1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài giảng PHƯƠNG PHÁP KHUYẾN NÔNG

112 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phương Pháp Khuyến Nông
Tác giả ThS. Trịnh Hải Vân, ThS. Hoàng Ngọc Ý
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Khuyến Nông
Thể loại Bài Giảng
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 1929, Chính phủ Trung Quốc đã xác định: “Ngành khuyến nông do các cơ quan nông nghiệp phụ trách, đặt tiêu chuẩn cải thiện phương pháp sản xuất nông nghiệp, gia tăng năng suất, cải th

Trang 1

ThS TRỊNH HẢI VÂN, ThS HOÀNG NGỌC Ý

Bài giảng

PHƯƠNG PHÁP KHUYẾN NÔNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP - 2015

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Để đáp ứng nhu cầu của người học và cũng như những đòi hỏi đổi mới mục tiêu chương trình đào tạo của Trường Đại học Lâm nghiệp, môn học Phương pháp khuyến nông được bắt đầu giảng dạy cho sinh viên khóa 56 chuyên ngành Khuyến nông Bài giảng Phương pháp Khuyến nông được biên soạn theo khung chương trình đào tạo đã được phê duyệt, với phương châm hiện đại nhưng phù hợp với thực tế Việt Nam Bài giảng là tài liệu học tập và tham khảo cho sinh viên chuyên ngành khuyến nông và các chuyên ngành khác

Để hoàn thành cuốn bài giảng này chúng tôi đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các nhà chuyên môn và các đồng nghiệp, đặc biệt là các ý kiến

và đóng góp của các thầy, cô giáo trong Bộ môn Khuyến nông và Phát triển nông thôn

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo và các nhà khoa học đã cho phép chúng tôi sử dụng tài liệu làm trích dẫn nguyên văn và một phần các tài liệu này với mục đích cung cấp tài liệu và thông tin cô đọng nhất, cập nhật nhất cho sinh viên Nhân dịp này, các tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn và xin phép TS Đinh Đức Thuận, TS Phạm Đức Tuấn, PGS TS Nguyễn Bá Ngãi và PGS TS Nguyễn Văn Long cho phép được sử dụng các tài liệu, thông tin của các thầy trong Giáo trình Khuyến Lâm và Giáo trình Khuyến Lâm thông qua việc trích dẫn hoặc sử dụng nguyên văn các nội dung trong hai tài liệu quý báu này Do điều kiện chưa liên hệ và trực tiếp xin phép các thầy được, nhóm tác giả xin thành thật xin lỗi

Nhóm tác giả cũng xin cảm ơn và xin phép các tác giả và cơ quan xuất bản các tài liệu khác (khuyết danh) trong việc sử dụng và trích dẫn tài liệu mà chưa

có điều kiện liên hệ và xin phép trực tiếp

Trong quá trình biên soạn cuốn bài giảng, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Chúng tôi rất mong nhận được những nhận xét và ý kiến góp ý của các nhà khoa học, các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp và các em sinh viên cùng toàn thể độc giả

để cuốn bài giảng ngày càng được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn! Nhóm tác giả

Trang 5

Chương 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ KHUYẾN NÔNG

1.1 Một số nét về lịch sử phát triển của khuyến nông trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.1 Lịch sử phát triển khuyến nông của một số nước trên thế giới

1.1.1.1 Hoa Kỳ

Hoa Kỳ có thể được coi như là một trong những nước có hoạt động khuyến nông của Nhà nước khá sớm Năm 1843, ở New York Nhà nước đã cấp nguồn kinh phí khá lớn cho phép UBNN bang thuê tuyển những nhà khoa học nông nghiệp có năng lực thực hành tốt làm giảng viên khuyến nông Các giảng viên này xuống các làng, xã đào tạo những kiến thức về khoa học và thực hành nông nghiệp cho nông dân

Năm 1853, Edward Hitchcoch, chủ tịch trường đại học Amherst và là thành viên của UBNN bang Massachuisetts là người đã có nhiều công lao trong việc đào tạo khuyến nông cho nông dân và học sinh, sinh viên Ông đồng thời cũng là người sáng lập ra Hội nông dân và Học viện nông dân

Từ cuối thế kỷ thứ XIX, Nhà nước đã quan tâm đến công tác đào tạo khuyến nông trong các trường đại học Năm 1891, bang New York đã hỗ trợ 10.000 USD cho công tác đào tạo khuyến nông Những năm sau đó, nhiều trường đại học như Đại học Chicago, Đại học Wicosin cũng đưa khuyến nông và chương trình vào chương trình đào tạo Bộ thương mại cũng như ngân hàng và nhiều công ty công, nông, thương nghiệp đã tài trợ cho các hoạt động khuyến nông Đến năm 1907, ở Hoa Kỳ đã có 42 trường trên tổng số 39 bang có đào tạo khuyến nông Năm 1910

có 35 trường có bộ môn khuyến nông

Năm 1914, Hoa Kỳ đã ban hành đạo luật khuyến nông và thành lập hệ thống khuyến nông quốc gia, giai đoạn này đã có 8.861 Hội nông dân với khoảng 3.050.150 hội viên

Với sự quan tâm và phát triển các hoạt động khuyến nông từ khá sớm, Hoa Kỳ là quốc gia chỉ có 6% dân sống bằng nghề nông nghiệp nhưng nền nông nghiệp được xếp vào nhóm những nước nông nghiệp phát triển Nhiều sản phẩm nông nghiệp của Hoa

Kỳ chiếm lĩnh thị trường thế giới như: Ngô, Đậu tương Sản lượng Đậu tương năm

1985 đạt 55 triệu tấn, năm 2001 đạt 70 triệu tấn và là nước có lượng Đậu tương với lượng xuất khẩu lớn nhất thế giới là 16,9 triệu tấn chiếm khoảng 54% tổng lượng đậu tương trên thế giới Tổng sản lượng Ngô năm 2000, 2001 đạt 335 triệu tấn với lượng xuất khẩu đạt 70 triệu tấn chiếm 69% lượng xuất khẩu trên thế giới (Nguyễn Văn Long)

Trang 6

1.1.1.2 Ấn Độ

So với các nước thuộc châu Á, hệ thống khuyến nông Ấn Độ được thành lập tương đối sớm vào năm 1960 Vào thời điểm này, tình hình sản xuất nông nghiệp nói chung và lương thực nói riêng của Ấn Độ đang gặp phải nhiều khó khăn Ấn Độ là quốc gia đông dân thứ hai trên thế giới (vào thời điểm này dân

số Ấn Độ có khoảng 400 triệu và dân số Trung Quốc có khoảng 600 triệu) Với nền nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu, lương thực thiếu thốn, người dân thiếu ăn

và thường xuyên có những người dân chết do đói ăn Đứng trước thực trạng đó, chính phủ Ấn Độ có chủ trương quyết tâm giải quyết vấn đề thiếu lương thực Với hoàn cảnh đó, sự ra đời của hệ thống khuyến nông Ấn Độ lúc này là hết sức cần thiết và tất yếu

Sự thành công của ngành nông nghiệp Ấn Độ những năm sau đó có vai trò đóng góp đáng kể của khuyến nông Đã nói đến nông nghiệp Ấn Độ phải nói tới thành tựu của ba cuộc cách mạng:

- Cách mạng xanh: Đây là cuộc cách mạng tiêu biểu nhất của Ấn Độ cũng như thế giới trong nông nghiệp Đã nói đến nông nghiệp Ấn Độ thì phải nói đến cuộc cách mạng xanh và ngược lại đã nói đến cách mạng xanh thì phải nói đến nông nghiệp Ấn Độ Thực chất của cuộc cách mạng xanh là cuộc cách mạng về giống cây trồng nói chung và đặc biệt là cách mạng về giống cây lương thực gồm: lúa nước, lúa cạn, lúa mỳ, ngô khoai Hàng loạt các giống lúa thấp cây, năng suất cao ra đời đã làm tăng vọt năng suất và sản lượng lương thực của quốc gia này

- Cách mạng trắng: Là cuộc cách mạng sản xuất sữa Bò, sữa Trâu Khắp nơi trên Ấn Độ đều có nhà máy sữa Khuyến nông có vai trò cực kỳ quan trọng như vấn đề giải quyết đầu vào: vốn sản xuất, giống trâu, bò sữa, kỹ thuật chăn nuôi và giải quyết đầu ra: thu gom tiêu thụ sản phẩm, chế biến sản phẩm sữa

- Cách mạng nâu: Sau cuộc cách mạng trắng đó là cách mạng nâu, cuộc cách mạng sản xuất thịt xuất khẩu

1.1.1.3 Thái Lan

Thái Lan là quốc gia nông nghiệp với trên 60% dân số sống bằng nghề nông nghiệp Nằm trong vùng Đông Nam Á, điều kiện đất đai, khí hậu nóng ẩm gần tương đồng với Việt Nam Thái Lan là quốc gia mà hoạt động khuyến nông

Trang 7

cũng khá tiêu biểu hệ thống khuyến nông Nhà nước được thành lập năm 1967 Thành tựu của khuyến nông Thái Lan được thể hiện ở một số điểm sau:

- Hàng năm, nguồn vốn dành cho các hoạt động khuyến nông khá lớn khoảng từ 120 đến 150 thậm chí 200 triệu USD Lượng kinh phí này gấp tới hơn

20 lần kinh phí cho hoạt động khuyến nông hàng năm của nước ta

- Nhiều năm nay, Thái Lan là quốc gia đứng hàng thứ nhất, nhì trong xuất khẩu gạo trên thế giới (xuất khẩu hàng năm khoảng 7 triệu tấn gạo/năm với chất lượng và giá cả cao)

- Hiện nay, Thái Lan rất coi trọng chất lượng giống cây trồng, sản xuất rau quả an toàn, phát triển nuôi trồng thủy sản

1.1.1.4 Trung Quốc

Là quốc gia đất rộng thứ 4 trên thế giới nhưng dân số đông nhất thế giới Trung Quốc nằm trong vùng vĩ độ cao có khí hậu ôn đới, á nhiệt đới và một phần nhiệt đới Hệ thống khuyến nông Trung Quốc được thành lập năm 1970 nhưng công tác đào tạo khuyến nông đã được Trung Quốc rất quan tâm và có từ khá sớm:

Năm 1928, Viện đại học Nông nghiệp tỉnh Triết Giang thành lập phân khoa khuyến nông

Năm 1929, Chính phủ Trung Quốc đã xác định: “Ngành khuyến nông do các cơ quan nông nghiệp phụ trách, đặt tiêu chuẩn cải thiện phương pháp sản xuất nông nghiệp, gia tăng năng suất, cải thiện tổ chức nông thôn và sinh hoạt nông dân, phổ biến tri thức về khoa học nông nghiệp, thành lập các HTX nông dân sản xuất và tiêu thụ”

Năm 1933, Trường Đại học Kim Lăng (nay là Trường Đại học tổng hợp Nam Kinh) có khoa khuyến nông

Trung Quốc tổ chức HTX và Công xã nhân dân từ năm 1951 đến năm

1978, trong giai đoạn này, công tác khuyến nông chỉ triển khai đến HTX Nội dung khuyến nông trong giai đoạn này coi trọng phổ biến đường lối chủ trương nông nghiệp của Đảng và Chính phủ cũng như chuyển giao TBKT nông nghiệp, xây dựng các mô hình điểm trình diễn đến tham quan học tập và áp dụng

Sau năm 1978, tổ chức sản xuất nông nghiệp Trung Quốc có thay đổi theo hướng phát triển kinh tế nông hộ song song với kinh tế tập thể quốc doanh

Năm 1991, thực hiện công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông thôn, Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc

Trang 8

rất coi trọng khoa học công nghệ nông nghiệp và giáo dục khuyến nông; xây dựng khu sản xuất trình diễn; đưa cán bộ nông nghiệp xuống nông thôn, thực hiện thực tế sản xuất nông nghiệp

Có thể nói rằng nông nghiệp Trung Quốc phát triển một cách mạnh mẽ trong những năm gần đây Trong đó, khuyến nông đóng góp một vai trò quan trọng Hiện nay, Trung Quốc có 3 mũi nhọn về nông nghiệp được thế giới thừa nhận đó là:

- Lúa lai: Trung Quốc đã bắt đầu nghiên cứu lúa lai từ năm 1964 và thành công năm 1985 Có thể nói đây là một thành công rực rỡ Người ta nói sứ mạng lịch sử của cuộc “Cách mạng xanh” đến nay đã đạt đến “tột đỉnh”? Khi mà sản xuất nông nghiệp mà trong đó năng suất cây lúa đạt năng suất thấp dưới 5 tấn/ha thì thành công của “Cách mạng xanh” đã giúp các nước tăng năng suất và sản lượng lúa bằng các giống lúa thấp cây, chống đổ, chịu thâm canh tăng năng suất và sản lượng Khi mà năng suất lúa nhiều nước đạt từ 5 đến 8 tấn/ha, để tăng năng suất cao hơn nữa trên 8 tấn/ha thì hiệu quả áp dụng những giống lúa tiến bộ thông thường không thể có được Công nghệ sản xuất lúa lai cho phép có thể nâng cao năng suất lúa nước đạt trên 8 tấn/ha không còn phải là vấn đề khó khăn

- Thú y và dụng cụ thú y: Công nghệ sản xuất dụng cụ thú y của Trung Quốc phát triển mạnh, sản xuất số lượng nhiều, sử dụng tiện lợi, giá rẻ Cũng như y học

cổ truyền, khoa học thú y của Trung Quốc đạt được nhiều thành tựu Trung Quốc sáng tạo ra nhiều loại thuốc có tác dụng phòng chống dịch hại ứng dụng trong chăn nuôi, tăng sức đề kháng, kích thích cho các vật nuôi sinh trưởng và phát dục mạnh

- Nuôi trồng thủy sản: Nuôi trồng thủy sản cũng là thế mạnh của Trung Quốc Nuôi trai lấy ngọc, nuôi các loài thủy sản quý hiếm như Ba Ba, Lươn, Ếch Nhiều loài thủy sản Trung Quốc độc quyền sản xuất giống như công nghệ nuôi Trai lấy ngọc, sản xuất cá Giò, cá Song

1.1.2 Khuyến nông Việt Nam

1.1.2.1 Trước năm 1993

Từ xa xưa, Tổ tiên ta đã có những hoạt động khuyến nông Tục truyền vua Hùng Vương nước Văn Lang đã dạy dân xã Minh Nông (tỉnh Vĩnh Phúc) cấy lúa Sau đó không lâu cây lúa đã là cây trồng chủ lực Người Văn Lang thờ Thần Nông, vị thần nông nghiệp của người Việt cổ

Truyền thuyết về khuyến nông dâu tằm: Công chúa Thiều Hoa, con vua Hùng Vương thứ 6 là người đã đưa và giúp nông dân vùng bãi sông hồng thuộc

Trang 9

vùng Ba Vì, Hà Tây (cũ) nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa Hiện nay, ở

Cổ Đô, Ba Vì còn có đền thờ bà Thiều Hoa công chúa Bà Tổ của nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa của Việt Nam Điều này chứng minh rằng cha ông

ta đã biết công tác khuyến nông từ cách đây gần 3.000 năm trước đây

Từ khi người Việt có chữ viết, lịch sử được ghi lại với nhiều dẫn chứng cho thấy công tác khuyến nông đã được cha ông ta rất quan tâm:

Năm 981, thời Đinh - Lê đã có phong tục tổ chức “Lễ hạ điền” do nhà vua đứng ra tổ chức Nhà vua chọn ngày, giờ, khắc đẹp đầu năm xuống đồng cày sá cày đầu tiên, hoàng hậu ngồi quay tơ dệt lụa Hình ảnh này của nhà vua và hoàng hậu có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm khích lệ mọi người dân ra sức thi đua tham gia sản xuất Họ cầu chúc cho một năm mới sản xuất nông nghiệp bội thu Sau này, Bác Hồ cũng học tập cha ông ngày xưa, sau năm 1954 là năm giải phóng đất nước ở miền Bắc, cứ vào ngày đẹp đầu xuân, Bác trồng và tưới nước cho cây Năm 1964, Đảng và Nhà nước ta đã phát động thành phong trào tết trồng cây hay “Trồng cây xanh Bác Hồ” rất sôi nổi và rộng khắp miền Bắc

Năm 1226, Nhà Trần đã thành lập 3 tổ chức: “Hà đê sứ”, “Đồn điền sứ”

và “Khuyến nông sứ” Đứng đầu mỗi tổ chức này đều có quan triều đình đảm nhiệm Hà đê sứ là tổ chức chuyên chăm lo việc đắp đê phòng chống lũ, lụt Đồn điền sứ là tổ chức chuyên việc quản lý đất đai Khuyến nông sứ chăm lo công việc giúp dân sản xuất nông nghiệp

Giai đoạn 1444 - 1493: Vua Lê Nhân Tông và vua Lê Thánh Tông đã có

17 lần ra chiếu dụ khuyến nông để tạo điều kiện khuyến khích nông dân ra sức tăng gia sản xuất

Năm 1778, Nguyễn Công Trứ là vị quan có công lao rất lớn trong việc phát triển sản xuất nông nghiệp của nước ta Ông đã ra sức huy động người dân tham gia nạo vét kênh mương, dẫn thủy nhập điền, đắp đê phòng chống lũ lụt Nguyễn Công Trứ còn thực hiện khẩu hiệu “Khẩn ruộng hoang, an nghiệp dân nghèo”, ra sức quai sông lấn biển Ông là người có công tạo lập nên 2 huyện Tiền Hải, Thái Bình và Kim sơn, Ninh Bình ngày nay

Năm 1789, vua Quang Trung không những là nhà quân sự tài ba, là nhà chính trị và ngoại giao giỏi mà còn là một nhà khuyến nông tài ba Vua Quang Trung đã xác định: “Thực túc thì binh cường”, nghĩa là quân đội muốn hùng mạnh thì trước hết phải đươc ăn no Nhà vua đã thực hiện nhiều chính sách

Trang 10

khuyến khích nông dân sản xuất như: Miễn, giảm thuế nông nghiệp; tăng cường nạo vét kênh mương dẫn thủy nhập điền; tăng cường phát triển chợ nông thôn; xóa bỏ ngăn sông cấm chợ Vì thế nông nghiệp thời kỳ này phát triển khá mạnh

Tháng 4 năm 1945, Hồ Chủ tịch trong lễ bế giảng khóa chỉnh huấn cán bộ tại Việt Bắc, Người đã căn dặn các cán bộ ta khi ra về: “Các chú ra về phải làm tốt công tác khuyến nông, ra sức phát triển nông nghiệp, chống giặc đói, diệt giặc dốt”, người người thực hiện hũ gạo tiết kiệm”

- Từ 1950 đến 1957: Chủ yếu trong hai năm 1955 và 1956 chúng ta thực hiện cải cách ruộng đất (CCRĐ), với việc thực hiện khẩu hiệu: “người cầy có ruộng” Đây là cuộc cách mạng lớn chưa từng có trong lịch sử nông nghiệp nước

ta Chúng ta đã tịch thu hơn 81 vạn ha ruộng đất của địa chủ 106.448 trâu, bò cùng với 1.846.000 nông cụ chia cho 2.104.158 hộ nông dân và nhân dân lao động chiếm 72,8% hộ nông thôn miền Bắc Kết quả này đã tạo điều kiện và khích lệ nông dân ra sức tăng gia sản xuất

- Từ năm 1956 đến năm 1958: Ngay sau CCRĐ, nông dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, chính phủ thực hiện “Đổi công, vần công”, nông dân tương thân, tương ái giúp nhau trong sản xuất nông nghiệp

- Năm 1960, ở miền Nam lập các Nha khuyến nông trực thuộc Bộ Cải cách điền địa Nông - ngư mục Cũng trong năm nay, miền Bắc thành lập các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp (HTX) bậc thấp năm 1968 và HTX bậc cao năm 1974 với hình thức hợp tác xã toàn xã Tổ chức HTX sản xuất nông nghiệp vào giai đoạn này có một ý nghĩa lịch sử lớn lao Tổ chức HTX sản xuất nông nghiệp nông dân

“Cùng làm cùng hưởng” đã tạo điều kiện cực kỳ quan trọng giúp cho Đảng và Nhà nước huy động được mức độ tối đa sức người, sức của phục vụ cho tiền tuyến, phục vụ cho công cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Công tác khuyến nông giai đoạn này chủ yếu triển khai đến HTX Phương pháp khuyến nông chủ yếu đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, xây dựng các

mô hình HTX sản xuất tiến bộ như: HTX Tân Phong, HTX Vũ Thắng, Thái Bình

- Năm 1961, sinh viên các trường đại học nông nghiệp tham gia đi thực tế sản xuất nông nghiệp tại các HTX, nông trường quốc doanh là một trong những nội dung đào tạo quan trọng của Nhà trường nhằm thực hiện phương châm đào tạo “Học kết hợp với hành”; thực hiện thực tiễn hóa tay nghề của các sinh viên nông nghiệp

Trang 11

- Từ 1963 đến 1973, Bộ Nông nghiệp tổ chức các “Đoàn chỉ đạo sản xuất nông nghiệp” giúp các tỉnh Các đoàn chỉ đạo sản xuất nông nghiệp là tổ chức nông nghiệp của Chính phủ do Bộ Nông nghiệp tổ chức và quản lý những hoạt động giúp các địa phương Hoạt động của Đoàn chỉ đạo sản xuất nông nghiệp thực chất làm các công việc khuyến nông như giúp các địa phương thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, đưa các tiến bộ kỹ thuật nông lâm nghiệp vào sản xuất Phấn đấu thực hiện mục tiêu 5 tấn thóc/ha

- Năm 1966, Thái Bình là tỉnh đầu tiên ở miền Bắc đạt 5 tấn thóc/ha Năm

1974 toàn miền Bắc đạt 5 tấn thóc/ha Năm 1988 huyện Hưng Hà (Thái Bình) đạt 10 tấn thóc/ha

- Từ năm 1964 đến năm 1980 nhìn chung nông nghiệp trì trệ, kém phát triển, đời sống nông dân gặp nhiều khó khăn Nguyên nhân có nhiều nhưng chủ yếu do chiến tranh Chúng ta phải tập trung mọi nỗ lực cho công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước Mặt khác, sau giải phóng miền Nam năm 1975 đến 1980 miền Bắc vẫn còn duy trì HTX sản xuất nông nghiệp là một thực tế bất cập mất cân đối giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất

- Trước thực trạng sản xuất nông nghiệp trì trệ và đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, tháng 01 năm 1981, Chỉ thị 100 của Ban Chấp hành TW Đảng:

“Khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động” còn gọi là “Khoán 100” ra đời HTX nông nghiệp chỉ quản lý 5 khâu: Đất - nước - giống - phân bón

và bảo vệ thực vật còn toàn bộ các khâu khác khoán cho nhóm và người lao động “Khoán 100” đã có tác dụng to lớn trong việc khích lệ nông dân sản xuất Ngoài sản lượng nông sản phải nộp cho HTX còn lại người nông dân được tự do

sử dụng

- Sau 7 năm thực hiện “Khoán 100”, Đảng ta xem xét rút kinh nghiệm:

“Khoán 100” có nhiều ưu điểm qua đó thúc đẩy nông nghiệp phát triển nhưng vẫn còn nhiều hạn chế: Nông dân chưa thực sự chủ động sản xuất kinh doanh có hiệu quả Trên đồng ruộng, ao hồ, chuồng trại chăn nuôi, người nông dân chưa có thể chủ động sản xuất kinh doanh vì những khâu then chốt như giống, phân bón, nông dân vẫn phải phụ thuộc vào sự quản lý của HTX Mảnh đất họ trồng trọt vụ này, vụ sau có thể thay đổi nên không ai nghĩ đến thâm canh, bảo vệ và duy trì độ phì của đất để vụ sau năng suất cao hơn vụ trước Ngoài ra, nông dân còn phải đóng góp

Trang 12

nhiều khoản như nộp sản của 5 khâu HTX quản lý và đóng góp quỹ phúc lợi Những hộ nông dân có vốn, có lao động, có trình độ dân trí cao sản xuất có hiệu quả Có nhiều hộ nông dân mà cuộc sống vẫn không thoát khỏi đói nghèo do thiếu lao động, thiếu vốn, do gặp rủi ra trong cuộc sống, do trình độ dân trí thấp sản xuất không có hiệu quả đã dẫn đến nợ sản nhiều vụ, nhiều năm Chính vì vậy, ngày 5/4/1988 Bộ chính trị BCH TW Đảng khóa V ra Nghị quyết 10: “Cải tiến quản lý kinh tế trong nông nghiệp” còn gọi là “Khoán 10” NQ 10 được thực hiện và hoàn thiện vài năm sau đó đã chuyển đổi hẳn cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp Ruộng đất được giao cho nông dân quản lý lâu dài 20 năm đối với đất nông nghiệp

và 50 năm đối với đất lâm nghiệp Chuyển đổi từ cơ chế sản xuất tập trung có thể

tự cung tự cấp, sản xuất theo kế hoạch hóa Nhà nước sang sản xuất kinh doanh trên mảnh đất, ao hồ, chuồng trại của mình theo hướng nông nghiệp hóa có sự điều tiết của Nhà nước Nông nghiệp của đất nước có cơ hội ngày càng phát triển mạnh

- Ngay năm 1988, tỉnh An Giang đã vận dụng cơ chế sản xuất mới trong điều kiện cụ thể của địa phương, học tập kinh nghiệm của các nước thành lập Trung tâm Khuyến nông nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất nông nghiệp của nông dân trong tỉnh Năm 1991, cũng như tỉnh An Giang, tỉnh Bắc Thái thành lập Trung tâm Khuyến nông

- Năm 1992, để điều phối và lãnh đạo công tác khuyến nông của đất nước, Bộ Nông nghiệp thành lập “Ban điều phối khuyến nông”

- Do yêu cầu bức xúc của sản xuất, ngày 02/3/1993 Thủ tướng Chính phủ ra NĐ 13/CP về việc thành lập hệ thống khuyến nông, khuyến lâm và khuyến ngư của đất nước

1.1.2.2 Từ năm 1993 trở lại đây

- Từ năm 1989 đến nay, dưới sự lãnh đạo sát sao của Đảng, Chính phủ, sự tăng cường hoạt động của khuyến nông đã thúc đẩy nền nông nghiệp của nước ta ngày càng phát triển Bình quân hàng năm tăng 1 triệu tấn lương thực Qua đó, vươn lên từ nước thiếu lương thực đến đủ và thừa lương thực Nếu như những năm trước 1980 chúng ta còn thiếu lương thực thì từ năm 1989 chẳng những chúng ta tự túc đủ lương thực mà còn dư thừa và bắt đầu xuất khẩu lương thực từ hơn 1 triệu tấn đến gần 2 triệu tấn lương thực và những năm gần đây là trên dưới 7 triệu tấn lương thực/năm Đưa Việt Nam trở thành nước đứng thứ hai trong xuất khẩu lương thực ra thị trường thế giới

Trang 13

- Ngày 02/8/1993, Thông tư 02/LB-TT cụ thể hóa việc thực hiện NĐ 13/CP Cuối năm 1993, nước ta chính thức có hệ thống Khuyến nông Quốc gia

- Bên cạnh việc đẩy mạnh xuất khẩu lương thực, Việt Nam còn đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu ở các mặt hàng khác như: cà phê, chè, hồ tiêu, thủy sản 1.2 Khái niệm, mục tiêu và vai trò của Khuyến nông

1.2.1 Khái niệm

“Khuyến nông là các hoạt động nhân rộng các kết quả nghiên cứu và tư vấn cho nông dân trong các hoạt động nông nghiệp để nâng cao năng lực phân tích và giao tiếp cho họ” (Niels Roling)

- “Khuyến nông là một sự giao tiếp thông tin tỉnh táo nhằm giúp nông dân hình thành các ý kiến hợp lý và tạo ra các quyết định đúng đắn” (A.W.Van den Ban và H.S Hawkins, Khuyến nông, 1988)

- “Khuyến nông được xem như một tiến trình của việc hòa nhập các kiến thức bản địa với kiến thức khoa học kỹ thuật hiện đại, các quan điểm, kỹ năng

để quyết định cái gì cần làm, cách thức làm như thế nào trên cơ sở cộng đồng địa phương sử dụng các nguồn tài nguyên tại chỗ với sự trợ giúp từ bên ngoài để

có khả năng vượt qua các trở ngại gặp phải.” (D.Sim và H.A.Hilmi, FAO Forestry paper 80, 1987, FAO, Rome)

- “Khuyến nông là làm việc với nông dân, lắng nghe những khó khăn, các nhu cầu và giúp họ đi đến việc trợ giúp cho chính họ.” (Malla, A Manual for Training Field Workers, 1989)

- “Khuyến nông là một tiến trình giáo dục Các hệ thống khuyến nông khuyến nông thông báo, thuyết phục và kết nối con người, thúc đẩy các dòng thông tin giữa nông dân và các đối tượng sử dụng tài nguyên khác, các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý và các nhà lãnh đạo” (Falconer, J.Forestry, A Review of

Key Issues, Social Forestry Network Paper 4e, 1987, O.D.I., London)

- “Khuyến nông là một loạt hoạt động do các cơ quan Nhà nước hoặc các

bên liên quan khác thực hiện nhằm cung cấp cho khách hàng kiến thức và kỹ năng để họ có thể cải tiến hệ thống sản xuất của họ” (Pascal Bergret)

Theo Ernst Bolliger, khuyến nông liên quan đến các chức năng sau:

- Tư vấn: Một người biết kiến thức và truyền đạt nó cho một người khác

- Khích lệ hoạt động của nhóm: Cán bộ khuyến nông khích lệ sự giao tiếp

và hoạt động trong nhóm

Trang 14

- Nhân rộng: Cán bộ khuyến nông khuyến khích sự nhân rộng các kết quả hoạt động giữa nông dân với nhau

- Kích thích sự sáng tạo: Cán bộ khuyến nông kích thích các ý tưởng, các sáng kiến và giải pháp phát triển nông nghiệp của nông dân

Theo Pascal Bergret, hệ thống khuyến nông phải có sự liên kết thật chặt chẽ với các cơ quan nghiên cứu và đào tạo theo mô hình tam giác phát triển nông thôn sau:

Trong điều kiện Việt Nam, định nghĩa sau đây được nhiều tổ chức chấp nhận:

“Khuyến nông là một quá trình chuyển giao kiến thức, đào tạo kỹ năng và

trợ giúp những điều kiện vật chất cần thiết cho nông dân để họ có đủ khả năng

tự giải quyết được những công việc của chính mình nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho gia đình và cộng đồng”

1.2.2 Mục tiêu, vai trò của khuyến nông

1.2.2.1 Mục tiêu của khuyến nông

Nghị định 02/2010/NĐ-CP ngày 08/01/2010 của Chính phủ về khuyến nông quy định rõ về mục tiêu, nội dung của hoạt động khuyến nông như sau:

(1) Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của người sản xuất để tăng thu nhập, thoát đói nghèo, làm giàu thông qua các hoạt động đào tạo nông dân về kiến thức, kỹ năng và các hoạt động cung ứng dịch vụ để hỗ trợ nông dân sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, thích ứng các điều kiện sinh thái, khí hậu và thị trường

(2) Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, ổn định kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường

(3) Huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia khuyến nông

* Nội dung hoạt động khuyến nông (trích dẫn Chương 2 Nội dung hoạt

động khuyến nông, Nghị định 02)

Viện nghiên cứu

Cơ sở đào tạo Dịch vụ khuyến nông

Trang 15

Phát triển nông thôn

Chính sách

Khuyến nông

Giao thông

Giáo dục

Tài chính

Tín dụng

Thị trường

Công nghệ

- Bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo;

- Thông tin tuyên truyền;

- Trình diễn và nhân rộng mô hình;

- Tư vấn và dịch vụ khuyến nông;

- Hợp tác quốc tế về khuyến nông

1.2.2.2 Vai trò của khuyến nông

a) Khuyến nông với phát triển nông nghiệp và nông thôn

Nông dân luôn gắn liền với nông lâm nghiệp, là bộ phận cốt lõi và cũng là chủ thể trong quá trình phát triển nông thôn Thông qua hoạt động khuyến nông, nông dân và những người bên ngoài cộng đồng có cơ hội trao đổi thông tin, học hỏi kiến thức và kinh nghiệm lẫn nhau để phát triển sản xuất và đời sống kinh tế

- xã hội Đặc biệt, khuyến nông còn tạo ra cơ hội cho nông dân trong cộng đồng cùng chia sẽ, học hỏi kinh nghiệm, truyền bá thông tin kiến thức và giúp đỡ hỗ trợ nhau cùng phát triển cộng đồng của họ Vai trò của khuyến nông được thể hiện như sau:

Hình 1.1 Vai trò khuyến nông là một bộ phận của toàn bộ

hoạt động phát triển nông thôn

b) Vai trò của khuyến nông trong quá trình từ nghiên cứu đến phát triển nông lâm nghiệp

Những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, công nghệ mới thường là kết quả của các cơ quan nghiên cứu khoa học Những tiến bộ này cần được nông dân

Trang 16

chọn lựa, áp dụng vào sản xuất để nâng cao năng suất lao động Trên thực tế giữa nghiên cứu và áp dụng thường có một khâu trung gian để chuyển tải hoặc cải tiến cho phù hợp để nông dân áp dụng được Ngược lại những kinh nghiệm của nông dân, những đòi hỏi cũng như nhận xét, đánh giá về kỹ thuật mới của nông dân cũng cần được phản hồi đến các nhà khoa học để họ giải quyết cho sát thực tế hơn Trong những trường hợp này, vai trò của khuyến nông chính là cầu nối giữa khoa học với nông dân

c) Vai trò của khuyến nông đối với Nhà nước

Khuyến nông là một trong những tổ chức giúp Nhà nước thực hiện các chính sách, chiến lược về phát triển nông lâm nghiệp, nông thôn, vận động nông dân tiếp thu và thực hiện các chính sách về nông lâm nghiệp, trực tiếp hoặc góp phần cung cấp thông tin về những nhu cầu, nguyện vọng của nông dân đến các

cơ quan Nhà nước, trên cơ sở đó Nhà nước hoạch định, cải tiến để có được các chính sách phù hợp

Hình 1.2 Vai trò của khuyến nông đối với Nhà nước

1.3 Chức năng, yêu cầu và nguyên tắc của hoạt động khuyến nông

1.3.1 Chức năng của khuyến nông

Chức năng cơ bản của khuyến nông không chỉ là truyền bá thông tin và huấn luyện nông dân mà còn biến những thông tin, những kiến thức truyền bá, những kỹ năng đào tạo thành những kết quả cụ thể trong sản xuất và đời sống Điều này cho thấy khuyến nông cần có quan hệ chặt chẽ với điều kiện vật chất cũng như nguồn lực thực tế của địa phương

Các vấn đề

- Nông dân

- Cộng đồng

Khuyến nông

Trang 17

Căn cứ vào mức độ liên quan đến bản chất và mục tiêu của khuyến nông,

có thể chia chức năng của khuyến nông làm hai nhóm chính

a) Nhóm chức năng phải thực hiện

- Thúc đẩy nông dân: Kích thích cư dân nông thôn (bao gồm cả nam và nữ) hành động theo sáng kiến của họ Phát triển các hình thức liên kết hợp tác của nông dân nhằm mục tiêu phát triển nông lâm nghiệp và nông thôn

- Trao đổi và truyền bá thông tin: Bao gồm việc xử lý, lựa chọn các thông tin cần thiết, phù hợp từ các nguồn khác nhau để trao đổi học hỏi, truyền bá và phổ biến cho nông dân

- Đào tạo, huấn luyện nông dân như tổ chức các khóa tập huấn, xây dựng

mô hình, tham quan, hội thảo đầu bờ cho nông dân

- Giúp nông dân giải quyết các vấn đề phát sinh, phát hiện, nhận biết và phân tích được các vấn đề khó khăn trong sản xuất, đời sống và bàn bạc cùng nông dân tìm biện pháp giải quyết Phát triển các chương trình khuyến nông với các phương pháp và cách tiếp cận thích hợp

- Giám sát và đánh giá hoạt động khuyến nông bao gồm việc kiểm tra, giám sát và tổ chức đánh giá các hoạt động khuyến nông

b) Nhóm chức năng nên thực hiện

- Phối hợp với nông dân tổ chức các thử nghiệm, kiểm tra tính phù hợp của kết quả nghiên cứu trên hiện trường, từ đó làm cơ sở cho việc khuyến khích lan rộng

- Tìm kiếm các yếu tố, điều kiện thuận lợi hỗ trợ cho sản xuất của người dân như vốn tín dụng, vật tư đầu vào

- Trợ giúp nông dân cách thức bảo quản, chế biến nông lâm sản quy mô

Trang 18

Hình 1.3 Con voi chức năng của hoạt động khuyến nông

1.3.2 Yêu cầu của hoạt động khuyến nông

a) Khuyến nông làm cùng với dân, không làm thay cho dân

Cán bộ khuyến nông không thể quyết định thay nông dân Nông dân hoàn toàn có thể đưa ra được những quyết định đúng đắn để giải quyết những khó khăn của họ nếu như họ được cung cấp đầy đủ những thông tin và những giải pháp khác nhau Khi tự mình đưa ra quyết định, người nông dân sẽ tin vào bản thân hơn so với khi bị áp đặt Cán bộ khuyến nông cần cung cấp thông tin và khuyến khích họ

tự vạch ra quyết định để hành động

b) Khuyến nông là một công việc đầy tinh thần trách nhiệm

Khuyến nông là cơ quan thực thi những chính sách phát triển nông thôn cho nên phải tuân theo đường lối và chính sách của Nhà nước trong khi thực thi nhiệm vụ Mặt khác, khuyến nông có trách nhiệm đáp ứng những nhu cầu của nông dân trong vùng Điều đó có nghĩa là người nông dân có quyền đánh giá hiệu quả hoạt động khuyến nông Tính hiệu quả của hoạt động khuyến nông, trước hết được đánh giá trên cơ sở các chủ trương của Nhà nước có được thực hiện tốt hay không Ngoài ra, nó còn được đánh giá trên cơ sở thu nhập và cuộc sống của nông dân có phải do khuyến nông mà cải thiện được hay không

Các chương trình khuyến nông phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của nông dân nói riêng và nhu cầu phát triển kinh tế nông thôn nói chung Nhiệm vụ của cán

bộ khuyến nông là thỏa mãn một cách hài hòa hai nhu cầu đó

Lập kế hoạch khuyến nông

Giúp đỡ giải quyết vấn đề

Đào tạo người lớn tuổi

Truyền bá thông tin

Cổ vũ thúc đẩy

Nội dung và phương pháp khuyến nông

Đánh giá khuyến nông

Trang 19

c) Khuyến nông cần hợp tác với những tổ chức phát triển nông thôn khác Khuyến nông phải hợp tác chặt chẽ với những tổ chức cung cấp những dịch vụ cơ bản khác cho nông dân vì khuyến nông chỉ là một trong nhiều hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và chính trị của sự nghiệp phát triển nông thôn

Vì cùng chung mục đích hỗ trợ nông dân, khuyến nông phải sẵn sàng phối hợp với những tổ chức khác có mặt trong địa bàn hoạt động của mình Những tổ chức đó bao gồm:

- Chính quyền địa phương: Nếu biết hợp tác và tranh thủ sự giúp đỡ của chính quyền địa phương, khuyến nông sẽ dễ dàng tiếp cận nông dân và kết quả hoạt động cũng đạt hiệu quả cao hơn

- Các tổ chức dịch vụ: Những cơ quan cung cấp tín dụng hoặc những loại dịch vụ khác nhau cho sản xuất nông lâm nghiệp như bảo vệ thực vật, thú y, kiểm lâm Khuyến nông cần phối hợp với họ để tạo điều kiện cho những dịch vụ đó được cung cấp đầy đủ, đúng lúc, đúng chỗ theo nhu cầu của nông dân

- Các cơ quan y tế: Phát triển nông lâm nghiệp và vấn đề dinh dưỡng là hai vấn đề liên quan chặt chẽ với nhau Vì vậy cán bộ khuyến nông cần liên hệ thường xuyên với các cơ quan y tế để có thể thực hiện các chương trình khuyến nông phù hợp với tình hình y tế và sức khỏe của người dân địa phương

- Trường phổ thông các cấp: Phần đông học sinh tại các trường học ở nông thôn sẽ trở thành những nông dân trong tương lai Cán bộ khuyến nông cần phối hợp với nhà trường để sớm trang bị cho học sinh những kiến thức về bảo vệ môi trường sinh thái và những kỹ năng trồng cây gây rừng

- Các tổ chức quần chúng và phi chính phủ như: Hội phụ nữ, hội nông dân, hội cựu chiến binh, đoàn thanh niên là những tổ chức có cùng mục tiêu giáo dục với khuyến nông Khi phối hợp khuyến nông có thể giúp đỡ các tổ chức này phát triển được những chương trình hành động mang tính cộng đồng

d) Khuyến nông cần làm việc với các nhóm đối tượng khác nhau

Cần xác định những nhóm nông dân có nguồn lực và lợi ích khác nhau để phát triển những chương trình khuyến nông phù hợp với điều kiện của từng nhóm Sẽ là sai lầm nếu khuyến nông chỉ tập trung đầu tư cho những nông dân tiên tiến và hy vọng họ phổ biến thông tin hoặc kiến thức cho những nông dân khác Những hộ nghèo nhất là nhóm đối tượng cần được đặc biệt quan tâm vì họ thiếu những nguồn lực cần thiết để

có thể tham gia những chương trình khuyến nông và thường có thái độ tự ti mặc cảm

Trang 20

Cần nhận thức được một thực tế rằng, cộng đồng nào cũng có những nhóm nông dân có những nguồn lực, kỹ năng và nhu cầu khác nhau Sự hình thành các nhóm sở thích thường gắn liền những yếu tố như: Tuổi, quyền sở hữu, giới, đẳng cấp, dòng tộc, vị trí địa lý Cán bộ khuyến nông thường làm việc với nhóm nông dân về vấn đề quản lý, sử dụng tài nguyên như đất, rừng của nhóm hộ, cộng đồng

Sự hỗ trợ hình thành các nhóm sử dụng tài nguyên được điều hành bởi cộng đồng nhằm nâng cao năng lực quản lý địa phương, gắn sự tham gia của người dân vào việc đưa ra các quyết định, giảm thiểu các mâu thuẫn xung đột

Với từng nhóm đối tượng khác nhau, khuyến nông cần có chương trình riêng phù hợp với khả năng và nhu cầu của họ

1.3.3 Nguyên tắc hoạt động của khuyến nông

Trong điều kiện của Việt Nam, căn cứ vào nghị định của chính phủ, các hoạt động khuyến nông cần tuân theo các nguyên tắc sau:

- Xuất phát từ nhu cầu của nông dân và yêu cầu phát triển nông nghiệp của Nhà nước;

- Phát huy vai trò chủ động, tích cực và sự tham gia tự nguyện của nông dân trong hoạt động khuyến nông;

- Liên kết chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, cơ sở nghiên cứu khoa học, các doanh nghiệp với nông dân và giữa nông dân với nông dân;

- Xã hội hóa hoạt động khuyến nông, đa dạng hóa dịch vụ khuyến nông để huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia hoạt động khuyến nông;

- Dân chủ, công khai, có sự giám sát của cộng đồng;

- Nội dung, phương pháp khuyến nông phù hợp với từng vùng miền, địa bàn và nhóm đối tượng nông dân, cộng đồng dân tộc khác nhau

1.4 Vai trò, năng lực và phẩm chất của cán bộ khuyến nông

1.4.1 Vai trò của cán bộ khuyến nông

Trong quá trình hoạt động, cán bộ khuyến nông thể hiện vai trò của mình thông qua các chức năng sau:

- Cán bộ khuyến nông là một nhà kỹ thuật có kiến thức liên ngành;

- Cán bộ khuyến nông là một nhà giáo dục, đào tạo;

- Cán bộ khuyến nông là một nhà tuyên truyền, vận động;

- Cán bộ khuyến nông là nhà tư vấn, cung cấp thông tin;

Trang 21

- Cán bộ khuyến nông là nhà trọng tài;

- Cán bộ khuyến nông là nhà tổ chức, nhà quản lý;

- Cán bộ khuyến nông là người bạn của nhà nông

1.4.2 Năng lực và phẩm chất cá nhân của cán bộ khuyến nông

1.4.2.1 Các lĩnh vực về kiến thức

Cán bộ khuyến nông cần có kiến thức trong 4 lĩnh vực sau:

- Kiến thức về mặt kỹ thuật: Cán bộ khuyến nông phải có kiến thức trong các lĩnh vực kỹ thuật nông lâm nghiệp như: Kỹ thuật lâm sinh, nông học, nông lâm kết hợp, chế biến và tiếp thị các sản phẩm nông lâm… Phải biết làm tốt một

số công việc chủ yếu như gieo ươm, trồng cây, làm giàu rừng…

- Kiến thức về kinh tế xã hội học: Cán bộ khuyến nông phải hiểu được những vấn đề liên quan đến xã hội nhân văn của đời sống nông thôn, vai trò của giới nơi mình đang công tác, chú trọng đến những phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa và những giá trị tinh thần của cộng đồng người dân

- Kiến thức về luật pháp và chính sách của Nhà nước: Cán bộ khuyến nông phải nắm được đường lối và những chính sách cơ bản của Nhà nước về phát triển nông lâm nghiệp và nông thôn

Đồng thời, cũng phải biết được những vấn đề khác có liên quan và ảnh hưởng đến đời sống nông thôn như các chương trình phát triển, chương trình tín dụng và các thủ tục về pháp lý và hành chính ở nông thôn

- Kiến thức về giáo dục: Do khuyến nông là một tiến trình giáo dục mà đối tượng là nông dân nên cán bộ khuyến nông phải biết được các kiến thức về giáo dục học, các phương pháp dạy học để thúc đẩy sự tham gia của người dân nông thôn

- Năng lực phân tích và đánh giá: Cán bộ khuyến nông phải có khả năng đánh giá và phân tích các tình huống nẩy sinh hàng ngày, có khả năng thương

Trang 22

lượng và giải quyết các mâu thuẫn Nhận thức và hiểu rõ được các vấn đề trong công việc để có thể đề xuất được những giải pháp kịp thời và hợp lý

- Năng lực lãnh đạo: Cán bộ khuyến nông phải tự tin và biết tin tưởng vào những nông dân mà mình đang phục vụ, phải gương mẫu trước quần chúng và

có khả năng lãnh đạo quần chúng thực hiện các chương trình khuyến nông

- Năng lực sáng tạo: Cán bộ khuyến nông thường làm việc trong những điều kiện độc lập, ít chịu sự giám sát của cấp trên Vì vậy, phải có khả năng sáng tạo và tin tưởng vào việc làm của mình

1.4.2.3 Phẩm chất cá nhân

Phẩm chất cá nhân là những đức tính tốt mà mỗi người làm khuyến nông phải có Đây cũng là những tiêu chuẩn ta cần phải đánh giá khi tuyển lựa cán bộ khuyến nông Những phẩm chất đó bao gồm:

- Sẵn sàng làm việc ở những vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh với tinh thần vì dân

- Luôn tin tưởng vào người nông dân Cán bộ khuyến nông phải là người

mà cấp trên tín nhiệm mỗi khi giao việc và cũng được nông dân tin tưởng khi họ đưa ra những lời khuyên

- Lòng nhân đạo, tình cảm yêu mến đối với bà con nông dân, đặc biệt là đồng bào người dân tộc thiểu số Có tính hài hước nhẹ nhàng trong công việc Cán bộ khuyến nông phải biết thông cảm với những ước muốn và những tình cảm của bà con nông dân Khi làm việc với nông dân, cán bộ khuyến nông phải biết tôn trọng và lắng nghe ý kiến của họ

- Tin tưởng vào những năng lực của chính mình và quyết tâm làm được một điều gì đó để góp phần vào sự nghiệp phát triển nông thôn, hướng dẫn cần thiết khi tuyển lựa và đào tạo cán bộ khuyến nông để phục vụ cho sự nghiệp phát triển nông nghiệp và nông thôn

1.5 Hiện trạng hệ thống tổ chức khuyến nông

Hệ thống khuyến nông Việt Nam đã chính thức thành lập và đi vào hoạt động từ sau khi có Nghị định 13/CP năm 1993 của Chính phủ Nguyên tắc hoạt động cơ bản của khuyến nông là xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của sản xuất và

có sự tham gia tự nguyện của người dân Công tác xây dựng các kế hoạch hoạt động khuyến nông phải có sự tham gia của các cấp từ Trung ương đến địa phương, đặc biệt là cấp cơ sở - nơi mọi hoạt động sản xuất nông nghiệp gắn trực tiếp với người nông dân Chính vì vậy, sau nhiều năm hoạt động, hệ thống

Trang 23

khuyến nông đã được hình thành, củng cố và hoạt động thông suốt từ Trung ương đến địa phương

1.5.1 Cấp Trung ương

Theo Nghị định số 13/CP năm 1993 của Chính phủ, Cục khuyến nông lâm ra đời vừa làm nhiệm vụ quản lý Nhà nước về trồng trọt, chăn nuôi vừa triển khai các hoạt động khuyến nông

Theo Nghị định 86/CP của Chính phủ Cục KNKL chính thức tách thành 2 đơn vị trực thuộc Bộ NN&PTNT là Cục Nông nghiệp và Trung tâm khuyến nông Quốc gia Trong đó Trung tâm khuyến nông Quốc gia (gồm: khuyến nông, khuyến lâm, khuyến thuỷ nông, khuyến khích phát triển hợp tác )

Ngày 28/01/2008 Bộ Nông nghiệp ra Quyết định số TCCB, Trung tâm khuyến nông Quốc gia và Trung tâm khuyến ngư chính thức hợp nhất thành Trung tâm khuyến nông - khuyến ngư Quốc gia

236/QĐ-BNN-1.5.2 Tổ chức khuyến nông cấp địa phương

1.5.2.1 Cấp tỉnh

Hiện nay tất cả 63 tỉnh, thành phố trong cả nước đều có các Trung tâm khuyến nông trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Các Trung tâm khuyến nông đều làm nhiệm vụ khuyến nông và khuyến lâm trên địa bàn tỉnh, một số tỉnh làm cả nhiệm vụ khuyến ngư

1.5.2.3 Cấp cơ sở

Nghị định 02/CP của Chính phủ năm 2010 về khuyến nông đã quy định rõ: Ở cấp xã (xã, phường, thị trấn có sản xuất nông nghiệp) có khuyến nông viên với số

Trang 24

lượng ít nhất là 02 khuyến nông viên ở các xã thuộc địa bàn khó khăn, ít nhất 01 khuyến nông viên cho các xã còn lại; ở thôn (thôn, bản, cấp, phum, sóc) có cộng tác viên khuyến nông và câu lạc bộ khuyến nông Cộng tác viên khuyến nông có thể là cán bộ công chức, viên chức Nhà nước Các hình thức như Câu lạc bộ khuyến nông, câu lạc bộ nông dân giỏi này chủ yếu hiện nay mới tập hợp được các đối tượng nông dân là các hộ khá giả, các hộ biết cách làm ăn và nhiệt tình với công tác khuyến nông

Như vậy một hệ thống tổ chức khuyến nông Nhà nước đã được hình thành, đồng thời bước đầu tổ chức khuyến nông nhân dân cũng đã được xây dựng ở cấp cơ sở

1.5.3 Hệ thống tổ chức khuyến nông tự nguyện

Bên cạnh hệ thống tổ chức khuyến nông Nhà nước, một số tổ chức khuyến nông tự nguyện của các cá nhân, tập thể cũng đã được thành lập và các

tổ chức đoàn thể quần chúng như:

- Các viện nghiên cứu, các trường chuyên nghiệp, các trung tâm phát triển

- Các tổ chức xã hội: Hội nông dân, hội phụ nữ, đoàn thanh niên, hộ làm vườn

- Các doanh nghiệp, công ty, các cơ sở kinh doanh, dịch vụ

- Các tổ chức quốc tế: Tổ chức chính phủ và phi chính phủ

1.6 Khái quát về chính sách khuyến nông

Ở nước ta khuyến nông đặc biệt phát triển từ sau khi có Nghị định 13/CP năm 1999 về khuyến nông Có hệ thống tổ chức khuyến nông từ Trung ương đến địa phương Các hoạt động khuyến nông phát triển khá sôi động ở các địa phương

Tiếp đến là Nghị định 56/CP năm 2005 về khuyến nông và hiện nay mới nhất là Nghị định 02/CP năm 2010 về khuyến nông

Nội dung chủ yếu của chính sách khuyến nông tập trung vào các nội dung như sau:

(1) Quy định mục tiêu, nguyên tắc hoạt động của khuyến nông

(2) Quy định về các chính sách gắn liền với nội dung hoạt động khuyến nông như:

- Chính sách về bồi dưỡng, tập huấn và truyền nghề;

- Chính sách về thông tin tuyên truyền;

- Chính sách xây dựng và nhân rộng mô hình trình diễn;

- Chính sách khuyến khích hoạt động tư vấn và dịch vụ khuyến nông;

- Chính sách tuyển chọn dự án khuyến nông

Trang 25

(3) Quy định về hệ thống tổ chức khuyến nông từ Trung ương đến địa phương (4) Quy định về việc sử dụng nguồn, cách sử dụng và quản lý kinh phí khuyến nông, quỹ hoạt động khuyến nông

1.6.1 Chính sách bồi dưỡng, tập huấn và truyền nghề

Điều 12 của Nghị định số 02/2010/NĐ-CP về khuyến nông đã nêu rõ:

a) Đối với người sản xuất

- Nông dân sản xuất nhỏ, nông dân thuộc diện hộ nghèo được hỗ trợ 100% chi phí tài liệu và 100% chi phí đi lại, ăn ở khi tham dự đào tạo

- Nông dân sản xuất hàng hóa, chủ trang trại, xã viên tổ hợp tác và hợp tác xã, công nhân nông, lâm trường được hỗ trợ 100% chi phí tài liệu và 50% đi lại, ăn ở khi tham dự đào tạo

- Doanh nghiệp vừa và nhỏ trực tiếp hoạt động trong các lĩnh vực nêu tại khoản 1 Điều 1 Nghị định này được hỗ trợ 50% chi phí tài liệu khi tham dự đào tạo

b) Đối với người hoạt động khuyến nông

- Ưu tiên đào tạo cán bộ khuyến nông là nữ, là người dân tộc thiểu số

- Người hoạt động khuyến nông hưởng lương từ ngân sách Nhà nước được hỗ trợ 100% chi phí về tài liệu và nơi ở, khi tham dự đào tạo

- Người hoạt động khuyến nông không hưởng lương được hỗ trợ 100% chi phí về tài liệu, đi lại, ăn và nơi ở khi tham dự đào tạo

1.6.2 Chính sách thông tin tuyên truyền

Điều 13 của Nghị định số 02/2010/NĐ-CP về khuyến nông đã nêu rõ:

- Nhà nước hỗ trợ 100% kinh phí thông tin tuyên truyền về hoạt động khuyến nông cho các tổ chức, cá nhân có dự án thông tin tuyên truyền được cấp có thẩm quyền phê duyệt

- Nhà nước hỗ trợ 100% kinh phí tổ chức hội thị, hội chợ, triển lãm, diễn đàn khuyến nông được cấp có thẩm quyền phê duyệt

1.6.3 Chính sách xây dựng và nhân rộng mô hình trình diễn

Điều 14 của Nghị định số 02/2010/NĐ-CP về khuyến nông đã nêu rõ: a) Chính sách hỗ trợ xây dựng mô hình trình diễn

- Mô hình trình diễn ở địa bàn khó khăn, huyện nghèo, được hỗ trợ 100% chi phí mua giống và các vật tư thiết yếu (bao gồm các loại phân bón, hóa chất, thức ăn gia súc, thức ăn thủy sản)

- Mô hình trình diễn ở địa bàn trung du miền núi, bãi ngang được hỗ trợ 100% chi phí mua giống và 50% chi phí mua vật tư thiết yếu

Trang 26

- Mô hình trình diễn ở địa bàn đồng bằng được hỗ trợ 100% chi phí mua giống và 30% chi phí mua vật tư thiết yếu

- Đối với các mô hình cơ giới hóa nông nghiệp, bảo quản chế biến và ngành nghề nông thôn, nghề muối, được hỗ trợ kinh phí để mua công cụ, máy

cơ khí, thiết bị với mức 100% ở địa bàn khó khăn, huyện nghèo, không quá 75%

ở địa bàn trung du miền núi, bãi ngang, không quá 50% ở địa bàn đồng bằng

- Mô hình trình diễn ứng dụng công nghệ cao được hỗ trợ không quá 30% tổng kinh phí thực hiện mô hình

- Mô hình và số điểm trình diễn:

+ Mỗi mô hình được thực hiện tại một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi dự án; một mô hình có từ 2 - 5 điểm trình diễn, trừ trường hợp đối với một số mô hình đặc thù: mô hình khai thác thuỷ sản, mô hình ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp, mô hình sản xuất hạt lai

+ Mỗi điểm trình diễn thực hiện tối đa 2 lần đối với chu kỳ mô hình 6 tháng trở xuống; 1 lần đối với chu kỳ mô hình trên 6 tháng, nhưng tối đa không quá thời gian thực hiện dự án

+ Mô hình trình diễn ứng dụng máy móc, thiết bị được thực hiện tối đa 3

mô hình/năm tại mỗi tỉnh

- Mức hỗ trợ cho mô hình trình diễn và hộ tham gia mô hình:

+ Mô hình trình diễn cây trồng hàng năm được hỗ trợ chi phí mua giống

và các vật tư thiết yếu theo quy định với mức hỗ trợ tối đa 300 triệu đồng/mô hình/năm và 30 triệu đồng/hộ

+ Mô hình trình diễn cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả và cây lâm nghiệp được hỗ trợ chi phí mua giống và các vật tư thiết yếu theo quy định với mức hỗ trợ tối đa 400 triệu đồng/mô hình/năm và 30 triệu đồng/hộ

+ Mô hình trình diễn chăn nuôi được hỗ trợ chi phí mua giống và các vật

tư thiết yếu theo quy định với mức hỗ trợ tối đa 400 triệu đồng/mô hình/năm và

50 triệu đồng/hộ

+ Mô hình trình diễn nuôi trồng thuỷ sản được hỗ trợ chi phí mua giống

Trang 27

và các vật tư thiết yếu theo quy định với mức hỗ trợ tối đa 500 triệu đồng/mô hình/năm và 70 triệu đồng/hộ

+ Mô hình trình diễn về các lĩnh vực khác được hỗ trợ theo quy định tại điểm 3.2 khoản 3 Điều 5 của Thông tư liên tịch số 183/2010/TTLT-BTC-BNN ngày 15/11/2010 của liên tịch Bộ Tài chính - Bộ NN&PTNT

+ Đối với mô hình trình diễn có tính đặc thù, mức hỗ trợ cụ thể sẽ do Bộ trưởng Bộ NN&PTNT quyết định theo từng dự án

1.6.4 Chính sách khuyến khích hoạt động tư vấn và dịch vụ khuyến nông

Điều 14 của Nghị định số 02/2010/NĐ-CP về khuyến nông đã nêu rõ:

- Các tổ chức khuyến nông, người hoạt động khuyến nông được tham gia

tư vấn và dịch vụ khuyến nông quy định tại Điều 7 Nghị định này và theo quy định của pháp luật

- Các tổ chức khuyến nông, người hoạt động khuyến nông được ưu tiên thuê đất để xây dựng và triển khai các chương trình, dự án khuyến nông, được vay vốn ưu đãi, miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật hiện hành

1.6.5 Chế độ đối với người hoạt động khuyến nông, khuyến nông viên cơ sở

Điều 16 của Nghị định số 02/2010/NĐ-CP về khuyến nông đã nêu rõ:

- Người hoạt động khuyến nông hưởng lương từ ngân sách Nhà nước khi chỉ đạo triển khai các dự án khuyến nông được hưởng các chế độ theo quy định hiện hành

- Khuyến nông viên cấp xã thuộc công chức xã được hưởng lương theo trình độ đào tạo, không thuộc công chức xã được hưởng chế độ phụ cấp hoặc lương theo trình độ đào tạo do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định

- Khuyến nông viên cấp xã chưa có bằng cấp, cộng tác viên khuyến nông cấp thôn được hưởng thù lao khuyến nông do chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định

1.6.6 Chính sách tuyển chọn dự án khuyến nông

Điều 17 của Nghị định số 02/2010/NĐ-CP về khuyến nông đã nêu rõ:

- Các dự án khuyến nông Trung ương do ngân sách Nhà nước cấp được tuyển chọn theo phương thức xét chọn hoặc đấu thầu cạnh tranh do Bộ trưởng

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định

- Các dự án khuyến nông cấp địa phương do ngân sách Nhà nước cấp được tuyển chọn theo phương thức xét chọn hoặc đấu thầu cạnh tranh do chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp quy định

- Mọi tổ chức khuyến nông, người hoạt động khuyến nông đều được tham gia đấu thầu cạnh tranh, đăng ký xét chọn các dự án khuyến nông do ngân sách Nhà nước cấp

Trang 28

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 1

1 Bộ Nông nghiệp và PTNT, Trung tâm KNKNQG (2008) Một số kiến

thức cơ bản về nghiệp vụ, phương pháp khuyến nông, khuyến lâm Tài liệu tập

huấn khuyến lâm cho cán bộ kiểm lâm và khuyến lâm Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội

2 Chính phủ (1999) Quy định về công tác khuyến nông Nghị định số

13/1999/NĐ-CP Hà Nội, ngày 02/3/1999

3 Chính phủ (2005) Nghị định của Chính phủ về khuyến nông, khuyến

ngư Nghị định số 56/2005/NĐ-CP Hà Nội, ngày 26/4/2005

4 Chính phủ (2010) Nghị định 02 về Khuyến nông Nghị định số

02/2010/NĐ-CP, Hà Nội, ngày 08/01/2010

5 Đinh Đức Thuận, Nguyễn Bá Ngãi, Đặng Tùng Hoa (2009) Giáo trình

Khuyến lâm Nhà xuất bản Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội

6 Trung tâm phát triển nông thôn Trường Đại học Kinh tế quốc dân (1996)

Nguyên lý và Phương pháp khuyến nông Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội

CÂU HỎI THẢO LUẬN, ÔN TẬP CHƯƠNG 1

1 Trình bày khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc hoạt động của khuyến nông?

2 Phân tích vai trò của công tác khuyến nông?

3 Giải thích các nhóm chức năng chính của khuyến nông?

4 Phân tích vai trò phẩm chất và năng lực của cán bộ khuyến nông?

5 Phân tích thực trạng hệ thống tổ chức khuyến nông hiện nay?

6 Trình bày tóm tắt một số nội dung chủ yếu của chính sách khuyến nông?

Trang 29

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP KHUYẾN NÔNG TIẾP XÚC CÁ NHÂN

2.1 Khái niệm, ưu nhược điểm và điều kiện áp dụng của phương pháp tiếp xúc cá nhân

2.1.1 Khái niệm

Phương pháp tiếp xúc cá nhân là phương pháp mà khuyến nông viên tiếp xúc trực tiếp với từng cá nhân/ hộ nông dân hoặc tiếp xúc gián tiếp thông qua gọi điện thoại, viết thư cho nông dân nhằm trao đổi, tìm hiểu, giải đáp và tư vấn cho họ giải quyết những vấn đề nảy sinh

Phương pháp tiếp xúc cá nhân được sử dụng trong công tác khuyến nông dưới các hình thức như:

- Khuyến nông viên đến thăm hộ nông dân;

- Nông dân đến thăm cơ quan khuyến nông;

- Gửi thư riêng;

- Gọi điện thoại

2.1.2 Ưu nhược điểm

2.1.2.1 Ưu điểm

- Những cuộc gặp gỡ giữa khuyến nông viên với hộ nông dân thường rất thoải mái Nó biểu lộ sự quan tâm của khuyến nông viên đối với từng người dân nên đó là yếu tố quan trọng để củng cố lòng tin và tình cảm giữa người dân và khuyến nông viên

- Do tiếp xúc với từng hộ nông dân nên khuyến nông viên có thể đưa ra những lời khuyên cần thiết sát với yêu cầu của từng hộ nông dân hơn

- Cán bộ khuyến nông nắm được trực tiếp tình hình và các vấn đề thực tế tại gia đình, làng, xã, trang trại

2.1.2.2 Nhược điểm

- Tốn nhiều thời gian và đi lại

- Quá trình phổ biến thông tin chậm

- Số người tiếp xúc ít làm cho cán bộ khuyến nông có thể đưa ra những thông tin chủ quan và thiếu chính xác

- Ít đưa ra được các giải pháp có tính lợi ích tập thể

Trang 30

- Có xu hướng là đi thăm quá nhiều lần và chỉ tập trung vào một số nông dân,

từ đó có thể gây ra những thắc mắc ghen tị giữa các thành viên trong cộng đồng

2.1.3 Điều kiện áp dụng

Phương pháp khuyến nông tiếp xúc cá nhân áp dụng trong trường hợp cán

bộ khuyến nông muốn tìm hiểu chi tiết về tình hình sản xuất của từng hộ nông dân, hoặc khi muốn trao đổi, tư vấn, giải quyết những vấn đề nảy sinh trong sản xuất của từng hộ nông dân

2.2 Khuyến nông viên đến thăm nông dân

- Tạo điều kiện theo dõi hoạt động khuyến nông hiện có

- Hiểu rõ thêm tình hình ở thôn bản, những vấn đề thuận lợi và khó khăn

- Thảo luận các chính sách, chương trình nông lâm nghiệp của cấp trên

- Làm tăng sự quan tâm của người dân về khuyến nông và khuyến khích

họ tham gia nhiều hơn vào các hoạt động khuyến nông

Đây là phương pháp giảng dạy đặc biệt trong khuyến nông, nó tạo điều kiện

để đối thoại giữa gia đình nông dân và khuyến nông viên trong một nơi họ có thể thảo luận những vấn đề liên quan đến cái chung bằng cách riêng và không bị làm phiền hoặc bị cản trở như trong các hoạt động nhóm Các cuộc thăm hỏi này nhằm:

- Giúp khuyến nông viên làm quen với nông hộ

- Giúp hiểu thêm tình hình địa phương và những vấn đề người dân đang gặp phải

- Trả lời được những vấn đề một cách chính xác

- Nói rõ hơn về một chủ đề khuyến nông hay một kỹ thuật nào đó

Trang 31

- Theo dõi và quan sát kết quả của những khuyến cáo kỹ thuật mà nông dân đang áp dụng

- Tổ chức hoạt động như điểm trình diễn, hội họp…

- Mời nông dân tham dự những hoạt động khuyến nông

- Thảo luận với nông dân về phương pháp và chương trình hợp tác

Như tất cả những phương pháp khuyến nông khác, sự thành công của cuộc thăm hỏi tùy thuộc vào sự chuẩn bị Phương pháp này tốn tiền do phí đi lại cao và tốn thời gian Hãy xác định vai trò của khuyến nông viên là người đào tạo! Nông dân chờ đợi ở khuyến nông viên một thông tin kỹ thuật có liên quan đến các vấn đề sản xuất của họ Hãy để cho nông dân nói, nhưng phải định hướng cuộc đối thoại đi vào chủ đề cần giải quyết Thêm vào mục đích đã định trước của cuộc thăm hỏi, đây có thể là dịp khêu gợi mối quan tâm của nông hộ

để giúp cho chương trình khuyến nông khác

2.2.2 Các bước tiến hành

2.2.2.1 Bước 1: Chuẩn bị cho cuộc đi thăm

- Sắp xếp thời gian và hẹn trước nếu có thể

- Xác định rõ mục đích cuộc thăm hỏi

- Xem xét lại những ghi chép của các lần đến thăm trước đó hoặc những thông tin cần thiết khác về gia đình sẽ đến thăm (nếu có)

- Kiểm tra lại các thông tin có thể cung cấp cho nông dân

- Chuẩn bị những thông tin kỹ thuật, tài liệu chuyên môn liên quan có thể

sẽ dùng đến

- Xem xét lại những ghi chép của các lần thăm hỏi trước hoặc những thông tin khác về nông hộ dự định đến thăm

- Mang theo các tài liệu, tranh ảnh (nếu có) để phát cho nông dân

- Đưa cuộc thăm hỏi vào kế hoạch hoạt động

2.2.2.2 Bước 2: Tiến hành đi thăm

- Giữ đúng hẹn

- Tôn trọng tập quán địa phương trong thủ tục chào hỏi và có thái độ lịch

sự, chân thành, cởi mở

- Tìm một điều gì đó để khen ngợi, phải biết khen ngợi đúng lúc, thành tâm

- Khuyến khích người dân trình bày những khó khăn và thảo luận, đề xuất các phương án giải quyết

Trang 32

- Cung cấp những kiến thức kỹ thuật hay bất cứ thông tin gì họ cần mà mình biết

- Khuyến khích người dân tham gia vào các hoạt động khuyến nông

- Trình diễn chuyên môn nếu cần

- Thảo luận với nông dân về thời gian và chủ đề các lần gặp tiếp theo Lưu ý: Có thể vừa thảo luận vừa ghi lại các thông tin quan trọng Nên có một cuốn sổ tay ghi chép lại những chi tiết trong mỗi cuộc viếng thăm Việc ghi chép cẩn thận rất có ích vì nó giúp theo dõi được tình hình sản xuất của các hộ nông dân Hơn nữa, nếu có cán bộ khuyến lâm khác đến thay địa bàn đó thì sẽ

có tài liệu để bàn giao cho đồng nghiệp

Trong quá trình thăm hỏi nông hộ khuyến nông viên phải:

- Luôn xác định mục tiêu giáo dục của công tác khuyến nông và vai trò của khuyến nông viên khi đi thăm không phải chỉ trao đổi với nông dân những kiến thức khoa học, kỹ thuật và những lời khuyên mà còn thu nhận từ họ những tâm tư, tình cảm và những băn khoăn, vướng mắc trong sản xuất và sinh hoạt Nội dung cuộc trao đổi có thể bao trùm nhiều công việc khác nhau như:

+ Thông tin về một loài cây/con hay một biện pháp kỹ thuật nào đó

+ Chủ trương, chính sách phát triển nông lâm nghiệp của địa phương, Nhà nước + Thông tin về các chương trình khuyến nông, khuyến lâm đang được triển khai trong vùng

- Nên bắt đầu cuộc trò truyện bằng những lời thăm hỏi ân cần, tạo sự thân mật rồi mới tiến hành trao đổi nội dung công việc

- Chọn chủ đề nào để bắt đầu cũng là vấn đề hết sức quan trọng Có thể lựa chọn những vấn đề mà cả hai bên đều quan tâm để bắt đầu cuộc trao đổi là tốt nhất

- Trong quá trình trao đổi, khuyến nông viên phải biết cách lắng nghe và khuyến khích người dân giãi bày tâm sự của họ

- Cần có những lời khen đúng lúc đối với nông dân để động viên và làm cho họ tin tưởng hơn

- Nếu điều kiện cho phép, nên dành thời gian để trò chuyện nhằm tăng thiện cảm và lòng tin của nông hộ vào hoạt động khuyến nông đang triển khai

- Thống nhất với nông hộ thời gian và mục đích của lần đến thăm tiếp theo trước khi kết thúc cuộc thăm hỏi

Trang 33

Thời gian cho một cuộc thăm hỏi tùy thuộc vào thái độ và điều kiện của

hộ dân Nếu nông dân quá bận, hãy thực hiện cuộc thăm hỏi nhanh và chấm dứt cuộc nói chuyện khi mục đích đã đạt được

Khuyến nông viên nên:

- Có sổ để ghi chép nội dung chính cuộc thăm hỏi Việc ghi chép nên tuân thủ theo một cách thức nhất định để dễ nhớ Ví dụ: Ngày tháng năm mục đích cuộc thăm hỏi, những khó khăn, yêu cầu của nông dân và thỏa thuận đạt được giữa khuyến nông viên và hộ dân

- Duy trì việc ghi chép cẩn thận, thường xuyên để có thể theo sát những vấn đề mà khuyến nông viên và nông hộ cùng quan tâm

2.2.2.3 Bước 3: Thực hiện các công việc tiếp theo sau khi đi thăm

- Ghi lại các tình huống, các kết quả, các vấn đề cần theo dõi, lưu ý vào

hồ sơ hoặc sổ tay theo dõi

- Hỏi các chuyên gia về những vấn đề chưa giải quyết được

- Gửi các tài liệu, thông tin theo yêu cầu của người dân hoặc những lời khuyên của mình tới người dân

- Thu xếp chương trình cuộc đi thăm tiếp theo

Chúng ta phải luôn luôn xác định được mục tiêu giáo dục của khuyến lâm và vai trò của người cán bộ khuyến nông lâm khi đến thăm không phải chỉ trao cho nông dân kiến thức khoa học kĩ thuật hoặc những lời khuyên, mà phải dành thời gian để trò chuyện nhằm làm tăng thiện cảm và lòng tin của nông dân vào chương trình khuyến lâm Hãy bắt đầu bằng những lời thăm hỏi thân tình Trong khi trao đổi, phải biết cách lắng nghe và khuyến khích người nông dân dãi bày tâm sự của họ Ngoài ra, cần có những lời khen đúng lúc đối với người nông dân để động viên, làm cho họ tự tin hơn

Sau chuyến thăm hỏi cần:

- Thực hiện và theo dõi những gì khuyến nông viên và nông hộ đã cam kết

- Lập kế hoạch cho lần thăm hỏi tiếp theo

Những lúc tiện đường, khuyến nông viên cũng có thể ghé thăm một gia đình nông dân nào đó Cuộc thăm không hẹn trước như vậy thường không có mục đích rõ ràng, nhưng lại có tác dụng rất quan trọng trong việc làm tăng tình cảm của khuyến nông viên với gia đình nông dân

Trang 34

2.2.3 Một số lưu ý khi đến thăm nông dân

- Khi nói chuyện với nông dân, người cán bộ khuyến nông phải biết làm thế nào để mở đầu câu chuyện Các giây phút đầu tiên là cực kỳ quan trọng để tạo nên một buổi tiếp xúc tốt, đặc biệt nếu đây là buổi tiếp xúc đầu tiên

- Hãy bắt đầu chủ đề câu chuyện vào những vấn đề liên quan nhất đến nhu cầu và mối quan tâm của người dân, bởi vì khi người dân đang quan tâm đến một vấn đề nào đó thì vấn đề đó đối với họ sẽ là rất quan trọng

- Dùng từ đơn giản, dễ hiểu, nói vừa phải và hãy nói bằng ngôn ngữ quen thuộc của họ

- Trong suốt cuộc đi thăm phải tạo được bầu không khí thoải mái, chân thành và tin tưởng Nên đặt câu hỏi “mở”, ít dùng câu “tại sao?” đối với người hơn tuổi, tránh tình trạng hỏi như thẩm vấn

- Cần phải chú ý đến đặc điểm dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, trình độ, tuổi, giới tính để giao tiếp cho phù hợp Trong lần đi thăm đầu tiên tránh hỏi đến tuổi, tình trạng hôn nhân, những việc riêng của người dân Trong các cuộc tiếp xúc tránh đi sâu vào các vấn đề tôn giáo, chính trị để tránh rắc rối có thể xảy ra

- Đến đúng giờ đã hẹn

- Cần có thái độ cởi mở, tạo sự thân mật

- Cần hiểu rõ phong tục, tập quán của người dân địa phương

- Lập kế hoạch cho lần thăm hỏi tiếp theo

Những lúc tiện đường, khuyến nông viên cũng có thể ghé thăm một gia đình nông dân nào đó Cuộc thăm không hẹn trước như vậy thường không có mục đích rõ ràng, nhưng lại có tác dụng rất quan trọng trong việc tăng tình cảm của khuyến nông viên với gia đình nông dân

2.3 Tiếp xúc không chính thức

2.3.1 Khái niệm

Tiếp xúc không chính thức là cuộc tiếp xúc ngẫu nhiên, không hẹn trước, không chuẩn bị trước giữa cán bộ khuyến nông với người dân Tuy nhiên, cuộc tiếp xúc không chính thức thường tạo nên được nhiều cơ hội tốt cho công tác khuyến nông

Ví dụ: Người cán bộ khuyến nông đang công tác trên địa bàn gặp người

nông dân ở ngoài đường, ngoài đồng ruộng, ở chợ và có thể chuyện trò, thảo luận, trao đổi cung cấp thông tin với nhau

Trang 35

Hình 2.1 Cán bộ khuyến nông gặp gỡ người dân tại đồng ruộng

2.3.2 Một số lưu ý

Cách tiếp xúc này có ưu điểm là tạo ra nhiều mối quan hệ thân quen, dễ hiểu biết, thân thiện, gắn bó nhau, thu thập được nhiều thông tin cho các hoạt động khuyến nông

Để sử dụng hình thức này đạt hiệu quả cao, đòi hỏi người cán bộ khuyến nông phải giỏi giao tiếp, trong điều kiện ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số nếu hiểu được một số ngôn ngữ, phong tục tập quán của người dân địa phương thì rất thuận lợi trong giao tiếp Cán bộ khuyến nông nên tạo ra cơ hội và tranh thủ hình thức này Trao đổi trên đồng ruộng

2.4 Nông dân đến gặp cán bộ khuyến nông tại cơ quan

2.4.1 Khái niệm

Nông dân đến gặp cán bộ khuyến nông tại cơ quan là một hình thức trong phương pháp cá nhân xuất phát từ yêu cầu của người dân cần phải hỏi ý kiến của cán bộ khuyến nông Các cuộc tiếp dân chỉ thành công khi giữa cơ quan khuyến nông với người dân có mối quan hệ, tin tưởng lẫn nhau Khi người dân tới văn phòng, hoặc nơi ở của cán bộ khuyến nông tức là họ đã quan tâm tới một vấn đề

gì đó mà họ cho rằng cán bộ khuyến nông có thể giúp được họ Các cuộc tiếp dân có giá trị bởi người dân đã có mục đích đề xuất cụ thể Do đó, cần chuẩn bị trước cho những cuộc viếng thăm như vậy của nông dân mặc dù không thể biết lúc nào họ đến

Cuộc thăm cơ quan Khuyến nông phản ánh mối quan tâm của nông dân đối với chương trình/hoạt động khuyến nông Ngoài ra, có nông dân khi áp dụng thành công một kỹ thuật khuyến cáo nào đó cũng có thể tìm đến cơ quan khuyến nông để

“khoe” và mong nhận được thêm nhiều thông tin hay những lời khuyên khác

Trang 36

Hình 2.2 Người dân đến thăm cơ quan khuyến nông

2.4.2 Một số lưu ý

2.4.2.1 Cách bố trí văn phòng cơ quan khuyến nông

- Có biển hiệu rõ ràng, đặt ở những nơi người dân dễ tìm, dễ thấy

- Có bảng kế hoạch công tác và nơi trưng bày các tài liệu khuyến nông hay thông tin kỹ thuật mới

- Có bàn ghế cho nông dân ngồi đợi khi chưa đến lượt được tiếp

- Có bảng kế hoạch công tác và nơi trưng bày các tài liệu khuyến nông hay thông tin kỹ thuật mới

- Quy định rõ thời gian tiếp dân

- Có ghế cho nông dân ngồi chờ để lần lượt được tiếp

- Có sẵn các tạp chí, sách báo về nông lâm nghiệp và phát triển nông thôn cho nông dân đọc, tham khảo trong lúc chờ đợi

- Phòng làm việc nên có bản ghi kế hoạch công tác, hoặc có các tài liệu ghim vào bảng công tác Có thể treo tranh ảnh về các hoạt động khuyến lâm ở địa phương, hoặc thông tin khoa học kỹ thuật mới nhất cần được khuyến cáo Nhưng phải sắp xếp sao cho trang nghiêm, gây nên tâm lý làm việc nghiêm túc

Với cách này, khuyến nông tốn ít thời gian và chi phí đi lại Tuy nhiên, đa

số nông dân khi đến cơ quan thường có biểu hiện e ngại Nhiều người có vẻ nhút nhát hoặc họ rất khó khăn trong việc giải thích những trở ngại mà họ gặp phải, hoặc đưa ra những yêu cầu cho cán bộ khuyến nông

2.4.2.2 Yêu cầu đối với cán bộ khuyến nông khi tiếp dân

- Tỏ thái độ ân cần, cởi mở và chu đáo khi đón tiếp nông dân, làm sao để người nông dân cảm thấy cơ quan khuyến lâm gần gũi như ở nhà họ, bởi có rất nhiều nông dân cảm thấy lúng túng khi đến văn phòng cơ quan, có thể do họ chưa quen giao tiếp, hoặc họ mặc cảm, tự ti Sau vài câu thăm hỏi xã giao cần hướng vào nội dung chính

Trang 37

- Chân thành, lắng nghe ý kiến của người dân, chú trọng tới những vấn đề

mà người dân đang quan tâm Phải cố gắng nghe hết ý kiến của người dân, không nên ngắt lời họ Thỉnh thoảng mỉm cười, gật đầu để khuyến khích họ nói, nếu vấn đề nào chưa rõ có thể đưa ra câu gợi ý để họ nói tiếp, vừa lắng nghe vừa ghi chép, có lời khen khi cần thiết

- Khuyến khích nông dân nói ra những khó khăn và bức xúc của họ Biết đồng cảm và lắng nghe

- Cung cấp các kiến thức kỹ thuật hay những thông tin họ cần mà khuyến nông viên có thể cung cấp được

- Thống nhất với họ về thời gian, hình thức tiếp xúc để giải quyết các vấn

đề mà họ quan tâm nhưng chưa được giải quyết xong

- Biết khéo léo kết thúc câu chuyện vào thời điểm đúng lúc Tất nhiên phải

để người nông dân nói hết ý kiến chính đáng của mình Khi người nông dân ra về, trong điều kiện cho phép có thể tiễn chào và mời họ tiếp tục đến khi cần thiết

- Cần phải ghi tóm tắt cuộc nói chuyện vào hồ sơ theo dõi hoặc sổ công tác để giúp đỡ họ sau này và có thể dùng nó để làm tiêu chí đánh giá sự tham gia của người dân vào các hoạt động lâm nghiệp

- Khi các vấn đề đã được giải quyết xong, cần khéo léo chấm dứt cuộc nói chuyện

- Ghi tóm tắt nội dung cuộc trao đổi vào sổ công tác hay một sổ tay riêng

để tiện cho việc theo dõi và giúp đỡ họ sau này

2.5 Thư tay và điện thoại

2.5.1 Viết thư tay

2.5.1.1 Khái niệm

Viết thư là một dạng trao đổi thông tin giữa cơ quan khuyến nông với nông dân hoặc cơ quan quản lý, các tổ chức, chương trình, dự án khác có hoạt động liên quan tới công tác khuyến nông ở địa phương Thông qua thư

từ người cán bộ khuyến nông và người dân có thể theo dõi những thông tin trong hoàn cảnh không có điều kiện tiếp xúc trực tiếp Hình thức này tiện lợi để giải đáp các vấn đề mà nông dân gặp phải trong sản xuất, nhất là đối với những nông dân ở xa Tuy nhiên, có điều bất lợi là: Đối với những vấn

đề khẩn cấp, hình thức này có nhiều hạn chế do rất tốn thời gian trong việc trao đổi thông tin, nhất là đối với vùng sâu, vùng xa mà ở đó dịch vụ Bưu điện chưa phát triển lắm Thêm vào đó, trình độ viết của nhiều nông dân còn kém, họ khó có thể trình bày điều họ muốn nói một cách rõ ràng, mạch lạc

Trang 38

Cán bộ khuyến nông thường gửi thư cho nông dân trong những trường hợp sau:

- Sau khi đi thăm hộ nông dân, viết thư gửi những lời khuyên hoặc thông tin theo yêu cầu của hộ nông dân đó;

- Trả lời thư của những nông dân do không có điều kiện đến cơ quan khuyến nông đã gửi thư đến hỏi về những vấn đề vướng mắc của riêng họ

Khi viết thư cho nông dân nên:

- Dùng ngôn ngữ thông dụng, đơn giản;

- Có lời thăm hỏi thích hợp;

- Trình bày sạch sẽ, rõ ràng;

- Thông tin phải đầy đủ, chính xác và tập trung vào vấn đề chính;

- Trả lời càng sớm càng tốt;

- Trước khi gửi thư nên sao lại một bản để lưu ở văn phòng

2.5.1.2 Một số chú ý khi gửi thông tin bằng thư từ

- Một lá thư viết tốt sẽ tạo nên được lòng tin và ngược lại một lá thư viết không tốt sẽ có tác dụng ngược lại Luôn động viên nông dân viết thư yêu cầu thông tin khi không có điều kiện đến thăm hỏi trực tiếp

- Khi người dân viết thư yêu cầu thông tin nếu chưa trả lời thông tin ngay được (ví dụ cần thời gian để thu thập thông tin) thì vẫn phải viết thư hồi âm hứa

sẽ trả lời vào thư sau Cố gắng trả lời càng sớm càng tốt những yêu cầu của họ

- Khi mở đầu bức thư cần phải có lời khen, động viên về sự hợp tác của người dân Cuối thư nên có “lời cảm ơn và luôn mong muốn sự hợp tác” Không quên gửi lời hỏi thăm sức khoẻ đến những thành viên trong gia đình và những người hàng xóm khác Thông thường người nhận thư sẽ khoe lá thư đó với hàng xóm láng giềng và điều đó làm tăng tình cảm của họ đối với cán bộ khuyến nông

- Khi viết thư cho nông dân hãy đặt mình vào trong hoàn cảnh của họ Luôn tưởng tượng, dự đoán phản ứng của người dân khi đọc bức thư (khi tiếp nhận thông tin)

- Thư phải viết sạch sẽ, đơn giản, ngôn từ viết cần phải trong sáng, rõ ràng, giản dị, chính xác và ngắn gọn, theo logic văn phạm và chặt chẽ, không có sai sót về ngữ pháp và chính tả, sao cho người nhận dễ đọc, dễ hiểu Thông tin viết trong thư phải đầy đủ và tập trung vào chủ để thảo luận

- Những thông tin chính cần trao đổi hoặc có liên quan nếu có dung lượng lớn hơn một trang đánh máy khổ A4 thì nên gửi kèm theo thư chứ không viết trong thư, lúc đó thư chỉ là lời giới thiệu hướng dẫn tài liệu

Trang 39

- Tên, địa chỉ người gửi, người nhận phải rõ ràng (đối với tên cơ quan gửi

đi phải ghi rõ địa chỉ, số điện thoại, số fax, email nếu có) Phong bì và giấy viết thư cố gắng chọn loại giấy tốt, đẹp,

2.5.2 Gọi điện thoại

2.5.2.1 Giới thiệu chung

Điện thoại là một phương tiện thông tin có tốc độ phát triển mạnh ở Việt Nam đặc biệt là điện thoại di động Vì vậy, có thể sử dụng chúng vào mục đích khuyến nông đảm bảo trao đổi thông tin một cách nhanh và trực tiếp Người dân có thể qua các thuê bao, dịch vụ bưu điện để trao đổi thông tin với các cán bộ khuyến nông và người cán bộ khuyến nông có thể sử dụng điện thoại để làm việc với người dân, với các lãnh đạo xã thôn, các văn phòng dự án đặt trên địa phương

Sử dụng điện thoại cho mục đích khuyến nông có ưu điểm là có thể truyền

đi các thông tin đặc biệt, nhanh chóng, thuận lợi, tính thời sự cao, có thể trao đổi thông tin ở mọi thời điểm, thông tin hai chiều Tuy nhiên, chi phí cho phương pháp này ở Việt Nam hiện nay còn tương đối cao so với thu nhập của người dân

Vì vậy, nếu điều kiện cho phép, cán bộ khuyến nông nên chủ động gọi điện cho người dân

Mặc dù ở cách này không có những chỉ dẫn kỹ thuật trực tiếp nhưng liên lạc qua điện thoại rất cần thiết trong những trường hợp đặc biệt như hướng dẫn cách xử lý một loại bệnh quen thuộc, cách chống lại một loại ký sinh, hỏi thêm chi tiết về một bài phát biểu

- Không nên kéo dài cuộc nói chuyện mà chỉ nên tập trung vào chủ đề cần thiết, trao đổi cho nông dân thông tin hoặc lời khuyên ngắn gọn và đầy đủ

- Trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải nói năng mạch lạc, rõ ràng

- Đừng quên ghi tóm tắt những điểm trao đổi chính yếu vào sổ công tác hoặc vào phiếu theo dõi

Trang 40

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 2

1 Đinh Đức Thuận, Nguyễn Bá Ngãi, Đặng Tùng Hoa (2009) Giáo trình

Khuyến lâm Nhà xuất bản Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội

2 Trung tâm phát triển nông thôn Trường Đại học Kinh tế quốc dân (1996)

Nguyên lý và Phương pháp khuyến nông Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội

3 Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hòa Bình, Phương pháp

và kỹ năng khuyến nông cơ bản (2004) Nhà xuất bản Nông nghiệp

CÂU HỎI THẢO LUẬN ÔN TẬP CHƯƠNG 2

1 Trình bày khái niệm, ưu nhược điểm và điều kiện áp dụng phương pháp tiếp xúc cá nhân?

2 Trình bày các bước tiến hành phương pháp khuyến nông đến thăm nông dân?

3 Giải thích các điểm lưu ý khi thực hiện các phương pháp:

- Khuyến nông đến thăm nông dân

- Tiếp dân

- Tiếp xúc không chính thức

- Thư tay và gọi điện thoại

Ngày đăng: 27/04/2021, 22:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2001). Tài liệu tập huấn kỹ thuật cho khuyến nông viên xã miền núi. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn kỹ thuật cho khuyến nông viên xã miền núi
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và PTNT
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
2. Đinh Đức Thuận, Nguyễn Bá Ngãi, Đặng Tùng Hoa (2009). Giáo trình Khuyến lâm. Nhà xuất bản Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Khuyến lâm
Tác giả: Đinh Đức Thuận, Nguyễn Bá Ngãi, Đặng Tùng Hoa
Nhà XB: Nhà xuất bản Trường Đại học Lâm nghiệp
Năm: 2009
3. Trung tâm phát triển nông thôn Trường Đại học Kinh tế quốc dân (1996). Nguyên lý và Phương pháp khuyến nông. Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên lý và Phương pháp khuyến nông
Tác giả: Trung tâm phát triển nông thôn Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1996
4. VVOB (2009). PTD - Phương pháp phát triển kỹ thuật có sự tham gia.Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: PTD - Phương pháp phát triển kỹ thuật có sự tham gia
Tác giả: VVOB
Nhà XB: Đại học Cần Thơ
Năm: 2009
2. Bốn nguyên lý cơ bản khi tổ chức lớp học đồng ruộng nông dân Khác
3. Cách tổ chức lớp học hiện trường nông dân Khác
4. Hãy nêu ưu và nhược điểm của FFS Khác
5. Các nguyên tắc cơ bản của FFS Khác
6. Một số lưu ý khi thực hiện FFS? 7. PTD là gì Khác
8. Mục tiêu của PTD là gì Khác
9. Nêu và phân tích thành phần tham gia PTD Khác
10. Hãy nêu các nguyên tắc khi thực hiện PTD Khác
11. Các bước chính thực hiện trong PTD Khác
12. So sánh giữa PTD và FFS Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w