các điểm đến trên toàn thế giới đạt 1.075 tỷ USD, tăng 4% so với con số đạt 1.042 tỷ USD năm
2011 Con số tăng trưởng này đại diện cho 4% tăng về số lượt khách du lịch quốc tế, đạt 1.035 triệu lượt năm 2012 Tổng thu từ hoạt động vận chuyển khách du lịch quốc
tế tăng 219 triệu USD, đưa tổng thu xuất khẩu từ du lịch quốc tế năm 2012 lên 1,3 nghìn tỷ USD
Các dự án đầu tư vào bất động sản du lịch dọc theo bờ biển hơn 3.000 km và tại các thành phố lớn đang gia tăng nhanh chóng Nền kinh tế Việt Nam đang chuyển đổi
từ nông nghiệp sang nền kinh tế dịch vụ Hơn một phần ba của tổng sản phẩm trong nước được tạo ra bởi các dịch vụ, trong đó bao gồm khách sạn và phục vụ công nghiệp
và giao thông vận tải Trong khi đó, du lịch đóng góp 4,5% trong tổng sản phẩm quốc nội (thời điểm 2007) Ngày càng có nhiều dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào ngành du lịch Sau các ngành công nghiệp nặng và phát triển đô thị, đầu tư nước ngoài hầu hết đã được tập trung vào du lịch, đặc biệt là trong các dự án khách sạn
Với tiềm năng lớn, từ năm 2001, Du lịch Việt Nam đã được chính phủ quy hoạch, định hướng để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Mặc dù "Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 - 2010" có vài chỉ tiêu không đạt được, từ năm 2011,
Trang 32"Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030" đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam phê duyệt ngày 30/12/2011 để tiếp nối
Sự phát triển du lịch gắn liền với dòng khách du lịch, bao gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế
Theo số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ khách quốc tế đến Việt Nam lần đầu và khách đến từ hai lần trở lên lần lượt là 60,4% và 39,6% (năm 2009); 61,1%
và 38,9% (năm 2011); 66,1% và 33,9% (năm 2013) Có thể thấy tỷ lệ này không biến động lớn qua các năm và duy trì ở mức độ khá hài hòa
Xét về tổng thể, điều quan trọng là các chỉ số về lượng khách và tổng thu của Du lịch Việt Nam đạt tăng trưởng tốt qua các năm Nếu năm 2005 đón được 3,4 triệu lượt khách thì năm 2010 đón được 5 triệu lượt và năm 2013 vừa qua là 7,5 triệu lượt Đồng thời, lượng khách du lịch nội địa cũng ngày càng tăng 2005 là 16,1 triệu lượt, năm
2010 là 28 triệu lượt và năm 2013 là 35 triệu lượt Đặc biệt, tổng thu từ du lịch những năm gần đây có sự tăng trưởng vượt bậc khi năm 2013 đạt tới 200 nghìn tỷ đồng, trong khi năm 2010 mới đạt 96 nghìn tỷ và năm 2005 đạt 30 nghìn tỷ Tốc độ tăng trưởng của tổng thu từ khách du lịch đang tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng khách du lịch, đóng góp của ngành Du lịch vào cơ cấu GDP đất nước ngày càng lớn trong bối cảnh tình hình kinh tế trong nước còn nhiều khó khăn
Các khu du lịch nghỉ dưỡng phức hợp của Việt Nam vừa nêu trên nhìn chung đều đạt tiêu chuẩn quốc tế, hoạt động hiệu quả và không ngừng cải thiện chất lượng, tạo sự hứng khởi cho khách tham quan du lịch, nghỉ dưỡng và vui chơi Một số ví dụ
cụ thể:
Khu vui chơi giải trí quốc tế Tuần Châu được thành lập từ năm 2002 với diện
tích 220 ha, là khu nghỉ dưỡng phức hợp cao cấp duy nhất của thành phố Hạ Long có
vị trí liền kề bờ biển, rất thuận tiện di chuyển sang vịnh Hạ Long, đảo Cát Bà Hệ thống villa Tuan Chau Holiday và khách sạn Morning Star cung cấp trên 300 phòng nghỉ đạt tiêu chuẩn 5 sao quốc tế Bãi tắm nhân tạo của khu du lịch dài hơn 4 km Các tiện ích khác ngoài phòng ở là: câu lạc bộ biểu diễn cá heo; công viên trình diễn nhạc nước, laser, chiếu phim trên màn nước; khu ẩm thực Việt Nam phục vụ cùng lúc hơn
1000 thực khách và nhiều phòng VIP lớn, nhỡ và nhỏ với sức chứa từ 15 đến 150 người mỗi phòng; khu vui chơi giải trí dưới nước gồm cano kéo dù, môtô trượt nước tốc độ cao… Dịch vụ tham quan vịnh Hạ Long của khu du lịch rất đa dạng và tiện lợi với hệ thống tàu du lịch, cano, thủy phi cơ, máy bay trực thăng Đặc biệt, khu du lịch này còn sở hữu du thuyền cao cấp Paradise Cruises với hệ thống buồng phòng và dịch
vụ rất tiện nghi, sang trọng Tổ hợp sân golf 18 lỗ tại phía Tây Bắc đảo Tuần Châu đang được nâng cấp lên thành sân golf 27 lỗ
Trang 33Khu nghỉ dưỡng phức hợp Laguna Lăng Cô rộng 280 ha nằm kề bên vịnh
Lăng Cô, bờ biển dài 3 km, tầm nhìn hướng thẳng biển Đông, nằm ngay trên con đường di sản miền Trung với các di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận như cố đô Huế, phố cổ Hội An và thánh địa Mỹ Sơn Khu nghỉ dưỡng phức hợp bao
gồm các khách sạn, spa, trung tâm hội nghị, tổ chức sự kiện Các biệt thự riêng biệt và
khu dân cư cao cấp sẵn sàng được chào bán Mỗi căn biệt thự đồi Banyan Tree Lăng
Cô có diện tích từ 152 mét vuông đến 260 m2, có sân hiên rộng rãi với hồ bơi và
hồ massagethủy lực riêng Câu lạc bộ Golf Laguna Lăng Cô gồm một sân golf 18 lỗ
được thiết kế đúng chuẩn quốc tế Nơi đây còn có nhiều hoạt động giải trí cho khách hàng ở mọi lứa tuổi
The Grand Hồ Tràm Strip là khu nghỉ dưỡng phức hợp có quy mô lớn nhất ở
miền Nam và hứa hẹn sẽ là khu du lịch nghỉ dưỡng phức hợp xa hoa nhất của Việt Nam.Khu nghỉ dưỡng này được đầu tư bởi tập đoàn Asian Coast Development (Canada, viết tắt là ACDL) chuyên về đầu tư và xây dựng các khu nghỉ dưỡng phức hợp The Grand Hồ Tràm Strip tọa lạc tại Xuyên Mộc (Bà Rịa Vũng Tàu) rộng hơn
164 ha, bãi biển dài 2,2 km Thế mạnh của khu nghỉ dưỡng này là cơ sở vật chất và dịch vụ đạt chuẩn quốc tế bao gồm: 1.100 phòng khách sạn 5 sao; trung tâm trò chơi giải trí có thưởng (một hình thức của casino); trung tâm hội nghị rộng 2.200 m2 với các phòng họp cao cấp có sức chứa đến 1.500 người; khu vực giải trí rộng 6.000 m2 bao gồm 9 nhà hàng phục vụ các món Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản, Pháp và Mỹ,
sân golf The Bluffs 18 lỗ, trung tâm thể thao với 3 bể bơi ngoài trời hướng biển và các
tiện nghi giải trí bãi biển đa dạng khác Tính đến khi dự án hoàn thành (dự kiến năm 2020), The Grand Hồ Tràm Strip sẽ có 5 khu nghỉ dưỡng với 9.000 phòng tiêu chuẩn 5 sao và hệ thống trung tâm thương mại; trở thành một Las Vegas của Việt Nam với 2.500 máy đánh bạc và 270 bàn chơi bài
Ngành Du lịch cũng đang góp phần tạo công ăn việc làm, giải quyết an sinh xã hội Đến năm 2013, ước tính đã có trên 1,7 triệu lao động làm việc trong lĩnh vực du lịch, trong đó 550 nghìn lao động trực tiếp và 1,2 triệu lao động gián tiếp [8]
1.2.4 Hoạt động du lịch và các dự án có loại hình đất ở trong khu du lịch ở tỉnh Khánh Hòa
Tính đến thời điểm 2014, có thể nói Vinpearl Nha Trang là khu du lịch nghỉ dưỡng phức hợp hoạt động ổn định và thành công nhất ở Việt Nam.Sự ổn định của Vinpearl Nha Trang nằm ở vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng, nguồn khách hàng trong và ngoài nước, đặc biệt là khách Nga, Trung Quốc Vinpearl Nha Trang tọa lạc ở đảo Hòn Tre, tỉnh Khánh Hòa với hệ thống cáp treo và ca nô đi vào đảo rất nhanh chóng
và an toàn; hệ thống resort với 485 phòng nghỉ; phòng hội thảo, trung tâm tổ chức sự kiện 1500 chỗ ngồi, sân khấu ngoài trời có mái che 5000 chỗ ngồi; công viên giải trí
Trang 34Vinpearl Land có diện tích gần 200.000 m2 gồm phố mua sắm, công viên nước, sân khấu nhạc nước, thủy cung… Bãi tắm tự nhiên của khu nghỉ dưỡng này dài 700 m Ngoài ra, hệ thống bể bơi ngoài trời có diện tích hơn 5.700 m2, rộng nhất Đông Nam
Á được bố trí nằm giữa vườn dừa, thảm cỏ, vườn cây xanh… Chủ nhân của khu du lịch đảo này cũng rất chú trọng yếu tố tâm linh khi xây dựng Trúc Lâm tịnh viện với diện tích 3,3 ha trên ngọn đồi cao nhất của khuôn viên Hiện nay, tập đoàn Vingroup
đã phát triển thêm hai khu du lịch nghỉ dưỡng phức hợp là Vinpearl Hạ Long và Vinpearl Phú Quốc với mô hình tương tự Vinpearl Nha Trang nhưng hiện đại hơn Riêng sân golf của Vinpearl Phú Quốc có 27 lỗ chuẩn quốc tế
Nhìn chung, các khu du lịch nghỉ dưỡng phức hợp ở Khánh Hòa Nam đều có những thế mạnh nhất định:
Đầu tiên, đó là thế mạnh về điều kiện tự nhiên Với mặt tiền hướng ra biển Đông,
là điểm cực Đông của tổ quốc các khu du lịch nghỉ dưỡng phức hợp đều nằm ở các vị trí thuận lợi, được thiên nhiên ưu đãi về cảnh quan: các dãy núi cao, dài; các vịnh và bãi biển đẹp; hệ thống rừng nguyên sinh còn tương đối; khí hậu mát mẻ, trong lành… Thứ hai, các khu du lịch nghỉ dưỡng phức hợp này thường tọa lạc ở những thành phố lớn, không quá xa trung tâm hành chính và có hệ thống phương tiện vận chuyển
đa dạng, tiện lợi
Thứ ba, hệ thống resort, khách sạn của các khu du lịch nghỉ dưỡng phức hợp ở Khánh Hòa có đội ngũ nhân lực dồi dào, trẻ trung, giá thuê lao động rẻ vì đa phần sử dụng nguồn lao động sẵn có của địa phương Chất lượng dịch vụ tốt, sự thân thiện của con người địa phương, sự cạnh tranh về giá cả cũng là những điểm mạnh của các khu
du lịch nghỉ dưỡng phức hợp tại Việt Nam
Dù vậy, các nhược điểm không phải là không có, đó là:
Điều đầu tiên có thể thấy là kiến trúc quần thể của các khu du lịch nghỉ dưỡng phức hợp chưa có nét riêng và khuyết hẳn bản sắc văn hóa Khánh Hòa Đa số cấu trúc của các khu du lịch nghỉ dưỡng phức hợp tại Khánh Hòa hiện nay chỉ tập trung vào sự hiện đại, tiện dụng và sang trọng chứ không có phong cách riêng
Một điểm đáng tiếc nữa là các khu du lịch nghỉ dưỡng phức hợp Khánh Hòa đang đi vào lối mòn về phương thức tổ chức Du khách đến các khu du lịch nghỉ dưỡng phức hợp đi theo một quy trình gần như khép kín là nghỉ ngơi – tắm biển, hồ –
ăn uống – tham quan và giải trí ở vài địa điểm lân cận resort Các khu du lịch nghỉ dưỡng phức hợp của ta chưa có những chương trình được thiết kế riêng phù hợp với nhu cầu của khách hàng (ví dụ tour mua sắm đặc sản địa phương,tour đi các điểm tham quan “đinh”, “độc” trong vùng, tour làng nghề, tour cho trẻ em…) Các sản phẩm được bán tại khu nghỉ dưỡng cũng không đặc sắc và giá cả không phù hợp
Trang 35Một vấn đề khác là độ cởi mở của các chính sách Nhà nước và địa phương dành cho các khu du lịch nghỉ dưỡng phức hợp là chưa tuyệt đối, đó là chưa kể sự lúng túng trong việc xử lý các chính sách Chẳng hạn như việc tổ chức và quản lý casino tại Việt Nam vẫn còn nhiều quan điểm đối nghịch nhau và nếu không giải quyết được ngọn ngành thì khả năng chảy máu tiền tệ là tất yếu vì khách Việt Nam sẽ bay sang Singapore, Malaysia hoặc đi xe sang Campuchia để đánh bạc, còn khách nước ngoài cũng sẽ cân nhắc hơn khi lựa chọn Việt Nam là điểm đến vì không có các hình thức giải trí mà họ mong muốn
Từ các lý giải và dẫn chứng, có thể thấy tiềm năng phát triển du lịch nghỉ dưỡng
ở Khánh Hòa còn rất lớn để phát triển ngành du lịch Nếu tiếp tục phát huy về điều kiện tự nhiên và nhân văn và hoàn chỉnh các chính sách về hình thức sử dụng đất ở (không hình thành đơn vị ở) trong khu du lịch nghỉ dưỡng nhằm thu hút các nhà đầu
tư đển Khánh Hòa đầu tư góp phần tạo nên thương hiệu địa phương du lịch là điểm đến đáng mơ ước này không chỉ là niềm tự hào, là diện mạo mới của du lịch của tỉnh cũng như Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế
1.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về các chính sách đất đai và sự phát triển du lịch ở trên thế giới và khu vực Và cũng nhiều quan điểm khác nhau trong quá trình phát triển du lịch Trong những năm gần đây các ngành khoa học xã hội và nhân văn cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về chính sách phát triển du lịch ở Việt Nam
Đó là các nghiên cứu về tác động kinh tế xã hội môi trường của quá trình phát triển du lịch đối với các vùng đô thị lớn
Những đề tài này cũng đã cung cấp những cơ sở khoa học cho các cơ quan liên quan đến việc hoạch định cuộc sống, kế hoạch và quá trình phát triển du lịch, quan hệ phát triển kinh tế - xã hội Vấn đề quản lý sử dụng đất trong quá trình phát triển du lịch nói chung và quản lý sử dụng đất du lịch là một vấn đề nóng bỏng cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Trong những năm qua, đã có rất nhiều bài viết đề cập đến vấn đề này, tiêu biểu như:
- Phương Linh, “Du lịch trách nhiệm vì sự phát triển bền vững”, Chương trình
phát triển năng lực du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội Tác giả đã nêu bật lên những vấn đề của quá trình phát triển du lịch trong thời đại mới và trách nhiệm trong bảo vệ môi trường để hướng tới sự phát triển bền vững trong tương lai
- Xuân Lộc, “6 chiến lược phát triển bền vững khu vực Hạ Long”, Tạp chí Hà
Nội mới, ngày 8 – 11 – 2012 Tác giả đã đánh giá thực trạng phát triển du lịch ở Hạ Long, Quảng Ninh, chỉ ra được tác động tích cực và tiêu cực của vấn du lịch ở đây Đề xuất các quan điểm, phương hướng, giải pháp và đưa ra 6 chiến lược phát triển du lịch
Ha Lọng bền vững những năm tới
Trang 36- TS Hà Văn Siêu, “Một số giải pháp phát triển bền vững du lịch biển đảo ở Quảng Ngãi và các tỉnh vùng duyên hải Nam Trung Bộ”, Viện Nghiên cứu phát triển
du lịch Tác giả đã đánh giá thực trạng phát triển du lịch ở Quảng Ngãi đồng thời đề xuất các giải pháp phát triển du lịch ở đây
- Đỗ Minh Tứ, “Sự phát triển của ngành du lịch Khánh Hòa trong 22 năm thực hiện đường lối đổi mới phát triển du lịch của Đảng (1989-2010), Tạp chí Văn hóa du
lịch Tác giả đã đánh giá những thành tựu đạt được của ngành du lịch Khánh Hoà trong
22 năm qua là kết quả của quá trình vận dụng, tìm tòi, sáng tạo trong lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội nói chung và kinh tế du lịch nói riêng của Đảng bộ tỉnh Khánh Hoà, nhờ
đó mà những tiềm năng du lịch to lớn của tỉnh đã và đang được đánh thức
Ngoài ra, có rất nhiều nghiên cứu của các sinh viên, học viên cao học khác về vấn đề phát triển du lịch và các chính sách liên quan đến tỉnh Khánh Hòa như: Thân
Trọng Thụy (2012), Du lịch Khánh Hòa: Tiềm năng, thực trạng và giải pháp, Luận
văn Thạc sĩ Du lịch, Đại học KHXH&NV Hà Nội, Nguyễn Thị Hoàng Điệp (2007),
Phát triển du lịch Khánh Hòa trong xu thế hội nhập, Luận văn Thạc sĩ Địa lí, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Nguyễn Thị Kim Hoa (2004), Sự phát triển của du lịch Khánh Hòa từ cuối thế kỷXIX đến nay, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, ĐH KHXH&NV
Tp.HCM …Các luận văn ấy có góc nhìn khác nhau từ thực trạng cụ thể của từng địa phương đã chỉ rõ ảnh hưởng của sự phát triển du lịch đến phát triển kinh tế xã hội của địa phương
Về chính sách đất đai đối với thì hiện tại ở nước ta ngoài mô hình chuyển mục đích đất trong dự án du lịch sang đất ở không hình thành đơn vị ở tại tỉnh Khánh Hòa
có mô hình chuyển một phần diện tích đất trong dự án du lịch nghỉ dưởng thành đất ở
để xây dựng biệt thự du lịch bảo đảm không hình thành đơn vị ở tại các dự án phát triển du lịch trên địa bàn đảo Phú Quốc, theo đó UBND tỉnh Kiên Giang đã ban hành Quyết định số 2503/QĐ-UBND ngày 26/10/2015 về việc ban hành Quy chế quản lý việc chuyển đổi đất du lịch sang đất ở để xây dựng biệt thự du lịch nghĩ trên địa bàn đảo Phú Quốc Nhằm quy định với các nội dung như:
- Tỷ lệ cho phép chuyển đổi từ đất du lịch sang đất ở tối đa là 10% trên tổng diện tích đất dự án Yêu cầu để được chuyển đổi, dự án du lịch phải có quy mô từ hơn 40ha và chưa có bố trí đất ở trong dự án
- Chủ đầu tư phải đầu tư xây dựng hoàn thành 100% các công trình hạ tầng kỹ thuật và tối thiểu 30% các công trình kiến trúc theo quy hoạch chi tiết Không bố trí đất xây dựng các công trình hạ tầng xã hội để phục vụ việc hình thành đơn vị ở, trừ các công trình phục vụ chung cho toàn khu du lịch
- Về vấn đề chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở gắn với biệt thự du lịch, Chủ đầu tư phải hoàn thành việc đầu tư xây dựng và đưa vào khai thác sử dụng các công trình biệt thự du lịch
Trang 37Quy chế cũng nêu rõ, không được sử dụng các biệt thự du lịch được chuyển đổi cho bất kỳ mục đích nào khác.chỉ được sử dụng cho mục đích nghỉ dưỡng và cho thuê phục vụ du lịch thông qua chủ đầu tư dự án phát triển du lịch Không đăng ký hộ khẩu thường trú đối với đất ở gắn liền với biệt thự du lịch Tính đến mốc cuối tháng 7/2015, Phú Quốc đã thu hút 196 dự án đầu tư trên đảo có 136 dự án đang triển khai, tổng vốn đăng ký hơn 144.000 tỉ đồng, với tổng diện tích 5.110 ha, phần lớn là tập trung vào lĩnh vực du lịch
Nhìn chung những công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến thực trạng phát triển du lịch và đưa ra các giải pháp phát triển du lịch bền vững Tuy nhiên, ở tỉnh Khánh Hòa chưa có bất kỳ công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về hoàn thiện
cơ chế đặc thù chính sách đất đai để thúc đẩy phát triển du lịch tỉnh Khánh Hòa Vì vậy, đề tài mà tôi lựa chọn làm luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp là công trình độc lập, không trùng lặp với các công trình đã được công bố
Trang 38CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
+ Các chính sách đất đai tác động để quá trình phát triển du lịch
+ Các loại hình sử dụng đất để phục vụ phát triển du lịch
+ Quy chế quản lý đất ở (không hình thành đơn vị ở) trong các khu du lịch nghỉ dưỡng tại tỉnh Khánh Hòa
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Đề tài thực hiện ở địa bàn tỉnh Khánh Hòa
- Phạm vi thời gian: Sử dụng số liệu trong thời điểm gần nhất từ năm 2010-2015
2.2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung sau đây:
+ Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình quản lý sử dụng đất của tỉnh Khánh Hòa;
+ Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Khánh Hòa;
+ Thực trạng sử dụng đất cho phát triển du lịch tỉnh Khánh Hòa;
+ Đánh giá tác động của chính sách đất đai đối với sự phát triển du lịch trong việc thu hút đầu tư phát triển cơ sở vật chất đáp ứng quá trình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Khánh Hòa;
+ Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng đất đối với sự phát triển du lịch tỉnh Khánh Hòa
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp
Điều tra, thu thập số liệu thông tin cần thiết trong điều kiện trong phòng, các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu
Thu thập các báo cáo, đánh giá phát triển du lịch Khánh Hòa từ năm 2010 đến năm 2016 tại Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch, Sở kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính Cục Thống kê tỉnh; Trung tâm xúc tiến đầu tư, Trung tâm xúc tiến Du lịch để có được thông tin cơ bản của vùng nghiên cứu
Trang 39Thu thập những văn bản của cơ quan Nhà nước cấp Trung ương và địa phương
2.2.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu sơ cấp
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, đề tài đã sử dụng phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp như sau:
+ Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: Tiến hành đi thực địa, quan sát, chụp ảnh thực tế nhằm kiểm tra các thông tin thu thập về thực trạng sử dụng đất của các dự án
+ Phương pháp chuyên gia: Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp những người am hiểu về chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tình hình sử dụng đất ở vùng nghiên cứu
+ Phương pháp thống kê mô tả: Phương pháp này được vận dụng để mô tả tổng quát về địa bàn nghiên cứu và thực trạng sử dụng đất tại vùng nghiên cứu
2.2.2.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý, phân tích số liệu
- Đối với nguồn số liệu, tài liệu thứ cấp: Tất cả các tài liệu, số liệu thứ cấp thu thập được, sẽ được thống kê, phân loại, lựa chọn và hệ thống theo từng nội dung nghiên cứu Sau đó tiến hành thu thập những số liệu còn thiếu và xác minh lại những
số liệu chưa chính xác hoặc còn nghi ngờ
- Đối với nguồn số liệu, tài liệu sơ cấp: Thông qua kết quả thu được của quá trình điều tra khảo sát thực địa và thống kê qua các phiếu điều tra phỏng vấn các đối tượng
là nhà đầu tư, các bộ thực hiện chính sách theo các chỉ tiêu cần thiết Sau đó phân tích,
xử lý số liệu và đánh giá, đảm bảo các số liệu thu thập có tính đồng bộ cao và tính chính xác
Trang 40CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Khánh Hoà là tỉnh ven biển có điểm cực Đông vươn ra biển xa nhất của đất nước, thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, Khánh Hoà có phạm vi lãnh thổ từ
11041'53'' đến 12052'35'' vĩ độ Bắc và từ 108040' đến 109023'24" kinh độ Đông Khánh Hoà giáp với tỉnh Phú Yên ở phía Bắc, Ninh Thuận ở phía Nam, Đăk Lăk và Lâm Đồng ở phía Tây Phía Đông của Khánh Hoà là biển Đông với đường bờ biển dài trên
200 km Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 5.217,65 km2
với dân số 1.170.840 người, chiếm 1,58% về diện tích và 1,35% về dân số của cả nước; đứng hàng thứ 27 về diện tích và thứ 30 về dân số trong 63 tỉnh, thành phố của nước ta
Cùng với phần đất liền, Khánh Hoà có thềm lục địa và vùng lãnh hải rộng lớn với trên 200 đảo lớn nhỏ nằm rải rác trên biển, trong đó có quần đảo Trường Sa với vị trí rất quan trọng về an ninh, quốc phòng và kinh tế của cả nước Là tỉnh duy nhất có
03 vịnh biển đẹp là vịnh Nha Trang, Vân Phong và vịnh Cam Ranh, là điều kiện lý tưởng để phát triển du lịch cũng như kinh tế biển của tỉnh, đặc biệt là phát triển cảng biển và khai thác, nuôi trồng thủy hải sản
Nằm trên các trục giao thông quan trọng của cả nước, QL1A và đường sắt Thống nhất chạy qua tỉnh, nối liền Khánh Hoà với các tỉnh, thành trong cả nước Quốc lộ 26 nối Khánh Hoà với Đăk Lăk, QL27B đi Ninh Thuận và tuyến tỉnh lộ 2 nối Nha Trang với Đà Lạt đã tạo cho Khánh Hoà nhiều lợi thế để phát triển kinh tế - xã hội Tỉnh có các cảng biển Nha Trang, Cam Ranh, Ba Ngòi, Hòn Khói và cảng trung chuyển container quốc tế Vân Phong đang xây dựng; sân bay Cam Ranh đã nâng cấp thành sân bay quốc tế, có thể đón các máy bay Boeing và Airbus tải trọng lớn cất và hạ cánh,
Khánh Hoà nằm ở giữa hai thành phố lớn là thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, là trung tâm hai vùng kinh tế trọng điểm của nước ta Nha Trang cách thành phố
Hồ Chí Minh 400 km; cách Đà Nẵng 500 km Yếu tố này vừa là lợi thế trong giao lưu kinh tế, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm và thu hút vốn đầu tư, song nó cũng là một thách thức lớn đối với Khánh Hoà trong điều kiện cạnh tranh thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thu hút chất xám, chiếm lĩnh thị trường trong vùng Vị trí địa lý như trên
đã tạo điều kiện thuận lợi cho Khánh Hoà phát triển sản xuất hàng hoá và mở rộng giao lưu kinh tế - xã hội với các tỉnh trong cả nước và quốc tế